31/12/2012

Âm Xưa

Âm Xưa

Âm Xưa

Người khắc nỗi buồn lên đá
Vàng bay quạnh gốc thông già
Người chép nỗi buồn lên giấy
Mai sau còn chút tàn phai

Người gửi nỗi buồn theo gió

Niềm xưa trĩu cánh hạc gầy
Người có khi nào qua đó
Đường xưa nay ngút ngàn xa
Bước chân ai về trước ngõ
Âm xưa buốt ngón tay ngà

Có chiếc lá vàng trong gió

Quay về tìm cội nguồn xa
Có tiếng chim nào đang hót
Hồn ai đậu trước hiên nhà 

Tran Ho Dung.
Washington. USA. 2012

29/12/2012

CUỒNG TỪ



CUỒNG TỪ
                             Tranhodung
                           Dedicated to LSCT

“Nước mấy ngàn năm hồn chửa tỉnh
Người bao nhiêu triệu giấc còn say” (1)

Để mây còn thẩn thờ ngang núi
Nhìn nước tang thương chảy quặn dòng
Có đứa con xa lìa tổ quốc
Khóc kẻ lưu đày trên quê hương
Rót chén rượu cuồng , ta nhớ bạn
Thôi thì , đất nước cũng rưng rưng
Hãy cạn cùng ta thêm chén nữa
Mộng cuồng , xô đổ cả trăng sao
Cuồng tửu , cuồng từ , thôi hãy cạn !
Đời đục rồi , ai giữ tấc lòng trong ?

Đất nước ngả nghiêng cơn sóng dữ

Khí thiêng sông núi ở đâu rồi  ?

Sử lịch tiêu điều ,  lòng ly  tán

Ai người  tiếc nhớ  những  đường gươm

[ Đường gươm tiên tổ ngăn xâm lược
Giữ vững giang sơn  ,dựng nước nhà !
Biết đến bao giờ ta thấy lại
Đường gươm oai dũng trấn  non sông
Để oai danh Việt lừng bốn cõi
có đâu  hèn  mạt cúi lưng chầu


Hỡi lũ Bắc triều ngươi còn nhớ
Đông A hào khí , chém    đầu bây
Chi Lăng vùi xác quân xâm lược
Vó ngựa  Quang Trung , hãi thiên triều

Ơi ! Hồn sông núi vể đây nhé  !
Truyền lại đường gươm , cứu nước nhà !]
  ]


-----------------
(1) excerpt from a poem ...
Tranhodung.Washington .USA. Tàn Đông 2012
Image





28/12/2012

Nữ đặc nhiệm 27 tuổi chỉ huy chiến dịch tiêu diệt Bin Laden

:_: Bật mí NỮ ĐẶC NHIỆM

Nữ đặc nhiệm 27 tuổi chỉ huy chiến dịch tiêu diệt Bin Laden

 
Người chỉ huy chiến dịch bố ráp và ám sát Osama bin Laden lại là một cô gái khoảng 27 tuổi, bí danh "Jen". Tên tuổi của nữ tình báo CIA này hiện là một ẩn số được quan tâm đặc biệt.


Nhân viên tình báo có công đầu trong vụ bố ráp và ám sát Osama bin Laden là một cô gái khoảng 27 tuổi, bí danh "Jen".


Nhiều tình tiết lý thú về cô được hé lộ trong cuốn sách "No Easy Day" do cựu người nhái có bí danh "Mark Owen" xuất bản tháng 9 vừa qua. Trong cuốn sách mô tả cuộc theo dõi và bố ráp Bin Laden, tác giả Mark Owen không tiếc lời khen tặng nhân viên CIA có mật danh "Jen" này. Trả lời phóng viên Đài Truyền hình CBS, Mark Owen cho biết: "Tôi không thể mô tả hết tầm quan trọng của Jen. Cô ta gan lì, không ngại nêu ý kiến, và thông minh khủng khiếp". Mark Owen là một trong hai người nhái bắn những viên đạn cuối cùng mang đến cái chết của tên trùm khủng bố. Tuy thực hiện mật vụ nguy hiểm nhất, "nhóm người nhái chỉ chịu trách nhiệm 40 phút của chiến dịch bố ráp, còn các nhân viên tình báo CIA phải bỏ ra nhiều năm để tìm ra nơi trú ẩn của Bin Laden". Trong số đó, người phụ nữ tên Jen có thể nói là nhân viên tình báo có vai trò quan trọng hàng đầu. Mark giải thích thêm về vai trò của Jen: "Mọi người lo lắng không biết những thông tin tình báo có đúng hay không, hay hỏi những câu như: Cô nghĩ sao? - Có chắc không? và cô ta lúc nào cũng đáp lại rằng: Osama bin Laden đang ở nơi đó, chính xác 100%". Khi Tổng thống Barack Obama và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta chỉ dám nói "chắc 70%" về nơi ẩn nấp của Bin Laden, câu trả lời quyết đoán và những thông tin tình báo đáng giá của Jen là động lực mạnh mẽ để các chiến sĩ người nhái thi hành mật vụ. Họ đặt biệt danh cho cô là "Miss 100 Percent". Theo sách No Easy Day, Jen đến Afghanistan từ trước để điều tra và là người trực tiếp chỉ huy nhóm người nhái. Ông Mark Owen gặp mặt Jen ngay trước cuộc bố ráp Bin Laden, khi Jen bay cùng nhóm người nhái từ bờ biển Virginia đến Afghanistan. Tác giả mô tả Jen là "một phân tích viên trẻ và vô cùng cần mẫn" khi ông ngồi kế bên cô trong khoang máy bay. Theo lời ông, Jen được tuyển vào CIA sau khi tốt nghiệp đại học và làm việc với nhóm điều tra trong 5 năm trước khi CIA hạ sát Bin Laden. Không giống như nhiều nhân viên tình báo hay thay đổi công tác, Jen chỉ tập trung điều tra cho đến khi tìm ra giải đáp cho những câu hỏi CIA giao phó. "Nỗi lo ngại của những người nhái được xoa dịu khi tất cả các thông tin của Jen đều đúng, một cách đáng ngạc nhiên. Cô ấy có thể nói chính xác từng chi tiết nhỏ nhặt như cánh cửa phòng sẽ mở theo hướng nào, bật ra ngoài hay đẩy vào trong"- Mark Owen nói với CBS. Jen phát hiện Bin Laden ẩn trú trong một ngôi nhà nhỏ ngay gần thủ đô Islamabad chứ không phải tại vùng núi đồi hiểm trở nơi quân đội Taliban đóng giữa biên giới Pakistan và Afganistan. Cùng các nhân viên tình báo khác, Jen lên kế hoạch cho nhóm người nhái Team Six phục kích và ám sát trùm khủng bố Osama bin Laden. "Cô bật khóc khi chúng tôi báo hoàn thành nhiệm vụ"- Mark Owen viết trong No Easy Day. Jen đợi các chiến sĩ mang thi thể của Bin Laden về trạm căn cứ để chính mắt xác thực cái chết của tay trùm khủng bố này. Khoảng 27 tuổi, theo lời phỏng đoán của Mark Owen, Jen là một tiêu biểu cho nhân viên tình báo mới của CIA: mạnh mẽ, thông minh và là phụ nữ. Không còn như những ngày trước khi đàn ông điều tra tình báo và phụ nữ chỉ được làm các công việc bàn giấy, hầu hết nhân viên cơ quan tình báo CIA ngày nay là phái nữ. Theo lời bà Jose Rodriguez, một cựu Phó giám đốc điều hành của CIA, nói với The Daily Beast, "hầu hết các nhân viên điều tra tình báo hiện nay là nữ". Tuy tên tuổi của Jen vẫn còn trong bóng tối, nhưng giới làm phim Mỹ vẫn xây dựng được hình ảnh nhân vật này theo cách riêng cho tác phẩm của họ. Hai bộ phim về cuộc phục kích ám sát Bin Laden, phim Seal Team Six đã chiếu theo dạng phim tài liệu, còn phim Dark Zero Thirty sắp công chiếu trên màn ảnh rộng vào tháng 12 tới, đều có nhân vật chính là nữ nhân viên tình báo Jen. Dù có thể Jen sẽ không bao giờ lộ diện vì lý do bí mật an ninh, nhưng sự hiếu kỳ trong công chúng phần nào sẽ được thỏa mãn khi được ngắm Jen qua phim ảnh.

Theo S.Phương
 

Compiled & introduced by Le Son Thach .
 
Image

27/12/2012

Năm 2012: Năm của ý thức địa - chính trị


27.12.2012

Năm 2012: Năm của ý thức địa - chính trị

bởi Nguyễn Hưng Quốc

Nếu năm 2012 là năm của châu Á, đó cũng đồng thời là năm ý thức địa-chính trị (geopolitics) trở thành ý thức chủ đạo trong các suy nghĩ về chính trị của người Việt.

Cho đến gần đây – và cả hiện nay nữa, với rất đông người, kể cả giới lãnh đạo trong nước – yếu tố chủ đạo trong cách tư duy về chính trị vẫn là ý thức hệ. Người ta phân vùng thế giới theo những khác biệt về ý thức hệ. Người ta phân biệt bạn thù cũng theo ý thức hệ. Trong cái gọi là ý thức hệ ấy, hai luồng chính là chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Nga và Đông Âu, giới cầm quyền Việt Nam cố níu kéo nó, dù không còn tự tin như trước nữa. Có điều, cách suy nghĩ cũ vẫn còn rất đậm nét trong đầu óc họ. Bất chấp Trung Quốc đối xử với họ thế nào, họ vẫn thấy gần gũi với Trung Quốc hơn hẳn các nước khác. Lý do: cả hai đều theo chủ nghĩa xã hội.

Nhưng đó chỉ là một quan niệm đã lỗi thời. Mở đầu cuốn Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1983, Benedict Anderson đã chỉ ra điều đó: Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Campuchia vào năm 1978 và giữa Việt Nam và Trung Quốc vào đầu năm 1979 là hai cuộc chiến tranh lớn đầu tiên giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa trên thế giới (không kể các cuộc chiến tranh can thiệp vào nội bộ của nhau ở Đông Âu trước đó). Hai cuộc chiến tranh này cho thấy, trong quan hệ quốc tế, ý thức hệ, ngay cả những ý thức hệ được huyền thoại hóa, thậm chí, tôn giáo hóa, như chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, không quan trọng bằng ý thức dân tộc và quyền lợi quốc gia.

Bài học năm 1978 và 1979, một lần nữa, lại lặp lại trong những năm gần đây. Là hai trong năm quốc gia cuối cùng còn theo chủ nghĩa xã hội, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bất chấp những lời lẽ ngụy biện vụng về của Việt Nam, vẫn là một thứ quan hệ tranh chấp gay gắt. Trung Quốc không ngừng gây hấn và uy hiếp, thậm chí, đã thực sự xâm lược vùng biển của Việt Nam. Campuchia cũng vậy. Trên nguyên tắc, Campuchia không còn là quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng đảng do Hun Sen lãnh đạo và cũng là đảng đang cầm quyền hiện nay, Đảng Nhân Dân Campuchia, vốn là hậu thân của đảng cộng sản. Bản thân Hun Sen cũng là một người cộng sản, hơn nữa, lại là người được Việt Nam đưa lên nắm quyền. Năm 1984, khi còn là bộ trưởng ngoại giao, Hun Sen đã cho xuất bản cuốn sách lên án Trung Quốc thậm tệ: Tội ác chống Campuchia của giới lãnh đạo Trung Quốc (The Chinese Rulers’ Crimes against Kampuchea). Vậy mà, gần đây, trước sự ve vãn và mua chuộc của Trung Quốc, Hun Sen đã thay đổi hẳn thái độ: Ông và chính phủ của ông sẵn sàng bỏ rơi Việt Nam để ngả theo Trung Quốc, đóng vai một con cờ chính của Trung Quốc trong âm mưu phân hóa khối ASEAN và vô hiệu hóa nỗ lực của Việt Nam dùng khối ASEAN để giảm thiểu áp lực từ Trung Quốc. Tất cả những sự thay đổi ấy đều không liên quan gì đến ý thức hệ cả. Mà chỉ xuất phát từ quyền lợi.

Những chuyện như vậy, hầu như bất cứ người nào tỉnh táo và có suy nghĩ độc lập đều nhận ra.

Nhưng cái gì sẽ thay thế yếu tố ý thức hệ trong các quan hệ chính trị thế giới? Dĩ nhiên vẫn là kinh tế. Lý do liên kết cũng như phân hóa trong quan hệ giữa nước này và nước khác, nghĩ cho cùng, vẫn là do các quyền lợi kinh tế. Bàn cờ chính trị thế giới đang thay đổi và sẽ càng ngày càng thay đổi chủ yếu xuất phát từ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Trung Quốc âm mưu xâm chiến các vùng biển ở phía nam cũng như phía đông nước họ chủ yếu cũng là để bảo đảm các con đường hàng hải phục vụ cho nền kinh tế nước họ. Các nước khác trong khu vực cương quyết chống lại âm mưu xâm lấn ấy cũng là để bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ (bên cạnh vấn đề ý thức dân tộc).

Nhưng kinh tế lại gắn liền với địa lý, do đó, chính trị cũng càng ngày càng gắn liền với địa lý, từ đó, hình thành khái niệm địa-chính trị (geopolitics) để chỉ mối quan hệ tương tác giữa các quyền lợi và chính sách quốc gia, giữa từng quốc gia và khu vực cũng như giữa khu vực và toàn cầu.

Từ góc nhìn địa-chính trị, không có quốc gia nào thực sự cô lập và có khả năng phát triển một cách cô lập. Mỗi quốc gia đều chịu sự tương tác với các quốc gia khác. Colin S. Gray, giáo sư về quan hệ quốc tế và nghiên cứu chiến lược của Mỹ, cho mọi sinh hoạt chính trị, tự bản chất, đều là địa-chính trị vì chính trị nào cũng đều diễn ra trong một bối cảnh địa lý nhất định.

Lâu nay, chúng ta vẫn có thói quen nhìn và giải thích chiến tranh Việt Nam thời 1954-75 từ góc độ tinh thần dân tộc (thống nhất đất nước) và ý thức hệ (phát triển chủ nghĩa xã hội trong cả nước). Thật ra, nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh ấy, cũng như chiến tranh giữa Việt Nam và Campuchia và Việt Nam và Trung Quốc chính là yếu tố địa-chính trị. Không phải ngẫu nhiên Mỹ chọn miền Nam Việt Nam làm một tiền đồn trong trận tuyến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản (xin nhớ đến thuyết domino phổ biến thời ấy). Cũng không phải ngẫu nhiên mà, trong thời kỳ đầu của chiến tranh, không phải Liên Xô mà chính Trung Quốc mới là nước giúp đỡ miền Bắc nhiều nhất: Họ cần miền Bắc làm tấm đệm che chắn biên giới của họ. Càng không phải ngẫu nhiên, sau đó, đặc biệt sau 1975, Liên Xô lại tích cực giúp đỡ Việt Nam: Họ cần bao vây Trung Quốc, đối thủ chính của họ.

Những gì xảy ra trong quá khứ càng sẽ lặp lại trong hiện tại bởi, do xu hướng toàn cầu hóa, vai trò của địa-chính trị càng nổi bật. Chính trị Việt Nam sẽ không phải và thực chất không thể chỉ được quyết định bởi người Việt Nam. Việt Nam chỉ là một khâu trên bàn cờ chính trị rộng lớn của thế giới, ở đó, nó có hai chức năng chính: một là tồn tại một cách độc lập; và hai là đóng vai làm quân bình cán cân quyền lực trên thế giới. Không phải lúc nào hai chức năng ấy cũng song hành với nhau. Chỉ cần một chút vụng về hay yếu đuối của giới lãnh đạo, chức năng thứ hai có thể sẽ lấn át hoàn toàn chức năng thứ nhất: trong trường hợp ấy, Việt Nam chỉ còn là một con cờ thí của người khác. Tuy nhiên, không thể nhân danh chức năng thứ nhất để hư vô hóa chức năng thứ hai: Khi thế giới đã là một mạng lưới, không ai có thể thoát khỏi ảnh hưởng của sự tương tác, đặc biệt từ các cường quốc. Ở đây, vấn đề là sự quân bình. Để đạt được sự quân bình ấy, cần hết sức khôn ngoan.

Ý niệm địa chính trị khá phức tạp. Một dịp khác, chúng ta sẽ phân tích tiếp. Ở đây, chỉ xin nhấn mạnh một điểm: Một suy nghĩ mang tính chiến lược cho tương lai Việt Nam không thể không lưu ý đến sự tương tác giữa Việt Nam và các nước trong khu vực cũng như của nền chính trị toàn cầu.

Source : VOA

LS Lê Quốc Quân vừa bị bắt

 

Cập nhật: 09:26 GMT - thứ năm, 27 tháng 12, 2012
  •  
LS Lê Quốc Quân
Luật sư Quân có nhiều bài viết kêu gọi đa nguyên chính trị

Sau khi tin từ nguồn gần với gia đình nói luật sư dân chủ Lê Quốc Quân bị bắt vào sáng ngày 27/12, báo chí Việt Nam trích công an Hà Nội nói ông bị tạm giam để điều tra vì 'trốn thuế'.
Vào lúc đầu ngày, tin tức từ Việt Nam chưa thật rõ ông Quân bị bắt trong hoàn cảnh như thế nào, ai bắt và bắt vì lý do gì.
Linh mục Đinh Hữu Thoại nói với BBC rằng ông đã được ông Lê Quốc Quyết, em trai luật sư Quân, báo tin rằng anh trai ông bị bắt vào sáng nay. Ngoài ra ông Quyết cũng không biết gì thêm.
BBC đã tìm cách liên lạc với ông Quyết để xác nhận nhưng không liên lạc được.
Vợ của ông Quân là bà Nguyễn Thị Thu Hiền hiện cũng không liên lạc được.

'Phạm tội trốn thuế'

BBC cũng đã gọi về nhà riêng của luật sư Quân nhưng không ai bắt máy.
Ông JB Nguyễn Hữu Vinh, một nhà hoạt động truyền thông Công giáo ở Hà Nội, cũng nói với BBC rằng ông được ông Quyết báo tin là ông Quân 'bị bắt vào lúc 8 giờ sáng nay, người ta đưa về nhà khám xét và đã đưa đi đâu không rõ'.
Ông Vinh cũng cho biết là sau đó ông đã liên lạc với gia đình ông Quân nhưng không được.
Ông Lê Quốc Quân là một tiếng nói bất đồng mạnh mẽ ở Hà Nội và từng bị giam 100 ngày sau khi du học từ Hoa Kỳ về nước.
"Công an thành phố Hà Nội đang tiếp tục điều tra làm rõ hành vi vi phạm pháp luật của Lê Quốc Quân "
Báo Việt Nam
Tuy nhiên, ông vẫn thường được Đại sứ quán Mỹ quan tâm thăm hỏi và được mời gặp đoàn thượng nghị sỹ Mỹ từ cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ sang thăm Hà Nội hồi đầu năm.
Trong một cuộc gặp riêng tại khách sạn Metropole hôm 20/1/2012, đoàn chính khách Mỹ gồm các ông Sheldon Whithouse, John McCain, Joseph Lieberman và bà Kelly Ayotte đã gặp các ông Nguyễn Văn Đài, Phạm Hồng Sơn và Lê Quốc Quân.
Ngoài việc kêu gọi đa nguyên chính trị ông Lê Quốc Quân cũng tham gia vận động đòi tự do cho luật sư Cù Huy Hà Vũ hiện bị tù, và giúp người dân khiếu kiện và giáo dân Thái Hà trong các tranh chấp đất đai với chính quyền.
Ông cũng nhiều lần tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và viết bài cũng như trả lời phỏng vấn cho các cơ quan truyền thông nước ngoài.
Các vị S. Whithouse, Nguyễn Văn Đài, J. McCain, Phạm Hồng Sơn, J.Lieberman, Lê Quốc Quân và bà Kelly Ayotte trong một cuộc gặp mặt tại Hà Nội hồi đầu năm
Trong một bài viêt gần đây, ông nêu ra chủ đề cải tổ hiến pháp tại Việt Nam và cho rằng "Hiến pháp không thể là một cương lĩnh chính trị của một đảng cầm quyền".
Và nói, "vì bản thân Hiến pháp phải hàm chứa được việc tạo nên một thế cân bằng cho sự phát triển đa dạng" cần thiết cho Việt Nam hiện nay.
Ông từng bị chính quyền địa phương đưa ra đấu tố, từng bị 'côn đồ' hành hung.
Gần đây nhất, công ty Vietnam Credit do em trai của ông Quân là Lê Đình Quản làm giám đốc cũng bị khám xét và tịch thu máy móc giấy tờ.
Hiện tại ông Lê Đình Quản cũng đang bị tạm giam để điều tra về tội 'trốn thuế và làm giả tài liệu'.
Đến buổi chiều thứ Năm, báo Việt Nam đã đăng tin rằng công an tại Hà Nội "thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam với ông Lê Quốc Quân".
Bài trên trang Bấm Vietnam+, lúc 14:55 hôm 27/12 viết rằng vụ bắt giữ xảy ra vì ông Quân "có hành vi phạm tội trốn thuế được quy định tại Điều 161 Bộ Luật Hình sự", theo công an Việt Nam.
Bài báo không nói gì về các hoạt động đòi dân chủ của luật sư Quân nhưng cho hay, "công an thành phố Hà Nội đang tiếp tục điều tra làm rõ hành vi vi phạm pháp luật của Lê Quốc Quân và các đối tượng có liên quan để xử lý trước pháp luật".

Tại Việt Nam và một số nước đã từng có chuyện công an bắt người vì tội danh 'kinh tế' nhưng sau đó lại đưa thêm các cáo buộc mang tính chính trị.
Source :  BBC
 
 

25/12/2012

KHÓC MẸ








Khóc mẹ


( Viết thay nỗi niềm blogger T.P.T., một người chưa quen , khi đọc tin T.P.T. đang trong vòng lao lý ,hay tin mẹ mất ,mà không thể về chịu tang mẹ . THD .30.7.2012)




KHÓC MẸ

                                Tặng T.P.T.


Vàng bay !

Vàng Bay !



Mẹ ơi hãy ngủ
Cho quên kiếp người
Lửa thiêu thân mẹ
Lửa đốt lòng con
Đừng đau lòng nữa
Mẹ ơi !
Mẹ ơi !
Con còn phải sống
đấu tranh với đời

Tim con lửa cháy
Ruột gan bời bời
Con quỳ khóc mẹ
Chảy máu con ngươi

Được tin mẹ mất
con chẳng được về
đội tang cho mẹ
con chẳng được nhìn
một lần sau cuối
dù thân xác mẹ
thiêu đốt thành than

Quỳ trong bóng tối
Con niệm bài kinh (*)
Nguyện cầu cho mẹ
Siêu thoát linh hồn
Về nơi chốn khác
Nơi không còn buồn
không còn hiu hắt
như là quê hương

Trong chốn lao tù
Con quỳ khóc mẹ
Dạy con làm người
Thân này đâu thể
Làm kẻ vong thân
Không thể sống quỳ
Kiếp đời nô lệ
Mẹ cho thân này
Để con sống thẳng
làm NGƯỜI TỰ DO
mẹ thành ngọn đuốc
Soi chốn ngục tù
Mẹ thành ngọn lửa
Đốt cháy đêm đen

Mẹ bỏ con đi
thân con tù tội
Mẹ về nơi ấy
biết buồn hay vui ?

Con quỳ khóc mẹ
Cho con làm NGƯỜI
Thân này dù nát
Niềm tin chẳng sờn :
Làm NGƯỜI phải được
Sống đời TỰ DO !


Tran Ho Dung .USA.  30.7.. 2012
 Repost on Dec 25 2012

---------------------------------------------------------------------------------
(*) Na antalikkhe na samuddamajjhe
Na pabbatànam vivaram pavissa
Navijjàtì so jagatippadeso
Yatthatthitam nappasaheyya maccu


Kinh Pháp Cú (Dhammapada)

------------------------------------------------------------------



24/12/2012

90 bài thơ Đường do Tản Đà dịch [2]

90 bài thơ Đường do Tản Đà dịch [2]


TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HlẾU (1889-1939)



BẠCH CƯ DỊ 白 居 易 (772-846)

42. Sơn hạ túc 山 下 宿

獨 到 山 下 宿

Độc đáo sơn hạ túc.

靜 向 月 中 行

Tĩnh hướng nguyệt trung hành.

何 處 水 邊 碓

Hà xứ thủy biên đối,

夜 舂 雲 母 聲

Dạ thung vân mẫu thanh.



Ngủ trong núi

Một mình tới ngủ non xanh,

Lặng êm dưới bóng trăng thanh bước nhìn.

Suối đâu? Cối nước liền bên,

Chày đâm vân mẫu kìn kìn tiếng đêm.



43. Trì thượng 池 上

小 娃 撐 小 艇

Tiểu oa sanh tiểu đĩnh,

偷 採 白 蓮 迴

Thâu thái bạch liên hồi,

不 解 藏 蹤 跡

Bất giải tàng tung tích,

浮 萍 一 道 開

Phù bình nhất đạo khai.

Trên ao

Người xinh bơi chiếc thúng xinh,

Bông sen trắng nõn trắng tinh thó về.

Hớ hênh dấu vết không che,

Trên ao để một luồng chia mặt bèo.

Ngày Nay, số 82 (24-10-1937)



44. Chu trung vũ dạ 舟 中 雨 夜

江 雲 闇 悠 悠

Giang vân ám du du,

江 風 冷 修 修

Giang phong lãnh tu tu,

夜 雨 滴 船 背

Dạ vũ trích thuyền bối,

夜 浪 打 船 頭

Dạ lãng đả thuyền đầu.

船 中 有 病 客

Thuyền trung hữu bệnh khách.

左 降 向 江 川

Tả giáng hướng Giang Châu.



Trong thuyền đêm mưa

Mây sông kéo tới đùn đùn,

Gió sông thổi lạnh ghê hồn khách sông

Mưa đêm rỏ xuống mui bồng,

Sóng đêm dồn vỗ long bong mũi thuyền.

Trong thuyền có bác ốm rên,

Giáng quan thẳng lối ra miền Giang Châu.

Ngày Nay, số 107 (24-4-1938)



45. Hữu nhân dạ phỏng 友人夜訪

簷 間 清 風 簟

Thiềm gian thanh phong điệm.

松 下 明 月 盃

Tùng hạ minh nguyệt bôi.

幽 意 正 如 此

U ý chính như thử.

況 乃 故 人 來

Huống nãi cố nhân lai.



Người bạn đến thăm đêm

Thềm cao gió mát chiếu đan,

Chén soi bóng nguyệt bàng hoàng dưới thông.

Lòng riêng đương thú với lòng.

Lại đâu người cũ lạ lùng đến thăm.



46. Dạ vũ 夜 雨



早 蛩 啼 復 歇

Tảo cung đề phục yết.

殘 燈 滅 又 明

Tàn đăng diệt hựu minh.

隔 窗 知 夜 雨

Cách song tri dạ vũ.

芭 蕉 先 有 聲

Ba tiêu tiên hữu thanh.



Mưa đêm

Dế giun rên mỏi lại ngừng,

Đèn tàn muốn tắt lại bừng sáng ra.

Cách song, đêm biết mưa sa,

Tiếng nghe lộp bộp chăng là tàu tiêu.

Ngày Nay, số 130 (1-10-1938)



47. Thu trùng 秋 蟲

切 切 闇 窗 下

Thiết thiết ám song hạ,

喓 喓 深 草 裏

Yêu yêu thâm thảo lý.

秋 天 思 婦 心

Thu thiên tư phụ tâm,

雨 夜 愁 人 耳

Vũ dạ sầu nhân nhĩ.



Trùng mùa thu

Tiếng đâu dưới vách kêu ran?

Lại trong đám cỏ nghe càng nỉ con.

Trơi thu gái nhớ chồng son,

Mưa dầm đêm vắng, ai buồn lắng tai.

Ngày Nay, số 124 (21-8-1938)



48. Vấn Hoài Thủy 問 淮 水

自 嗟 名 利 客

Tự ta danh lợi khách,

擾 擾 在 人 間

Nhiễu nhiễu tại nhân gian.

何 事 長 淮 水

Hà sự trường Hoài thủy,

東 流 亦 不 閒

Đông lưu diệc bất nhàn?



Hỏi nước sông Hoài

Trong vòng danh lợi thương ta,

Cái thân nhăng nhít cho qua với đời.

Việc chi, hỡi nước sông Hoài?

Cũng không thong thả, miệt mài về đông?

Ngày Nay, số 92 (2-1-1938)



49. Tảo thu độc dạ 早 秋 獨 夜

井 梧 涼 葉 動

Tỉnh ngô lương diệp động,

鄰 杵 秋 聲 發

Lân chử thu thanh phát.

獨 向 簷 下 眠

Độc hướng thiềm hạ miên.

覺 來 半 床 月

Giác lai bán sàng nguyệt.



Mùa thu sớm, đêm một mình

Giếng vàng lay động lá ngô,

Mỏ chày hàng xóm tiếng thu đã truyền...

Một mình ngủ dưới mái hiên,

Tỉnh ra trăng sáng một bên giường nằm.

Ngày Nay, số 126 (2-9-1938)



50. Thu mộ giao cư thư hoài 秋 暮 郊 居 書 懷

郊 居 人 事 少

Giao cư nhân sự thiểu,

晝 臥 對 林 巒

Trú ngọa đối lâm man.

窮 巷 厭 多 雨

Cùng hạng yếm đa vũ,

貧 家 愁 早 寒

Bần gia sầu tảo hàn.

葛 衣 秋 未 換

Cát y thu vị hoán,

書 卷 病 仍 看

Thư quyển bịnh nhưng khan.

若 問 生 涯 計

Nhược vấn sinh nhai kế,

前 溪 一 釣 竿

Tiền khê nhất điếu can.



Cuối thu, cảnh ở quê

Ở quê, thưa ít việc người,

Giữa trưa nằm khểnh, ngắm coi núi đèo.

Ngõ sâu ngán nỗi mưa nhiều,

Lạnh lùng chi sớm, cảnh nghèo thêm lo.

Áo lương còn mặc mùa thu,

Ốm đau, sách vẫn đôi pho chẳng rời.

Lấy chi qua sống ngày trời?

Một cần câu để bên ngòi ngồi câu.

Ngày Nay, số 135 (5-11-1938)



51. Thu giang tống khách 秋 江 送 客

秋 鴻 次 第 過

Thu hồng thứ đệ quá,

哀 猿 朝 夕 聞

Ai viên triêu tịch văn.

是 日 孤 舟 客

Thị nhật cô chu khách,

此 地 亦 離 群

Thử địa diệc ly quần.

濛 濛 潤 衣 雨

Mông mông nhuận y vũ,

漠 漠 冒 帆 雲

Mạc mạc mạo phàm vân,

不 醉 潯 陽 酒

Bất túy Tầm Dương tửu,

煙 波 愁 殺 人

Yên ba sầu sát nhân.



Sông thu tiễn khách

Nhàn thu lần lượt bay qua,

Thảm thương tiếng vượn hôm đà lại mai.

Ngày nay một chiếc thuyền ai,

Nước non này cũng chia phôi cách đàn.

Mưa đầm vạt áo như chan,

Buồm đi, man mác mây ngàn đón ngang.

Chẳng say chén rượu Tầm Dương,

Khỏi sao sóng, khói sầu thương chết người.

Ngày Nay, số 129 (24-9-1938)



52. Thảo 草

離 離 原 上 草

Ly ly nguyên thượng thảo,

一 歲 一 枯 榮

Nhất tuế nhất khô vinh,

野 火 燒 不 盡

Dã hỏa thiêu bất tận,

春 風 吹 又 生

Xuân phong xuy hựu sinh.

遠 芳 侵 古 道

Viễn phương xâm cổ đạo,

晴 翠 接 荒 城

Tình thúy tiếp hoang thành

又 送 王 孫 去

Hựu tống Vương tôn khứ

萋 萋 滿 別 情

Thê thê mãn biệt tình.



Cỏ

Đồng cao cỏ mọc như chen,

Khô tươi thay đổi hai phen năm tròn.

Lửa đồng thiêu cháy vẫn còn,

Gió xuân thổi tới mầm non lại trồi.

Xa xa thơm ngát dặm dài,

Thành hoang láng biếc khi trời tạnh mưa.

Vương, Tôn đi lại tiễn đưa,

Biết bao tình biệt đầm đìa lướt theo.

Ngày Nay, số 86 (21-11-1937)



53. Họa Đỗ lục sự đề hồng diệp 和 杜 錄 事 題 紅 葉

寒 山 十 月 旦

Hàn sơn thập nguyệt đán,

霜 葉 一 時 新

Sương diệp nhất thời tân.

似 燒 非 因 火

Tự thiêu phi nhân hỏa,

如 花 不 待 春

Như hoa bất đãi xuân.

連 行 排 降 葉

Liên hàng bài giáng diệp,

亂 落 剪 紅 巾

Loạn lạc tiễn hồng cân.

解 駐 籃 轝 看

Giải trụ lam dư khán,

風 前 唯 兩 人

Phong tiền duy lưỡng nhân.



Họa thơ ông Lục sự họ Đỗ vịnh lá đỏ

Lạnh lùng buổi sáng tháng mười,

Lá sương phơi núi cùng thời mới sao!

Như thiêu chẳng lửa mà thiêu,

Như hoa chẳng đợi xuân nào mới hoa.

Liền hàng, màn tía bày ra,

Rơi tung, xếp nếp khăn là đỏ ghê!

Muốn xem, dừng xuống kiệu tre,

Đứng chơi ngọn gió chỉ ta hai người.

Ngày Nay, số 139 (XII–1938)



54. Ký Vi Chi 寄 微 之

江 州 望 通 州

Giang Châu vọng Thông Châu,

天 涯 與 地 末

Thiên nhai dữ địa mạt.

有 山 萬 丈 高

Hữu sơn vạn trượng cao,

有 江 千 里 闊

Hữu giang thiên lý khoát.

間 之 以 雲 霧

Gián chi dĩ vân vụ,

飛 鳥 不 可 越

Phi điểu bất khả việt.

誰 知 千 古 險

Thùy tri thiên cổ hiểm,

為 我 二 人 設

Vị ngã nhị nhân thiết.

通 州 君 初 到

Thông Châu quân sơ đáo,

鬱 鬱 愁 如 結

Uất uất sầu như kết.

江 州 我 方 去

Giang châu ngã phương khứ,

迢 迢 行 未 歇

Thiều thiều hành vị yết.

道 路 日 乖 隔

Đạo lộ nhật quai cách.

音 信 日 斷 絕

Âm tín nhật đoạn tuyệt.

因 風 欲 寄 語

Nhân phong dục ký ngữ,

地 遠 聲 不 徹

Địa viễn thanh bất triệt.

生 當 復 相 逢

Sinh đương phục tương phùng.

死 當 從 此 別

Tử đương tòng thử biệt!



Gửi bạn Vi Chi

Châu Giang mà ngóng Châu Thông,

Chân trời cuối đất mênh mông thấy nào?

Núi đâu muôn trượng kìa cao,

Sông đâu ngàn dặm rộng sao rộng mà!

Mây che mù tỏa bao la,

Chim bay cũng chẳng vượt qua khỏi tầm.

Hiểm xưa còn đó ngàn năm,

Ai hay trời để chơi khăm đôi người.

Châu Thông bác mới tới nơi,

Mối sầu như thắt ngậm ngùi chiếc thân.

Châu Giang tôi mới đi dần,

Nẻo đi xa lắc chưa phần đã ngơi.

Quan hà ngày một chia khơi,

Tăm hơi ngày bẵng tăm hơi một ngày.

Gió đưa muốn gửi câu này,

Tiếng không suốt đến vì mày đất xa.

Sống còn gặp gỡ đôi ta,

Ví chăng chết mất thôi là biệt nhau.



55. Dĩ kính tặng biệt 以 鏡 贈 別

人 言 似 明 月

Nhân ngôn tự minh nguyệt,

我 道 勝 明 月

Ngã đạo thắng minh nguyệt.

明 月 非 不 明

Minh nguyệt phi bất minh,

一 年 十 二 缺

Nhất niên thập nhị khuyết.

豈 如 玉 匣 裡

Khởi như ngọc hạp lý,

如 水 常 澄 澈

Như thủy thường trừng triệt,

月 破 天 闇 時

Nguyệt phá thiên ám thời,

圓 明 獨 不 歇

Viên minh độc bất yết.

我 慚 貌 醜 老

Ngã tâm mạo xú lão,

繞 鬢 班 班 雪

Nhiễu mấn ban ban tuyết,

不 如 贈 少 年

Bất như tặng thiếu niên,

迴 照 青 絲 髮

Hồi chiếu thanh ty phát,

因 君 千 里 去

Nhân quân thiên lý khứ,

持 此 將 為 別

Trì thử tương vi biệt.



Lấy gương làm quà tặng biệt

Ai rằng: gương sáng như trăng,

Ta rằng: trăng sáng chưa bằng gương soi.

Trăng kia thật sáng vẹn mười,

Một năm lại khuyết mười hai bận đầy.

Sao bằng trong hộp ngọc này,

Trong như nước đứng ngày ngày năm năm.

Nào khi trăng khuyết trời âm.

Gương đầy tròn sáng như rằm trăng soi.

Buồn ta già xấu hơn người,

Đốm quanh mái tóc bời bời tuyết in.

Chẳng bằng cho bạn thanh niên,

Để soi tóc trẻ xanh rền sợi tơ.

Anh nay nghìn dặm đi xa,

Cầm gương ta để làm quà tiễn nhau.

Ngày Nay, số 114 (12.6.1938)



56. Tự Giang Lăng chi Từ Châu lộ thượng ký huynh đệ

自 江 陵 之 徐 州 路 上 寄 兄 弟

岐 路 南 將 北

Kỳ lộ nam tương bắc,

離 憂 弟 與 兄

Ly ưu đệ dữ huynh.

關 河 千 里 別

Quan hà thiên lý biệt,

風 雪 一 身 行

Phong tuyết nhất thân hành.

夕 宿 勞 鄉 夢

Tịch túc lao hương mộng,

晨 裝 慘 旅 情

Thần trang thảm lữ tình.

家 貧 憂 後 事

Gia bần ưu hậu sự,

日 短 念 前 程

Nhật đoản niệm tiền trình.

煙 雁 翻 寒 渚

Yên nhạn phiên hàn chử,

霜 烏 聚 古 城

Sương ô tụ cổ thành.

誰 憐 陟 岡 者

Thùy liên trắc cương giả,

西 楚 望 南 荊

Tây Sở vọng Nam Kinh.



Từ Giang Lăng đi Từ Châu
trên đường gửi cho anh em

Đường kia sắp bắc từ nam,

Mối lo ly biệt anh em cùng sầu.

Quan hà ngàn dặm xa nhau,

Người đi gió tuyết dãi dầu một thân.

Hồn quê nhọc giấc đêm xuân,

Sắm sanh hành lý tần ngần sớm mai.

Nhà nghèo lo tính xa xôi,

Đường xa nghĩ nỗi ngày trời ngắn không.

Nhạn sa bến lạnh khói lồng

Thành xưa lũ quạ họp trong sương mờ.

Ai thương kẻ bước lên gò?

Sở Tây trông ngóng bây giờ Kinh Nam.

Ngày Nay, số 101 (13.3.1938)



57. Tùng thanh 松 聲

月 好 好 獨 坐

Nguyệt hảo, hảo độc tọa,

雙 松 在 前 軒

Song tùng tại tiền hiên.

西 南 微 風 來

Tây nam vi phong lai,

潛 入 枝 葉 間

Tiềm nhập chi diệp gian,

蕭 寥 發 為 聲

Tiêu liêu phát vi thanh,

半 夜 明 月 前

Bán dạ minh nguyệt tiền,

寒 山 颯 颯 雨

Hàn sơn táp táp vũ

秋 琴 冷 冷 絃

Thu cầm lãnh lãnh huyền.

一 聞 滌 炎 暑

Nhất văn địch viêm thử,

再 聽 破 昏 煩

Tái thính phá hôn phiền.

竟 夕 遂 不 寐

Cánh tịch toại bất mị,

心 體 俱 翛 然

Tâm thể câu diểu nhiên.

南 陌 車 馬 動

Nam mạch xa mã động,

西 鄰 歌 吹 繁

Tây lân ca xúy phồn,

誰 知 茲 簷 下

Thùy tri tư thiềm hạ,

滿 耳 不 為 喧

Mãn nhĩ bất vi huyên.



Tiếng thông reo

Trăng trong ngồi mát một mình,

Hai cây thông đứng hữu tình trước hiên

Nhẹ nhàng cơn gió đưa lên,

Luồn cành lá, đến tự miền tây nam.

Bóng trăng sáng nửa chừng đêm,

Lào rào nghe tiếng gió làm tuôn đưa.

Ào ào núi rét sa mưa,

Đờn cầm thu nảy dây tơ lạnh lùng.

Một nghe, rửa sạch cơn nồng,

Hai nghe bức bối trong lòng phá tan.

Thâu đêm thức mãi bàn hoàn,

Dạ khoan khoái dạ, mình khoan khoái mình.

Đường nam xe ngựa rình rình,

Xóm tây tiếng hát, tiếng sênh rộn ràng.

Ai hay này chỗ hành lang,

Đầy tai nghe vẫn êm thường như không

Ngày Nay, số 127 (11.9.1938)



58. Thu san 秋 山

久 病 曠 心 賞

Cửu bệnh khoáng tâm thưởng.

今 朝 一 登 山

Kim triêu nhất đăng san.

山 秋 雲 物 冷

San thu vân vật lãnh,

稱 我 清 羸 顏

Xứng ngã thanh luy nhan.

百 石 臥 可 枕

Bạch thạch ngọa khả trẩm,

青 蘿 行 可 攀

Thanh la hành khả phan.

意 中 如 有 得

Ý trung như hữu đắc,

盡 日 不 欲 還

Tận nhật bất dục hoàn.

人 生 無 幾 何

Nhân sinh vô kỷ hà,

如 寄 天 地 間

Như ký thiên địa gian.

心 有 千 載 憂

Tâm hữu thiên tải ưu,

身 無 一 日 閑

Thân vô nhất nhật nhàn.

何 時 解 塵 網

Hà thời giải trần võng,

此 地 來 掩 關

Thử địa lai yểm quan.



Núi mùa thu

Ốm lâu, nằm mãi buồn sao!

Sáng nay ta mới lên cao hỡi lòng.

Màu thu, mây núi lạnh lùng.

Thanh hao nét mặt, ưa cùng ta đây.

Nằm gối đá, đi vin dây,

Dây xanh đá trắng đẹp thay cảnh tình!

Thú vui trong dạ một mình,

Thâu ngày quên tưởng cái hình về đâu.

Người ta sống có bao lâu,

Ở trong trời đất cùng nhau tạm thời.

Mối lo mang lấy nghìn đời,

Một ngày chẳng được hơi rồi tấm thân.

Bao giờ giũ sạch lụy trần?

Lại đây đóng cửa vui phần núi non.

Ngày Nay, số 126 (4.9.1938)



59. Vọng giang lâu thượng tác
望 江 樓 上 作

江 畔 百 尺 樓

Giang bạn bách xích lâu,

樓 前 千 里 道

Lâu tiền thiên lý đạo.

憑 高 望 平 遠

Bằng cao vọng bình viễn,

亦 足 舒 懷 抱

Diệc túc thư hoài bão.

驛 路 使 憧 憧

Dịch lộ sứ đồng đồng.

關 防 兵 草 草

Quan phòng binh thảo thảo.

及 茲 多 事 日

Cập tư đa sự nhật,

猶 覺 閒 人 好

Do giác nhàn nhân hảo.

我 年 過 不 惑

Ngã niên quá bất hoặc,

休 退 誠 非 早

Hưu thoái thành phi tảo.

從 此 拂 塵 衣

Tòng thử phất trần y.

歸 山 未 為 老

Qui sơn vị vi lão.



Trên lầu trông ra sông

Bờ sông trăm thước lầu cao,

Trước lầu nghìn dặm đi đâu con đường?

Tựa cao trông xuống dặm trường,

Mà trong bụng nghĩ như nhường khoan thư.

Đường quan rộn kẻ đưa thư,

Quân gia láo nháo ngẩn ngơ canh phòng.

Cuộc đời gặp lúc rối tung,

Riêng ai ở cảnh thong dong càng mầu.

Đã hơn bốn chục tuổi đầu,

Từ nay về nghỉ ngõ hầu phải thôi.

Từ nay giũ áo trần ai.

Non xanh tình thú vui chơi chửa già...



60. Tặng nội 贈 內

生 為 同 室 親

Sinh vi đồng thất thân,

死 為 同 穴 塵

Tử vi đồng huyệt trần.

他 人 尚 相 勉

Tha nhân thượng tương miễn,

而 況 我 與 君

Nhi huống ngã dữ quân.

黔 婁 固 窮 士

Kiềm Lâu cố cuồng sĩ,

妻 賢 忘 其 貧

Thê hiền vong kỳ bần.

冀 缺 一 農 夫

Ký Khuyết nhất nông phu,

妻 敬 儼 如 賓

Thê kính nghiễm như tân.

陶 潛 不 營 生

Đào Tiềm bất doanh sinh,

翟 氏 自 爨 薪

Địch thị tự thoán tân.

梁 鴻 不 旨 仕

Lương Hồng bất khẳng sĩ,

孟 光 甘 布 裙

Mạnh Quang cam bố quần.

君 雖 不 讀 書

Quân tuy bất độc thư,

此 事 耳 亦 聞

Thử sự nhĩ diệc văn.

至 此 千 載 後

Chí thử thiên tải hậu,

傳 是 何 如 人

Truyền thị hà như nhân?

人 生 未 死 間

Nhân sinh vị tử gian.

不 能 忘 其 身

Bất năng vong kỳ thân.

所 須 者 衣 食

Sở tu giả y thực,

不 過 飽 與 溫

Bất quá bão dữ ôn.

蔬 食 足 充 飢

Sơ tự túc sung cơ,

何 必 膏 梁 珍

Hà tất cao lương trân?

繒 絮 足 禦 寒

Tăng nhứ túc ngự hàn,

何 必 錦 繡 文

Hà tất cẩm tú văn?

君 家 有 貽 訓

Quân gia hữu di huấn,

清 白 遺 子 孫

Thanh bạch di tử tôn.

我 亦 貞 苦 士

Ngã diệc trinh khổ sĩ,

與 君 新 結 婚

Dữ quân tân kết hôn.

庶 保 貧 與 素

Thứ bảo bần dữ tố,

偕 老 同 欣 欣

Giai lão đồng hân hân.



Thơ đưa vợ

Tình lúc sống một nhà cùng ở,

Chết ra tro, một hố cùng chung.

Khuyên nhau thiên hạ cũng cùng.

Nữa chi mình vợ, ta chồng cùng nhau?

Kìa như gã Kiềm Lâu cùng sĩ,

Cảnh nhà nghèo vợ nghĩ như không.

Nông phu Ký Khuyết cày đồng,

Vợ chàng quý trọng coi chồng khách sang.

Đào Tiềm chẳng lòng toan sinh lý,

Củi nấu ăn, Địch thị kiếm dần.

Lương Hồng quan chẳng chịu mần,

Mạnh Quang chỉ vải may quần cũng ưa,

Mình dẫu đọc sách xưa không mấy,

Các truyện kia hẳn thấy quen tai.

Nghìn năm còn lại ở đời,

Đến nay cùng nói là người như sao?

Người chưa chết lúc nào còn sống,

Chẳng ai mà quên bỗng được thân,

Cái ăn cái mặc là cần.

Cũng sao no ấm qua lần là xong.

Cơm rau đủ no lòng lúc đói.

Có cần chi thức tối cao lương,

Lụa the, rét đủ mặc thường,

Cần chi áo gấm xông hương vẽ vời?

Nhà mình có để đời câu dạy:

Lấy “sạch trong” cho lại cháu con.

Ta đây cũng một lòng son.

Cùng nàng buổi mới vuông tròn thất gia,

Giữ sao nghèo sạch nếp nhà,

Cùng nhau cho đến tuổi già cùng vui.

Ngày Nay, số 108 (1.5.1938)



61. Khinh phì 輕 肥

意 氣 驕 滿 路

Ý khí kiêu mãn lộ,

鞍 馬 光 照 塵

Yên mã quang chiếu trần

借 問 何 為 者

Tá vấn hà vi giả,

人 稱 是 內 臣

Nhân xưng thị nội thần.

朱 紱 皆 大 夫

Chu phất giai đại phu

紫 綬 或 將 軍

Tử thụ hoặc tương quân

誇 赴 軍 中 宴

Khoa phó quân trung yến.

走 馬 去 如 雲

Tẩu mã khứ như vân.

樽 罍 溢 九 醞

Tôn lôi dật cửu uấn,

水 陸 羅 八 珍

Thủy lục la bát trân.

果 擘 洞 庭 橘

Quả phách Đỗng Đình quất,

膾 切 天 池 鱗

Khoái thiết Thiên Trì lân.

食 飽 心 自 苦

Thực bão tâm tự nhược,

酒 酣 氣 益 振

Tửu hàm khí ích chân.

是 歲 江 南 旱

Thị tuế Giang Nam hạn,

衢 州 人 食 人

Cù Châu nhân thực nhân.



Nhẹ béo

Đầy đường dáng bộ con cưng,

Ngựa yên bóng nhoáng sáng trưng bụi hồng.

Hỏi: Làm chi đó những ông?

Người ta rằng lũ quan trong đó mà.

Dải điều đều Đại phu ta,

Mà đeo dải tía hoặc là Tướng quân

Khuênh khoang đi chén trong quân,

Rộn ràng vó ngựa chạy vần như mây.

Vò, ang chín thứ rượu đầy,

Hải sơn tám bát cỗ bày linh tinh.

Quả dâng quít hái Động Đình,

Cá Thiên Trì thái, đơm thành gỏi ngon.

Ăn no khoan khoái tâm hồn,

Rượu say, ý khí hùng hồn càng thêm.

Năm nay hạn hán Giang Nam,

Cù Châu người mổ người làm thức ăn.

Ngày Nay, số 102 (27-3-1938)



62. Văn khốc giả 聞 哭 者

昨 日 南 鄰 哭

Tạc nhật nam lân khốc,

哭 聲 一 何 苦

Khốc thanh nhất hà khổ?

云 是 妻 哭 夫

Vân thi thê khốc phu.

夫 年 二 十 五

Phu niên nhị thập ngũ,

今 朝 北 里 哭

Kim triêu bắc lý khốc,

哭 聲 又 何 切

Khốc thanh hựu hà thiết!

云 是 母 哭 兒

Vân thị mẫu khốc nhi,

兒 年 十 七 八

Nhi niên thập thất bát.

四 鄰 尚 如 此

Tứ lân thượng như thử,

天 下 多 夭 折

Thiên hạ đa yểu chiết.

乃 知 浮 世 人

Nãi tri phù thế nhân.

少 得 垂 白 髮

Thiểu đắc thùy bạch phát?

余 今 過 四 十

Dư kim quá tứ thập,

念 彼 聊 自 悅

Niệm bỉ, liêu tự duyệt.

從 此 明 鏡 中

Tùng thử minh kính trung

不 嫌 頭 似 雪

Bất hiềm đầu tự tuyết.



Nghe người khóc

Mới hôm nọ, xóm nam người khóc,

Tiếng khóc sao đau độc nỗi lòng?

Rằng: Đâu là vợ khóc chồng,

Chồng hai nhăm tuổi, khuất vòng nhân gian,

Sớm nay lại khóc than xóm bắc,

Tiếng khóc sao ruột thắt từng cơn?

Rằng: Đâu là mẹ khóc con,

Con mười bảy, tám, chết còn tuổi xanh.

Bốn hàng xóm chung quanh như thế.

Khắp thế gian chết trẻ còn nhiều.

Mới hay người thế bao nhiêu,

Trắng phơ mái tóc dễ nào mấy ai?

Ta nay tuổi có ngoài bốn chục,

Nghĩ ai kia, thôi cũng vui lòng.

Từ nay trong bức gương trong,

Đầu ta ngỡ tuyết, ta không quản gì.

Ngày Nay, số 105 (10-4-1938)



63. Tam niên biệt 三 年 別

悠 悠 一 別 已 三 年

Du du nhất biệt dĩ tam niên,

相 望 相 思 明 月 天

Tương vọng tương tư minh nguyệt thiên,

腸 斷 青 天 望 明 月

Trường đoạn thanh thiên vọng minh nguyệt,

別 來 三 十 六 回 園

Biệt lai tam thập lục hồi viên.



Xa nhau ba năm

Xa nhau một chuyến ba năm,

Ngóng nhau chung bóng trăng rằm nhớ nhau.

Trời xanh, trăng sáng, lòng đau,

Ba mươi sáu độ trước sau trăng tròn!



64. Thính biên hồng 聽 邊 鴻

驚 風 吹 起 塞 鴻 群

Kính phong xuy khởi tái hồng quần,

半 入 平 沙 半 入 雲

Bán nhập bình sa bán nhập vân.

為 問 昭 君 月 下 聽

Vị vấn Chiêu Quân nguyệt hạ thính,

何 如 蘇 武 雪 中 聞

Hà như Tô Vũ tuyết trung văn?



Nghe chim hồng ngoài biên ải

Đàn hồng rợn gió ngoài biên,

Nửa sa cát bể, nửa lên mây trời.

Chiêu Quân, Tô Vũ nghe chơi,

Dưới trưng, trong tuyết đôi nơi thế nào?

Ngày Nay, số 118 (10-7-1938)



65. Tự khuyến 自 勸

憶 昔 饑 貧 應 舉 年

Ức tích cơ bần ứng cử niên,

脫 衣 典 酒 曲 江 邊

Thoát y điển tửu Khúc Giang biên.

十 千 一 斗 猶 奢 飲

Thập thiên nhất đẩu do xa ẩm,

何 況 官 供 不 值 錢

Hà huống quan cung bất trị tiền.



Tự khuyên mình

Nhớ xưa nghèo túng lúc khoa thi.

Bến Khúc thèm men, cố áo đi.

Đấu rượu muôn đồng quen uống đắt.

Nữa chi lộc nước mất tiền chi!



66. Lâm Giang tống Hạ Chiêm 臨 江 送 夏 瞻

悲 君 老 別 淚 沾 巾

Bi quân lão biệt lệ chiêm cân,

七 十 無 家 萬 里 身

Thất thập vô gia vạn lý thân.

愁 見 舟 行 風 又 起

Sầu kiến chu hành phong hựu khởi,

白 頭 浪 裡 白 頭 人

Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân.



Tới sông tiễn Hạ Chiêm

Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu,

Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu?

Buồn trông trận gió theo thuyền nổi,

Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu.

Ngày Nay, số 124 (21-8-1938)



67. Đại Lâm tự đào hoa 大 林 寺 桃 花

人 間 四 月 芳 菲 盡

Nhân gian tứ nguyệt phương phi tận,

山 寺 桃 花 始 盛 開

Sơn tự đào hoa thủy thịnh khai.

長 恨 春 歸 無 覓 處

Trường hận xuân qui vô mịch xứ,

不 知 轉 入 此 中 來

Bất tri chuyển nhập thử trung lai.



Hoa đào chùa Đại Lâm

Tháng tư hoa đã hết mùa,

Hoa đào rực rỡ cảnh chùa mới nay.

Xuân về kín chốn ai hay,

Biết đâu lẩn khuất trong này núi non.

Ngày Nay, số 112 (29-5-1938)



68. Giang thượng địch 江上笛

江 上 何 人 夜 吹 笛

Giang thượng hà nhân dạ xuy địch,

聲 聲 似 憶 故 園 春

Thanh thanh tự ức cố viên xuân,

此 時 聞 者 堪 頭 白

Thử thời văn giả kham đầu bạch,

況 是 多 愁 少 睡 人

Huống thị đa sầu thiểu thụy nhân.



Sáo trên sông

Đêm, ai thổi sáo trên sông,

Vườn xuân tiếng tiếng gửi lòng ai đâu?

Ai nghe, luống những bạc đầu,

Nữa chi ít ngủ, nhiều sầu như ai?

Ngày Nay, số 123 (14-8-1938)



69. Vương Chiêu Quân 王昭君

滿 面 朝 沙 滿 鬢 風

Mãn diện Hồ sa mãn mấn phong,

眉 銷 殘 黛 臉 銷 紅

Mi tiêu tàn đại kiểm tiêu hồng,

愁 苦 辛 勤 憔 悴 盡

Sầu khổ tân cần tiều tụy tận.

如 今 卻 似 畫 圖 中

Như kim khước tự họa đồ trung.



Vương Chiêu Quân

Cát Hồ đầy mặt, gió đầy tai,

Mực nhạt mày xanh, má đỏ phai.

Khổ sở lo buồn tiều tụy thế,

Mới là tranh vẽ giống như ai.

Ngày Nay, số 99 (27-2-1938)



70. Đại mại tân nữ tặng chư kỹ 代 賣 薪 女 贈 諸 妓

亂 蓬 為 鬢 布 為 巾

Loạn bồng vi mấn, bố vi cân,

曉 蹋 寒 山 自 負 薪

Hiểu đạp hàn sơn tự phụ tân,

一 種 錢 塘 江 畔 女

Nhất chung Tiền Đường giang bạn nữ,

著 紅 騎 馬 是 何 人

Trước hồng kỵ mã thị hà nhân?



Thay lời chị bán củi tặng các kỹ nữ

Đầu bù khăn vải trùm tai,

Trèo non gánh củi sương mai lạnh lùng,

Tiền Đường cũng gái bên sông.

Mà đâu yên ngựa quần hồng là ai?



71. Túc chương đình dịch 宿樟亭驛

夜 半 樟 亭 驛

Dạ bán Chương Đình dịch,

愁 人 起 望 鄉

Sầu nhân khỉ vọng hương.

明 月 何 所 見

Nguyệt minh hà sở kiến,

潮 水 白 茫 茫

Trào thủy bạch mang mang.



Ngủ nhà trạm Chương Đình

Nửa đêm ở trạm Chương Đình,

Người buồn trở dậy nặng tình hương quan

Dưới trăng trông ngóng lan man,

Nước trào trắng xóa một làn trăng soi.

Ngày Nay, số 148 (1939)

90 bài thơ Đường do Tản Đà dịch [1]

90 bài thơ Đường do Tản Đà dịch [1]




TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HlẾU (1889-1939)



VƯƠNG BỘT 王勃 (649-676)

1. Thục trung cửu nhật 蜀中九日

九 月 九 日望 鄉 臺

Cửu nguyệt cửu nhật Vọng Hương đài.

他 席 他 鄉 送 客 杯

Tha tịch tha hương tống khách bôi.

人 情 已 厭 南 中 苦

Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khổ,

鴻 鴈 那 從 北 地 來

Hồng nhạn na tòng bắc địa lai.



Trong đất Thục ngày mồng chín

Vọng Hương mồng chín lên đài,

Chén đưa tiệc khách quê người Nam Trung

Người đây chán chết nỗi lòng,

Cớ sao đất bắc chim hồng lại chi?

Ngày Nay, số 87 (28-11-1937)



LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王 (640?-684)

2. Dịch thủy tống biệt 易水送別

此 地 別 燕 丹

Thử địa biệt yên Đan,

壯 士 髮 衝 冠

Tráng sĩ phát xung quan.

昔 時 民 已 沒

Tích thời nhân dĩ một,

今 日 水 由 寒

Kim nhật thủy do hàn.



Sông Dịch tiễn biệt

Đất này biệt chú yên Đan

Tóc anh tráng sĩ tức gan dựng đầu.

Người xưa nay đã đi đâu,

Lạnh lùng sông nước cơn sầu chưa tan.

Ngày Nay, số 120 (24.7.1938)



TRẦN TỬ NGANG 陳子昂 (651-702)

3. Kế khâu lãm cổ 薊丘覽古

南 登 碣 石 館

Nam đăng Kệ Thạch quán,

遙 望 黃 金 臺

Dao vọng Hoàng Kim đài.

邱 陵 盡 喬 木

Khâu lăng tận kiều mộc

昭 王 安 在 哉

Chiêu Vương an tại tai

霸 圖 悵 已 矣

Bá đồ trướng dĩ hĩ,

驅 馬 復 歸 來

Khu mã phục quy lai.



Gò Kế xem cảnh năm xưa

Trèo lên Kệ Thạch quán nam,

Xa xa trông ngóng Hoàng Kim có đài.

Cây cao phủ hết quanh đồi.

Vua Chiêu ngày trước nay thời nơi nao?

Cơ đồ bá chủ còn đâu!

Nhớ ai đánh ngựa ta âu lại về.



TRƯƠNG NHƯỢC HƯ 張若虛

4. Xuân giang hoa nguyệt dạ 春 江 花 月 夜

春 江 潮 水 連 海 平

1. Xuân giang triều thủy liên hải bình,

海 上 明 月 共 潮 生

Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh.

灩 灩 隨 波 千 萬 里

Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý,

何 處 春 江 無 月 明

Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh?

江 流 宛 轉 遶 芳 甸

5.Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện

月 照 花 林 皆 似 霰

Nguyệt chiếu hoa lâm giai tự tản.

空 裏 流 霜 不 覺 飛

Không lý lưu sương bất giác phi,

汀 上 白 沙 看 不 見

Đinh thượng bạch sa khan bất kiến

江 天 一 色 無 纖 塵

Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,

皎 皎 空 中 孤 月 輪

10. Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.

江 畔 何 人 初 見 月

Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt?

江 月 何 年 初 照 人

Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân?

人 生 代 代 無 窮 已

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,

江 月 年 年 秖 相 似

Giang nguyệt niên niên kỳ tương tự.

不 知 江 月 待 何 人

15. Bất tri giang nguyệt đãi hà nhân,

但 見 長 江 送 流 水

Đãn kiến trường giang tống lưu thủy.

白 雲 一 片 去 悠 悠

Bạch vân nhất phiến khứ du du,

青 楓 浦 上 不 勝 愁

Thanh phong phố thượng bất thăng sầu,

誰 家 今 夜 扁 舟 子

Thùy gia kim dạ biên chu tử,

何 處 相 思 明 月 樓

20. Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?

可 憐 樓 上 月 徘 徊

Khả lân lâu thượng nguyệt bồi hồi,

應 照 離 人 妝 鏡 臺

Ưng chiếu ly nhân trang kính đài.

玉 戶 簾 中 卷 不 去

Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,

擣 衣 砧 上 拂 還 來

Đảo y châm thượng phất hoàn lai.

此 時 相 望 不 相 聞

25. Thử thời tương vọng bất tương văn,

願 逐 月 華 流 照 君

Nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.

鴻 雁 長 飛 光 不 度

Hồng nhạn trường phi quang bất độ

魚 龍 潛 躍 水 成 文

Ngư long tiềm dược thủy thành văn.

昨 夜 閒 潭 夢 落 花

Tạc dạ nhàm đàm mộng lạc hoa.

可 憐 春 半 不 還 家

30. Khả lân xuân bán bất hoàn gia.

江 水 流 春 去 欲 盡

Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,

江 潭 落 月 復 西 斜

Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.

斜 月 沈 沈 藏 海 霧

Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,

碣 石 瀟 湘 無 限 路

Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ.

不 知 乘 月 幾 人 歸

35. Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân quy?

落 月 搖 情 滿 江 樹

Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.



Đêm trăng hoa trên sông xuân

Sông xuân sáng nước liền ngang bể,

Vầng trăng trong mặt bể lên cao.

Ánh trăng theo sóng đẹp sao!

Sông xuân muôn dặm chỗ nào không trăng?

5.Dòng sông chảy quanh rừng hoa ngát,

Trăng soi hoa như tán trập trùng.

Sương bay chẳng biết trong không

Trên soi cát trắng nhìn không thấy gì.

Trời in nước một ly không bụi.

10. Mảnh trăng trong ròi rọi giữa trời.

Thấy trăng thoạt mới là ai?

Trăng sông thoạt mới soi người năm nao?

Người sinh mãi, kiếp nào cho biết,

Nhìn trăng sông năm hệt không sai.

15. Trăng sông chẳng biết soi ai,

Dưới trăng chỉ thấy sông dài nước trôi.

Đám mây trắng ngùi ngùi đi mãi,

Rặng phong xanh một dải sông sầu.

Đêm nay ai đó, ai đâu?

20. Chiếc thuyền để nhớ trên lầu trăng soi.

Trăng thờ thẩn nơi người xa ngóng,

Chốn đài gương tựa bóng thương ai.

Trong rèm cuốn chẳng đi thôi,

Trên bàn đập áo quét rồi lại ngay.

25. Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,

Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.

Hồng bay, ánh sáng không màng,

Nước sâu cá quẫy chỉ càng vẩn tăm.

Đêm nọ giấc trong đầm hoa rữa,

30. Ai xa nhà xuân nửa còn chi!

Nước sông trôi mãi xuân đi,

Trăng tà lặn xuống bên kia cánh đầm.

Vầng trăng lặn êm chìm khói bể,

Đường bao xa non kệ sông Tương.

35. Về trăng mấy kẻ thừa lương,

Trăng chìm lay bóng đầy hàng cây sông.



TRƯƠNG CỬU LINH 張 九 齡 (678-740)

5. Tự quân chi xuất hĩ 自 君 之 出 矣

自 君 之 出 矣

Tự quân chi xuất hĩ,

不 復 理 殘 機

Bất phục lý tàn ky.

思 君 如 月 滿

Tư quân như nguyệt mãn,

夜 夜 減 光 煇

Dạ dạ giảm quang huy



Từ ngày anh bước ra đi

Từ ngày anh bước ra đi,

Cửa canh bỏ dở, nghĩ gì sửa sang.

Nhớ anh như nguyệt tròn gương,

Tiêu hao ánh sáng, đêm thường lại đêm

Ngày Nay, số 116 (26-6-1938)



VƯƠNG XƯƠNG LINH 王 昌 齡 (698-756?)

6. Tống Hồ Đại 送 胡 大

荊 門 不 坩 別

Kinh Môn bất kham biệt,

況 乃 瀟 湘 秋

Huống nãi Tiêu Tương thu.

何 處 遙 望 君

Hà xứ dao vọng quân,

江 邊 明 月 樓

Giang biên mình nguyệt lâu.



Tiễn Hồ Đại

Non Kinh biệt đã đau lòng,

Nữa chi thu lại hai dòng Tiêu, Tương.

Nhớ anh, xa ngóng dặm trường,

Bên sông dưới bóng trăng suông tựa lầu.

Ngày Nay, số 122 (7-8-1938)



7. Khuê oán 閨 怨

閨 中 少 婦 不 知 愁

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

春 日 凝 妝 上 翠 樓

Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu.

忽 見 陌 頭 楊 柳 色

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,

悔 教 夫 婿 覓 封 侯

Hối giao phu tế mịch phong hầu.



Nhớ chồng

Trẻ trung nàng biết đâu sầu,

Buồng xuân trang điểm, lên lầu ngắm gương.

Nhác trông vẻ liễu bên đường,

«Phong hầu» nghĩ dại xui chàng kiếm chi.

Ngày Nay, số 77 (19-9-1938)



VƯƠNG DUY 王 維 (701-761)

8. Quá Hương Tích tự 過香積寺

不 知 香 積 寺

Bất tri Hương Tích tự

數 里 入 雲 峰

Sổ lý nhập vân phong.

古 木 無 人 徑

Cổ mộc vô nhân kính,

深 山 何 處 鐘

Thâm sơn hà xứ chung.

泉 聲 咽 危 石

Tuyền thanh yết nguy thạch,

日 色 冷 青 松

Nhật sắc lãnh thanh tùng.

薄 暮 空 潭 曲

Bạc mộ không đàm khúc,

安 禪 制 毒 龍

An thiền chế độc long.



Qua chùa Hương Tích

(Chùa ở trong hang Tý Ngọ, núi Nam Sơn,
thuộc Trường An, Hồ Nam, Trung Quốc.)

Chẳng hay Hương Tích chùa đâu,

Đi đôi ba dặm, lên đầu non cao.

Cây um, đường tắt vắng teo,

Núi sâu chuông vẳng nơi nào tiếng đưa.

Suối kêu nghẽn đá ria bờ,

Lạnh lùng bóng nắng chui lùa thông xanh.

Trời hôm, tấc dạ thanh minh,

Qui y đạo Phật sửa mình là hơn.

Ngày Nay, số 97 (13-2-1938)



9. Tây Thi vịnh 西 施 詠

艷 色 天 下 重

Diễm sắc thiên hạ trọng,

西 施 寧 久 微

Tây Thi ninh cửu vi

朝 為 越 溪 女

Triêu vi Việt Khê nữ,

暮 作 吳 宮 妃

Mộ tác Ngô cung phi,

賤 日 豈 殊 眾

Tiện nhật khởi thù chúng,

貴 來 方 悟 稀

Quý lai phương ngộ hi.

邀 人 傅 脂 粉

Yêu nhân phó chi phấn.

不 自 著 羅 衣

Bất tự trước la y

君 寵 益 嬌 態

Quân sủng ích kiêu thái,

君 憐 無 是 非

Quân lân vô thị phi.

當 時 浣 紗 伴

Đương thời hoán sa bạn,

莫 得 同 車 歸

Mạc đắc đồng xa quy

持 謝 鄰 家 子

Trì tạ lân gia tử,

效 顰 安 可 希

Hiệu tần an khả hi.



Vịnh Tây Thi

Thế gian sắc đẹp ai bì,

Tây Thi không nhẽ hàn vi suốt đời

Sớm còn gái Việt bên ngòi,

Cung Ngô tối đã lên ngồi cạnh vua.

Lúc hèn, ai chẳng hơn thua,

Khi sang mới biết đời chưa mấy người.

Phấn son gọi kẻ tô, giồi,

Áo là em mặc có người xỏ tay.

Vua yêu càng lắm vẻ hay,

Vua thương, phải trái mặc bay sá gì.

Giặt sa những bạn đương thì;

Cùng xe chẳng được đi về với ta.

Xin van cô ả bên nhà,

Cũng đòi «nhăn mặt» khó mà như nhau.



THÔI HIỆU 崔 顥 (704 – 754)

10. Hoàng Hạc lâu 黃 鶴 樓

昔 人 已 乘 黃 鶴 去

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

此 地 空 餘 黃 鶴 樓

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.

黃 鶴 一 去 不 復 返

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

白 雲 千 載 空 悠 悠

Bạch vân thiên tải không du du.

晴 川 歷 歷 漢 陽 樹

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ.

芳 草 萋 萋 鸚 鵡 洲

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

日 暮 鄉 關 何 處 是

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

煙 波 江 上 使 人 愁

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.



Gác Hoàng Hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ !

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày.

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

Ngày Nay, số 80 (10-10-1937)



LÝ BẠCH 李 白 (701-762)

11. Oán tình 怨 情

美 人 捲 珠 簾

Mỹ nhân quyển châu liêm.

深 坐 蹙 蛾 眉

Thâm tọa tần nga my.

但 見 淚 痕 濕

Đãn kiến lệ ngân thấp,

不 知 心 恨 誰

Bất tri tâm hận thùy.



Buồn vì tình

Người xinh cuốn bức rèm châu.

Ngồi im thăm thẳm nhăn chau đôi mày.

Chỉ hay giọt lệ vơi đầy,

Đố ai biết được lòng này giận ai!

Ngày Nay, số 119 (17.7.1938)



12. Tặng nội 贈 內

三 百 六 十 日

Tam bách lục thập nhật,

日 日 醉 如 泥

Nhật nhật túy như nê.

雖 為 李 白 婦

Tuy vi Lý Bạch phụ,

何 異 太 常 妻

Hà dị Thái thường thê?



Đưa cho vợ

Ba trăm sáu chục ngày trời,

Ngày ngày say bét như đời con nê.

Vợ chàng Lý Bạch ta kia,

Như ai vợ Thái thường xưa khác gì?

Ngày Nay, số 130 (1.10.1938)



13. Xuân tứ 春 思

燕 草 如 碧 絲

Yên thảo như bích ti,

秦 桑 低 綠 枝

Tần tang đê lục chi.

當 君 懷 歸 日

Đương quân hoài qui nhật,

是 妾 斷 腸 時

Thị thiếp đoạn trường thì.

春 風 不 相 識

Xuân phong bất tương thức,

何 事 入 羅 幃

Hà sự nhập la vi.



Ý xuân

Cỏ non xanh biếc vùng Yên,

Cành dâu xanh ngả ở bên đất Tần.

Lòng em đau đớn muôn phần,

Phải chăng là lúc phu quân nhớ nhà.

Gió xuân quen biết chi mà,

Cớ chi lọt bức màn là tới ai?

Ngày Nay, số 78 (26.9.1937)



14. Tống khách qui Ngô 送客歸吳

江 村 秋 雨 歇

Giang thôn thu vũ yết,

酒 盡 一 帆 飛

Tửu tận nhất phàm phi.

路 歷 波 濤 去

Lộ lịch ba đào khứ,

家 惟 坐 臥 歸

Gia duy tọa ngọa qui.

島 花 開 灼 灼

Đảo hoa khai chước chước,

汀 柳 細 依 依

Đinh liễu tế y y.

別 後 無 餘 事

Biệt hậu vô dư sự,

還 應 掃 釣 磯

Hoàn ưng tảo điếu ky.



Tiễn khách đi về Ngô

Sông thu ngớt hạt mưa tuôn,

Rượu vừa cạn chén, cánh buồm xa bay.

Đường đi trải mấy nước mây,

Ngồi nằm, ai chẳng khó thay đến nhà.

Cây đồi hớn hở ra hoa,

Lăn tăn lá liễu thướt tha bên ngàn.

Xa nhau rồi những thanh nhàn.

Thú chơi quét tấm thạch bàn ngồi câu.

Ngày Nay, số 119 (17.7.1938)



15. Xuân nhật túy khởi ngôn chí 春 日 醉 起 言 志

處 世 若 大 夢

Xử thế nhược đại mộng.

胡 為 勞 其 生

Hồ vi lao kỳ sinh?

所 以 終 日 醉

Sở dĩ chung nhật túy.

頹 然 臥 前 楹

Đồi nhiên ngọa tiền doanh.

覺 來 眄 庭 前

Giác lai miện đình tiền.

一 鳥 花 間 鳴

Nhất điểu hoa gian minh.

借 問 此 何 時

Tá vấn thử hà nhật?

春 風 語 流 鶯

Xuân phong ngữ lưu oanh.

感 之 欲 歎 息

Cảm chi dục thán tức,

對 酒 還 自 傾

Đối tửu hoàn tự khuynh.

浩 歌 待 明 月

Hạo ca đãi minh nguyệt.

曲 盡 已 忘 情

Khúc tận dĩ vong tình.



Ngày xuân say rượu dậy nói chí mình

Ở đời như giấc chiêm bao

Cái thân còn đó, lao đao làm gì?

Cho nên suốt buổi say lì,

Nằm lăn trước cột, biết gì có ta.

Tỉnh thôi đưa mắt sân nhà.

Một con chim hót bên hoa ngọt ngào.

Hỏi xem: nay đó ngày nào?

Ngày xuân gió mát, vui chào tiếng oanh.

Ngậm ngùi cám cảnh sinh tình,

Nghiêng bầu, mình lại với mình làm vui.

Hát ran, chờ tấm trăng soi,

Thoạt xong câu hát thời rồi đã quên.

Ngày Nay, số 91 (26.12.1937)



16. Tống hữu nhân 送 友 人

青 山 橫 北 郭

Thanh sơn hoành Bắc quách,

白 水 遶 東 城

Bạch thủy nhiễu Đông thành.

此 地 一 為 別

Thử địa nhất vi biệt.

孤 蓬 萬 里 征

Cô bồng vạn lý chinh.

浮 雲 游 子 意

Phù vân du tử ý,

落 日 故 人 情

Lạc nhật cố nhân tình.

揮 手 自 茲 去

Huy thủ tự tư khứ,

蕭 蕭 班 馬 鳴

Tiêu tiêu ban mã minh.



Tiễn bạn

Chạy dài cõi Bắc non xanh,

Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau.

Nước non này chỗ đưa nhau

Một xa muôn dặm biết đâu cánh bồng!

Chia phôi khác cả mối lòng,

Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.

Vẫy tay thôi đã rời xa,

Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo.

Ngày Nay, số 77 (19.9.1937)



17. Quan san nguyệt 關 山 月

明 月 出 天 山

Minh nguyệt xuất Thiên San,

蒼 茫 雲 海 間

Thương mang vân hải gian.

長 風 幾 萬 里

Trường phong kỷ vạn lý,

吹 度 玉 門 關

Xuy độ Ngọc Môn quan.

漢 下 白 登 道

Hán hạ Bạch Đăng đạo,

胡 窺 青 海 灣

Hồ khuy Thanh Hải loan.

由 來 征 戰 地

Do lai chinh chiến địa,

不 見 有 人 還

Bất kiến hữu nhân hoàn.

戍 客 望 邊 色

Thú khách vọng biên sắc,

思 歸 多 苦 顏

Tư quy đa khổ nhan.

高 樓 當 此 夜

Cao lâu đương thử dạ,

歎 息 未 應 閑

Thán tức vị ưng nhàn.



Trăng quan san

Vừng trăng ra núi Thiên San,

Mênh mang nước bể mây ngàn sáng soi.

Gió đâu muôn dặm chạy dài,

Thổi đưa trăng sáng ra ngoài Ngọc Môn.

Bạch Đăng quân Hán đóng đồn,

Vụng kia Thanh Hải dòm luôn mắt Hồ.

Từ xưa bao kẻ chinh phu,

Đã ra đất chiến, về ru mấy người?

Buồn trông cảnh sắc bên trời,

Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà.

Lầu cao, đêm vắng, ai mà,

Đêm nay than thở ắt là chưa nguôi.



18. Thu tịch lữ hoài 秋夕旅懷

涼 風 度 秋 海

Lương phong độ thu hải

吹 我 鄉 思 飛

Xuy ngã hương tứ phi.

連 山 去 無 際

Liên sơn khứ vô tế,

流 水 何 時 歸

Lưu thủy hà thời qui

目 極 浮 雲 色

Mục cực phù vân sắc,

心 斷 明 月 暉

Tâm đoạn minh nguyệt huy.

芳 草 歇 柔 豔

Phương thảo yết nhu diệm,

白 露 催 寒 衣

Bạch lộ thôi hàn y.

夢 長 銀 漢 落

Mộng trường Ngân hán lạc,

覺 罷 天 星 稀

Giác bãi thiên tinh hy.

含 悲 想 舊 國

Hàm bi tưởng cựu quốc,

泣 下 誰 能 揮

Khấp hạ thùy năng huy.



Tối mùa thu nhớ nhà

Lạnh lùng gió vượt bể thu,

Hồn quê theo gió như vù vù bay.

Chạy dài dãy núi liền mây,

Nước trôi trôi mãi, có ngày về chăng?

Đám mây vút mắt xa chừng,

Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.

Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,

Áo may mặc rét giục người móc sa!

Giấc mơ rơi dải Ngân hà,

Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.

Đoái thương nước cũ ngậm ngùi

Khóc rơi giọt lệ lau chùi đố ai?



19. Kinh Hạ Bi Dĩ kiều hoài Trương Tử Phòng

經 下 邳 圯 橋 懷 張 子 房

子 房 未 虎 嘯

Tử Phòng vị hổ khiếu,

破 產 不 為 家

Phá sản bất vi gia.

滄 海 得 壯 士

Thương hải đắc tráng sĩ,

椎 秦 博 浪 沙

Chùy Tần Bác Lãng sa.

報 韓 雖 不 成

Báo Hàn tuy bất thành.

天 地 皆 振 動

Thiên địa giai chấn động.

潛 匿 遊 下 邳

Tiềm nặc du Hạ Bi.

豈 曰 非 智 勇

Khởi viết phi trí dũng.

我 來 圯 橋 上

Ngã lai Dĩ kiều thượng,

懷 古 欽 英 風

Hoài cổ khâm anh phong.

惟 見 碧 流 水

Duy kiến bích lưu thủy,

曾 無 黃 石 公

Tằng vô Hoàng Thạch công.

歎 息 此 人 去

Thán tức thử nhân khứ,

蕭 條 徐 泗 空

Tiêu điều Từ, Tứ không.



Qua cầu Dĩ đất Hạ Bi nhớ Trương Tử Phòng

Thầy Lương hổ chửa ra oai.

Phá tan của cải gia tài sạch không.

Biển xanh được kẻ anh hùng,

Vua Tần, đánh một dùi đồng thử coi.

Cánh đồng Bác Lãng công toi,

Thù Hàn chưa trả đất trời cũng kinh.

Hạ Bi trốn lánh nương mình,

Khôn ngoan mạnh bạo tài tình lắm thay!

Ta nay cầu Dĩ chơi đây

Nhớ ai thiên cổ lòng đầy kính yêu,

Trong veo nước biếc xuôi chiều,

Mà ông Hoàng Thạch đâu nào có đâu.

Than rằng ai đó đi đâu,

Vắng tanh Từ, Tứ để sầu nước non.

Ngày Nay, số 82 (24.10.1937)



20. Sơn trung vấn đáp 山 中 問 答

問 予 何 事 棲 碧 山

Vấn dư hà sự thê bích san?

笑 而 不 答 心 自 閒

Tiếu nhi bất đáp, tâm tự nhàn.

桃 花 流 水 窅 然 去

Đào hoa lưu thủy yểu nhiên khứ,

別 有 天 地 非 人 間

Biệt hữu thiên địa, phi nhân gian.



Trả lời hỏi trong núi

Hỏi ta: Ở núi làm chi?

Thong dong chẳng nói, cười khì cho vui.

Hoa đào theo bẵng nước trôi,

Có riêng trời đất, cõi người đâu đây.

Ngày Nay, số 94 (16-1-1938)



21. Tặng Uông Luân 贈汪倫

李 白 乘 舟 將 欲 行

Lý Bạch thừa chu tương dục hành,

忽 聞 岸 上 踏 歌 聲

Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh.

桃 花 潭 水 深 千 尺

Đào Hoa đàm thủy thâm thiên xích,

不 及 汪 倫 送 我 情

Bất cập Uông Luân tống ngã tình.



Tặng Uông Luân

Sắp đi Lý Bạch ngồi thuyền,

Trên bờ chân giậm, nghe liền tiếng ca

Nước đầm nghìn thước Đào Hoa,

Uông Luân, tình bác tiễn ta sâu nhiều.

Ngày Nay, số 135 (5-11-1938)



22. Tảo phát Bạch Đế thành 早 發 白 帝 城

朝 辭 白 帝 彩 雲 間

Triêu từ Bạch Đế thái vân gian,

千 里 江 凌 一 日 還

Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn.

兩 岸 猿 聲 啼 不 住

Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trụ,

輕 舟 已 過 萬 重 山

Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.



Sớm ra đi từ thành Bạch Đế

Sớm ra Bạch Đế thành mây,

Giang Lăng nghìn dặm một ngày về luôn.

Hai bờ tiếng vượn véo von,

Thuyền lan đã vượt núi non vạn trùng

Ngày Nay, số 88 (5-12-1937)



23. Ô dạ đề 烏夜啼

黃 雲 城 邊 烏 欲 棲

Hoàng vân thành biên ô dục thê.

歸 飛 啞 啞 枝 上 啼

Quy phi «á á» chi thượng đề.

機 中 織 錦 秦 川 女

Cơ trung chức cẩm Tần Xuyên nữ.

碧 紗 如 湮 隔 窗 語

Bích sa như yên cách song ngữ.

停 梭 悵 然 憶 遠 人

Đình thoa trướng nhiên ức viễn nhân

獨 宿 孤 房 淚 如 雨

Độc túc cô phòng lệ như vũ.



Quạ kêu đêm

Mây vàng tiếng quạ bên thành,

Nó bay tìm ngủ trên cành nó kêu.

Tần Xuyên cô gái buồng thêu,

Song sa khói tỏa như khêu chuyện ngoài.

Dừng thoi buồn bã nhớ ai,

Phòng không gối chiếc, giọt dài tuôn mưa.

Ngày Nay, số 83 (31-10-1937)



24. Thái liên khúc 採 蓮 曲

若 耶 溪 傍 採 蓮 女

Nhược Da khê bạng thái liên nữ,

笑 隔 菏 花 共 人 語

Tiếu cách hà hoa cộng nhân ngữ.

日 照 新 倀 水 底 明

Nhật chiếu tân trang thủy để minh,

風 飄 香 袂 空 中 舉

Phong phiêu hương duệ không trung cử.

岸 上 誰 家 遊 冶 郎

Ngạn thượng thùy gia du dã lang,

三 三 五 五 映 垂 楊

Tam tam ngũ ngũ ánh thùy dương.

紫 騮 嘶 入 落 花 去

Tử lưu tê nhập lạc hoa khứ,

見 此 踟 躕 空 斷 腸

Kiến thử trì trù không đoạn trường.



Khúc hát hái sen

Có cô con gái nhà ai,

Hái sen, chơi ở bên ngòi Nhược Da.

Mặt hoa cười cách đóa hoa,

Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh.

Áo quần mặc mới sáng tinh,

Nắng soi đáy nước rung rinh bóng lồng.

Thơm thơ vạt áo gió tung,

Bay lên phấp phới trong không ngạt ngào.

Năm, ba chàng trẻ nhà nào,

Ngựa hồng rặng liễu, bờ cao bóng người.

Ngựa kêu, lần bước hoa rơi,

Đoái trông ai đó, ngậm ngùi tiếc thương.

Ngày Nay, số 89 (10-12-1937)



ĐỖ PHỦ 杜甫 (712-770)

25. Nguyệt dạ 月 夜

今 夜 鄜 州 月

Kim dạ Phu Châu nguyệt,

閨 中 只 獨 看

Khuê trung chỉ độc khan.

遙 憐 小 兒 女

Dao liên tiểu nhi nữ,

未 解 憶 長 安

Vị giải ức Tràng An.

香 霧 雲 鬟 濕

Hương vụ vân hoàn thấp,

清 輝 玉 臂 寒

Thanh huy ngọc tý hàn.

何 時 倚 虛 幌

Hà thời ỷ hư hoảng,

雙 照 淚 痕 乾

Song chiếu lệ ngân can.



Đêm sáng trăng

Châu Phu này lúc trăng soi.

Buồng the đêm vắng riêng coi một mình.

Đoái thương thơ dại đầu xanh,

Tràng An chửa biết đem tình nhớ nhau.

Sương sa thơm ướt mái đầu,

Cánh tay ngọc trắng lạnh màu sáng trong.

Bao giờ tựa bức màn không,

Gương soi chung bóng lệ dòng dòng khô.

Ngày Nay, số 86 (21-11-1937)



26. Đăng Nhạc Dương lâu 登 岳 陽 樓

昔 聞 洞 庭 水

Tích văn Động Đình thủy,

今 上 岳 陽 樓

Kim thướng Nhạc Dương lâu.

吳 楚 東 南 坼

Ngô, Sở đông nam sách,

乾 坤 日 夜 浮

Càn khôn nhật dạ phù.

親 朋 無 一 字

Thân bằng vô nhất tự,

老 病 有 孤 舟

Lão bệnh hữu cô chu

戎 馬 關 山 北

Nhung mã quan sơn bắc.

憑 軒 涕 泗 流

Bằng hiên thế tứ lưu.



Lên lầu Nhạc Dương

Động Đình nghe tiếng từ xưa,

Nhạc Dương lâu mới bây giờ lên chơi.

Đông nam Ngô, Sở chia hai,

Ngày đêm như thấy đất trời nổi nênh.

Người quen, một chữ vắng tanh,

Tuổi già, mình ốm lênh bênh chiếc thuyền.

Quan san cõi Bắc giặc tràn,

Mái hiên đứng tựa giụa giàn giọt rơi.

Ngày Nay, số 87 (28-11-1937)



27. Tuyệt cú 絕 句

兩 個 黃 鸝 鳴 翠 柳

Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu,

一 行 白 鷺 向 青 天

Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.

窗 含 西 嶺 千 秋 雪

Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,

門 泊 東 吳 萬 里 船

Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền.



Câu tứ tuyệt

Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,

Một hàng cò trắng vút trời xanh.

Nghìn năm tuyết núi song in sắc,

Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.

Ngày Nay, số 97 (13-2-1938)



28. Đăng Cao 登 高

風 急 天 高 猿 嘯 哀

Phong cấp thiên cao, viên khiếu ai.

渚 清 沙 白 鳥 飛 迴

Chử thanh sa bạch, điểu phi hồi.

無 邊 落 木 蕭 蕭 下

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,

不 盡 長 江 滾 滾 來

Bất tận trường giang cổn cổn lai.

萬 里 悲 秋 常 作 客

Vạn lý bi thu thường tác khách.

百 年 多 病 獨 登 臺

Bách niên đa bệnh độc đăng đài.

艱 難 苦 恨 繁 霜 鬢

Gian nan khổ hận phồn sương mấn,

潦 倒 新 停 濁 酒 杯

Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.



Lên núi

Gió mạnh, trời cao, vượn rúc sầu

Bến trong, cát trắng, lượn đàn âu.

Lào rào lá rụng, cây ai đếm,

Cuồn cuộn sông dài, nước đến đâu.

Muôn dặm quê người thu não cảnh,

Một thân già yếu bước lên lầu.

Khó khăn ngao ngán bao là nỗi,

Rượu uống không ngon chóng bạc đầu.

Ngày Nay, số 79 (3-10-1937)



29. Khúc giang 曲 江

朝 回 日 日 典 春 衣

Triều hồi nhật nhật điển xuân y,

每 日 江 頭 盡 醉 歸

Mỗi nhật giang đầu tận túy qui.

酒 債 尋 常 行 處 有

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,

人 生 七 十 古 來 稀

Nhân sinh thất thập cổ lai hi.

穿 花 蛺 蝶 深 深 見

Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện,

點 水 蜻 蜓 款 款 飛

Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi.

傳 語 風 光 共 流 轉

Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển,

暫 時 相 賞 莫 相 違

Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.



Trên sông Khúc

Khỏi bệ vua ra, cố áo hoài,

Bên sông say khướt, tối lần mai.

Nợ tiền mua rượu đâu không thế,

Sống bảy mươi năm đã mấy người?

Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn.

Chuồn chuồn giỡn nước lửng lơ chơi.

Nhắn cho: quang cảnh thường thay đổi,

Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài.

Ngày Nay, số 90 (19-12-1937)



SẦM THAM 岑 參 (715-770)

30. Sơn phòng xuân sự 山 房 春 事

梁 園 日 暮 亂 飛 鴉

Lương viên nhật mộ loạn phi nha,

極 目 蕭 條 三 兩 家

Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia.

庭 樹 不 知 人 去 盡

Đình thụ bất tri nhân khứ tận,

春 來 還 發 舊 時 花

Xuân lai hoàn phát cựu thì hoa



Cảnh xuân nhà trên núi

Trời tối vườn Lương quạ lượn lờ,

Nhà đâu vút mắt, nóc lưa thưa.

Cây xuân chẳng biết người đi hết,

Xuân đến hoa còn nở giống xưa.



CAO THÍCH 高 適 (702-765)

31. Vịnh sử 詠 史

尚 有 綈 袍 贈

Thượng hữu đề bào tặng,

應 憐 范 叔 寒

Ưng lân Phạm Thúc hàn.

不 知 天 下 士

Bất tri thiên hạ sĩ,

猶 作 布 衣 看

Do tác bố y khan.



Vịnh sử

Áo bông còn có cho nhau,

Cảm thương chàng Phạm bấy lâu lạnh lùng.

Cõi đời chẳng biết anh hùng,

Vẫn coi nhau thể bần cùng khố dây.

Ngày Nay, số 111 (22.5.1938)



32. Biệt Đổng Đại 別 董 大

十 里 黃 雲 白 日 曛

Thập lý hoàng vân bạch nhật huân,

北 風 吹 雁 雪 紛 紛

Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.

莫 愁 前 路 無 知 己

Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,

天 下 誰 人 不 識 君

Thiên hạ thùy nhân bất thức quân?



Tương biệt với Đổng Đại

Mười dặm vàng pha bóng nhật vân,

Nhàn xuôi gió bấc tuyết bay nhanh.

Chớ buồn nẻo trước không tri kỷ.

Thiên hạ ai người chẳng biết anh!

Ngày Nay, số 88 (5.12.1937)



GIẢ CHÍ 賈 至 (718-772)

33. Tống Lý Thị lang phó Thường Châu

送 李 侍 郎 赴 常 州

雪 晴 雲 散 北 風 寒

Tuyết tình vân tán bắc phong hàn,

楚 水 吳 山 道 路 難

Sở thủy Ngô sơn đạo lộ nan.

今 日 送 君 須 盡 醉

Kim nhật tống quân tu tận túy;

明 朝 相 憶 路 漫 漫

Minh triêu tương ức lộ man man.



Tiễn Lý Thị lang đổi tới Thường Châu

Tuyết tạnh mây tan gió lọt da,

Non sông Ngô Sở, nỗi đường xa.

Lúc này đưa bác nên say tít,

Tình nặng đường xa buổi sáng ra.

Ngày Nay, số 84 (7.11.1937)



TRƯƠNG VỊ 張 謂

34. Hồ trung đối tửu tác

湖 中 對 酒 作

夜 坐 不 厭 湖 上 月

Dạ tọa bất yếm hồ thượng nguyệt,

晝 行 不 厭 湖 上 山

Trú hành bất yếm hồ thượng san.

眼 前 一 樽 又 常 滿

Nhãn tiền nhất tôn hựu thường mãn,

心 中 萬 事 如 等 閒

Tâm trung vạn sự như đẳng nhàn.

主 人 有 黍 萬 餘 石

Chủ nhân hữu thử vạn dư thạch,

濁 醪 數 斗 應 不 惜

Trọc giao sổ đẩu ưng bất tích.

即 今 相 對 不 盡 歡

Tức kim tương đối bất tận hoan,

別 後 相 思 復 何 益

Biệt hậu tương tư phục hà ích.

茱 萸 灣 頭 歸 路 賒

Thù du loan đầu qui lộ xa,

願 君 且 宿 黃 公 家

Nguyện quân thả túc Hoàng công gia.

風 光 若 此 人 不 醉

Phong quang nhược thử, nhân bất túy,

參 差 辜 負 東 園 花

Sâm si cô phụ đông viên hoa.



Trong hồ cùng nhau uống rượu

Ngồi đêm chẳng chán trăng hồ,

Ngày đi chẳng chán quanh hồ núi non.

Một chai trước mắt đầy luôn,

Trong lòng muôn nỗi lo buồn bỏ qua.

Chủ nhân thóc nếp đầy nhà,

Rượu nồng mấy gáo ắt là tiếc chi?

Cùng nhau nay chẳng hả hê,

Nhớ nhau lúc khác ích gì nữa ai?

Thù du về bến xa xôi,

Xin ai ở lại ngủ chơi ông Hoàng

Chẳng say cũng phí phong quang,

Vườn đông luống để bẽ bàng cho hoa.

Ngày Nay, số 93 (9.1.1938)



TIỀN KHỞI 錢 起 (722-780)

35. Giang hành 江 行

睡 穩 葉 舟 輕

Thụy ổn diệp chu khinh,

風 微 浪 不 驚

Phong vi lãng bất kinh.

任 君 蘆 葦 岸

Nhậm quân lô vi ngạn,

終 夜 動 秋 聲

Chung dạ động thu thanh.



Đi trên sông

Ngủ yên trong chiếc thuyền con,

Gió hiu hiu thổi, sóng rờn rờn đưa.

Mặc đâu lau sậy bên bờ,

Suốt đêm động rộn tha hồ tiếng thu.

Ngày Nay, số 122 (7.8.1938)



VI ỨNG VẬT 韋 應 物 (736-780)

36. Thính giang địch, tống Lục Thị ngự 聽 江 笛 送 陸 侍 御

遠 聽 江 上 笛

Viễn thính giang thượng địch,

臨 觴 一 送 君

Lâm trường nhất tống quân.

還 愁 獨 宿 夜

Hoàn sầu độc túc dạ,

更 向 郡 齋 聞

Cánh hướng quận trai văn.



Nghe sáo sông, tiễn quan Thị ngự họ Lục

Xa nghe tiếng sáo trên sông,

Một phen cất chén rượu nồng đưa nhau.

Nghĩ cho đêm vắng thêm sầu,

Riêng ai tiếng ấy bên lầu lại nghe.

Ngày Nay, số 122 (7.8.1938)



CÁP GIA VẬN 蓋 嘉 運

37. Y Châu ca 伊 州 歌

打 起 黃 鶯 兒

Đả khởi hoàng oanh nhi,

莫 教 枝 上 啼

Mạc giao chi thượng đề.

啼 時 驚 妾 夢

Đề thời kinh thiếp mộng,

不 得 到 遼 西

Bất đắc đáo Liêu Tê.



Khúc hát Y Châu

Đập cho mất cái vàng anh,

Chẳng cho nó ở trên cành nó kêu.

Nó kêu tỉnh giấc chiêm bao,

Liêu Tây chẳng được em theo đến chàng.



LÝ ĐOAN 李 端

38. Bái tân nguyệt 拜 新 月

開 簾 見 新 月

Khai liêm kiến tân nguyệt,

即 便 下 階 拜

Tức tiện há giai bái.

細 語 人 不 聞

Tế ngữ nhân bất văn,

北 風 吹 裙 帶

Bắc phong xuy quân đái.



Vái trăng mới

Mở rèm thấy tấm trăng non,

Thềm trên bước xuống vái luôn trăng này.

Khẽ lời khấn chẳng ai hay,

Thoảng cơn gió bấc thổi bay dải quần

Ngày Nay, số 117 (3.7.1938)



LIỄU TÔNG NGUYÊN 柳 宗 元 (773-819)

39. Giang tuyết 江 雪

千 山 鳥 飛 絕

Thiên sơn điểu phi tuyệt.

萬 徑 人 蹤 滅

Vạn kính nhân tung diệt.

孤 舟 簑 笠 翁

Cô chu toa lạp ông,

獨 釣 寒 江 雪

Độc điếu Hàn Giang tuyết.



Tuyết trên sông

Nghìn non mất bóng chim bay,

Muôn con đường tắt dấu giày tuyệt không.

Kìa ai câu tuyết bên sông,

Áo tơi, nón lá, một ông thuyền chài.

Ngày Nay, số 92 (2.1.1938)



40. Ngư ông 漁 翁

漁 翁 夜 傍 西 巖 宿

Ngư ông dạ bạng tây nham túc

曉 汲 清 湘 燃 楚 燭

Hiểu cấp thanh Tương nhiên Sở trúc.

煙 銷 日 出 不 見 人

Yên tiêu nhật xuất bất kiến nhân,

欸 乃 一 聲 山 水 綠

Ái nãi nhất thanh sơn thủy lục.

迴 看 天 際 下 中 流

Hồi khan thiên tế hạ trung lưu,

巖 上 無 心 雲 相 逐

Nham thượng vô tâm vân tương trục.



Ông lão thuyền câu

Thuyền câu ngủ ghé non tây,

Dòng Tương, tre Sở sáng ngày nấu ăn,

Khói tan trời nắng vắng tanh,

Tiếng vang nước biếc non xanh một chèo.

Xuôi dòng ngoảnh lại trời cao,

Đầu non mấy đám mây theo lững lờ.

Ngày Nay, số 113 (5.6.1938)



LƯU VŨ TÍCH 劉 禹 錫 (772-842)

41. Ô Y hạng 烏 衣 巷

朱 雀 橋 邊 野 草 花

Chu Tước kiều biên dã thảo hoa.

烏 衣 巷 口 夕 陽 斜

Ô Y hạng khẩu tịch dương tà.

舊 時 王 謝 堂 前 燕

Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến.

飛 入 尋 常 百 姓 家

Phi nhập tầm thường bách tính gia.



Ngõ Ô Y

Bên cầu Chu Tước cỏ hoa,

Ô Y đầu ngõ, bóng tà tịch dương.

Én xưa nhà Tạ, nhà Vương,

Lạc loài đến chốn tầm thường dân gia.

Ngày Nay, số 94 (16-1-1938)


( to be continued )