13/11/13

CNN - Health care fiasco highlights Obama's broken promise



Health care fiasco highlights Obama's broken promise


By Ruben Navarrette, CNN Contributor
updated 9:43 PM EST, Wed November 13, 2013


San Diego, California (CNN) -- You almost have to feel sorry for President Obama. Almost.
You know you're having a tough week when you're essentially being called untruthful by, of all people, Bill Clinton, who knows a thing or two about stretching the truth. At the very least, Clinton insisted that Obama -- in trying to sell Obamacare to the American people -- should not have broken his promise that, if they liked their doctor and health care plan, they could keep both.
For millions of Americans, perhaps tens of millions, this hasn't been the case. Their policies were cancelled.
Even while continuing to express support for the Affordable Care Act, Clinton suggested that people should be able to stay with what they had before the legislation took effect "even if it takes a change in the law."
That is easier said than done. There is no easy fix that wouldn't rip out the foundation of Obamacare.
Meanwhile, millions of Americans lose health care coverage that, defenders of Obamacare insist, wasn't very good anyway. Maybe not. But here is what is probably going through the mind of people like the ones whose individual policies were canceled or the single mom with three kids who was kicked off her company's health plan because she works part-time and must take her chances on the Obamacare exchange: "It wasn't perfect but at least it was something."
Meanwhile, on the other end of the health care seesaw, according to official figures released Wednesday, just 106,000 Americans signed up. And that figure generously includes those who selected a plan but haven't paid yet. For what it is worth, only about 26,000 of those 106,000 managed to enroll through the troubled federal website that became a national punchline: www.HealthCare.gov.
So, in other words, while we're only a month into this social experiment, those who have been inconvenienced by Obamacare outnumber, by a wide margin, those who have signed up to be helped by it.
And if you think what is happening on the federal level is nutty, just take a look at the local exchanges. How's this for a math problem? In Washington D.C., just five people enrolled even though officials spent $133,573,928 to set up the exchange. That's $26,714,785.60 per enrollee. We knew that sometimes the safety net becomes a hammock. Now we know that, sometimes, the hammock is made of gold.
None of this looks good. But it looks especially bad to Democrats who are up for re-election in 2014. Many of them are running for the hills. A group of about a dozen of them have given the White House until Friday to come up with a way for people to keep their health care coverage.
You'll recall that every single Democratic lawmaker in both houses voted in favor of Obamacare, the very law that they're now trying to change. It would have been nice if they had made those changes through amendments before voting for the final bill. That's how it is supposed to work.
After the fiasco at the Bay of Pigs, President John F. Kennedy famously noted that "victory has a thousand fathers, but defeat is an orphan."
Well, it's not just defeat that has no parents. We learned this week that the orphanages are also filled with massive, costly and inefficient government programs that give new meaning to the phrase "bureaucratic nightmare." These programs fine people for not buying a product from a website that doesn't work right, and they have caused an upheaval where -- under the pretense of ensuring that all Americans have health insurance -- several million Americans who had health insurance wake up to find that they no longer do.
Obama either knew this would happen and he lied, or he was grossly mistaken. Either way, an important promise has been broken and a sacred trust violated. And while, politicians break promises all the time, this one is in a whole different category. This isn't the metaphorical "chicken in every pot" that never materialized. This is about government coming into your home and taking away the chicken that you planned to feed to your family for dinner.
There's a big difference. And voters know it. Many Americans don't just feel disappointed and underserved. They feel injured, betrayed and lied to by their leaders -- and especially by Obama.
In a Quinnipiac University poll released this week, Obama's job approval rating has dropped to a record low: just 39% of Americans approve of how he is handling the job, while 54% disapprove. Only 19% of Americans say they believe the quality of their health care will improve in the next year, while 43% say it will get worse and 33% don't think it will impact their coverage one way or another.
But here's the real problem for the White House and the entire administration. In the same poll, more Americans than not are questioning the president's integrity. A majority of voters -- 52% -- say that Obama is not honest and trustworthy, compared to 44% who disagree.
It wasn't supposed to be this way. When Obama took office in January 2009, he promised to be an improvement on previous presidents. He promised an administration that was honest and transparent. The rollout of Obamacare has been neither of those things. Someone has to pay for that. And, if voters have anything to say about it next year, someone will.

 CNN 

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Trung Quốc Đẩy Mạnh Cải Cách?


Wednesday, November 13, 2013

Trung Quốc Đẩy Mạnh Cải Cách?

Nguyễn-Xuân Nghĩa & ; Vũ Hoàng, RFA Ngày 131113
Diễn đàn Kinh tế

Vẫn chưa chuyển hướng... 

000_Hkg9186394-305.jpg
Công an Trung Quốc tuần tra bên ngoài Đại lễ đường nhân dân tại Bắc Kinh nơi diễn ra Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ 3, khóa 18 của đảng CSTQ, ảnh chụp ngày 12 tháng 11 năm 2013. AFP PHOTO / Mark Ralston



Hôm Thứ Ba 12/11, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ ba thuộc khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Hoa thông báo việc đẩy mạnh cải cách sâu rộng hơn cho đến chân trời 2020. Dư luận quốc tế chú ý đến ảnh hưởng của Hội nghị cho nền kinh tế hạng nhì thế giới và qua đó cho nền kinh tế toàn cầu. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về những quyết định của Hội nghị này.

 

Cải cách theo hướng nào?


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, theo dõi Hội nghị Trung ương kỳ ba của khoá 18 tại Bắc Kinh, ông nhận xét như thế nào về việc lãnh đạo Trung Quốc thông báo sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách trong những năm tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Như chúng ta nhiều lần trình bày trên diễn đàn này, Hội nghị Trung ương kỷ ba thuộc khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Hoa có tầm quan trọng đặc biệt nên được dư luận quốc tế chú ý. Lý do là, thứ nhất, sau hội nghị vào Tháng 11 năm ngoái và Tháng Hai vừa qua, với trọng tâm phân bố trách nhiệm của tầng lớp lãnh đạo mới, đây là hội nghị đầu tiên của thế hệ mới nhằm đề ra nhiệm vụ và phương hướng lãnh đạo Trung Quốc trong mươi năm tới. Thứ hai là Trung Quốc đang ở vào giai đoạn khó khăn và phải chuyển hướng sau 10 năm lãnh đạo của thế hệ trước, qua hai Đại hội 16 và 17, mà không cải sửa được nhiều nhược điểm trong cơ chế kinh tế và chính trị, nhất là chính trị. Thứ ba là khi họ muốn chuyển thì hoàn cảnh kinh tế toàn cầu lại có nhiều thay đổi từ những biến động thời 2008-2009, và những thay đổi này còn gây thêm trở ngại cho việc chuyển hướng của Trung Quốc. Tuy nhiên mặc dù như vậy, hiện nay vẫn còn quá sớm để ta có thể đánh giá được chiều hướng cải cách của lãnh đạo xứ này.

Vũ Hoàng: Các hãng thông tấn quốc tế đều nói đến quyết định đẩy mạnh cải cách từ Hội nghị Ba, thí dụ như vận dụng quy luật thị trường nhiều hơn, hoặc cho tư nhân đầu tư vào hệ thống doanh nghiệp nhà nước chẳng hạn. Ông nghĩ sao mà cho là vẫn còn quá sớm để đánh giá nỗ lực cải cách của họ?

TQ đang ở vào giai đoạn khó khăn và phải chuyển hướng sau 10 năm lãnh đạo của thế hệ trước, qua hai Đại hội 16 và 17, mà không cải sửa được nhiều nhược điểm. Ô. Nguyển-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin được trình bày lại bối cảnh như thế này để ta hiểu rõ hơn tiến trình quyết định của đảng Cộng sản Trung Quốc.

- Sau khi được Đại hội 18 bầu lên cuối năm ngoái, tầng lớp lãnh đạo mới, những người được gọi là thế hệ thứ năm, đã mất nhiều tháng tìm hiểu và vận động bên trong Bộ Chính trị gồm 25 người để đạt thỏa thuận căn bản về những việc phải làm trong thời gian tới, ít ra là cho đến Đại hội 19. Nhưng trong tiến trình đề cử tầng lớp lãnh đạo mới, lớp người lãnh đạo cũ, thuộc thế hệ thứ tư như Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, hoặc thậm chí thế hệ thứ ba như Giang Trạch Dân, vẫn có tiếng nói và ảnh hưởng về cả nhân sự lẫn đường lối vì đằng sau họ là các Trung ương Ủy viên cùng phe cánh, quyền lợi và lối nhận thức. Khi chuẩn bị Hội nghị kỳ Ba vừa qua, thế hệ lãnh đạo mới cần có sự nhất trí của mọi thành phần đó. Sau đấy họ mới triệu tập Hội nghị, kỳ này có 204 Trung ương Ủy viên và 169 người dự khuyết, để 373 người cùng vỗ tay tán đồng. Vì vậy, những gì được chính thức thông báo là một tập hợp của nhiều khẩu hiệu được tán đồng, tương tự như một Nghị quyết của Trung ương đảng, bên trong có những gì mà ngần ấy phe phái đều muốn.

- Qua bản thông báo hơn năm ngàn chữ bằng tiếng Hoa, ta đọc ra một mớ hổ lốn đủ loại ý kiến cao đẹp, nhiều khi trùng lập. Sau đó, từng phe nhóm hay cơ quan bộ phận ở dưới mới nhấn mạnh đến những gì họ muốn thực hiện và nhân danh lãnh đạo coi đó là mệnh lệnh mà thuộc cấp phải thi hành. Khi thi hành thì vẫn là để đạt mục tiêu riêng mà họ có nhiệm vụ hoàn thành với thượng cấp cùng phe ở trên.

- Nói cụ thể thì từ một Nghị quyết đầy khẩu hiệu, các cấp bộ còn phải phân giải ra kế hoạch và chương trình sẽ áp dụng trong tương lai. Với hệ thống lãnh đạo phức tạp của một quốc gia quá lớn, việc thi hành này sẽ mất nhiều năm và thể hiện qua nhiều việc đấu tranh trong thực tế. Bây giờ, trong số khẩu hiệu, các nhà quan sát ở ngoài mới tùy cảm quan hay nhận định mà tóm lược và đánh giá rằng lãnh đạo Trung Quốc sẽ cải cách việc này hay thúc đẩy việc kia.



000_Hkg9175011-250.jpg

Xe chở các vị lãnh đạo TQ đến dự Hội nghị khoáng đại lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương đảng CSTQ khóa 18 diễn ra ở Bắc Kinh trong 4 ngày, bắt đầu từ hôm 9/11. AFP PHOTO.



Vũ Hoàng: Hình như là ông không mấy lạc quan về triển vọng cải cách như đã được Bắc Kinh thông báo ra ngoài?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là ta hãy khởi sự từ đầu. Lãnh đạo Bắc Kinh vừa thông báo là sẽ cải thiện và phát triển "Xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa". Họ giương cao lá cờ đó với một chuỗi thần chú quen thuộc là Chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Mao Trạch Đông, Lý thuyết Đặng Tiểu Bình và Lý luận về "Ba đại biểu".

Vũ Hoàng: Xin ông cho hỏi ngay một câu, lý luận về "Ba đại biểu" đó là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là năm 2000, ông Giang Trạch Dân bày ra vụ đảng Cộng sản là đại biểu của các phương tiện sản xuất tiên tiến, của nền văn hóa kỹ thuật tiên tiến và đại biều của quyền lợi cơ bản của đa số quần chúng nhân dân. Từ đó qua Đại hội 16 vào năm 2002, thuyết ba đại biểu này được nâng lên trình độ tam cương ngũ thường của đảng và còn tồn tại đến bây giờ. Nếu so sánh thì việc "xây dựng xã hội hài hòa", là phần cống hiến của Hồ Cẩm Đào, lại không lên tới vị trí đó dù có được nhắc tới bên trong văn bản, và mặc dù tính chất bất công và thiếu hài hòa xã hội đang là một vấn đề nguy ngập cấp bách.

 

"Thâm hóa Cải cách"


Vũ Hoàng: Thưa ông, bây giờ thì người ta đọc thấy những gì về chủ trương kinh tế của Hội nghị này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là về kinh tế thì ta có thể chú ý đến tinh thần họ gọi là "Thâm hóa Cải cách", là đẩy mạnh cải cách một cách sâu rộng và toàn diện, tức là có tầm quan trọng hơn. Song song thì cũng cho thị trường một vai trò họ gọi là "quyết định", hơn là cơ bản như trước đây. Nhưng đi vào thực tế thì đấy là một mâu thuẫn

- Chỉ vì khu vực kinh tế nhà nước và các tập đoàn quốc doanh vẫn giữ vai trò chính yếu, tức là chưa có chuyện cải cách doanh nghiệp nhà nước một cách triệt để như người ta chờ đợi. Lý luận ở đây là tư nhân chỉ là một thành phần của nền kinh tế gọi là thị trường xã hội chủ nghĩa thôi. Từ đó, mình phải suy ra cái lực cản còn rất mạnh của các Trung ương Ủy viên đang quản lý hệ thống doanh nghiệp nhà nước có quá nhiều đặc quyền và đặc lợi,

Khu vực kinh tế nhà nước và các tập đoàn quốc doanh vẫn giữ vai trò chính yếu, tức là chưa có chuyện cải cách doanh nghiệp nhà nước một cách triệt để như người ta chờ đợi. - Ô. Nguyển-Xuân Nghĩa

- Chuyện thứ hai là Hội nghị có đề ra yêu cầu là cho nông dân nhiều quyền hạn hơn về sở hữu đất đai, trong mục tiêu cân bằng lại vị trí của nông thôn và thành thị và giải quyết bài toán ngân sách của công quyền. Ta biết rằng đất đai vẫn thuộc quyền sở hữu tập thể và thực tế là do cấp chính quyền địa phương quyết định về phân phối và đem lại 40% số thu cho ngân sách, nhưng cũng vì vậy mà có sự lạm dụng, tham nhũng và gây bất mãn cho dân chúng. Bây giờ, Hội nghị nói đến việc mở rộng quyền hạn cho nông dân thì đấy là một điều tiến bộ nhưng thật ra vẫn còn tùy thuộc vào việc chấp hành trong tương lai để lo cho ngân sách địa phương.

- Chuyện thứ ba đáng chú ý là Hội nghị này không nhắc đến yêu cầu cải cách chế độ hộ khẩu là điều cực kỳ quan trọng về cả kinh tế lẫn xã hội và thực tế là một trở ngại chi tiến trình đô thị hóa và hiện đại hóa đất nước.

Vũ Hoàng: Xuyên qua những gì mới được thông báo, ông có thấy một chi tiết hay chiều hướng nào là tích cực hay khả quan hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ngoài hồ sơ đất đai có vẻ được nới lỏng một chút, tôi nghĩ là lãnh đạo Bắc Kinh có nhấn mạnh đến một yêu cầu xây dựng môi trường sinh thái văn minh, nghĩa là họ có thấy ra tai họa của nạn ô nhiễm môi sinh. Đấy là một điểm tích cực về tư duy, nhưng vẫn còn tùy vào sự thi hành sau này.

Vũ Hoàng: Nếu chỉ nhìn vào những gì mới được thông báo thì ông cho rằng Trung Quốc đã thực sự chuyển hướng hay chưa và sẽ còn phải giải quyết những vấn đề gì khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng lãnh đạo xứ này chưa thật sự chuyển hướng.


000_Hkg7053994-305B.jpg
Toàn cảnh Đại lễ đường nhân dân trong một kỳ họp Đảng CS Trung Quốc ở Bắc Kinh, ảnh minh họa chụp trước đây.

- Dù nói đến yêu cầu đẩy mạnh cải cách thì họ vẫn tự giới hạn trong vòng tam cương ngũ thường của họ là phát triển xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa, dưới quyền lãnh đạo của đảng, theo ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư Tưởng Mao Trạch Đông, Lý thuyết Đặng Tiểu Bình, v.v.... Nghị quyết này đã nhiều lần nhắc tới điều ấy nên đấy mới là giới hạn thật của cải cách.

- Trong khi đó và để trả lời câu hỏi nhiều người nêu ra, chúng ta biết Trung Quốc đang gặp những thách đố không được thấy đề cập trong Hội nghị này. Thứ nhất là họ phải tìm ra mô hình phát triển khác hơn là cứ tập trung vào đầu tư rất mạnh, tức là sẽ gặp mức tăng trưởng thấp hơn và phải nâng cao khả năng tiêu thụ của các hộ gia đình. Thứ hai, sau 35 năm tăng trưởng ngoạn mục như Hội nghị đã nhấn mạnh, họ đang phải đối phó với một thực tế và cũng là thành quả của tăng trưởng, là phí tổn về nhân công sẽ tăng vì lương bổng và kinh tế Trung Quốc mất lợi thế dân số đông, có công nhân nhiều và rẻ. Đấy là điều Việt Nam nên theo dõi vì mở ra nhiều cơ hội mới cho nền kinh tế nếu sớm thoát ra khỏi những bài toán mà Trung Quốc đang gặp.

Vũ Hoàng: Ngoài hai vấn đề ông vừa nêu ra thì Trung Quốc còn gặp nhưng thách thức gì khác?

Nguyển-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đến quan hệ giữa kinh tế và chính trị và đấy là bài toán thứ ba.

- Lãnh đạo cứ loay hoay giữa hai yêu cầu trái ngược là phải cải cách nếu không thì gặp loạn, nhưng lại sợ rằng chính việc cải cách đó lại càng dễ gây loạn. Từ năm ngoái rồi, họ ý thức được một vấn đề là sau khi cải cách kinh tế và phần nào cải tiến mức sống của người dân, chế độ mới càng dễ sụp đổ. Nếu không làm gì như Liên bang Xô viết thì chế độ sẽ tự tan rã vì tình trạng đình trệ kinh tế, nhưng nếu cải cách thì vẫn bị rủi ro chính trị vì người dân đòi hỏi nhiều hơn. Những rủi ro ấy mới khiến họ không thảo nổi cái vòng kin cô ở trên đầu.

- Sau cùng, tất cả ưu thế của xứ này trong hơn 30 năm qua thật ra nằm trong dân số rất đông. Thế rồi với kế hoạch "mỗi hộ một con" để kiểm soát sinh đẻ thì dân số đã hết tăng mà bắt đầu giảm, đi cùng nạn lão hóa và gánh nặng an sinh. Ưu thế dân số đang chấm dứt và sẽ kết thúc vai trò hãng xưởng toàn cầu của kinh tế Trung Quốc. Khi đó, họ phải tìm ra ưu thế khác, như khả năng sáng tạo của một hệ thống nhân lực có năng suất cao hơn để tiến lên trình độ sản xuất tiên tiến.

- Nhưng vì hệ thống văn hoá và chính trị xứ này không chấp nhận quyền phê phán, ít ra là quyền đặt lại vấn đề, cho nên Trung Quốc có thể làm ra nhiều sản phẩm mà chẳng phát minh ra cái gì. Các phần tử ưu tú của xứ này không có khả năng sáng tạo để tìm ra sản phẩm mới và cách sản xuất cao hơn. Sáng kiến của họ tập trung vào việc bắt chước và bóc lột nên kinh tế quốc dân chưa thể lên tới trình độ của các nước giàu có. Việt Nam nên ghi nhận kinh nghiệm này để sớm thoát ra ngoài.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa đã tóm lược kết quả sơ khởi của Hội nghị Trung ương tại Trung Quốc.

Source  : RFA , Dainamax Tribune  .

TỚI LUÔN, CƯỢC HẾT GIA TÀI VÀO VỤ NÀY ĐI BÁC

SOURCE  : pro & contra ( Blog Pham Thi Hoai )

-----------------------------------------------------
The Economist
Phan Trinh dịch và giới thiệu
Giới thiệu của người dịch

Có thể nói vui rằng trong 35 năm qua, Trung Quốc có hai ông Bình đáng kể, Đặng Tiểu Bình và Tập Cận Bình, và có hai Hội nghị Trung ương 3 đáng kể, một diễn ra năm 1978 và một diễn ra từ ngày 9-12/11/2013.
Ông Tiểu Bình đã mở cửa Trung Quốc, ông Cận Bình đang sửa sang nhà cửa xuống cấp nghiêm trọng. Ông Tiểu Bình năm 1979 xua quân “dạy cho Việt Nam một bài học” và học được một bài học từ Việt Nam; đến năm 1989, sinh viên đòi dân chủ giận dữ đập nát những cái chai nhỏ (tiểu bình) ở Thiên An Môn, ít lâu sau ông cho xe tăng đè bẹp sinh viên. Ông Cận Bình thì chưa thấy dạy ai bài học nào, cũng chưa bị ai… đập chai.
Cũng có thể nói vui rằng nếu quan hệ Việt-Trung là “môi hở răng lạnh”, thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đang lèo lái con thuyền đất nước bằng “kính chiếu hậu”: Trung làm gì thì Việt làm nấy, cho an toàn (và nếu làm mà vẫn an toàn): Trung bàn về hiến pháp, thì Việt cũng hiến pháp bàn về; Trung tìm cách kiềm chế những doanh nghiệp nhà nước lộng hành, chống tham nhũng, giải quyết nạn đền bù đất đai như cướp, cấm bất đồng chính kiến trên mạng, thì Việt cũng lộng hành, tham nhũng, đền bù như cướp và bất đồng trên mạng. Chưa hết, Trung đấu đá quyền lực chóp bu, thì Việt cũng chóp bu đấu đá.
Khi Hội nghị Trung ương 3 ở bên kia họp kín thì ở bên này, tại Việt Nam, cũng đang diễn ra Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13, từ 21/10-30/11, với toan tính vội vã thông qua dự thảo Hiến pháp.
Thực ra, chuyện xem thường Hiến pháp cũng không lạ. Chính quyền Trung Quốc cũng chẳng coi Hiến pháp ra gì, thậm chí không hề có điều lệ nào trong Hiến pháp nhắc đến Đảng Cộng sản Trung Quốc – Đảng và vai trò lãnh đạo chỉ được nhắc tới trong “Lời mở đầu” dông dài của Hiến pháp mà thôi. Tờ Nhân dân Nhật báo tháng 8 vừa qua cũng chạy ba bài xã luận trên trang nhất phản bác ý kiến của giới trí thức cho rằng Đảng cần nằm dưới luật. Tờ báo chê đó là ý tưởng điên rồ, chẳng khác nào đòi “leo cây bắt cá”. Tờ báo còn lu loa rằng chủ trương đề cao Hiến pháp chẳng qua chỉ là một đòn diễn biến hòa bình của các cơ quan tình báo Mỹ.[i]
Cũng dễ đoán là với tinh thần đi tới bằng cách nhìn chiếu hậu nói trên, Quốc hội Việt Nam sẽ bất chấp dư luận và thông qua dự thảo Hiến pháp có sửa mà không hề đổi. Trừ khi quá nửa các đại biểu dũng cảm tỉnh ngủ, vứt Đảng, chấm dứt nhìn ra sau hay nhìn qua vai trước khi nói điều gì lương tâm mách bảo.
Một lĩnh vực nữa cho thấy “Việt soi bóng Trung” là lãnh đạo của cả hai nước đều bị giới trí thức chỉ trích gay gắt là họ quan tâm bảo vệ quyền lực chính trị của chính mình hơn quyền lợi đất nước.
Nhưng, không biết may hay rủi, Việt lại khác Trung ở khoản này, xin trích:
“Ở Trung Quốc, sự thất sủng của Bạc Hy Lai, một lãnh tụ địa phương đầy tham vọng, là dịp hiếm hoi hé mở cho quần chúng thấy cuộc đấu đá khốc liệt trong hàng ngũ lãnh đạo chóp bu. Ở Việt Nam cũng thế, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như đang là mục tiêu của một chiến dịch đấu đá do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, một lãnh tụ bảo thủ hơn, cầm đầu. Sự khác biệt của hai nước nằm ở chỗ: Tại Trung Quốc, đấu đá nội bộ đã ngã ngũ với một kẻ thắng cuộc thấy rõ là ông Tập Cận Bình, lãnh tụ Đảng. Còn ở Việt Nam, một phần của bài toán hóc búa nằm ở chỗ dường như không có ai đang thực sự nắm quyền.”[ii]
Hóa ra lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm không điều hành đất nước dựa trên các Chủ nghĩa Mác, Mao, Minh, Xã hội hay Tư bản, mà là đang áp dụng rất sáng tạo… chủ nghĩa sinh tồn thú vật.
Cũng không khó để vẽ ra bức biếm họa: Một chiếc tầu chở 90 triệu dân nheo nhóc, sóng gió hãi hùng đang ập tới, nhưng trên phòng lái, bánh lái không ai cầm, cứ xoay qua trái rồi bật ngược qua phải. Tầu chao đảo, ai nấy ói mửa. Thực ra không phải phòng lái không có người, mà là có ông Nũng, ông Nang, ông Nùng, ông Nọng nào đó đang đứng cạnh bánh lái, nhưng thay vì cầm lái, mỗi ông đều hai tay hai súng chĩa vào đầu hai ông còn lại, hóa ra bất động, tạm gọi là “bất lực bên bánh lái”. Con tàu thì cứ ngụp xuống, ngoi lên, vật vã. Dưới bức biếm họa có dòng chữ nhỏ: “Ai cho chúng nó đứng đó nhỉ?”
Đó là câu hỏi đáng suy nghĩ. Thực vậy, theo lời giáo sư luật Hạ Vệ Phương thuộc Đại học Bắc Kinh thì ngay cả Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng là một đảng phi pháp. Ông nói: “Với tư cách là một tổ chức, Đảng đang ngồi ngoài và ngồi trên pháp luật. Lẽ ra đảng phải có một tư cách pháp nhân, hay nói cách khác, có ai đó để bị kiện ra tòa, nhưng Đảng chưa bao giờ đăng ký như là một tổ chức. Đảng hoàn toàn đứng ngoài vòng pháp luật.”[iii]
Có phải chính vì tính “phi pháp” vừa kể, cộng thói quen hoạt động bí mật trước khi nắm chính quyền và truyền thống ngàn năm “con trời” cai trị, đã khiến Đảng Cộng sản Trung Quốc mỗi lần họp là mỗi lần bí mật? Lần này cũng như bao lần trước, Hội nghị Trung ương 3 được báo chí tiết lộ là họp tại khách sạn Kinh Tây, do quân đội quản lý, nội bất xuất, ngoại bất nhập, chỉ được báo trước ít ngày, hoàn toàn không có tiếp xúc với báo giới trong hay ngoài nước, họ bàn gì cũng chẳng ai biết, có tranh cãi lớn hay không cũng không ai rõ. Kết thúc hội nghị sẽ chỉ có một thông báo chung chung, đến tháng 12 sẽ có hai hội nghị triển khai, cũng tại khách sạn Kinh Tây và cũng kín đáo nốt.[iv]
Kể cũng lạ, đường đường cũng là một đảng “quang vinh”, đưa kinh tế Trung Quốc lên hàng thứ hai thế giới, mà lại họp kín như một băng tội phạm, cứ như chung quanh họ tràn ngập những ‘thế lực thù địch’. Chẳng lẽ thế lực thù địch ở đây không ai xa lạ, mà chính là nhân dân?
Có lẽ ông Tập Cận Bình đủ sáng suốt để hiểu rõ ông không thể coi thường nhân dân, nhất là nông dân, nếu ông và Đảng của ông muốn sống còn, vì vậy tờ The Economist mới khuyên ông hãy “cược cả gia tài” vào việc cải tổ nông thôn và doanh nghiệp nhà nước. Bằng không thì rất có thể một ngày nào đó nông dân Trung Quốc sẽ lại mang chai ra đập, hoặc dân Việt sẽ gọi ông là “bình vôi” và hát chọc quê ông bằng câu thơ cũ “càng sống càng tồi, càng sống càng bé lại”.
____________
Tại hội nghị quan trọng này, lãnh đạo Trung Quốc phải thúc đẩy cho được những thay đổi rốt ráo, nhất là với nông thôn.
Nếu có ai càm ràm với bạn rằng hội họp chẳng ích lợi gì, hãy khóa miệng họ lại bằng tám chữ chì nặng ký: “Hội nghị Trung ương 3, Khóa 11”. Thực vậy, hội nghị năm ngày này của Đảng Cộng sản diễn ra vào tháng 12, 1978 đã thay đổi hẳn Trung Quốc. Hai năm sau ngày Mao Trạch Đông chết, Hội nghị đã đưa Đặng Tiểu Bình, người bị trừ khử đến ba lần, vào vị trí cầm quyền, đưa nhân sinh lên tầm quan trọng hơn đấu tranh giai cấp, nới lỏng kiểm soát nhà nước, và mở cửa Trung Quốc cho nước ngoài buôn bán, đầu tư. Cuộc mạo hiểm tả khuynh đã mở ra những “công xã nhân dân” ở nông thôn, dẫn đến nạn chết đói khủng khiếp dưới thời Mao Trạch Đông, nhưng dưới thời Đặng Tiểu Bình công xã bắt đầu được tháo bỏ. Kết quả của những biện pháp vừa kể ảnh hưởng đến một số đông nhân loại. Thu nhập đầu người ở Trung Quốc lúc đó chỉ có 200$ một năm, nay con số này lên tới 6.000$. Đối với phần còn lại của thế giới, thành quả của Hội nghị kia có thể được tóm gọn vào mấy chữ “Trung Quốc trỗi dậy”.
Vào ngày 9 tháng 11, 2013, Tổng Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch nước Tập Cận Bình triệu tập một mật nghị khác tại Bắc Kinh, lần này là Hội nghị Trung ương 3, Khóa 18 (những hội nghị trung ương diễn ra ít nhất mỗi năm một lần, trong khi Ủy ban Trung ương, gồm hơn 370 đảng viên lãnh đạo, được Đại hội Đảng bầu ra mỗi năm năm; Đại hội Đảng gần đây nhất diễn ra năm 2012). Cuộc họp lần này, tại một khách sạn do quân đội điều hành ở thủ đô, sẽ tiếp tục diễn ra trong vòng bí mật, như vẫn bí mật từ trước đến nay. Cũng giống như Hội nghị năm 1978, phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, trước khi người ngoài biết được đầy đủ nội dung của nó. Tuy vậy, ông Tập đã cho các lãnh tụ nước ngoài biết rằng Hội nghị lần này là Hội nghị quan trọng nhất của Trung Quốc kể từ năm 1978, báo hiệu những thay đổi chấn động có thể diễn ra. Đúng vậy, Hội nghị chắc chắn sẽ gây chấn động nếu ông Tập thực sự cấp tiến trong hai lãnh vực đang rất cần được cải tổ, đó là: vấn đề doanh nghiệp nhà nước, cùng hệ thống tài chính đi kèm; và vấn đề nông thôn, nơi nông dân vẫn chưa có quyền hạn rõ ràng với đất đai của họ.
Khi bạn muốn làm cách mạng
Công cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình – và những cải cách khác năm 1993 giúp đưa Trung Quốc vào WTO – là những cải cách mạnh mẽ, nhưng chúng cũng đã đến hồi hết hơi. Trung Quốc không còn là nước có lao động giá rẻ có thể khai thác bất tận nữa. Những doanh nghiệp nhà nước tuy lớn nhưng không hiệu quả đang bóp nghẹt cuộc cạnh tranh lành mạnh và hút cạn các nguồn tài chánh. Sai lầm lớn trong phân bổ vốn đã đẩy giới kinh doanh tư nhân và người dân bình thường chăm chỉ tiết kiệm vào thế kẹt.
Điều vừa kể cũng làm nghẽn mức phát triển kinh tế vốn khỏe khoắn của Trung Quốc. Đó là mối nguy không thể bỏ qua đối với một Đảng mà, kể từ năm 1978, tính chính danh còn hay mất hoàn toàn lệ thuộc vào việc Đảng có làm kinh tế phát triển hay không. Vì vậy, khi ông Tập nói về một “kế hoạch chủ đạo” cho công cuộc cải cách, và một cuộc “cách mạng sâu rộng” thì có vẻ ông đã nói một cách rất nghiêm túc. Ông cùng Thủ tướng Lý Khắc Cường đã tụ họp được một nhóm rất đáng kể những nhà cố vấn có khuynh hướng thân thiện với kinh tế thị trường. Thêm vào đó, sau khi đã đè bẹp được thế lực của Bạc Hy Lai, một đối thủ (tả khuynh) có tham vọng quyền lực lớn giờ đang ngồi bóc lịch trong tù, hiện nay có thể coi ông Tập Cận Bình là nhân vật có quyền lực lớn hơn bất cứ lãnh tụ tối cao nào, kể từ thời Đặng Tiểu Bình.
Về vấn đề các doanh nghiệp nhà nước, việc tư hữu hóa, tiếc thay, sẽ chưa diễn ra. Tuy vậy, ông Tập sẽ làm cho chúng có tính thương mại hơn và phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Giải pháp tốt nhất có thể là trao quyền sở hữu các doanh nghiệp nhà nước cho Quỹ An sinh Xã hội Quốc gia, được thành lập để đáp ứng nhu cầu của một xã hội đang già đi nhanh chóng. Quỹ này có thể bổ nhiệm tổng giám đốc để điều hành các doanh nghiệp nhà nước, nhằm bảo đảm quyền lợi cho những người hưởng lương hưu trong tương lai. Ông cũng có thể thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ hơn bằng cách cắt các khoản vốn vay dễ dãi đang được ưu tiên dành cho doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh việc cắt bỏ đặc quyền của những đơn vị kinh tế này, ông Tập cũng nên có những bước cương quyết hơn nhằm thả lỏng lãi suất, tỉ giá hối đoái và dòng chảy vốn. Điều này cuối cùng sẽ dọn đường giúp đồng tiền Trung Quốc trở nên hoán đổi được – rất quan trọng để Trung Quốc trở thành một nền kinh tế trưởng thành.
Lĩnh vực lớn thứ hai trong cuộc cải cách sâu rộng – vấn đề nông thôn – lại còn quan trọng hơn nhiều về lâu về dài. Quan trọng, một phần vì gần nửa dân số 1 tỷ 400 triệu người dân Trung Quốc hiện sống ở nông thôn. Nhưng vấn đề trước mắt nằm ở chỗ nông thôn chưa được cải cách lại là hậu quả của cuộc khủng hoảng xoay vốn của chính quyền địa phương. Chính quyền trung ương đã buộc các chính quyền địa phương chịu thêm trách nhiệm về chi thu tại địa phương, nhất là sau khi gói kích thích tài chính khổng lồ được trên lệnh xuống năm 2008 để xoa dịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu [gói kích cầu 2008 trị giá 586 tỉ đô-la, nhưng chính quyền trung ương chỉ cấp 30% con số này, các chính quyền địa phương và doanh nghiệp phải nộp gần 30% khác, và hơn 30% còn lại đến từ các ngân hàng][v]. Nhưng chính quyền địa phương chỉ có những phương tiện lẻ để nâng số thu. Từ đó đẻ ra một loại thuế bất động sản để tạo nguồn thu ổn định.
Từ lâu lắm rồi, lãnh đạo tỉnh đã kiếm tiền cho địa phương mình – và cho túi riêng mình – bằng cách tịch thu đất đai của nông dân rồi bán lại cho các công ty phát triển dự án. Tác dụng tích cực của tình trạng này (chẳng hạn như số nông dân rời nông thôn đến thành phố kiếm sống tăng vọt) đã không bù lỗ được những tiêu cực nó gây ra. Công nhân gốc nông dân trong các đô thị bị đối xử như những công dân hạng hai, họ phải làm những công việc nguy hiểm bậc nhất mà lại không được hưởng các quyền hạn về nơi ăn ở tươm tất, được đi học hoặc được chăm sóc y tế. Nông dân ở lại với đất đai thì lại bị cường hào ác bá lãnh đạo địa phương hành hạ. Đền bù không tương xứng và không được sở hữu đất đai một cách rành mạch chính là lời oán thán lớn nhất của nông dân.
Tính sao cho khéo với các tỉnh
Ông Tập Cận Bình nên cho nông dân Trung Quốc những quyền tự do mà người cộng sản đã nêu cao như ngọn cờ để chiến đấu và làm cách mạng. Cải cách ruộng đất sau Hội nghị 1978 đã giải thoát nông dân khỏi những công xã nhưng không cho họ những quyền tự do khác. Nông dân vẫn không thể bán ruộng đất, trừ khi bán cho người trong làng, cũng không được bán nhà. Họ cũng không được thế chấp ruộng đất hay nhà cửa. Trong khi đó, người dân thành phố đã có thể đường đường chính chính trở thành chủ sở hữu căn nhà họ ở, nhờ kế hoạch tư hữu hóa nhà đô thị diễn ra rộng khắp vào cuối thập niên 1990.
Cho nông dân đầy đủ quyền hạn với đất đai và nhà cửa sẽ mang lại những tác dụng tích cực rất lớn. Người dân sẽ dọn lên thành phố nhiều hơn – nhất là khi các ràng buộc về hộ khẩu ở thành phố được hủy bỏ – góp phần chuyển đổi nền kinh tế nặng về đầu tư thành một nền kinh tế thiên về tiêu thụ. Người ở lại nông thôn cũng sẽ được hưởng những tự do tương đối, như dân thành phố đang được hưởng, đời sống hàng ngày của họ sẽ không bị các ông lớn địa phương quấy nhiễu nữa.
Đó là sẽ một cuộc cách mạng sâu rộng và được nhân dân ủng hộ, nhưng liệu ông Tập có thể đương đầu với phe chống đối hay không? Năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã vượt qua được những tay bảo thủ chủ trương kinh tế chỉ huy bằng cách biến các tỉnh trở thành những ngôi sao trong phát triển kinh tế. Tản quyền cũng gây ra những vấn đề ở địa phương hiện nay, gồm cả mớ bòng bong tài chính. Vì vậy, ông Tập Cận Bình sẽ không được các tỉnh ủng hộ nếu ông không miễn trách, rốt ráo tha nợ cho các tỉnh. Tuy nhiên, làm được vậy chăng nữa, thành phần chống đối ông hiện vẫn rất mạnh, trong số có cả những ông trùm của các doanh nghiệp nhà nước và đám con cháu tham nhũng của rất nhiều những gia đình cộng sản quyền lực nhất nước. Nhưng làm gì thì làm, ông Tập Cận Bình phải triệt hạ bằng được những thành phần chống đối này, nếu ông và Hội nghị của ông không muốn bị lịch sử luận tội, thay vì được ghi công.
NguồnThe Economist, “Go on, bet the farm”, số ra ngày 2/11/2013
Bản tiếng Việt © 2013 Phan Trinh & pro&contra



Ghi chú của người dịch
[i] The Ecomomist, “Climbing trees to catch fish”, số ra ngày 17/8/2013
[ii] The Economist, “Across the party wall”, số ra ngày 26/10/2013
[iii] Richard McGregor, The Party, The Secret World of China’s Communist Rulers, NXB Harper Collins, 2010. Tr. 22
[iv] The Economist, “Behind closed doors”, số ra ngày 8/11/2013
[v] Economist Intelligence Unit 2009, “China’s stimulus package – A six-month report card”

Đinh Từ Thức - kỳ nhân gặp sát nhân (phần 2)

kỳ nhân gặp sát nhân (phần 2)

 12.11.2013
(tiếp theo phần 1)

NgoDinhDiem_Time cover

Người đã được Hoa Kỳ coi như một vị anh hùng, nhận được không kể xiết những lời ca tụng ít chính khách nào có được, rồi chỉ sáu năm sau, Kỳ Nhân đã phải đối diện với sát nhân, và kết liễu cuộc đời trong bi thảm. Không bởi ai khác, mà do chính guồng máy đã biến ông thành Kỳ Nhân. Nguyên nhân tại đâu?
Tương tự huyền thoại Mỹ đưa ông Diệm về cầm quyền năm 1954 nhưng chưa ai trưng được bằng cớ, từ 50 năm qua, có nhiều người cho rằng Mỹ đã hạ ông Diệm, để có thể đưa quân chiến đấu vào VN, vì ông Diệm chống lại chủ trương này. Cho đến nay, chưa ai nêu được văn kiện hay nhân chứng khả tín nào nói rằng Mỹ chủ trương đưa quân vào chiến đấu ở VN trước biến cố 1963. Thật ra, vào tháng 11 năm 1961, Tướng Maxwell Taylor đã có đề nghị này, nhưng không được Tổng thống Kennedy chấp thuận. Và có lúc, chính ông Diệm đã yêu cầu Mỹ mang quân vào, không phải để chiến đấu, mà đóng dọc theo vĩ tuyến 17, ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc Việt, để quân đội VNCH rảnh tay chiến đấu với quân Cộng sản. Cả yêu cầu này cũng không được thi hành.
Vào ngày 7 tháng 7 năm 1959, nhân dịp kỷ niệm Song Thất lần thứ năm (ngày Thủ tướng Ngô Đình Diệm chính thức cầm quyền), báo New York Times vẫn còn hết lời ca tụng: “Không phải một kế hoạch được thực hiện, mà một phép lạ đã xẩy ra trong 5 năm. Việt Nam có tự do, và đang trở thành mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ tự do của mình, và cho chúng ta. Hôm nay chúng ta có lý do để hoan hô Tổng thống Ngô Đình Diệm”.
Nhưng sau “Phép lạ 5 năm”, ông Diệm bắt đầu gặp khó khăn khi bước sang thập niên 60. Những khó khăn này cùng lúc xuất phát từ Việt Nam, và ở nước ngoài.
Dĩ mật trị mật
Sau khi dẹp xong các phe phái chống đối, ông Diệm và gia đình bắt đầu củng cố địa vị. Edward Lansdale, người đã giúp đỡ ông Diệm rất nhiều vào lúc đầu, cũng là người đã nhìn thấy sự nguy hiểm từ khá sớm. Ông viết trong hồi ký “In the Midst of Wars”: “…[N]hiều gia đình đến nhà tôi vào một buổi sáng để cho biết thân nhân họ bị bắt giữ vào lúc nửa đêm: tất cả những người này đều có liên hệ tới vấn đề chính trị”.
Buổi sáng hôm ấy, nhờ có cuộc gặp gỡ ông Diệm đã hẹn trước, Lansdale cho biết: “Nhân cơ hội này, tôi cho ông Diệm biết về những vụ bắt bớ ban đêm ấy và đưa tên những người tôi nghe nói đã bị bắt giữ. Ông nhận ra những người này và tỏ ra ngạc nhiên về việc bắt bớ nói trên. Ông kiếu tôi để đi ra ngoài khoảng 20 phút, khi trở lại ông báo cho tôi biết rằng đó là sự lầm lẫn và những người này sẽ được tha. Ông có vẻ bối rối và lúng túng khi nói chuyện này với tôi. Tôi ngờ rằng ông đã đem sang nói với ông Nhu mà văn phòng ở ngay phía sau dinh, và có lẽ thực sự ông Diệm không biết gì về câu truyện trước khi tôi nói ra”.
Lansdale viết tiếp: “Thấy gặp dịp thuận tiện, tôi bèn nói với ông Diệm những gì tôi được nghe về việc tuyển mộ bí mật đảng viên Cần Lao trong mọi cơ quan quân dân sự và về lễ tuyên thệ trong đó tân đảng viên phải quỳ để hôn ảnh ông. Ông Diệm cười và nói là điều vô lý; ông chắc chắn rằng không có những chuyện ấy. Về đảng Cần Lao thì quả thật có nhiều tân đảng viên gia nhập để ủng hộ ông chỉ vì họ có cùng chung với ông lập trường phát triển và xây dựng Việt Nam. Tất cả những gì ông Nhu đang làm chỉ là tổ chức một đảng chính trị đằng sau vị Tổng thống VNCH mới đắc cử, không khác chi ở Mỹ, mỗi tổng thống có một đảng ủng hộ”.
Lansdale còn nói thêm với ông Diệm rằng: “Nếu đảng Cần Lao được ông Nhu tổ chức như một cơ cấu chính trị bí mật khắp trong chính phủ, dùng công an mật vụ do ông Nhu kiểm soát để loại trừ đối lập, thì đảng Cần Lao sẽ khiến cho các đảng phái quốc gia khác rút vào phạm vi hoạt động bí mật để khỏi bị tiêu diệt. Nó sẽ làm cho hàng ngũ chính trị Nam VN bị phân hóa sâu xa trong một cuộc đấu tranh âm thầm nhưng tàn tệ giữa những người quốc gia với nhau, vào đúng lúc mà những người có tư tưởng yêu nước cần sinh hoạt công khai xây dựng hiến pháp cũng như thiết lập một thể chế chính trị mới đối lại với chế độ cộng sản miền Bắc. Những sự kiện đang xẩy ra chỉ dẫn đến việc tái diễn những thảm kịch ghê gớm trong những thành phần đảng phái quốc gia như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Hòa Hảo, Cao Đài”.
Sau khi trình bầy với ông Diệm mà không đạt được hứa hẹn nào, Lansdale đã nêu thẳng vấn đề với Đại sứ Mỹ: “Tôi nói với Đại sứ Reinhart về chuyện này, và kết luận rằng đã đến lúc các nhân viên Mỹ thuộc quyền ông có liên lạc thường xuyên với ông Nhu, và đang cố vấn cho ngành Cảnh sát Đặc biệt, cần phải ráng thuyết phục người Việt Nam hướng dẫn một quan niệm chính trị rộng rãi và cởi mở hơn”. Câu trả lời của Đại sứ Reinhart là: Chính sách của Hoa Kỳ đã được quyết định, người Mỹ phải làm tất cả những gì có thể để giúp vào việc xây dựng một đảng quốc gia mạnh ủng hộ ông Diệm. Ông Diệm đã là một tổng thống dân cử, cần có một đảng để làm hậu thuẫn.
Không thành công ở Sài Gòn, Lansdale được phép về Mỹ trình bầy quan điểm với Ngoại trưởng Foster Dulles, và em là Giám đốc CIA Allen Dulles, nhưng cũng thất bại. Lansdale đã xin đổi về Mỹ, nhưng bị giữ lại cho đền hết năm 1956.
Sự lo ngại của Lansdale đã được chứng minh qua thực tế. Chẳng những không được đối lập công khai, ngay việc gửi thư cho ông Diệm yêu cầu cải tổ như “Tuyên ngôn Caravelle” vào 26 tháng 4 năm 1960 cũng gặp rắc rối. Thay vì các chính đảng cùng nhau hoạt động công khai để vận động sự ủng hộ của quần chúng, và cầm quyền bằng sự quyết định của người dân qua lá phiếu, thì rút vào bí mật để thảo hoạch những âm mưu cướp chính quyền bằng đảo chánh, hay bạo lực. Kết quả là vụ đảo chánh hụt 11 tháng 11 năm 1960, và vụ bỏ bom dinh Độc Lập ngày 27 tháng 2 năm 1962. Đại sứ Mỹ Durbrow gây áp lực đòi ông Diệm cải tổ, nới rộng tự do dân chủ. Nhưng ông Diệm không phải loại người dễ bị khuất phục, càng áp lực, ông càng cứng rắn.
Vùng dậy hay là chết
Trong khi ấy, sau mấy năm thiệt hại nặng nề trước “Phép lạ” của ông Diệm, Cộng sản tìm đường sống bằng cách gia tăng hoạt động. Theo chính tài liệu từ phía cộng sản, trong khoảng thời gian từ 1955 đến 1958, số đảng viên bị thiệt hại lên tới 90%, từ 60.000 còn có 5.000. Năm 1959, Hội nghị Trung ương đảng thứ 15 đã quyết định thôn tính miền Nam bằng võ lực, bắt đầu mở đường mòn HCM. Theo lượng định của tình báo Hoa Kỳ, trong hai năm 1959 và 1960 đã có 26 nhóm từ Bắc xâm nhập miền Nam, tổng cộng lên tới 4.500 người.
Tại miền Nam, Nguyễn Thị Định lãnh đạo cuộc nổi dậy bạo động ở Bến Tre đầu năm 1960. Hơn tuần sau là vụ tấn công đồn ở Tây Ninh vào đầu năm âm lịch, trong lúc đa số binh sĩ về nhà ăn Tết. Tuy nhiên, để tránh Mỹ có lý do trực tiếp can thiệp, Hà Nội chưa ra mặt trực tiếp chỉ huy cuộc chiến tại miền Nam. Hoạt động chính của du kích quân là bắt cóc và ám sát, đưa đến tình trạng hai chính quyền tại nhiều nơi ở nông thôn: ban ngày Quốc gia, ban đêm Việt cộng. Theo báo cáo về tình hình an ninh cua tòa Đại sứ Mỹ vào đầu năm 1960, trong cả năm 1958 có 193 vụ ám sát, nhưng riêng 4 tháng cuối năm 1959 đã có tới 119 vụ. Ngày 8 tháng 7 năm 1959, khủng bố cho nổ bom trong căn cứ Biên Hòa, 2 quân nhân Mỹ thiệt mạng. Đây là thiệt hại nhân mạng đầu tiên về phía Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam. Tháng 9-1959 Phạm Văn Đồng tuyên bố sẽ có mặt ở Sàigòn, và hai tháng sau tuyên bố sẽ đẩy Mỹ ra biển.
Để làm bình phong chỉ huy cuộc chiến, Hà Nội cho ra đời tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ngày 20 tháng 12 năm 1960.
Ông Diệm muốn Mỹ tăng viện, để có thể gia tăng các lực lượng phòng thủ, đối phó với tình thế mới. Nhưng Đại sứ Durbrow phản đối, đòi cải tổ chính trị trước. Mãi đến khi tình hình Ai Lao nghiêm trọng, mới thôi chống việc tăng quân.
Thần đồng nắm quyền
Về phía Mỹ, những người tích cực ủng hộ ông Diệm lúc đầu bớt dần. Lansdale về Mỹ cuối năm 1956. Ngoại trưởng Dulles, người ủng hộ ông Diệm mạnh mẽ nhất, qua đời vào mùa Xuân năm 1959. Đầu năm 1961 chính quyền Cộng hòa Eisenhower thay bằng chính quyền Dân chủ Kennedy. Cả một ê-kíp mới gồm toàn những người trẻ tuổi, học thức, thiếu kinh nghiệm nhưng thừa kêu ngạo, được dư luận gọi là nhóm “Thần đồng” (Whiz Kids). Với chủ trương “Tân biên cương” (New Frontier) nhóm này nghĩ rằng họ có đủ khả năng thay đổi cả thế giới.
Khi còn là Nghị sĩ, Tổng thống Kennedy đã rất ngưỡng mộ và từng hết lòng ca tụng Tổng thống Diệm. Ngay sau khi nhậm chức, ông được đọc hai báo cáo về tình hình Việt Nam: Một là “Kế hoạch căn bản chống nổi dậy” của Ban tham mưu từ Tòa Đại sứ ở Sài Gòn, nói rằng mặc dù ông Diệm đã có nhiều tiến bộ trong việc chống nổi dậy, nhưng cần phải làm thêm rất nhiều điều, để Nam Việt Nam không bị thất bại trong những tháng tới. Tài liệu liệt kê những cải tổ cần thiết về chính trị, quân sự và kinh tế, và quân đội VN cần tăng thêm ít nhất 20.000 người.
Báo cáo thứ hai của Edward Lansdale mới chấm dứt chuyến đi Việt Nam vào đầu tháng Một. Lansdale nói Nam Việt Nam trong tình trạng nguy kịch, và cần chữa trị khẩn cấp. Theo Lansdale, ông Diệm vẫn là người không thể thay thế, và phía đối lập thiếu các ý tưởng xây dựng. Lansdale đề nghị cần thay đổi trong cách giao thiệp với Nam Việt Nam từ đương đầu thành thân hữu, dựa trên căn bản tôn trọng lẫn nhau, để Hoa Kỳ có thể lấy lại ảnh hưởng đối với ông Diệm. Trong chiều hướng này, theo Lansdale, việc cần làm ngay là rút Đại sứ Durbrow về nước. Lansdale đặt câu hỏi: “Liệu Liên Xô và Trung Cộng có làm khó Hồ Chí Minh hay chỉ viện trợ và tiếp tay ông ta?”
Tổng thống Kennedy gặp Lansdale, tỏ ý thích báo cáo của ông ta, chấp thuận giúp Nam Việt Nam tăng thêm 20.000 quân. Ông cũng quyết định chấm dứt nhiệm vụ của Đại sứ Durbrow, và muốn thay bằng Lansdale. Nhưng Bộ Ngoại giao và Quốc phòng không đồng ý.
Vấn đề quan trọng nhất về đối ngoại được chính quyền Eisenhower trao cho chính quyền Kennedy không phải là Việt Nam, mà là Ai Lao. Hôm 19 tháng 1-1961, trước ngày tuyên thệ nhậm chức, trong cuộc họp tại Bạch ốc, Tổng thống sắp mãn nhiệm Eisenhower nói với Tổng thống đắc cử Kennedy: Hoa Kỳ đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập của Lào. Nếu Lào thất thủ, đó là một thảm cảnh lớn, và chẳng bao lâu sau sẽ đến lượt Nam VN, Căm Bốt, Thái Lan và Miến Điện bị sụp đổ. Đó là toàn thể kế hoạch của cộng sản tại Đông Nam Á, và cần phải chặn đứng tại Lào. Hoa Kỳ không thể để cho cộng sản tham dự bất cứ loại chính phủ liên hiệp nào ở Lào – đó sẽ là điều chí tử cho quyền lợi của Hoa Kỳ tại toàn thể Á châu nếu để điều này xẩy ra. Tổng thống Eisenhower còn nói rằng, nếu không được các nước đồng minh hợp tác để giữ Lào, thì Mỹ phải đơn phương bảo vệ Lào bằng mọi giá.
Trong khi chưa có quyết định cụ thể nào về Việt Nam và Lào, vào đầu tháng 4-1961, Hoa Kỳ thất bại nặng nề trong vụ yểm trợ nghĩa quân Cuba lưu vong đổ bộ tại Vinh Con Heo. Vụ này do CIA thảo kế hoạch từ thời chính quyền cũ, nhưng Tổng thống Kennedy phải nhận hoàn toàn trách nhiệm. Mời cựu Tổng thống Eisenhower tới gặp tại trại David vào trưa ngày 22 tháng 4-61 để chia sẻ tin tức về vụ này, ông Kennedy cũng nói với vị tiền nhiệm của mình là Anh và Pháp không thuận góp sức bảo vệ Lào.
Vừa thất bại ở Cuba, chỉ cách Florida 100 dặm, Kennedy không dám quyết định đơn phương bảo vệ Lào; một nơi hẻo lánh, cách xa biển, và cách Mỹ nửa vòng địa cầu. Sau này, Kennedy đã tâm sự với phụ tá thân cận Sorensen: “Cám ơn Chúa đã để cho vụ Vịnh Con heo xẩy ra như nó đã xẩy ra. Nếu không, bây giờ chắc chúng ta đang ở Lào – và nó còn tệ hơn cả trăm lần”.
Kennedy đành theo đề nghị của Averell Harriman, chọn giải pháp trung lập cho Lào. Là Đại sứ Mỹ tại Mạc Tư Khoa thời Đệ nhị Thế chiến, khi Liên Xô là đồng minh của Hoa Kỳ, có lẽ Harriman nghĩ là có thể tin vào sự hợp tác của Liên Xô để bảo đảm nền trung lập của Lào. Harriman tới Sài Gòn thuyết phục anh em ông Diệm chấp nhận thỏa hiệp ở Lào, đã bị ông Nhu phản đối kịch liệt. Là người từng cộng tác với các Tổng thống Roosevelt và Truman, và từng là Thống đốc New York, trong đảng Dân Chủ, Harriman là bậc trưởng thượng, vào hàng cha chú của Kennedy, thế mà bị ông Nhu chống đối và coi thường, ông ta có ác cảm với anh em ông Diệm là điều dễ hiểu.
Không bao lâu sau, thực tế chứng minh giải pháp trung lập ở Lào đã thất bại. Cộng sản Bắc Việt chẳng những không rút quân khỏi Lào, còn sử dụng lãnh thổ Lào để chuyển quân và võ khí vào Nam VN. Chỉ trong mấy tháng, Mỹ đã thất bại ở Cuba và Lào, nếu để Việt Nam là thất bại thứ ba trong năm, cử tri sẽ không thể tha thứ. Vậy, chỉ còn lại Nam Việt Nam để chính quyền Kennedy chứng tỏ sức mạnh và quyết tâm của mình, cả với bạn lẫn thù. Nhưng chứng tỏ bằng cách nào?
Sau khi cử Phó Tổng thống Johnson thăm Nam VN và mấy nước Đông nam Á để tác động tinh thần, Tổng thống Kennedy cử một phái đoàn hùng hậu, gồm đại diện nhiều thành phần, từ Bạch ốc, Ngoại giao, Quốc phòng, CIA và một số cơ quan khác, do Tướng Maxwell Taylor hướng dẫn, tới VN tìm hiểu tại chỗ để đề nghị biện pháp hành động, với chỉ thị rõ ràng: Không phải tìm cách để thoái lui, mà tìm cách để thay đổi từ tình trạng thua thiệt tới chỗ bắt đầu đi tới thắng lợi.
Từ năm 1961, tình hình VN cũng không còn ổn định như khoảng 1957-1959 nữa. Sau thời gian “ngủ dài hạn”, các cán bộ cộng sản nằm vùng đã hoạt động trở lại để sống còn. Hà Nội cũng đã ra quyết nghị thôn tính miền Nam bằng võ lực, và cũng đã khai sinh tổ chức chính trị bình phong MTGPMN. Phía đảng phái quốc gia đối lập đã có “Lá thư Caravelle”, và cuộc đảo chánh bất thành ngày 11-11-1960.
Những người hiểu rõ tình hình biết rằng: Lá thư đòi thực thi tự do dân chủ của nhóm nhân sĩ họp nhau tại khách sạn Caravelle, cũng như cuộc đảo chánh không thành công ngày 11-11-60, là việc làm của những người quốc gia chống cộng. Còn các cán bộ khủng bố ở nông thôn, MTGPMN, và Cộng sản Hà Nội chỉ là một. Nhưng dưới con mắt các viên chức quyết định chính sách của Hoa Kỳ dưới quyền Tổng thống Kennedy, từ kháng thư, đảo chánh tới khủng bố, và sự ra đời của MTGP, đều là những hình thức khác nhau của một tình trạng chung là “nhân dân nổi dậy vì bị đàn áp và thiếu tự do…”
Dưới con mắt các nhà cầm quyền Hoa Kỳ thuộc đảng Cộng Hòa từ năm 1960 về trước, chế độ Ngô Đình Diệm tương đối tốt đẹp, “không có vấn đề”. Nhưng dưới con mắt các nhà cầm quyền mới thuộc đảng Dân Chủ từ năm 1961, chế độ Ngô Đình Diệm rõ ràng là “có vấn đề”. Dùng tiền của dân Mỹ đóng thuế để ủng hộ một chế độ “có vấn đề”, thì phải tìm hiểu vấn đề đó là gì, để kịp thời sửa chữa. Nếu không, là phí phạm tiền của dân, không thể tha thứ.
Chính quyền Kennedy đã gửi nhiều người tới VN để tìm hiểu vấn đề. Kết quả, Tổng thống Kennedy đã được nghe nhiều báo cáo khác hẳn nhau, khiến ông hoang mang. Cuối cùng, chính quyền Hoa Kỳ cũng có một số đề nghị, như ông Diệm phải mở rộng thêm tự do dân chủ, cải tổ hành chánh cho guồng máy cai trị hữu hiệu hơn…Để thực hiện điều này, ngoài cố vấn quân sự, nên tăng thêm cố vấn Mỹ về kinh tế và hành chánh tới tận cấp quận.
Những sai lầm chí mạng
Thời “Thiên Lôi Joe” đại diện Tổng thống Eisenhower tại Sàigòn, dù đang buổi đầu khó khăn, ông Diệm đã nhất định không chịu khuất phục Thiên Lôi, cuối cùng, ông thắng cả Thiên Lôi, trở thành Kỳ Nhân. Bây giờ, sau chín năm cầm quyền, ông đang ở đỉnh cao chói lọi: sau khi nghe ông “ban huấn từ” trước một tập thể giáo chức, Chủ Tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lễ thốt lên “Chúa ngồi bên Tổng Thống!” và mới hôm Tết Quý Mão, sau lễ chúc tuổi thường lệ dành cho các viên chức cao cấp quân cán chính và ngoại giao đoàn, một số tướng tá thân cận đã vào tận phòng riêng, trong quân phục chỉnh thề và huy chương rực rỡ, quỳ lậy trước bàn giấy ông để tỏ dạ trung thành. Sau vụ chết người ở đài phát thanh Huế, ông hứa chính phủ sẽ giải quyết ổn thỏa, và như để an lòng những ai còn nghi ngờ về hiệu năng của chính phủ, ông nêu thêm bảo đảm, “sau chính phủ còn có hiến pháp”, và bảo đảm tối hậu: “sau hiến pháp còn có tôi”. Ngoài hàng ngũ quân cán chính đáng tự hào, ông còn cả một tập thể đông đảo Thanh niên Cộng Hòa được lãnh đạo bởi Ông Cố Vấn, và nhất là nhũng đoàn Thanh nữ Cộng Hòa biết bắn súng, dưới sự lãnh đạo của Bà Cố Vấn, sẵn sàng xả thân để bảo vệ chế độ – “thằng nhà báo” Francois Sully nham nhở nói đám nữ binh của Bà Cố là sự khuyến khích cho địch quân, đã bị trục xuất. Ba chục năm trước (1933), chỉ mới là một Thượng Thư ngoài ba chục tuổi, ông đã không chịu cúi đầu trước chính quyền bảo hộ Pháp, và Vua Bảo Đại. Bây giờ, ông đã ở tuổi già gấp đôi, được gọi là “Cụ”, đường đường là nguyên thủ Quốc gia, là “Tổng Thống Anh Minh.” Trong tình trạng tốt đẹp như thế, chẳng lẽ ông chịu khuất phục trước đòi hỏi của mấy “thằng” Mỹ? Ông có đường lối riêng của mình. Theo ông, muốn có thêm tự do dân chủ, cũng phải từ từ, vì dân chưa quen với dân chủ kiểu Tây phương. Mỹ phải trải qua gần hai trăm năm mới được như ngày nay, ông mới cai trị có chín năm. Về cố vấn Mỹ, ông muốn giảm đi hơn là tăng thêm, vì sự hiện diện đông đảo của Mỹ sẽ làm cho Nam VN mất chính nghĩa, là cái cớ cho Bắc Việt tuyên truyền và tấn công.
Hue mandarins in the 1930s
Mối liên hệ cùng cách hành động của Mỹ và ông Diệm năm 1963 khá giống như đã diễn ra đầu năm 1955. Hồi đó, Hoa Kỳ đã theo chủ trương của Tướng Collins, là thay ông Diệm, dù ông không thuận, “chương trình vẫn cứ tiến hành”. Năm 1963, tình hình VN nghiêm trọng hơn nhiều so với khi ông Kennedy lên cầm quyền vào năm 1961: Có thêm vụ ném bom dinh Độc Lập ngày 27-2-1962, trận Ấp Bắc đầu năm 1963, và đặc biệt là vụ Phật Giáo từ tháng 5, 1963.
Ông tổng thống Công Giáo đầu tiên trong lịch sử Mỹ không thể tiếp tục ủng hộ vô điều kiện ông tổng thống Công Giáo đầu tiên của Việt Nam, nhất là từ sau khi Phật Giáo xuống đường tự thiêu để phản đối vào tháng Sáu. Lửa tự thiêu bùng lên ở đường phố Saigòn, nhưng rát mặt Washington. Càng rát mặt hơn khi chế độ của ông tổng thống Công Giáo ở Sàigòn chữa lửa tự thiêu bằng cách xịt thêm dầu vào lửa, đó là những lời tuyên bố của bà Nhu, và lệnh tấn công chùa của ông Nhu vào tháng Tám.
Quang Duc immolation
Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11 tháng 6 năm 1963 để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm (Ảnh: Malcolm Browne)
Bà Nhu nghĩ rằng gọi tự thiêu bằng động từ “nướng thịt” là một cách chữa lửa, khiến cho hào quang của sự hy sinh cao cả biến đi, không còn hấp lực gây xúc động trong lòng dân chúng, như một đám cháy bị áp đảo bằng chất kỵ hỏa. Tiếc thay, đó là suy nghĩ riêng của bà, không phải của người dân thường. Ngày nay, đã có nhiều người mổ xẻ, bàn cãi, kể cả xỉ vả lẫn nhau, khi phân tích về vụ tự thiêu, hay “bị thiêu” nửa thế kỷ trước. Nhưng muốn hiểu rõ, cần đặt sự việc vào thời điểm khi nó xẩy ra. Người dân thường, nhất là những người mộ đạo, họ nhậy cảm như thi sĩ. Dưới mắt một thi sĩ lớn như Vũ Hoàng Chương, một người không có liên hệ chính trị với bất cứ phe phái nào, điều bà Nhu gọi là “nướng thịt” chính là “Lửa Từ Bi”:
Lửa, lửa cháy ngất tòa sen,  
Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ, quỳ cả xuống  
Hai vầng sáng rưng rưng  
Đông Tây nhòa lệ ngọc
Hình ảnh tự thiêu đã được đăng trên báo chí khắp thế giới, trừ Nam VN. Người dân không có cơ hội, và cũng chẳng cần biết ai tưới xăng, ai châm lửa, chỉ biết là “lửa cháy ngất tòa sen”.
Từ Washington, ông Kennedy không thể ngồi yên, tình thế buộc ông phải có hành động.
Như một trách nhiệm quá nặng để gánh vác một mình, ông đã phải chia sẻ với một đối thủ chính trị từ nhiều đời thuộc đảng Cộng Hòa đối lập, gửi đi Sài gòn đóng vai Thiên Lôi. Giống “Thiên Lôi Joe” tám năm trước, Đại sứ Cabot Lodge cũng chủ trương thay ông Diệm, sau khi ông không chịu thay đổi.
Nhưng thay ông không dễ. Tám năm trước, ông đã thắng cả Bảo Đại lẫn Tướng Collins, là những người muốn loại bỏ ông.
Năm 1955, một mình tứ bề thọ địch, ông Diệm nhờ cây nỏ quý có cái lẫy là móng chân của thần dư luận, đã bất ngờ tấn công địch quân là một đảng cướp và đồng bọn, khi Thiên Lôi Joe Collins đang từ Washington trở lại Sàigòn. Ông đã cả thắng, lên ngôi Kỳ Nhân. Tháng Tám năm 1963, vẫn theo thế trận cũ, ông tấn công chùa chiền trong lúc Thiên Lôi Cabot Lodge từ Washington chưa kịp tới Sàigòn. Lần này, vì ông có hiềm khích với nhà báo quốc tế, nỏ thần dư luận chẳng những hết hiệu nghiệm, mũi tên độc còn dội ngược, khiến ông thân bại danh liệt. Cùng một thế trận, khi tấn công vào sào huyệt một đảng cướp, ông được lòng dân; khi tấn công vào một tôn giáo lớn, ông mất lòng dân. Dù cai trị theo chế độ nào, khi đã mất lòng dân là mất tất cả, là hết thuốc chữa. Nếu cho rằng Điện văn 243 là bản án tử hình dành cho chế độ Ngô Đình Diệm, thì nó đã được gửi từ Washington tới Saigòn vào ngày 24 tháng 8, 1963, ba ngày sau vụ tấn công chùa. Theo những tài liệu đã được giải mật cho tới nay, vụ tấn công chùa là yếu tố quan trọng nhất khiến Washington dứt khoát với ông Diệm.
Sau nửa thế kỷ, ngày càng có thêm nhiều người ca tụng lòng yêu nước và công đức của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Mặc dầu là những lời ca tụng có cơ sở, nhưng không đủ để bảo đảm cho sự vững chắc của một chế độ. Ông Diệm không theo chủ trương kỳ thị Phật giáo. Đúng! Ông Diệm đã giúp xây hay trùng tu hàng ngàn ngôi chùa. Đúng! Ông Diệm đã cho nhiều tu sĩ Phật giáo xuất ngoại du học. Đúng! Nhưng là một tổng thống đầu tiên trong lịch sử sùng đạo Công Giáo, có ông anh Tổng Giám Mục là lãnh đạo hàng đầu của hàng giáo phẩm, ông Diệm (hay ông Nhu thì cũng thế) đã ra lệnh tấn công hàng loạt chùa chiền, bắt sư sãi, trong khi cô em dâu đóng vai Đệ Nhất Phu Nhân chũm môi tuyên bố nhà sư tự thiêu chỉ là một vụ nướng thịt, và sẽ vỗ tay hoan hô nếu có thêm nhiều vụ tương tự. Dưới con mắt của người dân, như thế là kỳ thị, là không thể chấp nhận được. Người ta không cần biết có bao nhiêu bộ trưởng, bao nhiêu tướng tá, bao nhiêu tỉnh trưởng theo đạo Phậ̣t, không cần biết ông Diệm đã dùng số tiền riêng của mình trên chục ngàn đô la tặng Đức Đạt Lai Lạt Ma. Đó là những điều người ta không thấy trước mắt. Người ta chỉ thấy trước mắt nhiều chùa bị tấn công, bị cô lập. Đó là bằng chứng cụ thể ông và gia đình ông coi Phật Giáo như kẻ thù. Công an có thể nói trong chùa có võ khí, có tay sai cộng sản, có sư trốn quân dịch, nhưng đó là những điều người dân không thấy rõ như thấy chùa bị tấn công. Hơn nữa, tín đồ sùng đạo tin các nhà sư, hay tin công an? Khi người dân tin các nhà sư, nhà cầm quyền còn bị thêm tội là vu oan giá họa. Có lẽ, nhờ học được kinh nghiệm đắt giá này, nhà cầm quyền Hà Nội ngày nay chưa tấn công Dòng Chúa Cứu Thế.
Muốn hiểu được sự liên hệ giữa thành tích và sự mong manh của một chế độ, có thế nhìn ngay vào thí dụ là chiếc computer. Đó là một sản phẩm tuyệt vời, cung cấp cho người sử dụng rất nhiều thứ. Nhưng thành tích này không đủ để bảo đảm chính đời sống của nó. Chỉ cần một virus từ ngoài lẻn vào, hay người sử dụng sơ ý bấm nhầm nút, cả hệ thống sẽ bị sụp (crash). Muốn phục hồi, cần phải bắt đầu lại, “restart” – đảo chánh hay cải tổ toàn diện, xóa đi làm lại từ đầu. Là người sử dụng chiếc “computer Việt Nam” – nói như vậy cho dễ hiểu vì thời đó computer chưa ra đời – gia đình ông Diệm đã không ngăn được virus xâm nhập từ bên ngoài, và trong tình thế bối rối, đã bấm những nút không thích hợp, khiến nó sụp. Chuyên viên Hoa Kỳ Lyndon Johnson đã giúp restart, nhưng thiếu kinh nghiệm, không phục hồi được. Đến thời chuyên viên Nixon thì đành bó tay, lo về sửa ống nước đang rò rỉ ở nhà mình, hơn là sửa computer 4-0-VN.
*
Ngày xưa, Thục An Dương Vương và công chúa Mỵ Châu trong bước đường cùng tẩu thoát trên lưng ngựa, đã than thở, không hiểu sao nỏ thần mất hiệu lực dẹp loạn. Thần Kim Quy đã hiện ra cho nhà vua biết: Kẻ thù chính là người ngồi sau lưng nhà vua. Nếu Kỳ Nhân Ngô Đình Diệm, thay vì chạy vào nhà Mã Tuyên, đã dùng một chiếc xe bọc thép, chở cả gia đình gồm Đức Cha, ông bà Cố Vấn, và Cậu Cẩn cùng chạy trốn. Trên đường bôn tẩu cũng than với Chúa, không hiểu sao một Kỳ Nhân như ông mà ra nông nỗi này. Có lẽ, Chúa cũng hiện ra và nói cho ông biết: “Kẻ hại con chính là những người ngồi cùng xe!”
*
Người viết xin chấm dứt bài này bằng một chi tiết có liên hệ tới ai ra lệnh giết anh em Tổng Thống Diệm. Theo một bài báo trên tờ New York Times ngày 25 tháng 9, 1973, E. Howard Hunt, một nhân viên CIA, cũng là một nhà văn, là nhân viên Đơn vị Điều tra Đặc biệt (President’s Special Investigations Unit), thường được gọi là “White House Plumbers” dưới thời Tổng Thống Nixon khi xẩy ra vụ Watergate, đã khai trước một cuộc điều trần tại Quốc Hội là vào năm 1971, ông ta đã làm giả một điện văn của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, rồi tiết lộ cho tạp chí Life. Điện văn có nội dung ra lệnh giết anh em ông Diệm vào năm 1963, với mục đích làm cho cử tri Công Giáo oán giận Kennedy, sẽ không bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ. Hunt bị ba năm tù vì vụ Watergate, qua đời năm 2007. Trong cuốn hồi ký Blind Ambition của John Dean, cố vấn pháp luật của Tổng Thống Nixon, xuất bản năm 1976, cũng xác nhận chuyện này. Theo Dean, khi vụ Watergate vỡ lở, lúc mở chiếc két sắt trong văn phòng Hunt ở Bạch Ốc, trước sự chứng kiến của một nhóm người, thấy điện văn giả mạo này vẫn còn đấy. Sự việc này cho thấy, nếu quả thật chính quyền Kennedy đã ra lệnh giết anh em ông Diệm, thì chính quyền Nixon chỉ cần tiết lộ tài liệu thật, không cần hại nhau bằng tài liệu giả.
————-
Chú thích:
Người viết căn cứ vào hai cuốn sách để viết bài này. Đó là những cuốn sách không do những người trong cuộc, hay những người đã trưởng thành vào thập niên 60 viết, để thanh minh hay buộc tội, mà tác giả là các nhà sử học lớn lên sau khi ông Diệm không còn nữa.
Ngoài phần theo lời kể trong một bài báo của Linh Mục Trần Văn Kiệm, và ngoại trừ phần kết luận, tất cả các dữ kiện trong bài này đều thuật lại, hay dịch lại từ hai cuốn:
Miracle man cover
Một là “America’s Miracle Man in Vietnam” (Kỳ nhân của Mỹ tại Việt Nam), của Tiến sĩ Seth Jacobs, Phụ tá Giáo sư Sử học tại Boston College, do Duke University Press xuất bản năm 2004. Người viết xử dụng bản bìa giấy, tái bản năm 2006, nhiều nhất là những dữ kiện trong các Chương I, V, và VI, chỉ ghi lại các dữ kiện, mà không theo lập luận của tác giả.
Triumph Cover
Cuốn thứ hai là “Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954-1965” (Toàn thắng bỏ lỡ: Cuộc chiến Việt Nam 1954-1965), của Tiến sĩ Mark Moyar, từng dậy sử tại nhiều trường đại học, là Phó Giáo sư (Associate Professor) và Giám đốc Khóa trình (Course Director) tại Đại học Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (U.S. Marine Corps University) ở Virginia, do Cambridge University Press xuất bản năm 2006.
Bài này được viết từ tháng 11, 2007, và được sửa lại vào tháng 11, 2013.
Source : DA MAU