14/11/13

Alice Munro ( Nobel văn chương 2013 ) : Bộ váy đỏ

Bộ váy đỏ


Truyện ngắn, nguyên tác “A Red Dress”. Tác giả: nữ văn sĩ Alice Munro, giải Nobel văn chương 2013
Người dịch: Phùng Hoài Ngọc
MunroAlice1
Mẹ tôi đang làm cho tôi một chiếc váy. Suốt tháng Mười một khi tôi từ trường học về và nhìn thấy mẹ trong nhà bếp, bao quanh bởi những dải vải nhung đỏ và các mảnh mô hình giấy. Bà sử dụng một máy may đạp chân cũ, cửa sổ chống lên để có được ánh sáng, và cũng để cho mẹ nhìn ra, qua các dải đất lởm chởm và vườn rau trơ trụi, xem có ai đi ngang qua trên đường. Lâu lâu mới có người đi qua.
 Vải nhung đỏ rất khó may cắt, nó co lại, và kiểu váy mẹ tôi đã chọn cũng không dễ may. Bà không hẳn là một thợ may giỏi. Bà thích chế tạo mọi thứ, nhưng đó chuyện khác.
 Luôn luôn trong khi làm việc, bà cố gắng để khỏi bỏ qua mũi đột thưa, nhấn nhón tay và bà đã chẳng tự hào về những điểm tốt của kỹ thuật may, việc hoàn thiện các nút khuy và vắt sổ như  dì  tôi và bà tôi đã làm. Không giống như họ, bà đang bắt đầu với một cảm hứng, một ý tưởng táo bạo và kinh ngạc, từ thời điểm đó trở đi, niềm vui của bà giảm dần. Ngay từ đầu, bà không bao giờ có thể tìm thấy một mô hình phù hợp với mình. Chẳng có gì lạ, không có mô hình thực hiện phù hợp với ý tưởng nở hoa trong đầu bà. Bà đã làm cho tôi, tại thời điểm khác nhau khi tôi còn trẻ, một chiếc váy đầm vải hoa bông mịn với một đường viền cổ áo kiểu Victoria cao viền ren hỗn tạp, với chiếc mũ có vành, dây buộc dưới cằm cho phù hợp, một bộ trang phục kẻ sọc Scotland với một chiếc áo khoác nhung và mũ bê rê, một chiếc áo nông dân thêu mặc với một chiếc váy dài màu đỏ và áo lót có đăng ten màu đen. Tôi đã mặc những bộ quần áo với sự ngoan ngoãn, thậm chí với niềm vui trong những ngày tôi chưa ý thức gì về dư luận người đời. Bây giờ, lớn khôn hơn, tôi muốn có váy áo như  Lonnie người bạn của tôi đã có, mua tại cửa hàng của Beale.
 Tôi phải mặc thử cái váy. Đôi khi Lonnie đi học về cùng với tôi và cô ấy sẽ ngồi trên ghế xe bus mà nhìn ngắm. Tôi rất xấu hổ vì cách mẹ tôi bò trườn len lỏi quanh tôi, đầu gối của bà kêu cót két, với hơi thở dồn dập nặng nề. Bà lẩm bẩm một mình. Đi xung quanh nhà, bà không mặc áo lót ngực hoặc vớ, bà đi đôi giày nêm gót và vớ tới mắt cá chân, chân bà đã được đánh dấu bằng những cục tĩnh mạch màu xanh- xanh lá cây. Tôi nghĩ rằng dáng ngồi xổm của bà thực đáng hổ thẹn, thậm chí tục tĩu; tôi đã cố gắng tiếp tục nói chuyện với Lonnie để kéo cô ra khỏi chú ý tới mẹ tôi càng nhiều càng tốt. Lonnie mặc trang phục lịch sự, biểu lộ sự đáng khen, đó là cách ngụy trang của cô trong sự hiện diện của người lớn. Cô đã cười giễu người lớn và là một cách bắt chước mãnh liệt, và họ chẳng bao giờ biết.
Mẹ kéo tôi xung quanh, và đánh dấu tôi với những cái kẹp. Bà bắt tôi quay tròn, lại bảo tôi bước đi, lại bảo tôi đứng yên. “Cháu nghĩ thế nào, Lonnie?”, Bà nói lúng búng với các ghim kẹp ngậm quanh miệng.
“Nó đẹp lắm ạ,” Lonnie nói nhỏ nhẹ, vẻ chân thành. Mẹ đẻ của Lonnie đã chết. Cô ấy sống với cha, ông ấy chẳng bao giờ chú ý đến cô, và điều này, theo tôi nghĩ, đã khiến cô ấy dường như vừa dễ bị tổn thương vừa có đặc quyền.
 ”Nó sẽ đẹp, nếu tôi có thể điều chỉnh cho phù hợp,” mẹ tôi nói. “Ah,” bà nói với vẻ phô trương, cố đứng dậy với một tiếng cọt kẹt thiểu não và thở dài sườn sượt, “Mẹ không tin nếu cô ấy đánh giá cao cái váy”. Bà nổi giận với tôi, nói chuyện như với Lonnie, như thể Lonnie đã lớn và tôi vẫn là một đứa trẻ. “Đứng yên”, bà nói, kéo mạnh chiếc váy có kẹp và lược vài mũi kim trên đầu tôi. Đầu tôi bị bóp nghẹt trong vải nhung, cơ thể của tôi đặt vào trong một đống bông cũ. Tôi cảm thấy như một mảng lớn, thô nháp và luộm thuộm như da ngỗng bị mụn nhọt. Tôi ước gì mình được như Lonnie, thân thể nhẹ nhàng, xanh xao và gầy gò, cô ấy đã từng đượcgọi là một Blue Baby bởi khi sinh ra xanh tái, có khuyết tật bẩm sinh về tim.
 ”Ôi dà, không ai làm cho mẹ một chiếc váy khi mẹ vào trung học,” bà nói, “Mẹ tự làm lấy”, hoặc “đã làm không có ai giúp”. Tôi sợ mẹ sẽ bắt đầu lại kể câu chuyện bà đi bộ bảy dặm vào thị trấn, tìm kiếm một công việc phục vụ bàn trong một nhà trọ để bà có thể học trung học. Tất cả những câu chuyện về cuộc sống của mẹ tôi đã từng gây thích thú cho tôi giờ đã bắt đầu có vẻ khoa trương, không thích hợp và gây buồn chán.
 ”Một lần mẹ đã có một chiếc váy của mình”, bà nói. “Đó là một loại vải len cashmere màu kem với màu xanh hoàng gia đường ống xuôi phía trước và nút lớn bằng ngọc trai đáng yêu, mẹ tự hỏi không biết đã bao giờ  trở thành như thế?”
 Khi chúng tôi được tự do, Lonnie và tôi đi lên lầu vào phòng của tôi. Trời lạnh, nhưng chúng tôi ngồi ở đó. Chúng tôi nói về các chàng trai trong lớp lượn lên lượn xuống các hàng ghế, và nói: “Bạn có thích anh ta không ? Ui, bạn có thích một nửa anh ta? Bạn có ghét anh ta ? Bạn có dám đi chơi với anh ta nếu anh ta rủ bạn ? “. Chẳng có ai rủ rê chúng tôi. Chúng tôi đã mười ba tuổi, và chúng tôi sắp được đi học trung học trong hai tháng nữa. Chúng tôi đã làm bảng câu hỏi trên các tạp chí để tìm hiểu xem chúng tôi có cá tính hay chỉ có tính cách bình thường. Chúng tôi đọc các bài báo về cách trang điểm khuôn mặt để làm nổi bật ưu điểm của mình và làm thế nào để thực hiện một cuộc hò hẹn đầu tiên và phải làm gì khi một cậu bé cố gắng muốn đi “quá xa”. Ngoài ra chúng tôi còn tìm đọc bài viết về sự lãnh cảm của thời kỳ mãn kinh, của sự phá thai và tại sao người chồng tìm kiếm sự hài lòng khi xa nhà. Khi không phải làm bài tập, chúng tôi đã dùng hầu hết thời gian tìm kiếm thông tin, chuyền cho nhau  các vấn đề tình dục và thảo luận. Chúng tôi đã thực hiện một hiệp ước để nói với nhau tất cả mọi thứ khác. Nhưng có một điều tôi không nói là về buổi khiêu vũ này, buổi vũ hội nhân lễ Giáng sinh ở  trường trung học mà mẹ tôi đã làm cho tôi một chiếc váy để đi dự. Lần đó tôi nói không muốn đi.
Ở trường trung học tôi đã chẳng bao giờ thoải mái được một phút. Tôi không biết gì về Lonnie. Trước một kỳ thi, cô ấy nhận được sự giúp đỡ lạnh lùng và cô ấy hồi hộp, còn tôi đã gần tuyệt vọng ở tất cả các lần thi. Khi tôi được hỏi một câu hỏi trong lớp học, bất kỳ câu hỏi đơn giản nào, giọng nói của tôi có khuynh hướng phát ra nghe chút chít, ​​hoặc nghe như tiếng người nào khác khàn khàn và run rẩy. Khi phải đi đến trước bảng đen, tôi chắc rằng, ngay cả khi vào kỳ kinh nguyệt, điều này thực khó tin, tôi đã thấy có máu trên váy mình. Tay của tôi trở nên trơn mồ hôi khi đôi tay phải làm việc vẽ vòng tròn trên bảng đen. Tôi không thể vụt bóng khi chơi bóng chuyền, không thể bị gọi thực hiện một hành động trước mặt những người khác đã làm tất cả các phản ứng của tôi bị bỏ dở. Tôi ghét môn Kinh doanh thực hành bởi vì phải ra quy tắc cho các trang mục trong một cuốn sách kế toán với việc sử dụng một cây bút ngay ngắn, và khi giáo viên nhìn qua vai tôi thấy tất cả các dòng chữ mảnh khảnh, nghiêng ngả và xô líu ríu với nhau. Tôi ghét môn Khoa học, chúng tôi ngồi trên ghế đẩu dưới ánh sáng gay gắt phía sau tấm bảng quen thuộc, thiết bị mong manh, và được giảng dạy bởi thầy hiệu trưởng của trường, một người đàn ông tự mãn lạnh lùng, ông ấy đọc Kinh Thánh mỗi buổi sáng và có một tài năng tuyệt vời để  sỉ nhục người ta. Tôi ghét môn tiếng Anh vì các chàng trai chơi bingo (một loại cờ bạc) ở phía sau của căn phòng trong khi cô giáo hơi lé mắt, giọng khỏe khoắn đọc nhẹ nhàng thơ Wordsworth ([1]) ở phía trước. Cô đe dọa họ, cô năn nỉ họ, khuôn mặt đỏ lên và giọng nói của cô dường như không tin cậy tôi. Họ đưa ra lời xin lỗi hài hước và khi cô bắt đầu đọc một lần nữa, họ làm điệu bộ chăm chú, những khuôn mặt xúc động, họ liếc xéo, đập tay lên tim mình. Đôi khi cô ấy bật khóc, không có sự giúp đỡ lúc ấy, cô đã phải chạy ra ngoài, vào phòng lớn. Sau đó, các chàng trai đã gây tiếng ồn; những tiếng cười thèm khát của chúng tôi (ôi tôi cũng vậy) đuổi theo cô ấy. Có một bầu không khí lễ hội thô bạo trong phòng vào những thời điểm như vậy, đáng sợ là những người yếu đuối và nghi ngờ như tôi.
Nhưng những gì đã thực sự xảy ra trong nhà trường không phải là môn Kinh doanh thực hành và Khoa học và tiếng Anh, có điều gì đó khác làm cho cuộc sống thêm khẩn cấp và bừng sáng. Đó là tòa nhà cũ, với tầng hầm đá vách lạnh, phòng treo áo màu đen và hình ảnh của các nhà quý tộc hoàng gia đã chết và nhà thám hiểm mất tích, đầy những sự căng thẳng và hứng thú  về cuộc cạnh tranh tình dục, và trong chỗ này, bất chấp những giấc mơ  ban ngày về những thành công lớn, tôi đã có linh cảm về sự thất bại toàn bộ. Một cái gì đó phải xảy ra, để giữ cho tôi tránh buổi khiêu vũ.
 Tháng Mười Hai đến với tuyết, và tôi đã có một ý tưởng. Trước đây tôi đã suy nghĩ về vụ ngã xe đạp và bong gân mắt cá chân và tôi đã cố gắng làm chủ việc này, khi tôi chạy xe về nhà dọc theo con đường nông thôn đầy vết bánh xe lún sâu, trời lạnh dữ dội. Nhưng điều đó thực là quá khó khăn. Tuy nhiên, cổ họng và phế quản của tôi được coi như là rất yếu, tại sao không dám hở cổ ra? Tôi bắt đầu ra khỏi giường vào ban đêm và hé mở cửa sổ một chút. Tôi quỳ xuống và để cho gió, đôi khi buốt nhói vì có tuyết rơi táp vào xung quanh cổ họng trần của tôi. Tôi cởi phần trên áo pajama. Tôi tự nói với mình những lời  như”xanh tái vì lạnh” và khi tôi quỳ ở đó, tôi nhắm mắt lại, tôi hình dung ngực và cổ họng của tôi chuyển sang màu xanh, tĩnh mạch dưới da xanh xám và lạnh. Tôi ở đó cho đến khi không thể chịu đựng được nữa, và sau đó tôi vốc đầy tay tuyết đóng từ các bậu cửa sổ, bôi nó trên ngực, trước khi tôi cài nút bộ đồ ngủ trên mình. Nó sẽ tan vào đồ nỉ và tôi sẽ ngủ trong quần áo ướt,  cái được coi là điều tồi tệ nhất tất cả. Vào buổi sáng, khi tôi thức dậy, tôi hắng giọng, thử  cho đau nhức, hy vọng, ho thử xem, sờ trán xem có bị sốt. Điếu đó là không tốt. Mỗi buổi sáng kể cả ngày vũ hội, tôi trở dậy không nổi, trong tình trạng sức khỏe hoàn hảo.
 Ngày khiêu vũ, tôi đã làm tóc mình bằng dụng cụ thép uốn. Tôi chưa từng bao giờ làm điều này, bởi vì tóc tôi là xoăn tự nhiên, nhưng hôm nay tôi muốn bảo vệ tất cả các trình tự trang điểm của phụ nữ. Tôi nằm trên chiếc ghế dài trong nhà bếp, đọc Những ngày cuối cùng của Pompeii ([2]), và muốn tôi ở đó. Mẹ tôi, chẳng bao giờ hài lòng, đang may cổ áo ren trắng trên trang phục, bà đã khẳng định, trông nó có vẻ quá già. Tôi đã trông ngóng nhiều giờ. Đó là một trong những ngày ngắn nhất trong năm. Trên chiếc ghế dài, trên hình nền, những trò chơi cũ Xs và Os ([3]), bản vẽ cũ và chữ viết vội vàng mà anh trai tôi và tôi đã làm khi chúng tôi bị bệnh viêm phế quản. Tôi nhìn họ và nóng lòng mong mỏi được trở về an toàn sau biên giới của thời thơ ấu.
 Khi tôi lấy ra các dụng cụ uốn tóc của tôi, cả tự nhiên và nhân tạo hào hứng, kéo lò xo khỏi ống lót bóng loáng hồ hởi. Tôi nhúng ướt tóc, tôi chải nó, đánh nó với bàn chải và kéo nó xuống dọc theo má tôi. Tôi thoa bột mặt, trộn với phấn lên khuôn mặt nóng của mình. Mẹ tôi đã lấy ra thứ nước hoa Ashes of Roses Cologne của bà, mà cô không bao giờ  sử dụng, và để cho tôi vấy trên cánh tay tôi. Sau đó, bà kéo khóa bộ váy và quay người tôi  nhìn vào tấm gương. Trang phục là theo kiểu công chúa, thắt chặt chỗ bụng. Tôi đã thấy ngực của mình ra sao trong áo nịt vú cứng mới, nhô ra một cách ngạc nhiên, với uy quyền của sự trưởng thành, dưới cái cổ áo diềm xếp nếp kiểu trẻ con.
“Ôi, mẹ muốn chụp tấm ảnh,” mẹ tôi nói. “Mẹ thực sự chân thành tự hào về sự phù hợp đó. Và con có thể nói lời cảm ơn mẹ vì điều đó”.
 ”Cảm ơn mẹ,” tôi nói.
 Điều đầu tiên Lonnie nói khi tôi mở cửa cho cô ấy là “Lạy Chúa Giêsu, bạn đã làm gì với mái tóc của bạn?”.
“Tôi đã uốn tóc”.
“Bạn trông giống như một Zulu. Oi, đừng lo. Lấy cho tôi một chiếc lược và tôi sẽ làm phía trước thành cuộn. Nó sẽ coi được lắm. Thậm chí nó sẽ  làm cho bạn trông già dặn hơn”.
Tôi ngồi trước gương, Lonnie đứng đằng sau tôi, sửa chữa mái tóc tôi. Mẹ tôi dường như không thể rời khỏi chúng tôi. Tôi ước gì bà đi khỏi. Bà nhìn những cuộn tóc và nói: “Cháu là một kỳ quan, Lonnie. Cháu phải làm nghề uốn tóc”.
 ”Đó là một ý tưởng” Lonnie nói. Cô đã có một  bộ váy kếp màu xanh nhạt, với một cái cổ áo ngắn, nó có vẻ trưởng thành hơn tôi thậm chí không có cổ áo. Tóc của cô đã trở nên bóng mượt như kiểu dáng cô gái  trên phù hiệu đeo của cảnh sát. Tôi đã luôn luôn nghĩ thầm kín rằng Lonnie không thể xinh đẹp vì cô có hàm răng khấp khểnh, nhưng bây giờ tôi không thấy rõ răng cô khấp khểnh hay không, kiểu thời trang của cô và mái tóc mượt của cô làm tôi nhìn hơi giống như một con búp bê bằng vải nhồi nhung đỏ, mắt mở to, với mái tóc hoang dã, gợi ra sự cuồng nhiệt.
Mẹ tôi đi theo chúng tôi ra cửa và gọi vào bóng tối, “Tạm biệt !” bằng tiếng Pháp.  Đây là lời chia tay truyền thống của Lonnie và tôi, nó nghe có vẻ ngớ ngẩn và bơ vơ đến từ bà  ấy, và tôi đã rất  giận với bà ấy khi sử dụng nó đến nỗi tôi không trả lời. Chỉ có mình Lonnie đáp lời vui vẻ, khích lệ, “Chúc ngủ ngon!”
Phòng tập thể dục có mùi của cây thông và tuyết tùng. Những cái chuông màu đỏ và màu xanh lá cây bằng giấy có rãnh treo trên vành đai bóng rổ, cao, cửa sổ cấm mở  bị ẩn bởi cành cây xanh. Tất cả mọi người trong các lớp trên dường như đã đến trong từng cặp. Một số cô gái lớp Mười Hai và lớp Mười ba đã mang bạn trai theo- những người đã tốt nghiệp rồi- những người doanh nhân trẻ xung quanh thị trấn. Những con người trẻ hút thuốc trong phòng thể dục, không ai có thể ngăn chặn chúng, họ được tự do. Các cô gái đứng bên cạnh họ, buôn tay của họ như tình cờ trên cánh tay người nam, khuôn mặt của họ uể oải, khép kín và xinh đẹp. Tôi khao khát được như thế. Họ cư xử như thể chỉ có họ – những người lớn tuổi hơn, đã thực sự bước vào điệu nhảy, như thể phần còn lại chúng tôi, những người di chuyển chen trong giữa và  xung quanh hạn hẹp, là, nếu không vô hình, vô tri vô giác, khi điệu nhảy đầu tiên đã được công bố, điệu Paul Jones – họ di chuyển tản ra chậm rãi, mỉm cười với nhau như thể họ đã được mời tham gia một số trò chơi trẻ con nửa bị quên lãng. Nắm tay và run rẩy, tràn ngập lên cùng nhau, Lonnie và tôi và các cô gái lớp Chín khác theo sau.
Tôi không dám nhìn vào vòng tròn bên ngoài khi họ lướt qua tôi, vì nỗi sợ tôi sẽ nhìn thấy một sự thô tục vội vã. Khi âm nhạc dừng lại, tôi vẫn ở chỗ ban đầu, và he hé mắt nhìn, tôi thấy một chàng tên là Mason Williams có vẻ miễn cưỡng tiến về phía tôi. Cậu ta chạm vào eo tôi và các ngón tay của tôi một cách thô kệch, và bắt đầu nhảy với tôi. Chân tôi cảm thấy như trống rỗng, tay tôi run lên từ bả vai, tôi đã không thể nói được. Mason Williams là một trong những anh hùng của trường, cậu chơi bóng rổ và khúc côn cầu và bước đi trong hội trường với một không khí rầu rĩ quý tộc và khinh rẻ man rợ. Phải nhảy với một kẻ vô danh như tôi là sự  xúc phạm với cậu, như khi phải ghi nhớ thơ của Shakespeare. Tôi cảm thấy hăng hái như cậu ta cảm thấy, và tưởng tượng rằng cậu đã trao đổi những cái nhìn bất an với bạn bè của mình. Cậu điều khiển quay tôi một vòng, vấp vào cạnh sàn nhà. Cậu nắm  tay qua eo tôi và bỏ thõng cánh tay tôi.
“Hẹn gặp lại”, Mason nói. Rồi bỏ đi.
 Tôi phải mất một hoặc hai phút để nhận ra những gì đã xảy ra và rằng anh không quay trở lại. Tôi bước đi và đứng bên bức tường một mình. Cô giáo dạy giáo dục thể chất, nhảy lướt qua hăng hái trong vòng tay một cậu bé lớp Mười, đã khiến tôi tò mò nhìn theo. Cô là giáo viên duy nhất trong trường đã sử dụng các từ điều chỉnh xã hội, và tôi sợ rằng nếu cô đã nhìn thấy, hoặc nếu cô ấy phát hiện ra, cô ấy có thể có nỗ lực đáng sợ nào để làm cho Mason kết thúc điệu nhảy với tôi. Bản thân tôi đã không tức giận hay bất ngờ với Mason, tôi chấp nhận vị trí của anh ta và tôi trong thế giới trường học, và tôi thấy rằng những gì anh đã làm là điều thực tế để làm. Anh là một anh hùng tự nhiên, không phải một loại anh hùng Hội học sinh nhảy vọt thành công ngoài trường học; một trong những người sẽ nhảy với tôi một cách lịch sự và trịch thượng khiến tôi cảm thấy không khá hơn. Tuy nhiên, tôi hy vọng không nhiều người đã nhìn thấy tôi. Tôi ghét người ta nhìn thấy. Tôi bắt đầu cắn lớp da ngón tay cái của mình.
 Khi âm nhạc dừng lại, tôi tham gia vào làn sóng con gái đi đến cuối phòng thể dục. Giả vờ nó đã không xảy ra, tôi nói với bản thân mình. Giả vờ thế này là sự khởi đầu, ngay bây giờ.
Ban nhạc lại chơi tiếp. Có một sự chuyển động trong đám đông dày đặc ở cuối của sàn nhảy, nó tản dần nhanh chóng. Các chàng trai đi qua, các cô gái bước ra để nhảy. Lonnie đã ra sàn. Cô gái ở  bên tôi đã ra sàn. Không ai mời tôi. Tôi nhớ một bài viết trên tạp chí mà Lonnie và tôi đã đọc, có câu “Hãyđồng tính! Hãy để chàng trai nhìn thấy đôi mắt của bạn lấp lánh, cho họ nghe tiếng cười trong giọng nói của bạn! Đơn giản, rõ ràng, nhưng bao nhiêu cô gái đã quên điều đó! Đúng vậy, tôi đã quên. Hai hàng lông mày của tôi đã rãn ra cùng với sự căng thẳng, hẳn là trông tôi sợ hãi và xấu xí lố bịch lắm. Tôi hít một hơi thật sâu và cố gắng nới lỏng khuôn mặt mình. Tôi mỉm cười. Nhưng tôi cảm thấy vô lý, chẳng mỉm cười với ai. Và tôi quan sát thấy rằng những cô gái trên sàn nhảy, những cô gái được ngưỡng mộ, đã không mỉm cười, nhiều người trong số họ vẻ buồn ngủ, khuôn mặt hờn dỗi và chẳng mỉm cười chút nào.
 Các cô gái vẫn đi ra sàn nhảy. Một số, tuyệt vọng, đã đi với nhau. Nhưng hầu hết đi với con trai. Những cô gái béo, những cô gái với mụn nhọt, những cô gái nghèo không sở hữu một chiếc áo đầm tốt và phải mặc một chiếc váy và áo len đi vũ hội, họ đã quả quyết nhảy ra xa. Tại sao chọn họ mà không chọn tôi? Tại sao mọi người khác mà không phải tôi? Tôi có một áo đầm nhung đỏ, tóc tôi đã uốn trong dụng cụ, tôi sử dụng một chất khử mùi và thoa nước hoa cologne. Cầu nguyện, tôi nghĩ. Tôi không thể nhắm mắt được nhưng tôi đã nói nhiều lần trong tâm trí mình, Xin vui lòng, tôi đây, làm ơn, và tôi nắm ngón tay tôi ra sau lưng trong một dấu hiệu mạnh hơn, bắt chéo  cùng một dấu hiệu mật mà Lonnie và tôi không quen sử dụng khi bị gọi đến bảng đen trong giờ học Toán.
 Điều đó chẳng tác dụng. Những gì tôi sợ đã là sự thật. Tôi sẽ bị bỏ lại. Có điều gì đó bí ẩn và là vấn đề quan trọng với tôi, cái gì đó mà không thể sửa cho đúng, như hơi thở hôi hoặc bị bỏ qua như nổi mụn, và tất cả mọi người biết điều đó, và tôi biết điều đó, tôi đã biết tất cả. Nhưng tôi đã không biết nó cho chắc chắn, tôi đã hy vọng bị nhầm lẫn. Chắc chắn tăng lên trong tôi như bệnh tật. Tôi vội vã  đi qua một hoặc hai cô gái cũng bị bỏ lại và đi vào nhà vệ sinh nữ. Tôi ẩn mình trong một căn phòng nhỏ.
 Đó là nơi tôi đứng. Giữa các điệu nhảy, các cô gái bước vào và đi ra ngoài một cách nhanh chóng. Có rất nhiều phòng nhỏ, không ai nhận thấy rằng tôi không phải là một người cư ngụ tạm thời. Trong những điệu nhảy, tôi nghe âm nhạc mà tôi thích nhưng không có một phần nào hơn nữa. Đối với tôi, sẽ không cố gắng nữa. Tôi chỉ muốn ẩn trong đây, đi được ra mà không nhìn thấy bất cứ ai, muốn về được đến nhà.
Một lúc sau khi nhạc bắt đầu, có người đứng lại phía sau. Cô ấy mất một lúc lâu vặn nước, rửa tay, chải tóc. Cô nghĩ rằng thực buồn cười là tôi ở lại quá lâu. Tôi thấy tốt hơn là đi ra ngoài và rửa tay, và có thể trong khi tôi đang rửa tay, cô ấy sẽ ra về.
 Đó là Mary Fortune. Tôi biết cô ấy bằng tên, bởi vì cô là một chỉ huy của Hội điền kinh nữ và cô đang ở trong Danh sách danh dự và cô ấy đã luôn luôn tổ chức mọi việc. Cô đã có làm một việc gì đó để tổ chức vũ hội này, cô đã được bao vây để tất cả các lớp học yêu cầu các tình nguyện viên làm các đồ trang trí. Cô học lớp Mười một hoặc Mười hai.
 ”Ở đây dễ chịu và mát mẻ “, cô nói. “Tôi vào cho đỡ lạnh. Tôi muốn nóng hơn”.
 Cô vẫn còn chải tóc khi tôi đã rửa xong bàn tay. “Bạn có thích ban nhạc?”, cô hỏi.
“Được ạ.”- Tôi thực sự không biết phải nói gì. Tôi ngạc nhiên nhìn cô, một cô gái lớn tuổi hơn, dành thời gian này để nói chuyện với tôi.
“Tôi  thì không. Tôi không thể chịu đựng được. Tôi ghét nhảy khi tôi không thích ban nhạc. Nghe kìa. Họ rất hay thay đổi. Tôi chỉ không nhảy như nhảy kiểu đó “.
 Tôi chải tóc. Cô ấy dựa vào một chậu rửa, nhìn tôi.
“Tôi không muốn nhảy và  đặc biệt không muốn ở lại đây. Chúng ta hãy đi và lấy một điếu thuốc”.
“Ở đâu?”
“Đi nào, tôi sẽ chỉ cho bạn.”
Ở cuối phòng vệ sinh có một cửa. Nó đã được mở khóa và dẫn vào một phòng quần áo tối đầy giẻ lau sàn và thùng. Cô ấy đã để tôi giữ cho cửa mở, để có được ánh sáng nhà vệ sinh, cho đến khi cô tìm thấy núm cửa khác. Cánh cửa này mở vào bóng tối.
 ”Tôi không thể bật đèn hoặc lỡ ai đó có thể nhìn thấy”, cô nói. “Đây là phòng của người gác cửa” Tôi nghĩ rằng các vận động viên luôn luôn có vẻ biết nhiều hơn chúng tôi về trường học như một tòa nhà, họ biết nơi mà mọi thứ được lưu giữ và họ đã luôn luôn ra khỏi cái cửa cấm ra vô trái phép với một không khí bận tâm rõ rệt. “Cẩn thận nơi bạn đang đi,” cô nói. “Ở phía xa kia có một cầu thang. Họ đi đến một phòng quần áo trên tầng hai. Cửa bị khóa ở phía trên, nhưng có như một vùng trống giữa cầu thang và phòng. Vì vậy, nếu chúng ta ngồi trên bậc thềm, ngay cả khi tình cờ có một người nào đó vào đây, họ sẽ không nhìn thấy chúng tôi. “
 ”Họ sẽ không ngửi thấy mùi khói thuốc chứ ?” Tôi hỏi.
“Ồ chà. Sống thế này thực nguy hiểm. “
Có một cửa sổ cao trên cầu thang cho chúng tôi một chút ánh sáng. Mary Fortune có thuốc lá và hộp diêm trong ví của cô. Tôi chưa từng hút thuốc trước đây trừ thuốc lá Lonnie và tôi đã chính mình sử dụng giấy báo và sợi thuốc lá đánh cắp từ cha cô, họ đã đi ngoài ở giữa. Những chỗ  là tốt hơn nhiều.
 ”Lý do duy nhất tôi thậm chí đến tối nay,” Mary Fortune cho biết, “là bởi vì tôi chịu trách nhiệm cho các đồ trang trí và tôi muốn thấy, bạn biết không, một khi người ta có trong đó trông thế nào và tất cả mọi thứ. Nếu không tại sao bận tâm? Tôi không phải là cậu bé điên “
Trong ánh sáng từ cửa sổ cao rọi xuống tôi có thể thấy khuôn mặt khinh bỉ của cô, da xẫm tối, rỗ hoa và mụn trứng cá, cô nghiến răng lại ở phía trước, làm cho cô ấy trông trưởng thành và có vẻ chỉ huy.
 ”Hầu hết các cô gái là vậy. Bạn không nhận thấy điều đó ư? Bộ sưu tập lớn nhất của các cô gái, chàng trai điên mà bạn có thể tưởng tượng là ở ngay tại trường này. “
Tôi rất biết ơn sự quan tâm của cô, bạn bè của cô và thuốc lá cô cho. Tôi nói tôi cũng nghĩ như vậy.
“Giống như chiều nay. Chiều nay tôi đã cố gắng nhờ họ treo các chuông và đồ tạp nhạp. Họ chỉ trèo lên trên các thang và đùa rỡn với bọn con trai. Họ chẳng quan tâm  nó có được trang trí không. Đó chỉ là một cái cớ. Đó là mục tiêu duy nhất mà họ có trong cuộc sống là đùa giỡn với đám con trai. Về phần tôi nghĩ, họ là những kẻ ngu ngốc. “
 Chúng tôi nói chuyện về giáo viên, và những thứ khác ở trường. Cô cho biết cô muốn trở thành một giáo viên giáo dục thể chất và cô sẽ phải đi học đại học thể dục, nhưng cha mẹ cô không có đủ tiền. Cô cho biết cô dự định làm việc theo cách riêng của mình, dù sao cô cũng muốn được độc lập, cô sẽ làm việc trong các tiệm ăn và vào mùa hè cô ấy sẽ làm công việc trang trại, như chọn thuốc lá. Nghe cô nói, tôi cảm thấy giai đoạn khó khăn bất hạnh của tôi trôi qua. Đây là một người đã phải chịu đựng sự thất bại giống như tôi đã chịu, tôi thấy vậy, nhưng cô tràn đầy năng lượng và lòng tự trọng. Cô đã nghĩ đến những điều khác để làm. Cô sẽ chọn thuốc lá.
 Chúng tôi ở đó nói chuyện và hút thuốc trong thời gian tạm dừng lâu trong khi âm nhạc diễn, khi nào, ở bên ngoài, họ đã có bánh rán và cà phê. Khi âm nhạc bắt đầu lần nữa Mary nói: “Hãy nhìn xem, chúng ta phải chờ loanh quanh ở đây bao lâu nữa? Hãy lấy áo của chúng ta và đi thôi. Chúng ta có thể đi xuống cửa hàng Lee và mua một ly sô cô la nóng và nói chuyện thoải mái, tại sao không? “
Chúng tôi cảm thấy như chúng tôi ngang qua căn phòng của người gác cửa, mang theo tro tàn và mẩu thuốc lá trong tay. Trong phòng quần áo, chúng tôi dừng lại và lắng nghe để chắc chắn rằng không có ai trong phòng vệ sinh. Chúng tôi trở lại dưới ngọn đèn sáng và ném tro vào nhà vệ sinh. Chúng tôi phải đi ra ngoài và cắt ngang qua sàn nhảy để đến phòng treo áo, nó ở bên cạnh cửa  ngoài.
 Một điệu nhảy nữa vừa bắt đầu. “Đi vòng quanh mép sàn nhà”, Mary nói, “Không ai để ý đến chúng ta đâu”. Tôi đi theo cô ấy. Tôi không nhìn vào bất cứ ai. Tôi không tìm kiếm Lonnie. Lonnie có lẽ sẽ không phải là người bạn của tôi nữa, nhưng không đậm tình như trước nữa. Cô ấy là cái mà Mary sẽ gọi là “cậu bé điên”.
 Tôi thấy rằng tôi đã không quá sợ hãi, bây giờ thì tôi đã quyết tâm rời bỏ cuộc khiêu vũ. Tôi không chờ đợi bất cứ ai mời tôi ra nhảy. Tôi đã có ý đồ riêng. Tôi không phải mỉm cười hoặc ra dấu hiệu cầu may mắn. Nó đã không quan trọng với tôi. Tôi đang trên đường tìm một ly sô cô la nóng với người bạn của tôi.
 Một cậu bé nói gì đó với tôi. Cậu ta cũng làm như tôi. Tôi nghĩ cậu phải nói với tôi rằng tôi đã đánh rơi một cái gì đó hoặc là tôi không thể đi theo cách đó hay rằng phòng treo quần áo đã bị khóa. Tôi không hiểu rằng cậu ta đã yêu cầu tôi nhảy cho đến khi cậu nói một lần nữa. Đó là  Raymond Bolting từ lớp của chúng tôi, người mà tôi chưa bao giờ nói chuyện với cậu ta trong đời tôi. Cậu ta nghĩ tôi đồng ý. Cậu ta đặt tay lên eo tôi và hầu như chẳng cần phải giải thích, tôi bắt đầu nhảy.
 Chúng tôi di chuyển vào giữa sàn nhà. Tôi đang nhảy. Chân tôi đã quên run rẩy và tay tôi đổ mồ hôi. Tôi đang nhảy với một chàng trai đã mời tôi. Không ai bảo cậu ta làm việc ấy, cậu  không phải nói, mà cậu ấy chỉ mời tôi. Điều đó có chắc vậy không, tôi có thể tin được chăng, rút cục  không có vấn đề gì quan trọng với tôi chứ ?
 Tôi nghĩ rằng tôi nên nói với anh ấy là có một trục trặc, rằng tôi sắp dời đi, tôi sẽ đi lấy một ly sô cô la nóng với bạn nữ của tôi. Nhưng tôi đã không nói được gì cả. Khuôn mặt của tôi đã có sự điều chỉnh tinh tế nhất định, đạt được như ý mà không có nỗ lực chút nào trước những cái nhìn vừa đãng trí vừa nghiêm trang của những người đã được chọn, những người đang nhảy. Đây là khuôn mặt mà Mary Fortune đã thấy khi cô nhìn ra ngoài cửa phòng treo áo, khăn quàng cổ xòe xung quanh đầu. Tôi đã thực hiện một chuyển động vẫy nhẹ với bàn tay đặt trên vai của cậu bé, ý là tôi xin lỗi, rằng tôi không biết những gì đã xảy ra và cũng có thể  là không cần chờ đợi tôi. Sau đó, tôi quay đầu đi, và khi nhìn lại thì cô ấy đi rồi.
 Raymond Bolting đưa tôi về nhà và Harold Simons đưa Lonnie về. Tất cả chúng tôi đi cùng nhau  xa dần lối rẽ của Lonnie. Các chàng trai đang tranh luận về một trò chơi khúc côn cầu, mà Lonnie và tôi không thể đi theo chơi. Sau đó, chúng tôi chia thành các cặp vợ chồng và Raymond tiếp tục với tôi cuộc trò chuyện anh ta đang có với Harold. Anh dường như không nhận thấy rằng lúc này anh đang nói chuyện với tôi. Một hoặc hai lần tôi đã nói, “Ui, tôi không biết, tôi đã không nhìn thấy trò chơi  đó,” nhưng sau một thời gian tôi quyết định chỉ để nói, “H’m, hmm”, và dường như đó là tất cả những gì cần thiết.
 Một điều khác anh đã nói là, “Tôi không nhận ra bạn đã sống lâu theo cách đó.” Và anh sụt sịt. Cái lạnh đã làm mũi tôi chảy một chút, và tôi đã thọc ngón tay của mình qua giấy gói kẹo trong túi áo khoác của tôi cho đến khi tôi tìm thấy một cái kẹo Kleenex tồi tàn. Tôi không biết liệu tôi có nên mời anh ta hay không, nhưng anh sụt sịt lớn tiếng đến nỗi cuối cùng tôi nói: “Tôi chỉ có một cái Kleenex này, nó có thể thậm chí không sạch, nó có thể bị vấy mực. Nhưng nếu tôi xé nó ra hai phần, hai chúng tôi đều có một cái gì đó. “
“Cảm ơn,” anh nói. “Tôi chắc là có thể sử dụng được nó.”
 Đó là một điều tốt, tôi nghĩ, rằng tôi đã làm điều đó, tại cửa nhà tôi, khi tôi nói: “Vâng, chúc ngủ ngon”, và sau khi anh nói, “Oh, yeah. Chúc ngủ ngon”, anh cúi người về phía tôi và hôn tôi,  ngắn ngủi, với không khí của một người biết công việc của mình khi nhìn nó, trên khóe miệng của tôi. Sau đó, anh quay trở lại thị trấn, không bao giờ biết rằng anh đã là người cứu hộ của tôi, rằng anh đã mang lại cho tôi từ lãnh thổ của Mary Fortune vào thế giới bình thường.
 Tôi đã đi xung quanh nhà để ra cửa sau, suy nghĩ, tôi đã đến một buổi khiêu vũ và một cậu bé đã đi bộ đưa tôi về nhà và hôn tôi. Đó là tất cả sự thật. Cuộc sống của tôi có thể là triển vọng. Tôi đã đi qua cửa sổ nhà bếp và nhìn thấy mẹ tôi. Bà đang ngồi gác chân trên cửa lò mở, uống trà trong một cốc không có đĩa. Bà chỉ ngồi và chờ đợi tôi trở về nhà và nói tất cả mọi chuyện đã xảy ra. Và tôi sẽ không làm điều đó, tôi sẽ không bao giờ làm thế. Nhưng khi tôi nhìn thấy nhà bếp chờ đợi, và mẹ tôi trong bộ kimono Paisley đã bạc màu, với khuôn mặt buồn ngủ nhưng kiên trì chờ đợi, tôi hiểu  một nghĩa vụ bí ẩn ngột ngạt mà tôi đã có để được hạnh phúc, và tôi đã gần như thất bại thế nào đó, và gần như thất bại, mọi lúc, và bà ấy sẽ không biết được.
 Hết
 (nguồn: From Dance of the Happy Shades: And Other Stories (Vintage, 1998). Reprinted by permission of The Random House Group Limited.)
 An Giang 13/11/2013
PHN


[1] .Wordsworth:  William Wordsworth (7.4.1770 – 23.4.1850): nhà thơ lãng mạn người Anh (ND chú thích)
[2] .Những ngày cuối cùng của thành Pompeii (nguyên tác tiếng Italia). Đây là tác phẩm  viết từ năm 79 sau công nguyên (tức thế kỷ 1, viết về con người, tình yêu và thiên nhiên cách đây đã 20 thế kỷ, xuất bản lần đầu năm 1834. Nhưng dường như những gì chứa đựng trong cuốn sách vẫn chưa cũ, chưa lạc hậu chút nào (ND chú thích)
[3] . Trò chơi Xs và Os: có lẽ là cờ ca rô, một bên đánh dấu X, bên kia khuyên chữ O, chặn đầu nhau liên tục…(ND)

Sự thật vô cùng đơn giản


Sự thật vô cùng đơn giản

Tác giả : Song Chi (13 Nov 2013)


Trong số những câu nói mà đám an ninh, bồi bút, dư luận viên trên mạng thường xuyên đem ra sử dụng để “dân vận” từ những người đi biểu tình chống TQ, những người viết bài, viết blog “lề trái” cho tới những người hoạt động dân chủ, đó là “Mọi chuyện đã có đảng, có nhà nước lo. Anh hay chị hãy cứ làm tốt những bổn phận công dân của mình đi đã, tức là yêu nước rồi. Đừng quan tâm đến chính trị làm gì”. Hoặc “Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc”…Nghe mãi đâm ra thuộc lòng!
Nhưng phải đến khi sống ở nước ngoài, tôi mới thực sự thấm thía cái câu “nhà nước lo, chính phủ lo”. Bởi vì ở các nước tự do, dân chủ, phát triển, đúng là người dân được nhà nước lo mọi thứ thật.
Đẻ con ra thì nhà nước phụ nuôi từ lúc mới sinh cho tới khi 18 tuổi, chuyện học hành hoàn toàn miễn phí, có quốc gia còn lo cả bữa ăn nhẹ ở trường mẫu giáo, cả sách vở miễn phí cho học sinh ở bậc tiểu học, lớn lên một chút đi học đại học thì mượn nợ nhà nước sau này ra đi làm trả lại, bất cứ việc gì lớn trong đời như xây nhà, lập gia đình, mở tiệm kinh doanh…đều có thể vay vốn nhà nước, lúc đau yếu, thất nghiệp, khi già cả…thì nhà nước nuôi. Còn nếu sinh ra đã tàn tật, thiểu năng, chậm phát triển hoặc sau này vì nguyên nhân nào đó mà bị tâm thần, nhà nước cũng sẽ nuôi cả đời.
Tất nhiên, chi phí cho tất cả chính sách an sinh xã hội là do đồng thuế của người dân đóng góp. Nhưng chí ít người dân còn thấy được đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của mình đi về đâu. Và cả cuộc đời, con người bớt đi được nhiều nỗi lo lắng bởi biết chắc rằng, dù có chuyện gì xảy ra với mình, họ cũng sẽ có thể cậy nhờ đến nhà nước, đến chính phủ.
Còn ở VN?
Có bao giờ người dân Việt tự hỏi, tính theo tỷ lệ đồng lương thì tất cả các thứ thuế, phí mà người VN đóng so với các nước khác là nặng hay nhẹ? Và những đồng tiền thuế ấy đi đâu hay nói cách khác, chúng ta còng lưng đóng thuế nuôi nhà nước, nuôi bộ máy quan chức cán bộ đông đảo như bầy sâu kia để được gì, đảng và nhà nước lo được gì cho dân?
Rất nhiều người dân, do quán tính, do bị nhồi sọ bao nhiêu năm cứ mở miệng ra là nhờ ơn đảng, ơn chính phủ, không có đảng, chính phủ nuôi cho ăn học thì…Đảng nào, nhà nước nào nuôi hay ngược lại, dân phải è cổ nuôi đảng, nuôi nhà nước, mà bất cứ chuyện gì dân cũng phải tự lo, phải xòe tiền ra?
Đó là chưa kể mỗi người dân VN đang phải gánh trên lưng món nợ nước ngoài cứ mỗi năm mỗi tăng do cung cách làm ăn kém cỏi, làm thì ít phá thì nhiều, nạn tham nhũng nặng nề, cộng với thói hoang phí, vô trách nhiệm của một đám quan chức cán bộ bất tài kém đức nữa kia.
Rất nhiều người dân cho đến giờ phút này vẫn cứ suy nghĩ “nhờ có đảng cộng sản đánh Pháp đuổi Mỹ, thống nhất đất nước, mở cửa làm ăn với thế giới chúng ta mới có ngày hôm nay, chứ hồi chiến tranh chống Mỹ hay thời bao cấp còn khổ hơn thế này nhiều…” Nghĩa là lại đi so sánh với chính mình, với cái thời miền Bắc trong chiến tranh và cả nước thời bao cấp để rồi tự an ủi “như thế này đã là may mắn lắm, sung sướng lắm rồi”.
Xin hãy làm ơn so sánh với các nước khác, cùng trong một khoảng thời gian mấy chục năm như vậy, nước người ta đi tới đâu, và VN hiện nay như thế nào so với thế giới, mà không, chưa cần nói đến thế giới, chỉ so với các nước láng giềng chung quanh thôi, ta hiện nay đang cách Thái Lan, Singapore, Indonesia, Đài Loan, Hàn Quốc….bao nhiêu năm?
Từ kinh tế, thu nhập đầu người, an sinh xã hội cho tới giáo dục, thành tích văn hóa nghệ thuật, kể cả bóng đá và…thi hoa hậu, có cái gì chúng ta hơn được nước khác không. Trong những bảng đánh giá, xếp hạng toàn cầu về chỉ số tự do dân chủ, tự do ngôn luận, chỉ số phát triển con người, chất lượng cuộc sống…chúng ta đứng ở thứ bậc bao nhiêu, xếp trên tổng số tất cả các quốc gia?
Khi đã nhìn ra được những điều đơn giản như vậy, tâm lý của người dân đối với cái chế độ này, cái đảng, nhà nước này sẽ khác đi nhiều lắm. Sự thay đổi bắt đầu từ những suy nghĩ, lập luận nhỏ nhất là vậy.
Cho đến bây giờ, trừ những người bị tẩy não đến độ không có khả năng tự điều chỉnh suy nghĩ, nhận thức, những người quá mù quáng hoặc tự lừa dối mình, tôi tin rằng phần đông người Việt đều nhận ra tình trạng tồi tệ trong mọi lĩnh vực của cái xã hội mà chúng ta đang sống. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng thừa nhận nguyên nhân.
Đã qua cái thời để có thể đổ thừa do “tàn dư của chế độ Mỹ ngụy để lại”, do hậu quả chiến tranh kéo dài quá lâu, do đất nước bị cấm vận, lại càng không thể đổ thừa “mọi sự xấu xa là do nền kinh tế thị trường cộng với ảnh hưởng của lối sống tư bản phương Tây tràn vào xã hội”! …Duy nhất cầm quyền trong bao nhiêu năm, đảng và nhà nước cộng sản phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi sự tồi tệ, trì trệ, lạc hậu, thua kém của VN hiện tại, xuất phát từ một nguyên nhân hết sức đơn giản, rõ ràng: đảng và nhà nước cộng sản VN chưa và không bao giờ đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên hết, chưa và không bao giờ vì dân vì nước.
Chỉ cần thay đổi não trạng, đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên, đặt con người lên trên, mọi sự sẽ thay đổi.
Cứ từ những chuyện nhỏ mà suy ra. Một thẩm phán trước khi quyết định kết án tử hình hoặc chung thân một con người mà chưa thật yên tâm về bằng chứng phạm tội, nếu biết đặt quyền sống của con người lên trên, sẽ tạm trả tự do thay vì kết án, để tránh gây ra một bản án oan khuất.
Một cán bộ y tế nếu biết đặt mạng sống con người lên trên hết sẽ không bao giờ có thể thờ ơ, chậm trễ, quan liêu, tắc trách, dẫn đến những cái chết oan ức, tức tưởi của bệnh nhân.
Một nhà báo, một nhà văn, người nghệ sĩ sáng tác cho tới nhà sản xuất, nếu vì con người, sẽ luôn luôn cân nhắc sản phẩm mà mình tạo ra, dù là sản phẩm tinh thần hay vật chất, hàng hóa… có thực sự phục vụ con người, làm cho xã hội tốt đẹp hơn hay là của giả, của dỏm, hàng độc hại, xả thêm rác rưởi vào xã hội.
Một quan chức, cán bộ lãnh đạo nếu vì dân vì nước, khi nhận ra mình sai trái hoặc bất tài sẽ tự giác từ chức vì như thế là có lợi cho dân cho nước hơn.
Một đảng cầm quyền nếu thật vì dân vì nước sẽ luôn luôn cân nhắc trước khi quyết định bất cứ việc gì có ảnh hưởng tới đất nước, dân tộc, từ quyết định lao vào cuộc chiến tới cùng bất chấp cái giá phải trả hay chấp nhận thống nhất bằng con đường khác, cho tới việc dũng cảm thừa nhận sai lầm, lựa chọn một con đường đi tốt đẹp hơn cho đất nước, cho dân tộc. Từ việc ký một hợp đồng thương mại với nước khác, gật hay lắc với những dự án bauxite Tây Nguyên, điện hạt nhân, đường sắt cao tốc, soạn thảo một chính sách, cho tới sửa đổi bản Hiến pháp…Tất cả cuối cùng là lợi cho ai? Cho dân, cho nước hay cho chính đảng cầm quyền?
Cho dù còn mê muội đến đâu, nếu một khi đã đặt ra được câu hỏi và tự trả lời, chúng ta sẽ nhận ra bản chất của đảng cầm quyền có thật là ưu việt, vĩ đại, bản chất của chế độ, có thật là một nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Có ai đếm được bao nhiêu sai lầm, bao nhiêu cơ hội bị bỏ lỡ của đất nước trong suốt gần bảy thập kỷ qua?
Và mới đây nhất, với việc bỏ qua mọi lời góp ý tâm huyết, mọi lời kêu cứu, ta thán, tức giận của các tầng lớp nhân dân, bỏ qua mọi cơ hội thay đổi nhằm cứu vãn đất nước, tiếp tục giữ nguyên hệ thống mô hình chính trị lạc hậu, thậm chí còn củng cố hơn nữa vị trí độc tôn lãnh đạo trong bản Hiến pháp sắp được thông qua, đảng cộng sản thật sự đã cho thấy sự tê liệt, không có khả năng tự cải cách cũng như chỉ biết có sự tồn vong của chính nó.
Và nếu một khi cái đảng cầm quyền chưa và không bao giờ vì dân vì nước, thậm chí còn là nguyên nhân của mọi sự trì trệ, lạc hậu, là lực cản của đất nước, vậy cái lý do gì người dân lại cứ để cho cái đảng ấy tiếp tục độc quyền lãnh đạo?
Sự thật bao giờ cũng đơn giản.

Source : Goc nhin Alan 


Chào Việt Nam-Thành viên Hội Đồng Nhân Quyền


Chào Việt Nam-Thành viên Hội Đồng Nhân Quyền

Nguyễn Khắc Mai
Việt Nam vừa được bầu vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hiệp quốc. Theo Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thì có hai yếu tố để thiên hạ bầu mình với tỷ lệ cao tuyệt đối. Một là, do những thành tích mà VN đã đạt được, và hai là công việc lóp bi của ngành ngoại giao, tất nhiên là phải theo phương châm: ”tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại.”
Như thế VN cũng đã ngồi vào ghế của một cơ quan LHQ, để gánh vác một trách nhiệm to lớn của nhân loại ngày nay, vấn đề nhân quyền. Như người xưa nói: tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Bình không phải là đem quân đi bình định như Tàu đem quân đánh chiếm Hoàng Sa của VN năm 1974. Bình ở đây có nghĩa là đóng góp, phấn đấu làm cho Nhân quyền, trở thành giá trị phổ cập, bình thường của nhân loại hôm nay. Nhiệm vụ thật vẻ vang, trách nhiệm thật năng nề.
Cố nhiên, để làm được sứ mệnh mà quốc tế tin cậy và ủy thác, thì phải làm thật sự, phải cố gắng vươn lên nhiều lắm. Việc quan trọng có ý nghĩa số một là phải làm cho nhân dân mình rồi cả thế giới đều tin rằng nhân quyền là thứ có thật, nó không phải là những lời hoa mỹ để tuyên truyền, nó là chất lượng cuộc sống xứng đáng của con người ở trình độ văn minh phổ biến ngày nay của nhân loại. Phải làm cho thế giới cũng tin rằng ở VN nhân quyền được nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, và cũng phấn đấu để thực hiện nó trong đời sống chính trị và xã hội của Đất nước.
Thế thì vừa hòa nhập vào biển lớn, lại phải biết dọn dẹp cho sạch sẽ, văn hóa cái ao nhà. Không thể để tồn tại nhiều án oan sai, đánh đập tra khảo bức cung, cướp đất của nông dân trắng trợn đẩy người dân lương thiện đến chỗ cùng đường, mạt lộ, bần cùng, khốn khổ. Không thể để tiếp diễn tai nạn giao thông cũng đang thành quốc nạn. Không thể đối xử với người khác chính kiến, những người yêu nước chống hiểm họa ngoại bang cướp đảo, phạm tội ác hải tặc với ngư dân VN ngay trên vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta…một cách thô bạo kém văn hóa, vi phạm cả những nguyên tắc sơ đẳng về nhân quyền v.v..
Chào một Việt Nam có trách  nhiệm, có văn hóa nhân quyền, để rồi khi hết nhiệm kỳ, chúng ta đã có một bản lĩnh mới, một chất lượng mới của Dân tộc./.
N.K.M.

13/11/13

Trí thức miền Nam sau 75


Trí thức miền Nam sau 75
Tác giả: Một Chứng Nhân Của Lịch Sử (Một BCA gởi cho GNA)


Sau ngày 30-4-1975, Chu Phạm Ngọc Sơn là một nhà chuyên môn hợp tác toàn diện với chế độ. Ông và một số nhà khoa học khác thường không câu nệ khi nhận các đơn đặt hàng thực hiện những công trình “khoa học” phục vụ nhu cầu chính trị. Theo Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Kim Báu: “Những năm ấy, các trí thức Sài Gòn vẫn nhận được điện thoại từ Văn phòng Thành ủy hỏi xem: ‘Có công trình khoa học chào mừng 3-2 hay 19-5 không?’.


Những Giáo sư như Phạm Biểu Tâm, Lê Văn Thới thì mắng ngay: ‘Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả’. Nhưng một số người khác thì có, người thì làm ra chất tẩy rửa ‘pentonic’, người chứng minh ‘ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò’, người thì ‘ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo’. Nhưng ngay cả những ‘nỗ lực’ đó cũng không giúp kiến tạo được lòng tin”.


Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn kể: “Nhìn vào lý lịch, thấy trước đây năm nào tôi cũng đi Mỹ nghiên cứu hoặc đi dạy, người ta cứ thắc mắc sao đi Mỹ quá trời. Tôi nộp đơn xin vô Hội Trí thức Yêu nước, mấy lần bị từ chối”. Năm 1980, trong thời gian Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn đi Liên Xô, một người con của ông vượt biên không thành. Người con gái của ông cũng cảm thấy bế tắc khi thi không đậu vào dự bị y khoa. Biết chuyện, ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện, khi hiểu thêm nội tình, ông nói với Giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.


Ông Huỳnh Kim Báu kể: Sau giải phóng, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn vào Sài Gòn, sau khi nghe Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân báo cáo tình hình, ông nói: “Nãy giờ có một chiến lợi phẩm rất lớn mà các đồng chí không đề cập, đó là lực lượng trí thức được đào tạo từ nhiều nguồn. Lenin nói, không có trí thức là không có xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Kim Báu, cách mà chính quyền sử dụng trí thức chủ yếu là “làm kiểng”.


Giáo sư Phạm Hoàng Hộ tuy ở thời điểm đó vẫn còn là hiệu phó Đại học Khoa học, nhưng theo ông Báu: “Đấy chỉ là một chức vụ bù nhìn, không có vai trò gì trong giáo dục”. Giáo sư Hộ là hiệu phó nhưng không phải đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì những người trong Đảng họp riêng, quyết định xong, có việc nói vớiông, có việc ông không bao giờ được biết. Từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”.


Giáo sư Phạm Hoàng Hộ nói lên điều này sau khi chính ông đã được trải nghiệm trong những ngày học chính trị. Năm 1977, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức miền Nam đã được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ba, người tham gia tổ chức lớp học này, kể: “Chính quyền tưởng rằng sau lớp học sẽ có được một tầng lớp trí thức của chế độ cũ yêu mến và phụng sự chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu như Marxism đã từng được các trí thức miền Nam quan tâm như là một môn khoa học thì giờ đây họ lại nghe những giảng sư miền Bắc nói về Marx hết sức giáo điều. Chưa kể, những người đứng lớp còn rao giảng với tư thế của người chiến thắng, tự tôn, tự đắc”.


Những đảng viên tham gia lớp học như ông Võ Ba cũng thừa nhận: “Trước giới trí thức Sài Gòn, chính quyền đã thất bại ngay trong lần trình diễn đầu tiên”.


Chưa kết thúc lớp học, Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung, một giáo sư triết học nổi tiếng của Sài Gòn, một người được coi là “hằn học với Giáo hội”, đã coi cộng sản cũng là “một giáo hội”. Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức “kiểm điểm” mà cộng sản áp dụng trong sinh hoạt chính là một thứ “xưng tội man rợ”. Về đường lối, ông cho rằng: “Có thể có những điều Lenin nói đã đúng vào năm 1916, nhưng sau bảy mươi năm mà ta áp dụng là không lý trí”.


Còn Giáo sư Châu Tâm Luân thì khi nghe các giảng sư miền Bắc say sưa nói về con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản” đã mỉa mai: “Sao không tìm hiểu xem sau chủ nghĩa cộng sản là gì để nhân tiện bỏ qua, mình bỏ qua luôn hai, ba bước”. Giáo sư Châu Tâm Luân lấy bằng tiến sỹ về kinh tế nông nghiệp ở Đại học Illinois, Mỹ, năm hai mươi lăm tuổi, trở về dạy cùng lúc ở hai trường đại học Minh Đức và Vạn Hạnh. Ông là một trong những trí thức phản chiến hàng đầu, bị chế độ Sài Gòn bắt giam đầu năm 1975 cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 mới được Chính quyền Dương Văn Minh thả ra. Giáo sư Châu Tâm Luân là một thành viên của nhóm “sứ giả” được ông Dương Văn Minh phái vào trại Davis 300 và được giữ lại ở đây cho đến trưa ngày 30-4-1975. Sau giải phóng, chính quyền xếp ông vào diện “người của ta”. Ông là đại biểu khóa I Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.


Về phía mình, Giáo sư Châu Tâm Luân cũng là một trong những trí thức kỳ vọng nhiều vào chế độ mới. Mấy tháng “sau giải phóng”, giá cả sinh hoạt tăng vọt lên, trong khi dân tình lo âu thì ông lại cho là giá tăng vì “tâm lý”, giống như cách giải thích thời ấy của chính quyền301. Sau khi cho rằng nhà nước không thể dùng ngoại tệ để nhập hàng như trước đây, Giáo sư Châu Tâm Luân viết: “Giờ đây không còn bọn tay sai đem máu của con em nhân dân đổi lấy đô la nữa thì cần phải tiết kiệmtối đa số ngoại tệ mà dân phải lao động đổ mồ hôi mới đem về được cho quốc gia… Vì vậy ngoài sự tiếp tay chánh quyền kiểm soát gian thương, chúng ta cũng cầnkềm hãm bớt kẻ địch ở ngay trong lòng mình…”302.


Khi trao cho Giáo sư Châu Tâm Luân nhiều trọng trách, Chính quyền nghĩ đơn giản ông là người “dùng” được. Nhưng, cũng như nhiều trí thức Sài Gòn, ông đã không hành xử như là một công cụ. Từ năm 1976, Giáo sư Châu Tâm Luân không được đứng lớp vì kiến thức kinh tế của ông là “kinh tế tư bản”, tuy nhiên, ông vẫn còn được để ngồi trong Hội đồng Khoa học của trường. Chỉ ít lâu sau, Đảng ủy trường nhận xét ông muốn “tranh giành lãnh đạo với Đảng”.


Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi ngạc nhiên, chế độ cũ hai lần giao chức cho tôi mà tôi có màng tới đâu”. Nhưng té ra vấn đề không phải là “ghế”, mà là những ý kiến của ông ở Hội đồng Khoa học luôn luôn khác với ý kiến của chi bộ. Trong một cuộc họp, khi nghe ông Đỗ Mười thao thao nói về “hợp tác hóa”, về chủ trương phải đưa những người bần cố nông lên làm lãnh đạo hợp tác và “phải đào tạo họ”, Giáo sư Luân hỏi: “Nhà nước định đào tạo trong bao lâu?”. Ông Đỗ Mười nói: “Tình hình gấp rút, đào tạo ba ngày”. Giáo sư Châu Tâm Luân nhớ lại: “Tôi bắt đầu ngao ngán vì muốn thay đổi thì phải bắt đầu từ cái đầu mà… những ‘cái đầu’ thì như thế”. Sau lần gặp ông Đỗ Mười, nhà kinh tế nông nghiệp Châu Tâm Luân được đưa về Viện Khoa học Xã hội.


Không chỉ có những đụng độ tại cơ quan. Ở Hội đồng Nhân dân, Giáo sư Châu Tâm Luân là trưởng Ban Nông nghiệp. Trong một phiên họp toàn thể thảo luận về các chương trình khoa học của Thành phố, sau khi nghe ông Luân tranh luận, một đại biểu trong Hội đồng mặc quân phục đứng dậy xin ngưng cuộc cãi vã, và lớn tiếng: “Các chuyên viên đã để ra rất nhiều thời giờ soạn thảo, đại biểu đó tư cách gì mà đòi sửa qua sửa lại”. Ông Luân cố dằn lòng: “Tôi xin ngưng cuộc thảo luận, bởi như vị đại biểu vừa nói, đã có các chuyên viên nghiên cứu cho chúng ta rồi thì chúng ta chỉ còn là chuyên viên giơ tay thôi”. Chủ trì phiên họp, ông Mai Chí Thọ không nói gì, chỉ yêu cầu biểu quyết. Nhìn thấy ông Luân không giơ tay, ông Mai Chí Thọ hỏi: “Ai không chấp thuận?”. Ông Luân cũng không giơ tay, ông nói: “Toàn thể chấp thuận, một phiếu trắng”.


Một số cán bộ cách mạng tốt bụng bắt đầu lo lắng cho vị giáo sư trẻ tuổi này, một trưởng Ban Đảng khuyên: “Tôi sáu mươi tuổi, người ta vẫn xem tôi như con nít, phải ăn nói thận trọng lắm. Anh nhớ, anh chỉ mới hơn ba mươi tuổi”. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tại diễn đàn của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đề nghị phải áp dụng ‘kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước’. Ông Xuân Thủy nghe, nói với tôi: ‘Anh phải có người đỡ đầu, anh về nói với Sáu Dân đi’. Tôi trả lời ông Xuân Thủy: ‘Nếu tôi nói đúng thì các anh phải nghe chứ sao lại cần người đỡ đầu?’.


Sau đó, ông Mai Chí Thọ nhắc: ‘Cậu đúng, nhưng áp dụng như vậy thì phức tạp quá, làm sao chúng tôi quản lý được. Muốn làm phải có những người như cậu. Mà nói thật chúng tôi chưa thể tin hoàn toàn những người như cậu’”.Theo ông Luân: “Những năm ấy, tôi chê ông Võ Văn Kiệt nhát, ‘xé rào’ là vá víu; phải ‘phá vỡ’ để áp dụng kinh tế thị trường chứ không thể phá những đoạn rào. Ông Mai Chí Thọ nghe, nhắc: ‘Phải giữ chính quyền trước hết, chính sách sai thì còn sửa được chứ mất chính quyền là mất hết’. Về sau tôi mới thấy ông Mai Chí Thọ đã nói rất thật lòng, họ đã ngủ rừng hàng chục năm để có chính quyền, làm sao họ để mất cái mà họ vừa giành được đó”.


Hai vợ chồng Giáo sư Châu Tâm Luân đều học ở Mỹ. Trước năm 1975, gia đình ông đã định cư ở một nước Bắc Âu, nhưng cả hai đều chọn con đường về nước. Sau năm năm cố gắng chòi đạp trong chế độ mới, ông không tìm thấy một cơ may thay đổi nào. Đầu năm 1979, ông vẫn còn được trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài, nhưng càng về sau thì không thấy nhà báo nào gặp ông nữa. Giáo sư Châu Tâm Luân nói: “Tôi bắt đầu có dự cảm bất ổn. Khi tình cờ gặp một vài phóng viên, nghe họ nói mấy lần đến Việt Nam xin gặp tôi đều được chính quyền trả lời là Giáo sư Châu Tâm Luân đang đi công tác xa. Tôi biết tôi đang dần dần bị cô lập”.


Dù từng hoạt động trong các phong trào chống đối dưới chế độ Sài Gòn, ông Huỳnh Kim Báu vẫn phải thừa nhận: “Trước 1975, mặc dù chính quyền bị coi là bù nhìn, nhưng trí thức vẫn được trọng dụng, họ có quyền thực sự trong chuyên môn. Sau giải phóng, chính quyền được nói là của mình nhưng trí thức gần như chỉ được dùng như bù nhìn, trong khi đa phần họ là những người khảng khái”.


Năm 1977, có lần hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Biểu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?”. Ông Phạm Biểu Tâm nguyên là chủ tịch Hội Sinh viên Hà Nội trước 1945. Năm 1963, con gái Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy thi y khoa đã bị ông đánh rớt dù bị nhà Ngô gây áp lực. Ông là một nhà giáo được sinh viên kính nể. Ông Tâm được nói là rất quý ông Kiệt, nhưng có lẽ do quá bị dồn nén, ông đứng dậy nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.


Một thời gian sau, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trả lại chức hiệu phó. Trường sợ mang tiếng không nhận, ông khóa phòng, giao chìa khóa, tự chấm dứt vai trò “chim kiểng” của mình. Theo ông Võ Văn Kiệt, Thành ủy vẫn để Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hàng năm sang Pháp dạy học. Trong một lần đi Pháp, ông ở lại luôn bên đó rồi viết thư về cho ông Kiệt nói rằng, công việc nghiên cứu nhiều, ông cần phải ở nơi có phương tiện cho ông làm việc, khi nào đất nước thực sự cần, ông sẽ về.


Còn Giáo sư Châu Tâm Luân, nhân một buổi tối rủ ông Võ Ba tới nhà chơi, đã đưa cho Võ Ba coi một tập đánh máy hai mươi trang về “tình hình kinh tế nông nghiệp miền Nam”, rồi nói: “Võ Ba ơi, mình rất mừng vì bản báo cáo này của mình đã được Mặt trận Tổ quốc đánh máy gởi đi. Hai lần trước thì họ không chịu đánh máy. Nhưng, Võ Ba ạ, họ đánh sai hết, những thuật ngữ như ma trận họ đánh thành mặt trận ông ạ”.

Mấy hôm sau, Võ Ba chạy qua nhà Giáo sư Luân thì thấy cửa đóng, bên trong thấp thoáng bóng mấy công an đến “chốt nhà”. Cho dù, sang tới Thái Lan ông bị các thuyền nhân khác đánh rất đau, khi viết thư về, trả lời câu hỏi của ông Huỳnh Kim Báu, “liệu vượt biên có phải là một quyết định sai lầm”, Giáo sư Châu Tâm Luân vẫn cả quyết: “Không, Báu! Dù phải trả giá đắt, mình vẫn thấy đi là đúng”.


Trong số các trí thức miền Nam, ông Võ Văn Kiệt “xếp” Giáo sư Châu Tâm Luân vào hàng “khó tính”. Tuy nhiên, ông kể: “Đến nhà Châu Tâm Luân mình rất thích vì ảnh thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có khi như búa bổ. Ảnh hy vọng khi đất nước hòa bình, với sự phì nhiêu của đất đai miền Nam, sẽ có dịp thi thố giúp phát triển nền nông nghiệp. Nhưng một thời gian sau, thấy cơ chế như thế thì không thể nào đóng góp được”.


Một người khác từng quen biết Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt nhưng cũng phải vượt biên là Kỹ sư Phạm Văn Hai, giám đốc nhà máy dệt Phong Phú. Ông Phạm Văn Hai là người đưa kỹ nghệ nhuộm vào miền Nam. Ông có hai người con, một người được đặt tên là Phạm Chí Minh, một người là Phạm Ái Quốc. Sau ngày 30-4, ông Phạm Văn Hai vẫn nhiệt tình tư vấn để phục hồi ngành dệt và nghiên cứu chất kích thích cây cỏ.

Nhưng năm 1977 ông quyết định “đi”. Vượt biên hai lần, cả hai lần đều bị bắt. Lần đầu bị bắt ở Kiên Giang, Thành ủy lãnh. Lần hai, bị bắt ở thành phố, ông Võ Văn Kiệt vào thăm, ông Hai nói: “Cho dù anh quan tâm nhưng như thế này thì không làm được”. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Những người như Kỹ sư Phạm Văn Hai, như Giáo sư Châu Tâm Luân…, nếu chỉ khó khăn về cuộc sống họ sẽ vượt qua, nhưng nếu bị đặt vào hoàn cảnh không thể đóng góp thì họ không chịu được. Tôi cũng không biết làm gì hơn, chỉ đề nghị mấy ảnh đừng vượt biên nguy hiểm”.


Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Tôi tiếc đứt ruột khi để những anh em trí thức ấy ra đi, nhưng biết là nếu họ ở lại thì cơ chế hiện thời cũng chưa cho phép mình sử dụng họ”. Trước khi vượt biên, ông Dương Kích Nhưỡng, một công trình sư cầu cống, thủy điện, nói với ông Võ Văn Kiệt: “Ước mơ của các anh rất đẹp, nhưng các anh làm như thế này là không được. Đi đâu cũng nghe nói tới nghị quyết, làm cái gì cũng chỉ theo tinh thần nghị quyết này, chủ trương kia thay vì theo pháp luật. Trị nước mà bằng nghị quyết và chỉ thị chung chung thì không được”.


Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu nhớ lại: ông Kiệt biết là các trí thức bắt đầu vượt biên, ông gọi tôi lên và dặn “Nghe ngóng, nếu có anh em trí thức bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Khi nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam Kỹ sư Dương Tấn Tước, ông Kiệt cấp giấy cho ông Báu ra Bình Thuận xin “di án về Thành phố”. Ông Báu kể: “Công an Bình Thuận thấy giấy của Thành ủy thì cho nhận ‘can phạm’. Nhưng khi anh Tước thấy tôi mừng quá định kêu lên, tôi đã phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho Kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.


Đích thân ông Kiệt cũng nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức. Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thời đó của ông, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Nhưng phần lớn các trí thức đã ra đi lặng lẽ. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi đi tất cả sáu lần. Lần bị giữ lâu nhất là ở Rạch Giá, cả tháng trời. Nhưng tôi không khai mình là ai. Như bốn lần trước, ở nhà cứ lo một cây vàng thì được thả”.


Có những người không chịu nhờ Thành ủy, hoặc “lo” bằng vàng. Theo ông Huỳnh Kim Báu, khi vượt biên bị bắt, Giáo sư Lê Thước đã tự sát.
!!!!!!!!!!!!!!

Source : gocnhinalan.com

Phạm Chí Dũng - Những tiếng nổ ở Nội Hán và “Ngàn năm Bắc thuộc”


14/11/2013


Những tiếng nổ ở Nội Hán và “Ngàn năm Bắc thuộc”

Phạm Chí Dũng

Nhân quả
Thiên An Môn năm 2013 đã trở thành nhân quả cho Thiên An Môn năm 1989.
Xích xe tăng tưới máu sinh viên mùa hè năm 1989 đã trở thành tác nhân di chứng chế độ ngay dưới di ảnh Mao Trạch Đông và cuộc cách mạng văn hóa cùng ba chục triệu sinh mạng bị diệt vong của ông ta.
Bây giờ thì chuyện gì có thể xảy ra và sẽ xảy đến với thể chế chính trị Bắc Kinh?
Sau cuộc tấn công bằng xe jeep gây ra nhiều cái chết ở quảng trường Thiên An Môn vào tháng 11/2013 mà giới tuyên giáo Trung Quốc đồng loạt lên án là “khủng bố”, chính thể cầm quyền chuyên chế và độc đoán ở quốc gia bị xem chỉ còn vỏ cộng sản này đã không còn có thể nói đến chuyện an toàn trong bất kỳ căn phòng trú ẩn nào.

Tiếng nổ lan dần và lan nhanh trong lòng Nội Hán. Tiếng nổ đó khởi nguồn từ tiếng lòng bị xét nát của người dân và kết thúc bằng tia xé rách khối không gian u thẫm giữa bốn bức tường tăm tối.
Tiếng nổ đó được kích phát bởi tiếng kêu của quá khứ. Chỉ vài tháng sau khi đại hội lần thứ 18 đảng Cộng sản Trung Quốc kết thúc, đầu năm 2013 đã chứng kiến hành động đánh bom tự sát vào đám đông công quyền gây chấn động quốc gia này. “Thành công rực rỡ của đại hội 18” cũng hầu như gắn liền với tấm màn đen tang tóc ở thành phố Quảng Châu - thủ phủ tỉnh Quảng Đông.
Cách đây không lâu, một vụ đánh bom tự sát khác lại xảy ra, nhưng ngay tại sân bay Bắc Kinh. Dù bị báo đảng định hướng là tâm thần hay bức bối cá nhân, người tự sát cũng đã kịp để lại dấu ấn hằn học trên gương mặt loang lổ của chính thể.
Gần đây nhất vào tháng 11/2013, vụ đánh bom ở thành phố Thái Nguyên của Trung Quốc lại rất trùng hợp về thời điểm với vụ cài mìn xảy ra tại tỉnh Nghệ An ở Việt Nam. Nhưng tính hiệp thông sâu sắc nhất là cả bom và mìn đều nhắm vào trụ sở những cơ quan công quyền mang trên mình sứ mạng chăn dắt dân chúng.
Vụ đánh mìn Nghệ An lại xảy ra không bao lâu sau vụ người nông dân Đặng Ngọc Viết xả đạn vào dàn lãnh đạo của trung tâm quản lý quỹ đất tỉnh Thái Bình.
Chưa kể tiếng nổ của súng hoa cải - một loại vũ khí sát thương được tuồn qua cửa khẩu từ Trung Quốc…
Hàng loạt và hàng loạt tiếng nổ không ngớt ở nông thôn miền Bắc.
Dù không có cơ sở nào cho thấy có mối liên hệ giữa những hoàn cảnh tạo nên tiếng nổ ở Thái Bình và Nghệ An, nhưng khó có thể loại trừ mối liên hệ tâm lý giữa hai vụ địa chấn xã hội này. Tác động về não trạng trong tâm trạng bức xúc và phẫn nộ vượt quá giới hạn vẫn thường là nguồn cơn thúc đẩy người dân hành xử một cách tự phát và phần nào vô thức.
Nhưng vượt trên não trạng tự phát và vô thức trong phản ứng của xã hội Việt Nam, chủ đề này lại đang được cộng hưởng một cách có tổ chức và quy mô bởi những hành động bài bản và có kỷ luật ở Trung Quốc. Với vụ nổ bom ở thủ phủ Thiên An Môn, hẳn nhiên đó là một sự thách thức trực tiếp với lãnh tụ Mao Trạch Đông và bề dày gần bảy chục năm “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung quốc”.
Sâu xa hơn, cho dù bị xem là “khủng bố Tân Cương” thì cũng không thể phủ nhận rằng mối mâu thuẫn sắc tộc giữa dân tộc Duy Ngô Nhĩ với người Hán, và trên hết là với chế độ cầm quyền độc đoán, đã công nhiên vọt thành mối xung đột đối kháng đến mức sẵn lòng lấy mạng đổi mạng.
Đó cũng là nguồn gốc mà có thể sản sinh ra vô số cuộc bạo động, bạo loạn của hoàng hôn lịch sử chưa bao giờ ngưng máu đổ trong lòng dân tộc Trung Hoa.
“Minsky chính thể”
“Minsky chính thể” nên được xem là một khái niệm mới đối với sự vận động không thể coi là toàn vẹn của chế độ chính trị đương nhiệm Trung Quốc và những chính thể phụ thuộc quá sâu đậm vào nó.
Tại thời điểm Minsky, con nợ không còn khả năng thanh toán cho chủ nợ, khiến cho khối u bùng vỡ và màng dịch hôi thối tràn ra.
Ở Việt Nam, thời điểm Minsky dành cho nền kinh tế thực ra đã xuất hiện từ năm 2011, khi có ít nhất 15% số doanh nghiệp phải giải thể và phá sản, tồn kho nhà đất dâng cao như núi kéo theo món nợ truyền kiếp với các ngân hàng. Năm 2013 càng bùng nổ làn sóng siết nợ của các ngân hàng đối với con nợ, trong đó có đến 70% chúa chổm thuộc về thị trường đầu cơ bất động sản.
Nếu không thể thanh toán nợ, hiệu ứng Minsky sẽ lập tức hiện hình và mọi thứ sẽ có thể tung hê. Một sự sụp đổ dữ dội và kéo theo cuộc tháo chạy tán loạn sẽ diễn ra không kém thua gì hình ảnh vụ trường thác loạn và hỗn loạn khi bị cảnh sát đột phá.
Với những gì đã và đang xảy ra, có cơ sở để cho rằng nhà cầm quyền Trung Quốc đang phải trả một cái giá không hề rẻ cho những gì mà họ đã siết bức đối với tộc người Duy Ngô Nhĩ và vùng Tây Tạng.
Nhưng vẫn hầu như chưa có gì được ngộ ra từ giá cả. Dàn đồng ca tuyên giáo mới đây của Bắc Kinh vẫn không bớt hung hăng đe dọa sẽ “dập tắt tiếng nói của Đạt Lai Lạt Ma”.
Sau hơn 120 vụ tự thiêu của tu sĩ Tây Tạng để phản kháng chính sách đàn áp của Bắc Kinh, mọi chuyện vẫn đang tự cháy bỏng. Ngọn lửa phản kháng vẫn rừng rực và còn lâu mới bị dập tắt.
Còn lâu mới tái lập được sự ổn định chính trị trong lòng Đại Hán. Thậm chí ngược lại, Tập Cận Bình và thế hệ lãnh đạo mới của ông đang phải đối diện với định đề số phận của lịch sử: nhà nước độc đảng Trung Hoa đã tồn tại gần bảy chục năm, và chừng đó là quá đủ để thu xếp cho một sự thay thế khác.
Câu hỏi còn lại chỉ là sự thay thế mới mẻ sẽ diễn ra trong bình an hay được tiếp sức bởi một cuộc tắm máu - di chứng không quá hiếm hoi trong lịch sử nối đuôi toàn trị của các triều đại Trung Quốc.
Hồi tố!
Những tiếng nổ trong lòng Nội Hán đang làm thành chuỗi tần suất ngày càng dày hơn, kiên định hơn và cũng chết chóc hơn. Sau chuỗi thời gian đằng đẵng cam chịu trong vô vàn uất ức, người dân bắt đầu phản ứng theo chủ thuyết “hồi tố”.
“Hồi tố” cũng là hành động đã xảy ra không biết bao nhiêu lần trong lịch sử đầy can qua của Trung Quốc, hay tại một đất nước có truyền thống “ngàn năm Bắc thuộc” như Việt Nam.
Sự phản kháng của người dân với chính quyền không thường được nâng lên tầm tư tưởng vĩ mô về trận chiến nhằm thay đổi một thể chế, mà trước mắt và cận kề nhất là trực chỉ các nhân viên công quyền đang nhởn nhơ ăn tiệc khỏa thân ngay trên nỗi đau ngất trời của dân chúng.
Không thiếu bài học và kinh nghiệm lịch sử cho thấy những cuộc hồi tố tự phát, với quy mô và phạm vi rất nhỏ, vẫn có thể dẫn đến những chiến dịch hồi tố lớn hơn rất nhiều về tầm vóc và lực lượng tham gia.
Bắc Kinh đang và sẽ không còn là nơi yên tĩnh cho giới quan chức chức chính trị cao cấp nghỉ dưỡng và quyết định về tương lai của thế giới. Khái niệm bất an có lẽ sẽ trở thành từ ngữ cửa miệng của chính giới tương lai ngay tại thủ đô Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hay tại bất cứ một địa điểm nào có trưng diện ảnh Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và phơi bày bức tranh nhân viên thành quản đánh hội đồng đến chết người dân bán dạo.
Thuốc nổ không thiếu trên phần lớn diện tích Trung Quốc, kể cả một phần chất kích nổ đã được bày bán công khai ở các chợ đầu mối Lạng Sơn ở phía Bắc Việt Nam, nơi được chính thức coi là cửa khẩu chính ngạch tuồn các loại hàng nhạy cảm từ Trung Quốc sang.
Hà Nội lại chẳng xa cách Lạng sơn bao nhiêu…
Không khác mấy Tây Tạng ở Trung Quốc, một số sắc tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc Việt Nam như người H’ Mông, hoặc những tín đồ Phật giáo hòa hảo thuần túy ở An Giang luôn có thể là mối đe dọa với thói kiêu ngạo của an ninh Thủ đô.
Nông thôn miền Bắc cũng đang đầy rẫy cảnh loạn ly bị gây ra bởi cách hành xử ngày càng vô lối và dã man của một số chính quyền địa phương và các tập đoàn lợi ích, cùng thái độ tắc trách đến mức vô đạo của những quan chức trung ương.
Hà Nội, cũng vì thế, sẽ khó có thể yên tĩnh trong một tương lai “Đến hết thế kỷ này không biết đã  chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa…” - như ưu tư mới nhất của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
P.C.D.
Tác giả trực tiếp gửi cho BVN

Source : Bauxite VN