16/11/13

TS Cù Huy Hà Vũ góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992D

Dien Dan Xa Hoi Dan Su

TS Cù Huy Hà Vũ góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Kính gửi Qúy Báo,
Ngày 4/10/2013, công dân Cù Huy Hà Vũ đã thông báo cho vợ là Ls Nguyễn Thị Dương Hà biết: Thực hiện chủ trương của Quốc Hội và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hưởng ứng phong trào Lấy ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 của Trại giam số 5 Bộ Công an – Yên Định – Thanh Hóa, ngày 30/9/2013, công dân Cù Huy Hà Vũ đã gửi bài góp ý Sửa đổi Hiến pháp 1992 tới Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 qua đường Bưu điện của Trại giam số 5 Bộ Công an.
Trong điều kiện khó khăn của trại giam, công dân Cù Huy Hà Vũ thực hiện nghĩa vụ của mình, đã viết Bản góp ý gồm 20 trang A4 viết tay chữ nhỏ, dày kín, nội dung gồm 7 phần lớn. Vậy mà sáng nay, công dân Cù Huy Hà Vũ lại cho biết, ngày 15/11/2013, Trại giam số 5 đã thông báo chính thức  là Trại giam số 5 đã không gửi bài góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp 1992 của TS Vũ cho Quốc Hội và Ủy Ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp!!!???
Vì sợ bài góp ý không đến được địa chỉ nên công dân Cù Huy Hà Vũ đã nhờ vợ, con soạn, đánh máy giúp bài Góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 theo đúng tinh thần của công dân Vũ. Ngày 22/10/2013, vợ công dân Vũ đã gửi tới Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 bài Góp ý kể trên (photocopy đính kèm).
Kính mong Quý Báo cho đăng để những ai quan tâm được biết.
Trân trọng cảm ơn Quý Báo,
Gia đình Công dân Cù Huy Hà Vũ
——
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————————
Hà Nội, ngày 22/10/2013
Kính gửi: – Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam;
- Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.
Tôi, Nguyễn Thị Dương Hà, ở tại 24 Điện Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội, CMND 010538534 do Công an Hà Nội cấp ngày 16/12/2010, là vợ cũng là luật sư của ông Cù Huy Hà Vũ – HKTT tại 24 Điện Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội, bị Tòa án nhân dân tối cao kết án 07 (bảy) năm tù, 03 (ba) năm quản chế kể từ ngày bị bắt 05/11/2010 về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điểm c khoản 1 Điều 88 Bộ Luật Hình sự – ông Vũ luôn khẳng định ông Vũ hoàn toàn vô tội – hiện bị giam tại B11, K3, Trại giam số 5 – Bộ Công an (Yên Định – Thanh Hóa).
Căn cứ Nghị Quyết số 38/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 và theo yêu cầu của Ban Giám thị Trại giam số 5 – Bộ Công an, ngày 30/9/2013, ông Vũ đã gửi Quốc hội và Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 Bản “Góp ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” gồm 20 trang (viết tay) qua Ban Giám thị Trại giam số 5 – Bộ Công an. Đề phòng trường hợp văn Bản Góp ý kể trên mà ông Vũ đã gửi qua Ban Giám thị Trại giam số 5 – Bộ Công an chưa đến được Quốc hội và Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, ông Vũ ủy quyền cho tôi đánh máy lại, gửi tới Quốc Hội và Ủy ban Dự thảo Bản Góp ý kể trên. Toàn văn Bản “Góp ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” của ông Cù Huy Hà Vũ đã được đánh máy lại có 19 trang được gửi cùng với thư này.
Trân trọng,
Người được ủy quyền
Nguyễn Thị Dương Hà
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 9 năm 2013

GÓP Ý KIẾN VỀ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992

Kính gửi: Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
Tôi là Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, thường trú tại 24 Điện Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội, bị Tòa án nhân dân tối cao kết án 07 ( bảy ) năm tù giam, 03 (ba) năm quản chế kể từ ngày bị bắt 05/11/2010, về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điểm c khoản 1 Điều 88 Bộ luật hình sự – tôi luôn khẳng định tôi hoàn toàn vô tội, hiện bị giam tại B11-K3 – trại giam số 5 – Bộ Công an ( Yên Định – Thanh Hóa), căn cứ Nghị quyết số 38/2012/QH 13 ngày 23/11/2012 của Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về “Tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, góp ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (gọi tắt là Dự thảo) như trình bày sau đây.
I – BỎ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI, THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ ĐA ĐẢNG
Tôi đề nghị bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội quy định tại Điều 4 Hiến pháp và tại Điều 4 Dự thảo và thay vào đó là quy định về thực hiện chế độ đa đảng với những lý do sau đây.
1-    Điều 2 Hiến pháp và Điều 2 Dự thảo đều quy định: “ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, “ tức nhân dân là chủ duy nhất của Nhà nước đồng nghĩa Nhà nước không phục tùng, không chịu sự lãnh đạo của ai khác ngoài nhân dân. Nói cách khác, Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước là tiếm quyền làm chủ Nhà nước của nhân dân.
2-    Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (do Chính phủ Việt Nam tổ chức biên soạn), “ chế độ độc tài” là “chế độ chính trị tập trung quyền hành vào tay một cá nhân, một nhóm người hay một đảng phái cai trị độc đoán, không bị ràng buộc bởi luật pháp hay một cơ quan quyền lực nào”. Như vậy với quy định “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội” tại Điều 4 Hiến pháp và Điều 4 Dự thảo trong khi đảng này không bị ràng buộc bởi bất cứ luật nào hay bởi bất cứ cơ quan quyền lực Nhà nước nào thì chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dứt khoát là chế độ độc tài! Do đó để thiết lập chế độ dân chủ thì không có cách nào khác là bỏ quy định nói trên.
3-    Quan điểm “đấu tranh giai cấp” hay thiết lập sự thống trị của giai cấp vô sản – công nhân với chế độ xã hội chủ nghĩa của Đảng cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đối lập với Dân chủ. Thực vậy, Dân chủ đồng nhất với xóa bỏ phân biệt giai cấp tầng lớp xã hội trong quyết định các vấn đề của đất nước, không kích động giai cấp, tầng lớp xã hội này chống lại giai cấp, tầng lớp xã hội khác. Nói cách khác, Dân chủ là tiếng nói của mỗi người dân về các vấn đề của đất nước được thể hiện rõ nhất và tập trung nhất qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử Quốc Hội, Hội đồng nhân dân hay trưng cầu ý dân, chứ tuyệt nhiên không phải là áp đặt ý chí nhân danh giai cấp, tầng lớp xã hội. Vả lại, quan điểm “ giai cấp công nhân thống trị” của Đảng cộng sản Việt Nam là trái ngược với quyền bình đẳng của mọi người được Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 trân trọng tuyên bố và trái ngược ngay với nguyên tắc “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” được Dự thảo nêu tại Khoản 2 Điều 17.
4-    Khải niệm “lãnh đạo” có thể áp dụng cho đảng chính trị mà trong trường hợp này là Đảng cộng sản Việt Nam nhưng chỉ trong trường hợp Đảng tổ chức giành chính quyền về tay nhân dân chủ yếu bằng vũ lực, điều này có nghĩa một khi chính quyền đã về tay nhân dân thì chính nhân dân chứ không phải đảng chính trị, quyết định đường lối quốc gia cũng như cách thức hoạt động của Nhà nước, cụ thể là nhân dân thực hiện các quyết định tối cao này của mình hoặc trực tiếp bằng lá phiếu trong các cuộc bầu cử Quốc Hội, Hội đồng nhân dân hay trưng cầu ý dân hoặc gián tiếp thông qua các đại diện của mình tại các cơ quan quyền lực Nhà nước nói trên. Tóm lại Dân chủ là nhân dân tự quyết định vận mệnh của đất nước và của bản thân mà không có sự can thiệp từ bên ngoài, không cần ai dẫn dắt, không cần ai lãnh đạo. Các đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam hay bất cứ ai khác được nhân dân trực tiếp bầu vào các cơ quan quyền lực Nhà nước chỉ là để thực hiện ý chí của nhân dân hay chỉ là đầy tớ của nhân dân như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chứ không thể làm điều ngược lại là áp đặt ý chí của bản thân hoặc của Đảng cộng sản Việt Nam cho nhân dân. Nghĩa là không thể có chuyện đầy tớ “lãnh đạo”, bắt ông chủ, bà chủ phục tùng mình được!
Ngoài ra, quy định “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước” là trái với nhiều quy định khác ngay trong Dự thảo. Điều 2 Hiến pháp và Dự thảo quy định Nhà nước Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền”. tức Nhà nước chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Do đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như đảng chính trị nào khác không phải là Hiến pháp và pháp luật nên dĩ nhiên Nhà nước không thể chịu sự lãnh đạo của đảng này. Điều 83 Hiến pháp và Điều 74 Dự thảo quy định “ Quốc Hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất” đồng nghĩa không có thế  lực nào đứng trên Quốc Hội để có thể “ lãnh đạo” hay áp đặt ý chí của mình cho Quốc Hội ngoài chính người đã đẻ ra thiết chế này là nhân dân!
5-    Đảng cộng sản Việt Nam lấy câu nói “Đảng ta là đảng cầm quyền” của Hồ Chí Minh để biện minh cho chế độ độc tài của mình được thiết lập thông qua việc áp đặt Điều 4 Hiến pháp. Thế nhưng chính câu nói này của người sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam lại khẳng định chế độ dân chủ – đa đảng. Thực vậy, “ đảng cầm quyền” là để so sánh với “đảng không cầm quyền” bởi dưới thời Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Nước đã có nhiều đảng hoạt động song song với Đảng cộng sản Việt Nam nhưng không chiếm đa số ghế trong Quốc Hội nên không thể đứng ra thành lập Chính phủ như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội. Chế độ đa đảng này tồn tại cả sau khi Hồ Chí Minh mất, cho đến 1988 khi Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội tự giải thể. Thực tế đa nguyên chính trị này được phản ánh tại Điều 9 Hiến pháp 1980: “Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam – bao gồm các chính đảng…”
Vẫn chưa hết, Đảng cộng sản Việt Nam luôn khẳng định đảng này cầm quyền mà không cần cạnh tranh với ai là do được nhân dân tín nhiệm. Thế nhưng lập luận này của Đảng cộng sản Việt Nam một lần nữa khẳng định chế độ đa đảng. Thực vậy, tín nhiệm của nhân dân là niềm tin mà người dân đặt vào người này, đảng này mà không áp đặt vào người khác, đảng khác, đặc biệt trong bối cảnh bầu cử Quốc Hội. Nói cách khác, không có sự cạnh tranh giữa các đảng chính trị thì không tồn tại sự tín nhiệm của nhân dân. Vậy để “sự tín nhiệm của nhân dân” nguồn gốc của quyền lực Nhà nước – thực sự tồn tại thì không có cách nào khác là phải thực hiện chế độ đa đảng!
Cũng cần khẳng định ngay rằng thiết lập chế độ đa đảng tuyệt nhiên không nhằm ngăn cản Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền, thậm chí lâu dài, càng không nhằm loại bỏ đảng này ra khỏi đời sống chính trị của đất nước. Thực tế cho thấy mặc dù ở Singapore có nhiều đảng nhưng chỉ có Đảng nhân dân hành động là cầm quyền vì luôn chiếm đa số ghế trong các kỳ Quốc Hội. Ở Mỹ cũng có hơn 100 đảng nhưng chỉ có Đảng Dân chủ và Đảng cộng hòa là thay nhau có ứng cử viên được bầu làm tổng thống và ngược lại, vẫn ở đất nước mà Đảng Cộng sản Việt Nam coi là đế quốc và chống cộng số 1 này Đảng cộng sản vẫn tồn tại. Tóm lại, chế độ đa đảng là quyền của nhân dân được tự do lựa chọn giữa các quan điểm chính trị khác nhau và về phía các chính đảng là làm sao giành được sự tín nhiệm cao nhất của nhân dân để có thể cầm quyền. Để nói, Đảng cộng sản Việt Nam luôn khẳng định bản thân có nhiều công trạng với dân, với nước thì không có lý do gì để đảng này phải sợ sẽ không được nhân dân tín nhiệm trong cạnh tranh với các đảng khác. Ngược lại, nếu Đảng cộng sản Việt Nam không dám chấp nhận cạnh tranh chính trị một cách hòa bình trong khuôn khổ chế độ đa đảng thì điều này chẳng những chứng tỏ đảng này yếu kém và vụ lợi mà nghiêm trọng hơn rất nhiều, sẽ dẫn đến cạnh tranh chính trị bằng bạo lực đồng nhất với một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn kéo dài 2 thập kỷ từ 1955 đến 1975 giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa (Điều này có nghĩa chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không phải là xâm lược)
6-    Chính chủ nghĩa Mác Lê Nin mà Đảng cộng sản Việt Nam lấy làm nền tảng tư tưởng đã thừa nhận “nguồn gốc của sự vận động và phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật”. Vậy không có lý do gì để Đảng cộng sản Việt Nam không chấp nhận song song với mình sự tồn tại của các đảng khác trong đó có các đảng đối lập với mình, trừ phi đảng này chống lại sự vận động và phát triển của đất nước và xã hội Việt Nam.
Kết luận lại, việc bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội quy định tại Điều 4 Hiến pháp và Điều 4 Dự thảo đồng nhất với chế độ độc tài và việc thực hiện chế độ đa đảng là tuyệt đối cần thiết để đảm bảo Dân chủ, bảo đảm “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”.Tuy nhiên, để không xảy ra tình trạng “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”, bỏ được sự cai trị độc đoán của Đảng cộng sản Việt Nam do đảng này không bị ràng buộc bởi luật pháp thì lại vớ phải tình trạng hỗn loạn “vô chính phủ” được tạo ra bởi sự vắng bóng của luật pháp về các đảng chính trị thì cách duy nhất là phải có luật về các đảng chính trị mà những nét cơ bản phải được xác định trong Hiến pháp. Cụ thể là Hiến pháp xác định vai trò của các đảng trong bảo đảm Dân chủ, xác định cách thức thành lập, cách thức tổ chức, cách thức hoạt động của các đảng. Ví dụ: “Các đảng chính trị tham gia vào việc hình thành ý chí chính trị của nhân dân”, “việc đăng ký các đảng chính trị được thực hiện tại Tòa án Hiến pháp”..
II – BỎ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, LẤY “VIỆT NAM” LÀM QUỐC HIỆU, THIẾT LẬP CHỨC VỤ TỔNG THỐNG
Tôi đề nghị bỏ chủ nghĩa xã hội – chế độ xã hội chủ nghĩa khỏi Hiến pháp, Hiến pháp sửa đổi với những lý do sau đây.
1-    Chủ nghĩa xã hội phản dân chủ
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “ chuyên chính” là “ trực tiếp dùng bạo lực (đối lập với dân chủ) để áp đặt ý chí của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị”. Vậy chủ nghĩa xã hội – chế độ xã hội chủ nghĩa mà chủ trương “chuyên chính vô sản”, tức dùng bạo lực để áp đặt cho xã hội sự thống trị của giai cấp công nhân, cụ thể là áp đặt sự lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội của Đảng cộng sản là “đội tiên phong” của giai cấp công nhân, dứt khoát là một chế độ chính trị phản dân chủ. Bản chất phản dân chủ này của chủ nghĩa xã hội, chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tôi phân tích ở trên trong mục “ Bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, thực hiện chế độ đa đảng”.
2 – Chủ nghĩa xã hội phản dân tộc
Đối với chủ nghĩa xã hội thì không có “dân tộc” mà chỉ có “giai cấp” không có “con người dân tộc” mà chỉ có “con người giai cấp” bất cứ ai không tán thành sự thống trị của giai cấp vô sản – công nhân đều là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội và vì vậy là đối tượng đàn áp của “chuyên chính vô sản” mà hiện thân là chính quyền do đảng Cộng sản lãnh đạo. Điều này lý giải vì sao sau 30/4/1975, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiếp đó là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa cả trăm nghìn nhân viên của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vào các trại tập trung cải tạo – các nhà tù thực sự – với lý do duy nhất là họ đã phục vụ trong chính quyền chống cộng. Lẽ dĩ nhiên, việc bỏ tù các “kẻ thù giai cấp” này của Nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ càng đào sâu hận thù dân tộc thay vì xóa bỏ nó. Chính sách gây hận thù dân tộc này còn được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đẩy lên cao độ khi bỏ tù luôn cả người yêu cầu Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện hòa giải dân tộc, cụ thể là bỏ tù tôi – Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ – do đã gửi Quốc hội “ Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc”!
Chủ nghĩa xã hội không chỉ phản dân tộc ở chỗ xóa bỏ “con người dân tộc” bằng cách luôn duy trì người Việt Nam trong tình trạng thù hận lẫn nhau như trên vừa chứng minh mà tày giời hơn, ở chỗ muốn xóa bỏ Tổ Quốc của người Việt Nam với định danh “ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” ghi trong Hiến pháp và Dự thảo. Thực vậy, “Tổ quốc” trong tiếng Việt có nghĩa “quốc gia do Tổ tiên tạo lập” đồng nghĩa Tổ Quốc của người Việt Nam chỉ có một, là quốc gia do Tổ tiên của người Việt Nam là Vua Hùng tạo lập. Do đó “Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa” không gì khác hơn là phủ nhận Vua Hùng, phủ nhận quốc gia của người Việt Nam đã có từ 4000 năm nay hay phủ định chính Tổ Quốc của người Việt Nam!
Cũng như vậy, “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” mà Đảng cộng sản Việt Nam luôn tuyên truyền là hoàn toàn trái với lich sử của dân tộc Việt Nam. Thực vậy, Độc lập dân tộc mà nhân dân Việt Nam đã giành được cách đây 68 năm hoàn toàn không dính dáng đến chủ nghĩa xã hội, điều này có thể thấy rõ trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945. Không những thế, việc Đảng cộng sản Việt Nam – lúc bấy giờ có tên là Đảng cộng sản Đông Dương – tự giải thể vào ngày 11/11/1945, chỉ 2 tháng sau khi nền Cộng hòa ra đời, càng chứng tỏ nhân dân Việt Nam giành độc lập là để thực hiện quyền dân tộc tự quyết chứ tuyệt nhiên không phải để xây dựng chủ nghĩa xã hội là mục đích tự thân của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như chứng tỏ sự tồn tại của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ gây hại cho việc bảo vệ và củng cố nền Độc lập dân tộc còn trứng nước. Ngoài ra, “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” không gì khác hơn là phủ định sạch trơn Độc lập dân tộc mà người Việt Nam đã giành được dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Ngô Quyền, Lê Lợi trước phong kiến Trung Hoa hay nói ngắn gọn, xóa bỏ toàn bộ lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam!
Không dừng lại ở phủ nhận, xuyên tạc Tổ Quốc và Độc lập dân tộc của người Việt Nam, chủ nghĩa xã hội xâm hại ngay chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Năm 1958, vì “đại cục xã hội chủ nghĩa”, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đã gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai công hàm gián tiếp công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam, điều này giải thích vì sao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không hề phản ứng dù chỉ là tý chút trước việc Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý vào năm 1974. Năm 1988, Trung Quốc đã ngang nhiên tấn công quần đảo Trường Sa, giết chết 64 sĩ quan, chiến sĩ Việt Nam đồn trú và chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo này của Việt Nam. Thế nhưng một lần nữa, vì “đại cục xã hội chủ nghĩa” Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã không hề lên án hành vi xâm lược này của Trung Quốc. Bộ mặt phản dân tộc này của chế độ xã hội càng lộ rõ khi cách đây một số năm Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bắt giam một số công dân Việt Nam vì họ đã lên tiếng khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam” với lý do không thể ngược đời hơn là những công dân này đã “xâm phạm an ninh quốc gia” cũng như cho đến bây giờ đã không chịu công nhận liệt sĩ cho các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong chiến đấu chống Trung Quốc xâm lược quần đảo Hoàng Sa như tôi đã yêu cầu trong một Kiến nghị gửi Quốc Hội.
Điều nghiêm trọng là hành vi “ bán nước” hay phản dân tộc của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vẫn chưa dừng lại. Thực vậy, trước âm mưu dùng vũ lực thôn tính nốt quần đảo Trường Sa và độc chiếm biển Đông đã quá rõ ràng của Trung Quốc, nước đang sở hữu các phương tiện chiến tranh nói chung, phương tiện chiến tranh trên biển nói riêng gấp bội lần Việt Nam, tôi – Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ – đã nhiều lần kều gọi Nhà nước Việt Nam khẩn trương liên minh quân sự với Mỹ để bảo vệ thành công quần đảo Trường Sa và tiến tới thu hồi quần đảo Hoàng Sa nói riêng, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông nói chung vì Mỹ không chỉ là siêu cường quân sự duy nhất trên thế giới mà còn là nước duy nhất trên thế giới có chiến lược ngăn chặn Trung Quốc bành trướng bằng vũ lực ở Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt ở Đông Á. Thế nhưng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bác bỏ liên minh quân sự với Mỹ vì cho rằng cái giá phải trả cho liên mình này là mất chế độ xã hội chủ nghĩa!
3 – Chủ nghĩa xã hội chống lại con người
Trước hết cần ghi nhận rằng nhiều quyền con người đã được quy định trong Hiến pháp Việt Nam mà sau đây là một số cơ bản nhất.
Điều 69 Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
Điều 70 Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào… Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”.
Ngoài ra, Nhà nước Việt Nam đã tham gia một số điều ước quốc tế về nhân quyền trong đó có Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự. Điều 19 Công ước này quy định:
1)    Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.
2)    Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ!
3)    Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 Điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được quy định trong luật và là cần thiết để:
  1. Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác.
  2. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội.
Thế nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa là “nói một đằng, làm một nẻo” những quyền con người nói trên đều bị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chà đạp trên thực tế.
Để triệt tiêu quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin của công dân, Nhà nước đã đặt ra “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” – Điều 88 Bộ luật hình sự bất chấp quy định “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp tại Khoản 1 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền chính trị dân sự. Cụ thể là Nhà nước đã vịn vào tội danh được đặt ra trái pháp luật này để bỏ tù tất cả những ai bày tỏ quan điểm chính trị trái ngược với quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam mà tôi – Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là một trong số các nạn nhân.
Cũng cần nói thêm rằng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cấm báo chí tư nhân trong khi thực chất của quyền tự do báo chí là cá nhân hay tư nhân được quyền ra báo chí. Bản thân khái niệm “tự do” xuất phát và gắn liền với khái niệm “cá nhân” hay nói cách khác, “cá nhân” không tồn tại thì “tự do” không tồn tại!
Về quyền lập hội, quyền biểu tình của công dân, các quyền này chỉ có thể được pháp luật bảo hộ sau khi các quyền này được luật hóa như quy định tại Điều 69 Hiến pháp 1992. Thế nhưng cho đến nay, đã 21 năm trôi qua, Luật về Hội và Luật biểu tình vẫn chưa được ban hành đồng nghĩa quyền lập hội, quyền biểu tình vẫn chưa được ban hành đồng nghĩa quyền lập hội, quyền biểu tình “có cũng như không” hay nói đúng hơn, các hội, các cuộc biểu tình ở Việt Nam luôn ở trong tình trạng bất hợp pháp và vì vậy có thể bị Nhà nước dẹp bỏ bất cứ lúc nào và những người tổ chức luôn có thể bị Nhà nước khép vào “Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” quy định tại Điều 258 Bộ luật hình sự hay vào “Tôi lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” quy định tại Điều 245 Bộ luật hình sự hay vào “Tội gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 258 Bộ luật hình sự hay vào “ Tội gây rối trật tự công công” quy định tại Điều 245 Bộ luật hình sự. Nhân đây cần khẳng định rằng “Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân “ là trái nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền là “Mọi người có thể làm những gì mà Luật không cấm” (Từ điển bách khoa Việt Nam), tức không vi phạm điều mà luật cấm thì không thể là tội phạm! Nói cách khác, Điều 258 và Điều 88 Bộ luật hình sự được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra là để loại bỏ các quyền tự do, dân chủ của công dân!
Cũng như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại Điều 70 Hiến pháp là không tồn tại chừng nào còn Điều 4 Hiến pháp quy định Đảng cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Thực vậy, tín ngưỡng, tôn giáo, suy cho cùng đều là hệ tư tưởng trong khi chủ nghĩa Mác Lê-nin cũng là hệ tư tưởng. Do đó, một khi đã khẳng định tự do tín ngưỡng, tư do tôn giáo thì đương nhiên tín ngưỡng tôn giáo không thể bị “lãnh đạo” hay định hướng, điều khiển bởi hệ tư tưởng nào khác mà ở đây là chủ nghĩa Mác Lê-nin. Đó là chưa nói đến quan điểm “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” của chủ nghĩa Mác-Lê-nin theo đó những người cộng sản phải giải thoát nhân dân khỏi sự đầu độc của tôn giáo, tức coi tôn giáo là địch thủ, là đối tượng mà những người cộng sản phải trừ bỏ!
Về quy định “những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ” cũng tại Điều 70 Hiến pháp thì quy định này đồng nghĩa tín ngưỡng, tôn giáo bị hủy diệt khi nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo bị Nhà nước xóa bỏ và chiếm lấy. Cần khẳng định rằng nghĩa trang của giáo xứ là một nơi thờ tự của đạo Thiên chúa ( Kito giáo). Do đó việc chính quyền Đà Nẵng năm 2009 đã chiếm lấy nghĩa trang của giáo xứ Cồn Dầu và bỏ tù một số giáo dân do những người này đã đưa một giáo dân khác vừa qua đời đến chôn ở nghĩa trang này là hành vi đàn áp, hủy diệt tôn giáo không hơn không kém!
Lẽ dĩ nhiên, còn rất nhiều quyền con người – công dân khác như quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tài sản đối với đất đai… bị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xâm hại nghiêm trọng. Tuy nhiên một số dẫn chứng đã nêu ở trên cũng đã đủ cho thấy chủ nghĩa xã hội hay chế độ xã hội chủ nghĩa là điển hình của đàn áp con người.
4 – Chủ nghĩa xã hội mang lại đói nghèo và tham nhũng
Trước hết phải khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản không gì khác hơn là kinh tế tư nhân đồng nhất với kinh tế thị trường, còn chủ nghĩa xã hội lại chủ trương xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, tức xóa bỏ kinh tế tư nhân, xóa bỏ kinh tế thị trường thông qua “công hữu hóa tư liệu sản xuất”mà sản phẩm là các doanh nghiệp Nhà nước. Thực tế ở Việt Nam cho thấy chủ nghĩa xã hội chỉ mang lại đói nghèo cho tuyệt đại đa số người dân, đẩy Việt Nam đến bờ vực phá sản với lạm phát 900% vào năm 1985 dẫn tới ăn mày đầy đường.
Để sống sót, từ 1986, Đảng cộng sản Việt Nam phải tiến hành “Đổi mới” bước đầu đi theo chủ nghĩa tư bản bằng cách thừa nhận kinh tế tư nhân đồng nhất với kinh tế thị trường và tự diễn biến hòa bình từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa tư bản đã cơ bản hoàn tất với việc 20 năm sau vào năm 2006 Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã chính thức cho đảng viên làm kinh tế tư nhân vốn bị đảng này coi là “bóc lột”. Mặc dầu vậy, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn không chịu công khai thừa nhận sự phá sản của chủ nghĩa xã hội và để bao biện cho việc rốt cuộc đã phải thực hiện kinh tế thị trường hiện thân của chủ nghĩa tư bản – đảng này đã biến báo kinh tế thị trường bằng cách gắn cho nó cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”: “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, sự bao biện này của Đảng cộng sản Việt Nam đã thất bại hoàn toàn. Thực vậy, như trên đã nêu, “ chủ nghĩa xã hội” hay “xã hội chủ nghĩa” đồng nhất với “xóa bỏ kinh tế thị trường”. Vậy khi thay “xã hội chủ nghĩa” trong “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” thì ta có “kinh tế thị trường định hướng xóa bỏ kinh tế thị trường” vô nghĩa hoàn toàn! Ngoài ra, chỉ việc Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng trong chuyến đi thăm các nước thuộc Liên hiệp Châu Âu ( EU) đầu năm nay, 2013, luôn khẩn khoản đề nghị các nước này công nhận Việt Nam có “nền kinh tế thị trường” chứ không phải “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng đã đủ cho thấy để tồn tại và hội nhập thế giới ngày nay, Việt Nam không thể không từ bỏ chủ nghĩa xã hội!
Chủ nghĩa xã hội cũng đồng nhất với tham nhũng. Như trên đã đề cập, chủ nghĩa xã hội chủ trương quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế, Nhà nước trực tiếp kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp Nhà nước, nghĩa là Nhà nước vừa là người quản lý đồng nhất với giám sát, kiểm soát tài sản quốc gia vừa là người sử dụng tài sản ấy, tức làm cái chuyện “vừa đá bóng vừa thổi còi” theo cách nói dân gian. Nói cách khác, Nhà nước không phải chịu bất cứ giám sát kiểm soát nào trong việc sử dụng tài sản quốc gia và chính lỗ hổng thể chế này đã tạo ra tham nhũng – tham nhũng thể chế!
Tóm lại, doanh nghiệp Nhà nước là kênh chủ yếu để những người nắm giữ quyền lực Nhà nước mà ở đây là các đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam bòn rút tiền, của Nhân dân mà các vụ VINASHIN, VINALINES là những bằng chứng điển hình. Điều này lý giải vì sao Hiến pháp 1992 hiện hành vẫn khẳng định vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế quốc gia cho dù tuyệt đại đa số doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, cơ bản là lỗ. Trong các lĩnh vực phi kinh doanh cũng vậy, tham nhũng tràn lan và trầm trọng bởi sự độc quyền cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam đã loại trừ tính minh bạch trong sử dụng ngân sách Nhà nước. Tình hình nghiêm trọng đến mức mà ngay Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã phải thừa nhận tham nhũng là quốc nạn!
Trên cơ sở bộ chủ nghĩa xã hội – chế độ xã hội chủ nghĩa vì những lý do đã rõ, tôi đề nghị lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu thay cho “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Cũng trên tinh thần bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa để thiết lập chế độ dân chủ – đa đảng, tôi đề nghị bỏ chức vụ “Chủ tịch Nước” và thay vào đó thiết lập chức vụ “Tổng thống”. Thực tiễn trên thế giới cho thấy Tổng thống hoặc do Quốc Hội (Nghị viện) bầu hoặc do toàn dân bầu thông qua phổ thông đầu phiếu. Tôi đề nghị Tổng thống do toàn dân bầu nhằm tăng cường hơn nữa sức mạnh của Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
III QUYỀN LẬP HIẾN THUỘC VỀ TOÀN DÂN, TRƯNG CẦU Ý DÂN VỀ HIẾN PHÁP, HIẾN PHÁP SỬA ĐỔI
Điều 83 Hiến pháp quy định: “Quốc Hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập pháp”.
Điều 84 Hiến pháp quy định: “Quốc Hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật”.
Điều 74 Dự thảo quy định: “Quốc Hội thực hiện quyền lập Hiến, quyền lập pháp”.
Như vậy, “lập Hiến” và “ lập pháp” là hai vấn đề khác nhau hay “lập pháp” không bao gôm “lập Hiến”.
Tôi đề nghị Hiến pháp sửa đổi quy định quyền lập Hiến thuộc về toàn dân, Quốc Hội chỉ thực hiện quyền lập pháp với các lý do sau đây.
1 – Chính thể Việt Nam là Cộng hòa đồng nghĩa nhân dân là chủ của đất nước. Do đó, chỉ nhân dân mới có quyền quyết định các vấn đề của đất nước và nhân dân thực hiện chủ quyền này của mình hoặc trực tiếp bằng lá phiếu trong khuôn khổ bầu cử Quốc Hội, Hội đồng nhân dân và trưng cầu ý dân hoặc gián tiếp thông qua các đại diện của mình ở Quốc Hội, Hội đồng nhân dân và cac cơ quan do các cơ quan dân cử bầu ra.
Trên tinh thần đó, những vấn đề quan trọng nhất của đất nước, quan hệ đến vận mệnh quốc gia, mà đứng đầu là Hiến pháp phải được nhân dân trực tiếp quyết định bằng lá phiếu trong khuôn khổ trưng cầu ý dân hình thức dân chủ trực tiếp cao nhất mà Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nền Cộng hòa mà Bộ trưởng Cù Huy Cận phụ thân tôi là Tổng thư ký Ban Dự thảo – gọi là quyền phúc quyết của nhân dân ( Điều 21: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh của quốc gia theo điều 32 và 70”; Điều 32: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ được nhân dân phúc quyết nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý”. Điều 70: “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây: a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu; b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi; c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viên ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết. Nói cách khác, chừng nào Hiến pháp chưa được nhân dân trực tiếp làm ra dưới hình thức phúc quyết về Hiến pháp thì không thể nói nhân dân đã làm chủ đất nước hay Việt Nam đã có Dân chủ.
Tuy nhiên, có một thực tế là trong điều kiện chiến tranh thì quyền phúc quyết của toàn dân về Hiến pháp và các vấn đề khác quan hệ đến vận mệnh quốc gia là không thể thực hiện được như trường hợp của Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, điều này có nghĩa trong thời bình thì chủ quyền tối cao ấy của nhân dân quyết không thể bị từ chối bất kể vì lý do gì. Để nói việc Quốc Hội đã không đưa vào Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 quy định toàn dân phúc quyết về Hiến pháp để rồi vin vào đó không đưa hai đạo luật cơ bản này của nền Cộng hòa ra trưng cầu ý dân chỉ có thể là hành vi cố ý xâm phạm Dân chủ một cách nghiêm trọng nhất. Do đó, để vãn hồi nền Dân chủ thì không có cách nào khác là Hiến pháp, Hiến pháp sửa đổi quy định quyền lập Hiến thuộc về toàn dân.
2 – Điều 2 Hiến pháp quy định: “Có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp hàm thức, tư pháp”. Điều 2 Dự thảo quy định: “có sự phân công, phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, cơ quan Nhà nước (Được hiểu ở đây là Quốc Hội) chỉ có quyền lập pháp chứ không có quyền lập Hiến.
Cụ thể, tôi đề nghị ghi vào Hiến pháp, Hiến pháp sửa đổi quyền lập Hiến của nhân dân như sau:
1)    Chỉ nhân dân mới có quyền lập Hiến dưới hình thức phúc quyết về Hiến pháp, Hiến pháp sửa đổi trong khuôn khổ trưng cầu ý dân.
2)    Quy trình lập Hiến như sau:
a)    Mọi công dân, cơ quan, tổ chức có quyền đề xuất Hiến pháp, đề xuất sửa đổi Hiến pháp với Quốc Hội, Ủy ban thường vụ Quốc Hội vào bất cứ lúc nào.
b)    Căn cứ đề xuất Hiến pháp, đề xuất sửa đổi Hiến pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Quốc Hội quyết định về làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số Đại biểu Quốc Hội biểu quyết tán thành.
c)    Quốc Hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
d)    Dự thảo Hiến pháp, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp sau khi được ít nhất hai phần ba tổng số Đại biểu Quốc Hội biểu quyết tán thành được đưa ra trưng cầu ý dân.
e)    Trưng cầu ý dân chỉ hợp lệ khi có sự tham gia của quá nửa tổng số cử tri. Dự thảo Hiến pháp, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được thông qua sau khi được quá nửa tổng số cử tri tham gia trưng cầu ý dân biểu quyết tán thành.
IV – THỰC HIỆN “TAM QUYỀN PHÂN LẬP”
Điều 2 Hiến pháp quy định: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Trong Điều 2 Dự thảo có thêm từ “kiểm soát”: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp kiêm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Nếu như Hiến pháp tại Điều 83 xác định Quốc Hội thực hiện quyền lập pháp thì cơ quan Nhà nước nào thực hiện quyền hành pháp, cơ quan Nhà nước nào thực hiện quyền tư pháp vẫn chưa được làm rõ, điều này đương nhiên tác động tiêu cực đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Do đó việc Dự thảo quy định Chính phủ thực hiện quyền hành pháp tại Điều 99, Tòa án thực hiện quyền tư pháp tại Điều 107 bên cạnh việc tái khẳng định Quốc Hội thực hiện quyền lập pháp tại Điều 74 là hoàn toàn đúng đắn. Hơn thế nữa, với việc xác định quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, mỗi quyền có một chủ thể riêng biệt, tức ba quyền này được thực hiện độc lập với nhau, Dự thảo đã hoàn tất thiết lập thể chế “Tam quyền phân lập” đồng nghĩa quyền lực Nhà nước không phải là một thể thống nhất hay quyền lực Nhà nước không phải là thống nhất.
Thực ra, khái niệm “quyền lực Nhà nước là thống nhất” có nguồn gốc từ chế độ quân chủ chuyên chế trong đó mọi quyền lực Nhà nước như quyền đặt ra luật, quyền bổ nhiệm , bãi nhiệm các chức vụ trong bộ máy Nhà nước, quyền tối hậu trong điều hành công việc Nhà nước và trong xét xử điều nằm trong tay một người là vua. Nói cách khác, trong chế độ quân chủ chuyên chế Nhà nước là của vua hay bản thân vua là Nhà nước mà tuyên bố “Nhà nước là Ta” ( L’Etat, c’est moi) của vua Pháp Louis XIV (trị vì từ 1643 đến 1715) đã thể hiện không gì rõ hơn. Do đó, để Nhà nước là của dân, vì dân thì không có cách nào khác là phải lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế đồng nhất với việc phân chia quyền lực Nhà nước thành 3 quyền riêng biệt là lập pháp, hành pháp, tư pháp và mỗi quyền này được giao cho một cơ quan độc lập thực hiện đồng nghĩa thành viên của cơ quan thực hành quyền này không được là thành viên của cơ quan thực hành quyền kia, cụ thể là Nghị viện (Quốc Hội) thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Điêu đáng chú ý là một sự phân công quyền lực Nhà nước như vậy không chỉ nhằm tránh cai trị độc đoán khi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chỉ do một cơ quan thực hiện theo kiểu “quân chủ chuyên chế không vua” mà còn nhằm tránh lạm dụng quyền lực Nhà nước khi mỗi quyền được đặt trong sự kiểm soát của hai quyền kia. Học thuyết chính trị này được gọi là “Tam quyền phân lập” và đã được các nhà cách mạng tư sản dân quyền thực hiện thành công ở Châu Âu từ thế kỷ 16. Tóm lại, sự ra đời của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với mỗi quyền có chủ thể riêng biệt chính là sự phủ nhận tuyệt đối “quyền lực Nhà nước là thống nhất”. Ví như cái bánh một khi được cắt thành miếng thì không thể gọi đó là bánh nguyên cái nữa!
Do đó, việc Hiến pháp và Dự thảo một mặt đề ra các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhưng mặt khác khẳng định “quyền lực Nhà nước là thống nhất rõ ràng là phủ nhận “Tam quyền phân lập” hay khẳng định “Tam quyền nhất lập” theo đó 3 quyền này kết làm một bởi đều nằm trong tay của Đảng cộng sản Việt Nam. Nói cách khác, hành xử của Đảng cộng sản Việt Nam là hành xử của “vua không ngai”, lẽ dĩ nhiên điều này chi gây hại cho Dân chủ, cho quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Bài “Tam quyền nhất lập đồng lòng hại dân” mà tôi đã viết và công bố chính là nhắm tới xóa bỏ thể chế bê bối và phản pháp quyền này.
V -  BỎ “LỰC LƯỢNG VŨ TRANG PHẢI TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, BẢO VỆ ĐẢNG, CHẾ ĐỘ XÃ HÔI CHỦ NGHĨA”
Điều 70 Dự thảo quy định: “Lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ Quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền , thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.
Tôi đề nghị bỏ “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối với Đảng cộng sản Việt Nam bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa” ra khỏi Hiến pháp sửa đổi với những lý do sau:
1 -  Ở Việt Nam cũng như ở bất cứ quốc gia nào, việc Hiến định lực lượng vũ trang có tầm quan trọng vô cùng đặc biệt vì nó liên quan đến vận mệnh của quốc gia, của toàn thể người dân và vì thế việc Hiến định này, bao gồm cả sửa đổi, cần phải được lý giải một cách rõ ràng, ngược lại là áp đặt, mà áp đặt tất sẽ gây động loạn trong xã hội.
Như chúng ta đa biết, không có bất cứ Hiến pháp Việt Nam nào kể cả Hiến pháp hiện hành, quy định “ lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, bảo vệ Đảng” cả. Do đó, nhất thiết phải có giải thích vì sao các Hiến pháp không có quy định này cũng như vì sao Dự thảo lại có quy định này. Thế nhưng trong “Thuyết minh về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” ngày 05/01/2013 của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp chỉ thấy ghi: “Dự thảo khẳng định lực lượng vũ trang có nhiệm vụ tuyệt đối trung thành với Đảng và bảo vệ Đảng:! Nghĩa là áp đặt với hậu quả đã rõ!
2 – Điều 2 Hiến pháp và Điều 2 Dự thảo đều quy định: “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Như vậy, lực lượng vũ trang nhân dân với tư cách là một công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước đương nhiên là của nhân dân, thuộc về nhân dân như chính cái tên của lực lượng vũ trang này đã chỉ rõ, điều này đồng nghĩa lực lượng vũ trang nhân dân không thể trung thành với ai khác bảo vệ ai khác ngoài nhân dân và Tổ quốc! Nói cách khác, muốn quy định lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa (mục đích của Đảng cộng sản Việt Nam) thì Điều 2 Hiến pháp và Điều 2 Dự thảo phải được sửa thành “Nhà nước của Đảng cộng sản Việt Nam, do Đảng cộng sản Việt Nam, vì Đảng cộng sản Việt Nam. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Đảng cộng sản Việt Nam” cũng như phải loại bỏ “nhân dân” khỏi “lực lượng vũ trang nhân dân” cái đã! Tất nhiên khi tiến hành những thay đổi này thì đồng thời phải xóa bỏ nền Cộng hòa vì Cộng hòa đồng nhất với “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Mà đã xóa bỏ nền Cộng hòa thì hoặc phải tái lập chế độ quân chủ hoặc phải thiết lập một chính thể hoàn toàn mới mà “ Đảng chủ” chắc chắn là tên gọi thích hợp nhất! còn nếu những thay đổi chính trị nói trên là không thể thì lực lượng vũ trang nhân dân chỉ có thể trung thành với Tổ Quốc và nhân dân mà thôi!
3 – Nói một cách thực tế, ai nuôi lực lượng vũ trang thì nhận được sự trung thành và sự bảo vệ của lực lượng vũ trang. Do đó, việc lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đang được nuôi bằng ngân sách Nhà nước, tức bằng tiền của nhân dân chứ không phải bằng đảng phí của Đảng cộng sản Việt Nam, huống hồ đảng này cũng đang hoạt động chủ yếu bằng ngân sách Nhà nước, thì lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam chỉ có thể trung thành với nhân dân, bảo vệ nhân dân chứ tuyệt nhiên không thể trung thành và bảo vệ Đảng cộng sản Việt Nam.
Nhân đây cũng cần khẳng định rằng lực lượng vũ trang không được “ ăn hai mang” không được cùng lúc nhận tiền từ ngân sách Nhà nước và từ đảng chính trị hoặc đối tượng khác. Còn một khi đã nhận tiền của đảng chính trị hoặc của đối tượng khác thì lực lượng vũ trang không thể là lực lượng vũ trang nhân dân hay lực lượng vũ trang quốc gia mà nhận tiền của đảng chính trị hoặc đối tượng khác thì là Nhà nước nhân dân đang “nuôi ong tay áo” bởi lực lượng vũ trang “ăn hai mang” này thủ tiêu chính quyền nhân dân vì lợi ích của đảng chính trị hay đối tượng khác chỉ còn là vấn đề thời gian!
4 – Tại lễ khai giảng khóa đầu tiên của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ngày 26/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao cho cán bộ, học viên lá cờ thêu dòng chữ “Trung với Nước, Hiếu với Dân” và có nói: “Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau … Mong rằng anh em ở đây bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em “Trung với Nước, Hiếu với Dân”. Mà trong chính thể Cộng hòa thì Nước với Dân là một, “Trung với Nước” cũng là “Trung với Dân”. Lời căn dặn này của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhằm khẳng định lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng phải “phi đảng hóa” hay “phi chính trị hóa” để có thể toàn tâm chiến đấu vì Nước vì Dân. Do đó việc Dự thảo quy định “lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, bảo vệ Đảng, chủ nghĩa xã hội (mục đích của Đảng cộng sản Việt Nam) rõ ràng là chống lại chính Chủ tịch Hồ Chí Minh!
VI – THIẾT LẬP TÒA ÁN HIẾN PHÁP
Khoảng 6 năm trước, tôi đã tuyên bố trên phương tiện thông tin đại chúng là ở Việt Nam phải có cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp, cụ thể là Tòa bảo Hiến hay Tòa án Hiến pháp không chỉ vì có quá nhiều xâm phạm Hiến pháp gây thiệt hại nghiêm trọng cho quốc gia và công dân từ các cơ quan Nhà nước mà còn vì Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền đồng nghĩa Hiến pháp – đạo luật cơ bản của quốc gia được bảo vệ nghiêm cẩn bằng thiết chế, chứ không chỉ bằng ý chí, thì mới loại trừ và răn đe được sự cố ý làm trái Hiến pháp hay chí ít sự tùy tiện của các cơ quan Nhà nước trong làm luật và ban hành các văn bản dưới luật và các văn bản khác. Do đó tôi hoanh nghênh việc thiết lập cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp mà Dự thảo đề xuất dưới hình thức Hội đồng Hiến pháp.
Tuy nhiên, tôi vẫn khẳng định rằng cần thiết lập Tòa án Hiến pháp với những lý do sau:
Dự thảo quy định Hội đồng Hiến pháp kiến nghị Quốc Hội và các cơ quan Nhà nước khác xem xét lại, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình vi phạm Hiến pháp, kiểm tra tính hợp Hiến của điều ước quốc tế được ký kết. Như vậy, Hội đồng Hiến pháp chỉ có chức năng tư vấn, không có chức năng phán quyết về tính hợp Hiến của các văn bản do các cơ quan Nhà nước ban hành đồng nhất với quyền hủy bỏ các văn bản vi phạm Hiến pháp và do đó Hội đồng Hiến pháp không thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp trong trường hợp các cơ quan Nhà nước có liên quan không thu hồi, hủy bỏ các văn bản vi phạm Hiến pháp. Còn với chức năng phán quyết của mình, Tòa án Hiến pháp hủy bỏ các văn bản vi Hiến là không phải bàn cãi.
Trên thực tế, không chỉ các văn bản quy phạm pháp luật, tức có tính bắt buộc chung mà cả các văn bản chuyên biệt của các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương có tính bắt buộc đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức nhất định vi phạm Hiến pháp. Do đó, phạm vi điều chỉnh của Tòa án Hiến pháp là tất cả các văn bản có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp do các cơ quan Nhà nước ban hanh, bất luận quy phạm pháp luật hay không.
Ngoài ra, Tòa án Hiến pháp có quyền phán quyết về các tranh chấp liên quan đến bầu cử Quốc Hội, bầu cử Tổng thống, Hội đồng nhân dân, kết quả trưng cầu ý dân, thực hiện chức năng đăng ký các đảng chính trị.
Mặc dầu vậy, “Hội đồng Hiến pháp” vẫn có thể được chấp nhận nếu cơ quan này có mọi chức năng của Tòa án Hiến pháp như tôi vừa nêu trên.
Bởi lẽ trên tôi đề nghị quy định về tòa án Hiến pháp (Hội dồng Hiến pháp) trong Hiến pháp sửa đổi như sau:
1 – Tòa án Hiến pháp (Hội đồng Hiến pháp) là cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp do Quốc Hội thành lập, các thành viên do Quốc Hội bầu trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Quốc Hội. Nhiệm kỳ của Tòa án Hiến pháp (Hội đồng Hiến pháp) kéo dài cho đến khi Quốc Hội khóa mới bầu ra các thành viên mới của Tòa án Hiến pháp.
2 – Tòa án Hiến pháp có chức năng:
a) Phán quyết về tính hợp Hiến của các văn bản do các cơ quan Nhà nước ban hành, hủy bỏ các văn bản vi phạm Hiến pháp.
b) Phán quyết về các tranh chấp liên quan đến bầu cử Quốc Hội, bầu cử Tổng thống, bầu cử Hội đồng nhân dân, trưng cầu ý dân.
c) Đăng ký các đảng chính trị.
VII- NGĂN CHẶN CƠ QUAN NHÀ NƯỚC XÂM PHẠM QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN
Tôi đề nghị như sau:
1 -  Dự thảo quy định “Quyền con người , quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng tại khoản 2 Điều 15 mà không quy định các giới hạn quyền con người, quyền công dân phải được quy định trong luật tất dẫn đến việc các cơ quan Nhà nước ngoài Quốc Hội hay cơ quan lập pháp tùy tiện định ra các giới hạn quyền con người, quyền công dân để triệt tiêu chính các quyền này. Do đó, cần sửa lại quy định này của Dự thảo như sau “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng. Nhưng giới hạn quyền con người, quyền công dân phải được quy định trong luật”.
2 -  Bỏ quy định “ Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác tại khoản 2 Điều 16 Dự thảo vì quy định này trái với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền là “Mọi người có thể làm những gì mà luật không cấm” (Ngược lại, cơ quan công quyền và công chức phải tuân theo nguyên tắc “chỉ được làm những gi mà luật cho phép” – Từ điển Bách Khoa Việt Nam).
Trên đây là những tâm huyết và cũng là trách nhiệm công dân của tôi trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Nếu có vấn đề gì cần trao đổi, Quý Quốc Hội và Quý ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 liên hệ sớm với tôi và tôi sẵn sàng phục vụ quý vị.
Tôi mong sớm nhận được hồi âm từ quý vị.
Người yêu nước
Đã ký
Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ
Nơi nhận:
-       Như trên;
-       Gia đình ông Cù Huy Hà Vũ; Bà Nguyễn Thị Dương Hà ( vợ)
-       Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà và các luật sư khác;
-       Lưu.
b
a

Tổng thống Obama tưởng niệm cố Tổng thống John F. Kennedy

Thứ bảy, 16/11/2013

VOA : Tin tức / Hoa Kỳ

Tổng thống Obama tưởng niệm cố Tổng thống John F. Kennedy


Tổng thống Kennedy, một Tổng thống được dân chúng Mỹ mến mộ, bị ám sát vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 tại Dallas, Texas.
Tổng thống Kennedy, một Tổng thống được dân chúng Mỹ mến mộ, bị ám sát vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 tại Dallas, Texas.
16.11.2013
Tổng thống Barack Obama và cựu Tổng thống Bill Clinton sẽ đánh dấu 50 năm ngày Tổng thống John F. Kennedy từ trần bằng cách đặt vòng hoa gần mộ của Tổng thống Kennedy vào ngày thứ Tư tới.

Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama và cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ tham dự buổi lễ tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington, gần Washington.

Đây là một phần của một tuần lễ sinh hoạt tưởng nhớ Tổng thống thứ 35 của nước Mỹ, bị ám sát vào năm ông 46 tuổi.

Tòa Bạch Ốc cho biết Tổng thống Obama cũng sẽ tưởng niệm Tổng thống bị ám sát tại một dạ tiệc vinh danh những người được trao tặng Huân chương Tự do của Tổng thống năm 2013.

Huân chương này là huân chương dân sự cao quý nhất của Hoa Kỳ. Lễ trao tặng huân chương hàng năm là sáng kiến của Tổng thống Kennedy.

Những người được trao tặng huân chương năm nay gồm có cựu Tổng thống Clinton, bà Oprah Winfrey, người điều khiển chương trình truyền hình nổi tiếng, và cố phi hành gia Sally Ride.

Tổng thống Kennedy, một Tổng thống được dân chúng Mỹ mến mộ, bị ám sát vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 tại Dallas, Texas. Cái chết đột ngột và bi thảm của ông là một trong những sự kiện gây chấn động trong lịch sử nước Mỹ.

Các nhà điều tra nói Tổng thống Kennedy bị Lee Harvey Oswald một tay súng đơn độc giết chết. Tuy nhiên những giả thuyết về âm mưu ám sát vẫn tồn tại trong những năm qua.


Source : VOA




Hoa Kỳ cứu trợ mạnh mẽ nạn nhân bão Haiyan

VOA

Hoa Kỳ cứu trợ mạnh mẽ nạn nhân bão Haiyan



Người Mỹ đang đáp ứng lời kêu gọi giúp những người Philippines mà cuộc sống của họ đã bị bão Haiyan tàn phá.

Một trong những người đáp ứng lời kêu gọi là di dân Philippines Teresa Descalzota. Năm anh chị em của bà sống tại quê nhà thuộc tỉnh Iloilo đang phải chật vật phấn đấu sau cơn bão. Ngày thứ Bảy, tại một nhà thờ gần Washington, bà và những người khác đang gom góp thực phẩm, thuốc men, quần áo và dày dép cho các nạn nhân.

“Con số những người không nhà và đói khát thật là to lớn, đặc biệt những người sống gần biển. Họ bị nước cuốn hết, sinh kế và tất cả mọi thứ khác đều mất hết. Đó là lý do tại sao tôi kêu gọi giúp đỡ,” bà Descalzota nói.

Trong khi số lượng lương thực gom góp chưa được kiểm kê, bà Descalzota nói cho đến nay sự đáp ứng gây ấn tượng sâu sắc.

Cho đến ngày thứ Sáu, 20 quốc gia đã gởi đến Philippines tiền cứu trợ tổng cộng 159 triệu đô la. Australia đứng đầu danh sách với hơn 28 triệu đô la. Hoa Kỳ đứng hàng thứ ba với hơn 22 triệu đô la.

Các chuyên viên nói tiền tặng của tư nhân Mỹ sẽ nằm trong số lớn nhất đối với một tai họa tại nước ngoài. Một phúc trình cho biết số tiền này có thể lên đến 1 tỉ đô la.

Các cơ quan từ thiện cho biết đang nhận được phẩm vật cứu trợ, nhưng kho phẩm vật này vơi đi nhanh chóng. Những cơ quan này nói những tặng phẩm dồi dào lúc đầu cần phải được kéo dài để hỗ trợ cho những nhu cầu trong dài hạn.

Trong khi đó bà Teresa Descalzota nói bà biết ơn về những giúp đỡ của các người láng giềng:

“Tôi biết Hoa Kỳ gởi đến sự giúp đỡ khổng lồ. Cám ơn mọi người, và xin Chúa ban phước cho nước Mỹ và xin Chúa ban phước cho Philippines.”

Cơn bão đã làm hơn 3600 người thiệt mạng. Liên Hiệp Quốc ước lượng có gần 2 triệu người phải sơ tán.

Source : VOA


15/11/13

Vladimir Putin Đùa Với Lửa


Thursday, November 14, 2013

Vladimir Putin Đùa Với Lửa



Hồ Sơ Người-Việt Ngày 131114
Hùng Tâm

Di Dân và Chủ Nghĩa Dân Tộc tại Nga   

* Số phận Do Thái dưới chế độ Sa hoàng của Đế quốc Nga * 


Hôm Thứ Ba 12, Tổ chức Năng lượng Quốc tế IEA của Liên Hiệp Quốc vừa công bố phúc trình về Viễn ảnh Năng lượng 2013 với nhiều chi tiết đáng chú ý.

Đầu tiên là năm 2016 này Hoa Kỳ sẽ vượt Saudi Arabia để thành quốc gia sản xuất dầu thô nhiều nhất thế giới. Đáng chú ý vì IEA điều chỉnh dự báo năm ngoái, theo đó Hoa Kỳ sẽ chiếm ngôi vô địch vào năm 2017. Nghĩa là nước Mỹ có thể tiến nhanh hơn một năm! Chi tiết kia là Liên bang Nga còn tụt hậu nhanh hơn vậy, và đấy là tin kém vui cho Tổng thống Vladimir Putin.

Liên bang Nga là đại gia về năng lượng dầu khí, dầu thô và khí đốt, với trữ lượng dầu rất cao ở miền Đông và miền Tây của khu vực Tây Bá Lợi Á và với sản lượng khí đốt chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Năng lượng Nga là võ khí chiến lược cho Putin có thể chi phối Liên hiệp Âu Châu qua các ống dẫn dầu và khí đốt vắt ngang xứ Belarus ở hướng Bắc và Ukraine ở hướng Nam.

Ưu thế sa sút về năng lượng vì tình trạng tụt hậu kỹ thuật sẽ là vấn đề trường kỳ cho nước Nga.

Nhưng trước đó, Liên bang Nga còn gặp nhiều mối nguy khác ngay trong nội bộ. Sau bài viết kỳ trước (Khi Liên Bang Nga Có Loạn - Chiêu bài dân tộc gây phản ứng ngược), "Hồ Sơ Người-Việt" sẽ tìm hiểu tiếp về những mối nguy này. Đây là điều có lợi để chúng ta đặt chuyến thăm viếng Việt Nam vừa qua của Tổng thống Putin vào đúng bối cảnh, và để chúng ta nhìn lại vào ruột gan của Trung Quốc....


Kinh Tế Suy Trầm


Ngay trong hiện tại, kinh tế Nga bị đình trệ dù năng lượng vẫn cao giá và số xuất cảng của Nga đang ở mức kỷ lục.

Sau khi tăng trưởng 3,% vào năm 2010, rồi 4,6% vào năm 2012, sản lượng kinh tế của Nga sẽ chỉ tăng có 1,3% trong năm nay. Qua năm tới, tình hình có thể còn khó khăn hơn nữa nếu năng lượng sụt giá. Chi tiết đó cho thấy sự yếu kém của các khu vực sản xuất ngoài năng lượng, mà năng lượng lại là ưu thế đang mất dần. Muốn có tương lai, nước Nga cần cải cách kinh tế và trước hết cải tiến kỹ thuật khai thác năng lượng. Kỹ thuật đó, Nga phải học từ nước khác qua việc tiếp nhận đầu tư. Mà muốn tiếp nhận đầu tư cho có lợi về dài thì Nga phải cải tổ cơ chế kinh tế và chính trị.

Đối chiếu với Trung Quốc vừa qua mặt Hoa Kỳ về lượng dầu nhập cảng, Liên bang Nga có cảnh ngộ tương tự: chậm tiến về kỹ thuật. Hội nghị kỳ ba của Ban Chấp hành Trung ương khóa 18 vừa kết thúc tại Bắc Kinh đã gây thất vọng vì không đẩy mạnh việc cải cách như dự tính nhưng lại có một chi tiết còn đáng chú ý hơn: lãnh đạo mới của xứ này vừa lập ra một "Hội đồng An ninh Quốc gia" để tập trung các quyết định về tình báo và ngoại giao nhằm đối phó với những vấn đề an ninh trong nội bộ.

An ninh trong nội bộ là bài toán chung của lãnh đạo Moscow và Bắc Kinh.

Một nghịch lý của Nga hiện nay là uy tín rất cao của Tổng thống Vladimir Putin, được hơn 60% dân Nga ủng hộ, so với sự thất vọng còn cao hơn nữa của người dân đối với chính quyền. Chỉ có 16% dân Nga tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề của bộ máy công quyền. Nghịch lý ấy cho thấy là cả hệ thống chính trị hiện tại dựa trên một cá nhân. Sau 15 năm lãnh đạo liên tục với tư thế Thủ tướng rồi Tổng thống rồi Thủ tướng rồi Tổng thống, ông Putin cũng có ngày phải lui.

Sau đó tình hình sẽ ra sao? Nhiều phần sẽ là những va chạm và xung đột giữa chủ nghĩa dân tộc của người Nga với phản ứng ngày càng gay gắt hơn của các sắc tộc thiểu số theo đạo Hồi. "Hồ Sơ Người-Việt" vào tuần trước đã đề cập tới mối nguy này.

Muốn dự đoán tình hình trong trường kỳ, chúng ta có thể nhìn lại vào quá khứ của nước Nga....



Những Tiền Lệ Đáng Ngại


Đế quốc Nga cổ xưa đã bị cuộc Cách mạng Cộng sản lật đổ vào năm 1917. Biến cố lịch sử này có những nguyên nhân sâu xa hơn lý luận của Karl Marx hay kỹ thuật đảo chánh của Lenin. Nhưng nguyên nhân đó đang tái xuất hiện và có thể đe doạ Liên bang Nga thời "Hậu-Putin".

Trước hết, trong hai chục năm liền từ cuối thế kỷ 19 cho tới Thế chiến I (1914-1918), dân số Nga đã tăng rất mạnh, từ khoảng 127 triệu lên tới 170 triệu, và tăng mạnh nhất là tại các thành phố. Tiến trình kỹ nghệ hóa và đô thị hóa đã tạo ra một thành phần thị dân sau này là lực lượng lao động sẽ tham gia "cách mạng". Thành phần dân số đó xuất phát từ nông thôn và được giới quý tộc Nga gọi là "di dân". Trung Quốc ngày nay cũng đang có lực lượng lao động ấy, từ 250 đến 280 triệu, mà họ gọi là "dân công", từ nông thôn đi vào thành thị kiếm sống mà không có hộ khẩu. Truyền thông quốc tế cứ gọi thành phần này tại Nga và Trung Quốc bằng một từ chung là "migrants".

Nhớ lại chuyện xưa của Nga thì ta có một thiểu số ưu tú ở trên nhìn vào đám người thấp kém ở dưới lặng lẽ tràn vào như thủy triểu. Nhưng nhiều người Nga lại coi làn sóng nhân lực này là mối đe dọa cho việc làm của họ, y như phản ứng kỳ thị ngày nay của dân Nga trắng với người Hồi giáo ở phía Nam hay di dân từ các nước Trung Á.

Thứ hai, nhờ Nga bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1861, nhiều người Nga ở giai tầng thấp kém được đi học và vài chục năm sau, xã hội đã xuất hiện một thành phần trẻ, hiểu biết hơn xưa mà chưa cải thiện được cuộc sống. Họ thất vọng khi nhìn lên trên và bước qua thế kỷ 20 thì nhiều người trở thành lực lượng thanh niên có hoài bão cách mạng.

Sau giai đoạn đình trệ kinh tế tại Âu Châu và vụ khủng hoảng tài chánh của giới quý tộc Nga vào năm 1899, tinh thần bạo động và phương pháp khủng bố mang màu sắc Nga đã xuất hiện. Những yếu tố đặc thù này góp phần đáng kể cho cuộc Cách mạng của Lenin. Chúng ta cần nhìn lại chuyện đó khi nhớ tới sự sa sút kinh tế tại Nga lồng trong vụ khủng hoảng của khối Euro ngày nay.

Thứ ba, vào  thời đó rồi, người ta đã chứng kiến tinh thần bài ngoại của dân Nga đi cùng nạn kỳ thị chủng tộc giữa các sắc dân thiểu số với nhau, như giữa dân Armenia với Azerbaijan hay giữa dân Kazakh và dân Turk. Khi Đế quốc Nga lụn bại, những tranh chấp như vậy đã lan rộng và gây thêm bất ổn. Trong sự bất ổn chung, tại miền Tây tiếp cận với Âu Châu đã xuất hiện nạn xung đột tôn giáo giữa Chính thống giáo và Thiên Chúa giáo, giữa Công giáo và Tin Lành.

Đáng chú ý vì có hậu quả lâu dài nhất là sự ngược đãi người Do Thái. Sắc dân này chỉ chiếm 6% dân số Nga, nhưng bị tập trung trong khu vực ngày nay trải rộng trên lãnh thổ Ukraine, Ba Lan, Lithuania, Belarus, Moldovia và Liên bang Nga. Dù bị khoanh vùng sinh hoạt, họ khá thành công về kinh doanh, có vai trò trọng yếu cho giao thương buôn bán và bị đa số dân Nga bần cùng coi là nguyên nhân của mọi khó khăn kinh tế. Khi tình hình làm ăn sa sút, hoặc việc giao thương bị hạn chế, công nhân Nga bị các ông chủ Do Thái sa thải.

Vì vậy, năm 1905 đã có những vụ biểu tình phản đối, nổi loạn và bạo động với cường độ chưa từng thấy, khiến 15 ngàn người thiệt mạng, trong đó có ba ngàn dân Do Thái. Nghiêm trọng nhất là tại St. Peterburg.

Khi đó, chế độ Sa hoàng (Hoàng đế Nga) đã có nhiều cách xử trí khác nhau. Trước thì thẳng tay đàn áp công nhân, nhưng về sau nhượng bộ và cho họ nhiều quyền hạn hơn trong một cơ chế đại diện mới, là Quốc hội Duma sau này. Với những vụ xung đột sắc tộc, chế độ không trừng phạt mà còn kín đáo yểm trợ các nhóm "dân quân Nga" đang tấn công người thiểu số. Xa hơn thế, và y như Putin ngày nay, chế độ khai thác tinh thần dân tộc của người Nga để chuyển trọng tâm đấu tranh qua hướng khác: dồn sự bất mãn của người dân vào thành phần thiểu số.

Chiến lược đó thành công được vài năm, cho đến 1907 thì gây phản ứng ngược. Mọi sự bất mãn đều nhắm vào chế độ và thành phần quý tộc. Mười năm sau thì Lenin gặt hái thành quả.

Lịch sử tất nhiên là không tái diễn y hệt như ngày xưa. Nhưng những gì đang xảy ra tại Liên bang Nga có thể cho thấy giới hạn của Putin.


Vấn Đề Của Vladimir Putin


Trước những khó khăn chồng chất về nhiều mặt kinh tế, xã hội và chính trị, Tổng thống Nga áp dụng chiến thuật xưa là đối xử có dị biệt đằng sau chủ nghĩa dân tộc của người Nga La Tư (Slav).

Trong các vụ xung đột giữa người Nga và dân thiểu số Hồi giáo hay di dân Trung Á, nhà chức trách địa phương không trừng phạt mà còn ngầm yểm trợ các nhóm Nga quá khích. Ở cấp quốc gia, các lực lượng bảo thủ đã có thế mạnh và đưa ra chủ trương chính sách hạn chế di dân, thậm chí đòi hỏi các gia đình Hồi giáo chỉ được có hai con. Lập trường đó của Vladimir Zhirinovsky có hậu thuẫn đáng kể nên đảng Tự do Dân chủ Nga đang là chính đảng đứng hạng thứ tư.

Nhưng cũng trong thành phần có tinh thần quốc gia dân tộc đã thấy xuất hiện sự lạ.

Nhiều người, như lãnh tụ Alexei Navalny, không chỉ kêu gọi biểu tình chống di dân và người Hồi giáo trong các năm 2010-2011 mà còn xoay ra chống Putin trong các cuộc bầu cử Quốc hội và Tổng thống vào năm ngoái. Dù đã bị đàn áp, chủ trương chống chính quyền này vẫn còn âm ỉ và khẩu hiệu đòi hỏi dân chủ đang là một bài toán mới cho Putin. Bài toán sẽ trở thành nan giải hơn khi kinh tế bị suy thoái.

Huống hồ là chính sách kỳ thị thiểu số cũng không thể là giải pháp lâu dài vì thành phần này vẫn là công dân của nước Nga, trên nguyên tắc thì phải được Hiến pháp bảo vệ. Với di dân từ Trung Á, chính sách kỳ thị cũng gây phản tác dụng về ngoại giao: Putin cần sự hợp tác của các nước Trung Á cho chiến lược xây dựng Liên hiệp Quan thuế Âu-Á, trải rộng từ biên giới với Âu Châu qua khu vực Viễn Đông.

Putin không thể để bùng nổ xung đột hay nội chiến như đã xảy ra với Chechnya và càng không muốn có thêm mâu thuẫn với các nước Trung Á trước sự ve vãn mua chuộc của của Trung Quốc.

Khi ông bị yếu thế, là điều khó tránh, những vấn đề nói trên có thể bất ngờ phát tác.

_____________________


Kết luận ở đây là gì?


Hoa Kỳ đang có nhiều vấn đề nội bộ, gây tranh luận hàng ngày hàng giờ trước sự chứng kiến và phê phán của dân chúng. Kết quả tranh luận sẽ dồn vào các cuộc bầu cử, không 2014 thì 2016, v.v.... Nhưng nước Mỹ không có loại vấn đề sinh tử trong tạng phủ như Liên bang Nga, hay Trung Quốc.

Bối cảnh nhiễu nhương của Nga khiến ta càng chú ý đến bài toán Hồi giáo, Tây Tạng và chuyện Tân Cương của Trung Quốc.

Chủ nghĩa dân tộc Nga của Putin hay "Giấc mộng Trung Hoa" của Tập Cận Bình có khi lại là ác mộng.

Source  : dainamax tribune

Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: vui hay buồn?


15/11/2013


Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: vui hay buồn?


Phạm Minh Hoàng


Hãy cứ hình dung một tên Chánh tổng trọc phú nhờ chạy chọt với đủ mặt quan trên vừa được cái hàm cửu phẩm, mặt tươi hơn hớn, đi khắp tỉnh nhà bông dua me xừ các cụ, ra mặt mình cũng là dân chơi có chút vốn liếng về “dân quyền dân sinh” đây. Trong khi đó thì “đồng dân thượng hạ” trong những thôn ấp mà hắn là chủ thu tô đang đói rã họng vì bị vắt kiệt sức, bị bịt mồm bịt miệng không cho kêu van, và ngày ngày bị mấy tên dân phòng hàng tổng vác gậy đến từng nhà đe nẹt, lôi hàng chục người ra đình làng gông lại đánh cho nát đít, để đòi lại ruộng và đất ở cho con cái dâu rể hắn chia lô bán chác với giá cắt cổ, mà một đám doanh nhân ở đâu trên tỉnh lâu nay đang phất lên với những mánh mung bất chính sẵn sàng kéo về thầu tất.
Và mỗi khi ngài Tổng từ trên trên tổng cắp ô vác ba toong đến làng, hễ nghe thằng dân nào mở miệng nói lên hai chữ "dân quyền" thì ngài vác ngay ba toong chỉ vào mặt kẻ lớn lối ấy mà nói: "Quân thoái hóa! Dân quyền là dành để mua vui cho các quan chức hàng tỉnh, chứ đâu phải cho chúng bay! Ông thì... thì... lôi cổ ra cho bàn dân "đấu" cho một mẻ để cho mà biết cái "dân quyền" của dân An Nam là như thế nào bây giờ" (Trích Việc làng tân truyện).
Bauxite Việt Nam


Ngày 12/11/2013 vừa qua, Việt Nam được bầu làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên Hiệp Quốc (LHQ) với một tỷ lệ rất cao. Thực tình mà nói, căn cứ vào cơ cấu của HĐNQ cũng như các ứng viên cho kỳ này, giới đấu tranh trong và ngoài nước không lấy làm ngạc nhiên lắm, nhưng dù gì đi chăng nữa đây cũng là một “tin không vui” cho chúng ta, những người yêu chuộng và tôn trọng những giá trị phổ quát của nhân loại. Tuy nhiên, sau những xúc động ban đầu, chúng ta hãy bình tâm xem xét mọi khía cạnh của vấn đề - nhưng từ nhãn quan của 184 nước đã bỏ phiếu cho VN để thấy rằng họ không hoàn toàn “bị lừa bịp” và cũng để thấy rằng con đường chúng ta đang lựa chọn cho dù còn nhiều chông gai nhưng vẫn có những cơ hội, những hy vọng nhất định.
Vài nét về các định chế nhân quyền LHQ
Ít được nhắc đến như HĐBA, nhưng Hội đồng Kinh tế xã hội (viết tắt là ECOSOC) là một cơ cấu cực kỳ quan trọng của LHQ. ECOSOC có nhiệm vụ về các vấn đề liên quan đến kinh tế và xã hội toàn cầu. Năm 1946, ECOSOC đã thành lập Ủy ban Nhân quyền (UBNQ) có nhiệm vụ kiểm soát việc tôn trọng các điều khoản đã ghi trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của LHQ.
UBNQ gồm 53 thành viên chia thành: châu Âu: 15, châu Phi: 15: châu Mỹ: 11, châu Á: 12. UBNQ nhóm họp hàng năm vào tháng 3, khóa họp kéo dài 6 tuần tại trụ sở ở Genève. Trong khóa họp này, ngoài 3000 đại diện các nước thành viên còn có sự hiện diện của 200 tổ chức phi chính phủ. Đây là điểm hết sức quan trọng, vì qua đó UBNQ muốn lắng nghe tiếng nói khác với các tiếng nói "chính thống".
Khác với HĐBA, các quyết nghị của UBNQ không mang tính ràng buộc nhưng vị thế của UBNQ quan trọng ở chỗ là nó liên quan đến một vấn đề vồ cùng nhạy cảm với tất cả các quốc gia, cho dù đó là thành viên hay không của HĐBA, cho dù đó là một cường quốc hay một nước kém phát triển, cho dù đó là một quốc gia trong thời chiến hay thời bình. Đó là vấn đề nhân quyền. Mà nhân quyền (đối tượng của UBNQ) khác chiến tranh (đối tượng của HĐBA) ở chỗ đó là những khái niệm trừu tượng hơn, do con người đặt ra và diễn giải tùy tiện. Chính vì thế nên UBNQ thường xuyên là diễn đàn cực kỳ căng thẳng.
Một trong những phiên họp gay go nhất đã xảy ra vào năm 2001 tại Durban (Nam Phi). Chủ đề của phiên họp là bàn về nạn kỳ thị. Tuy nhiên kỳ thị ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng chứ không đơn thuần là kỳ thị về màu da, về chủng tộc và hơn nữa, vì mang tên là UBNQ nên chắc chắn nội dung cũng sẽ đi đến hoặc xoay quanh vấn đề nhân quyền. Chính vì hiểu theo nghĩa rộng ấy nên phạm vi ảnh hưởng của nó lan tỏa khắp năm châu và đặc biệt là như vấn đề Tây Tạng và Pháp Luân Công.
Ngay trước ngày khai mạc, "đánh hơi" thấy mũi dùi hướng vào mình, Trung Quốc đã tích cực "đi đêm", vận động hành lang để một mặt triệt tiêu tất cả các hướng tấn công đến từ các hiệp hội như Ân xá Quốc tế, Quan sát Nhân quyền (Human Rights Watch), đồng thời xúi giục các nước Phi châu cũng nằm trong danh sách bị cáo, các nước Ả Rập nhằm làm "chìm xuồng" vấn đề Tây Tạng. Hội nghị Durban được khai mạc trong một không khí cực kỳ căng thẳng. Mặc dù chủ đề của hội nghị đặt trọng tâm vào vấn đề kỳ thị, và mở rộng sang các quyền con người, nhưng các nước trong khối Ả Rập đã biến diễn đàn thành một tòa án kết tội Israel. Nhiều quan sát viên, và kể cả bà Mary Robinson cũng chán nản, bất lực trước tình trạng bát nháo và thô bạo của một số quốc gia Ả Rập và Phi Châu.
Nhiều ngày sau, với sự kiên trì và mềm mỏng của ban chủ tọa cũng như của Liên hiệp Âu châu, Hội nghị cũng dần tiến đến việc thông qua một số nội dung quan trọng. Đến lúc này Trung Quốc tung ra một đòn mới: kết hợp với các nước như Burundi, Cuba, Indonesia, Nigeria, Qatar, Myanmar, Sudan, Việt Nam thành một khối được các quan sát viên gọi là "like-minded", tạm dịch là "cùng hội cùng thuyền" hay nói toạc ra là "một băng đảng" vì các nước trên đang nằm trên danh sách đen của UBNQ. Nhóm này chiếm một trọng lượng đáng kể nên thao túng hoàn toàn hội nghị, đồng thời dựa trên một nguyên tắc là không được xâm hại đến chủ quyền quốc gia nhằm triệt tiêu mọi mũi dùi nhắm vào họ. Và cuối cùng Durban đã không đạt được mục tiêu ban đầu của mình.
Sau thất bại này, bà Mary Robinson từ chức. Đúng ra là bà ta đã thấy sự vô hiệu quả của UBNQ trước sự thao túng của một số quốc gia thành viên, nhưng bà Robinson cố gằng thuyết phục những nước còn lại đưa ra một văn bản đánh dấu cho Hội nghị Durban.
Sự thao túng của nhóm các nước "băng đảng" lên đến đỉnh điểm khi họ đi đêm để loại Mỹ ra khỏi UBNQ trong nhiệm kỳ 2002 và bầu chủ tịch mới là... Libye của Gaddafi. Xướng ngôn viên của đài truyền hình A2 của Pháp trong bản tin 20 giờ đã thốt lên:"Xin quý thính giả nghe rõ, đây không phải là một trò đùa, nhưng Libye vừa được bầu vào ghế chủ tịch UBNQ LHQ...".
Hội đồng Nhân quyền và cuộc họp 12/11/2013
Được đưa ra từ năm 2006 để thay thế UBNQ làm việc kém hiệu quả, tuy nhiên HĐNQ vẫn duy trì cơ cấu cũ là phân phối số ghế thành viên theo vùng địa dư. Tổng cộng có 5 vùng lãnh thổ chia nhau 47 ghế. Riêng vùng châu Á Thái Bình Dương có 23 ghế. Nhiệm kỳ là 3 năm nhưng hàng năm sẽ bầu lại 1/3 để đảm bảo tính thời sự. Năm 2013 châu Á sẽ bầu lại 4 thành viên. Các ứng viên sẽ được bầu từ Đại Hội đồng LHQ bao gồm 192 nước.
Ngay từ khi các nước nộp đơn ứng viên, nhiều tiếng nói đã nổi lên khi biết đó chính là những nước vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất. Trong vùng Á châu là Trung Quốc, Ả Rập Saudi và Việt Nam. Bà Peggy Hicks của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) đã than thở "Với sự hiện diện của Nga, Trung Quốc, Ả Rập, Saudi, những người bảo vệ nhân quyền sẽ có nhiều việc phải làm cho năm tới". Liên đoàn Quốc tế vì Nhân quyền (FIDH) gồm 178 tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới tỏ ra hoài nghi về khả năng cải thiện nhân quyền của Việt Nam trong thời gian tới sau khi Hà Nội có được ghế tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Bà Julie Gromellon, đại diện Liên đoàn Quốc tế vì Nhân quyền (FIDH) nói: “Việt Nam đã không chứng tỏ những cam kết cải thiện nhân quyền trước khi trở thành thành viên của Hội đồng. Cho nên, chúng tôi không nghĩ rằng một khi được ghế rồi thì họ sẽ cải thiện. Thậm chí, thành tích nhân quyền của Hà Nội còn có thể sẽ tệ đi”. Còn Ông Robertson thuộc Human Rights Watch (HRW) nói:"Chúng tôi hết sức quan ngại khi một nước vi phạm nhân quyền tồi tệ với chiến dịch leo thang đàn áp những người bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động như Việt Nam lại được chọn vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc".
Những diễn biến sau đó chứng tỏ lời thẩm định của các Tổ chức phi chính phủ (NGO) là có lý: lần lượt Iran được bầu vào Hội đồng về Nữ quyền (CSW), Syrie được bầu vào Hội Đồng Nữ quyền của UNESCO và Ả Rập Saudi được bầu vào Hội đồng Bảo an LHQ. Đến cận ngày bầu cử mọi việc đã rõ mười. Trong vùng châu Á Thái Bình Dương, chỉ có 4 ứng viên cho… 4 ghế. Sau khi kết quả được công bố, Tổng giám đốc của UN Watch (UNW), một tổ chức phi chính phủ đấu tranh trong lãnh vực nhân quyền đã phải thốt lên: “Đây là một ngày đen tối cho nhân quyền, những kẻ đúng ra phải đứng trước vành móng ngựa thì nay lại chễm chệ trên ghế quan tòa (…) Danh sách ô nhục này gồm Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, Cuba, Algerie, Tchad và Việt Nam”.
Nhưng NGO và những người đấu tranh cho nhân quyền quả đã không sai khi cho rằng“ngày hôm nay, nhiều nước gia nhập nó không phải vì họ có thành tích tốt về nhân quyền nhưng lại là những nước vi phạm nhiều nhất. Họ vào chỉ để với mục đích biện hộ cho những thành tích bất hảo của họ”. Và kết quả cuộc bỏ phiếu ngày 12/11 đã xác định một điều rằng “Một nước được bầu vào HĐNQ không có nghĩa là họ thực sự tôn trọng nhân quyền”. Thiết nghĩ đây là câu trả lời rõ ràng nhất cho những khoe khoang của Hà Nội rằng “đã thành công trong việc tạo được một uy tín lớn trên diễn đàn quốc tế. Điều này cũng thể hiện sự tín nhiệm và ủng hộ của các quốc gia trên thế giới dành cho Việt Nam”.
Tuy nhiên, một thắc mắc không thể không đặt ra là tại sao những “tên đồ tể của nhân quyền” này lại được Đại Hội Đồng LHQ thông qua với một số phiếu cao như vậy? VN được bầu với tỉ lệ 184/192 (vì bầu kín nên không biết 8 nước phản đối hay bỏ phiếu trắng là ai). Ai cũng rõ là các nước trong “danh sách ô nhục” này đã bỏ rất nhiều thời gian và công sức để “đi đêm” trước ngày bỏ phiếu nhưng không lẽ Trung Quốc và Nga lại có thể thao túng và mua chuộc cả thế giới? Muốn trả lời câu hỏi này chúng ta phải lui về thời điểm 12 năm trước, khi hội nghị Durban kết thúc.
Phú quý sinh lễ nghĩa.
Việc Libye được bầu vào chức chủ tịch UBNQ hoặc các nước như Trung Quốc, Bahrein, Cuba, Zimbabwe, Sudan và Việt Nam được bầu làm thành viên của UBNQ vào năm 2001 bỗng nhiên tạo cho cộng đồng thế giới tiếp cận với một suy nghĩ mới, một phương cách hoạt động mới. Một mặt họ tìm cách khai tử UBNQ và đến năm 2006 cho ra đời Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) với những mục đích hữu hiệu hóa chức năng của định chế này. Nhưng điều quan trọng hơn cả là họ điều chỉnh nguyên tắc hoạt động. Kể từ giờ họ tránh tình trạng đối nghịch giữa các thành viên và tìm cách “lôi kéo” các nước “băng đảng” tham gia sâu vào HĐNQ vì theo họ, các nước vi phạm nhân quyền luôn luôn phải chứng tỏ mình không hề vi phạm nhân quyền (bằng cách này hay bằng cách khác) tham gia vào các diễn đàn kiểu HĐNQ để thao túng; nhưng việc này lại tạo ra nhiều phản ứng tích cực khác:
- Trước tiên, với tư cách là thành viên, họ khó có quyền từ chối các thanh tra nhân quyền trên lãnh thổ của họ như đã từng làm trong quá khứ, đây là trường hợp của Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, Algerie và Việt Nam (cũng lại những khuôn mặt cũ !). 18 chuyên gia của HĐNQ sẽ hoạt động độc lập, khách quan và không chịu bất kỳ sức ép của bất kỳ cơ quan hoặc của chính phủ nào. Một cái khác giữa UBNQ và HĐNQ là định kỳ các thành viên phải tường trình về tình trạng nhân quyền trong nước của mình.
- Sau nữa, với tư cách là thành viên HĐNQ, khi ban hành hoặc kiểm soát các nước khác họ cũng phải ít nhiều e ngại lời chỉ trích của các nước này. Điều này có khả thi hay không cũng chưa ai biết được vì chẳng ai có thể tiên đoán hoặc đo lường phản ứng của các nhóm “băng đảng”. Nhưng khi quyết định dùng “biện pháp mềm” có lẽ cộng đồng thế giới cũng đã nhìn thấy từ các ảnh hưởng tích cực khi thu nhận Trung Quốc, Nga, Việt Nam và các nước độc tài vào Tổ chức Thương mại Thế giới khiến cho các nước này suốt ngày phải “đuổi theo chỉ tiêu tăng trưởng”, đồng nghĩa với việc xa rời cái ý thức hệ độc tài và lỗi thời.
- Tuy nhiên điều quan trọng là cơ cấu HĐNQ không có quyền phủ quyết và nếu nhìn vào thành phần 47 nước thành viên thì các nước trong nhóm “băng đảng” vẫn chiếm thiểu số. Bà Peggy Hicks, HRW cũng bày tỏ lạc quan "với việc không có quyền phủ quyết, chúng ta sẽ đạt được nhiều tiến bộ cụ thể”.
Với những ràng buộc này, liệu HĐNQ có thành công hơn UBNQ trong sứ mạng của mình? Liệu định chế này, với những biện pháp “dỗ ngọt” này có thành công trong việc cải thiện được tình trạng đối nghịch hoặc “cải tà quy chánh” được những nước trong“danh sách ô nhục”? Con đường còn lắm gian truân nhưng có lẽ nó tuỳ thuộc vào nạn nhân chứ không vào các người cầm quyền.
Và cũng chính vì lẽ đó, việc Việt Nam đưvvà những cơ hội mới, đó là chúng ta phải nỗ lực hơn nữa để cả thế giới thấy khát vọng chính đáng của mình đang bị một chế độ và là thành viên của HĐNQ đàn áp. Những động thái của nhà cầm quyền VN sẽ bị săm soi kỹ hơn và kể từ đây "nhất cử nhất động" của họ cũng được thế giới chú ý kỹ hơn. Phản ứng mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ như HRW, Phóng viên Không biên giới (RSF), UNW, Freedom House, FIDH… về việc các nước vi phạm nhân quyền trầm trọng như Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, Việt Nam, Cuba, Venezuela… cũng đang “hứa hẹn” cho các nước “băng đảng” một tương lai khá “bận rộn”.
Ước mong rằng đảng CSVN nhìn ra được mặt tốt của vấn đề, biết xem đó là một cơ hội chứng tỏ mình thực sự là một quốc gia tiến bộ, vĩnh viễn rời bỏ cái băng đảng chuyên quậy phá ngày xưa, hội nhập thực sự và toàn diện vào cộng đồng thế giới văn minh. Từ bỏ thái độ cao ngạo độc tôn của mình để lắng nghe nguyện vọng của toàn dân.
Đây sẽ là cách tốt đẹp và hữu hiệu nhất để xây dựng một nước Việt Nam thật sự tự do, dân chủ.

Sài Gòn, 14/11/2013
P.M.H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN


Source : Bauxite Việt Nam

VN vào Hội đồng nhân quyền để làm gì?

VN vào Hội đồng nhân quyền để làm gì?


Cập nhật: 11:32 GMT - thứ sáu, 15 tháng 11, 2013
Hội đồng nhân quyền LHQ
14 quốc gia trở thành tân thành viên Hội đồng nhân quyền LHQ năm nay
Trong mấy ngày qua, dư luận trong và ngoài nước rất quan tâm – và cũng phản ứng rất khác nhau – về việc Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền (HĐNQ) của Liên hiệp quốc. Trong khi Chính phủ và quan chức Việt Nam rất tự hào về sự kiện ấy, nhiều tổ chức và cá nhân đấu tranh cho nhân quyền lại thất vọng.
Giới lãnh đạo Việt Nam có lý do để vui mừng vì đây là lần đầu tiên kể từ khi Hội đồng nhân quyền được thành lập vào năm 2006, Việt Nam giành được một ghế trong tổ chức này và với một số phiếu tương đối cao (184 trên 192 phiếu bầu).
Với những ai hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, đặc biệt những người đã vận động để Việt Nam không được bầu vào Hội đồng trong thời gian qua, chuyện họ thất vọng cũng là điều dễ hiểu vì với một kết quả như vậy, có thể cộng đồng quốc tế sẽ ít quan tâm đến hồ sơ nhân quyền của Việt Nam.
Nhưng giới chức Việt Nam có nên hoàn toàn tự hào, hãnh diện – và giới đấu tranh cho nhân quyền có nên hoàn toàn thật vọng, bất ngờ – về việc Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp quốc (LHQ)?
Nếu nhìn lại cơ cấu, thành viên, hoạt động và kết quả của cơ quan này ít hay nhiều chắc ai cũng có thể nhận ra rằng Việt Nam được bầu làm thành viên của một tổ chức quốc tế như vậy không phải là một điều gì đó thật đáng hãnh diện hay quá thất vọng hoặc quá bất ngờ.

Để tránh chỉ trích?

"Vì đây là một tổ chức nhân quyền của LHQ, nhiều quốc gia thiếu tôn trọng nhân quyền coi việc được bầu vào đây như là một cách để che dấu những yếu kém của mình"
Nhân quyền là một trong những ưu tiên hàng đầu của Liên hiệp quốc ngay từ khi tổ chức này được hình thành vào năm 1945 và cơ quan đặc trách việc cổ vũ, bảo vệ nhân quyền của LHQ là Ủy ban nhân quyền (UBNQ) – tiền thân của HĐNQ.
Được thành lập năm 1946, Ủy ban nhân quyền đã đạt được không ít thành tựu rất lớn trong thời gian đầu, trong đó có việc giúp soạn thảo Bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền – một tuyên ngôn được Đại hội đồng LHQ thông qua vào năm 1948 và vẫn được coi là một trong những tuyên ngôn về nhân quyền quan trọng, có giá trị và ý nghĩa nhất ngày hôm nay.
Nhưng rồi vào những thập niên sau đó, đặc biệt là kể từ những năm 1990 và đầu 2000, tổ chức này không còn đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, quảng bá nhân quyền và uy tín của nó cũng bị giảm sút nghiêm trọng. Thay vì là một cơ quan hoạt động cho nhân quyền, nó lại trở thành diễn đàn để các nước vi phạm các quyền căn bản của con người che đậy hồ sơ nhân quyền kém cỏi của mình.
Một trong những lý do dẫn đến tình trạng đó là tổ chức này có quá nhiều thành viên. Khi thành lập, nó chỉ có 18 nước, trong đó đa số là các nước dân chủ. Nhưng vì muốn có tính đại diện cao, UBNQ đã mở rộng theo thời gian và tới năm 1992 có đến 53 thành viên. Vì vậy, nhiều quốc gia có cơ hội được bầu vào Ủy ban này, trong đó có những nước được bầu dù vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và có hệ thống.
Và vì đây là một tổ chức nhân quyền của LHQ, nhiều quốc gia thiếu tôn trọng nhân quyền coi việc được bầu vào đây như là một cách để che dấu những yếu kém của mình.
Trong bài viết có tựa đề ‘The United Nations Human Rights Council: Repeating Past’ Mistakes’ được The Heritage Foundation đăng năm 2006, Brett D. Schaefer nhận định rằng những quốc gia có hồ sơ nhân quyền không mấy tốt đẹp đã tranh cử vào UBNQ nhằm để ngăn cản những chỉ trích, nhòm ngó của dư luận về tình trạng nhân quyền của mình.
Trong số những quốc gia mà tác giả này cho rằng có hồ sơ nhân quyền đáng ngờ và thành công tìm được ghế trong UBNQ vào các năm trước đó có Trung Quốc, Cuba và Việt Nam. Thậm chí năm 2003, Libya – một quốc gia có chế độ độc tài dưới thời Đại tá Gaddafi – còn được bầu làm chủ tịch Ủy ban.
Cựu Tổng thư ký LHQ
Cựu Tổng thư ký LQH Kofi Annan từng chỉ ra yếu kém của Hội đồng Nhân quyền
Tương tự, trong ‘Sins of Commission? Understanding Membership Patterns on the United Nations Human Rights Commission’, được đăng trên tạp chí Political Research Quarterly năm 2008, Martin S. Edwards lập luận rằng các quốc gia thiếu tôn trọng nhân quyền coi việc vào Ủy ban nhân quyền như là một hành động tự vệ, giúp mình tránh bị dòm ngó hay bị chỉ trích.
Tác giả này thậm chí cho rằng những nước có hồ sơ nhân quyền kém lại có cơ hội được bầu vào Ủy ban nhân quyền hơn những quốc gia tôn trọng nhân quyền.

'Đề xuất giải tán'

Có thể đúng như vậy vì vào năm 2001, Mỹ – một quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập LHQ và Ủy ban nhân quyền nói riêng – đã không được bầu vào Ủy ban nhân quyền.
Một bài xã luận của tờ New York Times ngày 26/02/2006 cũng đã gọi Ủy ban nhân quyền là ‘một nỗi nhục của Liên hiệp quốc’.
Không chỉ giới học giả, quan sát mà ngay cả Tổng thư ký LHQ lúc ấy là Kofi Annan cũng đã thẳng thắn chỉ ra những yếu kém và giới hạn của Ủy ban nhân quyền LHQ.
Trong một báo cáo có tựa đề In Larger Freedom vào tháng Ba năm 2005, ông Annan đã khẳng đình rằng: ‘Các nước tìm cách trở thành thành viên của Ủy ban không phải để củng cố nhân quyền mà để bảo vệ mình khỏi bị chỉ trích hay nhằm chỉ trích nước khác’. Theo ông, điều đó không chỉ dẫn đến sự mất uy tín của UBNQ mà còn làm mất thanh danh của toàn hệ thống LHQ.
Vì vậy, ông Annan đã đề xuất giải tán Ủy ban nhân quyền và thành lập một Hội đồng nhân quyền mới. Đề nghị của ông được chấp thuận và trong nhiều tháng sau đó Đại hội đồng LHQ đã thảo luận về cơ cấu, mục đích của Hội đồng nhân quyền và bỏ phiếu thông qua việc thành lập Hội đồng này vào ngày 15/03/2006.
"Theo ông Annan, các quy định và điều kiện để trở thành thành viên của Hội phải khó, nghiêm và mạnh hơn. Chẳng hạn để giành một ghế trong Hội đồng nước ứng viên phải có hồ sơ nhân quyền tương đối tốt và phải nhận được 2/3 số phiếu của các nước thành viên LHQ"
Khi đề xuất giải tán UBNQ và thành lập HĐNQ, Tổng thư ký LHQ muốn có một tổ chức nhỏ hơn về số lượng thành viên nhưng có hiệu quả hơn để theo dõi tình trạng nhân quyền của tất cả các nước thành viên của LHQ.
Vì vậy, theo ông Annan, các quy định và điều kiện để trở thành thành viên của Hội phải khó, nghiêm và mạnh hơn. Chẳng hạn để giành một ghế trong Hội đồng nước ứng viên phải có hồ sơ nhân quyền tương đối tốt và phải nhận được 2/3 số phiếu của các nước thành viên LHQ.
Nhưng những đề nghị đó đã không được đa số các nước thành viên của LHQ chấp thuận. Cụ thể, ngoại trừ việc đại diện theo khu vực địa lý, không có một tiêu chuẩn cụ thể hay nghiêm ngặt nào để xem xét một quốc gia có đủ điều kiện để được bầu vào Hội đồng. Hơn nữa, cũng chỉ cần nhận được số phiếu quá bán tại Đại hội đồng LHQ, một quốc gia ứng viên sẽ được bầu vào HĐNQ.
Và quan trọng hơn, với 47 thành viên, HĐNQ cũng giảm không đáng kể về số lượng so với UBNQ cũ. Đây là một giới hạn lớn của Hội đồng vì với con số thành viên nhiều như vậy, cũng giống như trước đây, những nước không tôn trọng nhân quyền vẫn có cơ hội giành được ghế trong Hội đồng.
Chẳng hạn, nếu Hội đồng chỉ có khoảng 20 thành viên và mỗi nhóm, khu vực hay châu lục chỉ có ba hoặc bốn đại diện, chắc chắn sẽ có sự cạnh tranh cao và chỉ những nước có hồ sơ nhân quyền tốt mới có hy vọng tìm được một chỗ trong HĐNQ.
Nhưng với số lượng 47 thành viên và châu Á có đến 13 đại diện sớm hay muộn, những quốc gia được cho là có hồ sơ nhân quyền đáng nghi như Trung Quốc hay Việt Nam sẽ được bầu vào Hội đồng. Do đó, chuyện Việt Nam trở thành thành viên của HĐNQ năm nay cũng không có gì đáng ngạc nhiên hay đáng tự hào hoặc đáng thất vọng.

'Thất bại của Hội đồng'

Vì cũng không có những thay đổi căn bản, triệt để so với Ủy ban nhân quyền, theo giới quan sát, bình luận Hội đồng nhân quyền đã không đạt được thành quả đáng kể nào trong việc cổ võ và bảo vệ nhân quyền trên thế giới dù đây là hai nhiệm vụ chính của tổ chức này.
Cảnh sát ở Việt Nam
Giới vận động nhân quyền tỏ ra quan ngại về tình hình đàn áp nhân quyền gần đây của VN
Trong bài viết có tựa đề ‘The United Nations Human Rights Council: A Disastrous First Year’, cũng được đăng trên trang web của The Heritage Foundation năm 2007, Brett D. Schaefer đã chỉ ra những yếu kém, thiếu hiệu quả của Hội đồng này trong năm đầu hoạt động.
Cụ thể trong năm 2007, HĐNQ đã có 12 nghị quyết về tình trạng nhân quyền tại chỉ hai quốc gia là Israel và Sudan, với việc có đến chín cái lên án Israel và ba nghị quyết chỉ trích nhẹ Sudan, và không thông qua một nghị quyết, tuyên bố nào lên án những vi phạm nhân quyền tại 19 trong số 20 nước được tổ chức Freedom House liệt kê là những quốc gia có tình trạng nhân quyền ‘tệ nhất trong các nước tệ nhất’ năm đó.
Cũng trong bài viết ấy, Brett D. Schaefer nhấn mạnh rằng giống như trước đây, các quốc gia không tôn trọng nhân quyền tranh cử vào Hội đồng nhân quyền chủ yếu nhằm để tránh bị chỉ trích về tình trạng nhân quyền của mình hơn là để cổ võ nhân quyền.
Phản ứng của một vài quan chức Việt Nam và Trung Quốc sau khi hai nước này được bầu vào Hội đồng ít hay nhiều minh chứng nhận định ấy.
Thay vì coi đây là một cơ hội để học hỏi thêm và giúp gia tăng nhân quyền tại nước mình cũng như trên thế giới, một quan chức Việt Nam đã nói với việc trở thành thành viên của Hội đồng, Việt Nam giờ có thể chứng minh cho thế giới thấy rõ quyền con người ở Việt Nam và hơn nữa việc được vào HĐNQ là ‘đòn đánh mạnh vào các đối tượng mà bấy lâu nay cố tình bôi nhọ, vu cáo’ Việt Nam.
"Vì những nước thành viên coi trọng việc bảo vệ ‘thành tích’ nhân quyền của mình, chuyện Hội đồng nhân quyền không giúp gì nhiều trong việc cổ vũ và bảo vệ nhân quyền trên thế giới cũng là điều dễ hiểu"
Vì những nước thành viên coi trọng việc bảo vệ ‘thành tích’ nhân quyền của mình, chuyện Hội đồng nhân quyền không giúp gì nhiều trong việc cổ vũ và bảo vệ nhân quyền trên thế giới cũng là điều dễ hiểu.
Một cuốn sách mới xuất bản năm nay (2013) của Rosa Freedman có tựa đề ‘The United Nations Human Rights Council: A Critique and Early Assessment’, đã kết luận rằng HĐNQ đã thất bại trong việc quảng bá và bảo vệ nhân quyền trên thế giới vì tổ chức này phớt lờ – hoặc bị ngăn ngừa xem xét – những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại nhiều nước.
Cũng theo tác giả này, vì có quá nhiều thành viên, các thành viên lại được bầu theo nhóm và hơn nữa đó là một tổ chức liên chính phủ, rất khó để Hội đồng nhân quyền thực sự thực hiện nhiệm vụ cổ vũ và bảo vệ nhân quyền trên toàn cầu của mình.
Đó cũng là lý do tại sao một bài viết mới đây, hôm 12/11/2013, với tựa đề ‘Human and religious rights at the UN: Theatre of the absurd’, trên tờ The Economist, nhận định rằng để một tổ chức thực sự hoạt động một cách minh bạch, đáng tin cậy cho nhân quyền trên phạm vi toàn cầu, tổ chức ấy cần phải độc lập với tất cả các chính phủ và như vậy cũng độc lập với những chính phủ vi phạm nhân quyền.
Bài viết phản ánh quan điểm riêng và và văn phong của tác giả, hiện là nghiên cứu viên tại Viện Chính sách Toàn cầu ở Anh.

Source  : BBC