10/3/14

Một cuộc chiến tranh lạ lùng nhưng nghiêm trọng

Binh sĩ vũ trang, được cho là lính Nga, bên ngoài căn cứ quân sự tại làng Perevalnoye gần thành phố Simferopol.Binh sĩ vũ trang, được cho là lính Nga, bên ngoài căn cứ 

Nguyễn Hưng Quốc -VOA

Những cảnh tượng đang xảy ra tại Ukraine, đặc biệt tại bán đảo tự trị Crimea có cái gì thật lạ lùng. Giới truyền thông quốc tế đồng loạt gọi đó là một cuộc xâm lược thô bạo của Nga nhưng lại không, hoặc chưa, gọi đó là một cuộc chiến tranh. Cho đến nay, đó là cuộc xâm lược chưa có tiếng súng, hoặc nếu có, toàn là những phát súng chỉ thiên, không nhắm vào ai và cũng chưa làm ai đổ máu cả.

Lạ lùng: Bỗng dưng một ngày có những người lính vũ trang hiện đại tràn ngập trên đất Crimea, chiếm Quốc Hội, các cơ quan chính phủ và các phi trường, tuần hành trên các đường phố. Ai cũng biết đó là lính Nga, nhưng chính phủ Nga vẫn phủ nhận. Sau đó mấy ngày, xuất hiện các xe tăng cực kỳ tối tân mang bảng số của Nga, nhưng chính phủ Nga vẫn phủ nhận. Trên các công thự, cờ Nga được treo lên và tung bay phấp phới, Nga vẫn phủ nhận. Lính Nga ra tối hậu thư cho lính Ukraine đang đóng trên đất và trên cảng Crimea hoặc đầu hàng hoặc buông súng về nhà, nhưng chính phủ Nga vẫn tiếp tục phủ nhận.
Lạ lùng hơn nữa: Những người lính Ukraine đóng ở Crimea hoàn toàn không kháng cự. Họ không đầu hàng và cũng không buông súng nhưng không kháng cự. Không những không kháng cự, có lúc họ còn có vẻ nhởn nhơ đá bóng hoặc hát hò trước mặt đám lính Nga đang hầm hầm cầm súng.

Không có tiếng súng nổ, nhưng ai cũng biết các xung đột tại Crimea cực kỳ căng thẳng và có ảnh hưởng nghiêm trọng, trước hết, đến vận mệnh của cả nước Ukraine: Nga mới tuyên bố sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 16 tháng 3 để sáp nhập Crimea vào Nga, trở thành một tỉnh của Nga thay vì một phần của Ukraine như hiện nay. Nếu cuộc trưng cầu dân ý này xảy ra, chắc chắn Nga sẽ thành công: Gần 60% dân số tại Crimea là người gốc Nga, nói tiếng Nga và lúc nào cũng tự xem mình là người Nga. Nhưng chưa hết. Chiêu bài để xâm lược Crimea của Nga là nhằm bảo vệ những người Nga đang sống trên lãnh thổ Ukraine. Nhưng người Nga không phải chỉ sống ở Crimea. Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, ở Ukraine, người gốc Nga gồm trên 8 triệu, chiếm đến trên 17%.  Ngoài Crimea, người Nga còn tập trung rất đông ở các thành phố phía đông (tỉ lệ xê xích từ 20 đến 40% dân số).

Ở đây nảy sinh ra ba vấn đề: Một, liệu Nga có tiếp tục xua quân đến các địa phương ấy để “giải phóng” người Nga hay không? Hai, liệu chính phủ Ukraine có, một lúc nào đó, mất kiềm chế, để đối đầu với Nga và biến cuộc xâm lược không tiếng súng hiện nay thành một cuộc chiến tranh vệ quốc thực sự? Và ba, liệu những người gốc Ukraine (chiếm 25%) và đặc biệt những người gốc Tatars (chiếm trên 12%) tại Crimea có chấp nhận kết quả cuộc trưng cầu dân ý để biến thành công dân Nga?

Xin lưu ý:  Phần lớn người Tatars theo Hồi giáo từng bị Nga đàn áp nên mang tinh thần phản Nga và bài Nga rất mạnh mẽ. Chắc chắn họ sẽ không dễ dàng chấp nhận ách đô hộ của Nga. Một cuộc chiến tranh du kích hoặc ít nhất, khủng bố, chống lại Nga do họ khởi xướng có lẽ không phải là tưởng tượng.

Bất kể tình hình chính trị tại Ukraine biến thái như thế nào trong những ngày sắp tới, phần lớn giới bình luận chính trị Tây phương đều nhìn nhận một trong những đặc điểm nổi bật nhất của các tranh chấp tại Ukraine hiện nay: Đây là một cuộc đối đầu mang tầm vóc thế giới đầu tiên kể từ ngày Chiến tranh lạnh chấm dứt với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu.

Sau năm 1990, trên thế giới đã có nhiều cuộc chiến tranh, trong đó, có những cuộc chiến tranh lớn như ở Iraq và Afghanistan. Nhưng dù vậy, đó cũng chỉ là những xung đột có tính địa phương. Đối thủ của Mỹ và các đồng minh của Mỹ quá nhỏ và quá yếu để có thể gây nên những tác động có tầm vóc thế giới.

Với những xung đột tại Ukraine hiện nay, người ta nhận thấy sự căng thẳng lan rộng ở hầu hết các nước lớn, đặc biệt tại Mỹ và châu Âu. Người ta bàn bạc với nhau, tranh cãi với nhau để ngăn chận tham vọng bành trướng của Nga. Chưa có ai, về phía Tây phương, nghĩ đến khả năng can thiệp bằng quân sự. Tất cả những gì họ nói và định làm chỉ giới hạn trong phạm vi ngoại giao và kinh tế. Nhưng cũng giống mọi cuộc xung đột khác trong lịch sử, khi đã đối đầu nhau, không ai có thể bảo đảm mọi tình huống sẽ theo đúng ý định ban đầu của mình cả.

Nhiều người cũng nhận ra điều đó. Người ta cho việc chiếm đóng Crimea và sau đó, có thể toàn bộ lãnh thổ Ukraine của Nga nằm trong một kế hoạch đế quốc to lớn nhằm đối đầu với Tây phương. Đó là cuộc cưỡng chiếm lãnh thổ đầu tiên ở châu Âu kể từ thập niên 1930. Nếu mọi người ngoảnh mặt để Nga thực hiện tham vọng này, nó sẽ trở thành một tiền lệ: các nước lớn tha hồ chiếm các nước nhỏ và sáp nhập toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ của các nước nhỏ ấy vào nước mình. Chính vì thế, nhiều người, trong đó có Cựu ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, so sánh chiêu bài cứu người Nga ở Ukraine khi xâm lăng Crimea của Putin với các luận điệu và hành động của phát xít Đức trong thập niên 1930, hàm ý so sánh Putin với Hitler.

Điều đó cũng có nghĩa bà xem các xung đột tại Ukraine hiện nay có cái gì giống với những cuộc xâm lược mở màn của phát xít Đức thời đệ nhị thế giới. Thượng nghị sĩ John McCain cũng có quan niệm tương tự: ông ví Putin với Hitler và Stalin thời chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Có thể nói, một cách tóm tắt, sự xung đột tại Crimea hiện nay không phải là xung đột giữa Nga và Ukraine mà còn là, chủ yếu còn là, sự xung đột giữa Nga và Tây phương, đứng đầu là Mỹ.

Chưa biết cuộc xung đột này kết thúc như thế nào, nhưng người ta biết rõ ba điểm:Một, nó sẽ kéo dài và thay thế cuộc chiến tranh chống khủng bố kéo dài từ năm 2001 đến nay.

Hai, nó có thể sẽ dẫn đến việc thay đổi bàn cờ chính trị thế giới. Nga có thắng ở Crimea hoặc ngay cả trên toàn bộ lãnh thổ Ukraine thì họ vẫn thua trên mặt trận quốc tế: Họ hiện nguyên hình như một kẻ hiếu chiến đầy tham vọng, đầy dã tâm và tuyệt đối không thể tin cậy được. Khi hình ảnh ấy càng đậm nét, nỗi sợ hãi của các quốc gia nhỏ chung quanh Nga càng lớn dần; nỗi sợ hãi ấy càng lớn càng thúc đẩy các nước ấy ngả theo Tây phương, mong muốn Tây phương sẽ giúp đỡ và bảo vệ họ trước tham vọng bá quyền của Nga. Peter Beinart, trong một bài báo đăng trên The Atlantic, còn mở rộng sự liên hệ đến Trung Quốc: Trung Quốc càng muốn biểu dương sức mạnh và quấy nhiễu các nước láng giềng càng đẩy họ ngả theo Mỹ, và đó, càng tự cô lập chính mình.

Ba, cũng theo Beinart, nó cũng có thể thay đổi ngôi thứ của các siêu cường quốc. Ở Tây phương, sau các cuộc chiến tranh của Napoleon trong mấy năm đầu thế kỷ 19, thế giới nổi lên năm siêu cường: Anh, Nga, Pháp, Áo và Phổ (Prussia, sau này là Đức); sau đệ nhất thế chiến, ba trong năm siêu cường trên bị mất thanh thế: Nga, Đức và Áo-Hung. Rồi đệ nhị thế chiến bùng nổ và khi kết thúc, vai trò siêu cường của Đức bị mất, của Anh và Pháp cũng giảm sút rất đáng kể. Thế giới chỉ còn hai siêu cường đứng đầu hai phe: Nga và Mỹ. Khi hệ thống cộng sản sụp đổ vào năm 1990, vai trò siêu cường của Nga cũng mất; thế giới chỉ còn một siêu cường: Mỹ.

Tuy nhiên, do quan hệ kinh tế và địa chính trị càng lúc càng chằng chịt, mặc dù Mỹ vẫn mạnh, cực kỳ mạnh, thế giới vẫn có khuynh hướng càng ngày càng đa cực hóa. Chính nước Mỹ cũng trở thành bơ vơ và hoang mang trước thế giới đa cực ấy. Chính những thái độ hung hãn của Nga và của Trung Quốc đã kéo Mỹ trở về với thực tế: Họ vẫn còn đối thủ và vẫn đối diện với rất nhiều nguy cơ.

Cả ba điểm nêu trên đều chỉ là những tiềm năng. Chưa ai biết trong tương lai chúng sẽ phát huy ảnh hưởng như thế nào và đến mức độ nào. Tuy nhiên, dù vậy, chúng cũng cho thấy tính chất nghiêm trọng của sự kiện Crimea và Ukraine. Điều đó giải thích tại sao giới lãnh đạo các nước trên thế giới lo lắng và tập trung nhiều thì giờ để giải quyết như vậy.

Để biết câu kết luận, chúng ta chỉ có một cách: chờ.

Source : VOA

9/3/14

Thương Chiến Mỹ-Nga


Friday, March 7, 2014

Thương Chiến Mỹ-Nga

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 140306


THEO DAINAMAX TRIBUNE




Trận đấu kinh tế giữa Mỹ và Nga về vụ Ukraine    


* Những người biểu tình ủng hộ Nga tại Crimea *
















Trưa Thứ Năm mùng sáu, Tổng thống Barack Obama xuất hiện trước báo chí để công bố quyết định trừng phạt Liên bang Nga qua một Sắc lệnh Hành pháp. Ngay lập tức, từ Âu Châu, Ngoại trưởng John Kerry khai triển thêm chi tiết về quyết định này. Tiếp theo, Hạ viện Hoa Kỳ biểu quyết đạo luật kết án Liên bang Nga và yêu cầu Hành pháp tăng áp lực về cả chính trị (như trục xuất Nga ra khỏi nhóm G-8) lẫn kinh tế để Moscow phải tôn trọng chủ quyền của Ukraine và cả bán đảo Crimea hiện đang bị Nga khống chế, với Quốc hội trong tay Nga vừa biểu quyết việc đưa Crimea vào lãnh thổ Nga qua một cuộc trưng cầu dân ý dĩ nhiên là do Nga tổ chức....

Khi trận đấu giữa Tây phương và Liên bang Nga chuyển dần từ lãnh vực ngoại giao và chính trị qua kinh tế, nhiều người tỏ vẻ hoài nghi kết quả thực tế của biện pháp trừng phạt. Thay vì chạy theo tin tức cứ dồn dập thay đổi từng giờ, chúng ta nên lùi lại để nhìn toàn cảnh của mặt trận kinh tế giữa đôi bên - đúng hơn nữa, mặt trận tay ba, giữa Nga, Âu và Mỹ....


***

Liên bang Nga có nền kinh tế trị giá hơn hai ngàn tỷ Mỹ kim một năm, từ 2.500 đến ba ngàn nếu tính theo tỷ giá mãi lực của đồng bạc (PPP), và có dự trữ ngoại tệ khoảng 650 tỷ đô la. Nền kinh tế nay đang bị suy trầm, với đà tăng trưởng giảm sút từ hơn 3% vào năm 2012 xuống chỉ còn chừng 1,3% năm 2013, và đồng Rúp bị mất giá nặng.

Kinh tế Nga sống nhờ xuất cảng, nhiều nhất là dầu thô và xăng dầu (55% tổng số xuất cảng), kế tiếp là khí đốt (15%), sau đó mới là hàng bán chế (chế biến một phần), hoá chất, máy móc, v.v... mỗi loại đều dưới 10%, thấp nhất là nông sản và hàng công nghiệp. Trong số xuất cảng của Nga, thị trường Liên Âu mua chừng 53%, Đông Âu và Trung Âu mua 12%, còn lại là các thị trường khác  và thấp nhất là thị trường Mỹ, chỉ khoảng 25. Muốn có khả năng xuất cảng đó, Nga cũng phải nhập cảng, nhiều nhất cũng từ Liên Âu, 42%, sau đó là Trung Quốc, chừng 17% và các xứ khác, ít nhất là từ Hoa Kỳ, chưa tới 5%.

Trong quan hệ kinh tế Nga-Mỹ, năm qua Nga bán hơn 20 tỷ đô la hàng hóa cho Mỹ (hơn 19 tỷ là sản phẩm hóa dầu) và mua của Mỹ máy bay dân sự, xe hơi, hoá chất, thịt và nông sản, nhưng cũng chẳng nhiều và không thể chết vì một lệnh cấm vận kinh tế của Hoa Kỳ. Thị trường cổ phiếu Nga có kết giá chừng 870 tỷ đô la mà giới đầu tư Mỹ chỉ nắm có 6%, nếu họ có bán tháo –và bị thiệt – thì cũng chẳng làm thị trường tài chánh của Nga sụp đổ. Ngoài ra, Hoa Kỳ (và các nước Âu Châu) cũng chẳng giữ đồng Rúp trong khối dự trữ ngoại tệ nên chẳng thể bán tiền Nga để đánh sụt đồn bạc. Họ phải tính cách khác.
Chỉ nhìn vào những nét chính này, ta có thể rút tỉa vài kết luận: kinh tế Nga gắn bó với thị trường Liên Âu hơn Hoa Kỳ nên biện pháp trừng phạt, cấm vận hay phong tỏa của Mỹ ít hiệu quả.

Hoặc nếu muốn có tác dụng có thì phải mở ra một phạm vi rộng lớn, với sự hưởng ứng của các nước Âu Châu. Bàn cờ kinh tế Mỹ-Nga vì vậy là bàn cờ tay ba, Mỹ-Âu-Nga, với Âu Châu giữ vị trí bản lề ở giữa.


***

Ngày 26 Tháng Giêng, khi tình hình Ukraine biến động, Phụ tá Ngoại trưởng Victoria Nuland (đặc trách về Âu Châu và đại lục địa Âu-Á, tức là bao trùm lên Liên bang Nga) có cuộc đàm thoại với Đại sứ Mỹ tại Kiev với một lời phát biểu nặng nề được tình báo Nga tung ra hôm mùng sáu Tháng Hai để gây chia rẽ trên trận tuyến Âu-Mỹ. Xin tạm dịch lời phát biểu (F. the EU) cho nhẹ, là "kệ mẹ Liên Âu!"

Đấy có thể là quan điểm chung, và rất thực, của Hoa Kỳ về khả năng tác động của Liên Âu khi các nước Âu Châu không dám làm mạnh để bảo vệ Ukraine. Đấy cũng có thể là lời nói khích, nhằm thúc đẩy các nước Âu Châu lên lưới để gây áp lực với Moscow.

Chẳng suy đoán thêm về sự thể thì người ta cũng thấy là sau đó, các nước Âu Châu có thái độ dứt khoát hơn. Cuối cùng thì ba Ngoại trưởng Ba Lan, Pháp và Đức bay qua Kiev, trực tiếp tham gia cuộc vận động với Chính quyền Viktor Yanukovich và các lãnh tụ biểu tình, với kết quả là Quốc hội Ukraine truất phế Yanukovich và xây dựng một hệ thống lãnh đạo khác từ ngày 22 Tháng Hai. Theo quan điểm của Tổng thống Nga Vladimir Putin thì đây là "một vụ đảo chánh của bọn cực hữu quá khích " và "vi phạm Hiến pháp 2004 của Ukraine", là lý cớ cho việc Nga can thiệp bằng quân sự tại Crimea. Vụ khủng hoảng quốc tế tại Ukraine bùng nổ hôm 26.

Và trong 10 ngày qua, người ta thấy ra sự rạn nứt trong chiến tuyến Âu-Mỹ.

Vì lệ thuộc vào khí đốt của Nga, Đức không muốn trục xuất Nga ra khỏi nhóm G-8. Pháp vẫn muốn xúc tiến việc bán hộ tống hạm Mistral cho Nga và Ngoại trưởng Laurent Fabius cho biết Pháp vẫn tôn trọng những thoả thuận quân sự với Nga. Còn Thủ tướng Anh không đồng ý với việc truy lùng và cấm đoán nghiệp vụ tài chánh của các tài phiệt Nga ở trong thị trường Anh quốc. Nhiều doanh nghiệp Âu Châu, như BP hay Shell, cũng cho biết là họ không giảm hoạt động với thị trường Nga.

Vì đồng tiền nó liền khúc ruột, ta không thể nói về chuyện đạo lý, mà vẫn có thể nhớ đến một danh ngôn tương truyền là của Lenine: "bọn tư bản sẽ bán cho ta sợi dây để treo cổ chúng!" Nhưng người ta vẫn có thể nêu câu hỏi là cuối cùng thì tại sao nền kinh tế Xô viết lại sụp đổ lên chính nó khiến Liên Xô tan rã?

Bây giờ, hãy tìm hiểu tiếp xem Hoa Kỳ có thể làm gì, với đồng minh Âu Châu và đối thủ là Liên bang Nga?

***

Sự thật kinh tế là biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ về ngoại thương và tài chánh chỉ có kết quả nếu Liên Âu tham dự.

Âu Châu giữ hơn phân nửa ngạch số ngoại thương Âu-Nga và làm chủ ba phần tư tổng số đầu tư trực tiếp từ bên ngoài vào thị trường Nga. Âu Châu cũng tiêu thụ năng lượng của Nga, nguồn tài nguyên đem lại một phần tư sản lượng kinh tế và hơn phân nửa số thu ngân sách. Kinh tế Liên Âu lại chưa ra khỏi vụ khủng hoảng Euro và nạn suy trầm cho nên chẳng ai ở đây lại muốn chết, hay vỡ nợ, vì dân Ukraine. Lời phát biểu của Victoria Nuland có nội dụng sâu rộng hơn ta nghĩ.

Nhưng Hoa Kỳ vẫn có thể dọa già ra quyết định trừng phạt mọi doanh nghiệp làm ăn với Liên bang Nga, dù là của Liên Âu hay Hoa Kỳ. Chưa biết rằng điều ấy có tính chất khả tín và khả thi tới mức nào thì ta đã thất Hạ viện Duma của Nga soạn thảo một dự luật trả đũa: tịch thu tài sản của các doanh nghiệp Âu Châu và Hoa Kỳ nếu có lệnh cấm vận. Lãnh đạo Nga có tin như vậy và hăm trước hay không, ta chẳng biết.

Tuy nhiên, trong màn đấu trí trên bàn cờ kinh tế này, ta không thể quên một quy luật, như người viết đã nhiều lần nhắc tới, "liều thì được, nhu nhược thì thua". Nôm na là không sợ thì sẽ thắng.

Trong tháng qua, biến động tại Ukraine đã gây hốt hoảng cho các thị trường trên thế giới, nhưng với kết quả dội ngược về nước Nga, mỗi ngày, chính quyền Putin phải chi ra hơn 10 tỷ đô la để giữ giá cho đồng Rúp. Mười ngày là trăm tỷ! Và nếu trận chiến kinh tế bùng nổ toàn diện, với Hoa Kỳ và Âu Châu đứng cùng một chiến tuyến, Âu Châu sẽ thiếu khí, nhưng kinh tế Nga bị họa còn nặng hơn nữa.

Giả thuyết Âu-Mỹ cùng thống nhất hành động có xác suất thấp, chưa kể là nhiều doanh nghiệp Mỹ, từ Boeing tới ExxonMobil, sẽ phàn nàn và vận động ngược. Nhưng lãnh đạo Hoa Kỳ, Hành pháp và Lập pháp, vẫn có thể lấy những quyết định không cần tới sự hưởng ứng của các nước Âu Châu đang làm ăn với Liên bang Nga.

Thứ nhất là duyệt lại các hiệp ước quân sự Mỹ-Nga và mở ra một cuộc thi đua võ trang Nga Mỹ. Trong một kỳ khác, chúng ta sẽ tìm hiểu chuyện này. Thứ hai là rà soát lại chánh sách năng lượng để tác động vào thị trường dầu khí toàn cầu, trong đó có thị trường Âu Châu và Nga. Trận chiến về năng lượng không lập tức có hiệu quả, nhưng nếu được áp dụng thì sẽ thực tế giải giới nước Nga, vì đánh sụt giá dầu thô và khí đốt và giải phóng Âu Châu khỏi sức ép của Nga.

Phần còn lại, và đây mới là vấn đề, Chính quyền Barack Obama có dám nghĩ tới một cuộc chiến rộng lớn và dai dẳng như vậy chăng?

Source : dainamax tribune

7/3/14

Mỹ kêu gọi Trung Quốc minh định bản đồ lưỡi bò ở Biển Đông


Mỹ kêu gọi Trung Quốc minh định bản đồ lưỡi bò ở Biển Đông


Đô đốc Samuel Locklear III, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ
Đô đốc Samuel Locklear III, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ
Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ kêu gọi Trung Quốc minh định các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh theo bản đồ đường lưỡi bò 9 đoạn ở Biển Đông.
Trung Quốc cần chứng minh rõ ràng mục đích của mình. Các nước láng giềng với Trung Quốc sẽ không bỏ qua các vấn đề tranh chấp. Hoa Kỳ sẽ không ra khỏi khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Chúng ta cần có cách giải tỏa các vấn đề này để tránh những sự tính toán sai lầm.

Phát biểu của Đô đốc Samuel Locklear được đưa ra tại buổi hội thảo do Trung tâm An ninh Quốc tế Brent Scowcroft thuộc Hội đồng Đại Tây Dương có trụ sở tại thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ tổ chức hôm 6/3.

Nội dung chính của cuộc hội thảo bàn về tương lai An ninh Châu Á, các viễn ảnh ngắn-dài hạn đối với Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ trong việc củng cố cấu trúc an ninh của Mỹ tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, cùng những thách thức và cơ hội trong việc thực thi các ưu tiên chiến lược quốc phòng chủ yếu của Washington.

Đô đốc Locklear khẳng định bất chấp những khó khăn về tài chính, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục duy trì sự hiện diện quân sự hùng hậu ở Châu Á.

Bàn về các mối quan hệ Mỹ-Trung, ông Locklear cũng nêu bật sự cải thiện trong hợp tác quân sự giữa đôi bên thông qua việc gia tăng các cuộc đối thoại và tham gia vào các diễn đàn toàn cầu.

Trung Quốc đang nỗ lực tăng cường sức mạnh quân sự khiến các nước trong khu vực quan ngại giữa bối cảnh các cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông và Biển Hoa Đông ngày càng căng thẳng.

Buổi hội thảo về An ninh Châu Á diễn ra chỉ vài ngày sau khi Trung Quốc tuyên bố tăng ngân sách quốc phòng cho năm nay lên tỷ lệ 2 con số, trên 12%.

Đô đốc Locklear cho rằng các hành động phát triển quân sự này không có gì là bất thường đối với một nền kinh tế đang tăng trưởng, một quốc gia đang trỗi dậy như Trung Quốc, nhưng người đứng đầu Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ nhấn mạnh:

“Điều tôi quan tâm là Trung Quốc sẽ sử dụng quân đội mà họ đang xây dựng vào mục đích như thế nào, cách họ nói và cách họ chứng minh cho việc sử dụng này. Nếu sức mạnh quân sự đó được dùng để uy hiếp những nước láng giềng buộc họ phải từ bỏ các tiến trình pháp lý phân định các tuyên bố chủ quyền một cách chính đáng thì việc đó sẽ trở thành vấn đề. Vấn đề là Trung Quốc gầy dựng lực lượng tàu ngầm cho mục đích bảo vệ an ninh nội địa hay cho các mục đích khác. Trung Quốc cần chứng minh rõ ràng mục đích của mình. Các nước láng giềng với Trung Quốc sẽ không bỏ qua các vấn đề tranh chấp. Hoa Kỳ sẽ không ra khỏi khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Chúng ta cần có cách giải tỏa các vấn đề này để tránh những sự tính toán sai lầm.”

Trước Đô đốc Locklear, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á, ông Daniel Russel, từng yêu cầu Trung Quốc phải làm rõ yêu sách chủ quyền theo bản đồ chữ U chín đoạn bao trùm gần hết biển Đông.

Trung Quốc nhiều lần yêu cầu Mỹ chớ nên can thiệp vào các tranh chấp ở Biển Đông và phản đối việc ‘quốc tế hóa’ hay ‘đa phương hóa’ vấn đề Biển Đông.

Một chuyên gia của Trung Quốc, Giám đốc Viện nghiên cứu Nam Hải, nói Hoa Kỳ không có quyền can thiệp vào tranh chấp ở khu vực này. Ông Ngô Sĩ Tồn còn cho rằng Mỹ lợi dụng vấn đề Biển Đông để khống chế Trung Quốc.

Việt Nam, quốc gia đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, ngày 4/3 tuyên bố muốn tăng cường hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, kể cả trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng.

Trong buổi tiếp Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề chính trị Wendy Sherman cùng ngày tại Hà Nội, Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh kêu gọi hai nước tăng cường trao đổi để phối hợp tốt hơn trong các cuộc tham vấn chiến lược về an ninh-quốc phòng. Truyền thông trong nước dẫn lời ông Vịnh nói Việt Nam ‘sẵn sàng lắng nghe cũng như sẵn sàng mở rộng hợp tác với Hoa Kỳ.’

Đáp lời ông Vịnh, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Sherman nói bà hy vọng hải quân Việt-Mỹ sẽ tổ chức thêm các hoạt động như chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi, và thiết lập đường dây nóng cập nhật thông tin cho nhau về an ninh hàng hải.
Bà Sherman khẳng định Việt Nam là một phần không thể thiếu trong công cuộc tái cân bằng của Hoa Kỳ sang khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Chỉ 1 ngày sau cuộc gặp này, Bộ Quốc phòng Mỹ được kêu gọi phải đặt nặng vấn đề nhân quyền trước bất kỳ thỏa thuận nào về hợp tác an ninh-quốc phòng với Việt Nam.

Tại buổi điều trần ở Quốc hội Mỹ hôm 5/3, thành viên cao cấp trong Ủy ban Quân vụ Hạ viện, dân biểu Loretta Sanchez, thúc giục Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Samuel Locklear và Bộ Quốc phòng ‘cân nhắc đến khủng hoảng nhân quyền của Việt Nam trước khi cam kết bất kỳ gói thỏa thuận an ninh hàng hải nào.’ Bà Sanchez khuyến cáo rằng Washington sẽ đi ngược lại nền tảng lập quốc của Hoa Kỳ nếu bỏ qua các vi phạm nhân quyền quá mức của Hà Nội. 

Theo thông cáo báo chí từ văn phòng dân biểu Sanchez gửi cho VOA Việt ngữ, Đô đốc Locklear hứa sẽ nghiêm túc xét tới vấn đề nhân quyền và sẽ đề ra các phương pháp khả dĩ trong vấn đề Biển Đông.

Đại sứ quán Mỹ cho biết vấn đề nhân quyền Việt Nam cũng đã được nhắc tới trong chuyến thăm lần này của Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman, với lời kêu gọi Hà Nội phóng thích tù nhân lương tâm và cho dân chúng được bày tỏ quan điểm chính trị một cách ôn hoà.

VOA

6/3/14

Tăng Mức lương tối thiểu ở Hoa Kỳ: Thuận Hay Chống?

Tăng Mức lương tối thiểu ở Hoa Kỳ: Thuận Hay Chống?

Mức lương tối thiểu luôn là vấn đề thu hút mối quan tâm của hầu hết người dân Mỹ vì nó liên quan đến nhiều thành phần kinh tế trong xã hội đặc biệt giới chủ nhân của các công ty bán lẻ, nhà hàng, khách sạn, và giới công nhân với lương thấp.  Từ đầu năm 2013 đến nay, mức lương tối thiểu ở Hoa Kỳ được bàn đến nhiều hơn vì Tổng thống Obama không những kêu gọi tăng mức lương tối thiểu áp dụng cho nhân viên làm việc trong những hợp đồng với chánh phủ liên bang mà còn yêu cầu Quốc Hội chấp thuận mức lương mới cho toàn quốc. Chúng ta sẽ bàn đến hai sự kiện này trong bài phân tách này.

Tăng mức lương tối thiểu cho hợp đồng chính phủ liên bang

Tổng thống Obama vừa ký sắc lệnh hành pháp vào ngày 12-2-2014 để tăng mức lương tối thiểu từ $7.25 lên $10.10 mỗi giờ cho những người làm việc trong các hợp đồng mới và những hợp đồng thay thế cho những hợp đồng hết hạn với chánh phủ liên bang kể từ ngày 1.1.2015. Mức lương hiện nay sẽ tăng ba lần, mỗi lần 95 xu.

Sắc lệnh này cũng được áp dụng cho những công nhân được hưởng tiền thưởng (tip) để bảo đảm rằng họ sẽ thu nhập tổng cộng ít nhất $10.10/giờ bao gồm tiền thưởng và lương căn bản do người sử dụng công nhân trả.  Hiện nay lương căn bản tối thiểu là $2.43/giờ.  Lương căn bản này không thay đổi trong 20 năm nay.  Theo sắc lệnh kể trên lương căn bản tối thiểu sẽ là $4.90/giờ.  Mức lương này sẽ tăng 95 xu mỗi năm cho đến khi nó bằng 70% của mức lương tối thiểu bình thường.

Theo luật lệ hiện hành, công nhân tàn tật được trả lương thấp vì năng suất thấp so với những người làm cùng một việc trong những chương trình được chứng nhận đặc biệt.  Theo sắc lệnh của Tổng thống Obama, những công nhân tàn tật cũng được trả lương bình đẳng như những người khác trong hợp đồng với chánh phủ. [1]

Theo một viên chức của chánh phủ, sắc lệnh của Tổng thống Obama ảnh hưởng tới 2 triệu công nhân. [2]  Đây là một con số khá nhỏ vì sắc lệnh này chỉ áp dụng vào những hợp đồng mới hoặc những hợp đồng được tái tục với những thay đổi. Sắc lệnh này chỉ áp dụng cho khu vực công trong thẩm quyền của hành pháp.  Để có thể áp dụng mức lương tối thiểu đồng đều trên toàn quốc kể cả khu vực tư, Hoa Kỳ cần phải có một đạo luật được Quốc Hội phê chuẩn.

Dự luật mức lương tối thiểu công bằng của 2013

Tiếp theo lời kêu gọi tăng mức lương tối thiểu ở Hoa Kỳ của Tổng thống Obama trong bài diễn văn về tình trạng liên bang vào đầu năm 2013, TNS Tom Harkin (Dân Chủ, Iowa) và DB George Miller (Dân Chủ, California) đã đệ trình lên Quốc Hội Hoa Kỳ dự luật Fair Minimum Wage Act of 2013 (Dự Luật Mức Lương Tối Thiểu Công Bằng Của Năm 2013). Dự luật này có những điểm chính tương tự như sắc lệnh của Tổng Thống Obama:

  1. Tăng mức lương tối thiểu liên bang từ $7.25 lên đến $10.10/giờ trước 1.1.2015 bằng ba bước, mỗi lần tăng 95 xu.
  2. Điều chỉnh mức lương tối thiểu liên bang theo giá sinh hoạt gia tăng bắt đầu từ năm 2016. Hiện nay đã có 10 tiểu bang thi hành biện pháp này.
  3. Tăng mức lương tối thiểu liên bang của các công nhân được hưởng tiền thưởng (tip) từ $2.13/giờ trong hơn 20 năm vừa qua lên đến 70% của mức lương tối thiểu liên bang bình thường.
Ý kiến thuận

Theo thống kê của Bộ Lao Động Hoa Kỳ, mức lương tối thiểu liên bang theo giờ ở Mỹ đã tăng từ $0.25 vào năm 1938, lên đến $1.60 vào năm 1968, và từ 2009 đến nay là $7.25. Nếu tính theo giá cố định của năm 2012 để loại trừ ảnh hưởng của lạm phát, mức lương tối thiểu của ba năm 1938, 1968, và 2012 sẽ lần lượt là $4.07, $10.56, và $7.25.  Do đó mức lương tối thiểu hiện nay thấp hơn cả mức lương của 1968.


 Tính đến ngày 1/1/2014, 19 tiểu bang có mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu của liên bang. Trong số này Michigan có mức lương tối thiểu thấp nhất là $7.40 và Washington có mức lương tối thiểu cao nhất là $9.32. California sẽ có mức lương tối thiểu là $9.00 vào tháng 7, 2014. [3]Delaware vào cuối tháng 1 vừa qua cũng đã thông qua một đạo luật để tăng mức lương tối thiểu từ $7.25 lên đến $7.75 vào 1-6-2014 và $8.25 vào 1-6-2015. District of Columbia vào năm ngoái quyết định tăng mức tối thiểu từ $8.25 lên $11.50 trước 2016. Thành phố SeaTac của tiểu bang Washington vào cuối năm 2013 đã chấp thuận nâng mức lương tối thiểu từ $9.19 (áp dụng cho toàn tiểu bang) lên $15. Mức lương mới đã bắt dầu có hiệu lực vào ngày 1-1-2014. Tuy nhiên nhiều cơ sở thương mại nhỏ được miễn trả lương tối thiểu mới này.

Lương tối thiểu ở Hoa Kỳ hiện nay tương đương với 27% mức lương trung bình, thấp hơn tất cả những quốc gia trong Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (Organization for Economic Co-operation and Development – OECD), ngoại trừ Mexico, so với con số của Pháp là gần 50% vào năm 2012.  Đan Mạch là một những quốc gia có lợi tức tương đối quân bình và có đời sống hạnh phúc nhất. Lương tối thiểu khoảng $20/giờ ở Đan Mạch được quy định bởi một số nhóm chủ nhân và một số nghiệp đoàn. [4]



Cũng theo thống kê của Bộ Lao Động Hoa Kỳ, hiện nay chỉ có khoảng 1.6 triệu công nhân lãnh lương ở mức tối thiểu trong năm 2012, chiếm khoảng 2.1%  của số công nhân làm việc theo giờ. Gần 1/3 số người này là trẻ em thuộc lớp tuổi 16-19 được phép làm việc với một số giờ giới hạn. Khoảng 2/3 còn lại trong lớp tuổi 20 trở lên. Không phải tất cả những người trong nhóm thứ hai này đều  nghèo.

Dự Luật Mức Lương Tối Thiểu Công Bằng Của Năm 2013 sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều người nếu kể cả những công nhân hiện nay có lương dưới $10.10. Theo một cuộc nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Kinh Tế (Economic Policy Institute), Dự Luật Mức Lương Tối Thiểu Công Bằng Của Năm 2013 sẽ tăng lợi tức của hơn 30 triệu công nhân, tạo thêm 140,000 việc làm toàn thời gian mới, và giúp nền kinh tế phát triển thêm $32 tỉ. [5]

Một cuộc nghiên cứu mới đây của Trung Tâm Nghiên Cứu Kinh Tế và Chánh Sách (Center for Economic and Policy Research) cho thấy rằng tăng mức lương tối thiểu không làm giảm đáng kể số việc làm. [6]

Một cuộc nghiên cứu khác của Arindrajit Dube, T. William Lester, và Michael Reich vào năm 2010 đưa đến một kết luận rằng việc tăng mức lương tối thiểu không ảnh hưởng đến việc làm sau khi các tác giả đã so sánh mức việc làm của 250 quận kế cận nhau với mức lương tối thiểu khác nhau trong hai năm 1990 và 2006. [7]

Một cuộc nghiên cứu tương tự của Sylvia A. Allegretto, Arindrajit Dube, và Michael Reich  vào năm 2011 đã tìm thấy rằng gia tăng mức lương tối thiểu ngay cả trong thời gian có mức thất nghiệp cao cũng không làm mất việc. [8]

Theo những cuộc nghiên cứu của National Employment Law Project, việc tăng mức lương tối thiểu không ảnh hưởng đến giới tiểu thương vì 2/3 công nhân với lương thấp làm việc cho những công ty lớn có 100 nhân viên trở lên. Những công ty lớn mướn nhiều công nhân với lương thấp những chuỗi công ty bán lẻ như Walmart, Kmart, và Target hay chuỗi nhà hàng bán thức ăn nhanh như McDonald và Burger King lời nhiều sẵn sàng trả lương tối thiểu cao hơn. [9]

Một câu hỏi được đặt ra là tăng mức lương tối thiểu có làm tăng mức lạm phát hay không? Nếu xảy ra như vậy, tăng lương không có ích lợi gì cả.  Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng tăng mức lương tối thiểu lên 10% chỉ tăng giá thực phẩm lên không quá 4% và giá toàn bộ lên không quá 0.4%. [10]

Một nghiên cứu của Daniel Aaronson ước tính rằng tăng mức lương tối thiểu 10% sẽ làm tăng giá burger của McDonald, gà của KFC và pizza của Pizza Hut cũng khoảng 10%.  Điều này chứng tỏ rằng các công ty bán đồ ăn nhanh đã chuyển giá phí nhân công gia tăng qua người tiêu thụ, không ảnh hưởng gì đến số việc làm. [11]

Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế tin rằng 30 triệu công nhân gần như chắc chắn sẽ dùng số lợi tức có thêm do mức lương tối thiểu tăng vào những chi tiêu cần thiết và do đó họ sẽ đóng góp vào sự phát triển kinh tế. Mặt khác, tăng mức lương tối thiểu làm giảm tỉ lệ thôi việc, tăng tinh thần công nhân, và cải thiện năng suất.

Ý kiến chống

Lương bổng là giá định đoạt bởi thị trường cũng như gạo hay than. Một số không ít kinh tế gia nhận định rằng tăng mức lương tối thiểu là phản lại luật cung cầu trong một hệ thống kinh tế tự do. Tăng mức lương tối thiểu bằng luật pháp là tăng giá nhân công một cách giả tạo. Làm như thế là giảm số việc làm và hậu quả là nạn thất nghiệp tăng. Khi giá nhân công tăng, chủ nhân thường có khuynh hướng giảm số nhân công xuống và trong dài hạn mức cầu giảm nhiều hơn ngắn hạn vì chủ nhân tìm những phương pháp sản xuất tiết kiệm nhân công.



Khi tăng mức lương tối thiểu, số công nhân tiếp tục có việc làm được hưởng lương cao hơn. Số công nhân mất việc, hoặc số giờ làm việc bị cắt bớt đi hoặc không kiếm được việc làm với mức lương tối thiểu mới thường là những người trẻ không có kinh nghiệm hoặc chuyên môn cần thiết. Nhiều bằng chứng cho thấy rằng tăng 10% mức lương tối thiểu làm giảm từ 1% đến 3% số việc làm của số công nhân ít kinh nghiệm trong ngắn hạn và số việc làm mất đi sẽ lớn hơn trong dài hạn.  [12]

Vào tháng Hai vừa qua Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) đã công bố phúc trình về ảnh hưởng của dự luật tăng mức lương tối thiểu.  Theo đó, tăng lương sẽ giúp 900,000 người thoát ra khỏi sự nghèo khó nhưng sẽ làm mất 500,000 việc làm tức là khoảng 0.3% lực lượng lao động.  [13]Tuy nhiên CBO nhìn nhận rằng đây chỉ là những ước tính. Số việc làm thực sự bị mất có thế từ không đáng kể (very slight) cho đến 1 triệu.  [14]

Ngoài phúc trình của CBO, khá nhiều nghiên cứu khác trước đó cũng đã nói rằng tăng lương tối thiểu sẽ tăng mức thất nghiệp.  [15] Chúng ta trích dẫn ở đây một hai thí dụ.  Theo James Dorn, vào năm 2007, trước khi xẩy ra khủng hoảng kinh tế lớn, tỉ lệ thất nghiệp của lớp tuổi 14-19 da đen là 29%. Nay tỉ lệ này trên 40%.  Ông kết luận đây là hậu quả của việc tăng mức lương tối thiểu của liên bang từ $5.15 lến $7.25. [16]

Joseph Sabia, Richard Burkhauser, và Benjamin Hansen tìm thấy rằng khi tiểu bang New York tăng lương tối thiểu từ $5.15 lên $6.75 trong 2004-06, khoảng 20.2% đến 21.8% thành phẩn trẻ ít học mất việc làm, trong đó lớp tuổi 16-24 bị thiệt hại nhiều nhất. [17]

Việc áp dụng mức lương tối thiểu vi phạm quyền tự do lựa chọn của cả chủ nhân lẫn công nhân. Thật vậy những luật mức lương tối thiểu cấm chủ nhân không được mướn nhân công với giá thị trường thấp hơn mức lương do luật pháp ấn định. Nó cũng cấm những công nhân chấp nhận lương thấp để có việc làm thay vì thất nghiệp, nghĩa là không có lợi tức nào cả.

Phần lớn những chủ nhân không dễ tăng giá bán để bù vào mức lương tối thiểu cao hơn, đặc biệt trong khu vực dịch vụ cạnh tranh cao. Giả sử nếu chủ nhân có thể tăng giá, người tiêu thụ sẽ bớt tiêu dùng và như thế sẽ làm giảm số việc làm. Nếu lợi tức của chủ nhân giảm vì mức lương tối thiểu gia tăng, họ sẽ bớt đầu tư và kinh tế sẽ phát triển yếu đi.

Kết luận

Một trong những đạo luật đầu tiên ở Hoa Kỳ về lương tối thiểu là đạo luật của tiểu bang Oregon được thông qua vào năm 1913. Đạo luật chỉ thị thành lập Hội Đồng An Sinh Công Nghiệp (Industrial Welfare Commission). Hội Đồng này đã ấn định số giờ làm việc mỗi tuần là 50 giờ, 9 giờ mỗi ngày, thời gian nghỉ ăn trưa là 45 phút, và tiền lương mỗi tuần không được dưới $8.64, tức là 17.3 xu mỗi giờ. [18] Một trong những nghiên cứu đầu tiên về ảnh hưởng của mức lương tối thiểu ở Hoa Kỳ được thực hiện vào 1915.  Cho tới nay đã gần một thế kỷ, nhiều nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục làm công việc này, nhất là mỗi khi chánh quyền bị áp lực phải tăng mức lương tối thiểu. Như chúng ta đã thấy ở trên, kết quả vẫn không rõ ràng.

Phe ủng hộ thì lập luận rằng tăng lương tối thiểu giúp công nhân lương thấp thoát khỏi nghèo khó. Phe chống chứng minh rằng tăng lương tối thiểu làm tăng mức thất nghiệp. Kinh tế học không phải là một khoa học chính xác nên không phe nào đưa ra được những chứng cớ thuyết phục tuyệt đối. Công nhân cần cơm ăn áo mặc hàng ngày không thể chờ đợi các kinh tế gia tìm ra chân lý. Cuối cùng lý lẽ nhường cho cảm tính.

Theo DB George Miller (Dân Chủ, California) 40% số công nhân Hoa Kỳ phải chịu một mức lương tối thiểu có giá trị thấp hơn mức lương gần một nửa thế kỷ trước.  Một điều trái với đạo đức. [19]  Đa số công luận ở Hoa Kỳ xem ra đồng ý với Ông Miller.

Theo kết quả của một cuộc điều nghiên của Viện Gallup vừa được phổ biến vào ngày 17-2-2014, gần 25% của số người được phỏng vấn nói rằng họ lo ngại nhiều nhất về nạn thất nghiệp. [20] Việc làm luôn luôn là một vấn đề nóng bỏng, nhất là trong năm bầu cử giữa nhiệm kỳ 2014.

Một cuộc khảo sát gần đây của CNN cho thấy 73% số người được phỏng vấn ủng hộ tăng mức lương tối thiểu trên toàn quốc Hoa Kỳ. [21]  Cuộc thăm dò ý kiến của Christian Science Monitor tìm thấy rằng 62% số người được hỏi tán thành việc tăng mức lương tối thiểu từ $7.25 lên $10.10 trong khi đó 37% chống đối. Tuy nhiên, khi được nhắc tới tiên đoán của CBO về hậu quả mất 500,000 việc làm, tỉ lệ số người ủng hộ tăng lương tối thiểu giảm xuống và tỉ lệ chống tăng lên cùng tới mức 49%. [22]

Không có một thị trường hoàn toàn tự do và có sự cạnh tranh hoàn hảo trong thế giới này do những luật lệ ràng buộc và ảnh hưởng của những nhóm lợi ích.  Do đó, can thiệp của chánh quyền là cần thiết trong một số trường hợp như chống độc quyền, lợi tức chênh lệch, và giảm nghèo. Do đó, chúng ta nên hỗ trợ dự luật tăng mức lương tối thiểu liên bang.  Mặc dù đây cũng chỉ là một giải pháp ngắn hạn. Giáo dục và huấn luyện công nhân nâng cao kỹ năng là một giải pháp dài hạn cần thiết.



[1] Office of the Press Secretary, “Fact sheet – Opportunity for all: Rewarding hard work,” The White House, February 12, 2014.
[2] Ed Henry, “Obama to sign executive order raising minimum wage for federal contractors,” FoxNews, January 28, 2014.
[3] Jordan Weissmann, “Should We Raise the Minimum Wage? 11 Questions and Answers,” The Atlantic, December 16, 2013.
[4] Peter Coy, “What a higher minimum wage does for workers and the economy,” Business Week, November 27, 2013.
[5] David Cooper, “Raising The Federal Minimum Wage to $10.10 Would Lift Wages for Millions and Provide a Modest Economic Boost,”  Economic Policy Institute, December 19, 2013.
[6] John Smith, “Why does the minimum way have no discernible Effect on Employment?” Center for Economic and Policy Research, February 2013.
[7] Arindrajit Dube, T. William Lester, và Michael Reich, “Minimum wage effects across state borders: Estimates using contiguous counties,” The Review of Economics and Statistics, November 2010.
[8] Sylvia A. Allegretto, Arindrajit Dube, và Michael Reich, “Do minimum Wages really reduce teen employment? Accounting for heterogeneity and selectivity in state panel data,” Industrial Relations, April 2011.
[9] National Employment Law Project, “Big business, Corporate profits, and the minimum wages,” July 2012.
[10] Sara Lemos, “A survey of the effect of the minimum wage on prices,” Journal of Economic Surveys, Volume 22, Issue 1, February 2008.
[11] Daniel Aaronson, “Price pass-through and the minimum wage,” The Review of Economics and Statistics, February 2001.
[12] James Dorn, “The minimum wage delusion, and the dead of common sense,” Forbes, May 07, 2013.
[13] Theo chánh phủ liên bang, mức nghèo khó của 2013 cho một gia đình bốn người là $23,550. Đối với Hawaii và Alaska con số này lần lượt là $27,090 và $29,440.
[14] Zachary A. Gildfarb, “Minimum wage hike would help alleviate poverty but could kill jobs, CBO reports,” Washington Post, February 18, 2014.
[15] Jonathan Meer và Jeremy West; Joseph Sabia, Richard Burkhauser, và Benjamin Hansen; David Newmark và William Wascher; James Dorn.
[16] James Dorn, “The minimum wage delusion, and the dead of common sense,” Forbes, May 07, 2013.
[17] Joseph Sabia, Richard Burkhauser, và Benjamin Hansen, “Are the Effects of Minimum Wage Increases Always Small? New Evidence from a Case Study of New York State,” San Diego State University, Cornell University, and University of Oregon, January 2012.
[18] Dave, “February 17, 1913: Oregon enacts first minimum wage law,” DaveKnows, February 17, 2011.
[19] Kenneth Quinnell, “Miller & Harkin introduce Bill to raise minimum wage to $10.10,” AFL-CIO, March 5, 2013.
[20] Susan Davis, “CBO Report: Minimum wage hike could cost 500,000 jobs,” USA Today, February 18, 2014.
[21] Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, “Mỹ tăng lương tối thiểu cho nhân viên hợp đồng chính phủ,” 28-01-2014.
[22] Mark Trumbull, “Fed’s Yellen on minimum wage hike: CBO got it right, it would cost jobs,” Christian Science Monitor, January 17, 2014.
---------------

Nguyễn Quốc Khải

Ông Nguyễn Quốc Khải nguyên là tham vấn và chuyên viên nghiên cứu kinh tế tại Ngân Hàng Thế Giới. Ông cũng từng làm tham vấn cho Đài Á Châu Tự Do và là giáo sư thỉnh giảng (professorial lecturer) tại Johns Hopkins 
University.

Source : VOA

Executive Order -- Blocking Property of Certain Persons Contributing to the Situation in Ukraine

The White House
Office of the Press Secretary

For Immediate Release March 06, 2014
Executive Order -- Blocking Property of Certain Persons Contributing to the Situation in Ukraine

EXECUTIVE ORDER

- - - - - - -

BLOCKING PROPERTY OF CERTAIN PERSONS CONTRIBUTING TO THE SITUATION IN UKRAINE 

By the authority vested in me as President by the Constitution and the laws of the United States of America, including the International Emergency Economic Powers Act (50 U.S.C. 1701 et seq.) (IEEPA), the National Emergencies Act (50 U.S.C. 1601 et seq.) (NEA), section 212(f) of the Immigration and Nationality Act of 1952 (8 U.S.C. 1182(f)), and section 301 of title 3, United States Code,

I, BARACK OBAMA, President of the United States of America, find that the actions and policies of persons -- including persons who have asserted governmental authority in the Crimean region without the authorization of the Government of Ukraine -- that undermine democratic processes and institutions in Ukraine; threaten its peace, security, stability, sovereignty, and territorial integrity; and contribute to the misappropriation of its assets, constitute an unusual and extraordinary threat to the national security and foreign policy of the United States, and I hereby declare a national emergency to deal with that threat. I hereby order:

Section 1. (a) All property and interests in property that are in the United States, that hereafter come within the United States, or that are or hereafter come within the possession or control of any United States person (including any foreign branch) of the following persons are blocked and may not be transferred, paid, exported, withdrawn, or otherwise dealt in: any person determined by the Secretary of the Treasury, in consultation with the Secretary of State:

(i) to be responsible for or complicit in, or to have engaged in, directly or indirectly, any of the following:

(A) actions or policies that undermine democratic processes or institutions in Ukraine;

(B) actions or policies that threaten the peace, security, stability, sovereignty, or territorial integrity of Ukraine; or

(C) misappropriation of state assets of Ukraine or of an economically significant entity in Ukraine;

(ii) to have asserted governmental authority over any part or region of Ukraine without the authorization of the Government of Ukraine;

(iii) to be a leader of an entity that has, or whose members have, engaged in any activity described in subsection (a)(i) or (a)(ii) of this section or of an entity whose property and interests in property are blocked pursuant to this order;

(iv) to have materially assisted, sponsored, or provided financial, material, or technological support for, or goods or services to or in support of, any activity described in subsection (a)(i) or (a)(ii) of this section or any person whose property and interests in property are blocked pursuant to this order; or

(v) to be owned or controlled by, or to have acted or purported to act for or on behalf of, directly or indirectly, any person whose property and interests in property are blocked pursuant to this order.

(b) The prohibitions in subsection (a) of this section apply except to the extent provided by statutes, or in regulations, orders, directives, or licenses that may be issued pursuant to this order, and notwithstanding any contract entered into or any license or permit granted prior to the effective date of this order.

Sec. 2. I hereby find that the unrestricted immigrant and nonimmigrant entry into the United States of aliens determined to meet one or more of the criteria in subsection 1(a) of this order would be detrimental to the interests of the United States, and I hereby suspend entry into the United States, as immigrants or nonimmigrants, of such persons. Such persons shall be treated as persons covered by section 1 of Proclamation 8693 of July 24, 2011 (Suspension of Entry of Aliens Subject to United Nations Security Council Travel Bans and International Emergency Economic Powers Act Sanctions).

Sec. 3. I hereby determine that the making of donations of the type of articles specified in section 203(b)(2) of IEEPA (50 U.S.C. 1702(b)(2)) by, to, or for the benefit of any person whose property and interests in property are blocked pursuant to section 1 of this order would seriously impair my ability to deal with the national emergency declared in this order, and I hereby prohibit such donations as provided by section 1 of this order.

Sec. 4. The prohibitions in section 1 of this order include but are not limited to:

(a) the making of any contribution or provision of funds, goods, or services by, to, or for the benefit of any person whose property and interests in property are blocked pursuant to this order; and

(b) the receipt of any contribution or provision of funds, goods, or services from any such person.

Sec. 5. (a) Any transaction that evades or avoids, has the purpose of evading or avoiding, causes a violation of, or attempts to violate any of the prohibitions set forth in this order is prohibited.

(b) Any conspiracy formed to violate any of the prohibitions set forth in this order is prohibited.

Sec. 6. For the purposes of this order:

(a) the term "person" means an individual or entity;

(b) the term "entity" means a partnership, association, trust, joint venture, corporation, group, subgroup, or other organization; and

(c) the term "United States person" means any United States citizen, permanent resident alien, entity organized under the laws of the United States or any jurisdiction within the United States (including foreign branches), or any person in the United States.

Sec. 7. For those persons whose property and interests in property are blocked pursuant to this order who might have a constitutional presence in the United States, I find that because of the ability to transfer funds or other assets instantaneously, prior notice to such persons of measures to be taken pursuant to this order would render those measures ineffectual. I therefore determine that for these measures to be effective in addressing the national emergency declared in this order, there need be no prior notice of a listing or determination made pursuant to section 1 of this order.

Sec. 8. The Secretary of the Treasury, in consultation with the Secretary of State, is hereby authorized to take such actions, including the promulgation of rules and regulations, and to employ all powers granted to the President by IEEPA, as may be necessary to carry out the purposes of this order. The Secretary of the Treasury may redelegate any of these functions to other officers and agencies of the United States Government consistent with applicable law. All agencies of the United States Government are hereby directed to take all appropriate measures within their authority to carry out the provisions of this order.

Sec. 9. The Secretary of the Treasury, in consultation with the Secretary of State, is hereby authorized to submit the recurring and final reports to the Congress on the national emergency declared in this order, consistent with section 401(c) of the NEA (50 U.S.C. 1641(c)) and section 204(c) of IEEPA (50 U.S.C. 1703(c)).

Sec. 10. This order is not intended to, and does not, create any right or benefit, substantive or procedural, enforceable at law or in equity by any party against the United States, its departments, agencies, or entities, its officers, employees, or agents, or any other person.

BARACK OBAMA


Source : White House 

Một Quốc Gia Tình Nghĩa


06-03-2014

Một Quốc Gia Tình Nghĩa

Alan Phan
Trong quan sát của tôi về lịch sử cận đại, tôi không thấy các chánh trị gia xứ nào có thể sánh với các quan chức Việt Nam về chỉ số may mắn. Đất nước chúng ta có thể được Guinness liệt kê vào bảng kỷ lục về… ”tình nghĩa”.

Ông cựu Tổng Thống Ukraine vừa phải thoát thân qua Nga và lúng túng không biết giải thích sao về những tài sản mênh mông khắp xứ, kể cả một dinh thự trên 138 hectares đẹp hơn cung điện của những Nga Hoàng ngày xưa. Ông Khadafi thì không kịp giải thích, còn ông Mubarak thì ở trong tù lâu quá, trí nhớ hơi kém.


Trong khi đó, tôi nhớ khoảng mấy năm về trước, vài quan chức Việt nói những tài sản kếch xù các mạng truyền thông tìm ra là do công sức “buôn thúng bán bưng” của các bà vợ hiền. Không những đầy ắp “tình” mà các vị này còn may mắn là có cả kho núi tiền do “tài” của những bậc phu nhân. Vì nghe chuyện này mà một thằng bạn Việt Kiều của tôi bỏ xứ Thuỵ Sĩ lạnh lẽo về Việt Nam đi khắp nước, cặp kè hơn 30 triệu bà cô không chồng. Sau 10 năm vất vả, vẫn không thấy một bà nào đủ “tài” tháo vát như các bà vợ quan chức.

Tôi nhớ có khuyên là nó đã bỏ sót một bộ phận không nhỏ là…đạo quân bán vé số… khắp thành thị làng quê. Nếu nhắm vào số lượng biết vui hưởng hạnh phúc XHCN cực nhọc này, thì chẳng mấy chốc bạn tôi sẽ thành đại gia… tỷ phú đô la, ăn xài cả chục đời không hết.

Ngoài “tình”, vài quan chức gần đây còn tuỳ thuộc vào “nghĩa”. Chỉ cần 1 người em kết nghĩa là một ông có thể xây xong một dinh thự hơn 16 ngàn mét vuông, trị gia vài chục tỷ đồng. Theo đánh giá của xã hội tình nghĩa này, càng làm lớn thì càng may mắn và càng có nhiều người em “kết nghĩa”. Tôi nghe nói một quan Trung Ương phải có ít nhất là chục ngàn người em kết nghĩa; còn ở các quận xã nghèo nơi “đất cày lên sỏi đá” thì tệ lắm cũng kiếm được vài trăm em kết nghĩa. Một người em dư xây một biệt thự, vài trăm em thì lên thiên đàng mấy hồi.

Do đó, ở đâu không biết, nhưng tại Việt Nam, mỗi ngày trên TV đều có những giải đặc biệt để xem quan chức hay đại gia nào có nhiều “tình” nhất hoặc nhiều “nghĩa” nhất. Đúng là thời Nghiêu Thuấn cũng không sánh bằng.

Vì sự tôn trọng “tình nghĩa” bàng bạc khắp lịch sử, một giáo sư tuyên giáo trung ương phải phẫn nộ mà kết tội bọn đế quốc Mỹ là tội ác của họ “trời không dung, đất không tha”. Chứ tình nghĩa như người anh kết nghĩa Trung Quốc thì em Việt Nam phải nghìn đời nhớ ơn, năm nào cũng sẵn sàng đem khoáng sản, mỏ dầu ngoài khơi, đi kiếm tiền bọn tư bản, nhập siêu đem về tặng anh kết nghĩa. Còn chuyện chiến tranh biên giới năm 1978 chỉ là một hiểu lầm nhỏ nhặt trong gia đình.

Cách đây vài tuần tôi ghé ngang Hồng Kông, tình cờ gặp một anh bạn cũ làm cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Sau vài trao đổi về thời tiết và gia đình, tôi hỏi anh về tiến bộ trong đám phán TPP, nhất là với Việt Nam. Anh ta cười,” Sao mày nghiêm túc quá. Hết giờ làm việc rồi, hãy để tao enjoy ly whisky này cho trọn vẹn nghe.” Rồi anh kể chuyện tiếu lâm mà anh nói là có thực, đang được hành lang Bộ Ngoại Giao phổ biến.

Một chính trị gia Mỹ đi công cán ở một quốc gia mới nổi. Cô đơn, ông bắt chuyện và gạ được một phụ nữ địa phương ở quán bar lên phòng mình, sau khi thoả thuận giá cả. Ông hăm hở vào cuộc ngay khi cà hai vừa leo lên giường. Bỗng người phụ nữ la làng,” Bớ làng xóm, coi thằng đế quốc tư bản này đang hiếp tôi nè.” Ông sợ quá, cả thân hình như khô cứng, người chết lặng. Bà ta lại chu chéo,” Tôi la gì kệ tôi, sao ông lại ngừng?”

TPP đành phải đợi vậy.

Alan Phan