Hiển thị các bài đăng có nhãn Thư Gửi Một Quốc Gia Ki-tô Giáo – Phần 2. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thư Gửi Một Quốc Gia Ki-tô Giáo – Phần 2. Hiển thị tất cả bài đăng

23/05/2010

Thư Gửi Một Quốc Gia Ki-tô Giáo – Phần 2

Thư Gửi Một Quốc Gia Ki-tô Giáo – Phần 2

Sam Harris

( Chuyển ngữ: Lê Quốc Tuấn )




Những người vô thần có phải là quỷ dữ không ?

Nếu bạn là đúng khi tin rằng đức tin tôn giáo đem lại căn bản thực sự và duy nhất cho nền đạo đức thì những ngưòi vô thần chắc sẽ ít đạo đức hơn những ngưòi có lòng tin. Thực tế, họ phải là cực kỳ vô đạo đức. Có phải thế không? Có phải thành viên các tổ chức vô thần ở Mỹ phạm tội ác nhiều hơn không? Có phải thành viên của Hiệp hội Khoa Học, 93 phần trăm trong số họ không chấp nhận các ý tưởng về Thưọng đế, đã dối trá, lừa lọc và ăn cắp với sự buông thả hay không? Chúng ta có chứng cớ để tin tưởng rằng các tổ chức này tối thiểu cũng cư xử tốt lành như đa số dân chúng khác. Thế nhưng, người vô thần là thiểu số luôn bị mắng nhiếc nhiều nhất ở Mỹ. Các số thống kê thăm dò cho thấy là một ngưòi vô thần thì khó mà ứng cử vào các chức vụ cao trong đất nước (trong khi da đen, Hồi Giáo hoặc đồng tính thì không sao). Trên khắp các đất nước Hồi Giáo, gần đây, nhiều ngàn người đã tụ họp – đốt các tòa đại sứ Âu châu, đe dọa, bắt cóc con tin, giết người – để phản đối mười hai bức tranh biếm họa Tiên tri Mohammad lần đầu tiên xuất hiện trên một tờ báo Ðan mạch. Ngưòi vô thần có nổi loạn bao giờ? Có báo chí nào trên thế giới này phải lưỡng tự khi đăng những tranh biếm họa về người vô thần vì e rằng những người viết bài sẽ bị bắt cóc hoặc sát hại để trả thù?

Ngưòi Ki-tô giáo như các bạn cứ luôn tuyên bố rằng những con quỷ như Adolf Hitler, Joseph Stalin, Mao Trạch Ðông, Pol Pot và Kim Chính Nhật đã nhảy ra từ cửa mình một người vô thần. Trong khi sự thật là những kẻ ấy dù có khi là kẻ thù của các tổ chức tôn giáo nhưng họ vốn không có lý trí gì đặc biệt.[i] Thực tế, những công bố trước công chúng của họ thường là ảo tưởng: về những vần đề rất nhiều khác biệt như chủng tộc, kinh tế, tính đồng nhất quốc gia, tiến triển của lịch sử và các nguy hiểm đạo đức của chủ thuyết duy lý trí. Vấn đề của các bạo chúa đó không phải vì họ chối từ lý thuyết của tôn giáo mà là vì họ ôm chặt những huyền thoại hủy diệt sự sống khác. Hầu hết đã trở thành trọng tâm của những giáo phái cá nhân gần như tôn giáo, luôn cần đến sự tuyên truyền để duy trì. Có sự khác biệt giữa tuyên truyền và sự phổ biến thông tin chân thực mà chúng ta (thường) trông đợi từ một nền dân chủ tự do. Những bạo chúa gây diệt chủng hoặc sung sướng trị vì trên sự đói khát của chính dân mình, cũng thường thiên về những kẻ có tính khí riêng rất mạnh, chứ không phải là những người đấu tranh cho lẽ phải. Như Kim Chính Nhật, đã đòi hỏi là giường ngủ của y ở nhiều nơi cư ngụ khác nhau phải được đặt chính xác năm trăm mét trên mức nước biển. Nệm giường của y phải được nhồi bởi các thứ lông vũ mềm mại nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng được. Các thứ lông vũ đó chính là các lông măng dưới cằm của giống chim sẻ. Phải cần đến bảy trăm ngàn con chim sẻ để dồn đủ lông cho một tấm chăn. Nhìn vào cái quan tâm sâu sắc bí hiểm ấy, chúng ta ắt phải tự hỏi cái con người Kim Chính Nhật đó đã biết điều đến thế nào.

Thử nghĩ về các lò thiêu Do Thái: những ngưòi chống Do Thái từng xây dựng các trại Nazi tử thần chính là di sản trực tiếp của Ki-tô giáo thời trung cổ. Trong bao nhiêu thế kỷ, ngưòi Ki-tô giáo ở châu Âu đã xem ngưòi Do thái như loại tệ hại nhất trong hàng ngũ những kẻ dị giáo và sự hiện diện của họ đã mang đến tất cả những bệnh hoạn cho xã hội. Ở Đức quốc lòng thù ghét người Do Thái đã biểu lộ như là một phương cách thế tục vượt trội, với căn nguyên từ tôn giáo, và sự dứt khoát ma quỷ hóa đạo giáo của người Do Thái ở Âu châu đã tiếp diễn suốt thời kỳ đó. Ngay chính Vatican cũng đã kéo dài những phỉ báng huyết thống trên báo chí của họ mãi đến cuối năm 1914 [ii] Và các nhà thờ Công giáo lẫn Thệ phản Giáo đều có những quá khứ đáng xấu hổ về những đồng lõa của họ với chính sách diệt chủng Nazi.

Lò sát sinh Auschwitz, các trại tập trung Xô Viết và cánh đồng chết ở Cam Bốt không phải là những điển trưng của những con ngưòi khi đã trở nên quá tin. Ngược lại, những khiếp đảm này minh chứng cho mối hiểm nguy của chính trị và chủ nghĩa giáo điều. Đã đến lúc những ngưòi Ki-tô các bạn ngưng viện cớ rằng sự chối bỏ đức tin sẽ dẫn đến sự ôm vội chủ thuyết vô thần như tín điều một cách mù quáng. Ngưòi ta không cần phải chấp nhận một điều gì không đủ tín lý để cho rằng sự ra đời trong trinh bạch của Jesus là một ý tưởng phi lý. Vấn nạn của tôn giáo– như là với chủ nghĩa Nazi, Stalin hoặc bất kỳ các hoang đường chuyên chế nào- chính là vấn nạn của tín điều. Tôi không thấy một xã hội nào trong lịch sử nhân loại từng khổ đau vì dân chúng quá khao khát chứng tín cho các khuôn mẫu niềm tin của mình.

KHI BẠN NGHĨ rằng chấm dứt tôn giáo là một mục tiêu không thể đạt được, quan trọng hơn là bạn nên ý thức được rằng nhiều đất nước phát triển đã gần đạt được điều ấy. Na uy, Iceland, Úc, Canada. Thụy điển, Thụy sĩ, Đan Mạch, Bỉ, Nhật, Netherland, và Anh quốc là những quốc gia ít tôn giáo tính nhất trên địa cầu. Theo báo cáo về phát triển của nhân loại của Liên Hiệp Quốc (2005) những quốc gia này là những quốc gia khỏe mạnh, dựa vào tuổi thọ, trình độ đọc viết, thu nhập đầu người, học thức, công bằng giới tính, tỉ lệ giết người và tỉ lệ tử vong của trẻ em. Đến mức rằng nếu như có một trường hợp tội phạm xảy ra ở Tây Âu thì hầu như phần lớn là từ giới di dân. Thí dụ như bảy mươi phần trăm các tù phạm trong các nhà tù ở Pháp là những ngưòi Hồi giáo. Người Hồi giáo ở Tây Ây nói chung không phải là ngưòi vô thần. Ngược lại, năm mươi quốc gia hiện xếp hạng chót theo những tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc là những quốc gia kiên định về tôn giáo.

Các phân tích khác cũng vẽ nên bức tranh tương tự: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, trong mức độ trung thành với tôn giáo, là một độc đáo giữa những quốc gia dân chủ giàu có. Đất nước này còn độc đáo ở sự bủa vây trong mức độ cao của tệ nạn sát nhân, phá thai, trẻ vị thành niên mang thai, bệnh truyền nhiễm qua tình dục và mức tử vong của trẻ em. Trong nội tình nưóc Mỹ, một so sánh đúng tương tự là: giữa các tiểu bang phía nam và trung tây, nơi có đặc tính tôn giáo mạnh, thì đặc biệt tiêm nhiễm bởi những chỉ dấu của một xã hội thiếu lành mạnh, trong khi các tiểu bang tương đối mang tính thế tục ở vùng đông bắc thì thích ứng với các tiêu chuẩn Âu châu.

Trong khi sự sát nhập đảng phái chính trị ở Mỹ không phải là một chỉ dấu hoàn hảo về lòng mộ đạo, chả có gì gọi là bí mật khi những “tiểu bang đỏ” (ý nói thiên về đảng Cộng Hòa – ghi chú của Người Dịch) đã thắm đỏ hơn vì ảnh hưởng chính trị quá mạnh của giới Ki-tô giáo bảo thủ. Nếu có một liên quan gì mạnh mẽ giữa chủ nghĩa bảo thủ Ki-tô với y tế xã xội, và chúng ta mong nhìn thấy vài tín hiệu của tương quan ấy trong các tiểu bang đỏ ở Mỹ. Chúng ta sẽ không thấy gì cả. Trong hai mươi lăm thành phố có tỉ lệ tội phạm thấp nhất, 62 phần trăm thuộc tiểu bang “xanh” ( ý nói thiên về đảng Dân Chủ), 38 phần trăm thuộc ”đỏ”. Trong hai mươi lăm thành phố nguy hiểm nhất, 76 phần trăm thuộc các tiểu bang “đỏ”, 24 phần trăm thuộc “xanh”. Thực tế, ba trong năm thành phố nguy hiểm nhất ở Mỹ là ở tiểu bang đạo đức giả Texas. Mưòi hai tiểu bang có mức ăn trộm cao nhất là “đỏ’. Hai mươi bốn trong hai mươi lăm tiểu bang có mức ăn cắp cao nhất là “đỏ”. Trong hai mươi hai tiểu bang có tỉ lệ sát nhân cao nhất, mưòi bảy tiểu bang là “đỏ’.

Dĩ nhiên, những liên quan như thế này không giải quyết được các câu hỏi về nguyên nhân hậu quả – niềm tin vào Thượng đế có thể đã dẫn đến những trục trặc của xã hội – hoặc các trục trặc của xã hội có thể đã thúc đẩy niềm tin vào Thượng đế, yếu tố này có thể gây ra yếu tố kia, hoặc cả hai có thể đã nảy sinh từ các nguyên nhân sâu xa của điều ác. Tuy vậy, bỏ qua một bên vấn đề của nguyên nhân và hậu quả, các con số thống kê này đã chứng minh rằng chủ nghĩa vô thần là khát vọng căn bản của một xã hội dân sự; các con số thống kê ấy cũng chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng, việc phổ biến niềm tin vào Thượng đế không bảo đảm gì cho sự lành mạnh xã hội.

Các quốc gia có trình độ cao về chủ nghĩa vô thần là những quốc gia có lòng khoan dung nhất, trong cả hai phương diện tỉ lệ bách phân tài nguyên họ cống hiến cho các chương trình an sinh xã hội và tỉ lệ bách phân của cải họ cho đi trong các viện trợ đến thế giới đang phát triển. Mối liên hệ không rõ ràng giữa chủ nghĩa Ki-tô nghĩa đen và các giá trị Ki-tô đã gây nên từ ảo tưởng của các sai lầm về sự công bằng xã hội. Hãy nhìn mức tỉ lệ lương bổng giữa các viên chức điều hành cao cấp với mức lương trả cho các công nhân trung bình cùng hãng xưỏng: ở Anh quốc là 24:1, ở Pháp 15:1, Thụy điển 13:1, ở Mỹ, nơi mà 80 phần trăm dân số mong đợi được vời đến trong ngày phán xét của Thượng đế là 475:1. Trông có lẽ như khối con lạc đà có thể đi lọt qua một lỗ kim.

Ai đã đặt điều tốt lành vào cuốn “sách tốt lành”?

Ngay cả nếu niềm tin vào Thiên chúa quả thực tạo nên một ảnh hưởng tốt và đáng tin lên phẩm hạnh của con ngưòi, thì yếu tố này cũng không đủ là một lý lẽ để tin vào Thiên chúa. Người tin vào Thiên chúa là ngưòi chỉ tin rằng Thiên chúa thực có hiện hữu. Ki-tô giáo không hẳn là đúng, ngay cả khi chủ nghĩa vô thần có dẫn thẳng đến cuộc khủng hoảng đạo đức. Có thể Hồi giáo mới là đúng trong trường hợp ấy. Hoặc tất cả các tôn giáo chỉ nên hoạt động như những loại thuốc trấn an. Như khi ra toa chữa bệnh cho vũ trụ, thuốc có thể là hoàn toàn giả, thế nhưng lại hữu ích. Tuy vậy, chứng cớ cho thấy rằng cả hai đều giả mạo và nguy hiểm.

Khi nói về những kết quả tốt lành mà niềm tin của bạn mang lại cho đạo đức con ngưòi, bạn đang noi gương những ngưòi tự do và ôn hòa tôn giáo. Thay vì nói rằng họ tin vào Thiên chúa vì một số tiên tri trong thánh kinh đã thật xảy đến, hoặc vì những phép lạ kể lại trong phúc âm đáng tin, những ngưòi tự do và ôn hòa có khuynh hướng nói về những hậu quả tốt lành của niềm tin như khi họ tin. Những ngưòi tin theo này thường nói rằng họ tin vào Thượng đế bởi vì niềm tin này “mang lại ý nghĩa cho đời sống của mình”. Khi cơn sóng thần giết hại vài trăm ngàn ngưòi ngay sau ngày giáng sinh 2004, nhiều ngưòi Ki-tô giáo bảo thủ nhìn thiên tai này như một minh chứng cho cơn giận của Thiên chúa. Rõ ràng là Thiên chúa đã gởi một mã thông tri nữa đến bọn quỷ phá thai, sùng bái ảnh tượng và đồng tình luyến ái. Mặc dù tôi đánh giá những lý giải này như một sự kinh tởm cùng cực, nếu được gán một số giả định, hẳn nó cũng phải có một đặc điểm gì phải lẽ. Mặt khác, những ngưòi tự do và ôn hòa đã từ chối rút ra một kết luận nào về Thiên chúa trong công việc của ngài. Thiên chúa vẫn là một bí mật tuyệt đối, vẫn chỉ một nguồn an ủi tương thích bên một ác quỷ tàn phá hung hãn. Theo sau cơn sóng thần ở Á châu, những ngưòi tự do và ôn hòa lần lượt khuyên bảo nhau tìm Thiên chúa “ không phải trong sức mạnh để dịch chuyển được cơn bão, mà trong chống trả của con người với cơn bão”. Tôi nghĩ chúng ta có thể đồng ý rằng những tử thi trôi nổi được kéo vớt khỏi mặt biển là những biểu hiện của lòng bác ái từ chính con ngưòi chứ không phải từ Thiên chúa. Vào cái ngày cả hơn một trăm ngàn trẻ thơ thình lình bị giật xé khỏi vòng tay mẹ chúng rồi bị nhận chìm, thần học tự do phải đứng dậy để vén mở xem đó là điều gì: đó là những sự giả ngơ chết người nhất. Hiểu biết của Thần học về cơn giận của Thiên Chúa thật đã đi quá xa khỏi phẩm chất trí thức. Nếu Thiên Chúa hiện hữu và quan tâm đến việc đời của nhân loại thì ý nguyện của người không bí hiểm. Cái bí hiểm duy nhất ở đây chính là nhiều ngưòi đàn ông, đàn bà trí thức thông thái có thể chối từ cái thảm họa vô ích này để nghĩ đến những cao sâu của đạo đức.

CÙNG VỚI hầu hết những ngưòi Ki-tô khác, bạn tin rằng những sinh vật có thể chết đi như chúng ta không thể chối từ đạo đức của Thánh kinh. Chẳng hạn như, chúng ta không thể bảo rằng Thiên Chúa đã sai lầm khi dìm chết hầu hết nhân loại trong trận lũ lụt thời Sáng thế, bởi vì đấy chỉ là cách nhìn từ nhãn quan giới hạn của chúng ta. Thế nhưng, bạn lại cảm thấy mình ở được đứng vào vị trí để thẩm định rằng Jesus là con Thiên Chúa , rằng Khuôn Vàng Thước ngọc là đỉnh cao của đạo đức thâm thúy, rằng cuốn Thánh kinh tự bản thân không đầy ắp những điều dối trá. Bạn đang xử dụng chính trực giác của mình để xác thực cái uyên thâm của đạo đức – và rồi – ngay sau đó, bạn lại yêu sách rằng con ngưòi không thể dựa vào trực giác của mình để dẫn dắt mình đi đúng đường trên thế gian này; chúng ta phải nên dựa vào toa thuốc chẩn bệnh của Thánh kinh thì tốt hơn. Bạn đang dùng chính trực giác đạo đức của mình để xác quyết rằng cuốn Thánh kinh là bảo chứng đúng đắn nhất cho trực giác đạo đức của mình. Trực giác của bạn là cái chính yếu, lẽ phải của bạn thì lòng vòng.

Chúng ta quyết định xem điều gì tốt lành trong cuốn sách Tốt lành này. Chúng ta đọc Khuôn vàng Thước Ngọc và đánh giá đó là chắt lọc sáng giá từ rất nhiều thúc đẩy đạo đức của chúng ta. Sau đó, chúng ta bắt gặp lời một dạy khác của Thiên Chúa về đạo đức : Trong đêm động phòng, nếu ngưòi đàn ông khám phá ra rằng ngưòi vợ của mình không còn trinh nữ thì y phải ném đá y thị cho chết đi tại ngay thềm cửa nhà cha của y thị

(Deuteronomy 22:12-21). Nếu là con ngưòi văn minh, hẳn chúng ta phải chối bỏ ngay hành vi này như thể một thứ điên rồ, ghê tởm có thể tưởng được được. Hành động như thế là cần đến sự thực hành trực giác đạo đức của mình. Sự tin rằng cuốn Thánh kinh là chính lời của Thượng đế chẳng giúp gì chúng ta cả.

Chọn lựa của chúng ta rất đơn giản: Hoặc chúng ta sẽ có một cuộc thảo luận của thế kỷ hai mươi mốt về đạo đức học và phẩm hạnh nhân loại – cuộc thảo luận mà mình sẵn sàng với mọi sáng suốt của khoa học và các tranh biện triết học vốn tích lũy từ hơn hai ngàn năm qua trong tiến trình phát triển nhân loại – hay là chúng ta tự giam mình vào một cuộc thảo luận của thế kỷ thứ nhất như đã được bảo quản cất giữ trong cuốn Thánh Kinh. Tại sao lại có ai đó muốn một cuộc thảo luận thứ hai ?

Lòng Từ tâm của Thiên chúa

Ở một nơi nào đó trên thế gian này có một ngưòi đàn ông bắt cóc một bé gái. Chẳng bao lâu sau đó, y hãm hiếp, hành hạ và giết bé đi. Nếu sự man rợ loại này không xảy ra đúng vào lúc này, nó có thể xảy ra tối đa là trong một vài giờ hay vài ngày nữa. Chúng ta biết chắc như thể rút ra từ các phép thống kê đang khống chế đời sống của sáu tỉ ngưòi. Các thống kê tương tự cho thấy rằng cha mẹ của bé gái này tin – cũng như bạn đang tin – rằng có một Thiên chúa toàn năng đầy lòng bác ái đang quan phòng đến họ và gia đình họ. Họ tin như thế có đúng không? Và có tốt đẹp gì không khi họ tin như thế ?

Không.

Tất cả chủ nghĩa vô thần nằm trong câu trả lời này. Chủ nghĩa vô thần không phải là một trường phái triết học. Cũng không phải một quan điểm về thế gian. Chủ nghĩa vô thần chỉ đon giản chỉ sự chấp nhận những gì hiển nhiên. Thực ra, “Vô thần” là một từ vốn không nên có. Không ai cần phải minh định mình là một ngưòi “không chiêm tinh học”, hoặc “không giả kim học”. Chúng ta không có từ diễn tả những ngưòi còn ngờ rằng Elvis vẫn còn sống hoặc các thứ ngưòi hành tinh đã du hành qua dải ngân hà chỉ để để quấy nhiễu các chủ trang trại và gia súc của họ. Vô thần chỉ là những âm vang từ những con ngưòi biết phải quấy trước sự hiện diện của những niềm tin tôn giáo vô lý. Ngưòi vô thần đơn giản chỉ là người tin rằng 260 triệu ngưòi Mỹ (87 phần trăm dân số Mỹ) nhận rằng họ “không bao giờ nghi ngờ hiện hữu của Thượng đế” nên có trách nhiệm chứng minh sự hiện hữu ấy của Ngài, và, ngay cả cho tình bác ái của ngài trước những hủy diệt không ngừng của nhân loại mà chúng ta đang là nhân chứng mỗi ngày. Ngưòi vô thần là ngưòi tin rằng việc sát hại đứa bé gái đơn độc – dù chỉ xảy ra một lần duy nhất trong cả triệu năm – cũng đủ để nghi ngờ ý tưởng của một Thiên chúa nhân từ.

Các thí dụ về sự thất bại của Thiên chúa trong việc bảo vệ nhân loại có thể được nhìn thấy đầy rẫy mọi nơi mọi chốn. Thí dụ như thành phố New Orleans vừa bị hủy diệt bởi cơn bão dữ Katrina. Hơn một ngàn ngưòi tử vong, hàng chục ngàn người mất đi tất cả tài sản trần gian của mình, và gần một triệu ngưòi phải rời bỏ nơi ăn chốn ở. Vậy thật không sai khi nói rằng hầu hết mọi ngưòi sống ở New Orleans vào thời điểm cơn bão Katrina tràn đến đã chia xẻ với quý bạn niềm tin vào một Thiên chúa toàn năng, toàn trí và nhân từ. Thế nhưng Thiên chúa đã làm gì khi Katrina ngập tràn rác rưởi khắp thành phố ? Chắc chắn là Thiên chúa đã nghe thấy lời cầu kinh của những người già cả, phụ nữ phải chạy lên rầm thượng tìm nơi an toàn để trốn khỏi cơn sóng dữ đang dâng lên, rồi cũng bị nhận chìm chết đuối. Ðó là những con ngưòi của đức tin. Ðó là những ngưòi đàn ông, đàn bà tốt lành đã đọc kinh cầu suốt cả đời mình. Bạn có can đảm chấp nhận sự hiển nhiên này không? Quả là những ngưòi đáng thương này đã chết vì chuyện trò với một ngưòi bạn tưởng tượng.

Dĩ nhiên, đã có những cảnh báo kịp thời về một cơn bão “có tầm cỡ kinh thánh” sẽ đổ vào New Orleans, và sự đối phó sau đó của con ngưòi với tai họa đã là một thảm kịch bất lực. Thế nhưng đó là một sự đối phó không tương ứng dưói ánh sáng của khoa học. Còn tôn giáo thực không mang đến cơ bản nào cho sự đối phó. Các cảnh báo trước về đường tiến của bão Katrina đạt được từ cuộc vật lộn với thiên nhiên câm lặng, từ tính toán của thiên văn học và các ảnh chụp từ vệ tinh. Thiên chúa không hề cho ai biết trước các kế hoạch của Ngài. Nếu như các dân cư ở New Orleans từng đồng lòng dựa cả vào thiện tâm của Thiên chúa, họ đã chỉ có thể biết cơn bão chết ngưòi đổ xuống mình khi cuồng phong thực sự tạt vào mặt mình. Thế nhưng, chắc bạn cũng không ngạc nhiên khi kết quả cuộc thăm dò của tờ Washington Post đã cho thấy 80 phần trăm những nạn nhân sống sót sau cơn bão Katrina đã nhìn nhận rằng biến cố bão ấy chỉ làm vững mạnh hơn niềm tin của họ vào Thiên chúa.

Trong lúc cơn bão Katrina đang nuốt chửng New Orleans, gần một ngàn ngưòi Shiite hành hương đã giẫm đạp lên nhau mà chết ở một cây cầu tại Iraq. Những ngưòi hành hương này tin tưởng mãnh liệt vào đấng Thiên chúa trong kinh Koran. Thực vậy, cuộc sống của họ được tổ chức chung quanh thực tế không thể tranh cãi về sự hiện diện của ngài: phụ nữ phải phủ mạng che mặt trưóc ngài, nam giới thưòng xuyên giết hết ngưòi này đến kẻ khác vì tranh nhau diễn giải lời dạy của ngài. Thật là ngoại lệ nếu có kẻ sống sót đơn lẻ nào mất niềm tin từ những thảm kịch này. Thường thì những kẻ sống sót tưởng tượng rằng mình được tha chết do ơn huệ của Thiên chúa.

Ðã đến lúc để chúng ta ý thức cái không giới hạn của chủ nghĩa tự yêu mình và tự dối mình từ những người được cứu sống. Ðến lúc để chúng ta nhận thấy thật đáng hổ thẹn đến thế nào khi những kẻ sống sót từ trận thiên tai có thể tin rằng họ được tha chết bởi một Thiên chúa nhân từ, trong khi cũng Ðấng ấy nhận chìm những trẻ thơ trong nôi của chúng. Một khi bạn ngưng trùm tấm chăn tôn giáo tưởng tượng của bạn lên cái thực tế đau khổ của thế giới, bạn sẽ nhận ra mạng sống quý báu đến dường nào và, từ đó nhận thấy được nỗi bất hạnh của hàng triệu con ngưòi đã bị tước đoạt hạnh phúc của họ một cách đau khổ mà không vì nguyên nhân gì cả.

THỬ HỎI một cơn thiên tai đã lớn lao và vô lý đến chừng nào mới lay chuyển được đức tin của thế gian. Lò thiêu Holocaust đã không lay chuyển được. Nạn diệt chủng ở Rwanda cũng không, ngay cả có những tu sĩ mang gươm giáo giữa những thủ phạm. Năm trăm triệu ngưồi chết vì bệnh đậu mùa trong thế kỷ hai mươi, đa số là trẻ thơ. Phương cách của Thiên chúa thật bí hiểm. Dường như tất cả thực tại, bất kể là bất hạnh đến đâu, có thể đáp trả tương xứng với đức tin của tôn giáo.

Lẽ tất nhiên, hết bận này đến lượt khác, con ngưòi của mọi đức tin luôn quả quyết là Thiên chúa không chịu trách nhiệm gì về đau khổ của con ngưòi. Thế thì còn gì khác để chúng ta tin vào khẳng định rằng Thiên chúa đế là toàn năng và toàn trí ? Dĩ nhiên, đây là câu hỏi cũ rích dành cho thần học và chúng ta có thể cho rằng câu hỏi đã được giải đáp. Nếu Thiên chúa hiện hữu, hoặc ngài đã không thể làm gì để chặn đứng các tai ương thái quá ấy hoặc ngài không muốn ngăn chặn. Do đó, Thiên chúa hoặc là bất lực hoặc là một con quỷ. Ðến đây chắc bạn muốn biểu diễn động tác múa ballet xoay tròn để đáp rằng: Thiên chúa không thể bị đánh giá bằng những tiêu chuẩn đạo đức của con ngưòi. Nhưng chúng ta đã thấy tiêu chuẩn đạo đức của con ngưòi là chính những tiêu chuẩn mà bạn dùng để dựng nên lòng nhân từ của Thiên chúa ngay từ khởi điểm. Và bất kỳ Thiên chúa nào có thể lo lắng cho chính mình bởi những chuyện tầm thường như hôn nhân đồng tính hay bởi danh xưng mà Ngài được nhắc đến trong các bài kinh cầu nguyện thì không có gì là bí hiểm cả.

Dĩ nhiên, còn một khả năng khác, vừa hợp lý vừa ít đáng ghét nhất: đó là vị Thiên chúa trong Kinh thánh là không có thật, tương tự như thần Zeus và hàng ngàn vị thần đã chết khác mà hầu hết nhân loại tỉnh táo đều không để ý đến. Bạn có thể chứng minh rằng thần Zeus không hề hiện hữu? Dĩ nhiên là không. Vậy thì, hãy tưởng tượng mình đang sống trong một xã hội mà hàng năm con ngưòi tiêu hàng chục tỉ bạc tiền thu nhập của họ để làm nguôi giận các thần trên đỉnh Olympus, trong khi chính phủ chi ra nhiều tỉ bạc khác từ tiền thuế để hỗ trợ cho các cơ quan dâng hiến cho các thần này, cùng lúc ấy, nhiều tỉ bạc khác lén lút lấy từ trợ cấp thuế mang hiến tặng cho các đền thờ ngoại giáo, đồng thời các viên chức dân cử đang làm hết sức mình để ngăn chặn các nghiên cứu y khoa gây mất lòng Iliad và Odyssey, và trong khi tất cả các tranh luận về chính sách công cộng đều đả phá các ý tưởng kỳ quặc của các tác giả cổ đại từng viết hay nhưng không biết gì về thực tế của thiên nhiên để loại phân ra khỏi thức ăn của họ. Ðây đúng là một sự biển thủ khủng khiếp cho tài nguyên, đạo đức và tri thức. Thế nhưng đấy chính là cái xã hội chúng ta đang sống. Ðấy là một thế giới phi lý cùng cực mà bạn và những ngưòi Ki-tô hữu của bạn đang cật lực tạo nên.

Thật khủng khiếp là chúng ta sẽ chết đi và mất đi tất cả những gì chúng ta yêu thương. Thật khủng khiếp là quá nhiều con ngưòi đang phải sống mà chịu đựng những đau khổ không cần thiết. Và rất nhiều những đau khổ này đang trực tiếp quy cho tôn giáo – cho hận thù tôn giáo, chiến tranh tôn giáo, cấm kỵ tôn giáo, và các lệnh hướng tôn giáo về các tài nguyên hiếm- là những điều khiến sự phê phán chân thành về đức tin tôn giáo là một nhu cầu đạo đức và trí thức. Ðáng tiếc thay, việc diễn đạt những phê bình như thế đang đặt những người không tin theo tôn giáo ra ngoài lề xã hội. Chỉ việc va chạm với thực tại thôi, ngưòi không tin theo tôn giáo đã bị xem như kẻ đúng ngoài cuộc sống kỳ diệu của các láng giềng.

Sức mạnh của sự tiên tri

Ngưòi ta thường nói rằng thật có lý khi tin Thánh kinh chính là lời của Thượng đế bởi vì nhiều biến cố được kể lại trong Tân Ước đã xác định tiên tri của thời Cựu ước. Nhưng hãy tự hỏi chính mình, các nhà soạn phúc âm đã phải khó khăn đến dường nào khi phải kể lại câu chuyện về cuộc đời Jesus sao cho phù hợp với các tiên đoán trong Cựu Ước? Không phải Thánh kinh đã ở trong quyền lực của những ngưòi quá cố nào để soạn lên một cuốn sách nhằm khẳng định các tiên đoán của cuốn sách trưóc đó? Thực tế, chúng ta đã biết về căn bản có chứng tích văn tự rằng đấy chính là cách mà các nhà soạn sách Phúc âm đã thực hiện.

Thí dụ như các nhà soạn phần Luke và Matthew công bố rằng Mary đã mang thai trinh nguyên, dựa vào việc Hy lạp trao trả lại Isaiah 7:14. Văn tự bằng tiếng Hebrew về Isaiah dùng chữ ‘almâ” có ý nghĩa đơn giản là “ngưòi phụ nữ trẻ” chứ không mang ý ám chỉ gì về sự trinh nguyên. Chắc là cái niềm tin về sự hạ sinh đồng trinh, và hầu hết các hậu quả mối băn khoăn của thế giói Ki-tô giáo về tình dục, chính là sản phẩm dịch sai từ cổ ngữ Do Thái. Một phủ nhận khác về niềm tin vào sự hạ sinh trinh nguyên là ở chỗ nhiều nhà truyền giáo khác đã không hề nghe biết đến việc ấy. Cả Mark và John cùng bối rối trước lời kết tội rằng Jesus là kết quả của sự chửa hoang nhưng cả hai chẳng bao giờ nhắc đến nguồn gốc phép lạ của Ngưòi. Pauls nhắc đến Jesus như đã “sinh ra từ giống, da thịt của David” và “sinh ra từ một ngưòi đàn bà”, mà không hề nhắc đến việc đồng trinh của Mary gì cả.

Các nhà truyền giáo cũng mắc những sai lầm khác về sự thông thái, thí dụ như, Matthew trong câu 27:9-10 đã khẳng định một câu châm ngôn có nguyên do từ sách Jeremiah. Trong khi đó câu châm ngôn này thực sự đã xuất hiện trong Zechariah 11:12-13 (về việc Judas bán Jesus lấy 30 miếng bạc, cũng là tiền mua ruộng của kẻ làm đồ gốm – ghi chú của người dịch). Các phúc âm cũng mâu thuẫn trực tiếp với nhau. John cho chúng ta biết rằng Jesus đã bị đóng đinh một ngày trước khi ăn bữa Passover; Mark lại bảo là ngày hôm sau. Với ánh sáng của những khác biệt đó, làm sao quý bạn có thể tin rằng tất cả mọi phần của cuốn Thánh kinh là hoàn hảo? Bạn nghĩ sao về Muslim, Mormons, và ngưòi Sikhs vốn thường không để ý đến những mâu thuẫn trong các sách thánh của họ? Họ cũng tuyên bố những điều đại loại như “Thần thánh thiêng liêng chỉ nhìn vào thực chất cốt lõi chứ không bị ràng buộc bởi ngôn từ” (Luthers). Như thế có khiến bạn chấp nhận kinh sách của họ như những lời hoàn hảo hơn của đấng tạo nên vũ trụ?

NGƯỜI KI-TÔ giáo thường xác nhận rằng sách Thánh kinh tiên đoán được những biến cố lịch sử ngày mai. Thí dụ như sách Deuteronomy 28:64 phán rằng “ Và Đức cha sẽ rải các ngươi ra giữa mọi ngưòi, từ đầu bên này đến bờ bên kia của quả đất “ Jesus nói, trong Luke 19:43-44 “ Rồi các ngươi sẽ đến những ngày, khi quân thù sẽ dựng nên những bờ song chung quanh ngươi, bao vây các ngươi mọi phía, và ném ngươi xuống mặt đất, ngưoi và con cái ngươi bên trong, và chúng sẽ không chừa một hòn đá nào cho ngươi, bởi vì các ngươi không biết giờ thăm viếng của các ngươi” Chúng tôi nhắc đến để tin rằng nhưng lời phát biểu này sẽ tiên đoán lịch sử sau đó của ngưòi Do thái với những đặc điểm huyền bí như thế để chấp nhận một giải thích phi thường.

Nhưng hãy tưởng tượng xem cái công việc đặc biệt ngoạn mục của sự tiên tri như thế nào, nếu như dó là một sản phẩm của sự toàn trí. Nếu cuốn Thánh kinh là một cuốn sách như thế, ắt phải chứa đựng những tiên đoán chính xác hoàn hảo về những biến cố của nhân loại. Bạn phải nhận thấy cuốn sách chứa đựng những dòng như “trong nửa thế kỷ sau của thế kỷ thứ hai mươi, nhân loại sẽ phát triển một hệ thống computer liên lạc toàn cầu – những nguyên tắc mà ta đã nói trước ở Leviticius – và hệ thống này sẽ được gọi tên là internet”. Thánh kinh không có những dòng tiên đoán như thế. Thực tế, cuốn sách đã không chứa đựng một dòng nào không từng được viết ra bởi những ngưòi sống trong thế kỷ thứ nhất. Điều này chắc phải gây phiền cho bạn.

Một cuốn sách được viết bởi một con ngưòi toàn trí có thể chưa đựng một phần về toán học mà sau hai ngàn năm xử dụng liên tục, vẫn còn là một nguồn sung mãn của thông thái toán học mà nhân loại từng được biết. Thay vì thế, cuốn Thánh kinh không hề chứa đựng những thảo luận nghiêm túc về toán lại còn chứa đựng những sai lầm hiển nhiên về toán học nữa. Cuốn sách lành này nói rằng tỉ số giữa chu vi và tâm của vòng tròn là 3:1 (I Kings 7:23-26 và II Chronicles 4:2-5). Thật không ấn tượng gì lắm khi đem so sánh một cách tương đối với hằng số Pi. Tích thập phân của hằng số Pi. chạy đến vô tận – 3.1415926535…- và hiện nay các máy điện toán hiện đại cho phép chúng ta tính toán được hằng số này đến bất kỳ mức chính xác nào chúng ta muốn. Trong khi cả ngưòi Ai cập và Babylons đều chỉ đánh giá gần đúng hằng số Pi ở một vài phần mười ở vài thế kỷ trước khi những cuốn sách cũ nhất về Pi hằng được soạn ra. Cuốn Thánh kinh mang đến cho chúng ta một con số phỏng chừng vốn quá tệ ngay cả khi căn cứ vào tiêu chuẩn của thời thượng cổ. Và không có gì ngạc nhiên, chính niềm tin đã tìm cách để hợp lý hóa điều này; nhưng những sự hợp lý hóa ấy không che dấu được các khác biệt rành rành của Thánh kinh như là nguồn gốc cho thông thái của toán học. Thật tuyệt đối chính xác nếu như nhà toán học Hy lạp Archimedes soạn những phần liên quan trong I Kings và II Chronicles, thì các văn tự sẽ mang được bằng chứng mạnh hơn về sự “toàn trí ” của ngưòi viết.

Tại sao sách Thánh kinh không hề nói chi đến điện năng, hay về DNA, hay về kích thước và tuổi thực của vũ trụ? Thế còn về thuốc trị liệu cho bệnh ung thư thì sao? Khi chúng ta hoàn toàn hiểu tính sinh học của bệnh ung thư, hiểu biết này có thể dễ dàng tóm tắt lại trong vài trang chữ viết. Tại sao những trang như thế, hay một cái gì gần giống như thế không tìm được trong cuốn Thánh kinh? Ngay lúc này, ngưòi hiền lương, kẻ đạo đức giả đang chết một cách khủng khiếp từ chứng ung thư, và đa số là trẻ thơ. Thánh kinh là một cuốn sách vĩ đại. Thượng đế có chỗ để hướng dẫn chúng ta với đầy đủ chi tiết về cách giữ nô lệ và hy sinh rất nhiều loại động vật. Đối với những ai đứng bên ngoài đức tin Ki-tô giáo, thì thật là một sự ngạc nhiên cùng cực về sự tầm thường của cuốn sách và sao vẫn được nghĩ đến như một sản phẩm toàn trí .

Va chạm giữa Tôn giáo và Khoa học

Hiện nay, khi sự phát biểu trung thực về mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo là một nhu cầu đạo đức của các nhà khoa học thì Hiệp Hội Tri thức Khoa học lại khẳng định sự mâu thuẫn một cách viển vông:

Ngay tại căn nguyên của mối mâu thuẫn rõ rệt giữa vài tôn giáo và sự tiến

hoá là sự hiểu lầm về cách hiểu những khác biệt căn bản giữa tôn giáo và

khoa học. Các tôn giáo và khoa học giải quyết những vấn đề khác nhau của

thế giới. Có hay không một mục đích cho vũ trụ hay một mục đích cho hiện

hữu của nhân loại không phải là câu hỏi của khoa học. Phương cách hiểu

biết mà khoa học và tôn giáo đang thực hiện và tiếp tục thực hiện giữ các vai trò riêng biệt trong lịch sử nhân loại… Khoa học là con đường dẫn đến hiểu biết thế giới tự nhiên. Khoa học giới hạn trong phạm vi giải thích thế giới tự

nhiên thông qua những nguyên nhân tự nhiên. Khoa học không thể phát biểu

gì về siêu nhiên. Thượng đế có hiện hữu hay không là một câu hỏi mà khoa học giữ thái độ trung tính.

Phát biều này thật choáng váng vì sự thiếu thẳng thắn. Dĩ nhiên, các nhà khoa học sống trong nỗi sợ hãi triền miên của việc mất đi ngân sách do công chúng tài trợ, vì thế Hiệp hội Tri thức Khoa học chắc chỉ đơn thuần diễn tả nỗi kinh hoàng thô thiển về đám đông đóng thuế. Tuy nhiên, sự thật là mối mâu thuẫn xung khắc giữa tôn giáo và khoa học là không thể tránh khỏi. Thành công của khoa học thường đến từ phí tổn của đức tin tôn giáo; sự duy trì đức tin tôn giáo luôn luôn đến từ phí tổn của khoa học. Các tôn giáo của chúng ta không chỉ đơn giản nói về “mục đích cho hiện hữu của nhân loại”. Tương tự như khoa học, mỗi tôn giáo khẳng định những điều khác nhau về phương cách của thế giới. Những khẳng định này ngụ ý về những sự kiện – đấng tạo hoá có thể nghe (và sẽ đôi khi đáp lại) lời cầu nguyện của con ngưòi; linh hồn nhập vào hợp tử con ngưòi ngay lúc thụ thai; nếu ngươi không tin những điều tốt lành về Thượng đế, ngươi sẽ phải chịu đựng khổ đau mãi mãi sau khi chết. Những khẳng định như thế mâu thuẫn về bản chất với các khẳng định của khoa học, bởi vì những khẳng định đó dựa vào những bằng chứng tệ hại.

Trong ý nghĩa thoáng nhất, “science” (đến từ chữ Latin scire, “để hiểu biết”) đại diện cho các nỗ lực cao nhất của chúng ta để hiểu biết cái gì đúng về thế giới của mình. Ở đây, chúng ta không cần phải phân biệt khoa học “nặng” hay khoa học “nhẹ”, hoặc giữa khoa học với một nhánh khác của nhân loại như là lịch sử. Chẳng hạn, việc Nhật bản ném bom Trân châu cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 là một dữ kiện lịch sử. Hậu quả đưa đến là, sự kiện này tạo nên một phần của thế giới quan về sự hợp lý có tính khoa học. Nếu có đủ dữ kiện minh chứng cho sự việc này, kẻ nào tin rằng sự kiện đã xảy ra trong một ngày khác, hoặc chính ngưòi Ai cập mới là kẻ bỏ bom chắc phải tốn kém rất nhiều giải thích. Cốt lõi của khoa học không chi phối đến các thử nghiệm hoặc tính tính toán khuôn mẫu mà là một sự chân thực trí thức. Khi suy nghĩ về sự chân thực của một định đề, ngưòi ta hoặc tham dự vào sự dịnh giá chân thực của chứng cứ và các tranh luận họp lý hoặc ngược lại. Tôn giáo là một khu vực cuả đời sống mà con ngưòi tưởng tượng rằng có thể áp dụng một loại tiểu chuẩn khác của liêm chính trí thức.

THỬ suy nghĩ về các tranh luận gần đây của các nhà thờ Công giáo đối với học thuyết về cái chết lâm bô. Ba mươi nhà thần học hàng đầu trên thế giới vừa gặp nhau tại Vatican để thảo luận câu hỏi rằng cái gì sẽ xảy đến cho các trẻ em chết mà chưa đưọc trải qua phép rửa tội báp têm. Từ thời trung cổ, thiên chúa giáo đã tin rằng các trẻ em đó sẽ được ở trong tình trạng lâm bô, nghĩa là chúng sẽ đưọc hưởng cái mà thánh Thomas gọi là “ hưởng phước tự nhiên” vĩnh viễn. Điều này lại trái ngược với ý kiến của thánh Augustine, ngưòi đã tin rằng những đứa trẻ thiếu may mắn này sẽ phải đọa địa ngục đời đời.

Dù cái chết lâm bô không hề có một nguồn gốc nào từ kinh sử, và chưa bao giờ là một học thuyết chính thức của nhà thờ, nhưng thuyết này đã từng là một phần chính yếu trong truyền thống nhà thờ qua nhiều thế kỷ. Năm 1905, giáo hoàng Pius X đã hoàn toàn chấp nhận : “Con trẻ chết đi dù chưa chịu phép báp têm sẽ ở vào tình trạng chết lâm bô, nghĩa là dù chúng không biết đến Thượng đế, nhưng chúng cũng sẽ không phãi chịu hình phạt”. Ngày nay, các tư tưởng lớn của nhà thờ đang cân nhắc lại về sự việc ấy.

Ai có thể nghĩ đến được một dự án đáng thương hơn về trí thức như thế này? Hãy thử tưởng tượng xem các bàn cãi này sẽ ra thế nào. Có khả năng mỏng manh nào cho ai đó trình bày được một bằng chứng cho thấy sộ phận đời đời của các đứa trẻ chưa chịu phép báp têm này sau khi chết đi ra sao không? Làm sao mà một ai có ăn học không thể nghĩ rằng những việc này chỉ là những việc mất thì giờ một cách khôi hài, kinh khủng và vô ý thức? Khi ai đó nghĩ đến thực tại rằng đây sẽ là cái lập thành đầu tiên để dẫn đến và chở che cho đạo quân tinh túy của sự quấy nhiễu tình dục trẻ em, cả công trình sẽ bắt đầu rỉ ra những mùi hương ma quỷ của sự phí phạm năng lực con ngưòi.

XUNG ĐỘT giữa khoa học và tôn giáo có thể rút gọn vào một sự kiện đơn giản trong tiến trình hiểu biết của con ngưòi: ngưòi ta hoặc là có lý lẽ đúng cho điều mình tin hoặc là không có. Nếu có lý đúng cho sự việc Jesus đã sinh ra từ sự đồng trinh, hoặc Muhammad đã bay về trời bằng một con ngựa có cánh, thì những niềm tin này sẽ tạo nên một phần những giải thích có ý thức của chúng ta về vũ trụ. Mọi ngưòi đều nhận ra rằng chỉ dựa vào “đức tin” để để phán đoán những vấn đề đặc biệt của thực tế lịch sử là một sự kỳ cục – trừ khi các cuộc thảo luận lại quay về nguồn căn của các kinh sách như cuốn Thánh kinh hoặc kinh Koran, trở về các câu chuyện trao đổi giữa Muhammad và thiên sứ Gabriel, trở lại chuyện sống lại của Jesus, hoặc các thứ tín điều tôn giáo khác. Đã đến lúc để chúng ta nhận ra rằng đức tin không gì khác hơn cái mà những ngưòi có giấy phép hành nghề đạo giáo trao cho nhau để tin tưởng khi thất bại trong lý lẽ.

Trong khi sự cả tin, không bằng chứng là nhãn hiệu của sự điên loạn hoặc ngu xuẩn trong nhiều lãnh vực của đời sống, thì đức tin vào Thiên chúa vẫn còn một niềm tự hào lớn lao trong xã hội của chúng ta. Tôn giáo là một lãnh vực được xem là cao quý trong việc giả vờ như đã chắc chắn về những việc mà không ai có thể xác quyết được trong các cuộc đàm luận của chúng ta. Nó cho thấy rằng cái tinh hoa này chỉ phát triển đến những đức tin vẫn còn được nhiều ngưòi đăng ký mua. Còn ai bị bắt gặp đang thờ kính Thủy thần, ngay cả trên mặt đại dương, cũng sẽ bị xem như kẻ mất trí.[iii]

Thực tại của Đời sống

Tất cả các cuộc sống phức tạp trên thế gian đã được phát triển từ những cấu thành sự sống đon giản từ hàng tỉ năm trước. Đây là một sự thực không còn phải bàn cãi trong giới trí thức nữa. Nếu bạn ngờ rằng nhân loại đã chuyển hoá từ các sinh thể có trước, bạn cũng có thể ngờ rằng mặt trời là một vì sao. Giả dụ là như thế, mặt trời trông có vẻ không giống như một vì sao thông thường, nhưng chúng ta biết rằng mặt trời là một vì sao tự nhiên đã ở một vị trí gần với địa cầu hơn. Hãy tưởng tượng ra sự xấu hổ của bạn khi đức tin tôn giáo của mình lại cho rằng mặt trời đã không phải là một ngôi sao. Tưởng tượng xem hàng triệu ngưòi Ki-tô giáo ở nưóc Mỹ đã chi hàng trăm triệu đô la hàng năm để chiến đấu chống lại những nhà thiên văn học và các nhà vật lý học thiên thể không tin thiên chúa về quan điểm này. Hãy tưởng tượng họ đã làm việc miệt mài đam mê như thế nào để mang những quan điểm vô căn cứ của mình về mặt trời giảng dậy trong các trường học của chúng ta. Đây chính là hoàn cảnh của quý bạn trong mối liên hệ với sự tiến hóa.

Những ngưòi Ki-tô giáo nghi ngờ sự thật của tiến hóa có khuynh hướng phát biểu những điều như “Tiến hoá chỉ là một lý thuyết, không phải là một thực tại”. Phát biểu như thế biểu lộ một loạt những hiểu lầm nghiêm trọng về cách xử dụng khái niệm “lý thuyết” trong các bàn luận khoa học. Trong khoa học, các sự kiện phải được giải thích trong mối tương quan với các sự kiện khác. Các khuôn thức giải thích rộng lớn hơn chính là “các lý thuyết”. Các lý thuyết, trên nguyên tắc, tạo ra các tiên đoán đã được chứng nghiệm. Cụm từ “ lý thuyết về sự tiến hóa” không hề có sự gợi ý tối thiểu rằng sự tiến hóa không phải là một thực tế. Ngưòi ta có thể nói về “ lý thuyết mầm mống của bệnh tật” hoặc “ lý thuyết về vạn vật hấp dẫn” mà không hề mảy may nghi hoặc rằng bệnh tật hay trọng lực không phải là những thực tế của thiên nhiên.

Cũng đáng để lưu ý rằng ngưòi ta có thể đạt đến văn bằng tiến sĩ trong bất kỳ ngành khoa học nào với mục đích không có gì khác hơn là xử dụng khoa học một cách bất chấp đạo lý của ngôn ngữ khoa học trong nỗ lực hợp lý hóa những điều rõ ràng không thỏa đáng trong Thánh kinh. Một nhóm ngưòi Ki-tô giáo đã làm như thế, một số ngưòi còn đạt được các bằng cấp của họ từ những trường đại học danh tiếng. Không nghi ngờ gì, những ngưòi khác sẽ đi theo các bước chân ấy. Dù những ngưòi này là các “nhà khoa học” đi nữa, họ thực không hành xử như những nhà khoa học. Họ hoàn toàn không tham dự vào cuộc tra vấn lương thiện về bản chất của vũ trụ. Và các tuyên ngôn của họ về Thượng đế cùng các thất bại của chủ nghĩa Darwin mà không có được một biểu hiện tối thiểu cho thấy có một cuộc tranh luận khoa học chính đáng về sự tiến hóa. Một cuộc thăm dò được thực hiện năm 2005 ở ba mươi bốn quốc gia nhằm đo lường tỉ lệ những ngưòi chấp nhận thuyết tiến hóa. Mỹ đứng hạng ba mươi ba, chỉ trên mỗi nước Thổ nhĩ Kỳ. Trong khi đó, kiểm tra kiến thúc về toán và khoa học của học sinh trung học ở Mỹ thấp hơn học sinh ở Châu Âu và châu Á. Những dữ kiện này cho thấy rõ ràng chúng ta đang xây dựng một nền văn minh của sự ngu dốt.

Ðây là điều chúng ta biết. Chúng ta biết rằng vũ trụ có trước rất lâu hơn là như Thánh kinh chỉ ra. Chúng ta biết rằng tất cả các sinh vật phức tạp trên thế gian, kể cả chúng ta, đã tiến hóa từ những sinh vật lâu hơn trước đó qua tiến trình hàng nhiều tỉ năm. Bằng chứng cho sự việc này thì cực kỳ mạnh mẽ. Không còn thắc mắc gì rằng đời sống đa dạng mà chúng ta nhìn thấy chung quanh là sự diễn đạt của một mã số mầm sinh (genetic code) đã được ghi trong phân tử DNA, rằng DNA trải qua các cơ hội đột biến, một số đột biến làm gia tăng lợi thế tồn tại của các sinh vật và tái sản xuất trong một một trường đuợc cho trước. Tiến trình đột biến và chọn lọc tự nhiên cho phép các quần thể bị cô lập của những cá thể được lai giống và, trải qua thòi gian, để hình thành những sinh thể mới. Không còn thăc mắc gì nữa về sự việc con ngưòi chúng ta đã được tiến hóa từ những tổ tiên không phải con ngưòi. Từ các bằng chứng về gene di truyền, chúng ta biết rằng chúng ta có chung tổ tiên với loài khỉ, dã nhân, và các tổ tiên này đã có chung gốc nguồn với giống dơi và các loài vượn bay. Có một cội cây nhiều nhánh của sự sống mà ngày nay tính chất và hình thể của nó đã được thông hiểu khá tường tận. Hậu quả là, không có lý do gì để tin rằng các sinh vật cá thể đã được tạo nên trong hình dạng hiện tại của chúng. Tiến trình tiến hóa đã khởi đầu như thế nào vẫn còn là một bí mật, nhưng điều ấy tối thiểu không cho thấy rằng có thần thánh gì đang ẩn nấp trong đáy sâu của những sự kiện này. Ðọc các khẳng định từ kinh thánh tử tế sẽ thấy Thiên chúa đã tạo nên cây cỏ và muôn thú trong hình dạng mà chúng ta đang thấy ngày nay. Dứt khoát là cuốn Thánh kinh đã sai về sự việc này.

Hiện giờ, nhiều ngưòi Ki-tô giáo vốn nghi ngờ về sự thật của thuyết tiến hoá đang tán thành cho điều gọi là sự thiết kế thông minh (Intelligent Design). Vấn đề của Thiết kế thông minh (TKTM) là ở chỗ nó chỉ là một chương trình bênh vực chính trị, tôn giáo, giả trang khoa học không hơn không kém. Bởi vì niềm tin vào Thượng đế như trong thánh kinh không có được hỗ trợ nào từ các kiến thức khoa học về thế giới, các lý thuyết gia của Thiết kế Thông minh đã luôn luôn đặt cọc các khẳng định của họ vào những khu vực của sự ngu dốt về khoa học.

Cuộc tranh luận về TKTM đã đồng loạt tiến hành trên nhiều mặt. Như vô số những ngưòi vô thần trước kia, những nguòi hâm mộ TKTM đã biện luận rằng chính thực tế hiện hữu của vũ trụ chứng minh hiện hữu của Thưọng đế. Các biện luận đại loại xoay quanh rằng: bất kỳ vật gì hiện hữu đều có một nguyên nhân; không gian thời gian hiện hữu, do đó, không gian, thời gian nhất định phải được tạo nên bởi cái gì bên ngoài không gian, thời gian, và cái duy nhất vượt khỏi thời gian, không gian nhưng vẫn có một sức mạnh để sáng tạo chính là Thưọng đế. Nhiều người Ki-tô giáo như quý bạn nhận thấy lý lẽ này rất là thuyết phục. Thế nhưng, ngay cả chúng ta giả định rằng các khẳng định chính của thuyết này (mỗi khẳng định đòi hỏi đến nhiều bàn cãi hơn cả những gì mà các lý thuyết gia của TKTM từng chấp nhận) là đúng, thì kết luận chung cuộc lại không đến được. Ai là ngưòi để tuyên bố rằng kẻ duy nhất có thể tạo căn nguyên cho thời gian, không gian là một loài siêu nhân? Nếu như chúng ta chấp nhận rằng vũ trụ của chúng ta đơn giản là được thiết kế bởi một nhà thiết kế, cũng không có ý rằng nhà thiết kế này phải là Thượng đế của Thánh kinh, hoặc rằng đấng thiết kế ấy tán thành Ki-tô giáo. Nếu được thiết kế một cách thông minh, vũ trụ của chúng ta có thể đang vận hành như một mô phỏng từ một siêu máy tính của ngưòi hành tinh. Hoặc vũ trụ chúng ta là công trình của một Thiên chúa bị quý ám, hoặc của hai đấng đang kéo co ganh đua với nhau trong một vũ trụ rộng hơn.

Như nhiều phê bình về tôn giáo đã vạch ra, khái niệm về đấng sáng tạo dẫn đến một vấn nạn trực tiếp cho sự thoái bộ vô định. Nếu Thiên chúa tạo nên vũ trụ, cái gì đã tạo nên Thiên chúa? Bảo rằng Thiên chúa, như đã định nghĩa, là đấng không do đâu tạo nên thì đúng là lý luận lòng vòng. Ðấng nào có năng lực sáng tạo nên một thế giới phức tạp có lẽ bản thân cũng rất phức tạp. Như nhà sinh vật học Richard Dawkins đã nhiều lần quan sát, tiến trình tự nhiên duy nhất có thể sản xuất được một cái gì thiết kế nên sự vật mà chúng ta hằng biết đó chính là sự tiến hóa.

Sự thật là không ai biết bằng cách nào và vì sao mà vũ trụ này đi vào hiện hữu. Cũng không rõ ràng là chúng ta có thể phát biểu mạch lạc về sự sáng tạo nên vũ trụ, ngay cả khi biến cố như thế có thể cưu mang chỉ với sự tham chiếu vào thời gian trong khi chúng ta đang phát biểu về sự sinh sản của tự chính bản thân không-thời-gian.[iv] Bất kỳ ngưòi lương thiện trí thức nào cũng sẽ phải thú nhận rằng mình không biết tại sao vũ trụ hiện hữu. Dĩ nhiên, các nhà khoa học đã thú nhận sự ngu dốt của họ về điểm này. Những ngưòi theo tôn giáo thì không thú nhận như vậy. Một trong những mỉa mai ấn tượng nhất của luận thuyết tôn giáo có thể đánh giá được là tính thường xuyên chê trách của những ngưòi có đức tin về những nhà khoa học và ngưòi không tôn giáo là sự kiêu căng trí thức trong khi tự ca tụng mình đức khiêm tốn của mình. Thực sự không có thế giới quan nào đáng trách như cái nhìn thế này của một ngưòi có đạo: đấng tạo dựng vũ trụ quan tâm đến tôi, công nhận tôi, yêu thương tôi, và sẽ thưởng tôi sau khi chết; niềm tin hiện tại của tôi, được rút ra từ thánh kinh, và sẽ mãi mãi là những khẳng định của sự thật cho đến ngày tận cùng của thế giới; kẻ nào không đồng ý với tôi sẽ vĩnh viễn rơi vào địa ngục… Một ngưòi Ki-tô giáo thông thường, trong một nhà thờ thông thường, lắng nghe một bài thuyết giảng chủ nhật thông thường này thực đã đạt đến một mức độ cao ngạo rồi.

HƠN 99 PHẦN TRĂM các sinh thể từng đi đứng, bay lượn hoặc bò trườn trên địa cầu này hiện đã tuyệt chủng. Riêng sự thật này thôi đã đủ bác bỏ thiết kế thông minh. Khi nhìn vào thế giới tự nhiên, chúng ta thấy sự phức tạp phi thường nhưng không thấy sự thiết kế tối ưu. Chúng ta thấy sự dư thừa, thoái bộ và sự phức tạp không cần thiết; chúng ta thấy sự thiếu khả năng một cách đáng hoang mang khiến dẫn đến đau đớn và chết chóc. Chúng ta nhìn thấy những loài chim không bay và loài rắn có xương chậu. Chúng ta thấy các sinh vật ngành cá, kỳ nhông, loài giáp xác có những con mắt nhưng không hề nhìn được, bởi vì chúng tiếp tục tiến hóa trong bóng tối lặng thầm cả triệu năm. Ta thấy cá voi có răng trong giai đoạn phôi thai nhưng rút bỏ khi khi trưỏng thành. Những đặc tính đó của thế giới chúng ta thực cực kỳ bí hiểm. Nếu như Chúa sáng tạo nên muôn loài trên cuộc sồng địa cầu này “một cách thông minh”; thì không có loài nào phải bối rối khó xử trong ánh sáng của sự tiến hóa.

Nhà sinh vật học J.B.S.Haldane được biết đã từng nói rằng, nếu có Thiên chúa, Người hẳn đã “có một niềm yêu khác thường cho các loài bọ”. Có ngưòi đã hy vọng rằng kiểu quan sát phá bĩnh này sẽ mãi mãi gấp lại cuốn sách về sáng tạo luận. Sự thật là, trong khi hiện nay có vào khoảng ba trăm năm mươi ngàn loại bọ được biết đến, Thượng đế cho thấy lại dành nhiều tình thương hơn đối với loài vi khuẩn. Các nhà sinh vật học ước tính rằng tối thiểu mỗi loài động vật trên địa cầu có đến mười chủng loại vi khuẩn khác nhau. Dĩ nhiên nhiều vi khuẩn thì vô hại, và một số vi khuẩn cổ đại có thể đã đóng một vai trò quan trọng trong sự nảy sinh các sinh vật phức tạp. Nhưng các vi khuẩn có khuynh hướng xử dụng đến các cơ thể như của bạn và của tôi để làm bộ phận sinh dục vay mượn của chúng. Nhiều loại tấn công các tế bào của chúng ta chỉ để phá hủy. Phá hủy các tế bào của chúng ta một cách kinh khủng, không thương hại và không ngừng nghỉ. Các vi khuẩn như HIV, cũng như một số nhiều các loại vi khuẩn gây hại, có thể được nhìn thấy lúc nhúc ngay dưói lỗ mũi chúng ta, làm hại chúng ta vì những phát triển sức đề kháng chống lại các thuốc trụ sinh và chống vi khuẩn. Thuyết tiến hóa vừa tiên đoán vừa giải thích hiện tượng này; sách Genesis thì không hề. Làm sao bạn có thể tưởng tượng rằng đức tin tôn giáo mang lại những giải thích tốt nhất cho những thực tế này, hay là các niềm tin tôn giáo muốn nói đến mục đích thương xót sâu xa hơn của một sinh thể toàn trí?

Cơ thể của chúng ta chứng thực tính đỏng đảnh và bất lực của tạo hóa. Khi còn nằm trong phôi thai, chúng ta có đuôi, có túi mang và một lớp lông như loài khỉ. Hạnh phúc thay, khi sinh ra chúng ta được mất đi những thứ phụ tùng quyến rũ ấy. Quy trình kỳ lạ của hình thái học này đã được giải thích sẵn sàng trong lý thuyết tiến hóa và các điều kiện về di truyền học ; nếu chúng ta là sản phẩm của một thiết kế thông minh thì những điều này là quá bí hiểm: nam giới có ống tiết niệu dẫn thẳng từ các tuyến tiền liệt. Tuyến này có khuynh hướng tăng trưởng, to ra trong suốt cuộc đời. Vì thế, hầu hết đàn ông quá tuổi sáu mươi có thể chứng thực rằng tối thiểu có một thiết kế trên địa cầu xanh tươi của Thiên chúa đã khiến ngưòi đàn ông ước ao phải chi đừng được như thế. Xương chậu của đàn bà đã không được thiết kế thông minh lắm khi nó phải được dùng để giúp vào phép lạ sinh sản. Từ đó, mỗi năm, hàng ngàn ngưòi phụ nữ phải đau đớn vì sanh lâu, sanh khó đến nỗi hậu quả dẫn đến chứng nghẹt thai. Phụ nữ trong các quốc gia đang phát triển bị tình trạng này thưòng bị chồng bỏ, hoặc phải đi ra khỏi làng mạc của mình. Quỹ hỗ trợ Dân số của Liên Hiệp quốc ước tính hiện nay có đến hơn hai triệu phụ nữ phải sống mang chứng nghẹt thai (fistula)[v].

Các điển hình của sự thiết kế không thông minh trong tự nhiên nhiều đến nỗi chỉ liệt kê ra thôi cũng cần đến cả một cuốn sách. Tôi xin tự cho phép mình kể ra một điển hình nữa mà thôi. Hệ thống hô hấp và tiêu hóa của con ngưòi cùng dùng chung một cơ phận bơm ở cuống họng. Chỉ riêng tại Mỹ, hàng năm, đặc trưng của thiết kế thông minh này đã khiến cả chục ngàn đứa trẻ phải vào bệnh viện cấp cứu. Hàng trăm đứa trẻ chết vì nghẹt thở. Nhiều trẻ khác bị tổn thưong não không thể chữa trị được. Chủ đích nhân ái nào trong những sự việc này? Dĩ nhiên, chúng ta có thể tưởng tượng ra một mục đích: có lẽ cha mẹ của những trẻ em này cần được dạy một bài học; có lẽ Thượng Đế đã chuẩn bị một phần thưởng đặc biệt trên thiên đàng cho mỗi em bị tắc thở vì bình sữa. Tuy nhiên, vấn nạn chính ở chỗ những tưỏng tưọng như thế tương hợp với bất kỳ hiện trạng nào của thế gian. Có nỗi bất hạnh kinh hoàng nào không thể hợp lý hóa được bằng cách này? Và tại sao bạn thiên về cách suy nghĩ như thế? Suy nghĩ như thế thì đạo đức đến đâu?



(còn tiếp)

[i] Hitler đã nói trong bài diễn văn đọc ngày 12 tháng 4 năm 1922. (Norman H. Bayes, ed. The Speeches of Adolf Hitler, April 1922- August 1939. Vol. 1 of 2, pp. 19-20. Oxford University Press, 1942”:

Cảm giác Ki-tô giáo đã dẫn tôi đến Chúa và bậc cứu rỗi của mình như một chiến sĩ (…) Trong tình yêu không bờ bến của một ngưòi Ki-tô hữu và của một con người, tôi đã đọc được những dòng được những ẩn ngữ dạy cho chúng ta biết cuối cùng đức Chúađã dương cao sự vĩ đại của người, nắm giữ lấy tai ương để quét sách khỏi Ðiện thờ lũ rắn độc. Cuộc chiến đấu cho thế giới chống lại nọc độc Do Thái của người lớn lao biết dường nào …là ngưòi Ki-tô giáo Tôi còn có trách nhiệm với riêng dân tộc của mình.

[ii] “phỉ báng huyết thống” (với chủ ý đến người DoThái) gồm các cáo buộc sai lầm rằng ngưòi Do Thái đã giết hại những ngưòi không phải Do Thái để lấymáu của họ dùng vào những nghi thức tế lễ . Sự kết án này vẫn còn được tin là thật ở nhiều nơi trong các nước Hồi giáo.

[iii] Sự thật cần được nói, hiện nay tôi nhận được các điện thư phản kháng từ những ngưòi khẳng định với tất cả chân thành rõ rệt, rằng họ tin Thuỷ thần (Poisedon) và các thần linh khác của thần thoại Hy lạp là có thật.

[iv]Thí dụ như nhà vật lý học Stephen Hawking hình dung không-thời gian như một hiện hữu đa dạng kín, bốn chiều, không có đầu, không có cuối. (giống như bề mặt của một quả cầu)

[v] Ðể chữa trị chứng sanh nghẹt thai, chỉ cần đến một giải phẫu đơn giản-chứ không cần phải cầu nguyện. Dù nhiều ngưòi có đức tin vẫn cứ tin rằng cầu nguyện có thể chữa lành nhiều căn bệnh ( bất kể là các chúng bệnh đã được các khảo cứu khoa học tốt nhất tìm ra) Chuyện cầu nguyện này cũng kỳ cục ở chỗ là ngưòi ta chỉ cầu nguyện trong những trường hợp bệnh tật hoặc thương tích có giới hạn thôi. Chẳng hạn như không ai tin rằng lời cầu nguyện có thể khiến cụt tay chân có thể mọc ra lại. Sao không nhỉ? Giống kỳ nhông có thể làm được việc này, đoán chừng là không phải cầu xin gì. Nếu Thiên chúa từng đáp lại lời cầu xin, sao Ngưòi không đôi lúc chữa lành một trường hợp cụt tay chân Và sao ngưòi có đức tin không trông mong vào cầu nguyện trong những trường hợp ấy? Có một trang WEB rất phi thường đang dốc lòng khám phá bí hiểm này: www.whydoesgodhatesamputees.com

23/03/2009

Thư Gửi Một Quốc Gia Ki-tô Giáo – Phần 2

Thư Gửi Một Quốc Gia Ki-tô Giáo – Phần 2

Sam Harris




Những người vô thần có phải là quỷ dữ không ?

Nếu bạn là đúng khi tin rằng đức tin tôn giáo đem lại căn bản thực sự và duy nhất cho nền đạo đức thì những ngưòi vô thần chắc sẽ ít đạo đức hơn những ngưòi có lòng tin. Thực tế, họ phải là cực kỳ vô đạo đức. Có phải thế không? Có phải thành viên các tổ chức vô thần ở Mỹ phạm tội ác nhiều hơn không? Có phải thành viên của Hiệp hội Khoa Học, 93 phần trăm trong số họ không chấp nhận các ý tưởng về Thưọng đế, đã dối trá, lừa lọc và ăn cắp với sự buông thả hay không? Chúng ta có chứng cớ để tin tưởng rằng các tổ chức này tối thiểu cũng cư xử tốt lành như đa số dân chúng khác. Thế nhưng, người vô thần là thiểu số luôn bị mắng nhiếc nhiều nhất ở Mỹ. Các số thống kê thăm dò cho thấy là một ngưòi vô thần thì khó mà ứng cử vào các chức vụ cao trong đất nước (trong khi da đen, Hồi Giáo hoặc đồng tính thì không sao). Trên khắp các đất nước Hồi Giáo, gần đây, nhiều ngàn người đã tụ họp - đốt các tòa đại sứ Âu châu, đe dọa, bắt cóc con tin, giết người - để phản đối mười hai bức tranh biếm họa Tiên tri Mohammad lần đầu tiên xuất hiện trên một tờ báo Ðan mạch. Ngưòi vô thần có nổi loạn bao giờ? Có báo chí nào trên thế giới này phải lưỡng tự khi đăng những tranh biếm họa về người vô thần vì e rằng những người viết bài sẽ bị bắt cóc hoặc sát hại để trả thù?

Ngưòi Ki-tô giáo như các bạn cứ luôn tuyên bố rằng những con quỷ như Adolf Hitler, Joseph Stalin, Mao Trạch Ðông, Pol Pot và Kim Chính Nhật đã nhảy ra từ cửa mình một người vô thần. Trong khi sự thật là những kẻ ấy dù có khi là kẻ thù của các tổ chức tôn giáo nhưng họ vốn không có lý trí gì đặc biệt.[i] Thực tế, những công bố trước công chúng của họ thường là ảo tưởng: về những vần đề rất nhiều khác biệt như chủng tộc, kinh tế, tính đồng nhất quốc gia, tiến triển của lịch sử và các nguy hiểm đạo đức của chủ thuyết duy lý trí. Vấn đề của các bạo chúa đó không phải vì họ chối từ lý thuyết của tôn giáo mà là vì họ ôm chặt những huyền thoại hủy diệt sự sống khác. Hầu hết đã trở thành trọng tâm của những giáo phái cá nhân gần như tôn giáo, luôn cần đến sự tuyên truyền để duy trì. Có sự khác biệt giữa tuyên truyền và sự phổ biến thông tin chân thực mà chúng ta (thường) trông đợi từ một nền dân chủ tự do. Những bạo chúa gây diệt chủng hoặc sung sướng trị vì trên sự đói khát của chính dân mình, cũng thường thiên về những kẻ có tính khí riêng rất mạnh, chứ không phải là những người đấu tranh cho lẽ phải. Như Kim Chính Nhật, đã đòi hỏi là giường ngủ của y ở nhiều nơi cư ngụ khác nhau phải được đặt chính xác năm trăm mét trên mức nước biển. Nệm giường của y phải được nhồi bởi các thứ lông vũ mềm mại nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng được. Các thứ lông vũ đó chính là các lông măng dưới cằm của giống chim sẻ. Phải cần đến bảy trăm ngàn con chim sẻ để dồn đủ lông cho một tấm chăn. Nhìn vào cái quan tâm sâu sắc bí hiểm ấy, chúng ta ắt phải tự hỏi cái con người Kim Chính Nhật đó đã biết điều đến thế nào.

Thử nghĩ về các lò thiêu Do Thái: những ngưòi chống Do Thái từng xây dựng các trại Nazi tử thần chính là di sản trực tiếp của Ki-tô giáo thời trung cổ. Trong bao nhiêu thế kỷ, ngưòi Ki-tô giáo ở châu Âu đã xem ngưòi Do thái như loại tệ hại nhất trong hàng ngũ những kẻ dị giáo và sự hiện diện của họ đã mang đến tất cả những bệnh hoạn cho xã hội. Ở Đức quốc lòng thù ghét người Do Thái đã biểu lộ như là một phương cách thế tục vượt trội, với căn nguyên từ tôn giáo, và sự dứt khoát ma quỷ hóa đạo giáo của người Do Thái ở Âu châu đã tiếp diễn suốt thời kỳ đó. Ngay chính Vatican cũng đã kéo dài những phỉ báng huyết thống trên báo chí của họ mãi đến cuối năm 1914 [ii] Và các nhà thờ Công giáo lẫn Thệ phản Giáo đều có những quá khứ đáng xấu hổ về những đồng lõa của họ với chính sách diệt chủng Nazi.

Lò sát sinh Auschwitz, các trại tập trung Xô Viết và cánh đồng chết ở Cam Bốt không phải là những điển trưng của những con ngưòi khi đã trở nên quá tin. Ngược lại, những khiếp đảm này minh chứng cho mối hiểm nguy của chính trị và chủ nghĩa giáo điều. Đã đến lúc những ngưòi Ki-tô các bạn ngưng viện cớ rằng sự chối bỏ đức tin sẽ dẫn đến sự ôm vội chủ thuyết vô thần như tín điều một cách mù quáng. Ngưòi ta không cần phải chấp nhận một điều gì không đủ tín lý để cho rằng sự ra đời trong trinh bạch của Jesus là một ý tưởng phi lý. Vấn nạn của tôn giáo– như là với chủ nghĩa Nazi, Stalin hoặc bất kỳ các hoang đường chuyên chế nào- chính là vấn nạn của tín điều. Tôi không thấy một xã hội nào trong lịch sử nhân loại từng khổ đau vì dân chúng quá khao khát chứng tín cho các khuôn mẫu niềm tin của mình.

KHI BẠN NGHĨ rằng chấm dứt tôn giáo là một mục tiêu không thể đạt được, quan trọng hơn là bạn nên ý thức được rằng nhiều đất nước phát triển đã gần đạt được điều ấy. Na uy, Iceland, Úc, Canada. Thụy điển, Thụy sĩ, Đan Mạch, Bỉ, Nhật, Netherland, và Anh quốc là những quốc gia ít tôn giáo tính nhất trên địa cầu. Theo báo cáo về phát triển của nhân loại của Liên Hiệp Quốc (2005) những quốc gia này là những quốc gia khỏe mạnh, dựa vào tuổi thọ, trình độ đọc viết, thu nhập đầu người, học thức, công bằng giới tính, tỉ lệ giết người và tỉ lệ tử vong của trẻ em. Đến mức rằng nếu như có một trường hợp tội phạm xảy ra ở Tây Âu thì hầu như phần lớn là từ giới di dân. Thí dụ như bảy mươi phần trăm các tù phạm trong các nhà tù ở Pháp là những ngưòi Hồi giáo. Người Hồi giáo ở Tây Ây nói chung không phải là ngưòi vô thần. Ngược lại, năm mươi quốc gia hiện xếp hạng chót theo những tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc là những quốc gia kiên định về tôn giáo.

Các phân tích khác cũng vẽ nên bức tranh tương tự: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, trong mức độ trung thành với tôn giáo, là một độc đáo giữa những quốc gia dân chủ giàu có. Đất nước này còn độc đáo ở sự bủa vây trong mức độ cao của tệ nạn sát nhân, phá thai, trẻ vị thành niên mang thai, bệnh truyền nhiễm qua tình dục và mức tử vong của trẻ em. Trong nội tình nưóc Mỹ, một so sánh đúng tương tự là: giữa các tiểu bang phía nam và trung tây, nơi có đặc tính tôn giáo mạnh, thì đặc biệt tiêm nhiễm bởi những chỉ dấu của một xã hội thiếu lành mạnh, trong khi các tiểu bang tương đối mang tính thế tục ở vùng đông bắc thì thích ứng với các tiêu chuẩn Âu châu.

Trong khi sự sát nhập đảng phái chính trị ở Mỹ không phải là một chỉ dấu hoàn hảo về lòng mộ đạo, chả có gì gọi là bí mật khi những “tiểu bang đỏ” (ý nói thiên về đảng Cộng Hòa - ghi chú của Người Dịch) đã thắm đỏ hơn vì ảnh hưởng chính trị quá mạnh của giới Ki-tô giáo bảo thủ. Nếu có một liên quan gì mạnh mẽ giữa chủ nghĩa bảo thủ Ki-tô với y tế xã xội, và chúng ta mong nhìn thấy vài tín hiệu của tương quan ấy trong các tiểu bang đỏ ở Mỹ. Chúng ta sẽ không thấy gì cả. Trong hai mươi lăm thành phố có tỉ lệ tội phạm thấp nhất, 62 phần trăm thuộc tiểu bang “xanh” ( ý nói thiên về đảng Dân Chủ), 38 phần trăm thuộc ”đỏ”. Trong hai mươi lăm thành phố nguy hiểm nhất, 76 phần trăm thuộc các tiểu bang “đỏ”, 24 phần trăm thuộc “xanh”. Thực tế, ba trong năm thành phố nguy hiểm nhất ở Mỹ là ở tiểu bang đạo đức giả Texas. Mưòi hai tiểu bang có mức ăn trộm cao nhất là “đỏ’. Hai mươi bốn trong hai mươi lăm tiểu bang có mức ăn cắp cao nhất là “đỏ”. Trong hai mươi hai tiểu bang có tỉ lệ sát nhân cao nhất, mưòi bảy tiểu bang là “đỏ’.

Dĩ nhiên, những liên quan như thế này không giải quyết được các câu hỏi về nguyên nhân hậu quả - niềm tin vào Thượng đế có thể đã dẫn đến những trục trặc của xã hội - hoặc các trục trặc của xã hội có thể đã thúc đẩy niềm tin vào Thượng đế, yếu tố này có thể gây ra yếu tố kia, hoặc cả hai có thể đã nảy sinh từ các nguyên nhân sâu xa của điều ác. Tuy vậy, bỏ qua một bên vấn đề của nguyên nhân và hậu quả, các con số thống kê này đã chứng minh rằng chủ nghĩa vô thần là khát vọng căn bản của một xã hội dân sự; các con số thống kê ấy cũng chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng, việc phổ biến niềm tin vào Thượng đế không bảo đảm gì cho sự lành mạnh xã hội.

Các quốc gia có trình độ cao về chủ nghĩa vô thần là những quốc gia có lòng khoan dung nhất, trong cả hai phương diện tỉ lệ bách phân tài nguyên họ cống hiến cho các chương trình an sinh xã hội và tỉ lệ bách phân của cải họ cho đi trong các viện trợ đến thế giới đang phát triển. Mối liên hệ không rõ ràng giữa chủ nghĩa Ki-tô nghĩa đen và các giá trị Ki-tô đã gây nên từ ảo tưởng của các sai lầm về sự công bằng xã hội. Hãy nhìn mức tỉ lệ lương bổng giữa các viên chức điều hành cao cấp với mức lương trả cho các công nhân trung bình cùng hãng xưỏng: ở Anh quốc là 24:1, ở Pháp 15:1, Thụy điển 13:1, ở Mỹ, nơi mà 80 phần trăm dân số mong đợi được vời đến trong ngày phán xét của Thượng đế là 475:1. Trông có lẽ như khối con lạc đà có thể đi lọt qua một lỗ kim.

Ai đã đặt điều tốt lành vào cuốn “sách tốt lành”?

Ngay cả nếu niềm tin vào Thiên chúa quả thực tạo nên một ảnh hưởng tốt và đáng tin lên phẩm hạnh của con ngưòi, thì yếu tố này cũng không đủ là một lý lẽ để tin vào Thiên chúa. Người tin vào Thiên chúa là ngưòi chỉ tin rằng Thiên chúa thực có hiện hữu. Ki-tô giáo không hẳn là đúng, ngay cả khi chủ nghĩa vô thần có dẫn thẳng đến cuộc khủng hoảng đạo đức. Có thể Hồi giáo mới là đúng trong trường hợp ấy. Hoặc tất cả các tôn giáo chỉ nên hoạt động như những loại thuốc trấn an. Như khi ra toa chữa bệnh cho vũ trụ, thuốc có thể là hoàn toàn giả, thế nhưng lại hữu ích. Tuy vậy, chứng cớ cho thấy rằng cả hai đều giả mạo và nguy hiểm.

Khi nói về những kết quả tốt lành mà niềm tin của bạn mang lại cho đạo đức con ngưòi, bạn đang noi gương những ngưòi tự do và ôn hòa tôn giáo. Thay vì nói rằng họ tin vào Thiên chúa vì một số tiên tri trong thánh kinh đã thật xảy đến, hoặc vì những phép lạ kể lại trong phúc âm đáng tin, những ngưòi tự do và ôn hòa có khuynh hướng nói về những hậu quả tốt lành của niềm tin như khi họ tin. Những ngưòi tin theo này thường nói rằng họ tin vào Thượng đế bởi vì niềm tin này “mang lại ý nghĩa cho đời sống của mình”. Khi cơn sóng thần giết hại vài trăm ngàn ngưòi ngay sau ngày giáng sinh 2004, nhiều ngưòi Ki-tô giáo bảo thủ nhìn thiên tai này như một minh chứng cho cơn giận của Thiên chúa. Rõ ràng là Thiên chúa đã gởi một mã thông tri nữa đến bọn quỷ phá thai, sùng bái ảnh tượng và đồng tình luyến ái. Mặc dù tôi đánh giá những lý giải này như một sự kinh tởm cùng cực, nếu được gán một số giả định, hẳn nó cũng phải có một đặc điểm gì phải lẽ. Mặt khác, những ngưòi tự do và ôn hòa đã từ chối rút ra một kết luận nào về Thiên chúa trong công việc của ngài. Thiên chúa vẫn là một bí mật tuyệt đối, vẫn chỉ một nguồn an ủi tương thích bên một ác quỷ tàn phá hung hãn. Theo sau cơn sóng thần ở Á châu, những ngưòi tự do và ôn hòa lần lượt khuyên bảo nhau tìm Thiên chúa “ không phải trong sức mạnh để dịch chuyển được cơn bão, mà trong chống trả của con người với cơn bão”. Tôi nghĩ chúng ta có thể đồng ý rằng những tử thi trôi nổi được kéo vớt khỏi mặt biển là những biểu hiện của lòng bác ái từ chính con ngưòi chứ không phải từ Thiên chúa. Vào cái ngày cả hơn một trăm ngàn trẻ thơ thình lình bị giật xé khỏi vòng tay mẹ chúng rồi bị nhận chìm, thần học tự do phải đứng dậy để vén mở xem đó là điều gì: đó là những sự giả ngơ chết người nhất. Hiểu biết của Thần học về cơn giận của Thiên Chúa thật đã đi quá xa khỏi phẩm chất trí thức. Nếu Thiên Chúa hiện hữu và quan tâm đến việc đời của nhân loại thì ý nguyện của người không bí hiểm. Cái bí hiểm duy nhất ở đây chính là nhiều ngưòi đàn ông, đàn bà trí thức thông thái có thể chối từ cái thảm họa vô ích này để nghĩ đến những cao sâu của đạo đức.

CÙNG VỚI hầu hết những ngưòi Ki-tô khác, bạn tin rằng những sinh vật có thể chết đi như chúng ta không thể chối từ đạo đức của Thánh kinh. Chẳng hạn như, chúng ta không thể bảo rằng Thiên Chúa đã sai lầm khi dìm chết hầu hết nhân loại trong trận lũ lụt thời Sáng thế, bởi vì đấy chỉ là cách nhìn từ nhãn quan giới hạn của chúng ta. Thế nhưng, bạn lại cảm thấy mình ở được đứng vào vị trí để thẩm định rằng Jesus là con Thiên Chúa , rằng Khuôn Vàng Thước ngọc là đỉnh cao của đạo đức thâm thúy, rằng cuốn Thánh kinh tự bản thân không đầy ắp những điều dối trá. Bạn đang xử dụng chính trực giác của mình để xác thực cái uyên thâm của đạo đức – và rồi – ngay sau đó, bạn lại yêu sách rằng con ngưòi không thể dựa vào trực giác của mình để dẫn dắt mình đi đúng đường trên thế gian này; chúng ta phải nên dựa vào toa thuốc chẩn bệnh của Thánh kinh thì tốt hơn. Bạn đang dùng chính trực giác đạo đức của mình để xác quyết rằng cuốn Thánh kinh là bảo chứng đúng đắn nhất cho trực giác đạo đức của mình. Trực giác của bạn là cái chính yếu, lẽ phải của bạn thì lòng vòng.

Chúng ta quyết định xem điều gì tốt lành trong cuốn sách Tốt lành này. Chúng ta đọc Khuôn vàng Thước Ngọc và đánh giá đó là chắt lọc sáng giá từ rất nhiều thúc đẩy đạo đức của chúng ta. Sau đó, chúng ta bắt gặp lời một dạy khác của Thiên Chúa về đạo đức : Trong đêm động phòng, nếu ngưòi đàn ông khám phá ra rằng ngưòi vợ của mình không còn trinh nữ thì y phải ném đá y thị cho chết đi tại ngay thềm cửa nhà cha của y thị

(Deuteronomy 22:12-21). Nếu là con ngưòi văn minh, hẳn chúng ta phải chối bỏ ngay hành vi này như thể một thứ điên rồ, ghê tởm có thể tưởng được được. Hành động như thế là cần đến sự thực hành trực giác đạo đức của mình. Sự tin rằng cuốn Thánh kinh là chính lời của Thượng đế chẳng giúp gì chúng ta cả.

Chọn lựa của chúng ta rất đơn giản: Hoặc chúng ta sẽ có một cuộc thảo luận của thế kỷ hai mươi mốt về đạo đức học và phẩm hạnh nhân loại - cuộc thảo luận mà mình sẵn sàng với mọi sáng suốt của khoa học và các tranh biện triết học vốn tích lũy từ hơn hai ngàn năm qua trong tiến trình phát triển nhân loại – hay là chúng ta tự giam mình vào một cuộc thảo luận của thế kỷ thứ nhất như đã được bảo quản cất giữ trong cuốn Thánh Kinh. Tại sao lại có ai đó muốn một cuộc thảo luận thứ hai ?

Lòng Từ tâm của Thiên chúa

Ở một nơi nào đó trên thế gian này có một ngưòi đàn ông bắt cóc một bé gái. Chẳng bao lâu sau đó, y hãm hiếp, hành hạ và giết bé đi. Nếu sự man rợ loại này không xảy ra đúng vào lúc này, nó có thể xảy ra tối đa là trong một vài giờ hay vài ngày nữa. Chúng ta biết chắc như thể rút ra từ các phép thống kê đang khống chế đời sống của sáu tỉ ngưòi. Các thống kê tương tự cho thấy rằng cha mẹ của bé gái này tin – cũng như bạn đang tin - rằng có một Thiên chúa toàn năng đầy lòng bác ái đang quan phòng đến họ và gia đình họ. Họ tin như thế có đúng không? Và có tốt đẹp gì không khi họ tin như thế ?

Không.

Tất cả chủ nghĩa vô thần nằm trong câu trả lời này. Chủ nghĩa vô thần không phải là một trường phái triết học. Cũng không phải một quan điểm về thế gian. Chủ nghĩa vô thần chỉ đon giản chỉ sự chấp nhận những gì hiển nhiên. Thực ra, “Vô thần” là một từ vốn không nên có. Không ai cần phải minh định mình là một ngưòi “không chiêm tinh học”, hoặc “không giả kim học”. Chúng ta không có từ diễn tả những ngưòi còn ngờ rằng Elvis vẫn còn sống hoặc các thứ ngưòi hành tinh đã du hành qua dải ngân hà chỉ để để quấy nhiễu các chủ trang trại và gia súc của họ. Vô thần chỉ là những âm vang từ những con ngưòi biết phải quấy trước sự hiện diện của những niềm tin tôn giáo vô lý. Ngưòi vô thần đơn giản chỉ là người tin rằng 260 triệu ngưòi Mỹ (87 phần trăm dân số Mỹ) nhận rằng họ “không bao giờ nghi ngờ hiện hữu của Thượng đế” nên có trách nhiệm chứng minh sự hiện hữu ấy của Ngài, và, ngay cả cho tình bác ái của ngài trước những hủy diệt không ngừng của nhân loại mà chúng ta đang là nhân chứng mỗi ngày. Ngưòi vô thần là ngưòi tin rằng việc sát hại đứa bé gái đơn độc - dù chỉ xảy ra một lần duy nhất trong cả triệu năm – cũng đủ để nghi ngờ ý tưởng của một Thiên chúa nhân từ.

Các thí dụ về sự thất bại của Thiên chúa trong việc bảo vệ nhân loại có thể được nhìn thấy đầy rẫy mọi nơi mọi chốn. Thí dụ như thành phố New Orleans vừa bị hủy diệt bởi cơn bão dữ Katrina. Hơn một ngàn ngưòi tử vong, hàng chục ngàn người mất đi tất cả tài sản trần gian của mình, và gần một triệu ngưòi phải rời bỏ nơi ăn chốn ở. Vậy thật không sai khi nói rằng hầu hết mọi ngưòi sống ở New Orleans vào thời điểm cơn bão Katrina tràn đến đã chia xẻ với quý bạn niềm tin vào một Thiên chúa toàn năng, toàn trí và nhân từ. Thế nhưng Thiên chúa đã làm gì khi Katrina ngập tràn rác rưởi khắp thành phố ? Chắc chắn là Thiên chúa đã nghe thấy lời cầu kinh của những người già cả, phụ nữ phải chạy lên rầm thượng tìm nơi an toàn để trốn khỏi cơn sóng dữ đang dâng lên, rồi cũng bị nhận chìm chết đuối. Ðó là những con ngưòi của đức tin. Ðó là những ngưòi đàn ông, đàn bà tốt lành đã đọc kinh cầu suốt cả đời mình. Bạn có can đảm chấp nhận sự hiển nhiên này không? Quả là những ngưòi đáng thương này đã chết vì chuyện trò với một ngưòi bạn tưởng tượng.

Dĩ nhiên, đã có những cảnh báo kịp thời về một cơn bão “có tầm cỡ kinh thánh” sẽ đổ vào New Orleans, và sự đối phó sau đó của con ngưòi với tai họa đã là một thảm kịch bất lực. Thế nhưng đó là một sự đối phó không tương ứng dưói ánh sáng của khoa học. Còn tôn giáo thực không mang đến cơ bản nào cho sự đối phó. Các cảnh báo trước về đường tiến của bão Katrina đạt được từ cuộc vật lộn với thiên nhiên câm lặng, từ tính toán của thiên văn học và các ảnh chụp từ vệ tinh. Thiên chúa không hề cho ai biết trước các kế hoạch của Ngài. Nếu như các dân cư ở New Orleans từng đồng lòng dựa cả vào thiện tâm của Thiên chúa, họ đã chỉ có thể biết cơn bão chết ngưòi đổ xuống mình khi cuồng phong thực sự tạt vào mặt mình. Thế nhưng, chắc bạn cũng không ngạc nhiên khi kết quả cuộc thăm dò của tờ Washington Post đã cho thấy 80 phần trăm những nạn nhân sống sót sau cơn bão Katrina đã nhìn nhận rằng biến cố bão ấy chỉ làm vững mạnh hơn niềm tin của họ vào Thiên chúa.

Trong lúc cơn bão Katrina đang nuốt chửng New Orleans, gần một ngàn ngưòi Shiite hành hương đã giẫm đạp lên nhau mà chết ở một cây cầu tại Iraq. Những ngưòi hành hương này tin tưởng mãnh liệt vào đấng Thiên chúa trong kinh Koran. Thực vậy, cuộc sống của họ được tổ chức chung quanh thực tế không thể tranh cãi về sự hiện diện của ngài: phụ nữ phải phủ mạng che mặt trưóc ngài, nam giới thưòng xuyên giết hết ngưòi này đến kẻ khác vì tranh nhau diễn giải lời dạy của ngài. Thật là ngoại lệ nếu có kẻ sống sót đơn lẻ nào mất niềm tin từ những thảm kịch này. Thường thì những kẻ sống sót tưởng tượng rằng mình được tha chết do ơn huệ của Thiên chúa.

Ðã đến lúc để chúng ta ý thức cái không giới hạn của chủ nghĩa tự yêu mình và tự dối mình từ những người được cứu sống. Ðến lúc để chúng ta nhận thấy thật đáng hổ thẹn đến thế nào khi những kẻ sống sót từ trận thiên tai có thể tin rằng họ được tha chết bởi một Thiên chúa nhân từ, trong khi cũng Ðấng ấy nhận chìm những trẻ thơ trong nôi của chúng. Một khi bạn ngưng trùm tấm chăn tôn giáo tưởng tượng của bạn lên cái thực tế đau khổ của thế giới, bạn sẽ nhận ra mạng sống quý báu đến dường nào và, từ đó nhận thấy được nỗi bất hạnh của hàng triệu con ngưòi đã bị tước đoạt hạnh phúc của họ một cách đau khổ mà không vì nguyên nhân gì cả.

THỬ HỎI một cơn thiên tai đã lớn lao và vô lý đến chừng nào mới lay chuyển được đức tin của thế gian. Lò thiêu Holocaust đã không lay chuyển được. Nạn diệt chủng ở Rwanda cũng không, ngay cả có những tu sĩ mang gươm giáo giữa những thủ phạm. Năm trăm triệu ngưồi chết vì bệnh đậu mùa trong thế kỷ hai mươi, đa số là trẻ thơ. Phương cách của Thiên chúa thật bí hiểm. Dường như tất cả thực tại, bất kể là bất hạnh đến đâu, có thể đáp trả tương xứng với đức tin của tôn giáo.

Lẽ tất nhiên, hết bận này đến lượt khác, con ngưòi của mọi đức tin luôn quả quyết là Thiên chúa không chịu trách nhiệm gì về đau khổ của con ngưòi. Thế thì còn gì khác để chúng ta tin vào khẳng định rằng Thiên chúa đế là toàn năng và toàn trí ? Dĩ nhiên, đây là câu hỏi cũ rích dành cho thần học và chúng ta có thể cho rằng câu hỏi đã được giải đáp. Nếu Thiên chúa hiện hữu, hoặc ngài đã không thể làm gì để chặn đứng các tai ương thái quá ấy hoặc ngài không muốn ngăn chặn. Do đó, Thiên chúa hoặc là bất lực hoặc là một con quỷ. Ðến đây chắc bạn muốn biểu diễn động tác múa ballet xoay tròn để đáp rằng: Thiên chúa không thể bị đánh giá bằng những tiêu chuẩn đạo đức của con ngưòi. Nhưng chúng ta đã thấy tiêu chuẩn đạo đức của con ngưòi là chính những tiêu chuẩn mà bạn dùng để dựng nên lòng nhân từ của Thiên chúa ngay từ khởi điểm. Và bất kỳ Thiên chúa nào có thể lo lắng cho chính mình bởi những chuyện tầm thường như hôn nhân đồng tính hay bởi danh xưng mà Ngài được nhắc đến trong các bài kinh cầu nguyện thì không có gì là bí hiểm cả.

Dĩ nhiên, còn một khả năng khác, vừa hợp lý vừa ít đáng ghét nhất: đó là vị Thiên chúa trong Kinh thánh là không có thật, tương tự như thần Zeus và hàng ngàn vị thần đã chết khác mà hầu hết nhân loại tỉnh táo đều không để ý đến. Bạn có thể chứng minh rằng thần Zeus không hề hiện hữu? Dĩ nhiên là không. Vậy thì, hãy tưởng tượng mình đang sống trong một xã hội mà hàng năm con ngưòi tiêu hàng chục tỉ bạc tiền thu nhập của họ để làm nguôi giận các thần trên đỉnh Olympus, trong khi chính phủ chi ra nhiều tỉ bạc khác từ tiền thuế để hỗ trợ cho các cơ quan dâng hiến cho các thần này, cùng lúc ấy, nhiều tỉ bạc khác lén lút lấy từ trợ cấp thuế mang hiến tặng cho các đền thờ ngoại giáo, đồng thời các viên chức dân cử đang làm hết sức mình để ngăn chặn các nghiên cứu y khoa gây mất lòng Iliad và Odyssey, và trong khi tất cả các tranh luận về chính sách công cộng đều đả phá các ý tưởng kỳ quặc của các tác giả cổ đại từng viết hay nhưng không biết gì về thực tế của thiên nhiên để loại phân ra khỏi thức ăn của họ. Ðây đúng là một sự biển thủ khủng khiếp cho tài nguyên, đạo đức và tri thức. Thế nhưng đấy chính là cái xã hội chúng ta đang sống. Ðấy là một thế giới phi lý cùng cực mà bạn và những ngưòi Ki-tô hữu của bạn đang cật lực tạo nên.

Thật khủng khiếp là chúng ta sẽ chết đi và mất đi tất cả những gì chúng ta yêu thương. Thật khủng khiếp là quá nhiều con ngưòi đang phải sống mà chịu đựng những đau khổ không cần thiết. Và rất nhiều những đau khổ này đang trực tiếp quy cho tôn giáo - cho hận thù tôn giáo, chiến tranh tôn giáo, cấm kỵ tôn giáo, và các lệnh hướng tôn giáo về các tài nguyên hiếm- là những điều khiến sự phê phán chân thành về đức tin tôn giáo là một nhu cầu đạo đức và trí thức. Ðáng tiếc thay, việc diễn đạt những phê bình như thế đang đặt những người không tin theo tôn giáo ra ngoài lề xã hội. Chỉ việc va chạm với thực tại thôi, ngưòi không tin theo tôn giáo đã bị xem như kẻ đúng ngoài cuộc sống kỳ diệu của các láng giềng.

Sức mạnh của sự tiên tri

Ngưòi ta thường nói rằng thật có lý khi tin Thánh kinh chính là lời của Thượng đế bởi vì nhiều biến cố được kể lại trong Tân Ước đã xác định tiên tri của thời Cựu ước. Nhưng hãy tự hỏi chính mình, các nhà soạn phúc âm đã phải khó khăn đến dường nào khi phải kể lại câu chuyện về cuộc đời Jesus sao cho phù hợp với các tiên đoán trong Cựu Ước? Không phải Thánh kinh đã ở trong quyền lực của những ngưòi quá cố nào để soạn lên một cuốn sách nhằm khẳng định các tiên đoán của cuốn sách trưóc đó? Thực tế, chúng ta đã biết về căn bản có chứng tích văn tự rằng đấy chính là cách mà các nhà soạn sách Phúc âm đã thực hiện.

Thí dụ như các nhà soạn phần Luke và Matthew công bố rằng Mary đã mang thai trinh nguyên, dựa vào việc Hy lạp trao trả lại Isaiah 7:14. Văn tự bằng tiếng Hebrew về Isaiah dùng chữ ‘almâ” có ý nghĩa đơn giản là “ngưòi phụ nữ trẻ” chứ không mang ý ám chỉ gì về sự trinh nguyên. Chắc là cái niềm tin về sự hạ sinh đồng trinh, và hầu hết các hậu quả mối băn khoăn của thế giói Ki-tô giáo về tình dục, chính là sản phẩm dịch sai từ cổ ngữ Do Thái. Một phủ nhận khác về niềm tin vào sự hạ sinh trinh nguyên là ở chỗ nhiều nhà truyền giáo khác đã không hề nghe biết đến việc ấy. Cả Mark và John cùng bối rối trước lời kết tội rằng Jesus là kết quả của sự chửa hoang nhưng cả hai chẳng bao giờ nhắc đến nguồn gốc phép lạ của Ngưòi. Pauls nhắc đến Jesus như đã “sinh ra từ giống, da thịt của David” và “sinh ra từ một ngưòi đàn bà”, mà không hề nhắc đến việc đồng trinh của Mary gì cả.

Các nhà truyền giáo cũng mắc những sai lầm khác về sự thông thái, thí dụ như, Matthew trong câu 27:9-10 đã khẳng định một câu châm ngôn có nguyên do từ sách Jeremiah. Trong khi đó câu châm ngôn này thực sự đã xuất hiện trong Zechariah 11:12-13 (về việc Judas bán Jesus lấy 30 miếng bạc, cũng là tiền mua ruộng của kẻ làm đồ gốm – ghi chú của người dịch). Các phúc âm cũng mâu thuẫn trực tiếp với nhau. John cho chúng ta biết rằng Jesus đã bị đóng đinh một ngày trước khi ăn bữa Passover; Mark lại bảo là ngày hôm sau. Với ánh sáng của những khác biệt đó, làm sao quý bạn có thể tin rằng tất cả mọi phần của cuốn Thánh kinh là hoàn hảo? Bạn nghĩ sao về Muslim, Mormons, và ngưòi Sikhs vốn thường không để ý đến những mâu thuẫn trong các sách thánh của họ? Họ cũng tuyên bố những điều đại loại như “Thần thánh thiêng liêng chỉ nhìn vào thực chất cốt lõi chứ không bị ràng buộc bởi ngôn từ” (Luthers). Như thế có khiến bạn chấp nhận kinh sách của họ như những lời hoàn hảo hơn của đấng tạo nên vũ trụ?

NGƯỜI KI-TÔ giáo thường xác nhận rằng sách Thánh kinh tiên đoán được những biến cố lịch sử ngày mai. Thí dụ như sách Deuteronomy 28:64 phán rằng “ Và Đức cha sẽ rải các ngươi ra giữa mọi ngưòi, từ đầu bên này đến bờ bên kia của quả đất “ Jesus nói, trong Luke 19:43-44 “ Rồi các ngươi sẽ đến những ngày, khi quân thù sẽ dựng nên những bờ song chung quanh ngươi, bao vây các ngươi mọi phía, và ném ngươi xuống mặt đất, ngưoi và con cái ngươi bên trong, và chúng sẽ không chừa một hòn đá nào cho ngươi, bởi vì các ngươi không biết giờ thăm viếng của các ngươi” Chúng tôi nhắc đến để tin rằng nhưng lời phát biểu này sẽ tiên đoán lịch sử sau đó của ngưòi Do thái với những đặc điểm huyền bí như thế để chấp nhận một giải thích phi thường.

Nhưng hãy tưởng tượng xem cái công việc đặc biệt ngoạn mục của sự tiên tri như thế nào, nếu như dó là một sản phẩm của sự toàn trí. Nếu cuốn Thánh kinh là một cuốn sách như thế, ắt phải chứa đựng những tiên đoán chính xác hoàn hảo về những biến cố của nhân loại. Bạn phải nhận thấy cuốn sách chứa đựng những dòng như “trong nửa thế kỷ sau của thế kỷ thứ hai mươi, nhân loại sẽ phát triển một hệ thống computer liên lạc toàn cầu - những nguyên tắc mà ta đã nói trước ở Leviticius – và hệ thống này sẽ được gọi tên là internet”. Thánh kinh không có những dòng tiên đoán như thế. Thực tế, cuốn sách đã không chứa đựng một dòng nào không từng được viết ra bởi những ngưòi sống trong thế kỷ thứ nhất. Điều này chắc phải gây phiền cho bạn.

Một cuốn sách được viết bởi một con ngưòi toàn trí có thể chưa đựng một phần về toán học mà sau hai ngàn năm xử dụng liên tục, vẫn còn là một nguồn sung mãn của thông thái toán học mà nhân loại từng được biết. Thay vì thế, cuốn Thánh kinh không hề chứa đựng những thảo luận nghiêm túc về toán lại còn chứa đựng những sai lầm hiển nhiên về toán học nữa. Cuốn sách lành này nói rằng tỉ số giữa chu vi và tâm của vòng tròn là 3:1 (I Kings 7:23-26 và II Chronicles 4:2-5). Thật không ấn tượng gì lắm khi đem so sánh một cách tương đối với hằng số Pi. Tích thập phân của hằng số Pi. chạy đến vô tận – 3.1415926535…- và hiện nay các máy điện toán hiện đại cho phép chúng ta tính toán được hằng số này đến bất kỳ mức chính xác nào chúng ta muốn. Trong khi cả ngưòi Ai cập và Babylons đều chỉ đánh giá gần đúng hằng số Pi ở một vài phần mười ở vài thế kỷ trước khi những cuốn sách cũ nhất về Pi hằng được soạn ra. Cuốn Thánh kinh mang đến cho chúng ta một con số phỏng chừng vốn quá tệ ngay cả khi căn cứ vào tiêu chuẩn của thời thượng cổ. Và không có gì ngạc nhiên, chính niềm tin đã tìm cách để hợp lý hóa điều này; nhưng những sự hợp lý hóa ấy không che dấu được các khác biệt rành rành của Thánh kinh như là nguồn gốc cho thông thái của toán học. Thật tuyệt đối chính xác nếu như nhà toán học Hy lạp Archimedes soạn những phần liên quan trong I Kings và II Chronicles, thì các văn tự sẽ mang được bằng chứng mạnh hơn về sự “toàn trí ” của ngưòi viết.

Tại sao sách Thánh kinh không hề nói chi đến điện năng, hay về DNA, hay về kích thước và tuổi thực của vũ trụ? Thế còn về thuốc trị liệu cho bệnh ung thư thì sao? Khi chúng ta hoàn toàn hiểu tính sinh học của bệnh ung thư, hiểu biết này có thể dễ dàng tóm tắt lại trong vài trang chữ viết. Tại sao những trang như thế, hay một cái gì gần giống như thế không tìm được trong cuốn Thánh kinh? Ngay lúc này, ngưòi hiền lương, kẻ đạo đức giả đang chết một cách khủng khiếp từ chứng ung thư, và đa số là trẻ thơ. Thánh kinh là một cuốn sách vĩ đại. Thượng đế có chỗ để hướng dẫn chúng ta với đầy đủ chi tiết về cách giữ nô lệ và hy sinh rất nhiều loại động vật. Đối với những ai đứng bên ngoài đức tin Ki-tô giáo, thì thật là một sự ngạc nhiên cùng cực về sự tầm thường của cuốn sách và sao vẫn được nghĩ đến như một sản phẩm toàn trí .

Va chạm giữa Tôn giáo và Khoa học

Hiện nay, khi sự phát biểu trung thực về mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo là một nhu cầu đạo đức của các nhà khoa học thì Hiệp Hội Tri thức Khoa học lại khẳng định sự mâu thuẫn một cách viển vông:

Ngay tại căn nguyên của mối mâu thuẫn rõ rệt giữa vài tôn giáo và sự tiến

hoá là sự hiểu lầm về cách hiểu những khác biệt căn bản giữa tôn giáo và

khoa học. Các tôn giáo và khoa học giải quyết những vấn đề khác nhau của

thế giới. Có hay không một mục đích cho vũ trụ hay một mục đích cho hiện

hữu của nhân loại không phải là câu hỏi của khoa học. Phương cách hiểu

biết mà khoa học và tôn giáo đang thực hiện và tiếp tục thực hiện giữ các vai trò riêng biệt trong lịch sử nhân loại… Khoa học là con đường dẫn đến hiểu biết thế giới tự nhiên. Khoa học giới hạn trong phạm vi giải thích thế giới tự

nhiên thông qua những nguyên nhân tự nhiên. Khoa học không thể phát biểu

gì về siêu nhiên. Thượng đế có hiện hữu hay không là một câu hỏi mà khoa học giữ thái độ trung tính.

Phát biều này thật choáng váng vì sự thiếu thẳng thắn. Dĩ nhiên, các nhà khoa học sống trong nỗi sợ hãi triền miên của việc mất đi ngân sách do công chúng tài trợ, vì thế Hiệp hội Tri thức Khoa học chắc chỉ đơn thuần diễn tả nỗi kinh hoàng thô thiển về đám đông đóng thuế. Tuy nhiên, sự thật là mối mâu thuẫn xung khắc giữa tôn giáo và khoa học là không thể tránh khỏi. Thành công của khoa học thường đến từ phí tổn của đức tin tôn giáo; sự duy trì đức tin tôn giáo luôn luôn đến từ phí tổn của khoa học. Các tôn giáo của chúng ta không chỉ đơn giản nói về “mục đích cho hiện hữu của nhân loại”. Tương tự như khoa học, mỗi tôn giáo khẳng định những điều khác nhau về phương cách của thế giới. Những khẳng định này ngụ ý về những sự kiện - đấng tạo hoá có thể nghe (và sẽ đôi khi đáp lại) lời cầu nguyện của con ngưòi; linh hồn nhập vào hợp tử con ngưòi ngay lúc thụ thai; nếu ngươi không tin những điều tốt lành về Thượng đế, ngươi sẽ phải chịu đựng khổ đau mãi mãi sau khi chết. Những khẳng định như thế mâu thuẫn về bản chất với các khẳng định của khoa học, bởi vì những khẳng định đó dựa vào những bằng chứng tệ hại.

Trong ý nghĩa thoáng nhất, “science” (đến từ chữ Latin scire, “để hiểu biết”) đại diện cho các nỗ lực cao nhất của chúng ta để hiểu biết cái gì đúng về thế giới của mình. Ở đây, chúng ta không cần phải phân biệt khoa học “nặng” hay khoa học “nhẹ”, hoặc giữa khoa học với một nhánh khác của nhân loại như là lịch sử. Chẳng hạn, việc Nhật bản ném bom Trân châu cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 là một dữ kiện lịch sử. Hậu quả đưa đến là, sự kiện này tạo nên một phần của thế giới quan về sự hợp lý có tính khoa học. Nếu có đủ dữ kiện minh chứng cho sự việc này, kẻ nào tin rằng sự kiện đã xảy ra trong một ngày khác, hoặc chính ngưòi Ai cập mới là kẻ bỏ bom chắc phải tốn kém rất nhiều giải thích. Cốt lõi của khoa học không chi phối đến các thử nghiệm hoặc tính tính toán khuôn mẫu mà là một sự chân thực trí thức. Khi suy nghĩ về sự chân thực của một định đề, ngưòi ta hoặc tham dự vào sự dịnh giá chân thực của chứng cứ và các tranh luận họp lý hoặc ngược lại. Tôn giáo là một khu vực cuả đời sống mà con ngưòi tưởng tượng rằng có thể áp dụng một loại tiểu chuẩn khác của liêm chính trí thức.

THỬ suy nghĩ về các tranh luận gần đây của các nhà thờ Công giáo đối với học thuyết về cái chết lâm bô. Ba mươi nhà thần học hàng đầu trên thế giới vừa gặp nhau tại Vatican để thảo luận câu hỏi rằng cái gì sẽ xảy đến cho các trẻ em chết mà chưa đưọc trải qua phép rửa tội báp têm. Từ thời trung cổ, thiên chúa giáo đã tin rằng các trẻ em đó sẽ được ở trong tình trạng lâm bô, nghĩa là chúng sẽ đưọc hưởng cái mà thánh Thomas gọi là “ hưởng phước tự nhiên” vĩnh viễn. Điều này lại trái ngược với ý kiến của thánh Augustine, ngưòi đã tin rằng những đứa trẻ thiếu may mắn này sẽ phải đọa địa ngục đời đời.

Dù cái chết lâm bô không hề có một nguồn gốc nào từ kinh sử, và chưa bao giờ là một học thuyết chính thức của nhà thờ, nhưng thuyết này đã từng là một phần chính yếu trong truyền thống nhà thờ qua nhiều thế kỷ. Năm 1905, giáo hoàng Pius X đã hoàn toàn chấp nhận : “Con trẻ chết đi dù chưa chịu phép báp têm sẽ ở vào tình trạng chết lâm bô, nghĩa là dù chúng không biết đến Thượng đế, nhưng chúng cũng sẽ không phãi chịu hình phạt”. Ngày nay, các tư tưởng lớn của nhà thờ đang cân nhắc lại về sự việc ấy.

Ai có thể nghĩ đến được một dự án đáng thương hơn về trí thức như thế này? Hãy thử tưởng tượng xem các bàn cãi này sẽ ra thế nào. Có khả năng mỏng manh nào cho ai đó trình bày được một bằng chứng cho thấy sộ phận đời đời của các đứa trẻ chưa chịu phép báp têm này sau khi chết đi ra sao không? Làm sao mà một ai có ăn học không thể nghĩ rằng những việc này chỉ là những việc mất thì giờ một cách khôi hài, kinh khủng và vô ý thức? Khi ai đó nghĩ đến thực tại rằng đây sẽ là cái lập thành đầu tiên để dẫn đến và chở che cho đạo quân tinh túy của sự quấy nhiễu tình dục trẻ em, cả công trình sẽ bắt đầu rỉ ra những mùi hương ma quỷ của sự phí phạm năng lực con ngưòi.

XUNG ĐỘT giữa khoa học và tôn giáo có thể rút gọn vào một sự kiện đơn giản trong tiến trình hiểu biết của con ngưòi: ngưòi ta hoặc là có lý lẽ đúng cho điều mình tin hoặc là không có. Nếu có lý đúng cho sự việc Jesus đã sinh ra từ sự đồng trinh, hoặc Muhammad đã bay về trời bằng một con ngựa có cánh, thì những niềm tin này sẽ tạo nên một phần những giải thích có ý thức của chúng ta về vũ trụ. Mọi ngưòi đều nhận ra rằng chỉ dựa vào “đức tin” để để phán đoán những vấn đề đặc biệt của thực tế lịch sử là một sự kỳ cục – trừ khi các cuộc thảo luận lại quay về nguồn căn của các kinh sách như cuốn Thánh kinh hoặc kinh Koran, trở về các câu chuyện trao đổi giữa Muhammad và thiên sứ Gabriel, trở lại chuyện sống lại của Jesus, hoặc các thứ tín điều tôn giáo khác. Đã đến lúc để chúng ta nhận ra rằng đức tin không gì khác hơn cái mà những ngưòi có giấy phép hành nghề đạo giáo trao cho nhau để tin tưởng khi thất bại trong lý lẽ.

Trong khi sự cả tin, không bằng chứng là nhãn hiệu của sự điên loạn hoặc ngu xuẩn trong nhiều lãnh vực của đời sống, thì đức tin vào Thiên chúa vẫn còn một niềm tự hào lớn lao trong xã hội của chúng ta. Tôn giáo là một lãnh vực được xem là cao quý trong việc giả vờ như đã chắc chắn về những việc mà không ai có thể xác quyết được trong các cuộc đàm luận của chúng ta. Nó cho thấy rằng cái tinh hoa này chỉ phát triển đến những đức tin vẫn còn được nhiều ngưòi đăng ký mua. Còn ai bị bắt gặp đang thờ kính Thủy thần, ngay cả trên mặt đại dương, cũng sẽ bị xem như kẻ mất trí.[iii]

Thực tại của Đời sống

Tất cả các cuộc sống phức tạp trên thế gian đã được phát triển từ những cấu thành sự sống đon giản từ hàng tỉ năm trước. Đây là một sự thực không còn phải bàn cãi trong giới trí thức nữa. Nếu bạn ngờ rằng nhân loại đã chuyển hoá từ các sinh thể có trước, bạn cũng có thể ngờ rằng mặt trời là một vì sao. Giả dụ là như thế, mặt trời trông có vẻ không giống như một vì sao thông thường, nhưng chúng ta biết rằng mặt trời là một vì sao tự nhiên đã ở một vị trí gần với địa cầu hơn. Hãy tưởng tượng ra sự xấu hổ của bạn khi đức tin tôn giáo của mình lại cho rằng mặt trời đã không phải là một ngôi sao. Tưởng tượng xem hàng triệu ngưòi Ki-tô giáo ở nưóc Mỹ đã chi hàng trăm triệu đô la hàng năm để chiến đấu chống lại những nhà thiên văn học và các nhà vật lý học thiên thể không tin thiên chúa về quan điểm này. Hãy tưởng tượng họ đã làm việc miệt mài đam mê như thế nào để mang những quan điểm vô căn cứ của mình về mặt trời giảng dậy trong các trường học của chúng ta. Đây chính là hoàn cảnh của quý bạn trong mối liên hệ với sự tiến hóa.

Những ngưòi Ki-tô giáo nghi ngờ sự thật của tiến hóa có khuynh hướng phát biểu những điều như “Tiến hoá chỉ là một lý thuyết, không phải là một thực tại”. Phát biểu như thế biểu lộ một loạt những hiểu lầm nghiêm trọng về cách xử dụng khái niệm “lý thuyết” trong các bàn luận khoa học. Trong khoa học, các sự kiện phải được giải thích trong mối tương quan với các sự kiện khác. Các khuôn thức giải thích rộng lớn hơn chính là “các lý thuyết”. Các lý thuyết, trên nguyên tắc, tạo ra các tiên đoán đã được chứng nghiệm. Cụm từ “ lý thuyết về sự tiến hóa” không hề có sự gợi ý tối thiểu rằng sự tiến hóa không phải là một thực tế. Ngưòi ta có thể nói về “ lý thuyết mầm mống của bệnh tật” hoặc “ lý thuyết về vạn vật hấp dẫn” mà không hề mảy may nghi hoặc rằng bệnh tật hay trọng lực không phải là những thực tế của thiên nhiên.

Cũng đáng để lưu ý rằng ngưòi ta có thể đạt đến văn bằng tiến sĩ trong bất kỳ ngành khoa học nào với mục đích không có gì khác hơn là xử dụng khoa học một cách bất chấp đạo lý của ngôn ngữ khoa học trong nỗ lực hợp lý hóa những điều rõ ràng không thỏa đáng trong Thánh kinh. Một nhóm ngưòi Ki-tô giáo đã làm như thế, một số ngưòi còn đạt được các bằng cấp của họ từ những trường đại học danh tiếng. Không nghi ngờ gì, những ngưòi khác sẽ đi theo các bước chân ấy. Dù những ngưòi này là các “nhà khoa học” đi nữa, họ thực không hành xử như những nhà khoa học. Họ hoàn toàn không tham dự vào cuộc tra vấn lương thiện về bản chất của vũ trụ. Và các tuyên ngôn của họ về Thượng đế cùng các thất bại của chủ nghĩa Darwin mà không có được một biểu hiện tối thiểu cho thấy có một cuộc tranh luận khoa học chính đáng về sự tiến hóa. Một cuộc thăm dò được thực hiện năm 2005 ở ba mươi bốn quốc gia nhằm đo lường tỉ lệ những ngưòi chấp nhận thuyết tiến hóa. Mỹ đứng hạng ba mươi ba, chỉ trên mỗi nước Thổ nhĩ Kỳ. Trong khi đó, kiểm tra kiến thúc về toán và khoa học của học sinh trung học ở Mỹ thấp hơn học sinh ở Châu Âu và châu Á. Những dữ kiện này cho thấy rõ ràng chúng ta đang xây dựng một nền văn minh của sự ngu dốt.

Ðây là điều chúng ta biết. Chúng ta biết rằng vũ trụ có trước rất lâu hơn là như Thánh kinh chỉ ra. Chúng ta biết rằng tất cả các sinh vật phức tạp trên thế gian, kể cả chúng ta, đã tiến hóa từ những sinh vật lâu hơn trước đó qua tiến trình hàng nhiều tỉ năm. Bằng chứng cho sự việc này thì cực kỳ mạnh mẽ. Không còn thắc mắc gì rằng đời sống đa dạng mà chúng ta nhìn thấy chung quanh là sự diễn đạt của một mã số mầm sinh (genetic code) đã được ghi trong phân tử DNA, rằng DNA trải qua các cơ hội đột biến, một số đột biến làm gia tăng lợi thế tồn tại của các sinh vật và tái sản xuất trong một một trường đuợc cho trước. Tiến trình đột biến và chọn lọc tự nhiên cho phép các quần thể bị cô lập của những cá thể được lai giống và, trải qua thòi gian, để hình thành những sinh thể mới. Không còn thăc mắc gì nữa về sự việc con ngưòi chúng ta đã được tiến hóa từ những tổ tiên không phải con ngưòi. Từ các bằng chứng về gene di truyền, chúng ta biết rằng chúng ta có chung tổ tiên với loài khỉ, dã nhân, và các tổ tiên này đã có chung gốc nguồn với giống dơi và các loài vượn bay. Có một cội cây nhiều nhánh của sự sống mà ngày nay tính chất và hình thể của nó đã được thông hiểu khá tường tận. Hậu quả là, không có lý do gì để tin rằng các sinh vật cá thể đã được tạo nên trong hình dạng hiện tại của chúng. Tiến trình tiến hóa đã khởi đầu như thế nào vẫn còn là một bí mật, nhưng điều ấy tối thiểu không cho thấy rằng có thần thánh gì đang ẩn nấp trong đáy sâu của những sự kiện này. Ðọc các khẳng định từ kinh thánh tử tế sẽ thấy Thiên chúa đã tạo nên cây cỏ và muôn thú trong hình dạng mà chúng ta đang thấy ngày nay. Dứt khoát là cuốn Thánh kinh đã sai về sự việc này.

Hiện giờ, nhiều ngưòi Ki-tô giáo vốn nghi ngờ về sự thật của thuyết tiến hoá đang tán thành cho điều gọi là sự thiết kế thông minh (Intelligent Design). Vấn đề của Thiết kế thông minh (TKTM) là ở chỗ nó chỉ là một chương trình bênh vực chính trị, tôn giáo, giả trang khoa học không hơn không kém. Bởi vì niềm tin vào Thượng đế như trong thánh kinh không có được hỗ trợ nào từ các kiến thức khoa học về thế giới, các lý thuyết gia của Thiết kế Thông minh đã luôn luôn đặt cọc các khẳng định của họ vào những khu vực của sự ngu dốt về khoa học.

Cuộc tranh luận về TKTM đã đồng loạt tiến hành trên nhiều mặt. Như vô số những ngưòi vô thần trước kia, những nguòi hâm mộ TKTM đã biện luận rằng chính thực tế hiện hữu của vũ trụ chứng minh hiện hữu của Thưọng đế. Các biện luận đại loại xoay quanh rằng: bất kỳ vật gì hiện hữu đều có một nguyên nhân; không gian thời gian hiện hữu, do đó, không gian, thời gian nhất định phải được tạo nên bởi cái gì bên ngoài không gian, thời gian, và cái duy nhất vượt khỏi thời gian, không gian nhưng vẫn có một sức mạnh để sáng tạo chính là Thưọng đế. Nhiều người Ki-tô giáo như quý bạn nhận thấy lý lẽ này rất là thuyết phục. Thế nhưng, ngay cả chúng ta giả định rằng các khẳng định chính của thuyết này (mỗi khẳng định đòi hỏi đến nhiều bàn cãi hơn cả những gì mà các lý thuyết gia của TKTM từng chấp nhận) là đúng, thì kết luận chung cuộc lại không đến được. Ai là ngưòi để tuyên bố rằng kẻ duy nhất có thể tạo căn nguyên cho thời gian, không gian là một loài siêu nhân? Nếu như chúng ta chấp nhận rằng vũ trụ của chúng ta đơn giản là được thiết kế bởi một nhà thiết kế, cũng không có ý rằng nhà thiết kế này phải là Thượng đế của Thánh kinh, hoặc rằng đấng thiết kế ấy tán thành Ki-tô giáo. Nếu được thiết kế một cách thông minh, vũ trụ của chúng ta có thể đang vận hành như một mô phỏng từ một siêu máy tính của ngưòi hành tinh. Hoặc vũ trụ chúng ta là công trình của một Thiên chúa bị quý ám, hoặc của hai đấng đang kéo co ganh đua với nhau trong một vũ trụ rộng hơn.

Như nhiều phê bình về tôn giáo đã vạch ra, khái niệm về đấng sáng tạo dẫn đến một vấn nạn trực tiếp cho sự thoái bộ vô định. Nếu Thiên chúa tạo nên vũ trụ, cái gì đã tạo nên Thiên chúa? Bảo rằng Thiên chúa, như đã định nghĩa, là đấng không do đâu tạo nên thì đúng là lý luận lòng vòng. Ðấng nào có năng lực sáng tạo nên một thế giới phức tạp có lẽ bản thân cũng rất phức tạp. Như nhà sinh vật học Richard Dawkins đã nhiều lần quan sát, tiến trình tự nhiên duy nhất có thể sản xuất được một cái gì thiết kế nên sự vật mà chúng ta hằng biết đó chính là sự tiến hóa.

Sự thật là không ai biết bằng cách nào và vì sao mà vũ trụ này đi vào hiện hữu. Cũng không rõ ràng là chúng ta có thể phát biểu mạch lạc về sự sáng tạo nên vũ trụ, ngay cả khi biến cố như thế có thể cưu mang chỉ với sự tham chiếu vào thời gian trong khi chúng ta đang phát biểu về sự sinh sản của tự chính bản thân không-thời-gian.[iv] Bất kỳ ngưòi lương thiện trí thức nào cũng sẽ phải thú nhận rằng mình không biết tại sao vũ trụ hiện hữu. Dĩ nhiên, các nhà khoa học đã thú nhận sự ngu dốt của họ về điểm này. Những ngưòi theo tôn giáo thì không thú nhận như vậy. Một trong những mỉa mai ấn tượng nhất của luận thuyết tôn giáo có thể đánh giá được là tính thường xuyên chê trách của những ngưòi có đức tin về những nhà khoa học và ngưòi không tôn giáo là sự kiêu căng trí thức trong khi tự ca tụng mình đức khiêm tốn của mình. Thực sự không có thế giới quan nào đáng trách như cái nhìn thế này của một ngưòi có đạo: đấng tạo dựng vũ trụ quan tâm đến tôi, công nhận tôi, yêu thương tôi, và sẽ thưởng tôi sau khi chết; niềm tin hiện tại của tôi, được rút ra từ thánh kinh, và sẽ mãi mãi là những khẳng định của sự thật cho đến ngày tận cùng của thế giới; kẻ nào không đồng ý với tôi sẽ vĩnh viễn rơi vào địa ngục… Một ngưòi Ki-tô giáo thông thường, trong một nhà thờ thông thường, lắng nghe một bài thuyết giảng chủ nhật thông thường này thực đã đạt đến một mức độ cao ngạo rồi.

HƠN 99 PHẦN TRĂM các sinh thể từng đi đứng, bay lượn hoặc bò trườn trên địa cầu này hiện đã tuyệt chủng. Riêng sự thật này thôi đã đủ bác bỏ thiết kế thông minh. Khi nhìn vào thế giới tự nhiên, chúng ta thấy sự phức tạp phi thường nhưng không thấy sự thiết kế tối ưu. Chúng ta thấy sự dư thừa, thoái bộ và sự phức tạp không cần thiết; chúng ta thấy sự thiếu khả năng một cách đáng hoang mang khiến dẫn đến đau đớn và chết chóc. Chúng ta nhìn thấy những loài chim không bay và loài rắn có xương chậu. Chúng ta thấy các sinh vật ngành cá, kỳ nhông, loài giáp xác có những con mắt nhưng không hề nhìn được, bởi vì chúng tiếp tục tiến hóa trong bóng tối lặng thầm cả triệu năm. Ta thấy cá voi có răng trong giai đoạn phôi thai nhưng rút bỏ khi khi trưỏng thành. Những đặc tính đó của thế giới chúng ta thực cực kỳ bí hiểm. Nếu như Chúa sáng tạo nên muôn loài trên cuộc sồng địa cầu này “một cách thông minh”; thì không có loài nào phải bối rối khó xử trong ánh sáng của sự tiến hóa.

Nhà sinh vật học J.B.S.Haldane được biết đã từng nói rằng, nếu có Thiên chúa, Người hẳn đã “có một niềm yêu khác thường cho các loài bọ”. Có ngưòi đã hy vọng rằng kiểu quan sát phá bĩnh này sẽ mãi mãi gấp lại cuốn sách về sáng tạo luận. Sự thật là, trong khi hiện nay có vào khoảng ba trăm năm mươi ngàn loại bọ được biết đến, Thượng đế cho thấy lại dành nhiều tình thương hơn đối với loài vi khuẩn. Các nhà sinh vật học ước tính rằng tối thiểu mỗi loài động vật trên địa cầu có đến mười chủng loại vi khuẩn khác nhau. Dĩ nhiên nhiều vi khuẩn thì vô hại, và một số vi khuẩn cổ đại có thể đã đóng một vai trò quan trọng trong sự nảy sinh các sinh vật phức tạp. Nhưng các vi khuẩn có khuynh hướng xử dụng đến các cơ thể như của bạn và của tôi để làm bộ phận sinh dục vay mượn của chúng. Nhiều loại tấn công các tế bào của chúng ta chỉ để phá hủy. Phá hủy các tế bào của chúng ta một cách kinh khủng, không thương hại và không ngừng nghỉ. Các vi khuẩn như HIV, cũng như một số nhiều các loại vi khuẩn gây hại, có thể được nhìn thấy lúc nhúc ngay dưói lỗ mũi chúng ta, làm hại chúng ta vì những phát triển sức đề kháng chống lại các thuốc trụ sinh và chống vi khuẩn. Thuyết tiến hóa vừa tiên đoán vừa giải thích hiện tượng này; sách Genesis thì không hề. Làm sao bạn có thể tưởng tượng rằng đức tin tôn giáo mang lại những giải thích tốt nhất cho những thực tế này, hay là các niềm tin tôn giáo muốn nói đến mục đích thương xót sâu xa hơn của một sinh thể toàn trí?

Cơ thể của chúng ta chứng thực tính đỏng đảnh và bất lực của tạo hóa. Khi còn nằm trong phôi thai, chúng ta có đuôi, có túi mang và một lớp lông như loài khỉ. Hạnh phúc thay, khi sinh ra chúng ta được mất đi những thứ phụ tùng quyến rũ ấy. Quy trình kỳ lạ của hình thái học này đã được giải thích sẵn sàng trong lý thuyết tiến hóa và các điều kiện về di truyền học ; nếu chúng ta là sản phẩm của một thiết kế thông minh thì những điều này là quá bí hiểm: nam giới có ống tiết niệu dẫn thẳng từ các tuyến tiền liệt. Tuyến này có khuynh hướng tăng trưởng, to ra trong suốt cuộc đời. Vì thế, hầu hết đàn ông quá tuổi sáu mươi có thể chứng thực rằng tối thiểu có một thiết kế trên địa cầu xanh tươi của Thiên chúa đã khiến ngưòi đàn ông ước ao phải chi đừng được như thế. Xương chậu của đàn bà đã không được thiết kế thông minh lắm khi nó phải được dùng để giúp vào phép lạ sinh sản. Từ đó, mỗi năm, hàng ngàn ngưòi phụ nữ phải đau đớn vì sanh lâu, sanh khó đến nỗi hậu quả dẫn đến chứng nghẹt thai. Phụ nữ trong các quốc gia đang phát triển bị tình trạng này thưòng bị chồng bỏ, hoặc phải đi ra khỏi làng mạc của mình. Quỹ hỗ trợ Dân số của Liên Hiệp quốc ước tính hiện nay có đến hơn hai triệu phụ nữ phải sống mang chứng nghẹt thai (fistula)[v].

Các điển hình của sự thiết kế không thông minh trong tự nhiên nhiều đến nỗi chỉ liệt kê ra thôi cũng cần đến cả một cuốn sách. Tôi xin tự cho phép mình kể ra một điển hình nữa mà thôi. Hệ thống hô hấp và tiêu hóa của con ngưòi cùng dùng chung một cơ phận bơm ở cuống họng. Chỉ riêng tại Mỹ, hàng năm, đặc trưng của thiết kế thông minh này đã khiến cả chục ngàn đứa trẻ phải vào bệnh viện cấp cứu. Hàng trăm đứa trẻ chết vì nghẹt thở. Nhiều trẻ khác bị tổn thưong não không thể chữa trị được. Chủ đích nhân ái nào trong những sự việc này? Dĩ nhiên, chúng ta có thể tưởng tượng ra một mục đích: có lẽ cha mẹ của những trẻ em này cần được dạy một bài học; có lẽ Thượng Đế đã chuẩn bị một phần thưởng đặc biệt trên thiên đàng cho mỗi em bị tắc thở vì bình sữa. Tuy nhiên, vấn nạn chính ở chỗ những tưỏng tưọng như thế tương hợp với bất kỳ hiện trạng nào của thế gian. Có nỗi bất hạnh kinh hoàng nào không thể hợp lý hóa được bằng cách này? Và tại sao bạn thiên về cách suy nghĩ như thế? Suy nghĩ như thế thì đạo đức đến đâu?



(còn tiếp)

[i] Hitler đã nói trong bài diễn văn đọc ngày 12 tháng 4 năm 1922. (Norman H. Bayes, ed. The Speeches of Adolf Hitler, April 1922- August 1939. Vol. 1 of 2, pp. 19-20. Oxford University Press, 1942”:

Cảm giác Ki-tô giáo đã dẫn tôi đến Chúa và bậc cứu rỗi của mình như một chiến sĩ (…) Trong tình yêu không bờ bến của một ngưòi Ki-tô hữu và của một con người, tôi đã đọc được những dòng được những ẩn ngữ dạy cho chúng ta biết cuối cùng đức Chúađã dương cao sự vĩ đại của người, nắm giữ lấy tai ương để quét sách khỏi Ðiện thờ lũ rắn độc. Cuộc chiến đấu cho thế giới chống lại nọc độc Do Thái của người lớn lao biết dường nào …là ngưòi Ki-tô giáo Tôi còn có trách nhiệm với riêng dân tộc của mình.

[ii] “phỉ báng huyết thống” (với chủ ý đến người DoThái) gồm các cáo buộc sai lầm rằng ngưòi Do Thái đã giết hại những ngưòi không phải Do Thái để lấymáu của họ dùng vào những nghi thức tế lễ . Sự kết án này vẫn còn được tin là thật ở nhiều nơi trong các nước Hồi giáo.

[iii] Sự thật cần được nói, hiện nay tôi nhận được các điện thư phản kháng từ những ngưòi khẳng định với tất cả chân thành rõ rệt, rằng họ tin Thuỷ thần (Poisedon) và các thần linh khác của thần thoại Hy lạp là có thật.

[iv]Thí dụ như nhà vật lý học Stephen Hawking hình dung không-thời gian như một hiện hữu đa dạng kín, bốn chiều, không có đầu, không có cuối. (giống như bề mặt của một quả cầu)

[v] Ðể chữa trị chứng sanh nghẹt thai, chỉ cần đến một giải phẫu đơn giản-chứ không cần phải cầu nguyện. Dù nhiều ngưòi có đức tin vẫn cứ tin rằng cầu nguyện có thể chữa lành nhiều căn bệnh ( bất kể là các chúng bệnh đã được các khảo cứu khoa học tốt nhất tìm ra) Chuyện cầu nguyện này cũng kỳ cục ở chỗ là ngưòi ta chỉ cầu nguyện trong những trường hợp bệnh tật hoặc thương tích có giới hạn thôi. Chẳng hạn như không ai tin rằng lời cầu nguyện có thể khiến cụt tay chân có thể mọc ra lại. Sao không nhỉ? Giống kỳ nhông có thể làm được việc này, đoán chừng là không phải cầu xin gì. Nếu Thiên chúa từng đáp lại lời cầu xin, sao Ngưòi không đôi lúc chữa lành một trường hợp cụt tay chân Và sao ngưòi có đức tin không trông mong vào cầu nguyện trong những trường hợp ấy? Có một trang WEB rất phi thường đang dốc lòng khám phá bí hiểm này: www.whydoesgodhatesamputees.com

Sam Harris

Article printed from Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới: http://damau.org

URL to article: http://damau.org/archives/2489


© 2008 damau.org - Damau Literary Portal. All rights reserved.