Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Khôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Khôi. Hiển thị tất cả bài đăng

17/06/2011

Lại Nguyên Ân -Phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng phương Tây trong sự lý giải của Phan Khôi

Tư tưởngPhương Đông và Phương Tây


Lại Nguyên Ân
Phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng phương Tây trong sự lý giải của Phan Khôi

(Tham luận tại Hội thảo khoa học “Lý luận văn học Việt Nam thế kỷ XX”, do khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức ngày 07 tháng 6/2008)

1.

Phạm trù chủ nghĩa cá nhân (individualisme) của tư tưởng phương Tây được Phan Khôi (1887-1959) đề cập từ cuối những năm 1920 đầu những năm 1930, khi mà một trong những đề tài thu hút ngòi bút viết báo của ông chính là vấn đề thời sự của đời sống văn hoá tư tưởng đương thời: trạng thái và số phận của những tư tưởng cổ truyền phương Đông trước một xu thế đang diễn ra trên chính phương Đông, được gọi là xu hướng “Âu hoá”. Ông từng tham gia luận bàn về “học thuyết cũ với vận mạng mới nước Tàu”, [1] thảo luận và đưa ra ý kiến phủ định đối với “cái thuyết Âu châu sắp tan nát” của học giả Trung Hoa Cô Hồng Minh, [2] kiểm điểm di sản Nho giáo trên đất Việt Nam, [3] nhìn rộng ra cuộc tiến hoá trong “cạnh tranh sinh tồn” của loài người trên toàn cầu và đi tới nhận định chung: “... cái đại thể các dân tộc yếu ở Á châu ngày nay là phải học theo Âu châu thì mới có thể sanh tồn”, [4] hơn thế nữa, “muốn duy tân cải cách thì phải bắt từ học thuật tư tưởng mà duy tân cải cách trước”. [5]

Theo sự sưu tầm nghiên cứu của tôi, trong những năm này, ít nhất có 2 tài liệu cho thấy rõ nhất sự lý giải của Phan Khôi về phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng phương Tây.

Năm 1928, trong bài “Tư tưởng của Tây phương và Đông phương” (Đông Pháp thời báo, 27/9/1928; 2/10/1928), [6] Phan Khôi nêu ra 3 điểm so sánh sự khác biệt giữa tư tưởng của phương Tây và của phương Đông: “1/ Tây phương chuộng khoa học, Đông phương chuộng huyền học”; “2/ Tây phương trọng tự chủ, Đông phương trọng thống thuộc”, “3/ Tây phương quý tấn thủ, Đông phương quý an phận”. Nội dung thứ hai trong các điểm so sánh này, − “trọng tự chủ” chính là nói về chủ nghĩa cá nhân.

Phan Khôi viết:

Chữ tự chủ ở đây nghĩa là mỗi người làm chủ lấy mình, cũng tức là cá nhân chủ nghĩa. Ở phương Tây, nói rằng “một người”, nghĩa là đối với thế giới, đối với quốc gia mà nói, chớ không phải phiếm nhiên. Đã gọi là người, thì người nào cũng vậy, ai ai cũng có cái địa vị cái tư cách đối với thế giới đối với quốc gia, thật như ta thường nói "đội trời đạp đất ở đời". Như vậy, người nào tự chủ lấy người ấy, không ai thuộc về ai cả.

Bởi đó mới có sự tự do. Một người đã tới tuổi thành nhân rồi thì không còn ở dưới quyền cha mẹ nữa. Mà cũng không ở dưới quyền chánh phủ hay là dưới quyền ông nguyên thủ, song chỉ ở dưới quyền pháp luật. Một người được y theo trong vòng pháp luật mà tự do. Pháp luật cho mọi người được tư tưởng tự do, ngôn luận tự do, cư trú tự do,... những quyền tự do ấy, người khác − dầu là cha mẹ nữa − không được can thiệp đến. Pháp luật đặt ra cốt là hạn chế sự tự do của từng người để binh vực sự tự do cho từng người.

Lại bởi đó mới có sự bình đẳng. Mọi người đối với quốc gia xã hội đều có nghĩa vụ và quyền lợi bằng nhau. Ai nấy đều phải nộp thuế, đều phải đi lính, thì ai nấy đều được hưởng quyền tự do của pháp luật. Trước mặt pháp luật, ai cũng như nấy, hễ có tội thì bị phạt, không cứ ông nguyên thủ hay là người bình dân. Pháp luật đặt ra cũng cốt để duy trì sự bình đẳng giữa từng người.

Tất nhiên cái chủ nghĩa cá nhân với nội hàm như vậy không phải vốn dĩ đã có từ xa xưa ở các nước phương Tây, mà chỉ mới hình thành từ thời Khai sáng rồi định hình dưới các xã hội theo kinh tế tư bản thị trường, dưới các chính thể cộng hoà pháp trị. Nhưng Phan Khôi không bàn về phương diện lịch sử của phạm trù chủ nghĩa cá nhân ở xã hội phương Tây; ông chủ yếu trình bày nội dung sự việc ở mặt đồng đại, hơn nữa, nhấn vào trạng thái đương đại, chỉ ra sự tương đồng giữa chủ nghĩa cá nhân với cơ chế chính trị ở các nước phương Tây:

Bởi mỗi người đều có địa vị tư cách vững vàng, tự chủ lấy mà không xâm phạm đến ai như vậy, cho nên khi hiệp với nhau thành đoàn thể thì chỉnh tề và ổn kiện lắm. Quốc gia, tức là của chung của quốc dân; hội xã tức là của chung của hội viên; đối với quốc gia xã hội ai có bổn phận gì thì làm hết bổn phận ấy, có lợi ích thì mọi người cùng hưởng. Mới nghe họ nói những là "quốc gia lợi ích, xã hội lợi ích" thì tưởng là xung đột với chủ nghĩa cá nhân, mà xét kỹ ra thì những cái lợi ích ấy cũng chỉ là lợi ích cho từng người vậy.

Các nước bên Tây đều dùng cái chánh thể lập hiến, cộng hoà được, là nhờ họ sẵn có cái tư tưởng như đã nói trên đó. Cái tư tưởng ấy tức là cái tinh thần dân chủ.

Để làm rõ sự khác biệt giữa tính tự chủ, − tức là đặc điểm chính của con người cá nhân Tây phương, − so với tính chất “thống thuộc” ở đơn vị tương đương của phương Đông, Phan Khôi chỉ rõ cái đặc điểm mà sau này một số nhà nghiên cứu sẽ mô tả như là “con người chức năng”. Ông viết:

Theo cái ý nghĩa của chữ “một người” ở phương Tây, thì ở phương Đông, trừ ông vua ra, hầu như không có “người” nào hết. Bởi vì “xuất thổ chi tân, mạc phi vương thần”, ai cũng là thần thiếp của vua, ai cũng là dân của vua. Cứ như sách dạy, nhân thần không được tư giao với ngoại quốc, ấy là không có tư cách đối với thế giới; thứ nhân không được nghị luận việc chánh, ấy là không có tư cách đối với quốc gia. Bởi vậy ai nấy đều phải nộp của cải cho vua, nộp cả đến thân mình nữa; vua thương thì nhờ, bằng vua không thương mà giết đi cũng phải chịu. Như vậy gọi là trọn cái bổn phận thờ bề trên; như vậy gọi là thiên kinh địa nghĩa.

Không những thuộc về vua mà thôi, ai còn có cha mẹ đến chừng nào thì phải kể cái thân mình là của cha mẹ đến chừng nấy. Lại không những cái thân mà thôi, mình dầu có của cải, có vợ con, cũng phải kể là của cha mẹ. Theo Kinh Lễ dạy: con yêu vợ mà cha mẹ ghét thì con phải để [= bỏ] vợ đi; con ghét vợ mà cha mẹ yêu thì con phải hoà thuận với vợ. Lại dạy: có dư của thì nộp cho tông, thiếu thì lấy của tông. Tông là người tông chủ trong gia đình, tức là cha mẹ. Còn chưa kể đến những lời tục thường nói "Cha mẹ đặt đâu ngồi đó, bảo chết hay chết, bảo sống hay sống" thì lại còn nghiêm khắc quá nữa.

Trọng nhứt là vua và cha mẹ, rồi thứ đến quan, làng, họ, cũng đều có quyền trên một người. Quan, nào có phải một ông, có đến năm bảy lớp, cứ dùi đánh đục, đục đánh săng, rút lại trăm sự chi cũng đổ trên đầu người dân cả. Người trong làng thì kể như con của làng, cho nên nói rằng "con làng nhờ làng". Người trong họ đối với họ cũng vậy.

Phan Khôi tóm tắt về tính chất thống thuộc của con người chức năng phương Đông:

Ấy vậy, lấy ra một người ròng rặt Đông phương mà nói, thì người ấy không tự mình làm chủ lấy mình được; song là thuộc về vua, về cha mẹ, về quan, về làng, về họ, nếu là đàn bà thì còn thuộc về chồng nữa.

Bởi cớ ấy, trong xã hội ta như một cái thang có nhiều nấc. Nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người không đồng nhau: người trên đối với người dưới không có nghĩa vụ; còn ai có nhiều quyền hơn thì được hưởng nhiều lợi hơn. Pháp luật đối với mọi người thì tùy từng bậc mà khác: cùng phạm một tội mà dân bị phạt trọng [= nặng], quan được phạt khinh [= nhẹ]; cùng phạm một tội mà kẻ thứ ấu bị phạt trọng, kẻ tôn trưởng được phạt khinh. Theo Tây phương, như thế là bất bình đẳng; song theo Đông phương thì như thế là có trật tự.

Ông trở lại sự so sánh hai kiểu xã hội phương Tây, phương Đông, ứng với hai kiểu đơn vị con người:

Một đằng thì trọng tự chủ, một đằng thì trọng thống thuộc, hai đằng tư tưởng khác nhau, cho nên trình bày ra hai cái xã hội khác nhau. Xã hội Tây phương thì như bầy chim sẻ, con nào cũng một lứa như con nào, và con nào cũng tự kiếm ăn cho con nấy, song cũng hiệp nhau thành bầy. Xã hội Đông phương thì như bầy kiến, có con lớn con nhỏ, con lớn giữ phần cai quản, con nhỏ lo việc đi kiếm ăn, song cũng hiệp nhau thành bầy.

Như vậy có thể thấy là ở bài viết kể trên, Phan Khôi đã ghi nhận chủ nghĩa cá nhân của phương Tây như một quan niệm và một thực tiễn đời sống xã hội; quan niệm về tính chất, về quyền và lợi ích của đơn vị con người trong các xã hội phương Tây, và phù hợp với nó là quy chế tổ chức của xã hội phương Tây, ở đương thời Phan Khôi, tức là những năm 1920, xét trên những nét bao quát nhất.

Những nét chính yếu của chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây, theo sự lĩnh hội của Phan Khôi ở bài báo nói trên, là sự độc lập, tự chủ, tự do, bình đẳng − đối với nhau và đối với các thiết chế xã hội − của mọi con người thành niên; theo Phan Khôi, quan niêm ấy chứa đựng tinh thần dân chủ, vì vậy, nó là cơ sở của thể chế lập hiến, của chính thể cộng hoà.

Mấy năm sau, trong một bài báo nhan đề “Cá nhơn chủ nghĩa” (Trung lập, S.G., 28/11/1931), Phan Khôi đề cập đến tư tưởng chủ nghĩa cá nhân trong sự liên hệ của nó với “sự thiệt hành cái chủ nghĩa dân trị hay là biết hưởng sự lợi ích của cái chủ nghiã ấy” [7] tức là bàn về sự liên quan giữa tư tưởng dân chủ với tư tưởng chủ nghĩa cá nhân. Hơn thế, lần này vấn đề được Phan Khôi nêu ra với chính con người và xã hội Việt Nam đương thời ông.

Trong xã hội ta ngày nay có một phần rất đông người khuynh hướng về chủ nghĩa dân trị (démocratie). Chẳng những người có học thức mới như thế; trong đám bình dân, kém học thức mà mở miệng ra cũng ưng nói bình đẳng tự do. Sự khuynh hướng đó, không phải là sự bắt chước nói theo mà thôi đâu; họ muốn thiệt tình, vì họ ở dưới chính thể chuyên chế đã lâu, gần đây lại gặp lấy phong trào ở ngoài làm như thúc giục họ,

… (Bị kiểm duyệt bỏ).

Tuy vậy, họ ham muốn cái chủ nghĩa dân trị thiệt tình, mà làm thế nào cho được thiệt hành cái chủ nghĩa ấy thì hình như ít ai suy nghĩ tới. Mà cũng đừng nói đến sự thiệt hành nữa, giá có ai thiệt hành rồi để sẵn cho họ hưởng, là cũng chưa chắc họ biết hưởng đâu.

Phan Khôi ghi nhận sự tiến bộ về nhiều mặt của con người Việt Nam đương thời ông, kể cả về tư tưởng xã hội, chính trị. Ông ghi nhận “mấy năm gần đây người mình quả có phát đạt về tư tưởng quốc gia”, song ông nghi ngờ khả năng thực hành tư tưởng dân chủ của đồng bào đương thời mình, thậm chí cho rằng họ chưa biết “hưởng sự lợi ích” của chủ nghĩa dân chủ.

Vì sao vậy? Vì theo ông, chủ nghĩa dân trị (= dân chủ) trong đời sống quốc gia chỉ có thể được thực hành bởi những người dân đã sống theo chủ nghĩa cá nhân (với những hàm nghĩa như ông đã nói ở bài trên); thế mà ở xã hội của chúng ta thì chưa hề có cái chủ nghĩa cá nhân đó; như vậy thật khó nói đến chuyện dân trị.

Muốn thực hành cái chủ nghĩa dân trị trong một nước nào thì người làm dân trong nước ấy trước phải thực hành cái cá nhân chủ nghĩa (individualisme) mới được. Mà cái cá nhân chủ nghĩa ấy, ở nước ta xưa nay chưa hề có, cho đến ngày nay cũng chưa thấy mấy ai đề xướng ra, thế mà nói chuyện dân trị, ôi, có dễ dầu gì!

Phan Khôi trình bày sơ lược nội dung cái “chủ nghĩa cá nhân” ấy, theo cách hiểu của ông:

Cá nhân chủ nghĩa là hết thảy người trong nước, mỗi người đều độc lập về phần mình; mà độc lập cả hai đường: về tinh thần và về vật chất vậy. Độc lập về tinh thần, tức là mỗi người đều biết tự suy nghĩ lấy, tự phán đoán lấy, nhắm lẽ phải ở đâu thì theo đó, chớ không làm nô lệ cho ý kiến của người nào hay đảng phái nào. Độc lập về vật chất tức là độc lập về kinh tế, mỗi người đều làm lấy mà nuôi sự sống mình, chớ không chịu nhờ vả ai, dầu con cũng không nhờ cha, vợ cũng không nhờ chồng.

Có độc lập như vậy rồi mới nói chuyện hiệp quần được. Sự hiệp quần ví dụ cũng như khi có bão to mà đông người đứng ra, giăng hàng chữ nhứt để đón gió. Trong hàng chữ nhứt đó, người nào người nấy phải có sức mạnh mà trụ chưn cho vững thì mới được. Bằng chẳng vậy, trong đó hết già nửa người yếu, chỉ dựa vào mấy người mạnh kia, thì cái hàng chữ nhứt ấy sẽ không cự với gió được mà lại ngã làm một cùng nhau. Bởi vậy, trước khi hiệp quần phải cần cho mỗi người độc lập, tức là thiệt hành cái chủ nghĩa cá nhân”.

Theo Phan Khôi, nội dung ấy của chủ nghĩa cá nhân chưa hề có trong xã hội Việt Nam, từ xa xưa cho đến thời ông:

Xã hội ta xưa nay chưa hề chiêm bao tới cái sự độc lập đó! Ấy chẳng đáng trách gì, cũng tại cái luân lý và cái chế độ kinh tế của ta nó ngăn cấm ta, không cho mộng tưởng tới đó thôi. Theo đức Khổng Tử, “cha chết ba năm rồi mà không đổi cái cách cuộc ăn ở của cha, như vậy gọi là hiếu”. Thế thì bao nhiêu những kẻ còn có cha phải vâng lời cha, phải tuân mạng lịnh của cha, là sự mà luân lý bắt buộc, đã rõ ràng lắm rồi. Lại còn theo cái chế độ đại gia đình, một người làm, nuôi không biết mấy người, như vậy là kẻ nầy phải nhờ kẻ kia mà sống, đường kinh tế không độc lập.

Theo luân lý và chế độ ấy thì sống làm “thần dân” dưới chánh thể chuyên chế mới được, chớ còn mong thiệt hành chủ nghĩa dân trị hay là hưởng sự lợi ích của nó, có được đâu?

Bài báo “Cá nhơn chủ nghĩa” ấy, Phan Khôi viết nhân đọc bài diễn thuyết của viên Tổng trưởng Bộ Thuộc địa trong chính phủ Pháp là Paul Reynaud khi ông ta sang công cán xứ Đông Dương thuộc địa (1931). Cái ý mà Phan Khôi muốn nhắc tới là nhận xét của Paul Reynaud: “Nước An Nam chưa có cái cá nhân chủ nghĩa thì cũng chưa cho họ hưởng cả sự lợi ích của dân chủ được đâu”. Từ lập luận về quan hệ thiết yếu giữa chủ nghĩa cá nhân của công dân và tính chất dân chủ của thiết chế xã hội, Phan Khôi tán thành sự khuyến dụ của viên chức người Pháp nọ:

Tôi nhận cho lời quan Tổng trưởng nói đó là một bài học hay cho người Việt Nam, nếu chúng ta muốn hưởng sự tự do bình đẳng sau nầy thì ngay từ đây ta phải, theo lời ngài, làm cho cái cá nhân chủ nghĩa nó nẩy nở ra trong xã hội ta mới được.

Trên đây tôi nói kỹ về hai bài báo của Phan Khôi trong đó bàn rõ về nội dung của phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng phương Tây, về sự liên quan chặt chẽ giữa chủ nghĩa cá nhân ở con người công dân với tinh thần dân chủ trong các thiết chế xã hội chính trị; và nhân bàn về việc đưa tinh thần dân trị vào xã hội Việt Nam, Phan Khôi nhấn mạnh rằng một trong những điều kiện thiết yếu là phải phổ cập nội dung chủ nghĩa cá nhân vào đơn vị con người của xã hội ta.

Cần phải nói rằng những luận điểm chính như vừa dẫn trong hai bài báo trên cũng được Phan Khôi thể hiện thường xuyên trong nhiều bài viết khác, kể cả loại bài mang tính chất hài đàm, nhàn đàm, tạp trở, dật sự,… Hơn thế, ở phương diện vận động phổ biến các nội dung của chủ nghĩa cá nhân đó vào xã hội người Việt đương thời mình, Phan Khôi đã tự chứng tỏ là một trong những nhà ngôn luận đi tiên phong, với việc biện luận và đề xuất các nội dung của vấn đề nữ quyền, [8] hoặc biện luận và đề xuất việc chuyển từ mô hình đại gia đình sang mô hình gia đình hạt nhân trong xã hội người Việt. [9] Nhìn lại cả quá trình vận động tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, hậu thế chúng ta có đủ căn cứ để xem Phan Khôi như một trong những nhà lý luận sâu sắc về quyền con người trong đời sống hiện đại. Cách mô tả nội hàm phạm trù chủ nghĩa cá nhân như trên của Phan Khôi chắc chắn không phải là kết quả sự hiểu sai đọc lệch nào, càng không phải do bị tuyên truyền huyễn hoặc, mặc dù ngày nay đọc lại, người nghiên cứu và cả người đọc thông thường đều dễ thấy rõ nó khác hẳn so với cách mô tả khác, phổ biến hơn, theo đó phạm trù chủ nghĩa cá nhân (individualisme) bị quy vào chủ nghĩa ích kỷ (egoisme).


2.

Tất nhiên cách hiểu như trên về chủ nghĩa cá nhân, không phải là cách hiểu riêng của một mình Phan Khôi. Vả lại, như Phan Khôi đã có nói đến, chủ nghĩa cá nhân không phải là đặc sản phương Tây theo cái nghĩa là nó không thể nảy nở ở các xã hội ngoài phương Tây. Chủ nghĩa cá nhân không phải là thuộc tính dân tộc, chủng tộc, cũng không phải đặc tính văn hoá vùng miền. Điều được nhấn mạnh là nên hiểu chủ nghĩa cá nhân vừa như là điều kiện vừa như là sản phẩm của quan hệ kinh tế xã hội, của thiết chế xã hội. Vì vậy nó có thể nảy nở ở những vùng miền khác, ngoài phương Tây, tức là cả ở phương Đông.

Một trong những đoạn trích dẫn trên đã hé cho biết, Phan Khôi là người thấy rằng ở xã hội người Việt đương thời mình chưa thể thực hiện nền dân chủ, mà một trong những lý do trọng yếu là con người ở đây chưa hấp thụ và thực hành chủ nghĩa cá nhân; và Phan Khôi thấy rằng nếu muốn Âu hoá, hiện đại hoá xã hội cổ xưa này thì một trong những điều cần thiết là làm cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở ở đơn vị con người của xã hội này.

Phan Khôi mới chỉ tin vào sự tất yếu của sự gieo trồng chủ nghĩa cá nhân vào xã hội ta nếu muốn dân chủ hoá xã hội ta, chứ thật ra ông chưa tỏ vẻ tin tưởng rằng cái quá trình ấy sẽ có thành tựu.

So với ông, có những người tin tưởng hơn nhiều; họ tin rằng có thể gieo trồng chủ nghĩa cá nhân, gieo rắc tư tưởng về nhân quyền tự do vào xã hội phương Đông, xã hội người Việt này. Những người tin như thế, đương thời Phan Khôi, thậm chí sớm hơn, trước hết, đó là các nhà thực dân người Pháp. Ý tôi muốn nói đến những quan chức hàng đầu được cử sang cai quản xứ thuộc địa này.

Theo tôi nhớ thì sử học của ta chưa cung cấp được những kết quả nghiên cứu khả thủ về phương diện chủ thuyết, nhận thức chủ quan của các nhà cai trị đến từ Pháp về mục đích của cái sự nghiệp được gọi, − hoặc theo lối chính thống hoặc theo lối mai mỉa, − là “khai hoá” của họ. Những gì tôi trình bày tiếp đây chỉ là một tư liệu cụ thể, có lẽ chưa có giá trị đại diện. Tôi muốn dẫn ra sau đây cách hiểu của Albert Sarraut (1872-1962), từng là Toàn quyền xứ Đông Dương thuộc Pháp (1912-1919).

Trong một buổi diễn thuyết ở Hà Nội vào khoảng đầu năm 1919, A. Sarraut cho rằng một trong những lý tưởng, chính sách của nước Pháp ở Đông Dương là tác động để gây ra “cái tư tưởng về nhân quyền (le droit de homme), về cái quyền của con người ta”. [10]

A. Sarraut nhận định về trạng thái của đơn vị con người ở xã hội người Việt cổ truyền:

Trước khi người Đại Pháp sang Đông Dương này thì dân An Nam tuy là một dân tộc có văn hiến, đã có pháp luật khôn ngoan của vua hiền chúa giỏi đặt ra, song cũng ví như một đám đông chưa thành hình (masse amorphe), còn chìm đắm vào trong đoàn thể, người ta còn ngập vào trong đám đông, như cái cây lẫn trong rừng lớn vậy. Cái giá trị của người ta (la valeur humaine), nghĩa là những quyền lợi của mỗi người cùng là phép luật để giữ cho những quyền lợi ấy, còn hầu như chưa có. Người ta đối với quốc gia chẳng qua là một chút mảy may, cũng ví như một hột cát trong đống cát vậy. Cái đám người đông u u âm âm ấy đã mấy mươi đời nay vẫn cứ chịu ép một bề mà theo cái quyền chuyên chế của người trên, dù cái quyền ấy sai khiến thế nào mặc lòng, bắt sống phải sống bắt chết phải chết, dẫu lạm dụng quá độ cũng không biết tố cáo vào đâu, vì trên ông vua không còn có cái quyền nào cao hơn nữa. Người ta an toàn được chỉ là nhờ ở cái bụng tốt, cái chí công, cái lòng nhân từ của ông vua cầm quyền đó, cùng những người khâm mạng vua mà thi hành cái quyền đó. Gặp được vua hiền quan giỏi thì cái nhân thân của mình được trọn vẹn, gặp phải vua xấu quan xằng thì khó lòng mà giữ cho trọn được. Đối với cái quyền tối cao tuyệt đối ấy thì không còn có pháp luật nào mà tố cáo được nữa.

Một trạng thái như vậy, theo Sarraut, vốn thuận lợi cho các nhà thực dân:

Chắc rằng một cái tình trạng như vậy thì dễ việc cai trị cho quân quyền nhiều lắm, vì dân chỉ là một cái lũ đã sẵn lòng phục tòng, không phải là những người đã có quyền lợi riêng; bởi dễ dàng cho việc cai trị như vậy nên chính các quan cai trị Pháp cũng thường muốn theo lối cũ mà cứ giữ y nhiên như vậy, lấy làm tiện lợi nhiều, vì chỉ phải can thiệp với cả đoàn thể mà không quản gì đến quyền lợi riêng của mỗi người.

Tuy nhiên, lý tưởng của những người Pháp đến chinh phục xứ này, theo Sarraut, lại là làm cho đơn vị cá nhân (individu) của con người hiện diện ra với tất cả giá trị và quyền lợi của nó. Ông ta ví công việc tác động ấy như của người thợ nặn:

Cái tay nước Pháp lấy cái đất nước Nam ấy mà nặn lên thành những người có nhân cách, để giữ được quyền lợi, vì đã có pháp luật cao hơn mà che chở cho.

Cố nhiên nhà chính trị phải lập tức trở lại câu chữ khái quát:

…. Muốn nói cho đúng hơn thì phải nói rằng nước Pháp vẫn dụng công để gây cho người An Nam có cái nhân cách hoàn toàn ấy. Vì cái công nghiệp nước Pháp về đường ấy chưa phải đã xong đâu; còn phải lâu dài nữa rồi mới mong tới ngày trong suốt cõi nước này cái công tạo thành ra nhân cách có đủ quyền lợi pháp luật ấy sẽ được hoàn toàn và sẽ được hiển nhiên công nhận vậy. Hiện nay còn gặp nhiều sự ngăn trở lắm, hoặc bởi phong tục, hoặc bởi quyền thế, hoặc bởi cái trình độ giáo dục trong dân còn kém, hoặc bởi những lề thói cổ tự đời nào đến giờ làm ngăn trở sự tiến bộ, ngại đường công lý. Nhưng cái nguyên lý cốt yếu thì hiện nay đã phát minh ra rõ ràng rồi, cái nguyên lý ấy là thế này: người bản xứ ở đây cũng là người, cũng có nhân cách như mọi người khác, như người Âu châu chúng tôi vậy. Nhân cái nguyên lý đó, thì nước Pháp cùng những người khâm mạng nước Pháp để cai trị ở đây, vẫn hết sức làm cho vững bền, cho rõ tỏ những quyền pháp để bảo toàn cho người ta, những kế hoạch để giữ gìn cho cái nhân thân, sự tự do, cái sinh mệnh, sự tài sản của người ta cùng là giúp cho người ta về thân thể, về tinh thần, mỗi ngày một phát đạt thêm lên, sau này được sung sướng hơn lên, và, hoặc giả có bị xâm phạm đến những quyền lợi cùng tư cách ấy thì có chỗ mà kháng cáo được. Ấy, cái mục đích cao thượng của công nghiệp nước Pháp là ở đó…

Trên đây tôi đã trích dẫn giới thiệu quan điểm một nhà cầm quyền Pháp về công việc được xem như “mục đích cao cả” của mình: phổ cập chủ nghĩa cá nhân vào xã hội người Việt. Ngôn ngữ quan phương của ông quan lớn nhất, đứng đầu bộ máy cai trị xứ thuộc địa, đã khiến những lời lẽ trên đây bị quá tải những thiện ý và tính chính nghĩa; song le điều đó cũng không làm cho nó trở nên vô nghĩa hoàn toàn; ít ra trong đó cũng vẫn còn một vài phần sự thực.

Điều tôi lưu ý ở ví dụ vừa trích dẫn từ viên cựu toàn quyền kia là những nội dung căn bản của phạm trù chủ nghĩa cá nhân mà ông ta diễn đạt, lại có sự phù hợp trên nét lớn với những nội dung mà ta thấy Phan Khôi đã diễn đạt.

Tôi sẽ loại bỏ ngay khả năng Phan Khôi là kẻ hâm mộ viên chức kia. Chính trong năm 1919, Phan Khôi đã lên tiếng mỉa mai cái ngôn từ “xin chính quốc cho Đông Dương được tự trị” của toàn quyền A. Sarraut. [11]

Bởi vậy, sự phù hợp này chẳng qua chỉ cho thấy có phần chắc là Phan Khôi đã đọc đúng cái nội dung chủ nghĩa cá nhân của xã hội phương Tây đương thời ông; đọc đúng ở đây có nghĩa là diễn đạt lại cho người đọc Việt Nam bằng tiếng Việt đúng cái quan niệm về nhân quyền, về quyền và lợi ích của cá nhân mỗi con người, tức là về chủ nghĩa cá nhân mà ở xã hội Tây phương đương thời ấy người ta đang chủ trương và đang sống trong những nguyên tắc của nó.


3.

Ngày nay, ở đầu thế kỷ XXI này, chúng ta biết rằng chủ nghĩa cá nhân và thể chế dân chủ đã không còn là đặc sản của riêng các xã hội phương Tây.

Tuy vậy, trên quy mô toàn hành tinh tức là toàn nhân loại, những vấn nạn về quyền con người, thậm chí, những thảm hoạ nhân đạo vẫn chưa hết tính nguy cơ thường trực của chúng.

Ở một phương diện khác, người ta vẫn chưa thôi tranh cãi về những hàm nghĩa và ranh giới của quan niệm về nhân quyền. Các chính thể toàn trị, để tự biện hộ cho độc quyền hạn chế và kiểm soát tự do của công dân thuộc quyền mình, đã ra sức nhấn mạnh đặc tính dân tộc, đặc tính văn hoá vùng lãnh thổ của các quan niệm về quyền con người. Ở những nước được coi là phát triển nhất vẫn thấy nảy sinh những hiện trạng thoái hoá hoặc biến dạng của nhân tính. Do vậy, những vấn đề về chủ nghĩa cá nhân, về nhân quyền chưa bao giờ mất tính thời sự của mình.

Ở Việt Nam, cách hiểu chủ nghĩa cá nhân như Phan Khôi mô tả từ những năm 1920-30, đã không trở thành cách hiểu chủ đạo. Thay vào đó, cách hiểu mang tính lược quy chủ nghĩa cá nhân vào chủ nghĩa ích kỷ, vị kỷ, lại trở thành dòng hiểu biết chính thống; chủ nghĩa cá nhân trở thành đối tượng bị kêu gọi “khắc phục” nhân danh đạo đức xã hội; sự đả kích quan niệm cá nhân thậm chí thấm đẫm vào ngôn trò chuyện thường ngày v.v… Giới nghiên cứu quốc tế nhận xét rằng “chủ nghĩa cá nhân bị phê phán nặng nề nhất ở các nước Đông Á, nơi mà các hành vi vị kỷ, theo truyền thống, bị xem là những hành vi phản bội”. [12]

Trong một tình hình tri thức như vừa mô tả, dù chỉ xoay quanh một phạm trù hiểu biết xã hội, tôi nghĩ, cách hiểu và sự mô tả chủ nghĩa cá nhân như trên của Phan Khôi, từ cách nay 70 – 80 năm, vẫn còn có thể gây tranh luận đến tận hôm nay. Đó là điều cho thấy sức sống, cho thấy ý nghĩa thời sự hiện đại trong trứ tác của ông.

Hà Nội, 10/4/2008

-----------------------------------------------------------------------------------

[1]C.D., “Học thuyết cũ với vận mạng mới nước Tàu”. Đông Pháp thời báo, S.G., 26/7/1928. Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Đà Nẵng, 2003, tr. 114-118.
[2]C.D., “Mấy lời kết luận về Cô Hồng Minh và cái thuyết Âu châu sắp tan nát”. Đông Pháp thời báo, S.G., 15/9/1928. Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Đà Nẵng, 2003, tr. 119-122.
[3]Phan Khôi, “Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta”. Thần chung, S.G., từ 3/10/1929 đến 18/11/1929. Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Đà Nẵng-Hà Nội, 2005, tr. 40-102.
[4]Xem chú thích 2.
[5]Phan Khôi, “Vấn đề cải cách”. Trung lập, S.G., 9/8/1930; 12/8/1930; 13/8/1930; 18/8/1930. Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Hà Nội, 2006, tr. 371-384.
[6]Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Đà Nẵng, 2003, tr. 101-109.
[7]P.K., “Cá nhơn chủ nghĩa (Một bài học của quan Tổng trưởng Paul Reynaud cho người Việt Nam)”. Trung lập, S.G., 28/11/1931). Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Hà Nội, 2007, tr. 251-253.
[8]Ví dụ loạt bài về đề tài phụ nữ đăng trên Phụ nữ tân văn: “Tơ hồng nguyệt lão với hôn nhân tự do”; “Chữ trinh: cái tiết với cái nết”; “Luận về phụ nữ tự sát” (xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929 đã dẫn trên); “Hoàng đế với phụ nữ”; “Lại hoàng đế với phụ nữ” (xem trong sách Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930 đã dẫn trên); “Tống Nho với phụ nữ” (xem trong sách Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931 đã dẫn trên).
[9]Ví dụ loạt bài về các vấn đề gia đình đăng trên Phụ nữ tân văn: “Gia đình ở xứ ta, nay cũng đã thành ra vấn đề rồi;” “Cái chế độ gia đình ở nước ta, đem gióng với luân lý Khổng-Mạnh”; “Sự lập thân của thanh niên nam nữ đời nay”; “Lại nói về tam cang với ngũ luân”; “Một cái hại của chế độ đại gia đình: bà già với nàng dâu” (xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931 đã dẫn trên)
[10]Dẫn theo bài: “Đại Pháp đã làm cho ta có nhân cách”. Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, 3 Mai 1919, tr. 1.
[11]Chương Dân: “Giải đại ý bài diễn thuyết của quan Toàn quyền Sarraut về cuộc Đông Dương tự trị”. Lục tỉnh tân văn, S.G., 14/5/1919; 21/5/1919.
[12]wikipedia.org/chủ nghĩa cá nhân / các quan điểm đối lập

27/11/2008

PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1930

SAU KHI ĐỌC BÀI TRẢ LỜI CỦA TRẦN TRỌNG KIM TIÊN SANH

CẢNH CÁO CÁC NHÀ “HỌC PHIỆT”



Sau khi tôi đọc bài của Trần Trọng Kim tiên sanh bàn với tôi về sự phê bình cuốn sách Nho giáo, đăng ở Phụ nữ tân văn số 60, tôi rất lấy làm phục cái nhã độ của tiên sanh. Tôi lấy làm phục tiên sanh bao nhiêu, thì tôi càng mừng cho học giới nước ta có cơ khai phóng bấy nhiêu!

Số là, chẳng những như Trần quân đã nói, người mình xưa nay chưa quen chịu kẻ khác phê bình, mà lại trong xã hội nầy, có một hạng người, tôi muốn dâng cho họ một cái huy hiệu mới, là “học phiệt”. Hạng người ấy ỷ có học rộng, tri thức nhiều, văn hay, trí thuật cũng khá, rồi tự coi mình như là bậc “thầy”, chẳng kể dư luận ra chi. Đã hay rằng mình giỏi, song thế nào cho khỏi sự sai lầm, vậy mà họ tự phụ quá, cứ mạt sát hết. Ừ, cái dư luận nào không chánh đáng, họ mạt sát chẳng nói làm chi; cái nầy, khi người ta công kích họ một cách chánh đáng, mà họ cũng làm thinh. Làm thinh, không phải tỏ ra là họ phục; nhưng làm thinh, tỏ ra là họ không thèm nói với, thế mới đáng ghét. Tôi dâng cho họ cái huy hiệu “học phiệt”, lấy nghĩa rằng họ có ý kế nghiệp nhau mà chuyên quyền trong học giới, cũng như bọn “quân phiệt”, đã nối nhau mà chiếm cứ đất đai và quyền chánh trị bên Tàu.

Tôi chẳng nói gần nói xa chi hết; tôi nói ngay rằng hạng “học phiệt” ấy ở nước ta chẳng bao lăm người, mà Phạm Quỳnh tiên sinh là một. Thử xách ra lấy một việc. Chắc hẳn nhiều độc giả còn nhớ chuyện Ngô Đức Kế tiên sanh công kích sự đề xướng Truyện Kiều hồi mấy năm trước nên đã viết một bài trong tạp chí Hữu thanh. Nói có vong linh Ngô tiên sanh! Không biết làm sao mà ông nầy có ác cảm với Phạm quân quá. Hồi đó tôi đương ở Hà Nội, tôi đi lại với cả hai đằng, đầu đuôi làm sao tôi rõ hết. Vì sự tư ý đó nên trong bài Chánh học với tà thuyết của họ Ngô có chỗ không được công bằng; tuy vậy, lấy đại thế cái bài mà nói, thì cách công kích như vậy là chánh đáng. Vả lại nó là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập, dầu phải dầu chăng, cũng không có thế nào bỏ qua đặng. Vậy mà bên Phạm Quỳnh tiên sanh nín lặng, chẳng thèm nói đi nói lại lấy nửa lời.

Có một lẽ có thể vin lấy mà cãi cho Phạm quân về sự làm thinh đó, là trong bài của họ Ngô chưa hề có một lần nào nói đến tên tuổi Phạm quân. Theo phép, khi người ta nói đến mình một cách không chánh thức, thì mình có quyền làm thinh được.

Song le, có lẽ khác mạnh hơn để đánh đổ lẽ ấy đi. Trong bài của họ Ngô tuy không nói đến tên Phạm quân, song toàn nói những công việc của Phạm quân đã chủ trương, hoặc đã thi hành, mà công việc ấy lại không có thể lộn với của người khác. Huống chi, công việc lại là công việc làm ra giữa xã hội, chẳng phải riêng của một người, ai cũng có quyền can thiệp đến, ai cũng có quyền bàn bạc đến. Chỉ có một điều nên hỏi, là lời người ta bàn bạc đó phải hay quấy mà thôi. Nếu là phải, thì mình nên viết ra mà nhận lỗi và tỏ ý phục thiện của mình; bằng quấy, thì mình cũng nên viết ra mà cãi lại để binh vực cho chơn lý. Đàng nào cũng phải trả lời hết, không phép làm thinh. Làm thinh thì tỏ ra hai dấu: một là bí, hết đường nói lại; hai là khinh người. Bí mà làm thinh, không nhận lỗi cách đường đường chánh chánh, thì thành ra mình không có can đảm, không biết phục thiện. Còn khinh người thì lại vô lý lắm, mình khinh người, người lại chẳng biết khinh mình sao? Huống chi, phải biết rằng khinh người bằng một cách như vậy, thì trong khi mình khinh người đó, chính mình tự khinh lấy mình rồi, vì mình đã đối với mình, với người, cũng đều không ngay thật.

Hai cái lỗi đó, thế nào Phạm tiên sanh cũng phải vấp một, vì tiên sanh đã làm thinh trong khi ấy. Nhưng nói tiên sanh vấp cái lỗi trước thì thà nói tiên sanh vấp cái lỗi sau. Bởi chưng, sau khi nín không trả lời, Phạm tiên sanh có viết một bài trong Nam phong nhớ chừng như đầu đề là Xử thế châm ngôn thì phải; trong đó có những câu, nhớ chừng như “Một thanh bảo kiếm…” chi chi đó thì phải. Đại ý nói ta là thanh gươm bách luyện đây, tha hồ mà công kích, có sờn đâu được ta? Thiệt nó in hệt như cái giọng Tử Cống xưa kia binh vực cho thầy mình mà nói rằng: “Nhân tuy dục tự tuyệt, kỳ hà thương ư nhựt nguyệt hồ?” một thứ!

Về câu chuyện trên nầy ta lại nên chia ra hai mặt mà bàn. Cái kiểu làm thinh ấy, nói về mặt học vấn là dở; chớ nói về mặt làm báo thì lại là hay. Vong hồn ông Tập Xuyên, sống thì khôn thác thì thiêng, ông chứng giám cho lời tôi đây! Thật hồi đó Ngô tiên sanh hằm hằm chực Phạm quân trả lời thì kéo luôn cả đại đội ra mà công kích; song cái kế Tư Mã Trọng Đạt diệu thay, làm cho cái phương lược “lục xuất kỳ sơn” kia mới vừa có “nhứt xuất” thì đã quay đầu ngựa trở về! Tôi nói: về mặt làm báo là hay, cái hay ở đó.

Song le, cái nghề làm báo, gặp thì làm, chớ có phải cái đất mà chúng ta toan đặt cái đời mình trên đó đâu. Chúng ta – các ông đã đành, mà cũng xin cho tôi xen vào với – nên đặt cái đời mình trên cái đất học vấn. Trong sự học vấn mà không ngay thật, ngay thật đối mình, đối với người, đối với nhứt thiết, thì thật là nguy hiểm lắm, nguy hiểm đến cái đời của mình nữa!

Có một điều nên lượng thứ cho Phạm tiên sanh, là lúc bấy giờ tiên sanh còn đương vào cái tuổi thanh niên, cái tuổi ấy thường làm cho người ta phụ khí và hiếu thắng. Song ngày nay, tiên sanh niên càng cao, đức càng mậu, có lẽ những điều ký vãng ấy, tiên sanh đã rất lấy làm hối hận mà không nói ra chăng.

Thánh nhân có nói rằng: “Quân tử tấn đức tu nghiệp, dục cập thời dã.”(1) Chữ “đức” khỏi cắt nghĩa; còn chữ “nghiệp” đó tức là sự học vấn của mình. Hai cái đó có quan hệ lẫn nhau, tới thì cùng tới, lui thì cùng lui, với nhau. Muốn cho sự học vấn của mình một ngày một tới, phải hư tâm, phải khắc kỷ, phải biết phục thiện, thì mới tới được; mà sự học vấn đã tới, thì cái đức của mình cũng ngày càng đầy đủ thêm. Cập thời là thời nào? Theo ý tôi thì vào lúc ngoài ba mươi cho đến bốn năm mươi, xoang(*) cỡ tuổi chúng ta ngày nay, là cái thời mà những sự phụ khí hiếu thắng đã lần lần xa ra khỏi mình.

Sự tấn đức tu nghiệp mà thánh nhân nói đó, ở đời xưa thiệt rất khó; khó vì chẳng biết noi theo một cái phương pháp nào. Song đương đời ta đây thì đỡ được sự khó ấy một chút; sẵn có phương pháp khoa học đó, ta nên lợi dụng lấy để mà tấn đức.

Đã có người đứng sau lưng tôi mà cười tôi rồi! Họ cười họ lại còn nói: Cái đời anh nhà nho đặc sệt mà mỗi chút mỗi khoa học, khéo làm rầy tai! - Nếu có phải vậy thì tôi kiếu ông ấy đi, mà chỉ nói với những người nào không ra ý khinh tôi. Thật vậy, sự nầy lại là một cái vấn đề nên nói rõ ở nơi khác nữa. Đây tôi chỉ nói rằng: Cái phương pháp khoa học cũng vậy, hay là đích thân khoa học cũng vậy, thật là cái tiện cho học giả lợi dụng để mà tấn đức. Vì theo phương pháp khoa học thì mỗi một sự gì cũng phải luật lịnh, cậy chứng nghiệm để tìm cho thấy chơn lý, mà trong khi ấy lại phải bỏ hết cả những điều tư tâm, thành kiến và sự kiêu căng của mình đi; chẳng phải là trong lúc cầu tri thức đó, cũng luôn thể làm ích lợi cho tánh nết của mình sao? Tôi chối dài, tôi không phải nhà khoa học; song thật như ông Trần Trọng Kim nói, tôi có cái khuynh hướng về khoa học. Câu chuyện vừa rồi là tôi lấy ở sự kinh nghiệm của chính mình tôi mà nói ra, có ích cho ai thì có, không thì thôi, không có hại.

Nãy giờ tôi nói dông dài những tấn đức tu nghiệp, khoa học khoa hiếc để cho lợt bớt câu chuyện đi, chớ rồi cũng không thể bỏ qua cái thói kiêu căng của mấy ông “học phiệt”. Họ làm vậy khác nào như ôm lấy cái độc quyền dư luận, trở ngại sự tấn bộ của học giới nước ta. Ai nói, họ không thèm nói với, tức là có ý để một mình họ nói thôi, thế chẳng phải ôm lấy độc quyền dư luận là gì? Mà đã không cãi cọ thì không nẩy ra chơn lý; không có ánh sáng của chơn lý thì học giới tối tăm; thiệt họ đã vô ý mà dứt ngang con đường tấn bộ của học giới đi, chớ chẳng những trở ngại mà thôi vậy.

Thật vậy, cái thói của họ đó đã tràn ngập cả xã hội mà thành ra như phong tục trong hơn mười năm nay. Ai nói trời nói đất chi thì nói, ngang ngạnh đến đâu cũng không có người cãi. Cái phong tục ấy nên đặt cho nó một cái danh từ là “nguội lạnh”.

Chính mình Phạm Quỳnh tiên sanh đã nhìn thấy chỗ đó. Tiên sanh có viết trong Nam phong số 148, hồi tháng Mars năm nay, về phần phụ trương tiếng Pháp, nơi bài “Hồi tưởng về Khổng Tử và Khổng giáo” (Réflexion sur Confucius et le Confucéisme), một đoạn như vầy:

“Ở nước Nam ta, cái phong trào bài kích Khổng giáo thà kêu là cái phong trào nguội lạnh… Mới có một nhà nho cũng học đòi bạn đồng đạo mình bên “thiếu niên Trung Quốc", ra tay phản đối Khổng Tử và Khổng giáo, mà chừng như độc giả chẳng mấy ai thiết đến, không ai cho là phải mà cũng không ai cho không, dầu rằng những bài phản đối ấy viết bằng lối văn chín chắn và tài liệu dồi dào, đáng khen thật, song tôi tưởng chắc độc giả của nó cũng không nhiều bằng của những cái tin ngắn chút xíu trên tờ báo nói về công trạng của hai tay vô địch nghề banh vợt, mà hết thảy các báo đã tôn cho là nhứt quốc chi hùng”.(2)

Xin độc giả thử nghĩ coi, có cái xã hội nào lại nguội lạnh đến nỗi nước nầy chăng? Mà việc đó, đố ai dám cả gan bảo là việc tầm thường. Chính trong đoạn đó chỗ để những cái chấm giây đó, Phạm tiên sanh nói rằng: “Kể ra thì đấng Thánh ở Khúc Phụ xa xuôi thật, xa cả về không gian và về thời gian, song lâu nay chính ngài vẫn đã chi phối những điều giáo huấn của ngài trong cả cuộc sanh hoạt xứ nầy, về tinh thần và luân lý”.(3) Ừ! nếu đã nhìn nhận cho Khổng giáo ở xã hội mình là quan hệ với sự sống của mọi người vậy thì sao trong khi có kẻ nhè nó phản đối, ai nấy lại nỡ làm lơ, không thèm quan thiết đến cho đành? Tôi xin trung cáo cùng người trong nước: đừng có lấy cái cớ nói ra không ai thèm nói lại, làm dịp tiện để nhạo cười cái anh nhà nho mà Phạm quân nói kia; song ai nấy hãy nhìn điều nầy là một điều sỉ nhục cho cả một dân tộc, vì trong việc đó tỏ ra rằng cái lương tâm của dân nầy hình như đã tê điếng rồi vậy!

Lẽ đáng trong khi thấy những bài phản đối Khổng giáo đó, hạng người thường có cho là không quan hệ mà bỏ qua đi nữa, thì những người bấy lâu đã có tông tín (conviction) về Khổng giáo chủ trương cái thuyết duy trì Khổng giáo, cũng phải vội vã đứng ra, một là binh vực cho sự tông tín của mình, hai là vệ dực cho thánh đạo, ba là phá sự cổ hoặc cho người đương thời, mới phải cho. Cái nầy từ hiền đến ngu rủ nhau làm thinh một loạt; sau khi đó rồi, có kẻ lại tỏ ý ra như tuồng mình làm vậy là đắc sách, thì tôi phải chịu, không hiểu cái lòng dạ người ta là thế nào! Nếu anh nhà nho công kích Khổng giáo đó mà công kích phải lẽ, thôi chẳng nói làm chi; ví bằng anh ta công kích bậy mà lại dùng lối văn chín chắn, tài liệu dồi dào, đến nỗi ông Phạm Quỳnh phải khen, thì tôi tưởng, chẳng nhiều thì ít, thế nào cũng có hại cho thế đạo nhân tâm chớ. Vậy mà cứ nguội lạnh là nguội lạnh làm sao?

Tôi thấy đám trẻ con chơi với nhau, đến lúc đổ quạu, một đứa đứng ra một phía, lấy lời vô lễ mà xỉ mắng mấy đứa kia. Mấy đứa nầy thiệt hành cái chủ nghĩa tiêu cực phản kháng, ra hiệu lịnh cho nhau rằng: “Nó nói gì kệ nó, mình cứ bịt lỗ tai, chẳng thèm nghe!” Chúng nó bảo nhau thế nào, làm y như thế. Đứa kia nói một chặp, mỏi miệng rồi thôi. Khi ấy mấy đứa làm thinh ban nãy đó mới rập nhau xỉ vào mặt đứa ấy mà nói rằng: “Lêu lêu mắc cỡ! Lêu lêu mắc cỡ!”

Quái làm sao! câu chuyện nói trên kia mà lại tình cờ giống với cái trò trẻ con nầy!

Trời ôi! nhà nho ấy chẳng phải ai đâu lạ, chính thị là tôi đây. Mà nếu còn có ai nữa thì tôi là một. Phạm quân nói nhà nho trổng mà không kêu tên, ấy là vì cái tên tôi không đáng làm dơ ngòi bút của Phạm quân hay là vì người sợ tôi “mắc cỡ” tội nghiệp mà dấu tên đi, thì tôi không biết.

Năm ngoái tôi có viết cả thảy 21 bài nói về ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta, đăng trong báo Thần chung, từ ngày 3 octobre cho đến 18 novembre 1929. Sự độc giả nguội lạnh đối với những bài ấy có đến như Phạm tiên sanh nói chăng, thì tôi không được biết cho chắc; song trước sau vỏn vẹn chỉ có một bài gởi tới phản đối, cũng có đăng ở Thần chung(**), mà tôi đã thú thiệt, không hiểu tác giả ý muốn nói những gì. Vì vậy đương khi toàn văn của tôi chưa hết mà tôi cũng bắt chước đứa con nít nói trên đó, mỏi miệng rồi thôi.

Chẳng đợi đến bây giờ có Phạm tiên sanh nói, tôi mới biết; cái sự nguội lạnh ấy tôi đã đoán trước rồi. Trong bài thứ 21, là khi tôi đã ngã lòng toan gác bút, tôi có viết một đoạn rằng:

“Nước Tàu còn có năm ba bọn trung với Khổng giáo, gặp cơn nguy biến, ra tay chống chỏi, hết phương nầy, tìm phương khác, tuy không kéo lại được mà cũng còn tỏ cho thiên hạ biết trong Khổng giáo vẫn có người. Đến nước ta thì hết chỗ nói! Khổng giáo ở nước ta trong khi gặp văn minh Âu châu, hình như nó nằm sát rạt xuống, vừa khóc vừa rên, vừa ngửng đầu lên coi chánh phủ. Chánh phủ có để khoa cử thì cứ thi đậu làm quan chơi; chánh phủ bỏ khoa cử thì cũng đau lòng mà khóc rên chút đỉnh; nhưng đến khi chánh phủ lập trường bắt học chữ Pháp thì lại lau nước mắt mà cứ việc học, mong cho tốt nghiệp đặng làm quan. Rồi đến ngày nay đây, có kẻ ngỗ nghịch là tôi, dám ra đương trường chỉ trích Khổng giáo, – để rồi coi, giạc chừng như – cũng không ai thèm nóng mặt mà ra miệng hết. Ừ, nó nói ông Khổng Tử chớ nó có nói chi mình đâu, nó có động đến bát cơm của mình đâu mà hòng ra miệng! Không dám dối độc giả, tôi viết đến đây bỗng dưng hai hàng nước mắt tôi trào ra trên giấy. Không phải tôi khóc vì Khổng giáo điêu tàn; nhưng tôi khóc, một là vì cái kẻ chỉ trích Khổng giáo lại là tôi; hai là vì ngó thấy cái tình đời bạc bẽo!”

Sự nguội lạnh đó, theo như tôi đã kể ra trong đoạn trước, thì quả là do mấy nhà “học phiệt” tạo ra. Nếu còn bởi các cớ khá nữa, thì cái cớ mấy nhà “học phiệt” chuyên chế dư luận cũng là một cớ lớn, họ phải chịu một phần trách nhiệm lớn trong sự đó.

Khi tôi viết bài bình phẩm cuốn sách Nho giáo, trong anh em đã có người e cho tôi lại “mắc cỡ” chuyến nữa, nhưng tôi cũng cứ đánh bạo mà làm. May quá! Trần tiên sanh khứng viết ra mà thương xác sự học vấn cùng tôi; cái tên tiên sanh tôi quý trọng bao nhiêu, thì cái bài ấy tôi cũng quý trọng bấy nhiêu; quả là “vàng”thật!

Về phương diện lý thuyết của cái bài tiên sanh trả lời cho tôi đó, tôi xin để rồi sẽ nói đến. Nay chính tôi và cũng xin đại biểu cho những anh em có học vấn ít nhiều mà cùng tôi đồng ý kiến, ngỏ lời cảm tạ Trần tiên sanh về sự người đã có ý tốt, mở cái đường thương xác về sự học cho chúng tôi và hết thảy mọi người trong nước Việt Nam sau nầy.

Nhơn đó tôi dám lấy tư cách một nhà học giả tầm thường, không có cái bằng cấp nào hết, chỉ có cái óc tự do độc lập, lấy chơn lý làm thầy, không thần phục dưới quyền đạo giáo nào hay là thánh hiền nào, viết một cách thiệt nghiêm cẩn ra ở đây mấy lời, để cảnh cáo các nhà “học phiệt” nước ta mà trong đó, tôi đã cử một Phạm Quỳnh tiên sanh ra làm đại biểu.

Học thuật của nước ta xưa nay chỉ có cái hư danh mà thôi, chớ coi đi coi lại, đem mà so sánh với các nước, thì thấy ra tầm thường quá. Nước Việt Nam nầy mà gọi được là có học thuật, hoạ từ nay về sau chăng. Sự đó, cái trách nhiệm ở chúng ta, là những kẻ có học mà ở vào cái thời đại văn hóa Đông Tây giao hội với nhau nầy.

Chúng tôi muốn rằng trong nước ta từ rày về sau, nên lần lần bỏ hẳn cái danh từ Nho hoc và Tây học mà lập ra một nền học thuật mới, kêu là nền học thuật Việt Nam; nó sẽ đứng với nước ta đời đời: nước còn có thì học thuật còn có; học thuật còn có thì nước còn có. Ấy là một cái khí giới chúng tôi định sắm ra để cầm giữ tổ quốc và đưa đồng bào lên đường tấn hóa, hầu theo kịp loài người trên thế giới trong cõi đại đồng ngày nay.

Trên đây nói “chúng tôi muốn, chúng tôi định”, chẳng qua là để tỏ ra cái ý kiến của một bọn người chúng tôi mà thôi. Bên các ông, những người mà chúng tôi kêu là “học phiệt”, chắc cũng có cái ý kiến như chúng tôi đó, vì thấy có người đã tỏ ra trong khi luận về sự học.

Vậy thì hai bên, cái ý kiến đại để đồng nhau; có khác nhau, chỉ là cái thái độ. Chúng tôi thì muốn, về sự học, phải cho ngôn luận được công khai. Còn các ông, theo như cái thái độ đã vẽ ra trên kia, thì hình như muốn chuyên chế.

Chúng tôi cho cái thái độ ấy ở trong việc gì thì hoặc giả còn được, chớ ở trong học giới thì nhứt định không có thể được. Cái lẽ tại sao mà không được, đã nói rõ trên kia rồi. Vậy bây giờ chúng tôi yêu cầu các ông phải bỏ hẳn cái thái độ ấy đi. Nghĩa là từ nay về sau, về sự học, khi có ai nghi ngờ những điều các ông chủ trương mà chất vấn hoặc công kích, thì các ông phải trả lời minh bạch, phải thì nói phải, quấy thì nói quấy.

Chúng tôi nhìn các ông là bậc túc học; nếu các ông chịu đem ý kiến mình trao đổi với mọi người, thì sự ích cho các ông chưa nói, mà phần chắc là có ích cho cả xã hội. Nếu các ông còn giữ thói cũ, thì xã hội đã không được ích, mà tập theo các ông, lại thành ra cái phong tục nguội lạnh nữa. Sự nguội lạnh ấy, tôi đã cho là cái lương tâm tê điếng; mà theo Trang Tử thì là cái lòng đã chết, chẳng có gì đáng buồn rầu hơn! (Ai mạc đại ư tâm tử).

Lần nầy là lần thứ nhứt mà tôi đem cái chánh nghĩa ra thưa cùng các ông như vậy; rồi mới tới dưới nầy là cái ý cảnh cáo.

Các ông đành là bậc túc học, cái công nghiệp của các ông ở trong học giới nước ta đành chẳng phải là nhỏ. Song cái thái độ ấy của các ông, hôm nay đã có nhiều người không phục, có ngày họ sẽ nổi lên mà phản đối.

Tôi biết trong ba kỳ mỗi nơi đã có ít nữa là một người học vấn rộng rãi, có đức, có tài, có thức, chẳng kém các ông là mấy. Những người ấy đều khuynh hướng về cái bình dân chủ nghĩa, họ muốn sự học vấn được phổ cập, nên thế nào họ cũng sẽ đứng dậy mà đánh đổ cái kiểu học phiệt của các ông. Sự ấy chưa xảy ra là vì họ đương nuôi cái thế lực bằng học thức của họ cho thật mạnh đã. Chẳng sớm thì chầy, trong nước Việt Nam nầy cũng sẽ có một cuộc chiến tranh về tư tưởng. Trước mặt các ông, tôi không nói dối.

Cái chỗ tôi đem mà cảnh cáo các ông là chỗ đó. Tùy các ông muốn làm như Diêm Tích Sơn, Trương Học Lương thì làm, hay là muốn làm như Ngô Bội Phu, Đoàn Kỳ Thụy thì làm.

Tôi đây, chưa phải là kẻ phản đối các ông đâu. Tôi chỉ là một viên tiểu tướng của đạo quân bình dân tư tưởng đi trước dẹp đường, và luôn thể báo hiệu cho các ông mà thôi.



PHAN KHÔI

Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.62 (24.7.1930)

Trung lập, Sài Gòn, s. 6206 (26.7.1930); s.6207(28.7); s.6208 (29.7); s.6209 (30.7.1930).




(1) Xin lỗi độc giả, chỗ nầy tôi dẫn sách mà không nói rõ sách nào, lời ai nói, là vì lâu nay tôi ít ôn nhuần nên tôi quên xuất xứ, mà trong tay cũng không sẵn sách để tra lại. Câu nầy tôi nhớ như ở kinh Dịch thì phải. Lại xin độc giả cũng biết cho rằng khi nào tôi dẫn sách như vậy là đã suy đi nghĩ lại câu sách ấy mà nhận cho như là một cái công lệ rồi, tôi mới dẫn vào; chớ không phải hễ tôi thấy lời ông thánh thì tin là phải mà dẫn vào đâu.

(*) xoang: H.T. Paulus Của (sđd) giải là: “đụng nhằm, tuông phải”; vậy “xoang cỡ tuổi…” có thể được hiểu là: vào trạc tuổi, vào lứa tuổi.

(2) Nguyên văn: En Annam, la vague de défaveur est plutôt une vague d’indifférence… Et si dernièrement un lettré Annamite, emboitant le pas à ses confrères de la “jeune Chine” a essayé de faire le procès de Confucius et du Confucéisme, il ne semble pas qu’il a beaucoup intéressé ses lecteurs: personne ne l’a ni approuvé ni contredit et je doute fort que ses articles, ecrits pourtant avec un louable souci de style et de documentation, aient eu autant de lecteurs que le moindre petit entrefilet relatif aux exploits de deux champions de tennis promus par toute la presse progressiste au rang de héros nationnaux (nguyên chú của Phan Khôi).

(3) Nguyên văn: Le sage de Khu-fou parait loin, bien loin dans l’espace et le temps, lui qui naguère encore animait de ses enseignements et de ses préceptes toute la vie morale et spirituelle de ce pays (nguyên chú của Phan Khôi).

(**) Đó là bài của Hoành Sơn: Đôi lời về Khổng giáo bàn cùng Phan Khôi tiên sinh đăng 9 kỳ báo Thần chung từ 6.1.1930 đến 12.2.1930.



Phụ lục: Phạm Quỳnh: TRẢ LỜI BÀI "CẢNH CÁO CÁC NHÀ HỌC PHIỆT" CỦA PHAN KHÔI TIÊN SANH

28/06/2007

Phan Khôi -Phê bình lãnh đạo văn nghệ

Giai phẩm mùa Thu 1956 - Tập I

I.
Lời nhà xuất bản

Để góp phần vào việc chuẩn bị Đại hội Văn nghệ Toàn quốc, để phát huy và đẩy mạnh tự do sáng tác văn nghệ theo phương châm trăm hoa đua nở, chúng tôi xuất bản tập Giai phẩm mùa Thu gồm có nhiều bài của nhiều tác giả bản sắc khác nhau, khuynh hướng khác nhau. Mỗi tác giả chịu trách nhiệm bài viết của mình. Trên tinh thần này, nhà xuất bản thiết tha mong các bạn văn nghệ sĩ cộng tác đông đảo.

Nhà xuất bản Minh Đức


Phan Khôi
Phê bình lãnh đạo văn nghệ

Ngày 14 tháng 7 trước đây, một anh bạn trẻ đến với tôi, ngỏ ý muốn tôi viết một bài cho tập Giai phẩm mùa Thu, tôi nhận lời, và viết cái bài nầy.

Tôi không phải không nhớ nhập tâm rằng cái Giai phẩm mùa Xuân đã gây ra một cảm giác nặng nề cho giới văn nghệ, nhưng mà tôi cứ viết. Là vì tôi nghĩ thấy mùa thu không thể giống được với mùa xuân. Thầy Mạnh Tử nói rằng “Bĩ nhất thời dã, thử nhất thời dã”. “Thời” là mùa thu, mùa nào tiết khí ấy, mà cũng mùa nào thức ấy.

Huống chi anh bạn trẻ có cho tôi biết rằng Giai phẩm mùa Thu sắp in ra là để góp một phần nhiệm vụ chuẩn bị và xây dựng cho Đại hội Văn nghệ Toàn quốc tháng 11 sẽ tới, tôi cũng muốn đóng góp chút ít cái nghĩa vụ ấy, thì đó là dịp tốt cho tôi viết.

Lại huống chi cái tôi viết đây là bằng văn xuôi, có chi nói nấy, nói toàn những sự thực, tôi không làm thơ, trong đó không có cái gì nhiêu khê, bí hiểm, như “cái bình vôi” của Lê Đạt, “con chó đói” của Trần Dần, “cái chổi quét rác rưởi” của Phùng Quán, nó như ruột voi, như phổi bò, suôn đuồn đuột mà xốp xồm xộp, ai đọc cũng thấy ngay tôi nói gì, khỏi phải hiểu ý nầy ra ý khác thì tôi tưởng tôi nên viết lắm.

Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng “có những cái sự thực không nên nói”. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?

Tôi muốn phê bình. Nhưng có người lại bảo rằng “phê bình nội bộ thì được, không nên viết trên sách báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc ra”. Tôi cũng không tin. Cái thời kỳ “đóng cửa dạy nhau” đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi dẫn cho, thì không thể giải quyết nổi. Vả lại, đã nhận rằng ăn của nhân dân, làm việc cho nhân dân, nhân dân là chủ, có quyền kiểm tra mọi việc, thì sao lại cứ giấu im ỉm với nhau, không cho nhân dân biết?

Còn như sợ “bên địch xuyên tạc” thì chỉ là cái cớ mượn để mà giấu im ỉm. Bên địch hà tất đợi đến có cái gì mới xuyên tạc? Chó sủa hà tất phải có bóng người đi qua. Đã là bên địch thì nó cứ dựng đứng chuyện lên, tôi thử kể ra đây một mẩu. Tháng tư năm ngoái, tôi đi vào khu V, nghe đồng bào thuật lại rằng trước đó độ một năm, lúc thủ tướng Phạm Văn Đồng đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ, đài phát thanh Sài Gòn nói rằng “đó là tại Hoàng Minh Giám, bộ trưởng ngoại giao, đã bị thủ tiêu rồi nên Phạm Văn Đồng lên thay”. Thật, ông nào nói “bên địch xuyên tạc” cũng nên khen ông ấy là tử hơn bên địch lắm lắm vậy.

Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập lên đã 12 năm rồi, vững như trồng rồi, được cả nhân dân toàn quốc tín nhiệm rồi, tha hồ cho đứa nào vu cáo, đặt điều nói xấu, cũng không còn sợ thay, nữa là thứ đồ xuyên tạc.

Bây giờ chúng ta làm gì? Đành rằng chế độ của chúng ta là tốt, nhưng chúng ta đây là ai? Chúng ta đây là những người từng sống dưới chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc hoặc nhiều hoặc ít, những tư tưởng xấu xa tiêm nhiễm của chế độ xấu xa ấy còn rớt lại trong đầu óc chúng ta hoặc ít hoặc nhiều. Do đó sinh ra những hiện tượng xấu xa mà chúng ta chỉ có bịt mắt lại mới không thấy. Bây giờ chúng ta phải bạo gan nhìn thẳng vào những cái hiện tượng đen tối ấy, vạch trắng nó ra, yêu cầu nhau sửa chữa. Sửa chữa đến tận gốc tư tưởng. Có như thế, chế độ của chúng ta mới tốt đẹp thêm, bền vững thêm, chúng ta mới xứng đáng là người mác-xít, là người cộng sản chủ nghĩa, là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta muốn “củng cố miền Bắc” à? Tôi tưởng đó là một việc trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa cũng như phát triển kinh tế để củng cố miền Bắc.

Bởi những lẽ đó, tôi viết bài nầy phê bình lãnh đạo văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, cái cơ quan mà tôi sống trong đó tám chín năm nay từ khi nó mới bắt đầu thành lập ở Việt Bắc tới giờ, và phê bình rất thẳng thắn.

Hồi còn ở Việt Bắc, đường lối văn nghệ có vẻ giản đơn lắm. Tóm lại là theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hiện thực xã hội để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ cho cuộc kháng chiến trước mắt. Những người công tác văn nghệ lúc bấy giớ có làm đúng và đầy đủ như thế không, chưa nói đến; một điều có thể nói chắc là ai nấy đều cố gắng đi theo đường lối ấy. Đối với lãnh đạo, họ có thắc mắc gì không? Hầu như không có thắc mắc gì cả. Nếu có thì cũng đã chín bỏ làm mười, vì trong thời gian đó, cái vĩ đại, cái gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến ngập trên người họ, họ đang để lòng mà nghĩ đến kháng chiến, không nghĩ đến chuyện khác.

Ở đây tôi không đi sâu hơn, không đi tìm cái cớ tại làm sao mà sau khi thắng lợi trở về thủ đô, lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc đối với lãnh đạo; tôi chỉ đưa ra cái hiện tượng không tốt ấy sau khi trở về Hà Nội hai năm nay.

Thình lình tôi dùng cái danh từ “quần chúng văn nghệ” chắc có người thấy mà lấy làm chướng mắt. Nhưng không dùng thì không lấy gì đủ chỉ rõ một cái hiện tượng: cái hiện tượng đối lập, một bên là lãnh đạo văn nghệ, một bên là quần chúng văn nghệ. Trước kia, trong thời kháng chiến, lãnh đạo với thứ quần chúng ấy là một, mà bây giờ là hai. Thêm một điều đáng chú ý, là cái thứ quần chúng ấy, hiện nay, không chỉ là văn nghệ sĩ theo kháng chiến ở Việt Bắc, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng Nam bộ, ở khu V ra tập kết nữa, một thứ quần chúng khá đông đảo, hễ lãnh đạo không khéo thì nó dễ thành ra đối lập.

Ở dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường… Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải đi đến không đối lập, hễ còn có đối lập, là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.

Sở dĩ có cái hiện tượng ấy là bởi trong lĩnh vực văn nghệ chúng ta hai năm nay có những điều sai lệch về lãnh đạo mà tôi sẽ cử đại khái ra như dưới đây. Đây là những việc nổi bật lên, tôi thấy rõ thì tôi nói; còn những việc khác, về mặt tổ chức, về mặt hành chính tôi không biết cho lắm thì tôi không nói.


I. Về vấn đề tự do văn nghệ sĩ

Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc tọa đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da.” Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.

Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.

Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.

Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân, anh là một họa sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những cái bếp đổ vì bom đạn. Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. Ở Triển lãm Hội họa năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.

Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có thể bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.

Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc như bên địch.

Sau khi về Hà Nội mấy tuần lễ, có một cuộc họp mặt văn nghệ sĩ với mấy đồng chí văn nghệ Liên-xô. Một đồng chí nói rằng mình vì không đọc được tiếng Việt cho nên không biết văn học Việt như thế nào, chứ còn mấy ngành khác như nhạc, họa, kịch đều thấy có tiến bộ cả. Nhân đó, tôi phát biểu ý kiến, đại khái tôi nói văn học Việt vì những điều kiện nào đó hạn chế, nên hiện thời nó còn thấp kém lắm, chưa theo kịp sự tiến bộ của mấy ngành kia. Lại, trong một cuộc họp khác sau đó, nói về âm nhạc, có mấy người đề cao nhạc cổ Việt Nam. Tôi tuy dốt âm nhạc chứ cũng biết rằng nhạc cổ của ta không cao đến cái mức ấy, bèn lại phát biểu ý kiến. Tôi thuật lại chuyện nghe ở người khác rằng có một nghệ sĩ nước bạn phê bình điệu hát chèo, trong đó đệm nhiều những “a ý a”, “tình tính tang”, còn đeo tính chất nguyên thủy. Mấy hôm sau, tôi gặp ông Hoài Thanh ở chỗ thang gác từng thứ hai của trụ sở Hội Văn nghệ, ông bảo rằng mấy lần phát biểu ý kiến của tôi đều đáng phê bình, nhất là lần sau, sao lại bằng vào lời một nghệ sĩ nước ngoài mà phủ định nhạc cổ? Tôi chưa kịp nói gì thì ông đã đi xuống khỏi thang gác. Tôi vào phòng riêng, nằm nghĩ mà tức lắm, không tức gì với ông Hoài Thanh mà tức với lãnh đạo. Từ đó có mặt trong cuộc họp nào tôi cũng không phát biểu ý kiến. Có anh em hỏi tôi sao không phát biểu. Tôi trả lời rằng vì không có ý kiến gì khác. Nhưng, thực ra, có ý kiến gì khác tôi cũng không thèm phát biểu. Nên nói thêm rằng tôi mong ông Hoài Thanh đưa tôi ra phê bình lắm, nhưng may làm sao không thấy đưa tôi ra phê bình, vì cái sự phê bình được coi là võ khí ấy rất hiếm có trong cơ quan chúng tôi: hai năm nay chỉ có hai lần, một lần phê bình thơ Việt Bắc, một lần phê bình bài thơ của Trần Dần mà sau đây tôi sẽ nói đến.

Đó là lãnh đạo nghiệt ngã về nói; đây là về viết.

Tháng 10 năm ngoái, tôi được cắt cử nói chuyện trong cuộc kỷ niệm Lỗ Tấn. Trước khi nói, tôi phải viết ra trình qua lãnh đạo xem. Trong bài viết, có chỗ tôi nói Lỗ Tấn thông hiểu chủ nghĩa Mác lắm, nhưng trong văn chương của ông không hề dùng những danh từ mác-xít, mỗi khi đọc, làm tôi nghĩ đến con tằm: con tằm ăn dâu rồi nhả ra tơ, nếu nhả ra dâu thì không phải là con tằm. Ông Nguyễn Tuân hỏi tôi: “Nói như thế là định viser (ám chỉ) ai?” Đề nghị tôi nên chữa. Tôi lấy làm lạ, tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai mới được; tuy vậy, tôi cứ hứa sẽ chữa. Một chỗ khác, nói về lối phiên dịch, Lỗ Tấn chủ trương trực dịch. Ông Hoài Thanh bảo tôi phải chữa, lấy lẽ rằng phiên dịch có nhiều lối, nếu lấy Lỗ Tấn làm khuôn mẫu thì Hồ Chủ tịch dịch Tỉnh ủy bí mật, không trực dịch, chẳng là không đúng hay sao? Tôi biết rõ rằng cái câu nói đó chỉ là thuật lại cái chủ trương của Lỗ Tấn, chẳng hề lấy làm khuôn mẫu, cũng chẳng hề đả động gì đến việc dịch của Hồ Chủ tịch hết, những tôi không cãi, cũng cứ hứa sẽ chữa, mà thật, tôi đã chữa ngay trong bản thảo trước mặt ông Hoài Thanh. Tôi tuy nhũn như con giun đối với lãnh đạo thể ấy, nhưng khi nói trước công chúng, tôi cứ nói theo nguyên văn của tôi, không chữa một chữ nào, vẫn không gặp sự phản ứng nào trong đám thính giả.

Đó là cái thói kỵ húy trong văn chương của thời phong kiến còn rớt lại. Thuở Thiệu Trị, ở trường thi hương Thừa Thiên, Đặng Huy Trứ vào trường thi, trong văn có câu “vi gia miêu chi hại”, nghĩa là làm hại giống mạ tốt, nhưng “gia miêu” là tên làng các vua triều Nguyễn [1] , quan trường sợ bóng sợ gió, sợ như thế có thể hiểu ra là làm hại làng của vua, bèn đánh rớt bay. Lại thuở Tự Đức, cũng trường thi Thừa Thiên, Lương Gia Hựu cũng vào trường thi, trong văn có câu “vi thiên tử chi ấp”, chữ “ấp” đó nghĩa là kinh đô, thế mà quan trường sợ có thể hiểu nôm na rằng thiên tử ôm ấp cô gái nào, cũng đánh rớt bay. Thử so sánh mà xem, có phải mấy ông lãnh đạo của tôi cũng sợ bóng sợ gió, cũng kỵ húy như mấy ông quan trường ấy không? Người ta làm cho tôi cảm thấy qua việc ấy rằng nước Việt Nam ngày xưa, triều đại là triều đại Thiệu Trị, Tự Đức, cái nguồn văn chương là Tứ thư, Ngũ kinh, còn nước Việt Nam ngày nay, cũng là triều đại gì đó, chỉ khác cái nguồn văn chương là mác-xít, chứ cái thói kỵ húy của quan trường thì không khác.

Trở lại vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”.

Thực ra thì, như trên đã nói, văn nghệ sĩ không đòi tự do bừa bãi, họ chịu ở dưới quyền lãnh đạo, chỉ duy cái vấn đề họ đặt ra là lãnh đạo phải như thế nào. Nói như thế cũng chưa hết ý. Phải nói rằng văn nghệ sĩ cũng muốn được tự do, nhưng họ chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật.

Đành rằng văn nghệ phục vụ chính trị, cho nên chính trị phải lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải hỏi: chính trị nếu muốn đạt đến cái mục đích của nó, thì cứ dùng những khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn nghệ? Trả lời cho thành thật, e chính trị phải vỗ vai văn nghệ mà nói rằng: Sở dĩ tao tha thiết đến mầy là vì tao muốn lợi dụng cái nghệ thuật của mầy. Đã cởi mở với nhau như thế rồi, văn nghệ đồng ý. Nhưng phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được, nó phải đòi tự do trong phần ấy. Như thế, tưởng chính trị cũng lấy lẽ gì mà không đồng ý. “Hai bên đều có lợi”, cái nguyên tắc ấy, ở ngày nay, nó thích dụng trong bất cứ một sự hợp tác nào.

Nhưng hai năm nay, lãnh đạo văn nghệ của chúng ta đã đi quá trớn mà không giữ đúng cái giao ước bất thành văn ấy. Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.

Trong văn nghệ, không cứ về ngành nào, sáng tác hay “sản xuất”, đều hầu như bị Ban Thường vụ của Hội xỏ sẹo dắt đi, hay quá lắm là nhúng tay vào. “Phục vụ công nông binh” và “phục vụ kịp thời”, cái đó đã đành rồi; “quần chúng văn nghệ” bực mình vì còn phải chịu mệnh lệnh của lãnh đạo ngoài những cái đó.

Tức như trước đây trong việc chấm giải thưởng về nhạc. Có một bài nhạc, Ban chấm giải (gồm những nhạc sĩ chuyên môn) đặt vào hạng thấp, thì Ban Thường vụ bảo phải nhấc lên hạng cao, lấy lẽ rằng “lời” nó hay và đúng chính sách. Ban chấm giải bầy rằng tuy “lời” hay mà “nhạc” tầm thường nên để hạng thấp, nhưng không được, rốt lại cũng phải nhắc lên hạng cao. Một anh nhạc sĩ trong Ban chấm giải thuật chuyện ấy cho tôi nghe và phàn nàn rằng thế thì làm thơ làm văn cho hay và đúng chính sách cũng được, việc gì phải làm nhạc và phải giao cho nhạc sĩ chấm? Tôi cho phàn nàn như thế là có lý lắm, trừ ra khi nào Ban Thường vụ cũng là nhạc sĩ chuyên môn thì vấn đề còn phải thảo luận lại.

Để rồi đến ngày Đại hội, trong mỗi ngành sẽ có người đứng lên nói những sự thực như thế ra. Tôi ở ngành văn, tôi đã kể một chuyện về viết như trên kia cũng đủ thấy là khó chịu rồi. Cái sự bẻ bai bẻ họe của bà già đối với nàng dâu, hà tất phải kể ra hàng tràng, thiên hạ mới biết.

Ông Nguyễn Tuân và ông Hoài Thanh đều là nhà văn nổi tiếng, tôi không nói các ổng không có thẩm quyền về nghệ thuật viết văn. Nhưng các ổng có nghệ thuật của các ổng, còn tôi có nghệ thuật của tôi. Trong nghệ thuật ngụ cái cá tính của mỗi người một khác, do đó nghệ thuật tính của văn nghệ của mỗi tác giả một khác. Có thế thì mới có được cái quang cảnh “trăm hoa đua nở”. Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết.

Mà nếu cứ thế nầy mãi, than ôi, cái ngày ấy cũng chẳng xa đâu!

Cái tác phong lãnh đạo ấy hiện đã truyền nhiễm khắp Hà Nội rồi. Một tòa soạn nào đó cũng có quyền chữa bài của tôi, vứt bài của tôi. Mà phải chi đáng chữa mà chữa, đáng vứt mà vứt cho cam. Mới đây, trước ngày 20 tháng 7, có một nhà báo – giấu làm gì? Nói ngay là nhà báo Tổ quốc – nhà báo Tổ quốc viết thư cậy tôi viết một bài. “Viết một bài về chuyện miền Nam”, như thế là đã “ra đề” cho tôi “làm bài” đó, tưởng cũng đủ lắm rồi. Trong thư, ông đại chủ bút còn “dàn bài” cho tôi nữa: những là “yêu cầu” thế này, “mục đích” thế nọ, và hạn từ một ngàn rưởi chữ đến hai ngàn chữ. Tôi lấy làm đau xót quá (có lẽ đó vì tôi tự ái, đáng kiểm thảo), bèn kiếm cách từ chối. Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu! Ở thời cụ, cụ đã kêu:

Ở đây nào phải trường thi

Ra đề, hạn vận một khi buộc ràng?

thế mà đến ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta còn ra đề, dàn bài, lại hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi còn làm ăn gì được nữa cụ ơi! Tôi còn là tôi đâu được nữa cụ ơi!


II. Về vụ Giai phẩm mùa Xuân

Lãnh đạo như thế cho nên mới có tập Giai phẩm mùa Xuân. Nói cho tiêu tội, mấy người viết Giai phẩm mùa Xuân, họ vốn không hề cho tôi biết gì cả, nhưng khi tôi đọc thì tôi – có lẽ như tục ngữ nói: voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa, tôi biết ngay là vì họ bất bình với lãnh đạo

Sáng hôm mùng Một Tết âm lịch năm nay, ông Tố Hữu đến chơi trụ sở Hội Văn nghệ. Giữa anh em đông, ông hỏi ý kiến tôi về tập Giai phẩm mùa Xuân. Tôi nói trong đó chỉ có bài thơ của Trần Dần nói lôi thôi, có hơi không lợi; còn của Phùng Quán, của Lê Đạt, tôi thấy nói đúng đấy. “Chống công thức”, “quét rác rưởi tư tưởng” là việc chúng ta cần phải làm. Có điều cái gì là công thức, cái gì là tư tưởng rác rưởi, chẳng những nên bảo họ nói rõ ra, mà còn nên bảo họ viết lên báo cho rõ ra. Ông Tố Hữu nói một câu có đông anh em cùng nghe: “Giấy mực đâu mà phí để cho họ viết?”. Thế rồi làm thinh. Tôi làm thinh, nghĩa là tôi trải đời nhiều rồi, tôi tròn lắm rồi, tôi không dại dột đến nỗi đã thế rồi mà còn cứ nói nữa.

Mấy hôm sau, nghe nói tập sách mỏng ấy bị thu về, tôi cho rằng sự thu về ấy là thất sách. Sao lại phải làm to chuyện cái chuyện không đáng làm to? Sao lại gợi cho những kẻ hiếu kỳ lén lút tìm mua tập sách ấy 3000đ một tập mà đọc? Sao lại làm như là sợ nó? Ở Trung Quốc, Hồ Phong nói xấu lãnh đạo văn nghệ đến thế, mà “ba sắp tài liệu” của Hồ Phong vẫn được công bố ra, cả đến cái ý kiến thư của hắn cũng được công bố ra, chẳng ai hề sợ.

Thế rồi một ngày xuân mới, ánh mặt trời ấm áp, tối lại, có mấy hạt mưa phùn để giúp cho những cây rụng lá mùa đông nứt lộc ra, thì ở trụ sở Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà ký thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi tội độc một Trần Dần thôi, là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa lũ người trong Giai phẩm, cái ngón ấy đã thành công. Hết thảy có độ một trăm rưởi người, trong đó có vài chục người đứng lên nói, đại khái giống nhau và kết luận là Trần Dần có tội. Không phải không có những người thấy rằng Trần Dần dù có tội cũng không đến to như thế, nhưng mà họ đã làm thinh.

Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ.

Rồi đến ông Hoài Thanh viết một bài trên báo Văn nghệ, bằng giấy trắng mực đen, ghép Trần Dần vào tội phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta [2] .

Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “ba sắp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “đảng nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?

Tuy vậy, Trần Dần còn có phúc hơn cậu cử Nguyễn Thuyên con trai cụ lớn Tiền quân Nguyễn Văn Thành nhiều lắm. Trần Dần với bài thơ hàng hơn năm trăm câu mà chỉ mang tiếng là phản động thôi, không như cậu cử Thuyên, bài thơ chỉ có 56 chữ, ý tứ vu vơ, mà bị chết chém, và còn liên lụy đến anh em, bè bạn, liên lụy đến ông cụ bố phải uống thuộc độc mà chết. Trong chỗ đó, tôi thấy thời đại dân cộng hòa dân chủ rộng rãi đối với văn nghệ hơn thời đại chuyên chế triều Gia Long rất nhiều.

Cuối cùng, ông Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn báo Văn nghệ viết liên tiếp ba bài đại cà sa phê bình tập Giai phẩm mùa Xuân. Sau khi ba số báo in ra xong, ông Thi đư cả cho tôi xem và hỏi ý kiến tôi đối với ba bài ấy.

Đọc xong sau một hôm, hai chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi bảo ông Thi rằng ông đặt sai vấn đề. Vấn đề Giai phẩm là vấn đề lãnh đạo, chứ không phải vấn đề quần chúng. Tôi phân tích rõ ràng cho ông thấy rằng tại lãnh đạo văn nghệ có thế nào cho nên quần chúng văn nghệ mới bất bình mà phát biểu ra như thế. Ví dầu trong sự phát triển của họ có lầm lỗi cũng còn là cái ngọn, mà cái gốc, phải tìm đến ở chỗ do lãnh đạo gây ra. Thế mà cả ba bài của ông Thi không có một chữ nào đụng đến lãnh đạo hết, chỉ đổ lỗi cho mấy người viết trong Giai phẩm, thế là không công bình, thế là quá đáng. Khi viết đây, tôi ngồi dưới ngọn đèn điện 20 nến, tôi nói có mặt đèn làm chứng, ông Thi nhận cho lời tôi nói là đúng, hứa sẽ viết phê bình lãnh đạo, nhưng mãi tới nay chưa thấy viết.

Đọc trong bài thứ nhất của ông Nguyễn Đình Thi, đến chỗ ông nói mấy người trong Giai phẩm là “cả vú lấp miệng em”, làm tôi nhớ lại một vài chuyện cũ mà tủm tỉm cười một mình. Năm 1920, tôi làm thư ký kiêm kế toán cho công ty Bạch Thái ở Hải phòng, tôi thấy ông Bạch Thái Bưởi bóc lột công nhân làm tàu của ông rõ ràng, thế mà một hôm ông chỉ vào mặt các anh làm tàu mà nói rằng: “Chính chúng mầy bóc lột tao”; năm 1930 hay 1931 gì đó, tôi viết báo ở Sài Gòn, biết thực dân Pháp khủng bố cộng sản dã man hết sức, thế mà trên báo Tây, chúng gọi Xô viết Nghệ An là “khủng bố đỏ” (terreur rouge). Nghề thế, hễ mình muốn người khác đừng nói đến cái tật xấu của mình, thì mình đem ngay cái tật xấu ấy đổ trên đầu người khác để đấm họng họ cho câm đi. Chính ông Nguyễn Đình Thi “cả vú lấp miệng em” cho nên ông bảo trước rằng bọn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt là “cả vú lấp miệng em”. Thực ra thì bọn nầy có “vú” đâu mà “cả”, vả lại họ cũng không có ai là “em” họ hết.

Một tối họp buộc tội, không có một lời nào cãi lẽ; bốn bài báo buộc tội, không có một chữ nào trả lời: quả nhiên “miệng” đã bị “vú lấp” rồi. Đó là cái cơ hội cho một việc gì xảy ra.


III. Về vụ giải thưởng văn học 1954-1955

Sau khi giải thưởng nầy tuyên bố, ở đâu thì không biết, chứ ở Hà Nội, dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải. Nói như thế, có thể bị coi là nói vu vơ, không có bằng chứng. Nhưng muốn có bằng chứng cũng không thể có được, vì cả nước chỉ có một tờ báo Văn nghệ có thể đăng những bài phê bình văn nghệ, mà là của Hội Văn nghệ, thứ dư luận ấy có muốn phát biểu cũng không phát biểu vào đâu. Tuy vậy, bằng chứng cũng không phải toàn không có. Dạo trước, tờ Trăm hoa có ba bài của ba người công kích tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu, nhưng khốn nỗi, nó ra đến bài thứ ba thì nó chết. Dù vậy, tôi thấy dư luận ấy là quả có, chẳng tin, ai thử làm một cuộc trưng cầu ý kiến mà xem.

Chính tôi là một người ở trong Ban Chung khảo chấm giải, tôi đã biểu tình với thứ dư luận ấy trước khi nó xôn xao, nghĩa là trước khi tuyên bố kết quả giải thưởng.

Ban Chung khảo có mười người, tôi là một. Tôi quên lửng, không biết do ai công cử hay chỉ định, khi nhận được giấy triệu tập thì cứ di dự vào, làm việc, lãnh tiền thù lao, nhưng khi việc xong thì tôi đâm ra trách mình một cách bâng quơ: phải chi mình đừng dự vào đó thì hay.

Tác phẩm của mỗi ngành trong văn học, như thơ, tiểu thuyết, kịch bản… sau khi chuyền cho nhau đọc rồi, về mỗi ngành có một buổi họp toàn ban để bình định thứ bậc. Trong khi bình định, hễ đồng ý với nhau thì thôi, bằng có mâu thuẫn thì biểu quyết bằng lối giơ tay, “thiểu số phục tùng đa số”.

Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu? Nhưng cả ban làm thinh, tự hồ ai cũng hiểu những câu ấy, không ai tỏ đồng ý với sự chỉ trích của tôi. Tôi còn cử ra những câu tầm thường quá, không xứng đáng là thơ, và nói rằng thơ Xuân Diệu ngày nay trở kém thơ Xuân Diệu ngày trước. Một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? May mà một ông khác (quên là ai) lập tức đưa tay ngăn cản lại, nói đó không phải là cái luận cứ vững, đừng đưa ra. Nhưng đồng thời tôi trót đã vọt miệng thốt ra câu này: Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu, thật như đức Khổng tử đã dạy rằng: “Ngựa tứ chẳng kịp lưỡi”. Cũng vì tôi nên có sự mâu thuẫn, phải biểu quyết, thì tôi đứng về thiểu số, mà nhớ hình như thiểu số tuyệt đối.

Hôm khác bình định về tiểu thuyết. Tôi phản đối Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng đứng giải nhì. Tôi cử ra sáu bảy chỗ, kết luận rằng cái tiểu thuyết này nhiều chỗ không giống với sự thực, trái với chủ nghĩa hiện thực bước thứ nhất, nếu nó được giải cao thì khi ngoại quốc dịch nó ra, nhất là khi bên địch đọc nó, bất lợi cho văn học của chúng ta. Cả ban không ai bác lại lời tôi, tuyệt nhiên không có một người nào bác lại tôi, nhưng thế nào không biết, cuối cùng cũng phải biểu quyết, và tôi vẫn đứng về thiểu số, và lại là thiểu số tuyệt đối.

Đến khi việc đã xong rồi, Ban Chung Khảo không còn có buổi họp nào nữa rồi, tôi mới tiếp được hai tác phẩm về ký sự, đều đứng giải ba, có thông tri bảo đọc và cho ý kiến. Tôi thấy cái Nam bộ mến yêu của Hoài Thanh chỉ là bài viết chạy như bài đăng trên báo, không có gì là giá trị văn học, còn cái Lên công trường của Hồng Hà viết có công phu hơn. Tôi nhớ ra mình đã từng hạ hai tác phẩm của hai ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng xuống mà không được, bây giờ không còn có đủ sức bướng để mà hạ của ông Hoài Thanh xuống nữa, bèn viết một mẩu giấy đề nghị đưa Lên công trường lên giải nhì. Nhưng mẩu giấy ấy về sau chìm đi đâu mất, không ai nhắc đến.

Sau có một buổi họp giữa những người chấm giải với những người được giải. Đáng lẽ, một buổi họp như thế, thế nào Ban chấm giải cũng phải gợi cho những người được giải có thắc mắc gì thì nói ra. Bởi vì bây giờ không phải như thời phong kiến chấm trường thi, quan trường ăn tiền lấy đỗ bậy bạ rồi ai rớt nấy chịu. Nhưng mà không thấy đả động gì đến việc ấy. Gần rốt buổi họp tôi mới đề nghị xin cho nói thắc mắc. Thế rồi có mấy người nói thắc mắc của họ [3] . Cuối cùng tôi cũng đưa ra thắc mắc của tôi về cái sự hai lần bị đứng về thiểu số như đã nói trên. Tôi nói quả quyết rằng mặc dầu tôi đứng về thiểu số, chứ cái sự định đoạt ấy của đa số, tôi cho là không đúng, tôi nhất định không phục. Trong những người được giải, có một người đứng lên phát biểu ý kiến, lấy làm lạ rằng sao trong Ban Chung khảo không nhất trí với nhau, xong việc rồi lại còn có người đưa ra thắc mắc? Tan buổi họp, tôi nghĩ mà cũng lấy làm lạ rằng sao cái ông lấy làm lạ đó lại không ở trong Ban Chung khảo?

Đến hôm phát giải thưởng ở Câu lạc bộ Đoàn kết, ban tổ chức đề nghị tôi làm một người trao giải. Tôi từ chối. Tôi sợ rằng trong khi trao giải hoặc rủi mà tôi gặp phải trao ba cái giải mà mình phản đối thì khổ cho mình. Khi tuyên bố ba cái giải mà tôi phản đối ấy tôi nhất định không vỗ tay. Tôi nhất định tỏ thái độ phản đối đến cùng.

Hôm thượng tuần tháng 6, tôi nằm trong Bệnh viện C, thấy mấy anh bộ đội đọc tập thơ Người chiến sĩ của Hồ Khải Đại mà chê rằng dở quá, tôi bèn mượn xem thì thấy quả thật là dở quá. Thế mà nó được giải ba văn học. Tập thơ nầy, tôi ở trong Ban Chung khảo chưa hề thấy mặt nó, sau cùng chỉ nhận được thông tri nói nó nguyên ở giải khuyến khích, nay tương lên giải ba. Ai tương lên? Thế có lạ không?

Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào. Lâu mà không thấy mấy người viết. Tình cờ tôi hỏi một ông, ông trả lời: “Khó viết quá”. Câu trả lời đúng hết sức: lấy nó trúng giải thì dễ, chứ viết để tuyên truyền cổ động cho nó thì phải khó.

Cho đến hết tháng bảy mà chỉ có hai bài phê bình trên báo Văn nghệ. Một bài ông Hoàng Xuân Nhị (một trong Ban Chung khảo) phê bình Truyện anh Lục, độc giả không lấy làm mãn nguyện, có người đã nói, đọc nó chỉ thấy cái vẻ mô phạm hiền lành của một vị giáo sư đại học mà thôi. Một bài ông Hoài Thanh viết để binh vực cho Ngôi sao mà binh vực một cách gắng gượng quá, nhất là yếu, không hề chống cãi lại những chỗ đả kích trong ba bài của báo Trăm hoa. Tôi rất không phục ông Hoài Thanh ở điểm này: ông viết bài ấy sau ba bài của Trăm hoa mà ông không hề nhắc tới Trăm hoa lấy một tiếng, ông cố dìm nó xuống cũng như Phạm Quỳnh đã dìm báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế. Nếu không dìm thì là ông khinh, cũng như Phạm Quỳnh đã khinh báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.

Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy vẫn có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.

Người ta cứ sợ “bên địch xuyên tạc”. Sao trong việc nầy không sợ? Nó cần gì phải xuyên tạc? Đọc mấy tác phẩm được giải thưởng nầy, tha hồ cho nó đánh giá văn học miền Bắc.

Gọi là phê bình, chỉ có thế; tôi chỉ trình bày mấy hiện tượng không tốt trong giới văn nghệ. Còn sửa chữa, mong ở Đại hội sắp tới, nếu toàn thể xét thấy lời tôi nói có đúng phần nào thì xin tùy đó mà sửa chữa.

Riêng tôi thì tôi chỉ muốn Hội chúng ta, trong việc lãnh đạo, thực hành cái nguyên tắc dân chủ tập trung, mà phải từ dưới lên trên rồi mới từ trên xuống dưới, nghĩa là theo ý kiến nguyện vọng của quần chúng văn nghệ để lãnh đạo văn nghệ. Đừng như hai năm nay, lấy ý kiến của ba năm ba người trong Ban Thường vụ, hoặc của một người nọ hay một người kia để lãnh đạo, mà cái ý kiến ấy số đông văn nghệ sĩ không tán thành.

Được như thế thì sẽ không còn có cái hiện tượng hai bên đối lập nữa. Đó là một điểm trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa để củng cố miền Bắc.

(Viết xong ngày 30-7-1956 tại Hà Nội)



[1]Các vua triều Nguyễn gốc ở làng Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
[2]Báo Văn nghệ số 110 ra ngày 17-3-56
[3]Nhớ như có người đã thắc mắc về tập thơ Ngôi sao, nhưng tôi không chắc lắm, việc này có thể xét lại biên bản của Hội Văn nghệ về buổi họp ấy – Ngày 20-8-56, thình lình có cuộc họp Ban Chấm giải, tôi phát hiện thêm ra một sự gian lận: Bao nhiêu lời phản đối của tôi về tập Ngôi sao đều bị bỏ hết, không ghi vào biên bản. Việc nầy, liền ngày đó, tôi có viết thư cho ông Tổng thư ký Đảng Lao Động biết. (Phan Khôi chua thêm ngày 21-6 trước khi tập sách lên khuôn.)

Nguồn: Giai phẩm mùa Thu 1956 - Tập I. In lần thứ hai. Với sự cộng tác của Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Trần Duy, Quang Dũng, Phan Khôi, Hữu Loan, Trần Lê Văn, Phác Văn, Huy Phương, Lê Đại Thanh, Hoàng Yến. Phụ bản: “Nghỉ trưa" của Nguyễn Tư Nghiêm, in tại nhà in Quảng Nghi do Ngô Quang Thịnh trông nom. Bìa của Sỹ Ngọc, in tại nhà in Minh Đức, do Nguyễn Viết Thưởng trông nom. Tranh đả kích của Trần Duy – Bản khắc của nhà Tiến Mỹ, Hiệp Hưng, Tân Hưng. Minh Đức xuất bản, in tại nhà in Xuân Thu Hà Nội. Hoàn thành ngày 29-8-1956, khổ 16x24, 64 trang số in 318, số xuất bản 48. Nộp lưu chiểu tháng 9-1956 tại Hà Nội.

Thánh hiền ta đời xưa chưa hề có tư tưởng dân chủ -Phan Khôi

Phan Khôi
Thánh hiền ta đời xưa chưa hề có tư tưởng dân chủ

Lại Nguyên Ân sưu tầm, hiệu đính, giới thiệu

Vài lời của người sưu tầm: Bài báo dưới đây của Phan Khôi, tôi sưu tầm và lưu giữ riêng đã 6-7 năm nay; để đưa tới bạn đọc dưới dạng sách in, hẳn phải chờ dăm năm nữa. Nhận thấy bài này thuộc số những bài cần được biết rộng càng sớm càng hay, tôi rút nó từ bộ sưu tập đang chuẩn bị ra giới thiệu với những ai quan tâm.
Lại Nguyên Ân



Mình chưa hề biết và chưa hề làm được cái việc kia, đến chừng thấy có người nói ra hay làm ra cái việc ấy rồi, thì lại kiếm điều tỏ ra mình đã có biết đến để khoe cái giỏi của mình mà kỳ tình là để che cái dở của mình: ấy là một cái thông bịnh của người An Nam và cũng là một cái đặc tánh của người An Nam.

Ba người cùng ở chung một nhà hay đi đánh cá ngựa. Hôm vừa rồi hai người đi đánh và thua vì con Phi Long ăn nhứt mà họ không ngờ. Khi về thuật chuyện lại, người thứ ba ở nhà la rầy bạn mình và tắc lưỡi nói: “Phải chi có tôi đi thì tôi đã đánh con Phi Long vì tôi biết nó hay lâu rồi”.

Nhắc lại hồi người Pháp mới đặt đường dây thép ở xứ ta, nhiều người cho họ là làm láo, chớ có lẽ nào giăng sợi dây như thế mà lại thông tin cho nhau được? Đến chừng thấy thật quả thông tin được thì cũng những người ấy lại nhún trề mà nói rằng: “Cái đó có lấy gì làm tài? Bầy trẻ chăn trâu ta cũng làm được: chúng dùng hai cái ống tre có bịt da một đầu, trong đó mắc một sợi dây tơ thật dài, rồi mỗi đứa cầm một cái ống mà nói chuyện cùng nhau từ cánh đồng nầy sang cánh đồng kia. Dây thép của Tây chẳng qua cũng làm theo cách đó”.

Những cái ví dụ như thế kể ra còn nhiều lắm. Bất kỳ lúc nào, chỗ nào, chuyện gì, hầu hết đều tìm thấy được cái thông bịnh và cái đặc tánh ấy của con Rồng cháu Tiên chúng ta.

Những câu khoe khoang một cách vô liêu [1] ấy thật là vô giá trị, chỉ làm cho kẻ thức giả nghe mà khinh thì có chớ không ai trọng. Vì những câu ấy đối với việc làm thì không có ích lợi chút nào hết, mà đối với chơn lý thì sai xa.

Nói ngay vào đề. Từ ngày học thuyết Âu châu tràn sang phương Đông ta, cái thuyết dân chủ của họ ban đầu làm cho người mình kinh quái mà sau thì xưng tụng. Đây không nói nó là dở là hay, chỉ thấy một phần đông khuynh hướng cái thuyết ấy đã làm dịp cho có kẻ tìm cách khoe khoang rồi, tức là họ nói: Thánh hiền phương Đông ta đời xưa cũng đã có tư tưởng dân chủ vậy.

Ai nói như vậy, cái bổn ý của họ không gì khác hơn là để tỏ ra tư tưởng người phương Đông cũng chẳng kém gì người phương Tây, nhưng thực sự có phải vậy không, thì trong khi nói, họ không kể đến.

Theo thực sự thì các nước phương Đông nầy từ xưa chưa hề có cái chế độ dân chủ vì chưa hề có cái tư tưởng dân chủ để mở đường. Bây giờ cái thuyết dân chủ ở bên Tây truyền sang, bổn phận người phương Đông là phải xét đoán nó, xem nó hay thì theo, nó dở thì đừng theo, lọ phải chưng chỗ tổ tiên mình cũng nghĩ được như họ ra làm chi cho thừa!

Nếu phương Đông ta có một cái học thuyết về chánh trị cho vững vàng thì trong khi cái thuyết dân chủ truyền sang, ta đã phản đối nó ngay, vì nó trái với phong tục chế độ của ta lắm. Nhưng mà không, cái nước tổ văn hoá phương Đông là nước Tàu kia đã theo mà thiệt hành dân chủ rồi, thế đủ biết người ta nhìn nó là hay vậy. [2] Nhìn cái thuyết dân chủ là hay và theo nó, nhưng trong khi theo đó thấy như mình mất thể diện, cho nên lại kiếm cách mà khoe khoang. Sự khoe khoang ấy tôi cho là vô liêu, vì khoe khoang mà có ý buồn, có ý tiêu cực.

Mới rồi trên báo Đuốc Nhà Nam [3] có một bài của cụ Phan Sào Nam, nói thầy Mạnh Tử đã xướng ra chủ nghĩa bình dân và cái thuyết tam quyền phân lập, chính cũng là một lối khoe khoang vô liêu ấy. Cụ Sào Nam là người hào kiệt thật, nhưng vốn nhà cựu học mà lại đã già, cụ cũng phải có ít nhiều tư tưởng hủ bại như người khác; bởi vậy tôi viết bài nầy không cốt để phản đối cụ, chẳng qua nhơn đó tỏ ra một vài sự thật cùng độc giả.

Cụ Sào Nam lấy một chương trong sách Mạnh Tử, chương nói về sự Cổ Tẩu sát nhân mà bảo rằng đó là cái tinh thần của thuyết tam quyền phân lập, thật là viển vông quá, không chắc vào đâu cả. Đến như cho Mạnh Tử là ông tổ chủ nghĩa bình dân hay dân chủ thì cái đó nhiều người nói rồi, chớ không phải một mình cụ bắt đầu. Nhưng, theo tôi thì cả thánh hiền bên Tàu đời xưa chẳng có một người nào có tư tưởng bình dân hay dân chủ hết, chớ đừng nói Mạnh Tử.

Hết thảy thánh hiền đời xưa đều chưa biết đến cái nghĩa dân chủ vì ai nấy đều nhìn nhận rằng phải có vua mới được, mà vua thì cầm cả mọi quyền, chỉ có Trời trong tư tưởng người ta là ở trên vua và kiềm chế được vua mà thôi. Chính ông Mạnh Tử cũng nghĩ như thế thì sao gọi được là có tư tưởng dân chủ?

Mạnh Tử nói: “Dân là quý, xã tắc thứ đó, vua là khinh”. Nhưng phải biết rằng nói như thế chỉ là để cho vua phải quý dân mà thôi, chớ cả sách Mạnh Tử chẳng hề có một chữ nào chỉ nghĩa là dân có quyền; dân đã không có quyền thì còn làm chủ trong nước được ư?

Khi điều trần việc chánh trị cùng các vua chư hầu, Mạnh Tử hay nói “bảo dân” và “mục dân”. “Bảo dân”, thế là coi dân như con nít mà “giữ” nó; “mục dân”, thế là coi dân như trâu dê mà “chăn” nó. Trong ý Mạnh Tử cho dân là cội gốc của nước; cho được giữ nước, vua phải quý dân mà giữ nó chăn nó, thế thôi. Một điều tỏ ra tư tưởng Mạnh Tử có tấn bộ hơn kẻ khác là ông bảo: Khi vua làm hại dân thì thì dân có thể không nhìn là vua mình nữa mà được phép phản đối vua, tức là “cách mạng”. Nhưng cuộc cách mạng trong ý Mạnh Tử không giống cuộc cách mạng đã xảy ra như ở nước Pháp hay nước Nga. Cuộc cách mạng của Mạnh Tử không do ở toàn dân mà phải có một người đứng đầu, tức là như vua Thang vua Võ. Rốt cuộc lại, Thang, Võ lại làm vua nữa. Thế chẳng qua là vua cách cái mạng của vua chớ không phải dân cách cái mạng của vua. Chỗ đó thấy rõ ra là tư tưởng Mạnh Tử khác với tư tưởng bọn J. J. Rousseau rất xa. Tôi nhận cho là hai thứ tư tưởng chớ không phải cùng một thứ.

Rất đỗi như Mạnh Tử, người ta cho là về chánh trị có tư tưởng bạo hơn ai hết mà còn như thế, huống nữa là các ông thánh hiền khác. Cho nên không đợi xét xem đâu nữa mà cứ quyết đoán rằng cả thánh hiền bên Tàu đời xưa chưa hề có tư tưởng dân chủ, cũng không đến nỗi trật đâu.

Có người thấy Nghiêu, Thuấn không truyền hiền, rồi mạo nhận rằng đó cũng là một cái chế độ dân quốc: ngôi tổng thống phải bầu cử mà không được truyền cho con. Nhưng trong khi nói đó, họ quên Nghiêu, Thuấn vốn là ông vua “giàu có bốn biển” (phú hữu tứ hải, tức là lấy thiên hạ làm của riêng) và cầm cả mọi quyền, chỉ có một điều kiện mà bao nhiêu điều kiện cốt yếu nhứt lại không có, thì sao kể được là chế độ một nước dân chủ?

Trong các thánh hiền, ta không tìm thấy được cái óc dân chủ, vậy thì ta thử tìm đến người phản đối với các thánh hiền ấy xem nào. Có ông Lão Tử khinh cả Nghiêu, Thuấn, muốn dứt bỏ cả các bậc thánh trí, nhưng tư tưởng của ông cũng không phải là dân chủ. Cứ theo Đạo đức kinh của ông, có người cho Lão Tử giống như là phái vô chánh phủ, thế thì lại trật qua đường khác rồi.

Một vị chơn nho cận thời đây, ở về cuối Minh đầu Thanh, ông Hoàng Tông Hy [4] , là người phản đối cái chế độ quân chủ chuyên chế dữ lắm. Nhưng tư tưởng ông cũng không bạo hơn được Mạnh Tử. Trong sách Minh di đãi phỏng của ông, những bài “Nguyên quân”, “Nguyên thần” tuy có kể tội cái chế độ quân chủ chuyên chế, mà rốt lại ông cũng không tìm ra được cái chế độ khác để thay nó, chỉ vạch ra cái bổn ý lập vua là thế nào, như đặt thêm một bổn chương trình mới cho quân chủ mà thôi. Ông Hoàng Tông Hy cũng cứ lẩn quẩn trong phạm vi lập quân như các thánh hiền đời trước, ông không tìm ra phương pháp gì để hạn chế quân quyền như cái thuyết quân chủ lập hiến bên Tây, hòng nói chi đến dân chủ?

Nói tóm lại, dân chủ nghĩa là chủ quyền của một nước nắm trong tay toàn dân nước ấy, toàn dân cử ra những người thay mặt cho mình để làm mọi việc trong nước, binh vực quyền lợi cho mình: đó là cái chế độ thi hành trong các nước dân chủ bên Âu-Mỹ ngày nay. Cái chế độ ấy có quả là hay không, và họ thi hành có đúng như thế không, đây không luận tới; chỉ nói quyết rằng chẳng những cái chế độ ấy từ xưa phương Đông không có mà cho đến cái đầu óc nghĩ ra chế độ ấy cũng không có nữa.

Trước phải có tư tưởng dân chủ rồi nhơn đó mới nghĩ ra cái cách phân lập các quyền được. Nay cái trước đã không có mà cụ Phan cho rằng đã có cái sau thì thật khó mà tin. Cả nước Tàu từ xưa ai cũng bảo rằng phải có vua, nước mới khỏi loạn, mà ông vua phải cầm cả mọi quyền thống trị trong nước, thì còn mong gì nghĩ tới sự tam quyền phân lập, vì trong khi thiệt hành bốn chữ ấy phải đem những quyền ấy mà “chia” cho những người vốn ở dưới quyền của vua?

Sự khoe khoang vô liêu nầy có hại, là vì nó làm cho người mình sanh ra lòng kiêu căng trong khi mọi sự phải đi học kẻ khác. Một lời vô ích mà hữu hại, tôi không muốn cho ai nói, cũng như một việc việc vô ích mà hữu hại, tôi không muốn cho ai làm.



[1]vô liêu 無 聊: không có thú vị gì = sầu muộn (theo Đào Duy Anh: Hán Việt từ điển); buồn tẻ (theo Trần Văn Kiệm: Giúp đọc Nôm và Hán Việt, Đà Nẵng 2004)
[2]Nói “nước Tàu theo và thiệt hành dân chủ” ở đây hẳn là nói Trung Hoa dưới chế độ Trung Hoa Dân quốc, đương thời xuất hiện bài báo này.
[3]Đuốc Nhà Nam: nhật báo, xuất bản tại Sài Gòn từ 1928, đình bản 1937, có lúc được coi là tiếng nói của Đảng Lập hiến Nam kỳ
[4]Hoàng Tông Hy (1609-95) nhà tư tưởng Trung Hoa cuối Minh đầu Thanh
Nguồn: Phụ nữ Tân văn, Sài Gòn, số 270 (13 Décembre 1934)