Hiển thị các bài đăng có nhãn thời đại mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thời đại mới. Hiển thị tất cả bài đăng

13/04/2009

Đường chữ U (đứt khúc) của Trung Quốc [Việt Nam gọi là đường lưỡi bò] trên biển Nam Trung Hoa: Các điểm, đường và khu vực

thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN



Số 15 - Tháng 3/2009






"The Chinese (Broken) U-shaped Line in the South China Sea:
Points, Lines, and Zones"
Contemporary Southeast Asian 25, số 3 (2003), tr. 405-30

Peter Kien-Hong Yu




Lời tòa soạn Thời Đại Mới:

Bài viết này quan trọng ở chỗ nó phản ánh các quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan là quyết không từ bỏ chủ quyền trong đường chữ U, tức là đường lưỡi bò theo cách gọi của Việt Nam , và bản thân tác giả lập luận ủng hộ các quan điểm đó. Tác giả là Giáo Sư Đại học Ming Chuan, Trường Sau Đại học về Ngoại Giao ở Đài Loan.

Các chú thích của người dịch được để trong […] với chữ nghiêng. Các chú thích của tác giả cũng có thể có, để trong […] nhưng với chữ thẳng đứng

Xisha, đọc là Tây Sa, Việt Nam gọi là Hoàng Sa, tức nhóm đảo Paracels. Zhongsha, đọc là Trung Sa, Việt Nam cũng gọi là Trung Sa, là nhóm bãi cát ngập nước Macclesfield Bank nằm ở phía đông của nhóm đảo Hoàng Sa.

Nansha, đọc là Nam Sa, Việt Nam gọi là Trường Sa, tức nhóm đảo Spratleys. Luật Biển hay Công ước Biển 1982 được dùng trong bài là nói về cùng một bộ luật của Liên Hợp Quốc về biển.



Bài báo này phân tích các tác động tích cực và tiêu cực của đường chữ U (biên giới lãnh hải) trên Biển Nam Trung Hoa (NTH) cũng như các điểm đáng quan tâm còn chưa rõ ràng. Các tác động tích cực của đường này bao gồm nhận định cho rằng đường này không phải là chủ ý của Đài Loan và Trung Quốc nhằm gộp biên giới quốc tế vào biên giới quốc gia (national framework). Các tác động tiêu cực bao gồm những gánh nặng đối với lực lượng hải quân Trung Quốc. Bài báo này cũng sẽ trả lời những câu hỏi về bản chất mối quan hệ giữa đường chữ U và các vùng đặc quyền kinh tế của Cộng sản Trung Quốc (Communist Exclusive Economic Zones), lập luận rằng mối quan hệ phi mâu thuẫn này cần được xem như là sự bảo hiểm hai lần mà cả Đài Loan và Trung Quốc đang nỗ lực đầu tư.



Giới thiệu

Kể từ khi luật quốc tế liên quan đến đất, trời và biển ra đời, các khái niệm về điểm, đường và khu vực dù là thực hay không trở nên rất quan trọng. Mối quan hệ giữa các điểm, đường và khu vực tuân theo luật về hình học: hai điểm nối với nhau tạo thành một đường, cần ít nhất hai điểm để vẽ thành một đường và cần ít nhất một đường để hình thành nên một vùng.

Trong thuật ngữ của luật hàng hải, các điểm có thể được gọi là điểm cơ sở hoặc điểm tiếp giáp 3 bên (trijunction points) (bỏ qua những vấn đề khác nữa). Định nghĩa về đường khá phức tạp, từ các khái niệm chung chung như đường cơ sở, đường thẳng, đường xác định điểm tận cùng được đồng ý[1] (agreed closing lines) và đường lạch sâu (đường tưởng tượng cắt dọc theo phần sâu nhất của một luồng nước chính, ví dụ, của một con sông) cho đến các khái niệm cụ thể ví dụ như đường Xanh chia cắt vùng Đông và Tây Beirut của Lebanon, hoặc đường Mogadishu (hình thành từ đầu năm 1993) hoặc đường Attila chia cắt vùng Cypriot của Thổ Nhĩ Kỳ trên phần phía Bắc của đảo Síp khỏi vùng Nam Cypriot của Hy Lạp, hoặc là đường Giới hạn Phía Bắc (North Limit) đơn phương quyết định giữa Bắc và Nam Triều Tiên, hay là Đường Kiểm Soát ở vùng tranh chấp Kashmir (giữa Ấn Độ và Pakistan). Các đường có thể trở thành vùng biển ở một dạng nào đó: ví dụ, Công ước Liên Hiệp Quốc Lần Thứ Ba vào tháng 4 năm 1982 về Luật biển (dưới đây gọi là Luật biển 1982) không quy định về vùng ven bờ biển (coastal zone) và điều này cho thấy Luật biển 1982 có những chỗ chưa rõ ràng và có lỗ hổng về luật pháp.

Bài báo này tập trung phân tích đường chữ U của Trung Quốc. Đây vốn là đường ranh giới biển của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa (NTH), vùng nước lớn thứ 5 trên thế giới và giao diện với các vùng nước tính từ bờ bốn nước Đông Nam Á (ĐNA). Phần đầu của bài này đề cập đến các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đường chữ U cũng như xem xét các điểm đáng quan tâm khác còn chưa rõ ràng. Phần hai nghiên cứu về mối quan hệ giữa đường chữ U và các khái niệm hàng hải khác.

Trước tiên, điều cần nhấn mạnh là theo quan điểm của tác giả bài này, trong bối cảnh thiếu vắng một chính phủ toàn cầu hiệu quả để thực thi các luật quốc tế và trừng phạt nước vi phạm, các hình thái chính trị khác nhau sẽ chi phối vũ đài quốc tế. Chiến tranh cũng có thể xảy ra như là một hệ quả của đấu tranh chính trị. Nhiều chuyên gia về luật quốc tế đã thừa nhận rằng ý chí chính trị là cần thiết để giải quyết các tranh chấp luật pháp trên biển, đặc biệt trong bối cảnh là không có một sự nhất quán về cách hành xử của con người trong lĩnh vực này. Vì thế, người ta lập luận rằng thay vì áp dụng luật biển, các hình thức vũ lực (chính trị và/hoặc quân sự) sẽ quyết định số phận của các điểm, đường và vùng tranh chấp trên biển; và điều này sẽ là nguyên tắc trong ít nhất vài thập kỉ tới.[2]

Một ví dụ điển hình đó là Huangyan Dao (cũng được biết tới là đảo Dân chủ hay Scarborough), là một phần của nhóm đảo Trung Sa (Macclesfiend Bank).[3] Cho đến gần đây, số phận hòn đảo này không còn quan trọng đối với hầu hết các chuyên gia Trung Quốc và nước ngoài vì nhóm đảo Trung Sa đã bị chìm (theo quan sát của Chiu Hungdah) và vì thế theo luật quốc tế, cả Trung Quốc và Đài Loan không thể nói là họ sở hữu nó.[4] Tuy vậy, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với Huangyan Dao, và gộp nó vào nhóm đảo Trung Sa [Việt Nam gọi là Trường Sa] vẫn bị coi là một sự gian lận. Theo quan điểm của Trung Quốc việc này cũng tương tự như trường hợp Mỹ chiếm đảo Hawaii. Tuy vậy trường hợp Huangyan Dao cần được xem xét trong sự liên quan đến vấn đề đường chữ U sẽ được đề cập chi tiết dưới đây.



Đường chữ U

Trước hết, tôi nói về căn nguyên của của đường chữ U, được Hu Jinjie, một người chuyên vẽ bản đồ người Trung Quốc, vẽ lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1914, sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa giành lại nhóm đảo Dongsha (hay Pratas) từ đế quốc Nhật vào tháng 10 năm 1909 (theo lịch âm Trung Quốc). Các bản đồ của Trung Quốc xuất bản từ giai đoạn những năm 1920 và 1930 sau đó đều dựa trên bản vẽ của Hu về vùng biển này.[6]

Đường chữ U trên biển Nam Trung Hoa (NTH) được chính thức vẽ bởi Bai Meichu, một viên chức thuộc nhà nước Cộng hòa Dân Quốc (Republic of China)[7], vào tháng 12 năm 1947. Các vùng phía bên trong đường này được coi là các vùng nước lịch sử (historic waters). Lập luận của Bai về việc vẽ đường này không thực sự rõ ràng, mặc dù có một đường tương tự xuất hiện trên New China’s Construction Atlas do ông biên tập vào giữa những năm 1930.[8] Một điều cũng chưa rõ đó là liệu Bai có đủ kiến thức về luật hàng hải quốc tế trong thời điểm ông vẽ hay không. Tuy vậy có nhiều khả năng là ông chủ yếu bị thôi thúc bởi bản năng sở hữu sơ khai (nghĩa là như người ta thường nói quan điểm là 9 phần 10 của luật pháp). Thực tế là Bai nhận rằng người Pháp đã chiếm đóng (từ tháng 7 năm 1933) sáu hòn đảo trên nhóm đảo Nansha, Nam Sa (hay Spratly) [tức là Hoàng Sa theo Việt Nam] trên biển Nam Trung Hoa và anh ta nói rằng hoặc có thể cho là cảm thấy chủ quyền của Trung Quốc cần phải được bảo vệ.[9] Hiệp định tháng 6 năm 1887 giữa nhà Thanh và Pháp phân chia vịnh Bắc Bộ (Beibu) (hay Tonkin; kéo dài thêm về phía nam của vịnh Bắc Bộ để gộp thêm vào tất cả các đảo ở Biển NTH) cũng có thể đã ảnh hưởng đến ý đồ của Bai nhằm bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc.[10] Tuy vậy, Bai chỉ đề cập đến nhóm đảo Nam Sa trong atlas của mình hoặc trên bản đồ của nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và không tham chiếu tới bất cứ tài nguyên động thực vật nào trong khu vực đường chữ U. Ông cũng không hề đề cập tới không phận phía trên miền biển chữ U của Trung Quốc.

Bai có thể chỉ quan tâm về chủ quyền của Trung Quốc, nhưng có thể dựa vào lịch sử và văn hóa để giải thích tính chất đường anh ta vẽ. Trung Quốc (cho đến những thập kỉ gần đây) đã có xu hướng hướng vào lục địa, tự kỷ và vì thế muốn xây dựng những “bức tường” xung quanh mình.[11] Việc xây dựng những bức tường này là một biện pháp phòng vệ nói chung để đảm bảo sự bình yên tâm trí trong bối cảnh Trung Quốc, vốn không xa lạ gì với các cuộc nội chiến, đang ngày càng trở nên thân thiện với các nước.[12] Tôi sẽ nói kĩ hơn về sự xây dựng các bức tường trong văn hóa Trung Quốc dưới đây.

Ví dụ gần gũi nhất về bức tường là ở góc độ cá nhân hay gia đình. Một trường hợp điển hình đó là siheyuan – Tứ Hòa Viên (một cái sân trong với các ngôi nhà ở xung quanh tạo thành một hình tứ giác) thời nhà Minh và nhà Tần.[13] Một ví dụ dễ thấy ở góc độ quốc gia là Vạn lý trường thành. Harry Ying Cheng Kiang mô tả Vạn lý trường thành (hay Willow Wall) như là các “mốc” biên giới của Trung Quốc.[14] Các hình thành địa lý tự nhiên cũng tạo thành các bức tường: các sườn núi ở phía Đông bảo về vùng Trung Nguyên chiến lược (vùng đồng bằng miền trung Trung Quốc), mà trong lịch sử khi kiếm soát được vùng này sẽ đảm bảo việc kiểm soát Trung Quốc. Tương tự như vậy, vùng biển Bột Hải,[15] Hoàng Hải và Đông Hải cũng đóng vai trò là các rào chắn tự nhiên, tránh được kẻ “mọi rợ” tiến vào vùng đất thuộc các bờ biển Đông Nam Trung Quốc đại lục. Vì thế đường chữ U có thể coi là một đường ở phía Nam tương tự với Vạn lý trường thành ở phía Bắc, trải dài bao cả đảo Zengmu Ansha (hay James Shoal, bao gồm cả các bờ biển chìm) và trở thành vùng lãnh thổ xa nhất về phía Nam của Trung Quốc. Có thể lập luận rằng sự xuất hiện muộn màng của bức tường phía Nam này là do Trung Quốc trước đó vốn không tự coi mình là một quốc gia có sức mạnh về hàng hải (a maritime power) và cũng như do chưa có những đe dọa từ phía Nam cho đến khi cách mạng công nghiệp nổ ra và người châu Âu mở rộng thuộc địa.

Điều đáng nói ở đây là việc Trung Quốc vẽ đường chữ U trên Biển NTH là một hành động đối phó đón đầu (pre-emptive act) những bất ổn trong tương lai, và hơn nữa là hành động trước khi các thực thể quốc gia khác (bao gồm cả đế chế Anh) thực sự kiên quyết đặt ra để giải quyết các vấn đề chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa. Không có bất cứ một thực thể quốc gia hay thực thể chính trị nào phản đối bằng đường ngoại giao khi Trung Quốc vẽ đường chữ U này. Vì thế, đường chữ U có thể lập luận là nó có một vị thế tốt hơn, chứ không chỉ đơn giản là yêu sách của Trung Quốc, và trong thực tế, ngụ ý của nó bao gồm cả chủ quyền của Đài Loan và Trung Quốc đại lục.

Tuy vậy, một số nước đã bắt đầu thách thức quyền sở hữu của cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đối với vùng Biển NTH. Quyền sở hữu này được hiểu là quyền sở hữu các vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế (kể cả vùng đặc quyền khai thác đánh bắt cá) và thềm lục địa v.v. Chỉ từ khi sự việc này bắt đầu thì các học giả mới đề cập đến đường chữ U như là yêu sách của người Trung Quốc hoặc là yêu sách lãnh thổ (an areal claim).[16] Về các thách thức này, tôi sẽ mở rộng phân tích của mình về bức tường hình chữ U theo quan điểm của cả Trung Quốc và Đài Loan.



Các khía cạnh tích cực của đường chữ U

Có một số khía cạnh tích cực của đường chữ U góp phần làm tăng tính thuyết phục trong lập luận của Đài Loan và Trung Quốc. Thứ nhất, đường chữ U không phải là dụng ý của Trung Quốc trong việc biến biên giới quốc tế thành biên giới quốc gia.[17] Người Hoa vốn không mấy thích thú với việc trở thành bá chủ về hàng hải.[18] Trong khi sự thật là Trung Quốc đã thiết lập Lực lượng Kiểm soát Hàng hải Biển phía Nam (South Sea Marine Surveillance Force) vào tháng 5 năm 2000, mục đích của lực lượng hải quân này là bảo vệ các quyền lợi của Trung Quốc và tìm hiểu các nguồn tài nguyên biển và hải sản trên Biển NTH. Vào tháng 11 năm 2002, Trung Quốc đã kí quy tắc ứng xử với mười nước ĐNA nhằm tránh leo thang căng thẳng đối với vấn đề nhóm đảo Trung Sa trên Biển NTH. Sau đó cuối tháng 6 năm 2003, Trung Quốc đã kí Hiệp ước về quân sự và hợp tác với các nước ĐNA, một quy trình [giải quyết] tranh chấp do ASEAN đưa ra vào tháng 2 năm 1976, theo đó Trung Quốc đồng ý không “tham gia vào bất kì hành động nào tạo nên mối đe dọa về ổn định chính trị và kinh tế, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của các nước tham gia kí kết. Cùng với việc đó cũng phải lưu ý rằng trước Trung Quốc, không có bất cứ một quốc gia nào khác yêu sách chủ quyền trên một vùng rộng lớn của Biển NTH và rằng lý thuyết về biển bao bọc quốc gia (state-centric closed sea) đã xuất hiện lần đầu tiên ở châu Âu, trước khi đường chữ U được vẽ ra.

Thứ hai, đường chữ U đóng vai trò quan trọng trong các mối quan hệ dọc eo biển Đài Loan. Như Oran R. Young đề cập “…phong trào [cổ võ] vùng bao bọc liên quan đển khu vực biển sau thời hậu chiến rõ ràng đã cho thấy rằng việc định vùng (zonal arrangement) ngày càng được nhiều nước quan tâm”.[19] Những lợi ích tiềm tàng mà một sự dàn xếp vùng phía trong (và bao gồm) đường chữ U giữa Trung Quốc và Đài Loan sẽ là một quân bài quan trọng trong quá trình thương lượng (hoặc là trao đổi) trên bàn đàm phán.

Ở điểm này, chúng ta cần xem xét một số nguồn khác ủng hộ vấn đề đường chữ U. Ví dụ, một số vụ kiện do Tòa án Quốc tế xử trong đầu những năm 1950 và 1990 đã ủng hộ cho sự tồn tại của các vùng nước lịch sử (mà theo Trung Quốc thì nó giống với khái niệm “đường nội thủy”).[20] Các học giả không phải người Trung Quốc như Park Choon-ho[21] và Iain Scobbie và có thể là cả Greg Austin[22] đã có cùng quan điểm đối với vấn đề đường chữ U. Một số khác, như Mark J Valencia, thì không ủng hộ cho lắm. Ví dụ Valencia đã đề xuất là thiết lập Tổ chức Công quản Trường Sa (Spratly Authority) và hi vọng là Trung Quốc và Đài Loan sẽ từ bỏ đường chữ U đổi lấy việc sở hữu 51% Tổ chức này. Tuy vậy ông ta cũng đề cập đến việc chính phủ Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc vào tháng 5 năm 1992 cho phép Tập đoàn Creston Energy khai thác dầu thô giữa Wanan Tan (hay bãi ngầm Vanguard), và Guangya Tan (hay bãi ngầm Price of Wales) và cho rằng các bãi ngầm này, cách bờ biển Việt Nam 160 hải lý, không thể có riêng vùng đặc quyền kinh tế, điều này cho thấy ông ngụ ý rằng đường chữ U có thể có ích.[23]

Điểm thứ ba khi nói đến những mặt tích cực của đường chữ U là về mặt tương đối không vũ trang, không giống như trường hợp đường Maginot được dựng lên, có thể coi là một ví dụ trái ngược với đường chữ U.[24] Mục đích của đường Maginot là nhằm tránh sự xâm lăng của người Đức vào vùng Alsace-Loraine của Pháp. Được xây trong phạm vi vài kilomet gần biên giới (tiền) Đức Quốc xã, đường Maginot, như Anthony Kemp nói, là “hệ thống pháo đài lớn nhất và cũng có thể là cuối cùng được xây dựng,”. Nó bao gồm các đường khởi đầu nhằm ngăn cản kẻ thù, các đường chính được che bởi các chướng ngại chống tăng và người và một đường bảo vệ cuối cùng ở phía sau.[25] Đường Maginot với khẩu hiệu “Không ai qua nổi” (None Shall Pass) trở nên nổi tiếng như là biểu tượng của ý chí Pháp (và cũng như sự thất bại ê chề của nó).[26] “Ý chí Pháp” này rõ ràng không áp dụng cho trường hợp Biển NTH. Đường chữ U làm tăng cường quyền sở hữu của Trung Quốc và Đài Loan đối với các nguồn động thực vật trong phạm vi đường này và ngụ ý rằng các nước khác phải được phép của Trung Quốc trước khi tiếp cận các nguồn lực đó; rõ ràng đây không phải là một “Vạn lý trường thành đe dọa”.[27]



Các khía cạnh tiêu cực của đường chữ U

Việc thiếu tính liền mạch của đường chữ U cũng là điểm yếu, đặc biệt từ quan điểm của các nước đề xuất. Về mặt địa lý, có những ”đoạn hở” (breathing spaces) hoặc là “lối vào” giữa chín phân khúc của đường này (theo bản vẽ của Trung Quốc) hoặc là nằm trên các đoạn điểm chấm (dotted line) (theo bản vẽ của Đài Loan), mà theo đó các tàu thuyền hải quân hoặc phi hải quân có thể đi lại không bị ngăn cản. Nói cách khác, đường chữ U chỉ không phải là một đường liền mạch mà cũng không phải là một bức tường chắn thật như là đường Maginot hay thậm chí như là bức tường Berlin, vốn bao gồm “bê tông, dây thép gai, đài quan sát, mìn, bẫy súng máy và đường tuần tra dành cho lính bảo vệ biên giới và chó tuần tra”.[28] Cũng có thể các quá trình địa chất (ví dụ như sự xuất hiện của đảo mới, hay là sự bồi đắp tự nhiên) cuối cùng sẽ lấp đầy các khoảng trống, nhưng trong lúc chờ đợi, việc thu hẹp các khoảng trống này cũng là một vấn đề đối với Trung Quốc. Các chiến lược khả thi bao gồm việc thiết lập các vùng đặc quyền mới (có thể là dưới dạng khu bảo vệ hàng hải) giữa các phân khúc này.[29]

Trong quá khứ Trung Quốc đã sử dụng các chiến lược bao gồm việc thiết lập các khu quân sự trên Biển NTH, và (ngoại trừ một số vụ đụng độ nhỏ giữa các bên khác) Đài Loan là nước đầu tiên sử dụng vũ lực để đuổi các cư dân Philipine (gồm có Tomas Cloma và tùy tùng của ông) khỏi đảo Taiping (hay Itu Aba) trong đầu những năm 1960 (hoặc có thể là giữa những năm 1950).[30] Việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc là khó tránh khỏi một khi họ cho rằng một phần lớn của Biển NTH là “hồ Trung Quốc”, tương tự như “các đường nội thủy”. Đường chữ U không chỉ có mặt trên vùng biển phía Nam mà còn cả phía Đông của Trung Quốc, bởi vì như một số học giả và chuyên gia nhận định “rất khó để định nghĩa về biển một cách chính xác, trừ khi những vùng biển đó đã hoàn toàn bị chiếm đóng…”.[31] Ví dụ, Sang-Myoon Rhee và James Mac Aulay cho rằng Biển NTH “vẫn được xem như là “thuộc về” Đông Nam Á”.[32] Trong trường hợp cực đoan, sự khác biệt này có thể chấm dứt khi hai bên của eo biển Đài Loan bất ngờ tuyên bố đóng các khe hở của đường chữ U và tạo thành một đường biên giới liền mạch để xóa đi sự mù mờ.[33]

Trong thực tế bối cảnh cực đoan nhất này chưa xảy ra, mà thay vào đó là các thay đổi về mặt kĩ thuật trong quá khứ. Hình thức thay đổi này không có gì lạ, và cũng không chỉ giới hạn đối với riêng Trung Quốc. Trên vùng Biển NTH, Philipine đã tham gia vào việc vẽ lại các đường biên giới trên bản đồ.[34] Xa hơn, Liên Xô cũ cũng đã từng tranh cãi thẳng thắn với Na Uy về biển Barents, đưa ra những “trường hợp đặc biệt” liên quan đến đường biên giới là đường cắt theo kinh độ chạy từ điểm cuối cùng của đường biên giới hiện tại ở Varangerfjor đến cực Bắc, nhưng có điều chỉnh lệch về phía Đông trên biển Svalbard nhằm tránh cắt qua vùng này theo định nghĩa của Điều khoản 1 của Hiệp ước Svalbard năm 1920.[35] Gần hơn nữa, các thay đổi về kĩ thuật đối với đường biên giới biển bao gồm cả việc chia cắt về giao thông được dựng lên bởi các nước có bờ biển quanh eo Malacca.[36] Ngay cả các tổ chứ phi chính phủ như Hội đồng Hợp tác An ninh Châu Á Thái Bình Dương (Council for Security Cooperation) theo hướng thứ hai tức là trên bình diện không chính thức đã tạo ra những gợi ý hành xử (guidelines) cho việc hợp tác về hàng hải trong khu vực.

Các biện pháp mà Trung Quốc sẽ thực thi nhằm giải quyết vấn đề khe hở trên đường chữ U sẽ phụ thuộc vào các đánh giá của họ đối với những hệ quả có thể xảy ra. Trung Quốc hoàn toàn ý thức rằng Mỹ sẽ chống đối nếu như các đoàn tàu thuyền của Mỹ và máy bay của Mỹ cũng như các đồng minh của Mỹ bị gây trở ngại. Các chiến lược khả thi trong tương lai có thể bao gồm việc thiết lập “trạm thu phí” (toll booth) (do cả Trung Quốc và Đài Loan thực hiện) trong các vùng hổng hoặc ở mức độ ít đe dọa hơn là tạo ra những công viên trên biển hoặc sân chơi trên biển.[37] Các đảo giả hoặc trạm nghiên cứu cũng có thể được thiết lập. Các hành động nói trên có thể được giải thích như là những biện pháp cần thiết, bao gồm cả trừng phạt về tài chính, nhằm ngăn chặn và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm do tàu thuyền gây ra như là dầu loang hoặc rò rỉ dầu trong khu vực đường chữ U.[38]

Thứ hai, đường chữ U đem đến quyền (và ưu tiên) cho Đài Loan và Trung Quốc, nhưng nhiều khả năng nó lại tạo ra gánh nặng, đặc biệt kể từ tháng 5 năm 1987 việc Trung Quốc lần đầu tiên cắm cờ trên quần đảo Nam Sa có nghĩa là Trung Quốc đại lục có trách nhiệm chính trong việc việc bảo vệ chủ quyền của toàn bộ Trung Quốc. Trách nhiệm của Trung Quốc gần đây đã tăng lên khi ( từ tháng 2 năm 2000) Lực lượng Kiểm soát Hải biên Đài Loan (Taiwan’s Coast Guard Command) thay vì Bộ Quốc phòng chỉ trông coi đảo Taiping Dao, và trút gánh nặng bảo vệ nhóm đảo Nam Sa cho Trung Quốc. Các học giả và chuyên gia người nước ngoài cũng không giúp cho tình hình sáng sủa hơn, kể từ tháng 4 năm 1992 sau sự sụp đổ của Liên Xô cũ, khi họ đề xuất quan điểm về “mối đe đọa Trung Quốc” (China threat).[39] Các nhà quan sát đó dường như họ đã quên mất rằng Việt Nam đã xây dựng những hòn đảo nhân tạo trên bãi ngầm Wumie (Pigeon hoặc Tennet)[40] và lo ngại một Trung Quốc hung hăng và muốn bành trướng sẽ bắn những phát súng đầu tiên trên Biển NTH.[41] Thực tế là Trung Quốc đã cam kết bỏ qua những bất đồng và cam kết tham gia vào sự phát triển vì lợi ích chung của khu vực. Hơn nữa, những người giải thích cho “mối đe dọa Trung Quốc” có vẻ như đã bỏ qua những tài liệu như là Quy tắc Ứng xử kí kết giữa Trung Quốc và Philipine tháng 8 năm 1995, theo đó (Điều khoản 2) tuyên bố rằng hai bên cần thực thi những nỗ lực nhằm tránh sử dụng vũ trang hoặc là tránh đe dọa sử dụng vũ trang để giải quyết bất đồng. Khi Trung Quốc mở rộng việc xây dựng các các cấu trúc bê tông làm chỗ trú cho dân đánh cá từ tháng 10 năm 1998 đến tháng 2 năm 1999 (có thể cho phép việc đặt căn cứ hải quân và không quân), và trong tháng 2 năm 1995, khi các cột mốc được đặt trên bãi ngầm Meiji Jiao (mischief reef), một số nhà phân tích đã cáo buộc Trung Quốc đang dần dần xâm phạm về mặt quân sự, dù rằng trước đó, Phililpine đã được thông báo trước.[42] Điều này còn chưa kể đến khó khăn về hậu cần mà Giải phóng Quân Trung Quốc (PLA) sẽ gặp phải để phục vụ số quân lớn hơn trong vùng. Thí dụ như khó tin là có đủ nước lọc đã khử muối để cung cấp liên tục từ tỉnh Hải Nam tới các đảo mà PLA chiếm đóng. Với cái gọi là “sự hung hăng Trung Quốc”, các nhà phân tích cũng phải xem xét một thực tế là Trung Quốc chưa bao giờ ngăn chặn các hoạt động diễn tập hải quân vào tháng 6 năm 1983 và vào tháng 4 năm 1999 có sự tham gia của Australia, New Zealand, Anh, Singapore và Malaysia theo Thỏa thuận Quốc phòng 5 Bên, “một thỏa thuận quân sự theo đó Australia, New Zealand và Anh sẽ cùng nhau “tham vấn” nếu như Singapore hoặc Malaysia bị tấn công và sẽ quyết định các biện pháp được thực hiện, ở mức độ hợp tác hay riêng rẽ”.[43] Xét về sức mạnh thực tế thì có thể biện luận là Trung Quốc không có khả năng hành xử quyền phủ quyết đối với các hành động quân sự này.

Yếu tố tiêu cực thứ ba của đường chữ U liên quan đến vấn đề phân chia lãnh thổ bên trong đường này giữa Đài Loan và Trung Quốc. Điều này phụ thuộc vào liệu họ có đồng ý hình thành một liên bang (với các đặc điểm Trung Quốc) như một số người cổ võ,[44] hay là đối xử theo kiểu “một chính quyền đặc biệt đối với một chính quyền” (special state to state) (như đã thực hiện vào tháng 7 năm 1999) hay là dưới những tuyên bố như “chỉ có một quốc gia ở mỗi bên của eo biển Đài Loan” (do Đài Loan tuyên bố vào tháng 8 năm 2002). Không có bên nào ở hai bên eo biển Đài Loan tuyên bố về các tọa độ địa lý trong phần sở hữu của họ (nhiều khả năng là họ không thống nhất với nhau).



Các điểm quan tâm khác

Andrew J Nathan và Robert S Ross quan sát rằng “Vạn lý trường thành là biểu tượng của sự yếu thế vì nó báo hiệu nguy cơ bị xâm lăng và cũng là biểu tượng của sức mạnh vì nó thể hiện tính siêu việt trong kinh tế và văn hóa và khả năng chống đỡ sự xâm lược với một kỳ công về kỹ thuật và tính cảnh giác”.[45] Tính nước đôi này cũng áp dụng cho vấn đề đường chữ U như là các đường vẽ trên cát mang tính tâm lý, như Cossa viết “…Trong khi tất cả các bên đều hiểu rõ rằng có những “đường trên cát” là đường vạch không nên bước qua, nhưng phần lớn các đường này không được định nghĩa một cách rõ ràng. Nước đôi về chiến lược liên quan đến phản ứng có thể xảy ra đối với hành động thù địch có thể có ích, nhưng nước đôi về chiến thuật liên quan đến đánh giá cái gì có thể coi là hành động khiêu khích có thể đưa tới những kết quả chế người. Và cần tranh luận thẳng thắn hơn…”.[46] Cossa cũng nói rằng “một số chuyên gia an ninh ĐNA bày tỏ không dấu diếm việc cần có những động thái mạnh hơn với Trung Quốc, và kể cả sẵn sàng dùng vũ lực chống vũ lực”.[47] Các học giả như Kemp, tuy vậy, lại nhắc nhở rằng luôn có tuyến cùng tồn tại: tuyến thực và tuyến tuyên truyền.[48] Vì vậy có nhiều khả năng là đường cơ sở và các đường liên quan đến đường cơ sở của Trung Quốc là tuyến thực, trong khi đường chữ U chỉ tồn tại nhằm mục đích chính là tiêu thụ nội địa ở Trung Quốc, đặc biệt là làm nguôi thành phần quá khích.

Thứ hai, không có một tọa độ địa lý cố định cho đường chữ U, trừ vĩ độ Bắc 4. Điều này đem lại cho Trung Quốc một độ tự do nhất định để thay đổi quan điểm. Họ có thể quyết định giảm diện tích vùng phía trong đường chữ U, điều này có thể xoa dịu những lo lắng của các nước cũng có yêu sách về mối đe đọa từ Trung Quốc. Mặt khác, Đài Loan và/hoặc Trung Quốc đại lục cũng chọn cách mở rộng đường chữ U, tận dụng “…sự thiếu rõ ràng và chung chung của luật quốc tế về việc phân chia ranh giới hàng hải” có nghĩa là “ luật quốc tế không mô tả một cách chính xác ranh giới này phải đặt ở đâu”.[49] Nếu điều này xảy ra, chúng ta chắc chắn một điều là các nước ĐNA sẽ trong tình trạng báo động nếu như họ không chống đối một cách thẳng thừng. Liên quan đến việc thu hẹp và mở rộng đường chữ U, điều đáng lưu ý là Trung Quốc đã bỏ đi hai đoạn trên vịnh Bắc Bộ trong 11 đoạn xác định lúc đầu của đường chữ U khi nổ ra tranh chấp.[50] Nếu như Đài Loan và/hoặc Trung Quốc mong muốn mở rộng đường này, họ sẽ chọn điểm kết thúc ở các tỉnh khác của Trung Quốc như là Triết Giang (Zhejiang) thay vì ở huyện Yilan thuộc Tỉnh Đài Loan. Tương tự như vậy, cả hai bên của eo biển Đài Loan sẽ bao gồm hoặc cắt một vài phân đoạn gần Zengmuansha khiến cho đường chữ U trông sẽ khác đi.

Thứ ba, cho đến nay, không chỉ Trung Quốc mà cả Đài Loan, vốn không có cơ hội tham gia vào việc kí kết, không thể hoàn thành mọi nghĩa vũ của họ theo luật biển 1982. Luật này (khi có hiệu lực) giảm các vùng biển cả (high seas) đi 40%,[51] tăng vùng thuộc về các nước có bờ biển, nhưng lại tạo ra những ràng buộc về hoạt động khá nặng nề cũng như các nghĩa vụ tài chính.[52] Nhiều nước đã thất bại trong việc thực thi các quy định này. Ví dụ, cả Đài Loan và Trung Quốc đều không thể kiểm soát Biển NTH trong 24 giờ một ngày (mặc dù họ có thể sử dụng vệ tinh để kiểm soát các hoạt động trên biển).

Thứ tư, dân số các vùng nước phân định bởi đường chữ U tương đối thưa thớt. Thực tế là khi đường này xuất hiện lần đầu tiên, có thể nói rằng nó là một “pháo đài trống”. Dân số trong “pháo đài trống” này tăng rất chậm.[53] Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Hải quân Đài Loan đã đã đem lính đến đảo Taiping Dao. Nhưng mãi đến vài thập kỉ sau, tháng 8 năm 1988, lính thủy đánh bộ Trung Quốc mới xây đại bản doanh, trung tâm chỉ huy và đài quan sát hải dương trên bãi đá ngầm Yong shu Jiao (hay còn gọi là Fiery Cross hay N.W Intestigator). Đầu năm đó (tháng 5), Trung Quốc đã thiết lập các trạm quan sát, tất cả đều là ở những vùng thủy triều thấp trên bãi đá ngầm Chiqua Jiao (Johnson), Zhubi Jiao (Subi), và Meiji (cái này lớn hơn pháo đài trên bãi đá Yongshu).[54] Mặc cho những hoạt động gần đây, sự xuất hiện của Trung Quốc trên Biển NTH vẫn khá hạn chế và Trung Quốc cũng nói rõ rằng họ không sử dụng bãi đá Meiji cho mục đích quân sự.[55] Trường hợp này có thể liên hệ đến kinh nghiệm của Philipine vào những năm 1990 khi Đài Loan yêu cầu hai lạch đường tầu đi từ Philipine cho phép tàu đánh cá của Đài Loan rút ngắn chặng đường đến Biển NTH. Tuyến đường này, theo Meliton Juannico, rõ ràng là thuộc hải phận của Philipine, dù là áp dụng đường cơ sở, thuyết về quần đảo hay là luật biển 1982. Nói cách khác, Philipine cho rằng họ có toàn quyền (chứ không chỉ đơn giản là quyền tài phán) đối với hai tuyến đường này. Tuy vậy, một học giả Philipine sẽ không hiểu được tại sao nước này lại cho phép các ngư dân Đài Loan đi qua hải phận của họ.[56]



Mối quan hệ giữa đường chữ U và các khái niệm hàng hải khác

Phần này đề cập đến mối quan hệ giữa đường chữ U của Trung Quốc và các khái niệm hàng hải bằng cách giải thích về các điểm, đường, và khu vực. Nhìn từ trên xuống (từ không trung hay là ngoài vũ trụ), các đảo và thậm chí là quần đảo trở thành các điểm hoặc chấm. Một số nhà nghiên cứu thậm chí gọi các đảo (islands), đảo nhỏ (islets), bãi đá ngầm (reefs), đảo san hô (atolls) và bãi cát thấp (cays) trên Biển NTH là những cứt ruồi. Đường được hình thành từ hai điểm nối với nhau. Hai loại đường thường được đề cập đến là đường cơ sở và đường ranh giới hàng hải (ví dụ như đường trên vịnh Bắc Bộ). Khái niệm về vùng (phân định các vùng bên trong đường) đặc biệt liên quan đến việc phân chia biển cùng với sự tham gia của các yếu tố sau: chỉ kể một số như vùng (biên giới) quân sự hoặc là an ninh, vùng biển quốc phòng,[57] vùng có thể đặt chất nổ, vùng đánh cá, vùng trung lập, vùng bảo vệ cấm khai thác,[58] vùng thăm dò,[59] vùng xám[60] [chưa xác định rõ], vùng đệm,[61] vùng an toàn,[62] lối đi an toàn,[63] vùng bến đỗ cách ly,[64] vùng phi quân sự, vùng cấm võ khí hạt nhân, vùng hòa bình, tự do và trung lập, vùng sử dụng đặc biệt,[65] vùng hải dương chung.[66] Như đã nói ở phần trước, các đường bao quanh khu vực này (dù là vùng đặc quyền kinh tế hay vùng tiếp giáp) có thể được so sánh như là những bức tường bảo vệ khác nữa của Trung Quốc.[67]

Vào tháng 5 năm 1996, Trung Quốc đã thông qua luật biển 1982 và tuyên bố đường cơ sở thẳng trong các vùng như là nhóm đảo Tây Sa (hay Paracel)[68] [Hoàng Sa theo Việt Nam], thừa nhận rằng “…sự nhạy cảm về chính trị của một số vấn đề liên quan đến biên giới [theo Công ước biển 1982] buộc những nước tham gia trong một số trường hợp phải đánh đổi sự chắc chắn lấy tính linh hoạt”.[69] Bốn năm sau sự kiện này, Quốc hội Trung Quốc đã ban hành “Luật của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hải phận và vùng tiếp giáp” và, hai năm sau, tháng 6 năm 1998, “Luật Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm Lục địa” được ban hành. Những hành động này đã cho thấy khả năng các đường cơ sở trên nhóm đảo Nam Sa sẽ được vẽ (lại). Vì vậy vào tháng 2 năm 1999, Đài Loan công bố đường cơ sở của mình dựa trên đảo Huangyan Dao, và họ đã kí gửi các bản đồ và tọa độ liên quan ở Liên Hiệp Quốc. Tuy vậy chúng ta sẽ thắc mắc đối với Trung Quốc đâu sẽ là lí do để họ vẽ (lại) đường cơ sở khi mà đường chữ U đã tồn tại.[70]

Một trong những lí do chính mà Trung Quốc quan tâm đến đường cơ sở đó là tính không chắc chắn gây ra Luật Biển 1982 đã thất bại trong việc giải quyết các tranh chấp về đảo và biên giới hàng hải, quyền tự do đi lại của naval passage, cũng như ô nhiễm trên biển (among other things). Trong bối cảnh không chắc chắn này, Trung Quốc , vừa vẽ các đường cơ sở vừa như bảo vệ quan điểm về đường chữ U, đã áp dụng hình thức bảo hiểm kép (double insurance) một cách hiệu quả để giảm thiểu các mất mát (có thể có). Khái niệm bảo hiểm kép trong thực tế tồn tại trong bảo hiểm hàng hải.[71] nếu một hợp đồng bảo hiểm không đáp ứng được, thì một hợp đồng khác sẽ được sử dụng, đặc biệt là liên quan tới các “chính sách biển linh hoạt” Luật Biển 1982 đề ra.[72]

Một lí do khác mà Trung Quốc quan tâm đến đường cơ sở có lẽ được mô tả rõ nhất khi đề cập đến một đường khác. Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1945, đường oder-neisse (những con sông), do Franklin Roosevelt, Winston Churchill và Joseph Stalin xây dựng tại Yalta, đã xác định các lãnh thổ Đông Đức nằm dưới quyền của Ba Lan sau khi kết thúc thế chiến thứ 2. Nó cũng được mô tả là “đường an ninh tự nhiên”[73] sau thế chiến 2 và cũng là một hình thức đền bù cho Liên Xô cũ trong việc đánh đuổi Đức Quốc xã.[74] Tương tự như vậy, việc thể chế hóa đường cơ sở cũng là một hình thức đền bù cho những gì mà Đài Loan và Trung Quốc đại lục đã mất trong phần đường chữ U trong những thập kỉ qua. Nó cũng là một dấu hiệu cho thấy rằng Trung Quốc sẽ rất cứng rắn bảo vệ các quyền lợi quốc gia của họ trong những khu vực như là khu đặc quyền kinh tế.

Bên cạnh những lí do này, một điều cũng cần lưu ý đó là tuyên bố của Trung Quốc về vị trí của đường cơ sở trên Biển NTH không có nghĩa là Trung Quốc tạm rút lui chỉ vì họ đã không thể hoàn toàn thuyết phục các nước ĐNA khác cũng có yêu sách rằng phần phía bên trong đường chữ U thuộc về cả hai phía của eo biển Đài Loan. Trung Quốc rõ rằng nhận thức được rằng “các tranh chấp biên giới luôn đem lại lợi ích cho luật sư; thường xuyên đem lại lợi ích cho người giám định; và không bao giờ mang lại lợi ích cho người sở hữu”[75] và họ sẽ không ra tòa trừ khi điều đó là rất cần thiết. Không thể nói rằng không có sự khiêu khích ở đây. Một số nước có yêu sách đã cố ý toàn bác bỏ quyền của Trung Quốc đối với đường chữ U, họ lập luận rằng (như Prescott nói) “có thể tới 10 biên giới song phương tiềm năng xung quanh các bờ của Biển NTH nhưng chỉ có 5 trong số đó là được vẽ ra và không có cái nào hoàn chỉnh cả”.[76] Một trong số những nước có yêu sách phản đối là Việt Nam (bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào tháng 11 năm 1991). Trước khi Sài Gòn giải phóng vào tháng 4 năm 1975, Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc thí dụ đối với nhóm đảo Nam Sa. Tuy vậy, sau khi tiếp quản miền Nam Việt Nam quan điểm của họ đã thay đổi đột ngột. Vào cuối năm 1975, một bản đồ lãnh thổ mới của Việt Nam thống nhất hai miền Bắc Nam đã được xuất bản trong đó bao gồm (và lần đầu tiên) cả nhóm đảo Nam Sa và Tây Sa.[77] Các nước khác thì sử dụng Luật Biển 1982 để đòi nhượng bộ từ phía Đài Loan và Trung Quốc.[78]

Để xác định quan điểm của Trung Quốc trong vấn đề đường chữ U, và phản bác những cáo buộc cho rằng Trung Quốc đang bành trướng, chúng ta cần phải xem xét một số trường hợp trong đó các thực thể chính trị hoặc quốc gia cũng có thể coi là có hành vi bành trướng. Đầu tiên là sự tranh cãi giữa lý thuyết mare clausum (closed sea, biển đóng) được John Selden ủng hộ, và lý thuyết mare liebrum (open sea, biển mở) được Hugao Grotius đưa ra. Cuối cùng khái niệm sau đã thắng thế, nhưng không phải là không có những nhượng bộ đáng kể đối với lý thuyết đầu về quyền đối với các khu vực bờ biển, như Johnston viết, vào cuối thế kỉ 18 “phần lớn các nước phương Tây, và tất cả các thế lực đang thắng thế, đều đồng ý xem các đặc quyền và độc quyền (special or exclusive rights) đối với vùng biển gần bờ là một vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia (national entitlement), xuất phát từ khái niệm về chủ quyền và được công nhận bởi hư cấu pháp lý về lãnh thổ (legal fiction of territoriality)”.[79]

Ví dụ thứ hai liên quan đến đường cơ sở, mà phần lớn chúng không được vẽ một cách chính xác hoặc, ít nhất, là vẽ ra một cách đơn phương. Ví dụ Thái Lan đã phản đối đường cơ sở mà Việt Nam vẽ. Đây là một đường thẳng trừ phần tiếp giáp với bờ biển Campuchia và Trung Quốc.[80]

Vị trí của Mỹ trên Biển NTH cũng có thể xem là ví dụ thứ ba. Vào tháng 5 năm 1995, Bộ Ngoại giao Mỹ đã nhắc lại tuyên bố chính thức về quần đảo Nam Sa trong đó nói rằng Washington “rất quan ngại đối với bất cứ yêu sách biển nào, hay các việc hạn chế hoạt động hàng hải nào trên Biển NTH không nhất quán với luật quốc tế, bao gồm cả Luật Biển 1982“.[81] Điều thú vị là Mỹ đề cập đến cả luật quốc tế và luật Biển 1982, vì điều này có vẻ như sẽ là yêu sách bảo hiểm kép nhằm mục đích duy trì lợi ích quốc gia của Mỹ, đặc biệt khi mà Luật Biển 1982 không đề cập đến vấn đề chủ quyền”.[82] Như một quan chức Quốc dân Đảng ở Đài Loan nhận xét, Mỹ vẫn xem Thái Bình Dương như là “cái hồ Mỹ”.[83]

Ví dụ thứ tư liên quan đến Peta Baru (bản đồ mới) của Malaysia xuất bản vào tháng 12 năm 1979. Peta Baru không bao gồm bản vẽ khu đặc quyền kinh tế của Malaysia, một phần vì tiên đoán rằng đường cơ sở có thể được điều chỉnh lại sau Hội nghị về Luật biển 1982.[84] Tuy vậy việc Malaysia không xác nhận các tọa độ của khu vực đặc quyền kinh tế trên bản đồ nước này là một hành động cẩn trọng do cho rằng các nước khác sẽ chống lại sự xác lập các tọa độ này.[85] Việc bỏ qua các tọa độ của khu đặc quyền kinh tế rõ ràng là một hành động nhằm duy trì lợi ích quốc gia, đặc biệt khi mà trên thực tế, vào tháng 12 năm 1984, Malaysia đã thông qua luật về vùng đặc quyền kinh tế của mình theo đó (trong điều kiện không bị các nước khác phản đối) trọng tài của họ có thể sử dụng luật về khu đặc quyền kinh tế để xét xử các tàu đánh cá nước ngoài đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia.[86]

Nếu như khái niệm bảo hiểm kép không tỏ ra thuyết phuc, người ta có thể dùng tới kết quả phân xử của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) về sự tồn tại các đường trên biển một cách chính thức và không chính thức, hoặc trên cơ sở pháp định (de jure) hay cơ sở đương nhiên (de facto).[87] Các bên không phải là Trung Quốc có thể coi đường chữ U là không chính thức hoặc đương nhiên, và các đường cơ sở khác là chính thức hay pháp định. Như là một sự mở rộng của lập luận này, một đảo trên Biển NTH có thể được coi là nằm trong vùng nước lịch sử của Trung Quốc nhưng không thuộc vùng đặc quyền kinh tế của họ. Vì vậy nếu trong quá trình thương lượng với các nước ĐNA về một hòn đảo, Đài Loan và/hoặc Trung Quốc đại lục không đề cập về thềm lục địa (ví dụ), do vì cho rằng đảo nằm trong ở vùng nước lịch sử trong phạm vi đường chữ U.

Mối quan hệ giữa các đường cơ sở (như một ví dụ về hình thức sở hữu) và đường chữ U có thể được xem xét một cách đơn giản hơn khi xét đến tính linh hoạt của nó đối với cả hai bên của eo biển Đài Loan trong quá trình giải quyết bất đồng với các nước có yêu sách. Có thể nói rằng trong trường hợp thuận lợi, Trung Quốc sẽ thể hiện quan điểm quả quyết về đường chữ U, và khi mà nước này yếu thế về mặt chính trị và/hoặc quân sự, nó sẽ im lặng. Một ví dụ về việc sử dụng linh hoạt chính sách này là Trung Quốc đã ra lệnh cấm các ngư dân của họ không đánh bắt trên Biển NTH trong hai tháng, từ 1 tháng 6 đến 31 tháng 7 mỗi năm, bắt đầu từ năm 1999,[88] nhưng cùng lúc họ cũng từ chối chấp nhận đòi hỏi của Philipine là không xây dựng thêm các công trình xây dựng trên Biển NTH.[89] Tuy vậy cũng cần phải lưu ý rằng sự im lặng trên đường chữ U không chỉ có nghĩa là Đài Loan và Trung Quốc đã đầu hàng. (Cần nói qua cho rõ là cả Đài Loan và Trung Quốc chưa nói nhiều về biên giới trên không, vốn cũng tồn tại song song với các biên giới đất liền. Cả hai bên đều không nêu rõ ở độ cao nào không phận chấm dứt)[90]. Cũng cần phải xem xét đến sự khó khăn trong việc từ bỏ một cách chính thức đường chữ U.Về mặt luật pháp, cần có ba phần tư đại biểu trong Hội đồng quốc gia của Đài Loan biểu quyết chấp thuận từ bỏ quyền sở hữu với đường chữ U. Đối với Đài Loan ngày nay thì sự việc trở nên khó khăn hơn vì quyền lực của Quốc [dân Đại] hội [gồm đại biểu của lục địa có từ thời Tôn Trung Sơn] đã chuyển sang Lập pháp Viện (Legislative Yuan) vào tháng 5 năm 2003. Một điều chắc chắn là Viện này cũng gặp những khó khăn mà Quốc hội trước gặp phải. tức là, các đảng chính trị thân chính quyền không có nổi đa số ¾. Cũng thế, Toàn Quốc dân Đại hội Nghị Trung Quốc (NPC) [tức là Quốc hội ở lục địa] cũng sẽ phải thông qua những động thái tương tự để từ bỏ đường này. Đảng Cộng sản có thể (như một thủ thuật chính trị) yêu cầu một số thành viên NPC đưa ra vấn đề bãi bỏ đường chữ U, mà thật không bao giờ có ý định thông qua việc bãi bỏ này.

Cuối cùng là một số ý kiến về vấn đề vùng nước lịch sử và hành động xâm lấn đang xảy ra. Đường chữ U xác định vùng của Trung Quốc và vùng nước bên trong nó thành các “vùng nước lịch sử”. Các bài báo của Trung Quốc đã cáo buộc về việc các nước khác xâm lấn vùng này. Một số tính toán sơ bộ về diện tích vùng lấn chiếm như sau; Việt Nam 1,170,000 kilomet vuông, Philippines 620,000, Malaysia 170,000, Brunei 50,000. và Indonesia 35,000.[91] Đúng là khái niệm vùng nước lịch sử không được đưa ra trong Luật Biển 1982. Tuy vậy khái niệm này có được đề cập qua trong một bản ghi nhớ của Liên Hiệp Quốc vào cuối những năm 1950. Nội dung của bản ghi nhớ đó là một nước có thể sở hữu các vùng nước lịch sử chừng nào không có nước khác phản đối.[92] Rõ ràng là không thiếu yếu tố phản đối này đối với vùng nước lịch sử của Trung Quốc trên Biển NTH. Cũng cần phải nói rằng Việt Nam và Philipine có xác nhận sở hữu vùng nước lịch sử. (Nói qua, lưu ý rằng các vùng nước lịch sử của Việt Nam trên vịnh Bắc Bộ đã được công bố vào đầu những năm 1980 thông qua Tuyên bố về Đường Cơ sở Lãnh hải của Việt Nam,[93] và bỏ qua câu hỏi là liệu những vùng nước này có được coi là “lịch sử” không). Nếu như họ bác bỏ chấp nhận vùng nước lịch sử của Trung Quốc, thì đâu là quyền để họ yêu cầu Trung Quốc thừa nhận vùng nước lịch sử của mình?. Cần bao nhiều nước phản đối để có thể hủy bỏ quyền của Trung Quốc đối với vùng nước lịch sử? Một số chuyên gia như Hasjim Djalal (Đại sứ Quốc vụ khanh về Luật Biển và Vấn đề Hàng hải của Indonesia) và B.A Hamzah (cựu tổng Giám đốc Học viện Hàng hải Malaysia) cũng phản đối quyền của Trung Quốc đối với các vùng nước lịch sử.[94]

Manila và Kuala Lumpur cũng có những tranh cãi song phương, ví dụ, Manila đặt nghi vấn cách hành xử của Kuala Lumpur đối với Hiệp ước của Philipine với Mỹ và Anh trong vấn đề biên giới giữa Philipines và Malaysia. Malaysia nói rằng đường này chỉ là giới hạn (line of demarcation) vì thế không phải là một đường biên giới. Đường này chỉ ra đảo hay vùng quặng nào của Biển NTH thuộc về Malaysia hay Philipine, nhưng điều đáng nói là nó không liên quan gì với (a) các vùng nước, (b) thềm lục địa, và (c) các lãnh thổ khác.[95] Liên quan đến Biển NTH, Bộ Ngoại giao Mỹ “không có quan điểm về phải trái trị pháp lý (legal merit) đối với những yêu sách chủ quyền tranh chấp trên các đảo, bãi ngầm, đảo san hô và các bãi cát trên Biển NTH”.[96] Và nó cũng không đề cập đến các vùng nước lịch sử của Trung Quốc. Khi Philipine tìm kiếm sự hỗ trợ của Mỹ trong việc giải quyết tranh chấp đảo Nam Sa, Mỹ vẫn “duy trì một chính sách trung lập nói chung, với lí do là Hiệp ước Quốc phòng chung Mỹ-Philippines không đề cập đến vùng lãnh thổ tranh chấp [nhóm đảo Nam Sa] không đương nhiên bao gồm vùng tranh chấp [nhóm đảo Nam Sa vì] cho đến trước khi kí hiệp ước (tháng 8 năm 1951) Manila vẫn chưa tuyên bố yêu sách về vấn đề này” và quan trọng hơn, bởi vì Trung Quốc không trực tiếp xâm lăng Philippines.[97] Nói tóm lại, có thể lập luận rằng người Mỹ không cho rằng đường chữ U của Trung Quốc là quá đáng.[98] Liên quan đến điều này, cần nhớ lại là các phản ứng của Mỹ vào tháng 10 năm 1973 khi Cộng hòa Arab Libya đơn phương tuyên bố đường tận cùng trong vịnh sirte. Mỹ đã nhanh chóng không thừa nhận điều này (về mặt ngoại giao) và sau đó bằng hành động quân sự.[99] Điều dễ thấy đó là Mỹ (với những lợi ích đã xác lập của mình) không phản đối sự tồn tại cái “hồ Trung Quốc” (Chinese lake) này chừng nào mọi thứ vẫn diễn ra hòa bình đối với tàu bè thương mại và phi thương mại của họ.



Kết luận

Vào cuối những năm 1970, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã mở cửa với thương mại thế giới. Quá trình này đã được thúc đẩy sau chuyến đi của Đặng Tiểu Bình qua các tỉnh vùng nam Trung Quốc lục địa vào tháng 1 và tháng 2 năm 1992. Sang năm 1993, Trung Quốc bắt đầu trở thành một nhà nhập khẩu ròng dầu thô khi mà cầu về dầu của nước này vượt quá cung trong khi giá dầu nhập khẩu lại rẻ hơn. Trong năm 1993, Trung Quốc đã nhập 20% tổng trữ lượng dầu thô (và các sản phẩm liên quan đến dầu).[100] Có nhiều khả năng là nguồn cung ứng dầu chiến lược nhất và lớn nhất Trung Quốc là mỏ dầu Daqing cho đến hiện tại đã cạn kiện.[101] Theo đó, dự báo cho rằng đến năm 2005, tiêu thụ dầu ở châu Á sẽ vượt qua Bắc Mỹ.[102] Song song với sự tăng trưởng tiêu thụ dầu là việc tăng giá dầu, đặc biệt là các nước OPEC tiếp tục định kì cắt giảm nguồn cung toàn cầu 2 triệu thùng mỗi ngày.[103] Mặc cho khả năng này, cũng không có nhiều khả năng là ngoại thương của Trung Quốc sẽ giảm đi, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO vào năm 2001.

Để tiếp tục tăng sản xuất các sản phẩm và dịch vụ xuất khẩu, Trung Quốc sẽ phải tiêu thụ dầu và nhu cầu này khiến cho Biển NTH trở nên cực kì quan trọng về mặt chiến lược. Vì thế, tháng 8 năm 2003, khi ở Philipine, một quan chức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cao cấp, Wu Bangguo (Ngô Bang Quốc), đã nói rằng Trung Quốc đại lục có thể phát triển các mỏ dầu trên quần đảo Nam Sa cùng với các quốc gia khác. Philipine có thể có khả năng là nước đầu tiên tham gia vào chiến lược hợp tác này. Thậm chí nếu như Trung Quốc thành công trong việc đảm bảo nguồn cung dầu trên Biển NTH bằng cách xua đuổi quân đội các nước khác ra khỏi vùng này, việc bảo vệ nhóm đảo Nam Sa và các dự án phát triển dầu khí của họ, chống lại sự quấy rối và/hoặc phá hoại của quân đội các nước là vô cùng khó khăn. Đây là tình thế tiến thoái lưỡng nan mà hiện nay Trung Quốc đang mắc phải, và vì thế nước này không mong đợi rằng họ sẽ đề cập nhiều đến đường chữ U trong vài thập kỉ tới.[104] Tuy vậy phải nhấn mạnh rằng, nếu có cơ hội, trường hợp East Greeenland có lợi đối với vị trí của Trung Quốc, như đã chỉ ra trong báo cáo của Scobbie. Đúng là việc loại bỏ các bức tường là có thể, giống như bức tường Berlin tháng 11 năm 1989, Trung Quốc, tuy vậy, sẽ không xóa bỏ đường chữ U, trừ khi họ bị đánh bại về mặt quân sự và bị thách thức bởi cộng đồng quốc tế. Vị trí của Đài Loan cũng tương tự như như vậy mặc dù nó muốn giữ thế tránh bị chú ý trong vấn đề này, để không gây căng thẳng với các nước ĐNA. Liên quan đến quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan về biển Đông, Fu kuen-chen cho rằng các tọa độ địa lý được hai nước này công bố không mâu thuẫn mà cũng không phải là thiếu nhất quán với nhau.[105] Điều này chỉ ra rằng cả hai bên của eo biển Đài Loan sẽ hợp tác với nhau trên Biển NTH trong dài hạn và có nhiều khả năng hợp tác về mặt chính sách, đặc biệt là khi họ đã có một sự đồng thuận về việc duy trì mối quan hệ đặc biệt của hai bên trên bình diện trong nước cũng như quốc tế.

Tuy vậy, khi chạm đến vấn đề chủ quyền và các vùng như vùng cơ sở và đặc quyền kinh tế bị đe dọa, chúng ta có thể đoán được là Trung Quốc và Đài Loan sẽ trở nên cứng rắn. Chủ nghĩa quốc gia và tình cảm đi cùng với nó sẽ đưa đến tăng cường quân sự. Điều này không có nghĩa là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa muốn bị coi là nước côn đồ. Quả thực, như tuyên bố gần đây, vào tháng 8 năm 1990 tại Singapore, cựu Thủ tướng Li Peng (Lý Bằng) tuyên bố Trung Quốc đại lục vẫn mong muốn được coi là người chơi có tinh thần đồng đội: “Trung Quốc sẵn sàng tham gia vào các nỗ lực với các nước ĐNA để phát triển nhóm đảo Nam Sa và vào lúc này bỏ sang một bên những bất đồng”.[106] Để thúc đẩy việc này, Trung Quốc và Đài Loan đã tạm thời xác định vài lạch đường nhất định coi như hành lang trên biển khơi (high sea corridors) trong vùng chữ U. Nhật Bản, Nam Triều Tiên, và Phần Lan là một số nước chứng tỏ bằng hành động, chọn giảm lãnh thổ biển từ 12 hải lý xuống 3 hải lý nhằm tránh các vấn đề tàu thuyền qua lại.[107] Một khả năng nữa đó là bắt chước hình thức miền hải dương (maritime domain) của Peru, khi họ chấp nhận tàu thuyền và máy bay tự do đi lại. Các vùng nước không nằm trong các vùng như vùng đặc quyền kinh tế hoặc là các vùng tiếp giáp có thể thuộc miền hải dương trên Biển NTH.[108] Làm khác đi một chút, các vùng nước đó có thể tạo thành một vùng thuộc loại riêng biệt (sui generis) trong một khoảng thời gian nhất định. Các khả năng hợp tác này khá là khác với cái gọi là tiềm năng “Tây Tạng hóa biển Đông”.[109]

Sự phát triển về tài liệu liên quan đến việc hình thành biên giới bắt đầu từ 25 năm cuối của thế kỉ 19 và bài viết này có thể xem như là góp phần vào sự phát triển chung đó.[110] Valencia, trong cuốn Malaysia và Luật Biển, đã đề tặng con cháu người Malaysia, mà ông ta cho là sẽ phải gánh chịu nếu như Malaysia không quản lý các vấn đề hàng hải một cách khôn ngoan.[111] Tôi cũng muốn dành tình tự này cho người Trung Quốc trên cả hai bên của eo biển Đài Loan. Chúng ta cần phải kiểm soát các vấn đề hàng hải một cách khôn ngoan. Khi mà các nước có yêu sách vẫn nắm chặt phần họ chiếm đóng, thì không thể tưởng tượng được là Trung Quốc và Đài Loan sẽ từ bỏ đường chữ U trong tương lai trước mắt. Ngoài vấn đề lợi ích quốc gia, hành động như thế có thể coi như mở nắp hũ mắm (Pandora’s Box) là khi mà các nước khác nhau nhảy vào chỗ trống tranh giành với yêu sách chủ quyền tài nguyên thiên nhiên.

Mất 15 năm để 119 nước kí kết Luật Biển 1982. Bất cứ một hiệp định nào về Biển NTH cũng cần ít nhất cùng một khoảng thời gian như vậy, nếu không phải là lâu hơn, để tiến hành và đưa đến một thỏa thuận mới. Luật Biển 1982 không đề cập đến đường chữ U, nhưng điều này có thể liên quan tới các lỗi thủ tục (procedures) và một số lỗi khác có liên quan, mặc dù đã có 66 “nguyên tắc về thủ tục” khác nhau được áp dụng từ tháng 7 năm 1974.[112] Thậm chí nếu có thảo luận về đường chữ U, các đại biểu Trung Quốc có khả năng cao là kiểm cách xếp xó nó vì sợ rằng nó sẽ không được đa số phiếu ủng hộ. May mắn là cho đến hiện tại, không có một thế lực hàng hải nào buộc Trung Quốc phải từ bỏ đường chữ U. Vì Trung Quốc đã không mất cái gì đáng kể, việc khôi phục lãnh thổ là một bước đi không cần thiết, không giống như trường hợp Argentina trong vấn đề quần đảo Malvinas/Falkland mà mãi sau 17 năm cho đến tháng 8 năm 1999 người dân trên đảo này mới có thể quay trở lại.[113] Thay vào đó có nhiều khả năng là Trung Quốc sẽ tiếp tục dùng phương hướng thực dụng trong khi đầu tư mạnh vào “bảo hiểm kép” (double insurance), điều này nghĩa là đường chữ U sẽ vẫn mang bản chất là sự xác quyết vô hại hơn là một pháo đài đáng lo ngại.[114]


Chú thích

[1] International Maritime Boundaries, Vol.1, Jonathan I. Charney và Lewis M. Alexander biên tập (Dordrecht: Martinus Nijhoff Publishers, 1993), trang 763

[2] Senior Minister Lee Kuan Yew có quan điểm cho rằng trong 25 năm tới, vũ trang chứ không phải luật quốc tế sẽ thống trị. Xem Strait Tímes (dưới đây gọi là ST) (Singapore), 29 tháng 3 1999, trang 3 Ralph A. Cossa chỉ ra rằng “…trước đây quân sự được sử dụng nhằm tăng cường và mở rộng các xác nhận chủ quyền quốc gia và nó có thể được áp dụng trở lại, khả năng là gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn rất nhiều”. Xem báo cáo của ông, Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict (Hawaii: Pacific Forum CSIS, tháng 3 1998), trang V. Cũng xem Bernard H. Oxman, “Political, Strategic, and Historical Considerations”, International Maritime Boundaries, trang 5-40, đặc biệt là các trang 30-34.

[3] The Collection of Names and Materials on the South China Sea Islands, Chen Shijian biên tập (Guangzhou: Guangdong Atlas Publishing House, 1987), trang 48.

[4] Rõ ràng là Trung Quốc đang chờ cho mực nước biển hạ thấp xuống, 1000 năm sau kể từ bây giờ nó mới xảy ra. Dieter Heinzig không đưa đảo Huangyan Dao thành một phần của quần đảo Zhongsha, như trường hợp của the British Admiralty Chart số 270. Xem monograph của Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea (Hamburg, Germany: Institute of Asian Affairs, 1976), trang 17, 47 và 57. Elizabeth Van Wie Davis cũng đề cập riêng đến quần đảo Zhongsha và Huangyua Dao. Xem sách China and the Law of the Sea Convention (New York: The Edwin Mellen Press, 1995), trang 13. Trung Quốc nói rằng họ có 6,500 hòn đảo, 70% trong số đó là trong vòng bán kính 10 kilomet vùng bờ biển và 90% trên vùng thềm lục địa. Họ cũng sở hữu 180 triệu nguồn tài nguyên thiên nhiên khác nhau, xem China Times (dưới đây gọi là CT( (Đài Bắc), 7 tháng 5 1996, trang 3.

[5] Từ này được lấy từ Wolfgang Wagner. The Genesis of the Older-Neisse Line (Germany: Brentano-Verlag Stuttgart, 1957)

[6] Zou Keynan, “Chinese Traditional Maritime Boundary Line in the South China Sea: Legal Implications for the Spratly Islands Dispute”, EAI Background Brief No. 14 (Singapore, 7 May 1998, trang 5 và 7.

[7] Huang Yi và Wei Jingfen, “The Legal Status of the South China Sea,” trong Taiwan on the Move, do Jeh-hang Laivaf Goerge T. Yu (Taiwan: National Central University, tháng 10 1998), trang 213. Bai đã được mời đến Bắc Kinh vào mùa hè 1990 để giải thích tại sao ông lại vẽ đường này. Tại thời điểm đó, ông đã hơn 80 tuổi và vì tuổi cao, đã không thể nói hết được những lí do chính xác về việc vẽ đường này của ông. Tuy vậy, ông cũng nói rằng daoyu guishu xian (thực tế đường này chỉ ra quần đảo này thuộc về nước nào). Đối thoại với Zou Keyuan (vào khoảng nửa cuối năm 1998).

[8] Zou, sđd, trang 6. Vào tháng 1 năm 2000, Xinhuashe (New China News Agency) báo cáo rằng bản đồ do người Trung Quốc vẽ lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1845 được phát hiện tại thành phố Shijianzhuang, tỉnh Hebei. Bản đồ thế giới này có đề cập đến quần đảo Nansha, Xisha, và Zhongsha. Mao Trạch Đông (Mao Zedong) đã từng nói rằng Trung Quốc không được bảo vệ trên biển. Điều này có nghĩa là Trung Quốc chỉ an toàn khi các thế lực bên ngoài không thực hiện chính sách “ngoại giao pháo hạm” (“gunboat diplomacy”), nhưng trong hoàn cảnh hiểm nguy, chính sách này có thể được áp dụng. Xem Jiefangjunbao (dưới đây gọi là JFJB) (Bắc Kinh), 9 tháng 4 2001, trang 7.

[9] Huang và Wei, sđd, trang 213. Đến tận Cách mạng mùng 4 tháng 5 năm 1919 giới trí thức Trung Quốc mới bắt đầu ủng hộ chủ nghĩa dân tộc (nationalism).

[10] Cossa, sđd, trang B-1. Vào tháng 5 1956, miền Nam Việt Nam xác nhận chủ quyền quần đảo Xisha và Nansha. Vào tháng 8 năm 1973, họ chiếm đóng 6 đảo trong hai quần đảo này. Vào ngày 14 tháng 3 năm 1983, hải quân Việt Nam đã nổ phát súng đầu tiên vào hai nhà khoa học Trung Quốc trên hai quần đảo này. Xem Liu Yanxun, Zongguojandai duiwaizuozhan zhongdashilu (Xizang: Xizang renmin chubanshe, tháng 5 2000), trang 211. Theo Robert Karniol, Jane’s Defense Weekly, “PLA đã nổ phát súng đầu tiên, và rất nhiều việc khác nữa, khi họ quyết định chiếm quần đảo Paracels từ miền Nam Việt Nam năm 1974. Điều đó có nghĩa là: họ tấn công khi họ cảm thấy cơ hội để giành chiến thắng nhanh chóng đã đến khi mà cả miền Nam Việt Nam và cộng đồng quốc tế đang bị phân tán bởi những vấn đề quan trọng hơn, sau đó coi như mọi sự đã rồi. Cuộc tranh chấp trên quần đảo Trường Sa (Spratly) không phải là chủ ý của cả hai bên nhằm tranh giành lãnh thổ, và nếu như đó là mục tiêu thực sự, thì tình thế sẽ rất khác”. (Karniol, email tới tác giả, 11 tháng 5 1999). Tuy vậy, theo như bản tháng 9 1989 của tờ Chuanjianzhishi (Bắc Kinh) (trang 24) vào tháng 1 năm 1974, bốn tàu hải quân miền Nam Việt Nam đã đồng thời bắn vào tàu hải quân của PLA. Điều này cũng cho thấy Việt Nam không hề nhút nhát. Họ nói rằng tàu khu trục (destroyer) số 134 của PRC đã hai làn bắn vào tàu số 505 của Việt Nam vào ngày 19 tháng 11 1988. Ngược lại, PRC khăng khăng cho rằng tàu khu trục của họ neo trên vùng biển thuộc quần đảo Nansha. Xem Wen Hui Pao (dưới đây gọi là WWP), ngày 25 tháng 11 1988, trang 2. Cũng có một sự trùng hợp đó là cả Bắc Kinh và Hà Nội cáo buộc lẫn nhau bắn phát súng đầu tiên. Xem CT, 16 tháng 3 1988, trang 3. Số xuất bản ngày 1 tháng 4 1988 của People’s Daily (dưới đây gọi là PD) (Bắc Kinh) cũng cáo buộc Việt Nam bắn phát súng đầu tiên vào tháng 3 năm 1988 (trang 1). Các học giả và chuyên gia Trung Quốc cũng chỉ ra rằng, kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) thành lập, nước này đã dính líu đến chiến tranh 9 lần, nhưng tất cả đều trong tình trạng bị động. Xem Zhongguo Pinglun (China Review) (Hongkong) tháng 7 1998 trang 91.

[11] Bernard D. Cole, The Great Wall at Sea (Annapolis, MN: Naval Insitutue Press, 2001)

[12] Douglas M. Jonhston, The Theory and History of Ocean Boundary Making (Kingston, Canada: McGill-Queens’ University Press, 1988), trang 225. Sheee Pon Kim cho rằng “cái gọi là “sự đe dọa Trung Quốc” là khá rõ ràng…” Xem bài báo của ông, “Is China a Threat to the Asia-Pacific Region?” trong China’s Political Economy, do Wang Gungwu và John Wong biên tập (Singapore University Press và World Scientific, 1998) trang 355. Để hiểu cơ bản về Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, xem Arthur Waldron, The Great Wall of China: From History to Myth (Cambrigde, U.K,: Cambridge University Press, 1990).

[13] Để hiểu rõ hơn về siheyuan, xem Hongkong Economic Journal (dưới đây gọi là HKEJ) (Hongkong) 25 tháng 11 2000, trang 18.

[14] Harry Ying Cheng Kiang, China’s Boundaries (Lincolnwood, III.: The Institute of China Studies, 1984), trang bìa và trang 10.

[15] Zou (chú thích 6) trang 16.

[16] Mark J. Valencia, Malaysia and the Law of the Sea (Kuala Lumpur: Institute of Stategic and International Studies, 1991), trang 62. Một ranh giới là một đường và một biên giới là một khái niệm mang tính lãnh thổ. Xem Johnston (chú thích 12), trang 226. Vào tháng 5 1994 Việt Nam tuyên bố rằng nước này đã tìm thấy những di vật cổ như là đồng tiền năm 1830 ở Sơn Tử Tây. Nước này cũng xác nhận rằng người Việt đã từng sống ở Trường Sa Lớn, Nam Yết và Sơn Tử Tây kể từ thế kỉ 15. Xem CT, ngày 26 tháng 5 1994, trang 9.

[17] Quan điểm này là của William F.S Miles trong bài “Absorbing International Boundaries Within a National Framework: Pondicherry and the French Indian Experience”, Territory Briefing 5 (Durham, U.K), 1993.

[18] Van Wie Davis (chú thích 4), trang 91 và 93. Hamzah Bin Ahmad viết “Sự tăng cường khả năng chiến đấu của Hạm đội Xoviet Thái Bình Dương đã làm cho các nhà hoạch định chiến lược quốc phòng của Malaysia đau đầu”. Xem sách Malaysia’s Exclusive Economic Zone (Kuala Lumpur: Pelanduk Publications, 1988) trang 6.

[19] Oran R. Young, International Cooperation: Building Regimes for Natural Resources and the Environment (Ithaca: Cornel University Press, 1989) trang 39.

[20] Zou (chú thích 6), trang 14. Vào tháng 12 năm 1997, The International Tribunal for the Law of the Sea (ITLS), một trong những cơ chế chính để hòa giải tranh chấp được thiết lập bởi Luật Biển tháng 4 năm 1982, đã đưa ra phán quyết đầu tiên.

[21] Park mô tả sự chiếm đóng một phần của Malaysia đối với quần đảo Nansha là “sự xâm chiếm vào vùng bờ phía Nam” của SCS. Xem Choon-ho Pak “Central Pacific và East Asian Maritime Boundaries” trong Charney và Alexander (chú thích 2) trang 299.

[22] Xem Iain Scobbie “The Spratly Islands Dispute: An Alternative View”, Oil and Gas Law and Taxation Review 14 (1996), trang 173-83. Scobbie cho rằng sự xác nhận của Trung Quốc trên quần đảo Nansha “is to be preferred to that of Vietnam (and that of any other state)” . Nếu đây đúng là vấn đề, thì có khả năng là cả hai bên Trung Quốc đại lục và Đài Loan có thể hình thành, chẳng hạn, vùng đặc quyền kinh tế xung quanh các đảo của quần đảo này. Các vùng đặc quyền kinh tế đó sẽ chồng lên các vùng nước lịch sử của Trung Quốc trong đường chữ U. Xem Greg Austin, China’s Ocean Frontier (St. Leonards, N.S.W: Allen $ Unwin, 1998), mặc dù ông có vẻ như có một quan điểm khác khi nêu ra trong hội nghị “Human and Regional Security Around the South China Sea” ở Oslo, Nauy từ mùng 2 đến mùng 4 tháng 6 năm 2000. Ở điểm này ông cho rằng đường chữ U là “một ví dụ điển hình về đặc điểm của chép sử Trung Quốc”. Qua việc chép sử, ông ngụ ý răng “đó là cách mô tả sự kiện” hoặc “…các phong cách, giả định và mục đích của người viết nhằm biến các thông tin có thể kiểm chứng được thành một câu chuyện” trong đó lòng ái quốc được dùng như một thứ nguyên liệu mạnh.

[23] Xem Mark J. Valencia, “Spratly Solution Still at Sea”, Pacific Review (sau đây gọi là PR) 6 số 2 (1993). Xem bản đầu tiên (chú thích 16) của ông, Annex 1. Xem Mark J. Valencia, J.M van Dyke và N.A Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea (Dordrecht: Martinus Nijhoff, 1997) trang 27.

[24] “Bức tường châu Âu” được đề cập đến bởi một học giả trong một bối cảnh khác, xem Ola Tunander “Post-Cold War Europe: Synthesis of a Biploar Friend-Foe Structure and a Hierarchic Cosmos-Chaos Structure?” In Ola Tunander, Pavel Baev, and Victoria L Einagel, Geopolitics in Post-Wall Europe: Security, Territory and Identity (London: Sage Publication, 1997), chương 2.

[25] Anthony Kemp, The Maginot Line: Myth and Reality (London: Frederick Warne, 1981), trang 9, trang 41-2 và trang 55-6.

[26] Xem J.E. Kaufmann và H.W Kaufmann, The Maginot Line: None Shall Pass (Westpoint, CONN: Praeger, 1997). Nước Pháp sụp đổ vào năm 1940. Đường này đã tham gia vào cuộc chiến vào tháng 8 năm 1939. Pháp tuyên bố chiến tranh với Đức quốc xã vào tháng 9, 1939.

[27] Cụm từ này là của Steven W. Mosher. Xem Hegemon: China’s Plan to Dominate Asia and the World (San Francisco, CA: Encounter Books, 2000), trang 160.

[28] ST, tháng 5 1999, trang 11. Đông Đức bắt đầu xây dựng bức tường vào tháng 8 năm 1961 xung quanh vùng phía Tây của Berlin với chiều dài 155 kilomet. Bức tường này bị phá bỏ vào tháng 11 năm 1989.

[29] Quan điểm này là từ Cossa (chú thích 2) trang vii.

[30] Lbid, trang 7. trong một bài báo khác, Cossa đề cập vào cuối những năm 1950, xem ST, ngày 30 tháng 11 1998, trang 28. Xem The South China Sea Disputes: Phillipine Perspectives, do Aileen San Pablo-Baviera biên tập (New Manila, Quezon City, Phillippine: The Phillippine-China Development Resource Center and the Phillippine Association for Chinese Studies, 1992) trang 20. Ji Guoxing cũng đề cập một sự cáo buộc khác. Xem trong chuyên khảo của ông, The Spratlys Disputes and Prospects for Settlement (Kuala Lumpur: 1992), trang 11-12.

[31] Robin Churchill và Geir Ulfstein, Marine Management in Disputed Areas (London: Routledge, 1992) trang 4.

[32] Sang-Myon Rhee và James Mac Aulay, “Ocean Boundary Issues in East Asia” trong Ocean Boundary Making, do Douglas M. Johnston và Phillip M. Saunders (London: Croom Helm, 1988) trang 74. Đảng cầm quyền của Cộng hòa Trung Hòa (Đài Loan), cách đây vài năm, đã cho rằng vùng thấp hơn của Đài Loan là thuộc về Đông Nam Á.

[33] Xem báo cáo của Cossa về việc đường này đã xuất hiện như thế nào (chú thích 2) trên trang 3. Một bản vẽ khác có thể tìm thấy trong báo cáo của Andrew J. Nathan và Robert S. Ross, The Great Wall and the Empty Fortress: China’s Search for Security (New York: W.W. Norton & Company, 1997) trang 114.

[34] Oxman (chú thích 2), trang 35. Manila cũng vẽ lại đường biên giới bản đồ của mình, xem ST, mùng 3 tháng 3 năm 1999, trang 24.

[35] Churchill và Ulfstein (chú thích 31) trang 63.

[36] Xem Peter Polomka, Ocean Politics in Southeast Asia (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1978) trang 223-8.

[37] Singapore, Indonesia và Malaysia đang nhắm vào việc xây dựng một sân chơi cho tới năm 2004, gọi là “Aseananrean” cung cấp những hoạt động như tuần tra, đánh bắt, và lặn. Xem ST, 20 tháng 1999, trang 39.

[38] Nhiều tàu buôn đã gặp khó khăn tại đảo Langhua Jiao thuộc quần đảo Xisha và Bei Jiao (bãi đá ngầm phía Bắc) Xem China Ocean News (sau đây gọi là CON) (Beijing) ngày 20 tháng 4 1999, trang 3.

[39] MURAI Tomohide giảng dạy tại Học viện Quân sự quốc gia tại Yokosuka, Nhật, vào tháng 5 1990, trong một bài báo tiếng Nhật, đã đóng góp một bài bàn về mối đe dọa Trung quốc. Ông cũng là người đầu tiên công khai nêu ra vấn đề. Xem Yazhouzoukan (sau đây gọi là YZZK) 17, số 39 (tháng 9 2003) 31. Theo Executive Intelligence Review (sau đây gọi là EIR), các nhà chiến lược ở London đã bắt đầu cuộc chơi này. Xem Vol. 6, số 9 (30 tháng 9 năm 1995) xuất bản bằng tiếng Trung, trang 17. Mặt khác, Reniminribao (People’s Daily) đề cập trong một bài báo rằng “mối đe dọa Trung Quốc” bắt đầu vào cuối năm 1992. Ban đầu, các nhà quan sát nước ngoài dự đoán là vào cuối những năm 1980. rằng Trung Quốc đại lục sẽ sụp đổ. Xem United Daily News (sau đây gọi là UDN) (Đài Bắc) 23 tháng 12 1995, trang 10.

[40] Victor Prescott, The South China Sea: Limits of National Claims (Kuala Lumpur: Maritime Institute of Malaysia, 1996) trang 40.

[41] Cossa (chú thích 2) pp v. 6 và 10. Cossa trích lời một học giả Trung Quốc đã mô tả SRV “as the most likely protagonist”. Xem trang C-4. Theo Robert Karniol (sống ở Thái Lan) của tờ Jane’s Defense Weekly, Trung Quốc là bên nổ phát súng đầu tiên trên quần đảo Xisha vào tháng 1 năm 1974 (Karniol đã email cho tác giả, tháng 10 1999). Về việc bên nào nổ súng đầu tiên, điều thú vị đó là vào tháng 8 2002, có một số báo cáo cho rằng hải quân Mỹ đã bắn phát súng đầu tiên vào tàu ngầm mini của Nhật một giờ trước cuộc tấn công của Hoàng gia Nhật vào ngày 7 tháng 12 1941. Xem www.straitstimes.com.sg/asia/story/0,1870,140802.00.html ngày 14 tháng 8 năm 2002. Vào tháng 7 2003, Bắc và Nam Triều Tiên đã nổ súng trở lại.

[42] Cossa (chú thích 2) trang vi, Lianhezaobao (sau đây gọi là LHZB) (Singapore), 20 tháng 1 1999, trang 20. United Daily News (sau đây gọi là UDN) (Đài Bắc) 10 tháng 11 1998, trang 13 và Far Eastern Economic Review (sau đây gọi là FEER) (Hongkong) , 24 tháng 12 1998, trang 18. Kuala Lumpur cũng xây những trạm trú cho dân đánh cá trên một đảo trong quần đảo, Yuyeansha (Investigator Shoal) đã được Manila xác nhận. Xem Straits Times 17 tháng 4 1998 trang 28 và ngày 6 tháng 7 1998 trang 9. Xem CT 17 tháng 2 1999 trang 5.

[43] Trích bởi Michael Nacht “Multinational Naval Cooperation in Northeast Asia”, Korean Journal of Defense Analysis (sau đây gọi là KJDA) VII số 1 (Summer 1995) 43.

[44] Xem bài báo của tôi nhận xét về sự ủng hộ của Chiu Hungdah trên CT, 26 tháng 2 1999, trang 15.

[45] Nathan và Ross (chú thích 33) trang 24.

[46] Cossa (chú thích 2) trang viii-ixvà trang C-6. Tôi muốn cảm ơn Andrew M. Marton vì sự làm sáng tỏ khái niệm “đường trên cát”, ngày 5 tháng 4 1999. Cùng với đó, tôi trích tài liệu dưới đây từ Ellen C. Collier, Instances of Use of United States Forces Abroad, 1798-1993 (Washington DC: Congressional Research Service, Library of Congress, 7 tháng 10 1993): “1836- Mehico, tổng tư lệnh Gaines đã chiếm đóng Nacogdoches (Tex.), tranh chấp lãnh thổ từ tháng 7 đến tháng 12 trong suốt chiến tranh giành độc lập của Texas, theo chỉ thị nhằm vượt qua “đường biên giới tưởng tượng” nếu như xuất hiện nguy cơ chiến tranh của người Ấn.

[47] Cossa (chú thích 2) trang 6.

[48] Xem Kemp (chú thích 25) trang 9.

[49] Churchill và Ulfstein (chú thích 31) trang 89.

[50] Tuy nhiên, nếu như Việt Nam và Trung Quốc có thể đạt tới thỏa thuận về việc loại bỏ đường biên giới biển trên vịnh Beibu như họ đã làm vào mấy năm vừa qua, Trung Quốc có thể lấy lại hai phân khu đã mất.

[51] Li Geping “The Latest Development in the Nansha Island Group Dispute”, Inside Information on Economic Reform (sau đây gọi là IIER) (Bắc Kinh) số 4 20 tháng 2 1998, trang 28.

[52] Valencia (chú thích 16) trang 128-9.

[53] Quan điểm này lấy từ tiêu đề sách của Nathan và Ross (chú thích 33).

[54] Far Eastern Economic Review, 24 tháng 12 1998, trang 18

[55] United Daily News (sau đây gọi là UDN) (Đài Bắc) ngày 8 tháng 1 1999, trang 13.

[56] Pablo-Baviera (chú thích 30) trang 14.

[57] Các vùng này được người Nhật xây dựng lần đầu tiên trong chiến tranh Nga-Nhật và họ yêu cầu tàu thuyền nước ngoài phải tuân theo những tuyến đường biển nhằm tránh các vùng hoạt động chính của Nhật, trong vòng khoảng cách 10 hải lý tính từ bờ biển. Vấn đề này sau này được trường Chiến tranh Hải quân Mỹ coi là một tiền lệ hợp lý. Xem D.P O’s Connell, The International Law of the Sea. Vol 2 (Oxford Claredon Press, 1984) trang 1109.

[58] Vùng bảo vệ tồn tại giữa Úc và Papua New Guinea trong vùng Torres Strait. Vùng này cho phép các hoạt động đánh bắt cá truyền thống và các hoạt động truyền thống khác như là tự do đi lại giữa cư dân. Xem Oxman (chú thích 2) trang 38-9.

[59] Vùng này ám chỉ vùng được bao bởi đường trung tuyến Nhật-Hàn, đường trung tuyến Trung-Nhật, và “đường đồi” chạy dọc đầu phía bắc của vùng lõm Okinawa. Xem Rhee và MacAulay (chú thích 32) trang 97.

[60] Ví dụ điển hình nhất là vùng xám hay khu xám biển Barent. Xem David Colson “The Legal Regime of Maritime Boundary Agreements” trong Charney và Alexander (chú thích 2) trang 67-8. Cũng xem Churchill và Ulfstein (chú thích 31) trang 64 và 66.

[61] Ví dụ rõ nhất là các đường biên giới của Chile, Ecuador, và Peru bao gồm một vùng đệm 10 hải lý cho phép các ngư dân có thể vô tình đi qua.

[62] Khái niệm này được đề cập trong Công ước Geneva về Thềm Lục Địa. Tuy vậy, một công ước tương tự cũng tuyên bố rằng “kể cả việc xây dựng hay đặt các thiết bị (ngầm) cũng như các vùng an toàn xung quanh nó đều không được phép thiết lập ở nơi mà sự can thiệp có thể dẫn đến việc sử dụng các đường quy định (sea lanes) cho việc tuần tra quốc tế”.Ross D. Eckert The Enclosure of Ocean Resources (Standford, CA: Hoover Institution Press, 1979) trang 80.

[63] Ibid. trang 81-2. Lối đi an toàn tỏ ra hiệu quả trong việc di chuyển các “lối đi” trong đó không cho phép các hoạt động khoan dầu gây ra nguy hiểm cho tàu thuyền.

[64] Vùng này được Anh sử dụng cho vùng giữa Fort San Felipe và Gibraltar’s Old Mole và mở rộng tới điểm phía Đông Bắc của San Felipe. Đường này đã bị xóa bỏ do sự chống đối của Tây Ban Nha. Xem J.G O’Reilly “Gibralta: Spanish and United Kingdom Claims”, Territory Briefing 4 (Durham, U.K:1992) trang 8.

[65] Vào tháng 4 năm 1982, Anh đã tuyên bố một đường như vậy xung quanh quần đảo Falkland/Malvinas và tuyên bố “bất cứ tàu chiến và lực lượng hỗ trợ hải quân nào của Argentina xuất hiện trong vùng này sẽ bị đối xử thô bạo và có thể bị tấn công” – trích O’Connell (chú thích 57) trang 180.

[66] Vào tháng 11 năm 1976, Mỹ, khi đang trong quá trình tranh chấp với Canada, đã công khai các tọa độ của đường chia cắt cả vùng thềm lục địa và vùng đánh bắt trên vịnh Maine. Xem Johnston (chú thích 12) tramg 180.

[67] Khái niệm “các bức tường khác” lấy từ sách của Harold H. Saunders, The Other Walls: The Arab-Israeli Peace in a Global Perspective, rev. ed.. (Princeton, N.J: Princeton University Press, 1991)

[68] Phương pháp đường cơ sở thẳng cũng được áp dụng cho việc hình thành địa lý ngầm trên quần đảo Zhongha, trừ đảo Huangyan Dao.

[69] Johnston và Saunders, mục “Introduction” trong Ocean Boundary Making (chú thích 32) trang 4.

[70] Quả thực, như một học giả Trung Quốc (một người không hề biết đến khái niệm bảo hiểm kép) đã nhận định, việc công bố các đường cơ sở trên quần đảo Xisha “cho thấy Trung Quốc không xem xét các đường truyền thống là đường biên giới biển trên biển NTH”. Ông tiếp tục “nói cách khác các đường cơ sở trên quần đảo Xisha là thừa và không cần thiết”. Xem Zou (chú thích 6) trang 2.

[71] Xem Peter Koh Soon Kwang, Marine Insurance and the New Institute Cargo Clauses (Singapore: Longman, 1989) trang 94.

[72] Valencia (chú thích 5) trang 14.

[73] Wagner (chú thích 5) trang 14.

[74] Xem Friedrich von Wilpert, The Older Neisse Problem: Towards Fair Play in Central Europe (Bonn: Edition Atlantic-Forum, 1964) chương 5.

[75] John Anstey, Boundary Disputes (London: The Royal Institute of Chartered Surveyors, 1990) trang 84.

[76] Prescott (chú thích 40) trang 22-3.

[77] Ji (chú thích 30) trang 9

[78] Ví dụ, Liên Xô cũ đã thay đổi vị trí các hạm đội tàu chiến qua các eo biển cứ khoảng 10 năm. Đầu tiên, Matxcova sẽ thông báo trước với nước đó và được phép bởi nước vùng ven biển. Sau đó, họ thay đổi vị trí ngược lại hoàn toàn. Xem Van Wie Davis (chú thích 4) trang 86.

[79] Johnston (chú thích 12) trang 78.

[80] Rhee và MacAulay (chú thích 32) trang 88. Prescott cũng đặt câu hỏi về các đường cơ sở của Trung Quốc trên biển NTH. Xem chuyên khảo của ông (chú thích 40) trang 14-20.

[81] Xem Cossa (chú thích 2) Appendix G.

[82] ST, ngày 24 tháng 11 1998, trang 17.

[83] CT, mùng 5 tháng 4 năm 1999. trang 1. Nhiều học giả và chuyên gia đã nhăc đến biển Ấn nư là một cái hồ Ấn. Ví dụ, xem UDN ngày 13 tháng 5 1998, trang 15. Xem Zhong Guo Guo Fang Bao (Bắc Kinh) ngày 10 tháng 11 năm 1998, trang 3. Một nhà sử học Trung Quốc sống ở Mỹ đã bình luận rằng Hoàng gia Nhật đã từng muốn biến biển NTH thành cái hồ nhà. Xem Straits Review (sau đây gọi là SR) (Đài Bắc) số 111 (ngày 1 tháng 3 2000) trang 16.

[84] Valencia (chú thích 16) trang 129. B.A Hamzah cũng đặt câu hỏi về cách mà đường cơ sở của Indonesia được áp dụng cho từng cơ chế biển khác nhau. Xem sách của ông, The Spratlies: What can be done to enhance confidence (Kuala Lumpur: Institute of Strategic and International Studies, 1990) trang 8. Điều thú vị là trong trang 14 ông viết “Hiệp ước cho phép hình thành các đường đa biên giới trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế, mặc dù một đường đơn chính giữa vẫn được khuyến nghị hơn”. Xem ibid. trang 14.

[85] R. Haller Trost, “The Spratly Inslands: A Study on the Limitations of International Law”, Centre of South-East Asian Studties Occasional Paper số 14 (University of Kent at Canterbury, tháng 10 1990) trang 1.

[86] Xem bài của tôi “Issue on the South China Sea: A Case Study”, Chinese Yearbook on the International Law and Affair, số 11 (1991-1992) trang 138-200.

[87] Oxman (chú thích 2) trang 36-7

[88] Lianhezaobao (sau đây gọi là LHZB) (Singapore) ngày 25 tháng 3 1999, trang 31.

[89] Ibid 24 tháng 3 1999, trang 29.

[90] Giới hạn thông thường là đường von Karman, độ cao khoảng 80 km nhưng thay đổi tùy theo điều kiện khi mà các máy bay khí động lực không thể bay được nữa. Xem Malcolm Anderson, Frontiers (Cambridge, U.K: Policy Press, 1996) trang 163.

[91] Chen (chú thích 3) trang 381.

[92] Ví dụ, xem Tài liệu của Liên Hợp Quốc A/CN 4./143, mùng 9 tháng 3 1962 có tên là “Juridical Regime of Historic Waters, Including Historic Bays”, Yearbook of the International Law Commission, Vol II, 1962, trang 1-26, đặc biệt là trang 6. Các học giả như Daniel P. O’Connel ủng hộ xác nhận của Tonga đối với vùng chữ nhật các đường nước ở vùng biển cao, bao gồm một số nhóm đảo thuộc quần đảo Tonga và các đường nước lịch sử kể từ cuối những năm 1880. Xem sách của ông, The International Law of the Sea, vol. 1 (Oxford: Claredon Press, 1982-1984) trang 417-18 như đã trích trong báo cáo của Huang và Wei (chú thích 6) trang 214 và Zou (chú thích 6) trang 15. Leo J Bouchez cũng đưa ra định nghĩa của ông về các đường nước lịch sử. Xem sách The Regime of Bays in International Law (Leyden; A.W Sythoff. 1964) trang 281.

[93] Zou (chú thích 6) trang 8.

[94] Huang và Wei (chú thích 7) trang 217 và Cossa (chú thích 2) trang 15-16. Huang và Wei cũng đặt câu hỏi về các đường nước lịch sử của Trung Quốc. B.A Hamzah cho rằng đường chữ U “là phù phiếm, không hợp lý và thiếu logic” và Việt Nam cũng chính thức mô tả đường chữ U là bị thổi phồng và không có căn cứ luật pháp. Xem Huynh Minh “Sovereignty of Vietnam over Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) and Peaceful Settlement of Disputes in the Bien Dong Sea (South China Sea)” trong hội thảo về “Asean in the 21th Century: Opportunities and Challenges” (Hanoi: Institute of International Relations, tháng 3 1996) trang 98-9, Zou trích dẫn (chú thích 6) trang 11, Hamzah cũng viết rằng “…thế kỉ này chứng kiến sự căng thẳng ngày càng lên cao giữa các nước nhằm mở rộng vành đai biển, nhằm biến đại dương thành các vùng đặc quyền của mình”. Xem sách của ông (chú thích 18) trang 8. Hamzah cũng tự cho rằng nghiên cứu năm 1990 của ông về quần đảo Nansha là “mới là sự lướt qua những xác nhận chủ quyền đang trang chấp”. Xem sách của ông (chú thích 84) trang 1.

[95] Pablo-Baviera (chú thích 28) trang 16-17.

[96] Cossa (chú thích 2). Appendix G. Điều này có phần nào trái ngược với tuyên bố của một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ trước các đại biểu quốc hội Mỹ về việc hình thành các lực lượng Trung Quốc trên quần đảo Nansha: “ đó không phải là một mối đe dọa an ninh lớn. đó là xu hướng và thực tế là Trung Quốc xác nhận tất cả các vùng lãnh thổ này là có vấn đề, không phải là tình hình tại chỗ. Trích Straits Times, 15 tháng 3 1999, trang 11.

[97] Cossa (chú thích 2) p C-8 và Straits Times 15 tháng 3 1999, trang 11.

[98] Khái niệm về việc xác nhận chủ quyền biển quá đáng (excessive) lấy từ sách của J Ashley Roach và Robert W Smith, United States Responses to Excessive Maritime Claims, 2nd ed. (The Hauge: Martinus Nijhoff Publisher, 1996)

[99] Xem Stephen R Langford, “Libya: The Gulf of Sirte Closing Line”, International Boundaries Research Unite Briefing, 1990, trang 4 và 8.

[100] www.chinatimes.com.tw/news/papers/online/china/m8922804.htm

[101] ST 30 tháng 3 1999, trang 48. Trung Quốc nói rằng nước này sẽ có khoảng 10 triệu tấn dầu thô từ sản xuất ở nước ngoài vào đầu thế kỉ 20. Đến năm 2010, Trung Quốc đặt mục tiêu phát triển sản xuất dầu hàng năm ở nước ngoài lên tới 50 triệu tấn, song song với mức cung cấp gas từ nước ngoài 50 tỉ mét khối. Xem online <.hkstandard.com/today/default.asp> 1 tháng 6 1999. Vào tháng 10 năm 1998, Trung Quốc thông báo với Nhật rằng có khả năng họ sẽ giảm lượng cung cấp dầu từ mỏ Daquing cho Nhật. Vào tháng 1 năm 1999, Trung Quốc tuyên bố không xuất dầu sang Nhật từ tháng 2 1999. Theo hợp đồng, Trung Quốc đảm bảo cung cấp cho Nhật hơn 6 triệu tấn dầu. Điều dễ hiểu là Nhật không vui gì. Xem CT 7 tháng 2 1999, trang 14.

[102] ST, 1 tháng 4 1999, trang 50. ROC Đài Loan đã mất khá nhiều tiền trong các cuộc thăm dò dầu khí suốt 30 năm qua. Xem UDN, 26 tháng 3 1999, trang 15. Vào năm 2022, tiêu thụ dầu của Trung Quốc đại lục sẽ gấp 3 lần www.news.chinatimes.com/chinatimes/news/newslist-content/0,3546,110505+112003072700057 27 tháng 7 2003.

[103] ST 19 tháng 3 1999, trang 64 và 13 tháng 4 1999 trang 46. Xem http://lw9fd.law9.hotmail.msn.com/cgi_bin/getmsg?curbbox=F00000001&a=1f033115d5 2 tháng 11 2001 và Economist, 15 tháng 12 2001, trang 15-16.

[104] Do hiệu ứng nhà kính, có khả năng là tất cả các đảo trên biển NTH sẽ nằm dưới mực nước biển. Thậm chí khi điều này xảy ra, các vấn đề như vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa sẽ vẫn tồn tại.

[105] Fu Kuen-chen, “Maritime Rights of the Chinese People”, Straits Review, no. 99 (tháng 3 1999) trang 7.

[106] Trích từ Ji (chú thích 30) trang 26. Tuy vậy Trung Quốc đồng ý đồng sở hữu các đảo cùng với các nước phản đối Xem ibid. trang 28.

[107] Smith và Thomas (chú thích 31) trang 20

[108] Email từ Juan Antonio Escudero, United Nations Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea, 23 January 1999.

[109] Barry Wain, “The “Tibetization” of the South China Sea”, Asian Wall Street Journal (sau đây gọi là AWS) (Hongkong) 12-13 tháng 2 1999, trang 10. Wain lại thúc giục Trung Quốc từ bỏ đường chữ U. Xem bài báo của ông “Beijing should Erase the U-shaped line” AWSJ 26-28 tháng 5 2000, trang 10.

[110] Johnston (chú thích 12) trang 288.

[111] Valencia (chú thích 16).

[112] Xem Eckert (chú thích 62) trang 272-89. Về một số thất bại khác của luật Biển 1982, xem Johnston và Saunders “Introduction” trong id.(chú thích 32) trang 4-8.

[113] Argentina vẫn muốn lấy lại quần đảo Malvinas/Falkland từ Anh. Xem LHZB ngày 7 tháng 4 1999, trang 2. Xem Straits Times 10 tháng 8 1999 trang 11.

[114] Tác giả rất cảm ơn Stein Tonnesson và các nhà bình luận về những đóng góp ý kiến cho bài báo này.




© Thời Đại Mới

13-4-09

06/12/2008

Đảng PAP và chính trị Singapore

thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN



Số 14 - Tháng 7/2008







Đảng PAP và chính trị Singapore



Nguyễn Huy Vũ
Nguyễn Minh Thọ



1. Quá trình hình thành và nắm giữ quyền lực
của đảng Nhân dân Hành động (PAP) ở Singapore



Khi thành lập vào năm 1954, đảng Nhân dân Hành động (People Action Party, viết tắt là PAP[1]) là một liên minh chính trị giữa các lãnh đạo công đoàn cánh tả và một nhóm chuyên gia được đào tạo từ nền giáo dục Anh (British-educated professionals). Liên minh này hoạt động dưới ngọn cờ chung (common banner) là chống thực dân.

Nếu như động lực chống thực dân Anh của các lãnh đạo cánh tả là rõ ràng và dễ hiểu thì động cơ đó có vẻ ngược lại đối với nhóm chuyên gia. Nhóm chuyên gia này có thể hưởng được những đặc quyền, đặc lợi mà chính quyền thuộc địa dành cho giai cấp bản xứ. Dựa theo khuôn mẫu Gramsci cổ điển (classic Gramscian fashion)[2] – trong việc chỉ ra các kinh nghiệm mà các nhóm hoạt động chính trị khác đã thành công trong việc chuyển đổi đường hướng và cách thức hoạt động chính trị ̶ nhóm chuyên gia này đã chủ động rời bỏ tầng lớp và giai cấp thống trị để tham gia vào khuynh hướng xã hội chung của thời đại đang được nhiều người ủng hộ. Thay vì tiếp tục hưởng thụ những đặc quyền và đặc lợi có được nhờ việc thừa hưởng nền giáo dục của Anh và là con cưng của chính quyền, họ đã thấy được những nguyện vọng sâu xa của các tầng lớp nhân dân bên dưới: chống thực dân.

Việc tập hợp lại với một khẩu hiệu như thế đã trở nên một mối quan tâm chính và một đồng thuận của xã hội, về mặt cảm tính, đã biến họ thành một tổ thức chính trị dành được vai trò lãnh đạo về ý thức hệ (ideological leadership). Tuy nhiên, để thu hút sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, nhóm chuyên gia phải hình thành một liên minh với các nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị, xã hội cánh tả khác. Sự ủng hộ và quan tâm từ giới công nhân cũng như tầng lớp dân chúng chịu ảnh hưởng nền giáo dục Trung Hoa là rất quan trọng.

Ngược lại, đối mặt với tình trạng bị đàn áp và sắp bị chính quyền thuộc địa Anh đặt ra ngoài vòng pháp luật vì các hoạt động cổ vũ cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, các tổ chức cánh tả Singapore cũng hoan nghênh việc liên minh với nhóm chuyên gia Anh học, với hy vọng là nhóm chuyên gia này sẽ đóng vai trò một tấm bình phong đứng đắn, ôn hòa, có thể được đa số chấp nhận cho tổ chức PAP và các hoạt động chính trị của họ. Do đó, liên minh này là một cuộc hôn phối vì lợi ích, mà mỗi bên có những các mục đích riêng của mình.

Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1959 để bầu một chính quyền bản xứ có quyền tự trị (có nhiều quyền, dù ngoại giao và quốc phòng vẫn nằm trong tay thực dân Anh), PAP đã tranh cử tất cả các ghế, và dành được 43 trên 51 ghế. Người đứng đầu nhóm chuyên gia, Lý Quang Diệu, được cử làm thủ tướng, sau khi các thành viên cánh tả của PAP bị bắt vì lý do chính trị trước đó, được thả ra.

Tuy nhiên, các bất đồng sớm nổ ra giữa hai nhóm. Nhóm cánh tả đe dọa sẽ chuyển sự ủng hộ từ Lý Quang Diệu sang David Marshall (lãnh tụ đảng đối lập) nếu Lý Quang Diệu không có những cải cách đáng kể về tình trạng đàn áp (bao gồm: thiếu quyền tự do công dân, việc tiếp tục câu lưu và bắt giữ các nhân vật chính trị dưới luật Nội an của Hội đồng Nội an (Internal Security Council)), hạn chế quyền công dân của các nhân vật thuộc cánh tả, hạn chế các phong trào liên kết của các công đoàn thương mại có xu hướng xây dựng các cơ sở chính trị, và cuối cùng là sự mất dân chủ ngày càng lớn ngay trong đảng PAP.[3] Các bất đồng trong PAP không giải quyết được, dẫn đến sự ly khai, và sự thành lập của đảng Barisan Sosialis bởi các lãnh đạo nghiệp đoàn cánh tả và các thành viên ly khai (hay bị đuổi) khác của PAP. Lý Quang Diệu vẫn tiếp tục nắm quyền với đảng PAP còn lại.

Sau cuộc trưng cầu dân ý để sát nhập Singapore vào liên bang Malaysia vào năm 1962, PAP đã tăng cường vị trí độc tôn quyền lực bằng cách đàn áp các đảng đối lập. Tháng 2/1963, một chiến dịch mang tên Operation Cold Store bắt giữ hơn 100 nhân vật hoạt động chính trị cánh tả quan trọng hoặc nổi tiếng. Chiến dịch này được thực hiện bởi Hội đồng Nội an mà Malaysia nắm giữ một lá phiếu quyết định trong hội đồng gồm 7 người (có 3 từ chính phủ Singapore và 3 là các nhân viên người Anh). Do đó, mặc dù Lý Quang Diệu có mặt trong buổi họp quyết định bắt giữ, ông đã tránh được trách nhiệm của mình trong biến cố này.

Ngay sau vụ bắt giữ và đàn áp, PAP tổ chức một cuộc bầu cử đột xuất. Kết quả là Barisan được 33,3% phiếu bầu và dành được 13 ghế, PAP dành được 46,9% phiều bầu và được 37 ghế. Khi quốc hội mới ra tuyên thệ, 3 dân biểu của Barisan đã bị bắt và 2 phải bỏ trốn ra nước ngoài. Tổng thư ký đảng Barisan đã tẩy chay vị trí đại biểu quốc hội của mình. Sau đó, việc 7 dân biểu Barisan còn lại lần lượt từ chức đã cho phép PAP nắm giữ thêm (hoàn toàn) ghế trong quốc hội và từ đó không còn những tiếng nói chính trị đối lập nào nữa.[4]



2. Nhu cầu về ý thức hệ thực dụng (pragmatism)

Sau khi tách khỏi Malaysia năm 1965, chính quyền Singapore phải đương đầu với nhiều khó khăn. Trước hết, Singapore mất một thị trường đầy tiềm năng, đặt ra một nghi vấn về khả năng tồn tại của đảo quốc này. Sau đó, việc quân đội Anh rút đi vào đầu những năm 1970 đã làm cho sự suy giảm ngân sách quốc gia thêm trầm trọng. Thêm vào đó là thái độ thù nghịch của các nước láng giềng như Indonesia trong đầu thập niên 1960 (như có chiến dịch “the Indonesian Confrontation” chống lại liên bang Malaysia khi Singapore còn là một thành viên).

Trong một khu vực mà người gốc Malay là đa số, một nước Singapore mà đa số là gốc Hoa đã bị các nước láng giềng nhìn với một thái độ nghi ngờ rằng đây là một nước Trung Hoa thứ 3 (ngoài Trung quốc đại lục và Đài Loan). Phải đến khi có sự thành lập và phát triển của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Singapore mới có một diễn đàn đối thoại trong khu vực và từ đó đã làm giảm đi các áp lực bên ngoài. Bên trong quốc gia, sự căng thẳng về sắc tộc và tôn giáo cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản là những đe dọa chính.[5]

Để chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, Lý Quang Diệu đã áp dụng triệt để luật Nội an. Luật này cho phép chính quyền bắt giữ mà không cần xét xử. Đợt bắt giữ lớn và gần đây nhất là vào năm 1987. Lý Quang Diệu cho rằng “mức lương cho người lao động tăng lên cùng với năng suất, và khi người lao động hiểu rõ hơn vai trò của họ, và khi người lãnh đạo kinh tế tạo nên một vị trí vững chắc và an toàn thì những người cộng sản khó bề khai thác”. Theo ông, “kinh tế phát triển là điều cần thiết cho sự bền vững của hệ thống chính trị, và sự ổn định chính trị là điều cần thiết cho phát triển kinh tế.”

Đối diện với một nền kinh tế kém phát triển và một xã hội phức tạp với nhiều sắc tộc và nhiều ngôn ngữ, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của Singapore là mối quan tâm hàng đầu của PAP. Từ đó, một ý thức hệ đã được khai sinh: “ý thức hệ sống còn” (ideology of survival). Khi nhắc đến ý thức hệ này, Lý Quang Diệu cho rằng, để một đất nước như Singapore có thể tồn tại, xã hội Singapore cần được tổ chức lại chặt chẽ hơn và người dân cần có kỷ luật hơn .Việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải phát triển kinh tế trên bình diện quốc gia và nâng cao mức sống của mỗi người. Để làm được điều đó, các tổ chức, đoàn thể tìm kiếm các lợi nhuận cho riêng các thành viên của đòan thể mình phải hi sinh các quyền lợi riêng tư mà đóng góp vì quyền lợi chung của quốc gia. Và vì mục tiêu đó, các tổ chức, đoàn thể… trong xã hội phải chịu sự chi phối và kiểm soát… của chính phủ.

Chính vì phát triển kinh tế là mối quan tâm hàng đầu, các đóng góp để phát triển kinh tế lập tức và cấp thời đã được hiểu như là thực dụng và cần thiết cho quốc gia. Do đó, chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) được xem như là một danh từ không chỉ về mặt kinh tế mà còn miêu tả ý thức hệ thống trị trong giai đoạn này (1968-1984).



3. Ý thức hệ thực dụng

Mục tiêu trên hết của chủ nghĩa thực dụng là để bảo đảm một sự phát triển kinh tế liên tục. Mục tiêu này cũng đồng thời là tiêu chí duy nhất để phát động và đánh giá các hoạt động của chính phủ, theo hướng các hoạt động này có giúp tăng trưởng kinh tế hay không. Về nguyên tắc, dựa vào mục tiêu duy nhất này, không một lĩnh vực nào của đời sống xã hội, văn hóa, hay kinh tế, thậm chí mang tính chất đời sống riêng tư, mà không bị nhà nước can thiệp vào.

Một ví dụ là các chính sách dân số - về mặt nguyên tắc đã xung đột với bản năng giới tính của con người. Khi thấy những phụ nữ tốt nghiệp đại học có xu hướng sinh con ít hơn và không quan tâm nhiều đến hôn nhân so với các phụ nữ ít giáo dục hơn, với niềm tin rằng 80% khả năng của mỗi người do gen quyết định và có được là nhờ thừa hưởng di truyền, Lý Quang Diệu đã cảnh báo rằng sự sút giảm nguồn gen tài năng này có thể là một điều cực kì tệ hại cho một đảo quốc mà nguồn lực quan trọng duy nhất là con người. Chính quyền đã nhanh chóng đưa ra một chính sách vào năm 1983 nhằm tăng nguồn lực tài năng. Theo đó, phụ nữ nào đã tốt nghiệp đại học và chưa lập gia đình thì được khuyến khích lập gia đình, còn phụ nữ nào đã lập gia đình và có hơn hai con thì được hưởng những khoản giảm thuế lớn và được ưu tiên chọn trường cho con cái. Những phụ nữ chưa tốt nghiệp đại học thì được khuyến khích nên có ít con, và nếu dừng ở hai con thì được số tiền hỗ trợ đến 10.000 đô la Singapore - số tiền này sẽ được trừ ra khi họ mua nhà của chính phủ. Chính sách này đã làm mất lòng nhiều cử tri khiến họ đã không ủng hộ PAP nữa. Chính sách này sau đó đã bị bãi bỏ. [6]

Một ví dụ khác. Nếu một người nam Singapore muốn cưới một phụ nữ không phải là người Singapore, và nếu người nữ này được giáo dục và có bằng cấp chuyên môn cao (highly educated professional) – điều này được hiểu như là người phụ nữ sẽ đóng góp vào sự phát triển kinh tế - thì các thủ tục kết hôn không cần được chính quyền cho phép. Tuy nhiên, đối với những phụ nữ mà khả năng có thu nhập kém trong xã hội Singapore, điều này không dễ dàng – các cặp phải đợi một thời gian khá dài để nhận được chính quyền giấy cho giấy phép kết hôn.

Khi mà tất cả các mặt của đời sống đều có thể bị chính quyền can thiệp, dưới danh nghĩa vì mục đích phát triển kinh tế, sự can thiệp của chính quyền vào các hoạt động của xã hội dựa vào những hoàn cảnh riêng biệt và không theo những nguyên tắc của một ý thức hệ chính trị. Sự thay đổi trong chính sách dân số là một ví dụ điển hình. Từ giới hạn mỗi gia đình chỉ nên có hai con đến chính sách người mẹ tốt nghiệp đại học, và đến chính sách khuyến khích người dân (ngoại trừ người nghèo) sinh thêm hiện nay. Trong trường hợp này, “hoàn cảnh” là nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm phát triển kinh tế.

Sự can thiệp dựa vào “hoàn cảnh” này sinh ra nhiều hậu quả. Thứ nhất, mỗi sự can thiệp dựa vào một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội với mục tiêu duy nhất nhằm đạt hiệu quả trong lĩnh vực đó. Dưới mối quan tâm vì phát triển kinh tế chung chung, chính sách nguồn nhân lực và chính sách dân số được tách biệt và độc lập với nhau. Thứ hai, vì những sự can thiệp chỉ dựa vào “hoàn cảnh” và mang tính rời rạc, không liên tục với mục tiêu duy nhất là quyết tâm nhằm thay đổi một vấn đề xã hội (vốn đã được can thiệp trước đây) theo một hướng khác có chủ đích. Cách hành động này đôi khi cũng bị chỉ trích là không lường trước được những hậu quả sau này, khiến chính phủ phải có những biện pháp can thiệp mạnh mẽ mang tính sửa sai về sau. Trong quá khứ, chính sách lương bổng là một ví dụ điển hình. Ngay sau khi giá dầu tăng vào năm 1972, vì lo sợ rằng các nhà đầu tư công nghiệp có thể rút vốn khỏi Singapore nếu giá lương tăng, chính phủ (thông qua Ủy Ban Lương Bổng Quốc Gia – National Wage Council) áp dụng một mức tăng lương thấp tùy tiện trong vòng 4, 5 năm. Trong lúc đó, các nền công nghiệp ở Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc phản ứng bằng cách tăng năng suất thông qua cơ giới hóa. Mức tăng lương (tùy tiện thấp) đó sau đó tăng vọt trở lại vào năm 1978; trong vòng 3 năm, mức tăng lương đã lên gấp đôi. Điều này khiến cho nhiều lĩnh vực công nghiệp phải cơ giới hóa và sa thải bớt nhân công trong một thị trường vốn đã rất cạnh tranh. Điều này đã góp phần tạo nên một cơn suy thoái kinh tế nhẹ vào năm 1985. Chính phủ đã phải giảm mức lương 15% và giữ nguyên mức tăng lương trong vòng 2 năm kế tiếp.

Và cuối cùng, với mục đích duy nhất là kinh tế, “chủ nghĩa thực dụng” chỉ chấp nhận những bằng chứng thấy được và mang tính quyết định thay vì những bằng chứng mang tính định chất, “mềm” (soft), hay những tranh luận về nguyên tắc (in principle) mang tính lý thuyết.

Tất cả các đánh giá về sự thành công hay thất bại của một chính sách đều dựa vào các giá trị có tính định lượng. Để tự bảo vệ trước sự chỉ trích của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về chính sách dân số dựa vào di truyền – theo đó có sự phân biệt giữa những phụ nữ tôt nghiệp đaị học và phụ nữ chưa tốt nghiệp đại học – phát ngôn nhân của bộ giáo dục đã phản ứng bằng cách lặp đi lặp lại một danh sách dài những con số chứng minh rằng con cái của những phụ nữ đã tốt nghiệp đại học có thành tích học tập tốt hơn hẳn so với những phụ nữ chưa tốt nghiệp đại học. Những con số này được xem như là lời giải cho một cuộc tranh luận. Một cách đơn giản chuyển từ những kết quả định lượng sang những đánh giá mang tính định tính mà không có bất kỳ một “ý thức” nào về sự không tương thích mang tính triết học hay phương pháp luận.[7]

Nhìn chung, lý tưởng thực dụng hoạt động trên một mục đích duy nhất vừa đồng thời đóng vai trò là một công cụ duy nhất nhằm đánh giá và thanh minh chính sách của chính phủ. Mặc khác, nó còn là một công cụ viện dẫn cho sự can thiệp của chính quyền khi cần thiết vào mọi mặt của đời sống. Các chính sách này được đưa ra và thực hiện tùy theo hoàn cảnh và mang tính giai đoạn (và do đó, nó không có tính đồng bộ lâu dài trong một lĩnh vực đời sống, xã hội….), tùy thuộc vào những mục đích đóng vai trò nào đó trong việc phát triển kinh tế. Nó không quan tâm đến những tranh cải mang tính nguyên tắc (in principle) hay lý thuyết, và thường bỏ ngoài tai những cuộc tranh luận như thế.

Chủ nghĩa thực dụng được hình thành như một cơ cấu khái niệm có tính hệ thống được phát triển do những điều kiện vật chất và lịch sử tại thời điểm PAP tiếp nhận quyền lực. Nói một cách chính xác hơn, dựa trên nhu cầu vật chất tại thời điểm lịch sử (thập niên 1960, 1970) của Singapore, chủ nghĩa thực dụng, còn có thể xem là chủ nghĩa tiêu thụ - được xem như là một ý thức hệ - đã cho phép PAP lãnh đạo Singapore trong một thời gian dài (và cho đến nay).

Những chính sách xuất phát từ ý thức hệ thực dụng được nhìn nhận là cần thiết, thực tế và mang tính hiển nhiên – điều này đúng với một ý của Các Mác:”quá trình chuyển đổi ý thức hệ là quá trình “hiển nhiên hóa” những mối quan tâm của các giai cấp thống trị (đặc biệt) tại một thời điểm lịch sử”. Sự hợp pháp của cả hai – ý thức hệ thực dụng và vai trò lãnh đạo của PAP – đã được nâng lên do những thành công trong những chính sách của chính quyền nhằm đem lại một cuộc sống sung túc hơn về vật chất – điều quan trọng nhất mà người dân Singapore (những di dân vì kinh tế) mong mỏi.

Sự thành công này cũng đã góp phần vào sự chấp nhận (hay thỏa hiệp) sự can thiệp hành chính một cách không dân chủ của chính quyền. Đảng PAP khống chế mọi sinh họat báo chí, văn hóa, giải trí…, những lãnh vực của tư duy… Giới trẻ không được đào tạo để có tư duy độc lập khác (mọi việc, mọi suy nghĩ khác… đã có PAP lo… thanh niên chỉ cần lo làm ăn kinh tế kiếm tiền!).

Tuy nhiên, theo thời gian, những cá tính và trải nghiệm của công dân (cử tri) đã thay đổi đáng kể. Các công dân (và là cử tri) mới và trẻ không có bất kỳ một trải nghiệm nào về những khó khăn và hỗn loạn của thập niên 1950, 1960 – một điều đặt ra những khó khăn cho tính hợp lý của ý thức hệ thực dụng. Thế hệ trẻ này được giáo dục tốt hơn, có tư duy độc lập và nhất là cũng có mối quan tâm đến các vấn đề chính trị, xã hội hơn, đặc biệt là những “hệ quả của một xã hội bị chi phối”. Do đó, những chỉ trích đã được đưa ra một cách mạnh mẽ và thuyết phục hơn, điều này khiến chính phủ bắt đầu hướng sự can thiệp đến những mặt “ít nhận thấy được” trong các lãnh vực đời sống và xã hội. Chẳng hạn như các phụ nữ đã tốt nghiệp đại học chỉ trích rằng “chính sách người mẹ tốt nghiệp đại học” đã xâm phạm đời sống riêng tư và không cần thiết, mặc dầu họ được hưởng lợi từ chính sách đó[8], v.v.



4. Đôi điều thêm về ý thức hệ: Giá trị châu Á

Trong trường hợp của Singapore, quá trình đấu tranh được gọi là chính trị chỉ bắt đầu từ những năm 1950 kéo dài đến năm 1963 – khi mà các phe phái chính trị ở Singapore tranh giành ảnh hưởng và theo đuổi các ý thức hệ khác nhau (kể cả ý thức hệ cộng sản). Sau năm 1963, về mặt chính trị chỉ còn duy nhất là đảng PAP. Vấn đề kể từ lúc này trở đi, đối với PAP đó là việc xây dựng tính chính đáng trong vai trò của một đảng cầm quyền. Điều đó chỉ thực sự là hiển nhiên, nếu PAP có thể tạo dựng một tương lai tốt hơn cho người dân trên đảo Singapore cũng như tạo một tương lai mới cho đất nước non trẻ này. Nói cách khác, đối với PAP, vấn đề lúc này chỉ còn đơn thuần là kinh tế, và chừng nào PAP còn có khả năng phát triển kinh tế và không ngừng nâng cao mức sống của người dân và vị trí của Singapore thì PAP còn đứng vững. Điều này khá phù hợp với lý thuyết của Gramsci khi ông cho rằng sự đồng thuận không thể được duy trì chỉ duy nhất bằng các ý kiến hay lý tưởng, mà bắt buộc phải có các yếu tố mang tính kinh tế. Tính chính danh của một đảng cầm quyền chỉ có được khi nó có khả năng cải thiện đời sống vật chất của tầng lớp bị trị. Và một xã hội được cải thiện về mặt vật chất theo những qui chuẩn giá trị mới là một xã hội mà ở đó giới cầm quyền lãnh đạo bằng khả năng lãnh đạo về mặt tinh thần (moral leadership) với sự hỗ trợ bằng các hình thức bắt buộc cần thiết khác. Song, khi nền kinh tế đã phát triển thì chủ nghĩa thực dụng và tiêu thụ không còn là động lực và nền tảng của nền chính tri.[9]

Trong suốt thời kì chiến tranh lạnh từ thập niên 1950 đến những năm 1980, châu Âu và Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ kinh tế các nước châu Á nhằm chống chủ nghĩa cộng sản, bất kể thành tích nhân quyền và dân chủ của các nước châu Á chống cộng này (Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Indonesia). Hậu quả là các nước châu Á này phát triển về kinh tế một cách nhanh chóng, song kèm theo nó là các “thành tích” về đàn áp nhân quyền, và trì hoãn việc thi hành dân chủ.

Cho đến những năm đầu của thập niên 1990, thì nguy cơ đe dọa về sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản không còn nữa. Lúc này bắt đầu nổi lên ý thức mới về tự do-tư bản và đi cùng với nó là nhân quyền. Điều này bắt đầu đặt câu hỏi về tính chính danh (legitimacy) của các lực lượng nắm quyền ở các quốc gia này. Trong suốt thời gian phát triển kinh tế và chịu ảnh hưởng ngày càng lớn của các nước phương Tây và Hoa Kỳ, các nước châu Á này bắt đầu chịu các áp lực bên ngoài và bên trong về vấn đề dân chủ và nhân quyền. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 đã đặt dấu hỏi về sự lũng đoạn kinh tế do việc can thiệp quá sâu mang màu sắc chính trị vào nền kinh tế của đất nước. Nó cũng khiến cho chính quyền yếu dần trong lối biện hộ đàn áp chính trị vì mục đích kinh tế. Để củng cố vị trí của mình, các đảng chính trị “sáng tạo” ra các lập luận chính trị gần giống với ý thức hệ chính trị nhằm tuyên truyền người dân về tính hợp pháp của chính quyền. Các lập luận này xoay quanh đặc tính văn hóa, xã hội và các thành tựu phát triển kinh tế. Cốt yếu, lý thuyết “các giá trị châu Á” (Asian values) là một lập luận chính trị nhằm mục đích ấy. “Các giá trị châu Á” được Lý Quang Diệu của Singapore và Mahathir của Malaysia (hai nước có nền kinh tế phát triển nhất Đông Nam Á vào thời kỳ đó) ủng hộ mạnh mẽ.

Cơ bản, các giá trị Châu Á bao gồm: (i) có đạo đức cao trong công việc (high work ethics), (ii) thành đạt về học vấn (education attainment), và (ii) định hướng gia đình và nhóm (family and group orientation). Ngoài ra, tùy theo hoàn cảnh văn hóa, lịch sử, “giá trị châu Á” còn bao gồm vài yếu tố khác, chẳng hạn như “Khổng giáo” đối với Singapore, và “Hồi giáo” với Malaysia. Nhìn chung, các “giá trị châu Á” này có thể xem như một biến thể của chủ nghĩa cộng đồng (communitarism).

Các học giả phương Tây là những người đầu tiên đưa ra lý giải rằng Khổng giáo là nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công kinh tế của các nước Đông Á. Các “công trình khảo cứu” này thực ra là liên quan nhiều hơn đến kinh tế phát triển chứ không phải về chính trị học. Tuy nhiên, sau đó một số chính trị gia châu Á lấy làm thích thú với ý tưởng này, và cải biên nó thành một lập luận về chính trị hướng đến các giá trị tập thể (collective orientation), điều này cũng được dùng để biện minh rằng các giá trị về dân chủ tự do (liberal democracy) là vắng bóng ở châu Á (vì người dân đã chịu ảnh hưởng về Khổng giáo và các giá trị châu Á); và các giá trị châu Á như vậy thích hợp với người châu Á vì đã tạo nên một sự thành công (về kinh tế) đối với các nước tư bản châu Á. Các giá trị châu Á mang giá trị tập thể này ngược với chủ nghĩa tự do của phương Tây và đặc biệt của Hoa Kỳ. Xin mỡ một dấu ngoặc là một điều đáng để ý là trước khi chọn các “giá trị châu Á”, Lý Quang Diệu đã nhờ sự cố vấn của các một số tu sĩ thiên chúa giáo Tây Âu giúp ông thiết lập một ý thức hệ thống trị. Song sự việc không thành, họ Lý đã lựa chọn “giá trị châu Á” và số phận các tu sĩ này vẫn còn là một “bí mật quốc gia”!

Trong trường hợp Singapore, chủ trương ban đầu của PAP và của Lý Quang Diệu là dùng tiếng Anh như một ngôn ngữ cho thương mại và kỹ thuật, hay nói cách khác là dùng tiếng Anh như một công cụ kinh tế. Ông cho rằng chỉ có thể bằng tiếng Anh thì các sinh viên sau khi ra trường mới có thể nắm bắt được các kiến thức của thế giới và làm được việc. Tuy nhiên, theo thời gian, tiếng Anh đã dần dần thay thế tiếng mẹ đẻ và đã trở thành ngôn ngữ đầu tiên (first language). Các thế hệ sau này, không còn sõi tiếng mẹ đẻ và do đó, các văn hóa truyền thống bị dần dần thui chột. Mặc khác, thông qua tiếng Anh, họ đã tiếp cận với văn hóa phương Tây và dần chịu ảnh hưởng. Văn hóa Trung Hoa và Khổng giáo cũng chịu chung số phận. Kết quả là các “giá trị châu Á” thỉnh thoảng chỉ xuất hiện ở mức lập luận của các chính trị gia. Trong khi người dân chỉ quan tâm đến kinh tế. Nói thêm là ngôn ngữ của người Singapore thường dùng hiện nay gọi là Singlish: một thứ tiếng Anh pha lẫn tiếng Hoa cả về ngữ điệu và từ vựng. Chỉ trong những dịp trang trọng thì họ mới dùng tiếng Anh chuẩn về ngữ pháp. Có một sự “đánh giá cao” đối với những người nói tiếng Anh chuẩn. Và tiếng Hoa ở đây “có một giá trị bình dân hơn” so với tiếng Anh.



5. Các tổ chức “chính trị nhánh” được sự hỗ trợ của chính phủ

Như đã nêu ở trên, tính chính danh lãnh đạo của PAP dược xác định và thể hiện ở sự thành công về mặt kinh tế của Singapore. Tuy nhiên, để có được một vị trí thống lĩnh và chi phối chính trường một cách tuyệt đối, PAP, từ những ngày đầu tham gia chính trường Singapore, đã dựa vào những cơ sở chính trị nhánh (parapolitical institutions) để củng cố vị trí. Bằng cách áp dụng chính sách “huy động và tham gia có điều khiển” (controlled mobilization and participation), những cơ sở chính trị nhánh này vừa có mục đích hướng dẫn những nhân tài và thu dụng họ cho các lĩnh vực khác nhau của chính phủ. Ngoài ra, nó còn đóng vai trò như một môi trường truyền thông kiến tạo một hệ thống thông tin giữa người dân và chính quyền. Một khi điều khiển được những kênh thông tin hiệu quả như vậy và ngăn không cho đối lập tiếp cận với các cơ sở chính trị nhánh này, PAP đã thành công trong việc góp phần cô lập các đảng đối lập.

Ba loại hình “cơ sở chính trị nhánh” chính là: Trung Tâm Cộng Đồng (Community Centre - CC), Trung Tâm Tư Vấn của Công Dân (Citizen’s Consultative Committees), và Ủy Ban Địa Phương (Town Council). Việc dựa vào các cở sở chính trị này để củng cố quyền lực bắt đầu nổi bật từ những năm đầu thập niên 1960s.

Trong những năm đầu thập niên 1960s, sau khi bị chia tách trong đảng PAP giữa hai phe: phe cộng sản (Barisan Sosialis) và phe Tây học thân phương Tây (PAP). Đứng giữa tình thế khó có thể củng cố được lực lượng trong một khoảng thời gian ngắn (khi mà khả năng tiếp cận các nghiệp đoàn và các cộng đồng người Hoa nằm trong tay các lãnh tụ theo cánh tả) để thực thi một vai trò quyết định trong một giai đoạn lịch sử quan trọng, các lãnh đạo PAP đã dựa vào các CC để tuyên truyền và củng cố những ảnh hưởng tới những cơ sở ở các khu vực dân cư. Kinh nghiệm nhận được và sự thành công trong chiến lược này là một nguyên nhân để PAP thúc đẩy việc mở rộng một cách có kiểm soát các cơ sở “chính trị nhánh” tương tự sau này.[10]

5.1. Trung Tâm Cộng Đồng (Community Centres - CC)

Cho đến năm 1959, các CC vốn được thành lập từ dưới thời thuộc địa, đóng một vai trò bên lề trong xã hội Singapore và hoạt động giống như các trung tâm giải trí cộng đồng. Một số được quản lý độc lập bởi các ủy ban địa phương, trong khi một số khác bởi Bộ Phúc Lợi Xã Hội (Social Welfare Department). Tuy nhiên, ảnh hưởng của các CC từ từ vượt quá chức năng ban đầu khi hình thành dưới thời thuộc địa. Các trung tâm này dần đóng vai trò tích cực hơn liên quan đến các chính sách như nhà cửa, trợ cấp xã hội, hoặc các trung tâm cứu tế sau khi quân đội Nhật đầu hàng. Vị trí ảnh hưởng chính trị của hệ thống các trung tâm này từ từ nổi lên và được nhìn nhận từ trước khi xảy ra sự kiện đổ vỡ trong PAP. Các trung tâm này có một vai trò tích cực trong việc truyền bá các chủ trương, chính sách của nhà nước và hỗ trợ trong nỗ lực hình thành một quốc gia. Ngoài ra, nó còn đóng vai trò trong việc củng cố quyền lực của PAP bằng cách tăng cường ảnh hưởng và sự hiện diện của PAP xuống tới các khu vực dân cư nghèo khó.

5.2. Trung Tâm Tư Vấn của Công Dân (Citizen’s Consultative Committees - CCC)

Các CCC được thành lập vào năm 1965 và là một phần trong cơ chế nhằm tìm kiếm và nuôi dưỡng những lãnh đạo không chính thức (informal leader). Một cách riêng biệt, các tổ chức này còn được nhìn nhận như là một cơ chế nhằm tăng cường việc xử lý những bất đồng nhỏ, và được làm theo mô hình trước đây khi quân đội Nhật chiếm đóng Singapore. Trong thời kì Nhật chiếm đóng, các hội đồng làng (village council) đã được dựng lên để ổn định trật tự và làm nhiệm vụ thông tin cho quân đội Nhật các tổ chức chống đối cơ sở. Sự khẩn cấp hình thành một cơ chế xử lý như vậy bắt nguồn từ kinh nghiệm cuộc xung đột sắc tộc xảy ra vào năm 1964; trong cuộc xung đột đó, các lãnh đạo phải viện đến các lãnh đạo không chính thức ở địa phương để hòa giải. Các CCC vừa truyền đạt thông tin hai chiều: các nguyện vọng và đề đạt từ nhân dân đến chính quyền và các chính sách từ chính quyền ngược trở lại. Mỗi đơn vị bầu cử có một CCC và thành viên của CCC do Nghị sĩ khu vực đề cử.

5.3. Ủy Ban Địa Phương (Town Council -TC)

Mô hình các TC được đề xướng năm 1985 và được thí điểm lần đầu tiên vào năm 1986. Đây cũng là một nỗ lực của chính quyền trong việc duy trì cơ chế thông tin và ảnh hưởng tới các cơ sở địa phương. Mục tiêu ban đầu của các TC là tạo một cơ chế để các cư dân và các Nghị sĩ cùng nhau hợp tác nhằm quản lý các khu nhà chung cư (vốn hiện nay chiếm tới 90% nhà ở của người Singapore) và giữ gìn môi trường xung quanh. Sự thành công của các TC được đánh giá không chỉ ở khả năng quản lý các khu chung cư mà còn ở khả năng thúc đẩy sự hợp tác của người dân đóng góp những đề xuất trong việc quản lý. Các viên quản lý các khu TC thường là các vị lãnh đạo trong cộng đồng qua sự chọn lựa của các Nghị sĩ. Và chính vì vậy, khả năng của các Nghị sĩ được đánh giá một phần qua khả năng điều hành các khu TC và khả năng quản lý các quỹ được phân bổ về.



6. Tham nhũng ở Singapore

Theo Tổ chức Minh Bạch Thế Giới năm 2006,[11] Singapore xếp hạng thứ 5 trong bảng xếp hạng về đánh giá mức độ tham nhũng trên thế giới (Corruption Perception Index – CPI). Trong một đất nước mà do một đảng thống trị, chỉ số này còn phần nào phản ánh sự trong sạch của đảng lãnh đạo. Vụ án tham nhũng nổi bật nhất trong PAP xảy ra vào năm 1986. Bộ Trưởng Phát Triển Quốc Gia Teh Cheang Wan đã tự tử 12 ngày sau khi bị thẩm vấn trong vòng 16 giờ đồng hồ bởi hai nhân viên cục Điều Tra Hành Vi Tham Nhũng Singapore (Corrupt Practices Investigation Bureau - CPIB). Trong vụ này, Teh bị tố cáo bởi một nhà thầu xây dựng và bị buộc tội nhận khoản tiền lên đến một triệu đô la Singapore trong hai năm 1981 và 1982 từ hai nhà phát triển dự án để cho phép một trong hai người giữ lại phần đất vốn đã được thu lại bởi nhà nước, và giúp đỡ người kia trong việc mua lại phần đất của nhà nước để phát triển dự án cá nhân. Hệ quả của vụ án này là việc tu chỉnh lại luật tham nhũng vào năm 1989, theo đó cho phép sung công tài sản có đựợc liên quan đến tham nhũng. Dựa theo luật mới, trong khoảng thời gian sáu năm tình đến ngày người đã chết, bất cứ tài sản nào có được do liên quan đến hành vi tham nhũng thì sẽ được sung công quỹ. Những tài sản sung công quỹ bao gồm những khoản mà không chứng minh được thu nhập hợp pháp thỏa mãn những yêu cầu giải trình của tòa án.

Ngoài ra, việc chống tham nhũng còn đóng vai trò như một cương lĩnh hoạt động, và nhận được nhiều ủng hộ của cử tri, góp phần tạo dựng nên vị trí chính trị cho PAP từ những ngày đầu tham gia chính trường. Hành động quyết tâm chống tham nhũng đóng một vai trò quan trọng dẫn đến thắng lợi của PAP của Singapore vào năm 1959. Sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Ủy Ban Thành Phố (City Council) vào tháng 12 năm 1957 và trên cương lĩnh chống tham nhũng – vốn đã là một vấn đề nổi cộm có từ thời thuộc địa Anh – PAP khởi đầu chiến dịnh vận động tranh cử bằng cách tiết lộ Bộ Trưởng Giáo Dục của Mặt Trận Lao Động (Labour Front), Chew Swee Kee, đã nhận tiền hối lộ từ chính quyền Mỹ nhằm đánh bại PAP trong cuộc tổng tuyển cử. Thủ Tướng (Chief Minister), Lim Yew Hock, đã chỉ định một Ủy Ban Điều Tra, và Chew đã thừa nhận nhận tổng cộng bảy trăm ngàn đô la Singapore vào hai lần từ chính phủ Mỹ. Việc thừa nhận tham nhũng của Chew đã đánh dấu chấm hết cho số phận của đảng của ông, và PAP thắng cử lớn vào năm 1959.

Trong những năm đầu lãnh đạo, vì không có khả năng để nâng lương cho các nhân viên công vụ, để chống tham nhũng PAP đã bắt đầu xiết chặt các luật vốn đã có để làm giảm cơ hội tham nhũng, đồng thời tăng mức hình phạt các hành vi tham nhũng. Các luật về chống tham nhũng lần lượt được ra đời và tu chỉnh theo thời gian (1963, 1966, 1981, 1989). Bên cạnh đó, CPIB được thành lập và được trao một quyền hành lớn hơn, chịu trách nhiệm theo dõi, điều tra các hành vi liên quan đến tham nhũng của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào và sẵn sàng bắt giữ nếu thấy cần thiết. Được đặt trong phủ thủ tướng, nên mặc dù với một số lượng nhân viên không nhiều (71 nhân viên, số liệu năm 1994), CPIB thực hiện được vai trò của mình bằng cách kết hợp với các cơ quan khác. Những năm sau này, khi nền kinh tế khởi sắc và quốc gia có một ngân khoản dồi dào hơn, chính phủ nâng lương công chức từ từ, một phần nhằm thu hút nhân tài nhằm tăng hiệu quả hoạt động của chính quyền, một phần giảm thiểu tham vọng tìm cơ hội tham nhũng của các công chức nhà nước .[12]

Thành tích chống tham nhũng của Singapore có được trước hết là nhờ một ý chí chính trị mạnh mẽ và người cầm quyền đủ quyền lực và trong sạch để thực thi việc chống tham nhũng. Không thể nói đến chuyện chống tham nhũng khi mà chỉ có những “con cá nhỏ” bị đem ra xử trong khi những “con cá lớn” vẫn nhởn nhơ. Một cơ quan chống tham nhũng độc lập, không trực thuộc lực lượng cảnh sát (vốn thường rất tham nhũng), và có đủ quyền lực để thực thi những biện pháp dựa trên một bộ luật hợp lý mang tính răn đe là một điều kiện cần cho việc chống tham nhũng thành công. Một mức lương hấp dẫn để cho viên chức có thể sống được bằng cách tinh giản bớt bộ máy sẽ giúp cho giới công chức hạn chế được ý muốn tham nhũng bằng mọi cách. Việc tinh giản bộ máy nằm trong cơ chế tinh giản các thủ tục cũng sẽ đóng vai trò giảm bớt các cơ hội để tham nhũng. Và cuối cùng, nhờ vào điều kiện đặc thù của một đảo quốc nhỏ, Singapore dễ dàng quản lý và thực hiện các luật hơn. Trong khi cục chống tham nhũng của Hồng Kông có một cơ quan tuyên truyền và đưa ra các bản báo cáo thu chi tài chính hàng năm, thì CPIB của Singapore đã giữ một khoảng cách với dân chúng và có tính bí mật. Các chính sách của Singapore tập trung vào việc giảm cơ hội để tham nhũng và động lực để tham nhũng, thì Hong Kong chỉ tập trung vào việc giảm bớt cơ hội để tham nhũng.



7. Tạm kết luận

Sự hiện diện của các viên chức nước ngoài trong một chế độ thuộc địa dù với bất kì một khẩu hiệu nào (kể cả khai sáng) ở vào thời điểm cuối của phong trào thuộc địa đã trở thành một hình ảnh không mấy thiện cảm đối với người dân địa phương. Đây cũng là thời điểm mà phong trào đòi độc lập của các nước thuộc địa dâng lên cao và lan tỏa. Nếu hiểu rằng chính trị là nghệ thuật dẫn dụ lòng người, thì việc thõa mãn những tâm tư, nguyện vọng thầm kín nhất của quần chúng là bước ban đầu. Không gì hay hơn trong thời điểm này là trương lên một khẩu hiệu xây dựng một đất nước độc lập tự chủ, dân chủ và một tương lai tươi sáng hơn cho những con người trên đất nước ấy. PAP đã dựa trên một quan điểm như vậy để tranh thủ một vị trí quyền lực lâu dài cho mình.

Ở đây, một ý thức hệ rõ ràng chỉ được hình thành sau khi giới lãnh đạo nắm giữ được chính quyền. Và do đó, ý thức hệ chỉ đóng vai trò là một phương cớ nhằm thực hiện một trật tự xã hội mới, trong đó một đồng thuận xã hội mới được hình thành và dẫn dắt bởi các ý tưởng của giới lãnh đạo. Như trên đã đề cập, một cuộc cách mạng xã hội được xem là thành công và có ý nghĩa, trước hết, chỉ khi theo sau nó phải là một sự phát triển kinh tế trên bình diện quốc gia và sự nâng cao đời sống vật chất trên từng cá thể. Và khi mà đa số người dân không có nhiều thì giờ để tìm hiểu một cách tường tận một hệ thống ý thức hệ - vốn dĩ đã quá hàn lâm và thường được biết đến chủ yếu bởi một vài điểm nhấn – , thì sự nhìn nhận một ý thức hệ được gắn liền với sự thành công về mặt kinh tế là điều dễ hiểu. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với một đảng cầm quyền trước hết là có hay không một giải pháp kinh tế phát triển quốc gia. Điều này được nhìn thấy rõ hơn khi các chế độ chính trị sau một thời gian dài ổn định đã sụp đổ khi mất khả năng kiểm soát hay phát triển nền kinh tế.

Và cuối cùng, sự ủng hộ của các đảng chính trị đến từ người dân. Việc tạo ra một cơ chế nhằm phát hiện, tuyển dụng, và đào tạo những lãnh đạo tự nhiên và tài năng xuất thân từ những cơ sở quần chúng sẽ giúp cho các đảng chính trị củng cố được quyền lực nền tảng. Bên cạnh đó, một cơ chế như vậy cũng sẽ đóng vai trò như một kênh truyền thông hai chiều nhằm thông tin các chủ trương, chính sách của đảng chính trị đến người dân và thu nhận những góp ý từ phía ngược lại. Phương pháp này đã chứng minh sự hiệu quả trong việc giảm ảnh hưởng và quyền lực của đối lập bằng cách không cho đối lập tiếp xúc với những cơ chế như vậy.

Sự thành công về kinh tế của Singapore trong suốt hơn 40 năm đã là một đề tài thường xuyên được nhắc đến và trích dẫn như một mô hình tham khảo về phát triển kinh tế đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là tại các nước mà mô hình độc đảng vẫn đang còn thống trị. Nó được đư ra như là một biện cứ nhằm bảo vệ cho lập luận rằng mô hình độc đảng vẫn có thể đưa đất nước đi lên về mặt kinh tế. Sẽ là một thiếu sót khi nhìn về sự phát triển của một đất nước thông qua duy nhất chỉ những con số về kinh tế và mức sống của người dân. Sự phát triển trên bình diện quốc gia còn nằm ở những thang giá trị về văn hóa và tinh thần – những giá trị mà khó có thể được cân đo bằng những con số, mà bằng chính sự cảm nhận thông qua trao đổi hay tiếp xúc, và những phát kiến mang tính sáng tạo. Những giá trị này đóng vai trò nòng cốt, nền tảng cho những hành động dẫn đến những đột phá trong kinh tế hay kĩ thuật, đặt biệt trong thời đại kinh tế tri thức, dựa vào khả năng tư duy độc lập và sáng tạo ngày nay. Ngoài ra, nó còn giúp kiến tạo nên một văn hóa đặc thù và giúp duy trì bẳn sắc văn hóa của một dân tộc.

Trở lại trường hợp Singapore, việc dễ nhận thấy nhất thông qua tiếp xúcvới tầng lớp thanh niên đó là: mối quan tâm duy nhất của họ là kinh tế - có một mảnh bằng tốt, một công việc tốt và một cuộc sống sung túc về vật chất để thụ hưởng. Mọi vấn đề khác đã có chính phủ lo. Sự thờ ơ của tầng lớp có học thức này đối với đất nước đã được chính ông Lý Quang Diệu lên tiếng cảnh báo. Tuy nhiên, làm sao trách được họ khi mà PAP độc quyền đưa ra những chính sách và quan điểm; và giới trẻ có một cảm nhận họ đứng bên lề các tranh luận chính trị - một hệ quả của sự đàn áp các ý kiến chỉ trích những chính sách hay hành động của chính phủ và các thành viên vốn đã từng xảy ra trước đây. Các đề tài hay ý kiến mang tính chỉ trích hay phê phán chính phủ đã được hiểu là nhạy cảm.

Một ví dụ khác đó là việc thiếu hẳn một văn hóa nghiên cứu và tinh thần khoa học ở các trường đại học lớn ở Singapore. Một môi trường văn hóa nghiên cứu (thường xuất hiện ở các trường đại học danh tiếng, nơi đào tạo ra các vị lãnh đạo của quốc gia) thường là nơi diễn ra những cuộc tranh luận về bất cứ những phát kiến hay ý tưởng mới mà hầu như không có đề tài cấm kỵ nào. Môi trường này là nơi để các trí thức trẻ trao đổi và trau dồi tư duy, tư tưởng. Việc thiếu một môi trường như thế khiến những trí thức trẻ của Singapore tốt nghiệp đại học trở thành những người “thợ cao casp của nền công nghiệp hóa” hơn là những trí thức có tư duy độc lập và phản biện, cũng như có mối quan tâm nhiều hơn về đất nước – lực lượng nòng cốt để đóng vai trò những lãnh đạo tương lai của đất nước.

Để lập khoảng trống này, những sinh viên ưu tú sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học đã được tuyển lựa để đưa đi đào tạo tại chủ yếu là Anh và Hoa Kỳ. Những sinh viên này sau khi tốt nghiệp sẽ trở thành những người lãnh đạo tương lai của Singapore. Và một hệ quả khác bắt đầu: quá trình Tây hóa không cưỡng được bắt đầu từ chính những người lãnh đạo Tây học.

Một câu hỏi được đặt ra đó là Singapore có thể làm mô hình (một đảng để phát triển đất nước) tại những quốc gia đang phát triển có diện tích và dân số lớn hơn gấp nhiều lần, và với một sự khác biệt về văn hóa, tư tưởng lớn. Một sự so sánh như thế khá khập khiểng và thường xảy ra nhiều tranh luận. Nhưng một vấn đề dễ nhận thấy đối với Singapore đó là sự can thiệp quá sâu và mọi sinh hoạt của đời sống người dân (theo cách này hay cách khác) và tầng lớp trí thức trẻ nằm ngoài PAP dường như không có ý kiến nào đối với hướng đi của đất nước. Một cảm giác giống như một “công dân nước ngoài”!



Chú thích



[1] PAP, viết tắt của People Action Party, đảng Nhân Dân Hành Động, nắm quyền ở Singapore từ khi nước này được thành lập cho đến nay.

[2] Lý thuyết của Gramsci phát triển nhằm vạch ra các quá trình để xây dựng một vị trí lãnh đạo về tinh thần (moral leadership) thông qua quyền lãnh đạo ý thức hệ. Xem Antonio Gramsci, 1971, “Selections from the Prison Notebooks” Lawrence and Wishart. New York, trang 181-182.

[3] Beng Huat Chua, 1995, “Communitarian Ideology and Democracy in Singapore” , London: Routledge, trang 13.

[4] Beng Huat Chua (1995), trang 16-17.

[5] Beng Huat Chua (1995), trang 48-50.

[6] Beng Huat Chua (1995), trang 64.

[7] Beng Huat Chua (1995), trang 69-70

[8] Beng Huat Chua (1995), trang 75.

[9] Vài điều về vấn đề ý thức hệ: Thứ nhất, một ý thức hệ chính trị là một hệ thống khái niệm phức hợp, được tổ chức một cách lỏng lẻo, và nòng cốt bởi một vài khái niệm chính mà những người cầm quyền viện dẫn nó như là những giải pháp cho những vấn đề trong hệ thống chính trị. Việc phân tích các tác động của những khái niệm ý thức hệ phải tập trung vào tính hợp lý tùy theo hoàn cảnh lịch sử, thay vì các cấu trúc hệ thống của chúng. Chính vì thế mà khoảng cách giữa yêu cầu cho tính hệ thống và yêu cầu khi tập trung vào tính hợp lý theo hoàn cảnh lịch sử có thể bị khai thác như là một cơ sở cho những chỉ trích mang tính ý thức hệ.

Thứ hai, sự đồng thuận (hay quyền lãnh đạo) về ý thức hệ cho phép hệ thống những ý tưởng của nhóm cầm quyền được chấp thuận một cách khá lỏng lẻo, được dần dần truyền bá bởi những giai cấp bị trị và được xem như là “điều thực tế hiển nhiên trong đời sống hằng ngày”. Trong những điều kiện như vậy, “chính sách hóa” xã hội (do sự đồng thuận không bao giờ là tuyệt đối) được sử dụng như là bước cần thiết để duy trì lợi ích chung của xã hội theo yêu cầu của số đông. Trong đó, giới cầm quyền và giới bị trị là hai thực thể chính trị cùng chia sẻ những khái niệm ý thức hệ và cùng đóng góp xây dựng một trật tự xã hội vốn do giới cầm quyền đề xướng. Do đó, các thành viên của đảng cầm quyền không thể hiện diện như những kẻ cai trị mà thay vào đó là những lãnh đạo của nhân dân (,làm gương cho nhân dân). Ngược lại, khi không có sự đồng thuận về ý thức hệ, sự cưỡng bách hay dùng vũ lực là điều cần thiết để dập tắt những nhóm chống đối. Trong những trường hợp như vây, việc thể hiện quyền lực đóng vai trò chi phối. Điều này thường có nguy cơ dẫn đến sự khủng hoảng về tính chính danh của đảng cầm quyền. Do đó, các đảng cầm quyền luôn cố gắng cầm quyền bằng khả năng lãnh đạo (leadership) thay vì khả năng dùng vũ lực (naked force); và họ thường cố gắng dùng một nguồn lực đáng kể nhằm duy trì một điều kiện đồng thuận về chính trị.

Thứ ba, bởi vì những điều không tương đồng mang tính hệ thống giữa những khái niệm và sự hợp lý của những khái niệm này tùy vào điều kiện lịch sử, những khái niệm liên quan thường được viện dẫn để đưa ra những lối giải thích có tính thuyết phục hơn tới giai cấp mà nhóm cầm quyền muốn nhắm tới. Điều này đôi khi cũng tạo ra kẻ hở cho những chỉ trích. Tuy nhiên, dưới những điều kiện đồng thuận như vậy, các chỉ trích (thường có) không ảnh hưởng gì mấy đến tính “hợp pháp” của lối giải thích xuất phát từ những người cầm quyền, vốn đã nhận được sự ủng hộ mạng mẽ của một lực lượng trung thành đông đảo.

Cuối cùng, vì sự đồng thuận ý thức hệ chính trị là một sự kiện có tính chung chung được phân tán trong toàn chính thể, nó không thể đạt được một cách giới hạn vào một lãnh vực đời sống cụ thể nào. Và do đó, đối với đa số quần chúng, vốn không có nhiều thời gian và kiên nhẫn để cố hiểu hết ý nghĩa của những khái niệm này, sự thăng tiến về các điều kiện sống và các thành tựu thấy được trên bình diện quốc gia và cá nhân là những câu trả lời của họ đối với một ý thức hệ.

Bắt đầu là các dự án xây nhà, bán giá rẻ và trả góp cho người dân, chăm lo, nâng cao giáo dục, y tế, rồi nâng cao mức sống người dân, đến tạo một vị thế cho Singapore trên diễn đàn thế giới. Các chính sách liên tục thành công đã mặc nhiên tạo được một đồng thuận trong dân chúng về tính chính đáng của PAP trong lãnh đạo và ý thức hệ của nó.

[10] Michael Hill và Lian Kwen Fee, 1995, “The politics of national bulding and citizenship in Singapore”, London: Routledge, trang 170-187.

[11] Corruption Perception Index. Nguồn: http://www.transparency.org/regional_pages/asia_pacific/resources/surveys_and_indices#cpi

[12] Jon S. T. Quah, 1995, “Controlling corruption in city-states: A Comparative Study of HongKong and Singapore”, Crime, Law & Social Change, Kluwer Academic Publishers.

Mức lương của các viên chức cao cấp trong chinh quyền Singapore hiện nay thuộc hàng cao. Trong lần điều chỉnh lương vào năm 1989, lương hàng tháng của nhân viên hạng năm (Staff Grade V) là S$42,000 (US$26,103). Tuy vậy, mức lương này vẫn được cho là còn khiêm tốn so với các lãnh đạo cao cấp trong các khu vực tư nhân.



Tham khảo chính

Beng Huat Chua, 1995, “Communitarian Ideology and Democracy in Singapore”, London: Routledge.

Beng Huat Chua, 2004, “Communitarian Politics in Asia”, London: Routledge.

Gentile, Gentile, 2006, “Politics as Religion”, Princeton University Press, 2006

Gramsci, Antonio “Selections from the Prison Notebooks” Lawrence and Wishart. New York, 1971

Jorge Larrain,“The Concept of Ideology”, The University of Georgia Press, 1979

Jorge Larrain, “Marxism and Ideology”, The Macmillan Press Ltd,1983

John Clammer, “Singapore Ideology, Society, Culture”, Chopmen Publishers, 1985

István Bessenyei, Jean-Pier Cotton, Wieland, et al. “Rethinking Ideology: A Marxist Debate” International General/IMMRC, 1983.

Lucio Colletti “From Rousseau to Lenin – Studies in Ideology and Society”, Monthly Review Press, 1972

Michael Hill và Lian Kwen Fee “The politics of national bulding and citizenship in Singapore”

Robert Porter, “Ideology – Contemporary, Social, Political and Cultural Theory”, University of Wales Press, 2006

Sassoon Anne Showstack “Gramsci’s Politics”, Croom Helm, London 1980

“Maker of Modern Social Science – Karl Marx” edited by Tom Bottomore, Prentice –Hall, Inc, 1973.

“Singapore”, Wikipedia. Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Singapore

“Communism Ideology”, Wikipedia. Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Communism_Ideology

Waxman, Chaim I., 1968, “The End of Ideology Debate”, Funk & Wagnalls, A Division of Reader’s Digest Books, Inc.





© Thời Đại Mới



Trở về trang chủ Thời Đại Mới



6-10-08