Hiển thị các bài đăng có nhãn Aleksandr Solzhenitsyn – Con người đã quên Chúa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Aleksandr Solzhenitsyn – Con người đã quên Chúa. Hiển thị tất cả bài đăng

17/08/2009

Aleksandr Solzhenitsyn – Con người đã quên Chúa



Aleksandr Solzhenitsyn – Con người đã quên Chúa

Trần Quốc Việt dịch

talawas: Nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn, người đoạt Giải Nobel Văn chương năm 1970, đọc bài diễn văn này ở London ngày 10/5/1983, khi nhận Giải thưởng Templeton. Bài diễn văn này trình bày tư tưởng ngày càng trở nên chủ đạo, bị không ít người coi là bảo thủ, thậm chí bảo căn, và gây nhiều tranh cãi của Solzhenitsyn, đó là tìm căn nguyên của mọi đổ vỡ xã hội trong việc xa rời các giá trị tinh thần và đạo đức của Thiên chúa giáo, đặc biệt của Chính giáo Nga, và coi việc trở về với các giá trị này như lối thoát duy nhất cho nước Nga cộng sản mà ông lên án và cho các xã hội phương Tây mà ông phê phán. Chúng tôi giới thiệu bài diễn văn này với hy vọng độc giả tự đi đến nhận định độc lập của mình.
__________

Thuở nhỏ, cách đây hơn nửa thế kỷ, tôi nhớ là thường nghe nhiều người có tuổi đưa ra lời giải thích như sau về những tai ương lớn đã giáng xuống nước Nga: con người đã quên Chúa; vì vậy đã xảy ra mọi cơ sự.

Kể từ đó tôi đã dành gần năm mươi năm nghiên cứu lịch sử cuộc cách mạng của chúng tôi; trong quá trình tìm tòi này tôi đã đọc hàng trăm cuốn sách, sưu tầm được hàng trăm lời chứng thực cá nhân, và đã đóng góp tám cuốn sách của riêng mình vào nỗ lực dọn sạch đống đổ nát tang thương để lại sau cơn bể dâu ấy. Nhưng hôm nay nếu có ai yêu cầu tôi trình bày hết sức cô đọng nguyên nhân chính của cuộc cách mạng hoang tàn mà đã nuốt chửng độ sáu mươi triệu dân chúng tôi, tôi không thể nào diễn đạt chính xác hơn là lặp lại: con người đã quên Chúa; vì vậy đã xảy ra mọi cơ sự.

Hơn nữa, những sự kiện của cuộc Cách mạng Nga giờ đây, ở cuối thế kỷ này, chỉ có thể hiểu được dựa theo bối cảnh của những gì từ đó đã diễn ra ở phần còn lại trên thế giới. Điều xuất hiện ở đây là một quá trình có ý nghĩa chung. Và nếu có ai yêu cầu tôi xác định vắn tắt đặc điểm chính của toàn bộ thế kỷ hai mươi, thì ở đây, tôi cũng không thể nào tìm được lời nào rõ ràng hơn và súc tích hơn là lặp lại: Con người đã quên Chúa.

Những khiếm khuyết của ý thức con người, do bị tước đi chiều sâu đức tin của mình, đã là nhân tố quyết định trong tất cả các tội ác chính của thế kỷ này. Tội ác đầu tiên là Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, và phần nhiều tình cảnh khó khăn hiện nay có thể lần theo tội đầu tiên này. Đó là một cuộc chiến tranh (ký ức về nó dường như đang mờ nhạt) diễn ra khi châu Âu đang tràn đầy nhựa sống và thịnh vượng lại sa vào cơn tự hủy mà không thể nào không hút đi sức mạnh của nó trong cả thế kỷ hoặc có thể hơn, và có lẽ vĩnh viễn. Lời giải thích duy nhất khả dĩ có cho cuộc chiến này là sự lu mờ tinh thần trong giới lãnh đạo châu Âu, do họ đã mất đi ý thức về một Đấng Tối cao bên trên họ. Chỉ có sự phẫn nộ vô đạo mới có thể khiến các quốc gia bề ngoài theo Thiên chúa giáo sử dụng đến hơi độc, một loại vũ khí rõ ràng là vượt quá giới hạn của lòng nhân đạo.

Vẫn cùng một khuyết điểm này, khiếm khuyết của một ý thức thiếu tất cả chiều sâu của đức tin, đã biểu lộ rõ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, khi phương Tây buông mình theo cám dỗ ma quỷ của “chiếc dù hạt nhân”. Điều đó chẳng khác gì nói rằng: Ta hãy vất đi các lo âu, ta hãy giải phóng các thế hệ trẻ hơn khỏi ràng buộc của bổn phận và trách nhiệm, ta hãy thôi cố gắng bảo vệ chính mình, chứ đừng nói gì đến bảo vệ những kẻ khác – ta hãy bịt tai trước bao rên rỉ từ phương Đông vọng đến, và thay vào đó ta hãy sống để theo đuổi hạnh phúc. Nếu nguy hiểm có đe dọa mình chăng nữa, ta sẽ được bom hạt nhân bảo vệ; rồi nếu chẳng may thế gian có tiêu tan trong biển lửa địa ngục ta cũng chẳng màng đến. Tình trạng bất lực đáng thương nói trên mà phương Tây đương thời đang rơi vào phần lớn là do sai lầm chết người này: niềm tin rằng bảo vệ hoà bình không phụ thuộc vào những tấm lòng can đảm và những con người kiên định, mà chủ yếu phụ thuộc vào bom hạt nhân…

Thế giới ngày nay đang đi đến một giai đoạn mà nếu ta tả ra cho người của các thế kỷ trước biết, họ chắc sẽ than: “Như vậy là Tận thế!”

Tuy nhiên chúng ta đã quen với thế giới như thế; thậm chí chúng ta còn thoải mái sống trong đó.

Dostoevsky đã báo trước rằng “những sự kiện lớn bất ngờ xảy đến với ta khiến ta không chuẩn bị trước về mặt trí thức.” Đây chính là những gì đang xảy ra. Ông tiên đoán rằng “thế giới có thể được cứu rỗi chỉ sau khi nó đã bị con quỷ của cái ác ám.” Chuyện thế giới có thật sự được cứu rỗi hay không, chúng ta còn phải chờ xem: điều này nhất định còn phụ thuộc vào lương tâm, vào sự toả sáng tinh thần, vào những nỗ lực cá nhân và tập thể của chúng ta khi đối mặt với cảnh thảm họa. Nhưng chuyện đã rồi là con quỷ của cái ác, giống như cơn cuồng phong, hiện đang vần vũ ngạo nghễ trên khắp năm châu của thế giới.

Trong quá khứ của mình, nước Nga đã thật sự biết đến một thời kỳ khi lý tưởng xã hội không phải là tiếng tăm, của cải, hay thành đạt vật chất, mà là nếp sống ngoan đạo. Thời đó nước Nga thấm đẫm tinh thần Chính giáo vốn vẫn còn trung thành với Giáo hội của những thế kỷ đầu tiên. Chính giáo lúc đó biết bảo vệ dân tộc mình dưới ách ngoại xâm kéo dài hơn hai thế kỷ, đồng thời cũng chống đỡ lại những nhát gươm tàn bạo từ những thanh kiếm trên tay của những kẻ Thập tự Chinh phương Tây. Trong suốt bao thế kỷ này đức tin Chính giáo đã trở thành một phần nếp nghĩ và tính cách của dân tộc chúng tôi, thành lề thói trong cuộc sống hằng ngày, thành lịch công việc, thành những ưu tiên hơn trong mọi việc đời thường, thành sự xắp xếp lịch cho tuần và cho năm. Đức tin đã là lực thống nhất và định hình của quốc gia.

Nhưng vào thế kỷ thứ 17, Chính giáo Nga suy yếu nghiêm trọng do một sự ly giáo trong nội bộ. Đến thế kỷ thứ 18, đất nước lại rung chuyển dưới một loạt cải cách do vua Peter áp đặt bằng vũ lực. Các chính sách cải cách chú trọng về kinh tế, nhà nước và quân đội nhưng lại hy sinh tinh thần tôn giáo và sinh mạng dân tộc. Cùng với sự khai sáng thiếu cân bằng này, nước Nga đã cảm nhận làn hơi thế tục mà chất độc tinh tế của nó ngấm dần vào tầng lớp có học ở thế kỷ thứ 19 rồi mở đường đến chủ nghĩa Marx. Vào thời điểm của cuộc cách mạng, đức tin đã hầu như biến mất trong giới có học ở Nga; còn trong giới thất học thì sức sống của đức tin đang lâm nguy.

Chính Dostoevsky, lại một lần nữa, rút ra bài học từ cuộc Cách mạng Pháp và từ mối ác cảm của cuộc cách mạng này đối với Nhà thờ là “cách mạng phải nhất thiết bắt đầu bằng chủ nghĩa vô thần.” Điều đó tuyệt đối đúng. Nhưng trước đây thế giới chưa bao giờ từng biết đến một sự vô đạo nào mà có tổ chức, có quân phiệt hoá, và ác dai dẳng cho bằng sự vô đạo mà chủ nghĩa Marx áp dụng. Trong lòng hệ thống triết học của Marx và Lenin, và ở trong cốt lõi tâm lý của họ, ác cảm với Chúa là động lực chính, còn cơ bản hơn tất cả các tuyên bố sai lầm của họ về kinh tế và chính trị. Chủ nghĩa vô thần hung hăng không hẳn là ngẫu nhiên hay là bên lề chính sách cộng sản; nó không phải là một phản ứng phụ, mà là trọng tâm chính.

Vào những năm 1920 ở Liên Xô đã chứng kiến cuộc diễu hành vô tận của những nạn nhân và người tử vì đạo trong giới tu sĩ Chính giáo. Hai người đứng đầu giáo phận tỉnh bị hành quyết, trong đó có ông Veniamin thuộc giáo phận Petrograd, được giáo dân trong giáo phận bầu lên. Chính bản thân đức Tổng Giám mục Tikhon của Mạc Tư Khoa và Toàn Nga đã trải qua nhiều tay công an và mật vụ và rồi qua đời trong hoàn cảnh đáng ngờ. Hàng chục vị Tổng Giám mục và giám mục đã bỏ mạng. Hàng chục ngàn linh mục, thầy dòng, và nữ tu, bị công an ép phải chối bỏ Lời Chúa, bị tra tấn, bị hành quyết ở duới các tầng hầm, bị tống vào các trại tù, bị đày đến các thảo nguyên hoang vu miền cực bắc, hay lúc tuổi già sập đến thì bị đẩy ra lề đường trong cảnh đói khát và không nơi nương tựa. Tất cả những người tử đạo Thiên chúa này, vì lòng tin, đã đi thẳng đến cái chết; các trường hợp chối bỏ đạo ít phổ biến. Riêng đối với hàng chục triệu giáo dân, con đường đến với Giáo hội bị ngăn chặn, và họ bị cấm dạy dỗ đạo cho con: các bậc cha mẹ ngoan đạo bị chia lìa với con cái và bị tống vào tù, còn con họ, do bị đe dọa và bị tuyên truyền dối trá, đã xa rời lòng tin…

Trong một giai đoạn ngắn, khi cần tập hợp sức mạnh cho cuộc đấu tranh chống Hitler, Stalin đã dè dặt chọn một thái độ thân thiện với Giáo hội. Trò gian lận này, trong những năm về sau, được Brezhnev lặp lại nhờ vào các ấn phẩm trưng bày và các hình thức giả dối bề ngoài khác; không may lại khiến phương Tây lầm tưởng mà tin vào giá trị bề mặt của nó. Tuy nhiên sự căm ghét tôn giáo không nguôi, vốn có sẵn trong gốc rễ của chủ nghĩa cộng sản, có thể được phán xét qua trường hợp của Krushchev, nhà lãnh đạo cấp tiến nhất của họ: dù ông ta có thực hiện một số bước có ý nghĩa để mở rộng tự do, nhưng cũng đồng thời làm sống lại trong lòng người cộng sản theo chủ nghĩa Lenin nỗi ám ảnh cuồng nhiệt phải tiêu diệt tôn giáo.

Nhưng có điều họ đã không ngờ: rằng ở nơi nhà thờ đã bị san bằng, nơi chủ nghĩa vô thần đang mặc sức lấn lướt trong hai phần ba thế kỷ, nơi giới tu sĩ hoàn toàn bị khinh rẻ và mất đi tất cả sự độc lập, nơi những gì còn sót lại của Giáo hội như một thể chế, hiện đang được chấp nhận chỉ cho mục đich tuyên truyền nhắm vào phương Tây, nơi đến tận hôm nay vẫn có người bị lưu đày đến các trại lao động vì lòng tin của mình, và nơi mà ngay cả bên trong các trại này, những ai tụ họp lại để cầu nguyện vào dịp lễ Phục sinh, đều bị tát tai trong những xà lim kỷ luật – họ không thể hình dung rằng ở dưới cỗ xe ủi cộng sản này truyền thống Thiên chúa ở Nga vẫn sống sót. Đành rằng có hàng triệu đồng bào chúng tôi đã bị sa đọa và suy sụp về đức tin, tuy nhiên vẫn còn có hàng triệu tín hữu khác: chỉ vì do áp lực bên ngoài mà không dám bày tỏ công khai chính kiến của mình, nhưng cũng đúng như trong thời truy bức và khổ nạn, ý thức về Chúa ở nước tôi đã đạt đến mức độ tinh tế hơn và sâu sắc hơn nhiều.

Chính ở đây chúng ta nhìn thấy bình minh của hy vọng: vì cho dù chủ nghĩa cộng sản có dàn trải tua tủa đáng sợ ra bao xe tăng và hỏa tiễn, cho dù nó có đạt đến thắng lợi nào trong việc cướp được hành tinh này, nó nhất định không bao giờ khuất phục được Thiên chúa giáo.

Phương Tây chưa kinh qua một cuộc xăm lăng cộng sản; tôn giáo ở đây vẫn còn tự do. Nhưng sự tiến hoá lịch sử của chính phương Tây là sự tiến hoá để rồi hôm nay nó cũng đang trải qua một sự khô cạn về ý thức tôn giáo. Phương Tây cũng chứng kiến những sự ly giáo đau đớn, những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu, và hận thù, chưa nói đến cơn lũ thế tục mà, từ thời Trung cổ trở đi, đã từ từ tràn ngập phương Tây. Đối với lòng tin, sự suy kiệt dần sức mạnh bên trong là một mối đe dọa thậm chí còn nguy hiểm hơn bất kỳ toan tính tấn công dữ dội nào từ bên ngoài.

Trải qua hàng chục năm xói mòn dần dần trong âm thầm lặng lẽ, giờ đây ý nghĩa cuộc sống ở phương Tây không còn gì cao quý hơn là “mưu cầu hạnh phúc”, một mục tiêu thậm chí được bảo đảm trân trọng trong các hiến pháp. Bao khái niệm về Thiện và Ác đã bị chế giễu suốt trong vài thế kỷ; do bị tách rời khỏi cách dùng thông thường, các khái niệm này đã bị thay thế bằng những nhân tố vốn yểu mệnh về giá trị như chính trị và giai cấp. Ta thấy ngượng ngập khi nói rằng cái Ác ngự trong lòng cá nhân trước khi nó bước vào hệ thống chính trị. Tuy nhiên ta chẳng xem là xấu hổ khi có những nhượng bộ hời hợt trước một cái Ác hoàn toàn. Xét theo vô số nhượng bộ tuôn trào ra không ngớt như đất lở ngay trước mắt của chính thế hệ chúng ta, phương Tây tất yếu đang trôi dần đến vực thẳm. Xã hội phương Tây ngày càng mất đi càng nhiều cốt lõi tôn giáo của họ khi họ vô tư buông xuôi thế hệ trẻ hơn của mình cho chủ nghĩa vô thần. Nếu một cuốn phim báng bổ Chúa Jesus được chiếu rộng rãi khắp nước Mỹ, đáng ngờ là một trong những nước sùng đạo nhất thế giới, hay một tờ báo lớn đăng một biếm họa trơ trẽn về Đức Mẹ Đồng trinh, ta còn cần gì thêm nữa bằng chứng về sự vô đạo? Khi những quyền bên ngoài hoàn toàn không bị giới hạn, tại sao ta nên cố gắng trong lòng để tránh làm những điều xấu xa?

Hay tại sao ta nên kìm nén hận thù nung nấu trong lòng, dù cở sở của nó có là chủng tộc, giai cấp hay ý thức hệ đi chăng nữa? Lòng hận thù như thế trong thực tế đang làm xói mòn bao tấm lòng ngày hôm nay. Những người thầy vô thần ở phương Tây đang dạy dỗ thế hệ trẻ hơn theo tinh thần hận thù đối với chính xã hội của họ. Trong cái ồn ào của bao lời lẽ kết án đó, chúng ta quên rằng các khiếm khuyết của chủ nghĩa tư bản thể hiện các khiếm khuyết cơ bản trong bản chất con người, cho phép tự do không giới hạn cùng với nhiều nhân quyền; song chúng ta quên rằng dưới chủ nghĩa cộng sản (và chủ nghĩa cộng sản thấp thoáng ngay đằng sau tất cả các hình thức trung dung của chủ nghĩa xã hội, mà không ổn định) vẫn các khiếm khuyết giống hệt như vậy nhưng lại đầy rẫy ở bất kỳ những ai có chút tí ti quyền lực; mặc dù mọi người khác dưới chế độ đó thật sự đang đạt đến sự “bình đẳng” – bình đẳng của những nô lệ bần hàn. Sự thổi bùng lên náo nức ngọn lửa hận thù này đang trở thành dấu ấn của thế giới tự do hôm nay. Sự thật là các tự do cá nhân càng mở rộng hơn, mức độ thịnh vượng hay thậm chí giàu có càng cao hơn, thì nghịch lý thay, lòng hận thù mù quáng này càng sâu sắc hơn. Như vậy qua tấm gương của chính mình, phương Tây, ở giai đoạn đã phát triển hiện nay, minh chứng rằng sự cứu rỗi của con người không thể nào tìm thấy ở sự dư thừa về của cải vật chất hay ở chỉ sự kiếm tiền đơn thuần.

Sự thù hận được nuôi dưỡng cố ý này rồi lan đến tất cả những gì hiện hữu, đến chính cuộc sống, đến thế giới muôn màu, muôn vẻ, và muôn thanh, đến cả thân xác con người. Nghệ thuật chua chát trong thế kỷ hai mươi đang lụi tàn do cái hận thù xấu xí này, vì nghệ thuật là vô ích nếu không có tình yêu. Tại phương Đông, nghệ thuật đã sụp đổ vì nó đã bị đánh gục và bị chà đạp, nhưng tại phương Tây sự sa ngã này có tính chất tự nguyện, một sự suy tàn vào một cuộc tìm tòi cầu kỳ và hợm hĩnh nơi người nghệ sĩ, thay vì cố gắng hé lộ ra thiên cơ, lại cố đặt mình vào địa vị của Chúa.

Ở đây, một lần nữa chúng ta chứng kiến một kết cục duy nhất của một quá trình diễn ra trên khắp thế giới, với phương Đông và phương Tây tạo ra cùng kết quả, và một lần nữa cho cùng một lý do: con người đã quên Chúa.

Với những sự kiện toàn cầu nói trên lờ mờ hiện ra trước mặt chúng ta sừng sững như núi, không, như toàn bộ cả dãy núi, có thể dường như lạc lõng và không thích hợp khi ta nhớ lại rằng lời giải chính cho sự tồn tại và phi tồn tại của chúng ta nằm ở trong lòng mỗi cá nhân con người, nằm ở sự chọn lựa trong từng tấm lòng đó điều Thiện và điều Ác cụ thể. Tuy nhiên lời giải này đến cả hôm nay vẫn còn đúng, và thật sự là lời giải đáng tin tưởng nhất mà chúng ta có. Các lý thuyết xã hội đã hứa hẹn rất nhiều giờ đây chứng tỏ là đã phá sản, khiến chúng ta rơi vào ngõ cụt. Người ta có thể mong đợi hợp lý rằng người dân tự do phương Tây nhận thức họ đang bị vây quanh bởi vô số những giả dối vốn được nuôi dưỡng một cách tự do, và sẽ không cho phép những lời dối trá áp đặt gian lận quá dễ dàng lên họ. Tất cả các cố gắng để tìm lối thoát khỏi hoàn cảnh không may của thế giới hôm nay đều vô ích trừ phi chúng ta, trong sám hối, chuyển hướng ý thức của chúng ta đến Đấng Sáng tạo ra vũ trụ: nếu không có điều này, sẽ không có ánh sáng nào soi rọi lối ra, và chúng ta sẽ tìm kiếm trong vô vọng. Tài sản chúng ta đã để riêng ra cho chính mình thật quá khiêm nhường cho nhiệm vụ gian nan này. Trước tiên chúng ta phải thừa nhận nỗi kinh hoàng ấy không phải do thế lực bên ngoài nào đó gây ra, không phải do kẻ thù dân tộc hay giai cấp, mà do trong từng mỗi cá nhân chúng ta, và trong mỗi xã hội. Điều này đặc biệt đúng với một xã hội tự do và đã phát triển cao, vì đặc biệt ở đây chúng ta chắc chắn đã tạo ra mọi thứ cho mình, đúng với sự chọn lựa tự do của chính mình. Chính chúng ta, trong sự ích kỷ vô tâm hàng ngày của mình, đã vô tình xiết chặt thêm cái thòng lọng đó…

Cuộc đời chúng ta không gói ghém trong mưu cầu thành đạt về vật chất mà trong nỗ lực tìm kiếm sự phát triển tinh thần xứng đáng. Toàn bộ kiếp người của chúng ta trên trần thế này chỉ là một giai đoạn quá độ trong sự vận động hướng tới điều gì đó cao hơn, và chúng ta không được chao đảo vấp ngã, chúng ta cũng không được nán lại vô ích trên một nấc thang nào của chiếc thang này. Chỉ riêng quy luật về vật chất không giải thích được hay định hướng được cuộc đời chúng ta. Quy luật về vật lý và sinh lý nhất định không bao giờ hé lộ bằng cách chắc chắn nào mà Đấng Tạo hóa đã đều đặn, hết ngày này đến ngày khác, tham dự vào cuộc đời của mỗi người trong chúng ta, luôn luôn ban cho chúng ta năng lượng của sự tồn tại; khi sự giúp đỡ này rời bỏ chúng ta, chúng ta chết. Và trong cuộc sống của toàn thể hành tinh của chúng ta, Thánh linh chắc chắn tác động cũng không kém phần mạnh mẽ hơn: điều này chúng ta phải thấu hiểu trong thời khắc tăm tối và khiếp sợ của mình.

Đối với bao hy vọng hão huyền trong hai thế kỷ vừa qua, những hy vọng đã rút chúng ta xuống thành vô nghĩa và đưa chúng ta tới gần cái chết hạt nhân và phi hạt nhân, chúng ta có thể chỉ đề nghị một sự tìm kiếm bền lòng bàn tay ấm áp của Chúa, mà chúng ta đã chối bỏ một cách quá vội vàng và quá tự tin. Chỉ có như thế, mắt chúng ta mới nhìn thấy được các sai lầm trong thế kỷ hai mươi bất hạnh này và chúng ta hãy liên kết lại để chấn chỉnh những sai lầm này. Ngoài ra chẳng còn gì khác hơn để cho ta bám vào trong cơn đất lở này: tư tưởng kết hợp lại của tất cả các triết gia Khai sáng chẳng là gì hết.

Năm châu chúng ta đang ở giữa trận cuồng phong. Nhưng chính qua các thử thách như thế tính cách cao quý nhất của con người mới thể hiện. Nếu chúng ta lụi tàn và thua cuộc trong thế giới này, lỗi ấy hoàn toàn thuộc về chúng ta.

Nguồn: Dịch từ bản tiếng Anh “Godlessness, the First Step to the Gulag” của A. Klimof năm 1983

Bản tiếng Việt © 2009 Trần Quốc Việt

© talawas 2009