Hiển thị các bài đăng có nhãn Trịnh Cung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trịnh Cung. Hiển thị tất cả bài đăng

11/05/2009

Trịnh Cung : Xem tranh, chơi tranh và thẩm định tranh

Xem tranh, chơi tranh và thẩm định tranh

11/05/2009

Tác giả: Trịnh Cung


Xem tranh và vẽ tranh, việc làm nào quan trọng hơn?

Riêng ở Việt Nam chúng ta, việc học vẽ tranh là một nhu cầu của nhiều người, nhất là của giới trẻ, thậm chí có nhiều em tuổi sinh viên coi việc tốt nghiệp được một bằng Đại học Mỹ thuật là một danh vọng nếu như họ không có đủ tiêu chuẩn để đậu các khoa bảng khác. Và chẳng có ai đi học xem tranh cả, có thể do không có nơi nào dạy cách xem tranh vì việc này chắc từ lâu người Việt đã coi là “chuyện nhỏ”.

Thực ra, xem tranh cũng quan trọng không kém vẽ tranh. Biết và thích xem tranh là một điều rất quí, không những cho ai đó mà còn rất cần cho một nền mỹ thuật của đất nước họ. Một nền mỹ thuật èo uột chắc chắn vì bởi không có nhiều người thích và biết xem tranh. Do đó tất yếu các phòng triển lãm và bảo tàng mỹ thuật sẽ vắng như chùa Bà Đanh. Một tất yếu kế tiếp là thị trường nghệ thuật trở thành chỗ thao túng của những kẻ đội lốt art gallery để bán tranh chép, tranh giả và tranh “Cô gái áo dài với cành sen”.

Người biết xem tranh không nhất thiết phải vẽ được tranh, nhưng hoạ sĩ thì chắc phải biết xem tranh? Nhiều người trong chúng ta thường nghĩ vậy. Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta, hoạ sĩ không biết xem tranh không phải là không ít, hay chính xác hơn là phần đông họ chỉ thấy tranh của mình hoặc tranh của hoạ sĩ khác vẽ theo lối của mình là đẹp mà thôi. Vì thiếu kiến thức về sự phát triển của lịch sữ mỹ thuật và thiếu cập nhật thông tin mới về các trào lưu sáng tạo nghệ thuật đang xảy ra nên mọi cái khác với cách vẽ của họ đều bị chê là vẽ bậy bạ.

Trong nhận định tác phẩm mỹ thuật, mỗi hệ qui chiếu có vai trò riêng để giúp thấy đúng giá trị sáng tạo của mỗi tác phẩm, nếu áp đặt lên tác phẩm khác trường phái bằng cái nhìn vị kỷ hoặc cục bộ thì chắc chắn tác phẩm ấy sẽ bị nhận một số phận không mấy tốt đẹp.

Để tránh những sai sót trong xem tranh do cảm tính và chủ quan, việc xem tranh không chỉ cần phải được dạy trong các trường học từ mẫu giáo trở lên mà cũng phải được coi trọng tại các trường mỹ thuật. Dù đã có khoa Lý luận và Phê bình và môn lịch sử mỹ thuật, nhưng do chúng ta có ít thầy giỏi và sinh viên không mấy coi trọng giờ học lý thuyết (trừ sinh viên chuyên ngành Lý luận và Phê bình) nên nghệ thuật xem tranh của một số hoạ sĩ sau khi ra trường đã bộc lộ những khoảng trống kiến thức. Mặc khác, do có năng khiếu tốt và nhạy bén với thị hiếu nghệ thuật của khách mua tranh hoặc do thành công với cách vẽ hợp thị trường, họ đã sớm tự thấy mình có quyền đưa ra những nhận định thế nào là một bức tranh đẹp, những tiêu chí mỹ học rất chủ quan. Và thật nguy hiểm khi những hoạ sĩ như thế được cơ cấu ngồi vào các hội đồng nghệ thuật!

Xem tranh, lợi cho ai?

Xem tranh là một thú giải trí rất văn hoá cũng như đi xem kịch, xem phim, đọc sách… của con người. Ở đây chúng ta không bàn đến những lợi ích quan trọng mà thú xem tranh mang đến cho mỗi người vì nó quá hiển nhiên, điều lợi ích mang tính chiến lược cho mỗi nền mỹ thuật quốc gia là tạo được một tập quán xem tranh cho người dân thì cơ hội phát triển nền mỹ thuật quốc gia mới thật sự đầy triển vọng. Đó chính là nguồn khách cho các phòng triển lãm, cho thị trường mỹ thuật và cho các viện bảo tàng, thậm chí họ cũng là nguồn độc giả cho các bài báo và sách viết về mỹ thuật. Riêng với giới doanh nhân, biết xem tranh đồng nghĩa với biết thẩm định cơ bản về tác phẩm sẽ giúp họ đi vào con đường kinh doanh nghệ thuật một cách lành mạnh, hòng tạo được một thị trường nghệ thuật chuyên nghiệp cho đất nước.

Rõ ràng, tình trạng vắng hoe khách xem tranh của các bảo tàng mỹ thuật và phòng triển lãm trên toàn Việt Nam hiện nay là hậu quả tất yếu gây ra bởi lỗ hổng giáo dục mỹ thuật tại học đường ở nước ta từ hằng chục năm qua. Nhìn ra ngoài, không phải nhờ sự giàu có và hùng cường về khoa học và kinh tế mà tất yếu nền mỹ thuật của các nước phương Tây trở nên tiên tiến, chắc chắn là không phải như vậy và cũng chắc chắn rằng ta sẽ trở nên có văn hoá văn minh sau khi ta có nhiều tiền. Văn hoá luôn là cái nền cho mọi sự thăng tiến, vì thế người phương Tây luôn chuẩn bị cái nền văn hoá từ rất sớm cho lớp công dân trẻ của họ. Tác giả đã từng chứng kiến cảnh các bé từ 6-8 tuổi được cô giáo hướng dẫn xem tranh tại Bảo tàng Mỹ thuật Hiện đại Paris một cách nghiêm túc và hào hứng. Thật ngạc nhiên khi chứng kiến cảnh một bé gái khoảng 7 tuổi trả lời một cách chính xác một bức tranh lập thể của Picasso vẽ về một bãi biển đang được treo trước mặt bé. Càng ngạc nhiên hơn khi cô giáo hỏi bức treo bên phía tay phải em là của hoạ sĩ nào? Bé trả lời không đắn đo: “Thưa cô, đó là tranh của hoạ sĩ Kandinsky, một tác phẩm trừu tượng”. Thì ra, sau khi trao đổi với cô giáo của các bé, tác giả mới biết là các em được chuẩn bị ở lớp rất kỹ bằng các bài giảng về cách vẽ cũng như xem tác phẩm được in lại của các hoạ sĩ mà các em sẽ đi xem tại bảo tàng mỹ thuật. Mặt khác, cũng nằm trong chiến lược giáo dục văn hoá của nước Pháp, cứ mỗi thứ Tư trong tuần, các học sinh được xem tranh miễn phí và sinh viên thì vào cửa được giảm giá phân nửa, thảo nào các bảo tàng mỹ thuật ở các nước tiên tiến lúc nào cũng đông người xem dù vé vào cửa không rẻ.

Để việc xem tranh trở thành một tập quán thì việc xem tranh phải được bắt đầu từ tuổi thơ. Nếu không được hướng dẫn từ mẫu giáo thì chí ít cũng phải từ tiểu học, để đến trung học mới thực hiện việc hướng dẫn các em xem tranh đã là trễ, nhưng nền giáo dục của chúng ta vẫn còn đặt nó bên ngoài dù bây giờ đã là thế kỷ 21.
Chơi tranh

Những gì cần cho người chơi tranh?

Như thế, biết xem tranh thì mới nên chơi tranh, vì nhờ có kiến thức nên không khó tránh được việc mua nhầm tranh giả, nhận biết giá trị sáng tạo của hoạ sĩ và sự khác nhau giữa các trường phái và nhận ra phong cách của từng hoạ sĩ. Tất nhiên, việc bạn yêu một loại tranh nào lại là chuyện riêng của bạn, nhưng có kiến thức về mỹ thuật bạn sẽ tránh được việc khen chê không đúng cách. Biết xem tranh có trình độ cao (chỉ bắt buộc cho hoạ sĩ và nhà phê bình) là biết cả màu vẽ tốt hay xấu, biết cả bố vẽ thuộc loại được dệt từ loại sợi nào và đã được sơn lót có đúng cách không… Để chơi tranh của các danh hoạ, người sưu tập tất nhiên là phải có nhiều tiền, tuy nhiên có ít tiền vẫn chơi được tranh, không nhất thiết phải cố mua tranh của các danh hoạ, bạn có thể chọn tranh của các hoạ sĩ trẻ, chưa nổi tiếng nhưng nhờ có trình độ xem tranh cao tay, bạn có thể nhận ra tài năng đầy triển vọng trong số họ để mua. Dù sao chơi tranh thật vẫn thú vị hơn là chơi tranh của các bậc thầy mà toàn là copy. Một trong những điều kiện quan trọng mà người mua tranh phải biết là xem bức tranh có được vẽ bằng mầu tốt không, tranh có bị nấm mốc và mầu có bị xuống chất không, toan vẽ mặt sau có bị thấm dầu không (nếu là tranh sơn dầu), khi đưa lên ngược sáng, có tia sáng nào lọt qua sau lưng bức tranh không và cuối cùng là biết treo tranh đúng cách nhằm bảo quản tác phẩm. Một trong những sai lầm quan trọng là treo tranh tại những nơi ẩm thấp, nhiều khói và hơi nước như tại những nhà hàng ăn uống, quán phở và quán café, hoặc để ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào mặt tranh. Tất cả những điều đó hay điều kiện thời tiết có độ ẩm cao như ở miền Bắc Việt Nam vào mùa Thu-Đông đều có thể khiến tranh bị hư hỏng (xuống mầu, bong tróc, nấm mốc,…). Điều này đã xảy ra cho tranh của các danh hoạ Việt Nam thuộc các thế hệ mỹ thuật Đông Dương do tư nhân và nhà nước lưu giữ không được bảo quản đúng cách là khá nhiều, nhất là các tranh sơn dầu và bột màu được vẽ trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam. Tất nhiên, nếu ở phương Tây thì bạn có thể uỷ thác những việc thẩm định, tư vấn, xử lý kỹ thuật phục chế,… cho các chuyên gia hoặc công ty bảo hiểm tác phẩm nghệ thuật, còn ở trong nước thì ngay cả nhiều hoạ sĩ Việt có tiếng đương thời cũng không biết nhiều về những điều bài viết vừa đề cập, huống gì đến những người buôn bán tranh, kể cả những “đại gia” sưu tập tranh như THT, BQC, D.VL, Apricot,…

Vậy chơi tranh có lợi gì?

Chơi tranh có 5 cái lợi:

- Thứ nhất là để giữ lại trong nhà mình một hoặc nhiều tác phẩm nghệ thuật mà nó đem lại cho mình những thú vị tinh thần đặc biệt mỗi khi ngồi trước nó. Từ khi ngôi nhà có những bức tranh ấy, ngôi nhà trở nên đẹp hơn và rộn rã hơn. Hạnh phúc gia đình cũng tăng phần đậm đà hơn.

- Chơi tranh sẽ giáo dục được con cháu về tình yêu nghệ thuật và hiểu biết lịch sử phát triển nền mỹ thuật đất nước một cách thực tế nhất.

- Chơi tranh cũng là cách đầu tư không sợ rớt giá.

- Chơi tranh sẽ giữ lại cho đất nước những tác phẩm quí của các danh hoạ Việt Nam.

- Và sau cùng, chơi tranh là nuôi dưỡng tài năng sáng tạo của hoạ sĩ Việt Nam, giúp ngành gallery Việt Nam phát triển theo hướng chuyên nghiệp và sẽ giúp tranh của họ luôn có giá xứng đáng trên thị trường nghệ thuật quốc tế.
Thẩm định tranh

Một khoa học chưa được quan tâm đúng mức ở Việt Nam

Thẩm định tranh là việc xem tranh của giới chuyên môn (hoạ sĩ, nhà phê bình). Họ không xem tranh như người yêu tranh (chủ yếu là cảm tính), Họ không hỏi đại loại như bức tranh này vẽ cái gì, mầu sắc êm dịu hay “chỏi” quá, v.v. và v.v…, mà họ sẽ đánh giá phong cách hội hoạ, trình độ kỹ năng và sau cùng là hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm. Đây là một khoa học đòi hỏi người thẩm định tranh phải có nhiều kiến thức chuyên môn.

Các trường mỹ thuật ở Việt Nam từ sau ngày giành được độc lập từ tay người Pháp không có khoa dạy về cách thẩm định tác phẩm hội hoạ đúng chuyên môn. Dưới thể chế xã hội chủ nghĩa, khoa Lý luận và Phê bình chỉ tập trung ở nội dung chính trị, xem nhẹ phần sáng tạo nghệ thuật và dị ứng với những cái mới. Ngay cả hoạ sĩ nổi tiếng Nguyễn Huy Tiếp, từng được đào tạo ở Liên Xô cũ, hiện là Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam vừa phát biểu trên kênh truyền hình VTV về nghề vẽ tranh sơn dầu, sau khi cho biết: vẽ tranh sơn dầu tưởng là dễ mà thực ra rất khó, muốn vẽ được tranh mầu dầu người vẽ phải có nghề,… Nhưng khi được phóng viên truyền hình hỏi: “Theo hoạ sĩ, vẽ thế nào là có nghề?” lại cũng trả lời loanh quanh là: vẽ làm sao để diễn tả được cảm xúc của tác giả, đường cọ vẽ phải toát lên được ý nghĩa sâu xa mà hoạ sĩ muốn gửi gắm, v.v và v.v… Đây là câu hỏi rất hay, người hỏi đã chụp ngay được chỗ quan trọng đầy hứa hẹn sẽ mở ra một “kho ý kiến chuyên nghiệp” từ một hoạ sĩ đã từng được đào tạo tại Nga trước kia và hiện đang đứng đầu nhóm những nhà thẩm định tác phẩm nghệ thuật của HMTVN. Thế nhưng, theo dõi cuộc phỏng vấn đến kết thúc nhưng người xem vẫn không thấy ông nói đến phần cơ bản nhất về kỹ thuật sử dụng mầu dầu đúng cách và những phụ liệu hỗ trợ nào cần cho mỗi cách vẽ. Hay thế nào là “matière”, có mấy loại và các cách tạo ra matière thích hợp cho từng loại toan và cho từng trường phái. (Có thể vì trả lời trên VTV, ông không thể giải thích sâu về chuyên môn vì thời gian và đối tượng xem truyền hình là đại chúng, hay muốn giữ cho riêng mình những bí quyết nghề nghiệp được học từ nước ngoài?)

Cái đẹp và hay của một tác phẩm hội hoạ không hẳn chỉ là ý nghĩa của nội dung bức vẽ mà trong hội hoạ hiện đại nhiều khi cái đẹp cũng phụ thuộc vào nghệ thuật sử dụng chất liệu hỗ trợ. Từ Hiện đại đến Đương đại, các chất liệu hỗ trợ cho sáng tác đã tiến một bước khá dài và giữ một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những giá trị của tác phẩm. Ngày nay chất liệu mỹ thuật không còn đơn thuần là chất liệu, mà dưới tay của nghệ sĩ, nó đã là ngôn ngữ nghệ thuật của riêng họ.
Pierre Soulages - Peinture 195 x 130 (1948), New York, Museum of Modern Art

Pierre Soulages - Peinture 195 x 130 (1948), New York, Museum of Modern Art

Như thế, chất liệu mỹ thuật là một ngành công nghiệp tiên tiến với những sáng tạo ngày càng mới lạ, mở đường cho ý tưởng thực hiện tác phẩm của nhà nghệ sĩ. Rõ ràng là có một sự gắn kết vô hình giữa nhà sáng tạo chất liệu mỹ thuật và người làm ra tác phẩm nghệ thuật. Một trong nhiều ví dụ về sự đóng góp rất âm thầm của những nhà hoá học cho giới nghệ sĩ tạo hình là mầu đen trong tranh trừu tượng của danh hoạ Soulages được chế riêng bởi một kỹ sư hoá học theo yêu cầu của hoạ sĩ, vì ông không muốn dùng mầu đen có trên thị trường.

Để thẩm định một bức tranh, bạn cần có những phẩm chất nào?

Được ngồi vào ghế của một nhà thẩm định tranh là một vinh dự lớn cho người làm nghệ thuật, nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất lợi nếu bạn không có đủ kiến thức chuyên môn về cả lý thuyết lẫn kỹ thuật vẽ tranh. Có thể coi một nhà thẩm định tác phẩm nghệ thuật như một người thuộc hết quyển tự điển, họ nhìn vào một tác phẩm là biết ngay lối vẽ này thuộc về trường phái nào, bút pháp ở trình độ nào, kỹ thuật non tay hay điêu luyện, tư duy nghệ thuật của tác giả mới lạ hay vay mượn của ai,… Nếu không có nghề như thế, một sự lầm lẫn trao huy chương vàng cho một bức tranh chép như Hội đồng Nghệ thuật của HMTVN đã thực hiện trong cuộc triển lãm toàn quốc năm 2007 là dễ hiểu.

Khi nói về phê bình thơ, có một câu được truyền tụng như sau: “Phê bình thơ thì ai cũng phê bình được, nhưng để phê bình cho hay thì phải là một nhà thơ có tài”. Còn về mỹ thuật thì: “Một nhà phê bình hội hoạ giỏi có khi là một hoạ sĩ thất bại.” Chữ “tài” trong câu nói thứ nhất là có nghĩa đòi hỏi ở một nhà phê bình thơ một phẩm chất đặc biệt. Có tài lớn anh mới nhận ra giá trị của tác phẩm mà anh đang xem thuộc cỡ nào dù nó khác “chiêu” hay cùng môn phái, hơn nữa, anh còn nhận ra tương lai rực rỡ của một tài năng lớn đang tiềm ẩn. Còn trong câu nói thứ hai, sao lại là một “hoạ sĩ thất bại”? Nghe ra có vẻ mâu thuẫn nhưng thật ra, đây là cách nói khéo, một kiểu ca ngợi kín đáo, dành cho những nhà phê bình không phải là hoạ sĩ nhưng lại có kiến thức mỹ thuật rất uyên bác và một cảm quan thưởng ngoạn sáng tạo nghệ thuật bén nhạy như trường hợp tác giả của Tuyên ngôn Siêu thực (Manifeste du Surréalisme), nhà văn André Breton và tác giả cuốn sách nổi tiếng Les Voix du silence, nhà văn André Malraux, cả hai đều là người Pháp, đã viết và đóng góp cho sự phát triển mỹ thuật hiện đại phương Tây rất lớn.

Riêng mỹ thuật Việt Nam, Thái Bá Vân, tác giả của cuốn sách Tiếp xúc với mỹ thuật, là một người cũng đã để lại một dấu ấn khó quên trong chúng ta.

Sài Gòn 12-2008

© 2009 Trịnh Cung

24/11/2008

Trịnh Cung : Bi Kịch Trịnh Công Sơn

Bi Kịch Trịnh Công Sơn

Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng tâm hồn thi ca, và bởi vì lúc đó tôi chưa hề là họa sĩ.

Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài "Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi" còn nhẹ nhàng, và còn có gì đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.

Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa của Sơn mới là mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.

Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn mất lúc anh đang học ở Chasseloup Laubat - một trường dạy chương trình Pháp - và đang chuẩn bị thi bac thì Sơn phải bỏ học để về chịu tang ba.

Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo và Boxing. Trong một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà - anh đã bị một cú choàng vai, và bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư ... chớ không phải là một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Tôi cho biến cố đó đã đặt Trịnh Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng. Sơn tập chơi guitare, tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó viết ca khúc "Ướt Mi", "Nhìn Những Mùa Thu Ði".

Khi tôi gặp Sơn, thì anh đã bình phục - Sơn không có điều kiện trở lại Sài Gòn để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia đình anh bị phá sản,

Sau đó - để tránh cho Sơn khỏi phải đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn.

Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường sư phạm Quy Nhơn – trong thời gian này. Và nhân vật để Sơn viết bài Biển Nhớ là một người bạn gái có tên là Khê, nên có cái câu "Ngày mai nối bước Sơn Khê."

Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng giáo của một trường Thượng có hai lớp, cách nhà trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn phải đạp xe vào làng để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn raÐà Lạt để chơi cuối tuần - một căn phòng trọ với bốn bức vách đầy chim và bao thuốc lá Bastos - ở đó Sơn đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của anh với những bài nhưÐàn Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ Yên, như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian anh viết những ca khúc về thân phận, và những tình khúc.Ðó chính là thời điểm tôi và Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ở Ðà Lạt.

Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh Công Sơn và làm cho công chúng yêu nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công Sơn viết bài Thương Một Người để tặng cho chị với câu: "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi vai..."

Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái con đò âm nhạc của TCS trên dòng sông của đất nước chính là Khánh Ly kể từ khi Diễm Xưa ra đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ trông rất là nhếch nhác ở Ðà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi tìm một người ca sĩ trẻ - hoàn toàn vô danh và Sơn bắt đầu từ giọng hát của người ấy với sự tập luyện của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh nghĩ dễ hơn là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh Ly lúc đó. Ánh sáng của định mệnh đã chỉ cho Sơn đến với Khánh Ly - và từ đó Khánh Ly đã tìm được nơi nương tựa và nơi phát triển tiếng hát của mình lên đỉnh cao.

Chúng tôi khuyến khích Sơn về Sài Gòn, bỏ dạy học - một cái nghề không thích hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từ Ðà Lạt về và đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng đó ở gần chợ Trương Minh Giảng, bên kia đường là nhà của Bùi Giáng - cũng trong một cái xóm nghèo. Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của TCS khi anh về Sài Gòn. Chính họa sĩ Ðinh Cường một trong những người bạn rất thân với Sơn - cũng thường ghé đến đó.Ðôi khi ba chúng tôi ngủ chung trong một chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền dạy học của tôi.

Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Anh bắt đầu xuất hiện tại sân trường Ðại Học Văn Khoa ở đường Lê Thánh Tôn nơi có trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS nơi mà Ðỗ Ngọc Yến, TrầnÐại Lộc, Hà Tường Cát... đã hoạt động chương trình mùa hè ở đó.

Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu Khánh Ly và chị đã đi chân trần và hát cho Sinh Viên nghe. Rất nhanh họ trở thành thần tượng của tuổi trẻ Sàigòn, do tính chất mới mẻ và trẻ trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng âm nhạc ngay lúc đó.

Phong trào du ca, của anh Nguyễn Ðức Quang,... đã ra đời cùng thời điểm đó. Tôi cho đó là một thời điểm lịch sử - thật sự bùng nổ về văn nghệ của giới trẻ trong đó có chúng tôi - hội họa sĩ trẻ Việt Nam.

Chính thời đại đã sản sinh ra những hiện tượng như vậy và TCS và Khánh Ly đã là những khuôn mặt nổi bật trong giới trẻ bấy giờ.

Trịnh Công Sơn - nối tiếp cao trào đo ù- đã dấn thân thêm nhiều bước trong lãnh vực âm nhạc của mình gần gũi với xã hội, và thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi đến Kinh Việt Nam ra đời trong giai đoạn này. .

Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc - là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát hơn.

Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu , cho sự đoàn kết, cho sự thương yêu ... và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào Ðại Học ... nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị - cho nên sự hồn nhiên đó phải trả giá.

Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng tay lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội 20 năm xa vẫn còn xa ...Ðể làm gì? Ðể ước mơ đất nước hòa bình thống nhất - để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư đã viết về "Hà Nội ơi ta nhớ...", thì rõ ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân ... thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch sau đó .

Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi chấp nhận đi Thủ Ðức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền đó có thối nát, có gì đi nữa - tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính. Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của mình.

Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.

Đến ngày 30 tháng Tư thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó, Ðỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng mà Ðỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.

Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.

Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ mình; nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình - mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe - Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?

Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.

Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.

Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không được phổ biến âm nhạc lúc đó - hiển nhiên âm nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đã về đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.

Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi cũng kẹt ở lại - tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được cho Sơn - để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì ... vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng nề - như bài "Em ra đi nơi này vẫn thế ..." ở bên này cũng kết án bài đó - ở bên kia lại kết án là "Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn còn nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!

Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của TCS sau ngày mất nước. Sơn đã viết "Đường chúng ta đi, đi không bao giờ tới ..." Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình.Ðó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.

Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai năm - chỉ vì câu - chỉ vì câu gì các bạn biết không? Mùa Thu - chữ Mùa Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu - thì TCS đã viết "Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta ... đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi Người ..."

Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về ... Với sự suy diễn như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?

Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi lấy mình - khoan kết án người khác sai hay đúng - bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối ! Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa dối về chính trị - thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với con người.

Tôi xin kết thúc ở đây - để dành thời gian cho các bạn khác - tôi là một người bạn - là một nhân chứng sống trong nhiêu năm với TCS. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông tin về bạn bè - rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa giấy ... nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám , để nhìn vài cánh én ... Rồi Ði Về.

Sơn thèm đi ra phố - Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ cho nên "Chiều một mình qua phố ..." hay "Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu ..."Ðó là đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn - hôm nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đã chết vì cơn bịnh này.

Trịnh Cung