Lại Nguyên Ân
Tham luận gửi tới Hội thảo khoa học:Lý luận văn học Việt Nam thế kỷ XX , do khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức, 7/6/2008.
1. Phạm trù chủ nghĩa cá nhân (Individualisme) của tư tưởng phương Tây được Phan Khôi (1887-1959) đề cập từ cuối những năm 1920 đầu những năm 1930, khi mà một trong những đề tài thu hút ngòi bút viết báo của ông chính là vấn đề thời sự của đời sống văn hoá tư tưởng đương thời: trạng thái và số phận của những tư tưởng cổ truyền phương Đông trước một xu thế đang diễn ra trên chính phương Đông, được gọi là xu hướng “Âu hoá”. Ông từng tham gia luận bàn về “học thuyết cũ với vận mạng mới nước Tàu”,[1] thảo luận và đưa ra ý kiến phủ định đối với “cái thuyết Âu châu sắp tan nát” của học giả Trung Hoa Cô Hồng Minh,[2] kiểm điểm di sản Nho giáo trên đất Việt Nam,[3] nhìn rộng ra cuộc tiến hoá trong “cạnh tranh sinh tồn” của loài người trên toàn cầu và đi tới nhận định chung: “...cái đại thể các dân tộc yếu ở Á châu ngày nay là phải học theo Âu châu thì mới có thể sanh tồn”,[4] hơn thế nữa, “muốn duy tân cải cách thì phải bắt từ học thuật tư tưởng mà duy tân cải cách trước”. [5]
Theo sự sưu tầm nghiên cứu của tôi, trong những năm này, ít nhất có 2 tài liệu cho thấy rõ nhất sự lý giải của Phan Khôi về phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng phương Tây.
Năm 1928, trong bài Tư tưởng của Tây phương và Đông phương (Đông Pháp thời báo, 27/9/1928; 2/10/1928), [6] Phan Khôi nêu ra 3 điểm so sánh sự khác biệt giữa tư tưởng của phương Tây và của phương Đông: “1/ Tây phương chuộng khoa học, Đông phương chuộng huyền học”; “2/ Tây phương trọng tự chủ, Đông phương trọng thống thuộc”, “3/ Tây phương quý tấn thủ, Đông phương quý an phận”. Nội dung thứ hai trong các điểm so sánh này, − “trọng tự chủ” chính là nói về chủ nghĩa cá nhân.
Phan Khôi viết:
“Chữ tự chủ ở đây nghĩa là mỗi người làm chủ lấy mình, cũng tức là cá nhân chủ nghĩa. Ở phương Tây, nói rằng “một người”, nghĩa là đối với thế giới, đối với quốc gia mà nói, chớ không phải phiếm nhiên. Đã gọi là người, thì người nào cũng vậy, ai ai cũng có cái địa vị cái tư cách đối với thế giới đối với quốc gia, thật như ta thường nói "đội trời đạp đất ở đời". Như vậy, người nào tự chủ lấy người ấy, không ai thuộc về ai cả.
Bởi đó mới có sự tự do. Một người đã tới tuổi thành nhân rồi thì không còn ở dưới quyền cha mẹ nữa. Mà cũng không ở dưới quyền chánh phủ hay là dưới quyền ông nguyên thủ, song chỉ ở dưới quyền pháp luật. Một người được y theo trong vòng pháp luật mà tự do. Pháp luật cho mọi người được tư tưởng tự do, ngôn luận tự do, cư trú tự do,... những quyền tự do ấy, người khác − dầu là cha mẹ nữa − không được can thiệp đến. Pháp luật đặt ra cốt là hạn chế sự tự do của từng người để binh vực sự tự do cho từng người.
Lại bởi đó mới có sự bình đẳng. Mọi người đối với quốc gia xã hội đều có nghĩa vụ và quyền lợi bằng nhau. Ai nấy đều phải nộp thuế, đều phải đi lính, thì ai nấy đều được hưởng quyền tự do của pháp luật. Trước mặt pháp luật, ai cũng như nấy, hễ có tội thì bị phạt, không cứ ông nguyên thủ hay là người bình dân. Pháp luật đặt ra cũng cốt để duy trì sự bình đẳng giữa từng người.”
Tất nhiên cái chủ nghĩa cá nhân với nội hàm như vậy không phải vốn dĩ đã có từ xa xưa ở các nước phương Tây, mà chỉ mới hình thành từ thời Khai sáng rồi định hình dưới các xã hội theo kinh tế tư bản thị trường, dưới các chính thể cộng hoà pháp trị. Nhưng Phan Khôi không bàn về phương diện lịch sử của phạm trù chủ nghĩa cá nhân ở xã hội phương Tây; ông chủ yếu trình bày nội dung sự việc ở mặt đồng đại, hơn nữa, nhấn vào trạng thái đương đại, chỉ ra sự tương đồng giữa chủ nghĩa cá nhân với cơ chế chính trị ở các nước phương Tây:
“Bởi mỗi người đều có địa vị tư cách vững vàng, tự chủ lấy mà không xâm phạm đến ai như vậy, cho nên khi hiệp với nhau thành đoàn thể thì chỉnh tề và ổn kiện lắm. Quốc gia, tức là của chung của quốc dân; hội xã tức là của chung của hội viên; đối với quốc gia xã hội ai có bổn phận gì thì làm hết bổn phận ấy, có lợi ích thì mọi người cùng hưởng. Mới nghe họ nói những là "quốc gia lợi ích, xã hội lợi ích" thì tưởng là xung đột với chủ nghĩa cá nhân, mà xét kỹ ra thì những cái lợi ích ấy cũng chỉ là lợi ích cho từng người vậy.
Các nước bên Tây đều dùng cái chánh thể lập hiến, cộng hoà được, là nhờ họ sẵn có cái tư tưởng như đã nói trên đó. Cái tư tưởng ấy tức là cái tinh thần dân chủ”.
Để làm rõ sự khác biệt giữa tính tự chủ, − tức là đặc điểm chính của con người cá nhân Tây phương, − so với tính chất “thống thuộc” ở đơn vị tương đương của phương Đông, Phan Khôi chỉ rõ cái đặc điểm mà sau này một số nhà nghiên cứu sẽ mô tả như là “con người chức năng”. Ông viết:
“Theo cái ý nghĩa của chữ “một người” ở phương Tây, thì ở phương Đông, trừ ông vua ra, hầu như không có “người” nào hết. Bởi vì “xuất thổ chi tân, mạc phi vương thần”, ai cũng là thần thiếp của vua, ai cũng là dân của vua. Cứ như sách dạy, nhân thần không được tư giao với ngoại quốc, ấy là không có tư cách đối với thế giới; thứ nhân không được nghị luận việc chánh, ấy là không có tư cách đối với quốc gia. Bởi vậy ai nấy đều phải nộp của cải cho vua, nộp cả đến thân mình nữa; vua thương thì nhờ, bằng vua không thương mà giết đi cũng phải chịu. Như vậy gọi là trọn cái bổn phận thờ bề trên; như vậy gọi là thiên kinh địa nghĩa.
Không những thuộc về vua mà thôi, ai còn có cha mẹ đến chừng nào thì phải kể cái thân mình là của cha mẹ đến chừng nấy. Lại không những cái thân mà thôi, mình dầu có của cải, có vợ con, cũng phải kể là của cha mẹ. Theo Kinh Lễ dạy: con yêu vợ mà cha mẹ ghét thì con phải để [= bỏ] vợ đi; con ghét vợ mà cha mẹ yêu thì con phải hoà thuận với vợ. Lại dạy: có dư của thì nộp cho tông, thiếu thì lấy của tông. Tông là người tông chủ trong gia đình, tức là cha mẹ. Còn chưa kể đến những lời tục thường nói "Cha mẹ đặt đâu ngồi đó, bảo chết hay chết, bảo sống hay sống" thì lại còn nghiêm khắc quá nữa.
Trọng nhứt là vua và cha mẹ, rồi thứ đến quan, làng, họ, cũng đều có quyền trên một người. Quan, nào có phải một ông, có đến năm bảy lớp, cứ dùi đánh đục, đục đánh săng, rút lại trăm sự chi cũng đổ trên đầu người dân cả. Người trong làng thì kể như con của làng, cho nên nói rằng "con làng nhờ làng". Người trong họ đối với họ cũng vậy.”
Phan Khôi tóm tắt về tính chất thống thuộc của con người chức năng phương Đông:
“Ấy vậy, lấy ra một người ròng rặt Đông phương mà nói, thì người ấy không tự mình làm chủ lấy mình được; song là thuộc về vua, về cha mẹ, về quan, về làng, về họ, nếu là đàn bà thì còn thuộc về chồng nữa.
Bởi cớ ấy, trong xã hội ta như một cái thang có nhiều nấc. Nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người không đồng nhau: người trên đối với người dưới không có nghĩa vụ; còn ai có nhiều quyền hơn thì được hưởng nhiều lợi hơn. Pháp luật đối với mọi người thì tùy từng bậc mà khác: cùng phạm một tội mà dân bị phạt trọng [= nặng], quan được phạt khinh [= nhẹ]; cùng phạm một tội mà kẻ thứ ấu bị phạt trọng, kẻ tôn trưởng được phạt khinh. Theo Tây phương, như thế là bất bình đẳng; song theo Đông phương thì như thế là có trật tự.”
Ông trở lại sự so sánh hai kiểu xã hội phương Tây, phương Đông, ứng với hai kiểu đơn vị con người:
“Một đằng thì trọng tự chủ, một đằng thì trọng thống thuộc, hai đằng tư tưởng khác nhau, cho nên trình bày ra hai cái xã hội khác nhau. Xã hội Tây phương thì như bầy chim sẻ, con nào cũng một lứa như con nào, và con nào cũng tự kiếm ăn cho con nấy, song cũng hiệp nhau thành bầy. Xã hội Đông phương thì như bầy kiến, có con lớn con nhỏ, con lớn giữ phần cai quản, con nhỏ lo việc đi kiếm ăn, song cũng hiệp nhau thành bầy.”
Như vậy có thể thấy là ở bài viết kể trên, Phan Khôi đã ghi nhận chủ nghĩa cá nhân của phương Tây như một quan niệm và một thực tiễn đời sống xã hội; quan niệm về tính chất, về quyền và lợi ích của đơn vị con người trong các xã hội phương Tây, và phù hợp với nó là quy chế tổ chức của xã hội phương Tây, ở đương thời Phan Khôi, tức là những năm 1920, xét trên những nét bao quát nhất.
Những nét chính yếu của chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây, theo sự lĩnh hội của Phan Khôi ở bài báo nói trên, là sự độc lập, tự chủ, tự do, bình đẳng − đối với nhau và đối với các thiết chế xã hội − của mọi con người thành niên; theo Phan Khôi, quan niêm ấy chứa đựng tinh thần dân chủ, vì vậy, nó là cơ sở của thể chế lập hiến, của chính thể cộng hoà.
Mấy năm sau, trong một bài báo nhan đề Cá nhơn chủ nghĩa (Trung lập, S.G., 28/11/1931), Phan Khôi đề cập đến tư tưởng chủ nghĩa cá nhân trong sự liên hệ của nó với “sự thiệt hành cái chủ nghĩa dân trị hay là biết hưởng sự lợi ích của cái chủ nghiã ấy”[7] tức là bàn về sự liên quan giữa tư tưởng dân chủ với tư tưởng chủ nghĩa cá nhân. Hơn thế, lần này vấn đề được Phan Khôi nêu ra với chính con người và xã hội Việt Nam đương thời ông.
“Trong xã hội ta ngày nay có một phần rất đông người khuynh hướng về chủ nghĩa dân trị (démocratie). Chẳng những người có học thức mới như thế; trong đám bình dân, kém học thức mà mở miệng ra cũng ưng nói bình đẳng tự do. Sự khuynh hướng đó, không phải là sự bắt chước nói theo mà thôi đâu; họ muốn thiệt tình, vì họ ở dưới chính thể chuyên chế đã lâu, gần đây lại gặp lấy phong trào ở ngoài làm như thúc giục họ,
(Bị kiểm duyệt bỏ).
Tuy vậy, họ ham muốn cái chủ nghĩa dân trị thiệt tình, mà làm thế nào cho được thiệt hành cái chủ nghĩa ấy thì hình như ít ai suy nghĩ tới. Mà cũng đừng nói đến sự thiệt hành nữa, giá có ai thiệt hành rồi để sẵn cho họ hưởng, là cũng chưa chắc họ biết hưởng đâu.” [7]
Phan Khôi ghi nhận sự tiến bộ về nhiều mặt của con người Việt Nam đương thời ông, kể cả về tư tưởng xã hội, chính trị. Ông ghi nhận “mấy năm gần đây người mình quả có phát đạt về tư tưởng quốc gia”, song ông nghi ngờ khả năng thực hành tư tưởng dân chủ của đồng bào đương thời mình, thậm chí cho rằng họ chưa biết “hưởng sự lợi ích” của chủ nghĩa dân chủ.
Vì sao vậy? Vì theo ông, chủ nghĩa dân trị (= dân chủ) trong đời sống quốc gia chỉ có thể được thực hành bởi những người dân đã sống theo chủ nghĩa cá nhân (với những hàm nghĩa như ông đã nói ở bài trên); thế mà ở xã hội của chúng ta thì chưa hề có cái chủ nghĩa cá nhân đó; như vậy thật khó nói đến chuyện dân trị.
“Muốn thực hành cái chủ nghĩa dân trị trong một nước nào thì người làm dân trong nước ấy trước phải thực hành cái cá nhân chủ nghĩa (individualisme) mới được. Mà cái cá nhân chủ nghĩa ấy, ở nước ta xưa nay chưa hề có, cho đến ngày nay cũng chưa thấy mấy ai đề xướng ra, thế mà nói chuyện dân trị, ôi, có dễ dầu gì!” [7]
Phan Khôi trình bày sơ lược nội dung cái “chủ nghĩa cá nhân” ấy, theo cách hiểu của ông:
“Cá nhân chủ nghĩa là hết thảy người trong nước, mỗi người đều độc lập về phần mình; mà độc lập cả hai đường: về tinh thần và về vật chất vậy. Độc lập về tinh thần, tức là mỗi người đều biết tự suy nghĩ lấy, tự phán đoán lấy, nhắm lẽ phải ở đâu thì theo đó, chớ không làm nô lệ cho ý kiến của người nào hay đảng phái nào. Độc lập về vật chất tức là độc lập về kinh tế, mỗi người đều làm lấy mà nuôi sự sống mình, chớ không chịu nhờ vả ai, dầu con cũng không nhờ cha, vợ cũng không nhờ chồng.
Có độc lập như vậy rồi mới nói chuyện hiệp quần được. Sự hiệp quần ví dụ cũng như khi có bão to mà đông người đứng ra, giăng hàng chữ nhứt để đón gió. Trong hàng chữ nhứt đó, người nào người nấy phải có sức mạnh mà trụ chưn cho vững thì mới được. Bằng chẳng vậy, trong đó hết già nửa người yếu, chỉ dựa vào mấy người mạnh kia, thì cái hàng chữ nhứt ấy sẽ không cự với gió được mà lại ngã làm một cùng nhau. Bởi vậy, trước khi hiệp quần phải cần cho mỗi người độc lập, tức là thiệt hành cái chủ nghĩa cá nhân”. [7]
Theo Phan Khôi, nội dung ấy của chủ nghĩa cá nhân chưa hề có trong xã hội Việt Nam, từ xa xưa cho đến thời ông:
“Xã hội ta xưa nay chưa hề chiêm bao tới cái sự độc lập đó! Ấy chẳng đáng trách gì, cũng tại cái luân lý và cái chế độ kinh tế của ta nó ngăn cấm ta, không cho mộng tưởng tới đó thôi. Theo đức Khổng Tử, «cha chết ba năm rồi mà không đổi cái cách cuộc ăn ở của cha, như vậy gọi là hiếu». Thế thì bao nhiêu những kẻ còn có cha phải vâng lời cha, phải tuân mạng lịnh của cha, là sự mà luân lý bắt buộc, đã rõ ràng lắm rồi. Lại còn theo cái chế độ đại gia đình, một người làm, nuôi không biết mấy người, như vậy là kẻ nầy phải nhờ kẻ kia mà sống, đường kinh tế không độc lập.
Theo luân lý và chế độ ấy thì sống làm «thần dân» dưới chánh thể chuyên chế mới được, chớ còn mong thiệt hành chủ nghĩa dân trị hay là hưởng sự lợi ích của nó, có được đâu ?”. [7]
Bài báo Cá nhơn chủ nghĩa ấy, Phan Khôi viết nhân đọc bài diễn thuyết của viên Tổng trưởng bộ Thuộc địa trong chính phủ Pháp là Paul Reynaud khi ông ta sang công cán xứ Đông Dương thuộc địa (1931). Cái ý mà Phan Khôi muốn nhắc tới là nhận xét của Paul Reynaud: “nước An Nam chưa có cái cá nhân chủ nghĩa thì cũng chưa cho họ hưởng cả sự lợi ích của dân chủ được đâu”. Từ lập luận về quan hệ thiết yếu giữa chủ nghĩa cá nhân của công dân và tính chất dân chủ của thiết chế xã hội, Phan Khôi tán thành sự khuyến dụ của viên chức người Pháp nọ:
“Tôi nhận cho lời quan Tổng trưởng nói đó là một bài học hay cho người Việt Nam, nếu chúng ta muốn hưởng sự tự do bình đẳng sau nầy thì ngay từ đây ta phải, theo lời ngài, làm cho cái cá nhân chủ nghĩa nó nẩy nở ra trong xã hội ta mới được” [7]
Trên đây tôi nói kỹ về hai bài báo của Phan Khôi trong đó bàn rõ về nội dung của phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng phương Tây, về sự liên quan chặt chẽ giữa chủ nghĩa cá nhân ở con người công dân với tinh thần dân chủ trong các thiết chế xã hội chính trị; và nhân bàn về việc đưa tinh thần dân trị vào xã hội Việt Nam, Phan Khôi nhấn mạnh rằng một trong những điều kiện thiết yếu là phải phổ cập nội dung chủ nghĩa cá nhân vào đơn vị con người của xã hội ta.
Cần phải nói rằng những luận điểm chính như vừa dẫn trong hai bài báo trên cũng được Phan Khôi thể hiện thường xuyên trong nhiều bài viết khác, kể cả loại bài mang tính chất hài đàm, nhàn đàm, tạp trở, dật sự,…Hơn thế, ở phương diện vận động phổ biến các nội dung của chủ nghĩa cá nhân đó vào xã hội người Việt đương thời mình, Phan Khôi đã tự chứng tỏ là một trong những nhà ngôn luận đi tiên phong, với việc biện luận và đề xuất các nội dung của vấn đề nữ quyền,[8] hoặc biện luận và đề xuất việc chuyển từ mô hình đại gia đình sang mô hình gia đình hạt nhân trong xã hội người Việt.[9] Nhìn lại cả quá trình vận động tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, hậu thế chúng ta có đủ căn cứ để xem Phan Khôi như một trong những nhà lý luận sâu sắc về quyền con người trong đời sống hiện đại. Cách mô tả nội hàm phạm trù chủ nghĩa cá nhân như trên của Phan Khôi chắc chắn không phải là kết quả sự hiểu sai đọc lệch nào, càng không phải do bị tuyên truyền huyễn hoặc, mặc dù ngày nay đọc lại, người nghiên cứu và cả người đọc thông thường đều dễ thấy rõ nó khác hẳn so với cách mô tả khác, phổ biến hơn, theo đó phạm trù chủ nghĩa cá nhân (individualisme) bị quy vào chủ nghĩa ích kỷ (egoisme).
2. Tất nhiên cách hiểu như trên về chủ nghĩa cá nhân, không phải là cách hiểu riêng của một mình Phan Khôi. Vả lại, như Phan Khôi đã có nói đến, chủ nghĩa cá nhân không phải là đặc sản phương Tây theo cái nghĩa là nó không thể nảy nở ở các xã hội ngoài phương Tây. Chủ nghĩa cá nhân không phải là thuộc tính dân tộc, chủng tộc, cũng không phải đặc tính văn hoá vùng miền. Điều được nhấn mạnh là nên hiểu chủ nghĩa cá nhân vừa như là điều kiện vừa như là sản phẩm của quan hệ kinh tế xã hội, của thiết chế xã hội. Vì vậy nó có thể nảy nở ở những vùng miền khác, ngoài phương Tây, tức là cả ở phương Đông.
Một trong những đoạn trích dẫn trên đã hé cho biết, Phan Khôi là người thấy rằng ở xã hội người Việt đương thời mình chưa thể thực hiện nền dân chủ, mà một trong những lý do trọng yếu là con người ở đây chưa hấp thụ và thực hành chủ nghĩa cá nhân; và Phan Khôi thấy rằng nếu muốn Âu hoá, hiện đại hoá xã hội cổ xưa này thì một trong những điều cần thiết là làm cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở ở đơn vị con người của xã hội này.
Phan Khôi mới chỉ tin vào sự tất yếu của sự gieo trồng chủ nghĩa cá nhân vào xã hội ta nếu muốn dân chủ hoá xã hội ta, chứ thật ra ông chưa tỏ vẻ tin tưởng rằng cái quá trình ấy sẽ có thành tựu.
So với ông, có những người tin tưởng hơn nhiều; họ tin rằng có thể gieo trồng chủ nghĩa cá nhân, gieo rắc tư tưởng về nhân quyền tự do vào xã hội phương Đông, xã hội người Việt này. Những người tin như thế, đương thời Phan Khôi, thậm chí sớm hơn, trước hết, đó là các nhà thực dân người Pháp. Ý tôi muốn nói đến những quan chức hàng đầu được cử sang cai quản xứ thuộc địa này.
Theo tôi nhớ thì sử học của ta chưa cung cấp được những kết quả nghiên cứu khả thủ về phương diện chủ thuyết, nhận thức chủ quan của các nhà cai trị đến từ Pháp về mục đích của cái sự nghiệp được gọi, − hoặc theo lối chính thống hoặc theo lối mai mỉa, − là “khai hoá” của họ. Những gì tôi trình bày tiếp đây chỉ là một tư liệu cụ thể, có lẽ chưa có giá trị đại diện. Tôi muốn dẫn ra sau đây cách hiểu của Albert Sarraut (1872-1962), từng là Toàn quyền xứ Đông Dương thuộc Pháp (1912-1919).
Trong một buổi diễn thuyết ở Hà Nội vào khoảng đầu năm 1919, A. Sarraut cho rằng một trong những lý tưởng, chính sách của nước Pháp ở Đông Dương là tác động để gây ra “cái tư tưởng về nhân quyền (le droit de homme), về cái quyền của con người ta”.[10]
A. Sarraut nhận định về trạng thái của đơn vị con người ở xã hội người Việt cổ truyền:
“Trước khi người Đại Pháp sang Đông Dương này thì dân An Nam tuy là một dân tộc có văn hiến, đã có pháp luật khôn ngoan của vua hiền chúa giỏi đặt ra, song cũng ví như một đám đông chưa thành hình (masse amorphe), còn chìm đắm vào trong đoàn thể, người ta còn ngập vào trong đám đông, như cái cây lẫn trong rừng lớn vậy. Cái giá trị của người ta (la valeur humaine), nghĩa là những quyền lợi của mỗi người cùng là phép luật để giữ cho những quyền lợi ấy, còn hầu như chưa có. Người ta đối với quốc gia chẳng qua là một chút mảy may, cũng ví như một hột cát trong đống cát vậy. Cái đám người đông u u âm âm ấy đã mấy mươi đời nay vẫn cứ chịu ép một bề mà theo cái quyền chuyên chế của người trên, dù cái quyền ấy sai khiến thế nào mặc lòng, bắt sống phải sống bắt chết phải chết, dẫu lạm dụng quá độ cũng không biết tố cáo vào đâu, vì trên ông vua không còn có cái quyền nào cao hơn nữa. Người ta an toàn được chỉ là nhờ ở cái bụng tốt, cái chí công, cái lòng nhân từ của ông vua cầm quyền đó, cùng những người khâm mạng vua mà thi hành cái quyền đó. Gặp được vua hiền quan giỏi thì cái nhân thân của mình được trọn vẹn, gặp phải vua xấu quan xằng thì khó lòng mà giữ cho trọn được. Đối với cái quyền tối cao tuyệt đối ấy thì không còn có pháp luật nào mà tố cáo được nữa”. [10]
Một trạng thái như vậy, theo Sarraut, vốn thuận lợi cho các nhà thực dân:
“Chắc rằng một cái tình trạng như vậy thì dễ việc cai trị cho quân quyền nhiều lắm, vì dân chỉ là một cái lũ đã sẵn lòng phục tòng, không phải là những người đã có quyền lợi riêng; bởi dễ dàng cho việc cai trị như vậy nên chính các quan cai trị Pháp cũng thường muốn theo lối cũ mà cứ giữ y nhiên như vậy, lấy làm tiện lợi nhiều, vì chỉ phải can thiệp với cả đoàn thể mà không quản gì đến quyền lợi riêng của mỗi người”. [10]
Tuy nhiên, lý tưởng của những người Pháp đến chinh phục xứ này, theo Sarraut, lại là làm cho đơn vị cá nhân (individu) của con người hiện diện ra với tất cả giá trị và quyền lợi của nó. Ông ta ví công việc tác động ấy như của người thợ nặn:
“Cái tay nước Pháp lấy cái đất nước Nam ấy mà nặn lên thành những người có nhân cách, để giữ được quyền lợi, vì đã có pháp luật cao hơn mà che chở cho”. [10]
Cố nhiên nhà chính trị phải lập tức trở lại câu chữ khái quát:
…. “Muốn nói cho đúng hơn thì phải nói rằng nước Pháp vẫn dụng công để gây cho người An Nam có cái nhân cách hoàn toàn ấy. Vì cái công nghiệp nước Pháp về đường ấy chưa phải đã xong đâu; còn phải lâu dài nữa rồi mới mong tới ngày trong suốt cõi nước này cái công tạo thành ra nhân cách có đủ quyền lợi pháp luật ấy sẽ được hoàn toàn và sẽ được hiển nhiên công nhận vậy. Hiện nay còn gặp nhiều sự ngăn trở lắm, hoặc bởi phong tục, hoặc bởi quyền thế, hoặc bởi cái trình độ giáo dục trong dân còn kém, hoặc bởi những lề thói cổ tự đời nào đến giờ làm ngăn trở sự tiến bộ, ngại đường công lý. Nhưng cái nguyên lý cốt yếu thì hiện nay đã phát minh ra rõ ràng rồi, cái nguyên lý ấy là thế này: người bản xứ ở đây cũng là người, cũng có nhân cách như mọi người khác, như người Âu châu chúng tôi vậy. Nhân cái nguyên lý đó, thì nước Pháp cùng những người khâm mạng nước Pháp để cai trị ở đây, vẫn hết sức làm cho vững bền, cho rõ tỏ những quyền pháp để bảo toàn cho người ta, những kế hoạch để giữ gìn cho cái nhân thân, sự tự do, cái sinh mệnh, sự tài sản của người ta cùng là giúp cho người ta về thân thể, về tinh thần, mỗi ngày một phát đạt thêm lên, sau này được sung sướng hơn lên, và, hoặc giả có bị xâm phạm đến những quyền lợi cùng tư cách ấy thì có chỗ mà kháng cáo được. Ấy, cái mục đích cao thượng của công nghiệp nước Pháp là ở đó…” [10]
Trên đây tôi đã trích dẫn giới thiệu quan điểm một nhà cầm quyền Pháp về công việc được xem như “mục đích cao cả” của mình: phổ cập chủ nghĩa cá nhân vào xã hội người Việt. Ngôn ngữ quan phương của ông quan lớn nhất, đứng đầu bộ máy cai trị xứ thuộc địa, đã khiến những lời lẽ trên đây bị quá tải những thiện ý và tính chính nghĩa; song le điều đó cũng không làm cho nó trở nên vô nghĩa hoàn toàn; ít ra trong đó cũng vẫn còn một vài phần sự thực.
Điều tôi lưu ý ở ví dụ vừa trích dẫn từ viên cựu toàn quyền kia là những nội dung căn bản của phạm trù chủ nghĩa cá nhân mà ông ta diễn đạt, lại có sự phù hợp trên nét lớn với những nội dung mà ta thấy Phan Khôi đã diễn đạt.
Tôi sẽ loại bỏ ngay khả năng Phan Khôi là kẻ hâm mộ viên chức kia. Chính trong năm 1919, Phan Khôi đã lên tiếng mỉa mai cái ngôn từ “xin chính quốc cho Đông Dương được tự trị” của toàn quyền A. Sarraut. [11]
Bởi vậy, sự phù hợp này chẳng qua chỉ cho thấy có phần chắc là Phan Khôi đã đọc đúng cái nội dung chủ nghĩa cá nhân của xã hội phương Tây đương thời ông; đọc đúng ở đây có nghĩa là diễn đạt lại cho người đọc Việt Nam bằng tiếng Việt đúng cái quan niệm về nhân quyền, về quyền và lợi ích của cá nhân mỗi con người, tức là về chủ nghĩa cá nhân mà ở xã hội Tây phương đương thời ấy người ta đang chủ trương và đang sống trong những nguyên tắc của nó.
3. Ngày nay, ở đầu thế kỷ XXI này, chúng ta biết rằng chủ nghĩa cá nhân và thể chế dân chủ đã không còn là đặc sản của riêng các xã hội phương Tây.
Tuy vậy, trên quy mô toàn hành tinh tức là toàn nhân loại, những vấn nạn về quyền con người, thậm chí, những thảm hoạ nhân đạo vẫn chưa hết tính nguy cơ thường trực của chúng.
Ở một phương diện khác, người ta vẫn chưa thôi tranh cãi về những hàm nghĩa và ranh giới của quan niệm về nhân quyền. Các chính thể toàn trị, để tự biện hộ cho độc quyền hạn chế và kiểm soát tự do của công dân thuộc quyền mình, đã ra sức nhấn mạnh đặc tính dân tộc, đặc tính văn hoá vùng lãnh thổ của các quan niệm về quyền con người. Ở những nước được coi là phát triển nhất vẫn thấy nảy sinh những hiện trạng thoái hoá hoặc biến dạng của nhân tính. Do vậy, những vấn đề về chủ nghĩa cá nhân, về nhân quyền chưa bao giờ mất tính thời sự của mình.
Ở Việt Nam, cách hiểu chủ nghĩa cá nhân như Phan Khôi mô tả từ những năm 1920-30, đã không trở thành cách hiểu chủ đạo. Thay vào đó, cách hiểu mang tính lược quy chủ nghĩa cá nhân vào chủ nghĩa ích kỷ, vị kỷ, lại trở thành dòng hiểu biết chính thống; chủ nghĩa cá nhân trở thành đối tượng bị kêu gọi “khắc phục” nhân danh đạo đức xã hội; sự đả kích quan niệm cá nhân thậm chí thấm đẫm vào ngôn trò chuyện thường ngày v.v…Giới nghiên cứu quốc tế nhận xét rằng “chủ nghĩa cá nhân bị phê phán nặng nề nhất ở các nước Đông Á, nơi mà các hành vi vị kỷ, theo truyền thống, bị xem là những hành vi phản bội”. [12]
Trong một tình hình tri thức như vừa mô tả, dù chỉ xoay quanh một phạm trù hiểu biết xã hội, tôi nghĩ, cách hiểu và sự mô tả chủ nghĩa cá nhân như trên của Phan Khôi, từ cách nay 70 – 80 năm, vẫn còn có thể gây tranh luận đến tận hôm nay. Đó là điều cho thấy sức sống, cho thấy ý nghĩa thời sự hiện đại trong trứ tác của ông.
Hà Nội, 10/4/2008
Lại Nguyên Ân
Chú thích
[1] C.D., Học thuyết cũ với vận mạng mới nước Tàu // Đông Pháp thời báo, S.G., 26/7/1928. Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Đà Nẵng, 2003, tr. 114-118.
[2] C.D., Mấy lời kết luận về Cô Hồng Minh và cái thuyết Âu châu sắp tan nát // Đông Pháp thời báo, S.G., 15/9/1928. Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Đà Nẵng, 2003, tr.119-122.
[3] Phan Khôi, Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta // Thần chung, S.G., từ 3/10/1929 đến 18/11/1929. Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Đà Nẵng-Hà Nội, 2005, tr. 40-102.
[4] Như chú thích [2]
[5] Phan Khôi, Vấn đề cải cách // Trung lập, S.G., 9/8/1930; 12/8/1930; 13/8/1930; 18/8/1930. Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Hà Nội, 2006, tr. 371-384.
[6] Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Đà Nẵng, 2003, tr.101-109.
[7] P.K., Cá nhơn chủ nghĩa (Một bài học của quan Tổng trưởng Paul Reynaud cho người Việt Nam) // Trung lập, S.G., 28/11/1931). Xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn), Hà Nội, 2007, tr. 251-253.
[8] Ví dụ loạt bài về đề tài phụ nữ đăng trên Phụ nữ tân văn: Tơ hồng nguyệt lão với hôn nhân tự do; Chữ trinh: cái tiết với cái nết; Luận về phụ nữ tự sát (xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929 đã dẫn trên); Hoàng đế với phụ nữ; Lại hoàng đế với phụ nữ (xem trong sách Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930 đã dẫn trên); Tông Nho với phụ nữ (xem trong sách Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931 đã dẫn trên).
[9] Ví dụ loạt bài về các vấn đề gia đình đăng trên Phụ nữ tân văn: Gia đình ở xứ ta, nay cũng đã thành ra vấn đề rồi; Cái chế độ gia đình ở nước ta, đem gióng với luân lý Khổng-Mạnh; Sự lập thân của thanh niên nam nữ đời nay; Lại nói về tam cang với ngũ luân; Một cái hại của chế độ đại gia đình: bà gia với nàng dâu (xem trong sách: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931 đã dẫn trên)
[10] Dẫn theo bài: Đại Pháp đã làm cho ta có nhân cách // Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, 3 Mai 1919, tr.1.
[11] Chương Dân: Giải đại ý bài diễn thuyết của quan Toàn quyền Sarraut về cuộc Đông Dương tự trị // Lục tỉnh tân văn, S.G., 14/5/1919; 21/5/1919.
[12] http://vi. wikipedia.org/chủ nghĩa cá nhân / các quan điểm đối lập.
Hồ sơ Phan Khôi
8-6-08
27/11/08
Lại Nguyên Ân Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959) như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ?
Lại Nguyên Ân
Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959)
như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ?
Tham luận gửi tới hội thảo khoa học"Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến 1945" do Khoa Ngữ văn và Báo chí, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, 26/5/2006
1/ Điều nêu ra ở nhan đề bài này, sở dĩ phải đặt như một nghi vấn hơn là một khẳng định, bởi vì người viết những dòng này cũng như các đồng nghiệp trong giới nghiên cứu không thể không phải đương diện với một tập quán, tuy không mấy "khoa học" nhưng khá thông dụng trong việc biên soạn các bộ địa chí văn hoá hiện nay ở các tỉnh thành trong hầu khắp nước ta (những bộ địa chí thường được xếp vào loại công trình cấp quốc gia, thường được cấp tiền tỉ từ ngân sách công), theo đó căn cứ để tính một tác gia văn học vào trong số tác gia của địa phương mình thường là : a/ quê quán (thường tính theo quê cha, đôi khi xét thêm đến thuộc tính quê mẹ) , và b/ trên thực tế có sống và hoạt động văn học tại địa phương. Tiêu chí đầu thường được vận dụng phổ biến trong các bộ địa chí cấp tỉnh, và vận dụng bất chấp tiêu chí sau, bởi vì những tỉnh không có thành phố lớn thường chỉ có rất ít tác gia "quê gốc" lại đồng thời hoạt động "tại chỗ" (các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ chẳng hạn, tài năng văn học thường tụ hết cả về lòng chảo Hà Thành!); và thế là mặc dù "ngài" tác giả hoạt động ở tận đẩu tận đâu, ít khi bước chân về quê, chỉ cần bố mẹ "ngài" quê gốc ở địa phương này thì địa phương này sẽ tôn vinh tên tuổi "ngài" làm vinh dự cho quê hương. Tiêu chí sau, có vẻ như được ưu tiên trang bị cho việc biên soạn địa chí của những địa phương có thành phố lớn, có trung tâm văn hoá lớn, những nơi từng có mặt hoặc đang có mặt số lượng lớn người hoạt động văn học; dữ kiện để chọn dồi dào thì người biên khảo sẽ khoác bộ mặt cau có của kẻ khó tính, sẽ chẳng những đòi hỏi quê gốc tác gia phải ở tỉnh thành này, mà còn đòi hỏi chính tác gia phải từng sống và hoạt động văn học tại đây nữa. Nhưng ở trung tâm lớn thời nào cũng thường quần tụ nhiều tác gia; trong khi đó, động cơ và mục đích đầu tư cho biên soạn các bộ địa chí là tôn vinh địa phương, là chứng tỏ đất này "địa linh nhân kiệt" hơn những đất khác, cho nên rốt cuộc nhà biên khảo vẫn sử dụng tra vấn "quê gốc" làm căn cứ để loại trừ bớt những tác gia tuy hiển nhiên hoạt động văn học tại đây nhưng chỉ là dân nhập cư từ những nơi khác! Tóm lại, tiêu chí quê quán hầu như vẫn là tiêu chí duy nhất để tập hợp tác gia theo vùng đất trong các công trình địa phương chí. Tiêu chí này, ngoài những công dụng hiển nhiên của việc biên khảo theo chủ đề, cũng chứa đựng nguy cơ làm đơn giản hoá, thậm chí làm méo mó (trong sự hình dung của người tiếp nhận tri thức văn học sử) diện mạo thực của đời sống văn học ở những đô thị lớn qua những giai đoạn khác nhau.
Sở dĩ phải dài lời như trên là vì thực sự tôi chưa rõ đề tài "Văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945" được dẫn dắt theo những quy tắc nào, nhất là về nghiên cứu tác gia, có vận dụng quy tắc "địa phương chí" hiện hành (như mô tả bên trên ) hay không?
Sự việc cụ thể là tôi đưa ra tác gia Phan Khôi (1887-1959): quê gốc không ở Nam Bộ, nhưng có thời gian đáng kể sống và hoạt động báo chí, văn học ở thành phố Sài Gòn trên đất Nam Kỳ (nay gọi là Nam Bộ). Vậy có thể đề cập đến hoạt động của Phan Khôi trong đề tài nghiên cứu này không? Vả chăng, Phan Khôi cũng chỉ là một trong khá đông trường hợp các tác gia "nhập cư" vào báo chương Sài Gòn hiện bị quên lãng thậm chí tại "quê gốc" của mình, ví dụ Đào Trinh Nhất (quê Thái Bình), Bùi Thế Mỹ, Phan Thứ Khanh (quê Quảng Nam), và hẳn còn không ít các trường hợp khác.
Phần dưới đây sẽ nêu khái lược hoạt động báo chí và văn chương của Phan Khôi tại Sài Gòn, trong những đoạn thời gian ông sống và viết báo viết văn ở đây.
*
2/ Theo một vài tác giả ( ví dụ : Phan Thị Nga(1936), Phan Cừ và Phan An (1996) (1) , v.v.) và theo kết quả sưu tầm nghiên cứu của bản thân người đang viết những dòng này, thì Phan Khôi góp mặt với báo chí Sài Gòn từ năm 1919 và từ đó đến đầu thập niên 1940 (hoặc cuối thập niên 1930) đã liên tục gắn với đời sống văn chương báo chí Sài Gòn, dù suốt thời gian ấy không phải lúc nào cũng sống ở đây. Có thể nói chính môi trường báo chí văn chương Sài Gòn đã là nơi nuôi dưỡng cây bút Phan Khôi từ điểm định hình đến độ trưởng thành, là nơi cây bút viết báo viết văn của ông làm việc năng sản nhất, hiệu quả nhất. Chính môi trường báo chí văn chương Sài Gòn đã đề xuất Phan Khôi như một trong không nhiều những tên tuổi xuất chúng của mình trên trường dư luận toàn quốc đương thời.
Phan Khôi can dự văn chương không hiếm khi với tư cách người sáng tác (làm thơ, viết truyện ngắn, truyện dài) nhưng thường khi với tư cách người bình luận, người nghiên cứu, hoặc với tư cách dịch giả. Và ở Việt Nam, nếu đời sống văn học, trước hết là ở Nam Kỳ, từ nửa cuối thế kỷ XIX, bắt đầu dạng thức tồn tại trên hai loại hình (hoặc hai kênh) chính của truyền thông hiện đại là xuất bản và báo chí, thì hoạt động văn chương và học thuật của Phan Khôi được thực hiện chủ yếu trên kênh báo chí. Hoạt động của ngòi bút ông gắn với báo chí đến mức di sản của ngòi bút ông có cơ mất hút trong mắt các lớp hậu thế nếu họ chỉ tìm ông theo cái kênh dễ soi là sách xuất bản thời trước và do vậy chỉ thấy được một ít văn phẩm (Chương Dân thi thoại, Việt ngữ nghiên cứu, ...) dường như chưa xứng tầm cỡ tác giả !
Tờ báo đầu tiên ở Sài Gòn mà Phan Khôi đăng bài có lẽ là tờ Lục tỉnh tân văn. Ông có bài đăng báo này hầu như ngay sau khi thôi cộng tác với tạp chí Nam phong ở Hà Nội. Bài cuối cùng ông đăng Nam phong ( Về việc cấm rượu ở các nước cùng việc rượu lậu ở nước ta // N.P.s. 23, tháng 5/1919) thì cũng ngay trong tháng ấy, ngày 7/5/1919 trên tờ Lục tỉnh tân văn ở Sài Gòn đã có bài của Phan Khôi. Ban đầu ông đăng sáng tác: hai bài ca Đưa chồng và Nhớ chồng, thác lời người vợ có chồng là lính tùng chinh sang Pháp tham gia thế chiến thứ nhất, đều là bản dịch hai bài thơ chữ Hán đã đăng Nam phong (Sau này vào năm 1958 ở miền Bắc, Phùng Bảo Thạch sẽ "hồi cố" nội dung hai bài này để tố cáo thái độ "ôm chân đế quốc" của Phan Khôi). Nhưng những loạt bài kéo dài thành mục báo đăng nhiều kỳ của Phan Khôi trên Lục tỉnh tân văn năm 1919 lại là về đề tài thường thức xã hội và về ngôn ngữ. Đó là mục Làm dân phải biết (với những nội dung bài từng kỳ báo lần lượt là : -- Nước mẹ đẻ; -- Địa dư nước An Nam; -- Chính trị nước An Nam; -- Phong tục nước An Nam; -- Dân phải nộp thuế;...) và mục Ghi chép tiếng An Nam (tôi tìm được 10 kỳ báo có bài của mục này, từ 12/5 đến 25/6/1919).
Thời gian Phan Khôi cộng tác với tờ Lục tỉnh tân văn rất ngắn, chỉ trong vòng vài tháng. Theo Phan Thị Nga (1936, tài liệu dẫn trên) thì "làm được ít lâu vì ông viết một bài kịch liệt quá người ta buộc ông thôi, ông lại ra Bắc ...".
Bài báo "kịch liệt quá" ấy, nếu là bài đã đăng, thì, theo tìm hiểu của tôi, đó có thể là bài Giải đại ý bài diễn thuyết của quan Toàn quyền Sarraut về cuộc Đông Dương tự trị đăng hai kỳ báo (LTTV. 14/5 và LTTV. 21/5/1919). Theo thông tin trong bài báo ấy thì trước đó ít lâu, tại một buổi tiệc trà của hội Khai trí Tiến đức ở Hà Nội, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut có bài diễn thuyết về chủ đề Đông Dương tự trị; Lục tỉnh tân văn đã đăng toàn văn bài diễn thuyết ấy; bài viết của tác giả Chương Dân chỉ đưa ra những lời giải thích; trong những điều ông giải thích có chỗ nói rằng: « chữ "Đông Dương tự trị" đó nghĩa là phủ Toàn quyền Đông Dương đối với Mẫu quốc mà được quyền tự trị, chớ không phải người Đông Dương đối với nước Lang Sa mà được quyền tự trị đâu », tức là Phan Khôi nói trắng ra rằng Toàn quyền Sarraut nói "Đông Dương tự trị" là nhằm đòi thêm quyền cho mình chứ không phải đòi quyền cho dân Đông Dương. Phải chăng chính ý này đã khiến Toà soạn Lục tỉnh tân văn cho là "kịch liệt quá" và buộc ông thôi cộng tác?
Dẫu sao thì sự hiện diện lần đầu trên báo chương Sài Gòn của Phan Khôi cũng tạm chấm dứt ở đấy. Ông trở ra Hà Nội cộng tác với các tờ Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu thanh, nhận lời cộng tác dịch Kinh Thánh Ki-tô giáo cho hội thánh Tin Lành.
Vài ba năm sau, Phan Khôi lại vào Nam, chưa rõ từ thời điểm cụ thể nào, cũng chưa rõ khi vào có viết ngay cho tờ báo nào hay không; chỉ có nguồn tư liệu (theo Phan Cừ và Phan An, 1996, tư liệu đã dẫn) cho rằng, sau khi vào Nam lần này, vì một lý do gì đó, Phan Khôi phải chạt xuống Cà Mau ẩn náu nơi nhà một người bạn là chủ đồn điền, dành thời gian tự học thêm tiếng Pháp qua thư từ với Djean de la Bâtie, một nhà báo tự do người Pháp ở Sài Gòn.
Theo tìm hiểu của tôi, thời kỳ thứ hai Phan Khôi góp mặt với báo chương Sài Gòn có thể tính từ đầu năm 1928. Thời kỳ này kéo dài đến năm 1933 hoặc 1934, gắn với các tờ Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập. Thời kỳ này đánh dấu sự chuyển biến về chất của ngòi bút Phan Khôi. Lại xin dẫn lời nữ ký giả Phan Thị Nga (1936, Hà Nội báo): "Ông bắt đầu viết được lối văn sát sóng như lối văn ông hiện giờ, từ hồi ông làm cho Đông Pháp thời báo ở Nam"( ta nên lưu ý điều này : bà Phan Thị Nga khi đó đang làm cho báo Tràng An ở Huế; bài báo của bà là kết quả hỏi chuyện trực tiếp Phan Khôi, -- khi đó đang làm chủ nhiệm tờ Sông Hương cũng ở Huế, nên nhiều điều trong bài có lẽ là ghi lại lời bộc bạch của chính Phan Khôi).
Xin được nhắc lại một vài tình tiết thuộc "báo chí sử" Sài Gòn, khi Diệp Văn Kỳ trở về từ Pháp với tấm bằng cử nhân luật nhưng lại thích môi trường báo chí văn chương (nhân tiện xin nhắc rằng Diệp Văn Kỳ là tác giả khá nhiều tác phẩm sân khấu như Tứ đổ tường, Áo người quân tử, Bể ái đầy vơi,...lại cũng là tác giả một số tiểu thuyết, ví dụ Chưa dứt hương thề đăng Thần chung từ 4/7/1929; đây cũng là một trong những tác giả cần được xét xem có phải là "tác gia Nam Bộ" hay không). Cuối năm 1927 hai ông hội đồng Diệp Văn Kỳ và Nguyễn Văn Bá mua lại từ tay Nguyễn Kim Đính tờ Đông Pháp thời báo (cũng có tên tiếng Pháp Le Courrier Indochinois). Học giả Huỳnh Văn Tòng (2000) nhận xét rằng «hai ông này đã biến đổi hoàn toàn tờ báo», biến nó từ chỗ «có khuynh hướng thân chính phủ» trở nên «có khuynh hướng đối lập» và «là tờ báo có rất nhiều người đọc » (2). Việc Đông Pháp thời báo mời được Tản Đà và Ngô Tất Tố từ Bắc vào tăng cường cho bộ biên tập và làm gia tăng rõ rệt thành phần văn chương văn hoá trong nội dung tờ báo, -- thì nhiều nhà nghiên cứu ( Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Huỳnh Văn Tòng,...) đã ghi nhận. Nhưng việc Phan Khôi cũng góp mặt trên tờ báo này từ khi nó thuộc về hai chủ nhân mới, -- thì ít thấy nhà nghiên cứu nào ghi nhận, hoặc nếu có ghi nhận thì chỉ nói chung chung là Phan Khôi có lúc viết cho Đông Pháp thời báo chứ không ghi nhận cụ thể gì hơn. Lý do có lẽ cũng đơn giản do cách tái xuất hiện khá kín đáo lần này của chính Phan Khôi trên báo chí Sài Gòn : tất cả các bài đưa đăng Đông Pháp thời báo, từ những bài tranh luận với Trần Huy Liệu và Huỳnh Thúc Kháng về một đoạn sử quan hệ Pháp-Việt thế kỷ XVII - XVIII, kể cả "Nam âm thi thoại" mà tên sách và những bài đầu tiên của nó đã từng xuất hiện trên Nam phong những năm 1918-1919, kể cả bài thơ "Dân quạ đình công" làm từ sau "vụ án xin xâu" ở miền Trung hồi cuối thập niên đầu thế kỷ XX, v.v..., tất cả, Phan Khôi đều ký tắt hai chữ C.D. -- hai chữ cái đầu tên hiệu Chương Dân mà ông đã dùng để ký dưới các bài báo của mình trên tạp chí Nam phong hồi trước.
Trong số những bài Phan Khôi đưa đăng trên Đông Pháp thời báo, chỉ có ít bài bình luận thời sự chính trị (ví dụ Cái tình thế chánh trị xứ Trung kỳ và Nhân dân đại biểu viện xứ ấy // ĐPTB 28/8/1928; Ít lời lạm bàn về chánh sách của ông Pasquier, quan Toàn quyền mới Đông Pháp //ĐPTB 30/8/1928), nhưng có khá nhiều bài thiên về khảo chứng hoặc bình luận sử học. Nổi bật là chùm bài tranh luận phản bác điều mà ông gọi là "cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam về hồi cuối thế kỷ XVIII"; cạnh đó là những bài cũng phản bác "cái thuyết châu Âu sắp tan nát" của học giả Cô Hồng Minh (1856-1928), nhận diện tình hình học thuật tư tưởng ở Trung Hoa đương đại, so sánh đặc điểm tư tưởng phương Đông và phương Tây, khẳng định việc lớn trước mắt phải làm ở phương Đông, ở châu Á là phải "Âu hoá", phải học văn minh phương Tây để đưa xã hội mình lên trình độ của thế giới hiện đại (Học thuyết cũ với vận mạng mới nước Tàu // ĐPTB 26/7/1928; Mấy lời kết luận về Cô Hồng Minh và cái thuyết Âu châu sắp tan nát //ĐPTB 15/9/1928; Tư tưởng của Tây phương và Đông phương //ĐPTB 27/9 và 2/10/1928; Bác cái thuyết tân cựu điều hoà //ĐPTB 11/10/1928).
Thời Phan Khôi, Tản Đà, Ngô Tất Tố cùng cộng tác với Đông Pháp thời báo cũng có thể xem là thịnh thời của "văn hoá đọc", khi mà trên báo chí Sài Gòn, truyện đều kỳ (feuilleton) được in xen kẽ với quảng cáo như là phần thưởng toà soạn dành cho người đọc các trang quảng cáo. Vào dịp có một loạt khách văn sĩ thi nhân nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc tụ hội ở báo mình, toà soạn Đông Pháp thời báo đã mở ra "Phụ trương văn chương" vào mỗi thứ bảy hằng tuần do Chủ bút Bùi Thế Mỹ chủ trì, bên cạnh "Phụ trương thể thao" và "Phụ trương phụ nữ và nhi đồng".
Phần văn học Phan Khôi góp với Đông Pháp thời báo khá đa dạng : sáng tác thơ (Dân quạ đình công // ĐPTB 2/6/1928; Cái chết của con nhà nghèo // ĐPTB 21/7/1928), bình luận văn học (Cấm sách, sách cấm //ĐPTB 1/9/1928; Thi văn với thời đại // ĐPTB 6/10/1928; Văn chương và văn chương của nhà báo // ĐPTB 27/10/1928); khảo chứng (Cái dốt cuả triều Huế // ĐPTB 8/5/1928; Một bài vận văn rất có giá trị về lịch sử : "Hà Nội chánh khí ca» // ĐPTB 4/10/1928 ); giới thiệu văn sĩ và văn chương nước ngoài ( Cái thế lực của nhà văn hào // ĐPTB 5/6/1928 [nói về L. Tolstoy]; Hồ Thích với Quốc dân đảng // ĐPTB 18/12/1928; Ông Eroshenko, thi nhân mù nước Nga // ĐPTB 19/5/1928); dịch thuật văn chương (dịch bài Quan về vườn // ĐPTB 5/5/1928 của nhà thơ Pháp H. de Racan [1589-1670]; dịch một số tác phẩm của Eroshenko; dịch phần đầu tiểu thuyết Bá tước Monté Cristo của A. Dumas-père và cho đăng đều kỳ như một cuốn "tiểu thuyết chánh trị") (3). Chính trên tờ Đông Pháp thời báo Phan Khôi đã bắt đầu thử việc trong một thể tài văn chương gắn liền với báo chí là thể tài hài đàm. Dưới bút danh Tân Việt trong tiểu mục "Câu chuyện hằng ngày" do Chủ báo Diệp Văn Kỳ đặt ra, Phan Khôi trở thành tay bút chính tìm tòi thể nghiệm dạng sáng tác mới mẻ này, và nhân đây xây dựng một "mặt nạ tác giả"(4) hay là một kiểu tác giả đặc thù mà sự tồn tại của nó gắn liền với kiểu giao tiếp gián cách giữa tác giả với độc giả thông qua kênh truyền thông báo chí. Vai trò Tân Việt trong "Câu chuyện hằng ngày" sẽ được Phan Khôi tiếp tục trên tờ Thần chung. Trong việc tìm tòi cách viết hài đàm, Phan Khôi chú trọng kinh nghiệm của hai nhà báo Pháp là Clément Vautel (1876-1954) và Charles de la Fouchardière (1874-1946) trên các tờ Le Journal và L' Oeuvre xuất bản ở Paris đương thời (5).
Về điểm đứt nối giữa hai tờ Đông Pháp thời báo và Thần chung, nhân đây xin nêu đôi chi tiết thuộc "báo chí sử" Sài Gòn : theo khảo sát của tôi, tờ Đông Pháp thời báo ngừng xuất bản không phải vì bị chính quyền đương thời đóng cửa như một vài học giả mô tả, mà sự thể đơn giản là chủ nhân của nó tự chấm dứt tờ báo này để ra tờ báo khác. Nói rõ hơn, tuy Diệp Văn Kỳ đã mua lại tờ báo này của Nguyễn Kim Đính nhưng ông vẫn xin giấy phép ra một tờ báo khác nữa. Đến khi có được giấy phép ra tờ Thần chung rồi thì Diệp Văn Kỳ xử lý theo kiểu đổi tên : ông chấm dứt Đông Pháp thời báo từ ngày 22/12/1928 (số báo 809) để rồi hai tuần sau, vẫn tại toà soạn ấy ở góc đường Filippini và Espagne tại thành phố Sài Gòn, vẫn với nguyên vẹn ban biên tập ấy, từ ngày 7/1/1929, báo mới với nhan đề Thần chung (có tên bằng tiếng Pháp là La Cloche du Martin) ra mắt số 1. Nói gọn lại thì Đông Pháp thời báo đã được đổi tên thành Thần chung, nhưng giấy phép của Đông Pháp thời báo thì lại được trả lại cho Nguyễn Kim Đính; ông này sau đó có lúc đánh tiếng ở báo khác rằng sẽ tục bản tờ báo cũ này của mình, nhưng việc ấy rốt cuộc không xảy ra.
Chuyện bị chính quyền đóng cửa là chuyện thực đã xảy ra với tờ Thần chung sau 15 tháng nó hoạt động rất hiệu quả theo hướng báo chí đối lập. Lệnh đóng cửa tờ báo này ban ra từ phủ Toàn quyền ở ngoài Bắc (22/3/1930) buộc tờ báo này ở Sài Gòn phải lập tức thi hành, và toà soạn Thần chung đành phải dùng những tờ rơi dán lên tường nhà một vài đường phố Sài Gòn để báo tin và nhân thể tỏ ý cảm ơn và từ giã bạn đọc (6).
Trong số bài vở Phan Khôi góp cho mặt báo Thần chung, dễ thấy nhất là việc duy trì mục "Câu chuyện hằng ngày" dưới bút danh Tân Việt . Tôi đếm thử, được 337 kỳ báo có bài của mục này trên tổng số 346 kỳ báo Thần chung. Khi còn nằm trên Đông Pháp thời báo, vì báo chỉ ra 3 kỳ mỗi tuần, nên "câu chuyện hằng ngay" vẫn ở tình trạng "cách nhật". Nay nhật báo Thần chung ra tất cả các ngày thường trong tuần, trừ chủ nhật, câu chuyện mà Tân Việt góp với người đọc báo mỗi ngày quả thực là "câu chuyện hằng ngày" với đủ loại nội dung có thể nói tới, từ các sự việc xảy ra hằng ngày tại đô thị Sài Gòn và các miền trong nước đến các sự việc ở nước ngoài. Nhờ mục này mà nay đọc lại chúng ta biết các chuyện bầu cử hội đồng quản hạt, chuyện thiếu nước, chuyện nghiện hút ở Sài Gòn, rồi chuyện thi hào Tagore đến thăm thành phố, chuyện phế đế Phổ Nghi, chuyện các quân phiệt bên Tàu, chuyện thi sắc đẹp bên Tây, v.v., và nổi bật lên là cái giọng riêng của tác giả, khi cười cợt khi nghiêm chỉnh.
Trên Thần chung Phan Khôi xuất hiện với họ tên thật của mình từ 3/10/1929 trong loạt 21 kỳ của tiểu luận Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta, sau đó trong những bài thảo luận về dịch sách Phật học với nhà sư Thiện Chiếu. Ông cũng vẫn ký Chương Dân hoặc ký tắt C.D. trong những bài về ngôn ngữ, về thi văn. Một bút danh khác ông dùng ở một vài bài đăng Thần chung là Khải Minh Tử, đây là bút danh ông đã dùng cho một số bài báo chữ Hán ông viết cho tờ Quần báo của Hoa kiều ở Chợ Lớn (7).
Ngoài những bài ký tên hoặc bút danh rõ rệt, có lẽ Phan Khôi còn có nhiều bài ký tên toà soạn (Thần Chung, T.C.) hoặc không ký tên, ví dụ nói về bút chiến, về vùng đất Tây Nguyên, về luận lý học, về thời sự trong nước, thời cuộc Trung Hoa, v.v...Ta cũng có thể dự đoán rằng trong những loại công việc mà báo Thần chung tổ chức như cuộc thi quốc sử, chắc hẳn có vai trò của Phan Khôi. Nhìn vào 30 bản tóm tắt sự tích và công trạng 30 nhân vật trong sử Việt (mà Thần chung lần lượt đăng tải mỗi bản sự tích đến 2 lần cho độc giả đọc để biết mà tham gia trả lời các câu hỏi), -- ta có thể dự đoán là có bàn tay Phan Khôi tham gia soạn thảo.
Giữa năm 1929, Phan Khôi tham gia từ đầu vào một tờ tuần báo mà tên gọi của nó sẽ được nhắc nhở nhiều về sau như một thành công rất đáng kể của báo chí tiếng Việt những năm 1930 : tuần báo Phụ nữ tân văn. Đối với cơ quan tư nhân này, Phan Khôi là một trong những người gắn bó đến mức được gọi là "đứng mũi chịu sào" (8) cùng với Đào Trinh Nhất, nhưng nếu Đào Trinh Nhất thường đảm nhận vai trò chủ bút thì Phan Khôi trước sau chỉ giữ vai trò một cộng tác viên. Lượng bài viết của ông đăng trên tuần báo này là khá lớn : khoảng trên 100 bài lớn nhỏ (nhiều bài thực chất là những chuyên mục kéo dài hàng chục kỳ) trong tổng số 273 kỳ xuất bản tuần báo này từ 2/5/1929 đến 21/4/1935.
Trong sự đa dạng của các đề tài được đề cập thì nổi bật vẫn là xoay quanh đề tài về giới nữ với đủ cung bậc loại hình : nghị luận xã hội, khảo luận lịch sử, nghiên cứu văn học, sáng tác thơ văn. Việc Phan Khôi và các tác giả khác cùng thời ông đề cập vấn đề phụ nữ, theo nhận xét của tôi, không đơn giản là việc kiếm đề tài để viết cho hợp với nhãn một tờ báo, mà thực sự là việc triển khai đường lối duy tân vào thực tế đời sống. Hoạt động báo chí đương thời cho thấy không phải chỉ một nhóm làm tờ Phụ nữ tân văn mà còn nhiều nhóm khác nhận ra đề tài phụ nữ như một lối vào thuận lợi để tác động đến xã hội, tạo ra những chuyển biến trong nếp sống. Trong các bài viết của Phan Khôi, chủ trương giải phóng phụ nữ, giải phóng thế hệ trẻ khỏi sự áp chế của cái khung đại gia đình trung cổ được tác giả kiên trì theo đuổi bằng những lý lẽ thuyết phục; có thể hình dung điều đó qua nhan đề các bài viết ( Việt Nam phụ nữ liệt truyện // PNTV 2/5/1929; 13/6; 4/7; 1/8; 8/8; 15/8; 12/9/1929; Tơ hồng nguyệt lão với hôn nhân tự do // PNTV 12/9/1929; Chữ trinh: cái tiết với cái nết // PNTV 19/9/1929; Luận về phụ nữ tự sát // PNTV 26/9/1929; Chuyện bà cố tôi (Một cái đơn kiện cái chế độ gia đình An Nam) // PNTV 17/10/1929; Nữ công // PNTV 24/10/1929 ; Hoàng đế với phụ nữ // PNTV 9/1/1930; Lại hoàng đế với phụ nữ (Chuyện một bà hoàng hậu vì mắc oan mà bị tử hình) // PNTV 1/5/1930; Đàn bà mới của một nước mới Thổ Nhĩ Kỳ // PNTV 8/5; 15/5/1930; Thân oan cho Võ Hậu // PNTV 22/5/1930; Gia đình ở xứ ta nay đã thành ra vấn đề rồi // PNTV 21/5/1931; Cái chế độ gia đình nước ta đem gióng với luân lý Khổng Mạnh // PNTV 4/6/1931; Sự lập thân của thanh niên nam nữ đời nay // PNTV 18/6/1931; Lại nói về tam cang với ngũ luân // PNTV 2/7/1931; Tống nho với phụ nữ // PNTV 13/8/1931; Một cái hại của chế độ đại gia đình: bà gia với nàng dâu // PNTV 20/8/1931; Vấn đề cải cách cho phụ nữ // PNTV 28/1/1932; Vấn đề phụ nữ giải phóng với nhân sinh quan // PNTV 7/7; 21/7/1932; Con có vợ rồi có nên ở chung với cha mẹ chăng? // PNTV 14/7/1932; Thanh niên với tổ quốc // PNTV 13/10/1932; Câu chuyện lấy vợ đầm // PNTV 6/12/1934 )...Ơ' khía cạnh văn học, Phan Khôi đã nhân tính chuyên đề về giới của tờ tuần báo này để thử nêu các khía cạnh : văn học của các tác gia phụ nữ ( Về văn học của phụ nữ Việt Nam // PNTV 2/5/1929; Văn học của phụ nữ nước Tàu về thời kỳ toàn thịnh // PNTV 2/5/1929), và văn học về đề tài phụ nữ ( Văn học với nữ tánh // PNTV 9/5/1929; Lại nói về vấn đề văn học với nữ tánh // PNTV 6/6/1929; Cái tánh ghen cùng dật sự thi văn bởi nó mà ra // PNTV 23/5/1929; Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta // PNTV [11 kỳ] từ 30/5 đến 29/8/1929, v.v...).
Một loạt bài khác, Phan Khôi đã làm cho tờ Phụ nữ tân văn nổi tiếng, được cả những độc giả có học vấn cao tìm đọc, đó là loạt bài thảo luận về tư tưởng học thuật. Được khởi lên từ một vài bài ông đề nghị trao đổi hoặc chất vấn về nội dung học thuật và về học phong (Đọc cuốn Nho giáo của ông Trần Trọng Kim // PNTV 29/5/1930; Cảnh cáo các nhà học phiệt // PNTV 24/7/1930), Phan Khôi đã khiến những cây bút hàng đầu của học thuật đương thời như Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh,... lên tiếng trên tuần báo Phụ nữ tân văn phúc đáp và thảo luận về những vấn đề ông nêu ra. Cuộc tranh biện giữa những đầu óc uyên thâm không dễ cho bất kỳ ai học vấn nông cạn có thể tham dự, nhưng nó vẫn được đông đảo người đọc chờ đợi có lẽ vì đấy là dịp khá hiếm hoi để lắng nghe những người hiểu biết nhất trong nước bàn luận về những điều không hề dễ hiểu như các khái niệm và phạm trù của Nho giáo, nhận định về hoạt động tư tưởng văn hoá ở Việt Nam, về học phong của giới học giả,...Không khí tranh biện nghiêm túc mà không hề nhiễm thói giả dối hàn lâm kinh viện của những thảo luận này khiến ta có thể nghĩ rằng đây là những thời khắc thăng hoa không dễ lặp lại trong hoạt động tư tưởng học thuật ở Việt Nam. Có thể chính không khí ấy cũng đã hỗ trợ nâng bước cho Phan Khôi, khiến ông minh mẫn khác thường; điều này không chỉ bộc lộ qua việc không về hùa với người anh rể là Lê Dư trong chuyện "nước ta có quốc học", mà còn thể hiện ở khả năng nhận định chính xác nhiều vấn đề lịch sử và lịch sử tư tưởng ở tầm xa : Trên lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến (PNTV 29/11/1934), Thánh hiền ta đời xưa chưa hề có tư tưởng dân chủ (PNTV 13/12/1934).
Trên Phụ nữ tân văn, Phan Khôi, như một người chuyên nghiệp sống bằng ngòi bút, vẫn đóng kiêm nhiệm nhiều vai trò: vai trò dịch giả (ví dụ trích dịch Tư Mã Thiên, Tư Mã Dung, Hàn Dũ, v.v...), vai trò nhà ngôn ngữ thực hành với nhiều loại việc, từ việc đề xuất "viết chữ quốc ngữ cho đúng, dùng danh từ cho trúng"(PNTV 12/6/1930), "đính chánh lại cách xưng tên của người Việt Nam"(PNTV 26/6/1930), cảnh tỉnh đồng bào đừng thổi phồng khác biệt phương ngữ mà vô tình chia rẽ dân tộc (Tiếng hay văn Việt Nam cũng chỉ có một mà thôi // PNTV 11/6/1931), phản đối chủ trương dạy tiểu học bằng chữ nho (PNTV 24/3/1932),...Ông cũng đảm nhận vai trò người sửa văn, dọn vườn văn mà ông cao hứng tự phong là "vai ngự sử trên đàn văn". Cũng có thể thấy ông trong vai trò người giúp việc lấp các khoảng trống cho toà soạn bằng những mẩu "tạp trở" về đủ thứ chuyện cổ kim đông tây. Ông vừa thử vai hương sư dạy cách làm văn quốc ngữ (tập bài hướng dẫn Phép làm văn của ông đăng Phụ nữ tân văn [từ 23/10 đến 30/11/1930] đến hết bài thứ tư thì dừng lại), vừa lặp lại vai trò "thày đồ" dạy chữ nho (tập bài giảng nhan đề Hán văn độc tu [phụ đề tiếng Pháp là Chinois sans maitre] của ông được báo Đuốc nhà Nam in và phát hành như một phụ trương trước khi đăng trên Phụ nữ tân văn liền trong 20 kỳ, từ 18/8 đến 29/12/1932, sau nữa Phan Khôi cho đăng lại trên Sông Hương, 1936-37).
Ơ' phương diện thuần văn học, bên cạnh loạt bài chuyên về văn học của tác gia phụ nữ và văn học về đề tài phụ nữ như đã nêu trên, ở Phụ nữ tân văn, Phan Khôi còn có những bài mang tính khái quát lý thuyết về thể loại ( Giới thiệu lối văn phê bình nhân vật // PNTV 30/7/1931; Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhật ký // PNTV 23/6/1932; Sự nghị luận sai lầm bởi dùng chủ quan // PNTV 15/9/1932; Cái địa vị khôi hài trên đàn văn // PNTV 3/11/1932; Sử với tiểu thuyết // PNTV 1/12/1932; Lối văn học của bình dân // PNTV 15/12/1932), về văn chương và nghề văn nói chung (Một ít nghiên cứu văn học về thần mùa xuân // PNTV 4/2/1932; Sự dùng điển trong thơ văn và sự chú thích // PNTV 18/8/1932; Cái bịnh ăn cắp của Tàu // PNTV 1/9/1932; Văn học chữ Hán của nước ta // PNTV 22/9/1932; Sách tiếu lâm đời xưa // PNTV 22/12/1932).
Tất nhiên trong số đó ta không thể quên bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ (PNTV 10/3/1932), bài báo được coi như lời phát động cho phong trào thơ mới tiếng Việt (1932-45), mở ra một cuộc cách tân sẽ đưa tới thành tựu lớn nhất trong thơ Việt Nam thế kỷ XX. Xin nhắc lại một cảm tưởng trong hồi ức: ở miền Bắc sau suốt ba bốn chục năm tên tuổi Phan Khôi bị coi là nguy hiểm nên bị quên lãng, khi kỷ niệm 60 năm phong trào thơ mới, tức là vào năm 1992, tên tuổi Phan Khôi chỉ được nhắc lại một cách dè dặt, như thể ông chỉ dính dáng một cách ngẫu nhiên tới phong trào cách tân văn học này. Thế nhưng nếu tìm hiểu lại, ta sẽ thấy vai trò Phan Khôi gắn với phong trào này là không hề ngẫu nhiên. Hồi những năm 1970 ở Sài Gòn, nhà nghiên cứu Bùi Đức Tịnh (9) đã nêu những dấu hiệu cho thấy kiểm duyệt thực dân có vẻ như đã ngửi ra mùi "duy tân" ,"cải lương"trong những lời Phan Khôi kêu gọi đổi mới thi ca. Đọc lại một cách tương đối hệ thống loạt bài Phan Khôi đăng Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn những năm 1929-1932, chúng ta sẽ có thể thấy Phan Khôi như một trong những cây bút hàng đầu đã tạo cơ sở và chuẩn bị về nhiều mặt cho những thay đổi trong văn hoá, học thuật và văn chương của người Việt những năm 1930-40, trong đó có phong trào thơ mới. Tôi tin rằng đã và sẽ có nhiều nhà nghiên cứu văn học sử và văn hoá sử Việt Nam thấy nhận định này là hữu lý.
Ngoài chuyện bài vở đăng báo, Phan Khôi còn tham dự một số hoạt động xã hội của báo này, ví dụ chấm thi để trao "học bổng phụ nữ" cho học sinh đi du học sang Pháp.
Tờ báo thứ tư ở Sài Gòn mà Phan Khôi tham gia là nhật báo Trung lập.
Về tờ báo này, học giả Huỳnh Văn Tòng (2000, sđd.) xếp nó vào loại báo thiên về thông tin thương mại, "tự nhận mình không làm chính trị, đứng trung lập, có sao nói vậy, không thiên vị dân chúng hoặc chính quyền, có chủ đích rõ rệt là thương mại nhưng ít nhiều vẫn theo khuôn khổ của chính quyền thuộc địa"(sđd., tr.398). Tờ nhật báo này vốn là bản tiếng Việt của tờ báo tiếng Pháp Impartial, cả hai được sáng lập bởi Henri de Lachevrotière, một người Pháp lai Việt, xuất thân cai thợ, sau tiến thân vào chính trường, lên đến chức chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam Kỳ; khoảng 1925-26, cả hai tờ này được bán đứt cho tập đoàn tài phiệt của Octave Homberg ( theo Huỳnh Văn Tòng, sđd., tr.411). Có những thời kỳ, Trung lập báo bị các đồng nghiệp vận động tẩy chay, do việc báo này hoặc người chủ trì nó là Nguyễn Phú Khai tố giác phong trào cấp tiến, ngăn cản các hoạt động tưởng niệm Phan Chu Trinh, ngăn cản thanh niên Sài Gòn tổ chức đón rước Bùi Quang Chiêu du học Pháp trở về...Chính Phan Khôi dưới bút danh Tân Việt, Bùi Thế Mỹ dưới bút danh Phiêu Linh Tử trên Đông Pháp thời báo và Thần chung từng không ít lần châm chọc Trung lập.
Vậy mà tới giữa năm 1930, cả Phan Khôi lẫn Bùi Thế Mỹ lại đến với tờ Trung lập. Có điều gì xảy ra đây?
Trước tiên phải kể tai nạn đột ngột xảy ra với tờ Thần chung, việc tờ này bị đóng cửa dẫn đến sự chia lìa của nhóm nhà báo trẻ cấp tiến từng quần tụ nhau quanh tờ báo này. Chủ nhiệm Diệp Văn Kỳ vẫn còn là chủ nhà in Bảo Tồn, lại hành nghề luật sư; chủ bút Nguyễn Văn Bá thì sang làm chủ bút Công luận báo nhưng lúc làm lúc bỏ, vì khi nào ông này để cho ngòi bút ngả theo ông chủ tờ báo là Jules Haag thì liền bị các đồng nghiệp người Việt chế nhạo; rút cuộc đến 1932 thì hai ông chủ cũ của Thần chung trở thành hai ông chủ mới của tờ Công luận đã đổi chủ. Đào Trinh Nhất sang làm chủ bút Phụ nữ tân văn rồi làm chủ bút Đuốc nhà Nam, Ngô Tất Tố trở về Bắc với các tờ báo ở Hà Nội. Hai cây bút quê Quảng Nam là Bùi Thế Mỹ và Phan Khôi thì bước sang Trung lập.
Khi khảo về quan hệ của các nhóm tài phiệt với báo chí Đông Dương đương thời thuộc Pháp, nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Tòng có đưa ra ví dụ nhóm tài phiệt Octave Homberg mua các tờ Impartial và Trung lập rồi về sau bỏ rơi khi nhà tài phiệt này trở về Pháp kinh doanh và bước vào chính trường; sự "bỏ rơi" này được nhà nghiên cứu xem là nguyên nhân dẫn đến chỗ tờ Trung lập thua lỗ và phải đóng cửa vào năm 1933 (sđd, tr.409-413). Từ sự tìm hiểu của mình, tôi cho rằng nếu sự "bỏ rơi" kia là sự thực thì vẫn cần tìm hiểu thêm về hoạt động của giới quản trị và kinh doanh báo chí người Việt đã tiếp thu và duy trì các tờ báo ấy, -- chính điều này tạo ra diện mạo cụ thể của những tờ báo đã đổi chủ; và đây là trường hợp của cả tờ Trung lập lẫn tờ Công luận ở Sài Gòn trong những năm 1930.
Về trường hợp tờ Trung lập. Từ 13/8/1929, vai trò Tổng lý (directeur propriétaire) Trung lập báo chuyển từ Nguyễn Phú Khai sang Trần Thiện Quý tự Tôn Hiền. Những điều được toà soạn thông tin trên mặt báo và những biến chuyển thể hiện qua tin tức bài vở đăng ra cho thấy Trần Thiện Quý đã mua lại tờ báo này và đổi nó thành tờ báo khác, có khuynh hướng dân tộc rõ rệt so với tờ báo cũ tuy vẫn mang tên như cũ (10). Chẵn một năm sau ngày 2/5/1929 (ngày khai sinh tuần báo Phụ nữ tân văn), báo giới Sài Gòn lại nhấn vào cái ngày đáng nhớ này bằng một việc mà họ cho là cũng sẽ đáng nhớ khác nữa, ấy là việc đúng ngày 2/5/1930 chính thức ra mắt tờ Trung lập đổi mới, tuy không ghi chú "bộ mới" hay "tục bản", không đánh số lại, chỉ khai trương một manchette mới ( chữ "trung lập" màu đỏ với các nét cách điệu hình thân và cành lá thông) và một bộ biên tập mới, do Bùi Thế Mỹ làm chủ bút (rédacteur en chef). Phan Khôi vẫn giữ nguyên tắc riêng của ông là chỉ cộng tác viết bài chứ không ở trong toà soạn, tuy có lúc bài ông viết được đăng với tên ký Trung Lập tức là ký tên toà soạn.
Lượng bài Phan Khôi viết và đăng Trung lập có lẽ là lớn nhất so với lượng bài của ông đăng bất cứ tờ nào trong số ba tờ báo Sài Gòn đã nêu trên. Trước hết là mục hài đàm «Những điều nghe thấy» mà toà soạn dành riêng cho ông viết với bút danh Thông Reo (10 ngày đầu ký là Tha Sơn). Từ 2/5/1930 đến 30/5/1933, ngày Trung lập bị đóng cửa, Phan Khôi đã viết trên 600 bài cho mục « Những điều nghe thấy ».
Ở trên nhân nói về chuyện Phan Khôi vào vai Tân Việt trong Câu chuyện hằng ngày ở Đông Pháp thời báo và Thần chung, tôi có dẫn khái niệm "mặt nạ tác giả", một khái niệm dầu sao cũng mang dấu tư duy Tây phương, trỏ một thứ "thi pháp" của cái "tôi" trong vai lệch ở tản văn; tiếp đây xin thuật thêm một sự việc thực mà hoá ra lại liên quan đến khái niệm ấy. Đó là từ giữa năm 1932, sau khi "Hội chợ Phụ nữ" ở Sài Gòn do báo Phụ nữ tân văn và hội Dục anh Sài Gòn đồng tổ chức kết thúc, những lời phàn nàn về một vài xử sự không hay của Nguyễn Đức Nhuận (chủ báo Phụ nữ tân văn) đã từ bé xé ra to, lời qua tiếng lại đến mức đưa nhau ra toà. Một nửa báo giới Sài Gòn do Tổng lý Trung lập Trần Thiện Quý và Chủ nhiệm Sài thành Bút Trà dẫn đầu hăng hái lên án vợ chồng chủ báo Phụ nữ tân văn; còn vợ chồng chủ báo ấy thì đưa đơn ra toà kiện hai tờ Sài thành và Trung lập về tội phỉ báng. Tình thế ấy khiến Bùi Thế Mỹ, -- người lên tiếng bênh vực chủ báo Phụ nữ tân văn lúc sự việc mới phát lộ, -- phải từ chức chủ bút Trung lập ra đi. Phan Khôi được tiếng là người thân thiết với chủ báo Phụ nữ tân văn, cũng không còn ký tên mình đăng bài trên Trung lập nữa. Trên vài tờ báo khác lúc đó đã thấy đăng những ý kiến trách Trần Thiện Quý đã để cho cả Phan Khôi lẫn Bùi Thế Mỹ bỏ Trung lập ra đi. Thế nhưng Thông Reo với chuyên mục "Những điều nghe thấy" thì vẫn xuất hiện đều đặn trên chính tờ Trung lập cho đến tận số cuối cùng, trước khi báo này đột nhiên bị cấm; và đáng lưu ý là Thông Reo cũng có những bài đồng tình với phe nhà báo lên án chủ nhân Phụ nữ tân văn là "con buôn hám lợi". Vậy là chính nhờ "mặt nạ tác giả" đó, trang viết của Phan Khôi vẫn có thể xuất hiện ở những tờ báo mà tình thế và thời điểm khiến họ tên thật (vốn đi liền với nhân thân thật) của ông không thể hoặc không nên xuất hiện (Xin nói thêm: chuyện "mặt nạ tác giả" nói ở đây là chuyện nghề nghiệp hơn là chuyện đạo đức).
Về văn chính luận, một việc rất đáng kể là chỉ hơn một tháng từ ngày ra tờ Trung lập đổi mới, Phan Khôi đã khởi ra cuộc bút chiến giữa hai tờ Trung lập -- Đuốc nhà Nam xoay quanh thái độ đối với các sự biến vừa xảy ra lúc đó ở Nam Kỳ (nông dân biểu tình bị đàn áp đổ máu, các nhân vật hàng đầu của đảng Lập hiến dấu mặt im lặng...). Các bài viết tuy ký Trung Lập nhưng, như Phan Khôi sau đó ít lâu sẽ nói rõ, tất cả đều do một tay bút ông viết ra. Ông đã đi từ việc bình luận về thái độ của những người được coi là làm chính trị (là nghị viên hội đồng quản hạt hoặc hội đồng thành phố, tham gia một đảng được gọi là đảng Lập hiến...) trước những sự biến liên quan đến vận mệnh dân chúng (bắt đầu từ bài Ý kiến Trung lập : Phải nói minh bạch // TL 20/6/1930, qua một loạt bài : Trung lập xin nói cho Đuốc nhà Nam nghe thế nào là cái nhã độ quân tử ?// TL 21/6/1930 ; Trung lập lại nói cho Đuốc nhà Nam nghe : Theo cái nhã độ quân tử, hễ có lỗi thì phải chịu // TL 23/6/1930 ; Sự khởi hấn giữa Đuốc nhà Nam và Trung lập nếu trở thành cuộc bút chiến thì phải thế nào ? // TL 24/6/1930 ; 4 bài nhỏ : Ai nói dối ? ; Bây giờ chúng tôi mới biết cái văn và cái người của ông Nguyễn Phan Long ; Trung lập giành lại cái nhân cách cho quốc dân dưới bàn chưn kẻ vô lễ ; « Kiến hiền tư tề yên » đều in trên Trung lập ngày 25/6/1930, v.v… đến loạt bài Về các cuộc biểu tình ở Nam Kỳ vừa rồi [ kỳ I - IV] từ 26/6/1930 đến 30/6/1930), chuyển sang bình luận về các vấn đề của đảng Lập hiến Nam Kỳ (Nói về đảng Lập hiến ở Nam Kỳ, từ kỳ I, 2/7/1930, đến kỳ XIII, 25/7/1930, với những tiểu mục từng kỳ như : Cái chủ nghĩa của đảng Lập hiến; Đảng Lập hiến có thế lực mà không biết dùng; Cái sai lầm của đảng ấy trong đường chánh trị; Đảng viên và cơ quan của đảng ấy; Đảng Lập hiến với thanh niên; Hiệp quần với phân đảng; Y' kiến chúng tôi về đảng Lập hiến nay sắp sau,...). Đó là những bình luận xã hội chính trị mà về nội dung thì những người nghiên cứu lịch sử hiện đại có lẽ có thẩm quyền đánh giá hơn những người nghiên cứu về văn học sử hiện đại. Chỉ xin lưu ý rằng năm 1929, chính Phan Khôi trên báo Thần chung đã có bài luận về bút chiến (không ký tên tác giả, nhưng tôi đoán là do Phan Khôi viết); có thể nghĩ rằng ông cũng mong có dịp thực hiện một cuộc bút chiến đúng như ông hình dung trong ý niệm. Đối thủ của ngòi bút ông lần này là chủ nhiệm Đuốc nhà Nam Nguyễn Phan Long. Những gì diễn ra có lẽ không thật giống với hình dung thuần ý niệm, tuy Phan Khôi giữ nguyên tắc của mình. Khi Nguyễn Phan Long trả đũa bằng thủ đoạn bôi nhọ cá nhân người viết bút chiến với báo mình (cho đăng trên báo Đuốc nhà Nam 12/7/1930 một bài bình thơ ký tên Đức Kỉnh, bàn về bài Viếng mộ ông Lê Chất của Phan Khôi rồi viết rằng "người mình có cái tật "vì người mà bỏ lời nói" nên chi bài thi nầy hay thật nhưng không mấy ai truyền tụng đến", tức là mượn một câu ở sách Luận ngữ để thoá mạ nhân cách Phan Khôi), Phan Khôi đã thẳng thắn công khai nguồn dư luận mờ ám mang tính vu cáo vẫn lan truyền bằng rỉ tai trong giới về mình (theo đó người ta đồn ông là mật thám của khâm sứ Trung Kỳ), nhân đây Phan Khôi buộc tội Nguyễn Phan Long khơi ra chuyện vô bằng cứ đó là "đã bôi lọ cái tên của ông trong làng báo", "làm xấu trong trường ngôn luận" (Vài lời hỏi ông Nguyễn Phan Long, chủ nhiệm "Đuốc nhà Nam" // TL 19/7/1930; Một sự buồn trong báo giới // TL 21/7 ; 24/7 ; 1/8/1930).
Xin kể thêm một bài bình luận cũng rất đáng kể nữa là bài báo đăng 4 kỳ nhan đề Vấn đề cải cách (TL 9/8; 12/8; 13/8; 18/8/1930), trong đó Phan Khôi nêu kinh nghiệm Nhật Bản và Trung Hoa để khẳng định ý kiến mình: "muốn duy tân cải cách thì phải bắt từ học thuật tư tưởng mà duy tân cải cách trước"; đó là một chủ kiến có không ít căn cứ.
Về phương diện văn học, một điều khá nổi bật là khi hai ông Bùi Thế Mỹ và Phan Khôi làm với Đông Pháp thời báo trong năm 1929 đã ra được "Phụ trương văn chương", thì đến khi hai ông này làm với Trung lập, cũng ra được "Phụ trương văn chương" vào mỗi thứ bảy hằng tuần (khởi đầu vào đúng ngày 2/5/1931, như lặp lại điểm thời gian đáng nhớ của giới làm báo ở Sài Gòn), cũng do Bùi Thế Mỹ là chủ bút; từ 2/5/1931 đến 29/5/1933 ra được cả thảy 104 kỳ. Ở mỗi kỳ, ngoài những mục như "Văn uyển" đăng sáng tác thơ, mục "Giấy thừa mực vụn" đăng tạp văn hoặc chuyện làng văn, còn có một lượng khá lớn bài vở trong đó bước đầu giới thiệu những khái quát văn học sử Việt Nam (ví dụ bài Ngôn ngữ và văn chương Việt Nam của Bùi Kỷ từ PTVC số 8 : 20/6/1931, đến PTVC số 13: 25/7/1931), nêu các vấn đề mang tính lý luận văn nghệ, giới thiệu văn chương nước ngoài, bàn thảo để nhận diện những hiện tượng như "đạo văn" (Cao Minh Chiếm PTVC số 41 : 13/2/1932, "tố giác cái án đạo văn" nhưng lầm lẫn một loạt trường hợp thuộc loại phóng tác của Hồ Biểu Chánh và nhiều tác giả khác; Mai Lan Quế PTVC số 47: 26/3/1932 nhận thấy họ Cao nghiệt ngã vô lý, đề nghị Phan Khôi giải giúp; Phan Khôi PTVC số 48: 2/4/1932 giải rõ những trường hợp ấy không phải là "đạo văn"), hiện tượng nhà văn bị cáo giác là có những sáng tác gây tổn thương phong hoá (11), v.v...Chính ở "Phụ trương văn chương" số 2(TL 9/5/1931) một tác giả ký T.S. đã nêu vấn đề lý thuyết về "nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh" (chứ không phải đợi đến Hải Triều với những cuộc tranh luận sau này vào năm 1936). Nhân nói về phụ trương này, phải kể đến sự đóng góp của một cây bút khác cũng đến từ xứ Quảng là Phan Thứ Khanh, người đã có khá nhiều bài giới thiệu các nội dung lý thuyết mới về văn nghệ như : văn học và quốc dân tính, văn học tiến hoá với sự biến thiên của xã hội, văn học với cách mạng, văn học bình dân, khái niệm "trào lưu", về chủ nghĩa tả chân của Zola và Flaubert, nguyên lai tiểu thuyết Tàu và tiểu thuyết thời Đường, xuất xứ các bộ Thuỷ hử, Tam quốc, Tây du, lược qua về bộ Kim Bình Mai, v.v...Đây cũng là một trong số những tác giả đang bị quên lãng cả ở Sài Gòn đây lẫn ở quê gốc của mình.
Phần văn học Phan Khôi góp mặt với Trung lập cũng gần với các bài loại này ông đăng Phụ nữ tân văn. Thường thì một bài của ông nếu không đăng trên tờ này thì sẽ đăng trên tờ kia và ngược lại, và cũng có trường hợp đăng đồng thời cả trên hai tờ đó (thậm chí nhiều tờ khác cũng đăng lại), chẳng hạn những bài ông thảo luận với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, những bài ông tranh luận về "quốc học" với Lê Dư, v.v.... Riêng ở Trung lập Phan Khôi còn có những bài về ngôn ngữ, về thể loại văn chương; ông tham gia cuộc thảo luận về văn nghị luận của báo chí ngoài Bắc, bênh vực lối văn Hoàng Tích Chu (khác với Ngô Tất Tố là người chê bai lối văn này), nhận xét chỗ được và chưa được ở bộ Việt Nam tân tự điển của hội Khai trí Tiến đức, v.v...Ông không chỉ thường xuyên có bài về thời sự nước Tàu mà còn có nhiều bài dịch thuật, giới thiệu văn hoá Trung Hoa, đáng kể nhất là bài giới thiệu Thương vụ ấn thư quán ở Thượng Hải (PTVC số 36: 31/12/1931; số 37: 9/1/1932). « Phụ trương văn chương » của báo Trung lập cũng đăng nhiều bài Phan Khôi trích dịch Sử ký của Tư Mã Thiên, Tùy Viên thi thoại của Viên Mai, v.v...Nhân đây cũng cần nhắc lại rằng hầu hết các bài trong mục "Những điều nghe thấy" chính là một dạng sáng tác của văn chương báo chí; không có báo chí thì không có đất sống cho loại tản văn này; ngoài ra, trong khá nhiều loại để tài mà các bài trong mục này đề cập cũng có nhiều bài về văn chương nghệ thuật, khá nhiều bài bàn đến văn chương Truyện Kiều, đến các sáng tác đương thời.
Ngoài 4 tờ báo tiếng Việt kể trên, Phan Khôi còn cộng tác với một hoặc một vài tờ báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn. Một trường hợp đã biết rõ là tờ Quần báo hồi đầu năm 1929 đã đăng bài Phan Khôi chỉ ra chỗ sai của báo ấy khi đăng một bài thơ, nói là của tác gia Trung Hoa Ngô Bội Phu nhưng thực ra là thơ của tác gia Việt Nam là vua Thành Thái ; sau đó báo đăng liền 2 kỳ bài Chính trị gia khẩu đầu chi Khổng Tử của ông; ở cả hai bài ông đều ký là Khải Minh Tử. Sau này, vào năm 1939, trên tờ Tao đàn ở Hà Nội, Phan Khôi viết rằng khoảng 1928 ông từng đăng bài với bút danh Khải Minh Tử trên Hoa kiều nhật báo nói về văn học chữ Hán của người Việt (12). Riêng về thông tin này hiện vẫn chưa có kiểm chứng trên tư liệu.
Trên đây là sơ lược về hai thời kỳ Phan Khôi tham gia báo chí văn chương tại Sài Gòn. Giữa năm 1933, ông ra Bắc cộng tác với các tờ Thực nghiệp dân báo, Phụ nữ thời đàm. Giữa năm 1934 ông vào Huế cộng tác với tờ Tràng An, rồi sáng lập và điều hành tờ Sông Hương, tờ báo tư nhân đầu tiên mà ông là chủ trong đời mình. Năm 1937, sau khi nhượng tờ Sông Hương ở Huế này cho nhóm cộng sản của Phan Đăng Lưu, theo một nguồn tài liệu (Phan Cừ, Phan An, 1996, sđd), Phan Khôi lại vào Sài Gòn, nhưng không biết ông có cộng tác với tờ báo nào tại đây hay không. Do đó cũng chưa rõ ông có một thời kỳ thứ ba làm việc với văn chương báo chí Sài Gòn nữa hay không? Tôi chưa tìm hiểu được kỹ điều này nhưng ngờ rằng không có.
3/ Trở lại điều nêu ở phần đầu bài này. Rõ ràng là Phan Khôi có thời gian làm báo viết văn tại Sài Gòn, tức là tại Nam Kỳ (nay ta dùng từ "Nam Bộ"). Hoạt động văn chương báo chí ấy của ông (ở đây chưa kể đến hoạt động văn chương báo chí của ông tại các nơi khác) chẳng những để lại dấu ấn tại đây mà còn có tiếng vang và ảnh hưởng đến tiến trình chung của văn học Việt Nam trên quy mô cả nước. Vậy thì, từ góc độ văn học sử, khi tập trung vào một quy mô nhỏ, ở đây là quy mô vùng văn học Nam Bộ, các nhà nghiên cứu có nên tính đến hoạt động của những "cây bút nhập cư" như Phan Khôi (và không chỉ có Phan Khôi) hay không? Nếu loại bỏ không kể đến những "cây bút nhập cư" đã đến, sống và viết ở đây, thì đời sống văn học thực diễn ra ở đây có vì vậy mà trở nên nghèo nàn hơn thực tế đã có hay không?
Hà Nội, tháng Ba 2006
Lại Nguyên Ân
2006 Lại Nguyên Ân - tác giả giữ bản quyền
-------
Chú thích
(1) Phan Thị Nga: Lối tự học của những bực đàn anh nước ta : [ kỳ 1] Ông Phan Khôi học chữ Tây và làm quen với cô Luận Lý // Hà Nội báo, Hà Nội, s. 10 (11 Mars 1936);
Phan Cừ&Phan An : Phan Khôi niên biểu //[trong sách] Chương Dân thi thoại (tái bản), Đà Nẵng 1996 : Nxb. Đà Nẵng, tr.152-163.
(2) Huỳnh Văn Tòng : Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945, Tp HCM : Nxb TP HCM, 2000, tr. 185.
(3) Chi tiết hơn xin xem trong: Phan Khôi : Tác phẩm đăng báo 1928 / Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/, Đà Nẵng : Nxb. Đà Nẵng, 2003.
(4) Khái niệm "mặt nạ tác giả" [maska avtorskaja] được một số học giả Nga định nghĩa như phương thức mà nhà văn dùng để che giấu nhân thân của mình nhằm tạo nên ở độc giả cái hình ảnh một tác giả khác hẳn (so với dạng thực có); đây là thủ pháp chính của mê hoặc (mistifikacija) trong văn chương (theo O.E. Osovsky, Maska Avtorskaja / Mặt nạ tác giả / trong sách : Literaturnaja Enciklopedija Terminov i ponjatij // A.N. Nikoljukin tổng chủ biên // Moskva: HPK "Intelvak", 2001, tr.511-512).
(5) Về hai nhà báo và nhà văn Pháp này, mới đây dịch giả Trần Thiện Đạo từ Paris đã tra cứu và thông tin về, cho biết : Georges [chứ không phải Charles] de la Fouchardière (1874-1946): năm 1916 đã cùng Gustave Téry sáng lập tờ L' oeuvre (Xây dựng), viết liên tục 15 năm những bài luận bàn thế sự với giọng hài hước hóm hỉnh, thu hút đủ loại độc giả; là cây bút có ảnh hưởng đến tận thế chiến 1939-45; Clément Vautel ( 1876-1954; tên thật Clément Vaulet; trong bút danh đảo let thành tel ) : viết cho các báo ngày ở Paris như Le Matin, La Liberté..., đặc biệt giữ mục "Mon film" (Dưới mắt tôi) hằng ngày bàn luận thế sự bằng cái nhìn rất "phải lẽ" của một "francais moyen" (thường dân), được độc giả đương thời hâm mộ; ngoài ra còn là tác giả một số tiểu thuyết; cũng là cây bút có ảnh hưởng đến tận thế chiến II. Xin chân thành cảm ơn dịch giả Trần Thiện Đạo về những thông tin trên.
(6) Xem : Vương Lệ Thiên : Thỏ chết động lòng chồn (Tại sao báo Thần chung bị cấm xuất bản?) // Trung lập, Sài Gòn, 27/3/1930; Phan Khôi: Có lẽ là điều sai lầm của những người trí giả // Trung lập, Sài Gòn,10/5/1930.
(7) Chi tiết hơn xin xem trong: Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1929 / Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/, Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 2004.
(8) Tin : "Phụ nữ tân văn" bị đóng cửa 5 tháng // Trung lập, 14/5/1931.
(9) Bùi Đức Tịnh : Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới(1865-1932), [in lại có sửa so với bản in lần đầu 1975], Tp. HCM : Nxb. TP HCM, 1992, tr . 235
(10) Chi tiết hơn xin xem : Tiểu dẫn [trong sách] Phan Khôi : Tác phẩm đăng báo1930 / Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/ Hà Nội : Nxb. Hội Nhà Văn, 2005, tr.8-14.
(11) Xem thêm : Lại Nguyên Ân : Vài tư liệu về việc Vũ Trọng Phụng bị gọi ra toà năm 1932 // Tiền phong, 5/11/2005; Thế giới mới, s.660 (7/11/2005).
(12) Phan Khôi : Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta // Tao đàn, Hà Nội, s.1, 1 Mars 1939, tr.13-18 ; s. 2, 16 Mars 1939, tr.107-114 ; dẫn theo Sưu tập trọn bộ TAO ĐÀN 1939, / Nguyễn Ngọc Thiện và Lữ Huy Nguyên sưu tầm / Hà Nội : Nxb Văn học, 1998.
© Copyright Lại Nguyên Ân 2006
Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959)
như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ?
Tham luận gửi tới hội thảo khoa học"Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến 1945" do Khoa Ngữ văn và Báo chí, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, 26/5/2006
1/ Điều nêu ra ở nhan đề bài này, sở dĩ phải đặt như một nghi vấn hơn là một khẳng định, bởi vì người viết những dòng này cũng như các đồng nghiệp trong giới nghiên cứu không thể không phải đương diện với một tập quán, tuy không mấy "khoa học" nhưng khá thông dụng trong việc biên soạn các bộ địa chí văn hoá hiện nay ở các tỉnh thành trong hầu khắp nước ta (những bộ địa chí thường được xếp vào loại công trình cấp quốc gia, thường được cấp tiền tỉ từ ngân sách công), theo đó căn cứ để tính một tác gia văn học vào trong số tác gia của địa phương mình thường là : a/ quê quán (thường tính theo quê cha, đôi khi xét thêm đến thuộc tính quê mẹ) , và b/ trên thực tế có sống và hoạt động văn học tại địa phương. Tiêu chí đầu thường được vận dụng phổ biến trong các bộ địa chí cấp tỉnh, và vận dụng bất chấp tiêu chí sau, bởi vì những tỉnh không có thành phố lớn thường chỉ có rất ít tác gia "quê gốc" lại đồng thời hoạt động "tại chỗ" (các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ chẳng hạn, tài năng văn học thường tụ hết cả về lòng chảo Hà Thành!); và thế là mặc dù "ngài" tác giả hoạt động ở tận đẩu tận đâu, ít khi bước chân về quê, chỉ cần bố mẹ "ngài" quê gốc ở địa phương này thì địa phương này sẽ tôn vinh tên tuổi "ngài" làm vinh dự cho quê hương. Tiêu chí sau, có vẻ như được ưu tiên trang bị cho việc biên soạn địa chí của những địa phương có thành phố lớn, có trung tâm văn hoá lớn, những nơi từng có mặt hoặc đang có mặt số lượng lớn người hoạt động văn học; dữ kiện để chọn dồi dào thì người biên khảo sẽ khoác bộ mặt cau có của kẻ khó tính, sẽ chẳng những đòi hỏi quê gốc tác gia phải ở tỉnh thành này, mà còn đòi hỏi chính tác gia phải từng sống và hoạt động văn học tại đây nữa. Nhưng ở trung tâm lớn thời nào cũng thường quần tụ nhiều tác gia; trong khi đó, động cơ và mục đích đầu tư cho biên soạn các bộ địa chí là tôn vinh địa phương, là chứng tỏ đất này "địa linh nhân kiệt" hơn những đất khác, cho nên rốt cuộc nhà biên khảo vẫn sử dụng tra vấn "quê gốc" làm căn cứ để loại trừ bớt những tác gia tuy hiển nhiên hoạt động văn học tại đây nhưng chỉ là dân nhập cư từ những nơi khác! Tóm lại, tiêu chí quê quán hầu như vẫn là tiêu chí duy nhất để tập hợp tác gia theo vùng đất trong các công trình địa phương chí. Tiêu chí này, ngoài những công dụng hiển nhiên của việc biên khảo theo chủ đề, cũng chứa đựng nguy cơ làm đơn giản hoá, thậm chí làm méo mó (trong sự hình dung của người tiếp nhận tri thức văn học sử) diện mạo thực của đời sống văn học ở những đô thị lớn qua những giai đoạn khác nhau.
Sở dĩ phải dài lời như trên là vì thực sự tôi chưa rõ đề tài "Văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945" được dẫn dắt theo những quy tắc nào, nhất là về nghiên cứu tác gia, có vận dụng quy tắc "địa phương chí" hiện hành (như mô tả bên trên ) hay không?
Sự việc cụ thể là tôi đưa ra tác gia Phan Khôi (1887-1959): quê gốc không ở Nam Bộ, nhưng có thời gian đáng kể sống và hoạt động báo chí, văn học ở thành phố Sài Gòn trên đất Nam Kỳ (nay gọi là Nam Bộ). Vậy có thể đề cập đến hoạt động của Phan Khôi trong đề tài nghiên cứu này không? Vả chăng, Phan Khôi cũng chỉ là một trong khá đông trường hợp các tác gia "nhập cư" vào báo chương Sài Gòn hiện bị quên lãng thậm chí tại "quê gốc" của mình, ví dụ Đào Trinh Nhất (quê Thái Bình), Bùi Thế Mỹ, Phan Thứ Khanh (quê Quảng Nam), và hẳn còn không ít các trường hợp khác.
Phần dưới đây sẽ nêu khái lược hoạt động báo chí và văn chương của Phan Khôi tại Sài Gòn, trong những đoạn thời gian ông sống và viết báo viết văn ở đây.
*
2/ Theo một vài tác giả ( ví dụ : Phan Thị Nga(1936), Phan Cừ và Phan An (1996) (1) , v.v.) và theo kết quả sưu tầm nghiên cứu của bản thân người đang viết những dòng này, thì Phan Khôi góp mặt với báo chí Sài Gòn từ năm 1919 và từ đó đến đầu thập niên 1940 (hoặc cuối thập niên 1930) đã liên tục gắn với đời sống văn chương báo chí Sài Gòn, dù suốt thời gian ấy không phải lúc nào cũng sống ở đây. Có thể nói chính môi trường báo chí văn chương Sài Gòn đã là nơi nuôi dưỡng cây bút Phan Khôi từ điểm định hình đến độ trưởng thành, là nơi cây bút viết báo viết văn của ông làm việc năng sản nhất, hiệu quả nhất. Chính môi trường báo chí văn chương Sài Gòn đã đề xuất Phan Khôi như một trong không nhiều những tên tuổi xuất chúng của mình trên trường dư luận toàn quốc đương thời.
Phan Khôi can dự văn chương không hiếm khi với tư cách người sáng tác (làm thơ, viết truyện ngắn, truyện dài) nhưng thường khi với tư cách người bình luận, người nghiên cứu, hoặc với tư cách dịch giả. Và ở Việt Nam, nếu đời sống văn học, trước hết là ở Nam Kỳ, từ nửa cuối thế kỷ XIX, bắt đầu dạng thức tồn tại trên hai loại hình (hoặc hai kênh) chính của truyền thông hiện đại là xuất bản và báo chí, thì hoạt động văn chương và học thuật của Phan Khôi được thực hiện chủ yếu trên kênh báo chí. Hoạt động của ngòi bút ông gắn với báo chí đến mức di sản của ngòi bút ông có cơ mất hút trong mắt các lớp hậu thế nếu họ chỉ tìm ông theo cái kênh dễ soi là sách xuất bản thời trước và do vậy chỉ thấy được một ít văn phẩm (Chương Dân thi thoại, Việt ngữ nghiên cứu, ...) dường như chưa xứng tầm cỡ tác giả !
Tờ báo đầu tiên ở Sài Gòn mà Phan Khôi đăng bài có lẽ là tờ Lục tỉnh tân văn. Ông có bài đăng báo này hầu như ngay sau khi thôi cộng tác với tạp chí Nam phong ở Hà Nội. Bài cuối cùng ông đăng Nam phong ( Về việc cấm rượu ở các nước cùng việc rượu lậu ở nước ta // N.P.s. 23, tháng 5/1919) thì cũng ngay trong tháng ấy, ngày 7/5/1919 trên tờ Lục tỉnh tân văn ở Sài Gòn đã có bài của Phan Khôi. Ban đầu ông đăng sáng tác: hai bài ca Đưa chồng và Nhớ chồng, thác lời người vợ có chồng là lính tùng chinh sang Pháp tham gia thế chiến thứ nhất, đều là bản dịch hai bài thơ chữ Hán đã đăng Nam phong (Sau này vào năm 1958 ở miền Bắc, Phùng Bảo Thạch sẽ "hồi cố" nội dung hai bài này để tố cáo thái độ "ôm chân đế quốc" của Phan Khôi). Nhưng những loạt bài kéo dài thành mục báo đăng nhiều kỳ của Phan Khôi trên Lục tỉnh tân văn năm 1919 lại là về đề tài thường thức xã hội và về ngôn ngữ. Đó là mục Làm dân phải biết (với những nội dung bài từng kỳ báo lần lượt là : -- Nước mẹ đẻ; -- Địa dư nước An Nam; -- Chính trị nước An Nam; -- Phong tục nước An Nam; -- Dân phải nộp thuế;...) và mục Ghi chép tiếng An Nam (tôi tìm được 10 kỳ báo có bài của mục này, từ 12/5 đến 25/6/1919).
Thời gian Phan Khôi cộng tác với tờ Lục tỉnh tân văn rất ngắn, chỉ trong vòng vài tháng. Theo Phan Thị Nga (1936, tài liệu dẫn trên) thì "làm được ít lâu vì ông viết một bài kịch liệt quá người ta buộc ông thôi, ông lại ra Bắc ...".
Bài báo "kịch liệt quá" ấy, nếu là bài đã đăng, thì, theo tìm hiểu của tôi, đó có thể là bài Giải đại ý bài diễn thuyết của quan Toàn quyền Sarraut về cuộc Đông Dương tự trị đăng hai kỳ báo (LTTV. 14/5 và LTTV. 21/5/1919). Theo thông tin trong bài báo ấy thì trước đó ít lâu, tại một buổi tiệc trà của hội Khai trí Tiến đức ở Hà Nội, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut có bài diễn thuyết về chủ đề Đông Dương tự trị; Lục tỉnh tân văn đã đăng toàn văn bài diễn thuyết ấy; bài viết của tác giả Chương Dân chỉ đưa ra những lời giải thích; trong những điều ông giải thích có chỗ nói rằng: « chữ "Đông Dương tự trị" đó nghĩa là phủ Toàn quyền Đông Dương đối với Mẫu quốc mà được quyền tự trị, chớ không phải người Đông Dương đối với nước Lang Sa mà được quyền tự trị đâu », tức là Phan Khôi nói trắng ra rằng Toàn quyền Sarraut nói "Đông Dương tự trị" là nhằm đòi thêm quyền cho mình chứ không phải đòi quyền cho dân Đông Dương. Phải chăng chính ý này đã khiến Toà soạn Lục tỉnh tân văn cho là "kịch liệt quá" và buộc ông thôi cộng tác?
Dẫu sao thì sự hiện diện lần đầu trên báo chương Sài Gòn của Phan Khôi cũng tạm chấm dứt ở đấy. Ông trở ra Hà Nội cộng tác với các tờ Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu thanh, nhận lời cộng tác dịch Kinh Thánh Ki-tô giáo cho hội thánh Tin Lành.
Vài ba năm sau, Phan Khôi lại vào Nam, chưa rõ từ thời điểm cụ thể nào, cũng chưa rõ khi vào có viết ngay cho tờ báo nào hay không; chỉ có nguồn tư liệu (theo Phan Cừ và Phan An, 1996, tư liệu đã dẫn) cho rằng, sau khi vào Nam lần này, vì một lý do gì đó, Phan Khôi phải chạt xuống Cà Mau ẩn náu nơi nhà một người bạn là chủ đồn điền, dành thời gian tự học thêm tiếng Pháp qua thư từ với Djean de la Bâtie, một nhà báo tự do người Pháp ở Sài Gòn.
Theo tìm hiểu của tôi, thời kỳ thứ hai Phan Khôi góp mặt với báo chương Sài Gòn có thể tính từ đầu năm 1928. Thời kỳ này kéo dài đến năm 1933 hoặc 1934, gắn với các tờ Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập. Thời kỳ này đánh dấu sự chuyển biến về chất của ngòi bút Phan Khôi. Lại xin dẫn lời nữ ký giả Phan Thị Nga (1936, Hà Nội báo): "Ông bắt đầu viết được lối văn sát sóng như lối văn ông hiện giờ, từ hồi ông làm cho Đông Pháp thời báo ở Nam"( ta nên lưu ý điều này : bà Phan Thị Nga khi đó đang làm cho báo Tràng An ở Huế; bài báo của bà là kết quả hỏi chuyện trực tiếp Phan Khôi, -- khi đó đang làm chủ nhiệm tờ Sông Hương cũng ở Huế, nên nhiều điều trong bài có lẽ là ghi lại lời bộc bạch của chính Phan Khôi).
Xin được nhắc lại một vài tình tiết thuộc "báo chí sử" Sài Gòn, khi Diệp Văn Kỳ trở về từ Pháp với tấm bằng cử nhân luật nhưng lại thích môi trường báo chí văn chương (nhân tiện xin nhắc rằng Diệp Văn Kỳ là tác giả khá nhiều tác phẩm sân khấu như Tứ đổ tường, Áo người quân tử, Bể ái đầy vơi,...lại cũng là tác giả một số tiểu thuyết, ví dụ Chưa dứt hương thề đăng Thần chung từ 4/7/1929; đây cũng là một trong những tác giả cần được xét xem có phải là "tác gia Nam Bộ" hay không). Cuối năm 1927 hai ông hội đồng Diệp Văn Kỳ và Nguyễn Văn Bá mua lại từ tay Nguyễn Kim Đính tờ Đông Pháp thời báo (cũng có tên tiếng Pháp Le Courrier Indochinois). Học giả Huỳnh Văn Tòng (2000) nhận xét rằng «hai ông này đã biến đổi hoàn toàn tờ báo», biến nó từ chỗ «có khuynh hướng thân chính phủ» trở nên «có khuynh hướng đối lập» và «là tờ báo có rất nhiều người đọc » (2). Việc Đông Pháp thời báo mời được Tản Đà và Ngô Tất Tố từ Bắc vào tăng cường cho bộ biên tập và làm gia tăng rõ rệt thành phần văn chương văn hoá trong nội dung tờ báo, -- thì nhiều nhà nghiên cứu ( Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Huỳnh Văn Tòng,...) đã ghi nhận. Nhưng việc Phan Khôi cũng góp mặt trên tờ báo này từ khi nó thuộc về hai chủ nhân mới, -- thì ít thấy nhà nghiên cứu nào ghi nhận, hoặc nếu có ghi nhận thì chỉ nói chung chung là Phan Khôi có lúc viết cho Đông Pháp thời báo chứ không ghi nhận cụ thể gì hơn. Lý do có lẽ cũng đơn giản do cách tái xuất hiện khá kín đáo lần này của chính Phan Khôi trên báo chí Sài Gòn : tất cả các bài đưa đăng Đông Pháp thời báo, từ những bài tranh luận với Trần Huy Liệu và Huỳnh Thúc Kháng về một đoạn sử quan hệ Pháp-Việt thế kỷ XVII - XVIII, kể cả "Nam âm thi thoại" mà tên sách và những bài đầu tiên của nó đã từng xuất hiện trên Nam phong những năm 1918-1919, kể cả bài thơ "Dân quạ đình công" làm từ sau "vụ án xin xâu" ở miền Trung hồi cuối thập niên đầu thế kỷ XX, v.v..., tất cả, Phan Khôi đều ký tắt hai chữ C.D. -- hai chữ cái đầu tên hiệu Chương Dân mà ông đã dùng để ký dưới các bài báo của mình trên tạp chí Nam phong hồi trước.
Trong số những bài Phan Khôi đưa đăng trên Đông Pháp thời báo, chỉ có ít bài bình luận thời sự chính trị (ví dụ Cái tình thế chánh trị xứ Trung kỳ và Nhân dân đại biểu viện xứ ấy // ĐPTB 28/8/1928; Ít lời lạm bàn về chánh sách của ông Pasquier, quan Toàn quyền mới Đông Pháp //ĐPTB 30/8/1928), nhưng có khá nhiều bài thiên về khảo chứng hoặc bình luận sử học. Nổi bật là chùm bài tranh luận phản bác điều mà ông gọi là "cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam về hồi cuối thế kỷ XVIII"; cạnh đó là những bài cũng phản bác "cái thuyết châu Âu sắp tan nát" của học giả Cô Hồng Minh (1856-1928), nhận diện tình hình học thuật tư tưởng ở Trung Hoa đương đại, so sánh đặc điểm tư tưởng phương Đông và phương Tây, khẳng định việc lớn trước mắt phải làm ở phương Đông, ở châu Á là phải "Âu hoá", phải học văn minh phương Tây để đưa xã hội mình lên trình độ của thế giới hiện đại (Học thuyết cũ với vận mạng mới nước Tàu // ĐPTB 26/7/1928; Mấy lời kết luận về Cô Hồng Minh và cái thuyết Âu châu sắp tan nát //ĐPTB 15/9/1928; Tư tưởng của Tây phương và Đông phương //ĐPTB 27/9 và 2/10/1928; Bác cái thuyết tân cựu điều hoà //ĐPTB 11/10/1928).
Thời Phan Khôi, Tản Đà, Ngô Tất Tố cùng cộng tác với Đông Pháp thời báo cũng có thể xem là thịnh thời của "văn hoá đọc", khi mà trên báo chí Sài Gòn, truyện đều kỳ (feuilleton) được in xen kẽ với quảng cáo như là phần thưởng toà soạn dành cho người đọc các trang quảng cáo. Vào dịp có một loạt khách văn sĩ thi nhân nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc tụ hội ở báo mình, toà soạn Đông Pháp thời báo đã mở ra "Phụ trương văn chương" vào mỗi thứ bảy hằng tuần do Chủ bút Bùi Thế Mỹ chủ trì, bên cạnh "Phụ trương thể thao" và "Phụ trương phụ nữ và nhi đồng".
Phần văn học Phan Khôi góp với Đông Pháp thời báo khá đa dạng : sáng tác thơ (Dân quạ đình công // ĐPTB 2/6/1928; Cái chết của con nhà nghèo // ĐPTB 21/7/1928), bình luận văn học (Cấm sách, sách cấm //ĐPTB 1/9/1928; Thi văn với thời đại // ĐPTB 6/10/1928; Văn chương và văn chương của nhà báo // ĐPTB 27/10/1928); khảo chứng (Cái dốt cuả triều Huế // ĐPTB 8/5/1928; Một bài vận văn rất có giá trị về lịch sử : "Hà Nội chánh khí ca» // ĐPTB 4/10/1928 ); giới thiệu văn sĩ và văn chương nước ngoài ( Cái thế lực của nhà văn hào // ĐPTB 5/6/1928 [nói về L. Tolstoy]; Hồ Thích với Quốc dân đảng // ĐPTB 18/12/1928; Ông Eroshenko, thi nhân mù nước Nga // ĐPTB 19/5/1928); dịch thuật văn chương (dịch bài Quan về vườn // ĐPTB 5/5/1928 của nhà thơ Pháp H. de Racan [1589-1670]; dịch một số tác phẩm của Eroshenko; dịch phần đầu tiểu thuyết Bá tước Monté Cristo của A. Dumas-père và cho đăng đều kỳ như một cuốn "tiểu thuyết chánh trị") (3). Chính trên tờ Đông Pháp thời báo Phan Khôi đã bắt đầu thử việc trong một thể tài văn chương gắn liền với báo chí là thể tài hài đàm. Dưới bút danh Tân Việt trong tiểu mục "Câu chuyện hằng ngày" do Chủ báo Diệp Văn Kỳ đặt ra, Phan Khôi trở thành tay bút chính tìm tòi thể nghiệm dạng sáng tác mới mẻ này, và nhân đây xây dựng một "mặt nạ tác giả"(4) hay là một kiểu tác giả đặc thù mà sự tồn tại của nó gắn liền với kiểu giao tiếp gián cách giữa tác giả với độc giả thông qua kênh truyền thông báo chí. Vai trò Tân Việt trong "Câu chuyện hằng ngày" sẽ được Phan Khôi tiếp tục trên tờ Thần chung. Trong việc tìm tòi cách viết hài đàm, Phan Khôi chú trọng kinh nghiệm của hai nhà báo Pháp là Clément Vautel (1876-1954) và Charles de la Fouchardière (1874-1946) trên các tờ Le Journal và L' Oeuvre xuất bản ở Paris đương thời (5).
Về điểm đứt nối giữa hai tờ Đông Pháp thời báo và Thần chung, nhân đây xin nêu đôi chi tiết thuộc "báo chí sử" Sài Gòn : theo khảo sát của tôi, tờ Đông Pháp thời báo ngừng xuất bản không phải vì bị chính quyền đương thời đóng cửa như một vài học giả mô tả, mà sự thể đơn giản là chủ nhân của nó tự chấm dứt tờ báo này để ra tờ báo khác. Nói rõ hơn, tuy Diệp Văn Kỳ đã mua lại tờ báo này của Nguyễn Kim Đính nhưng ông vẫn xin giấy phép ra một tờ báo khác nữa. Đến khi có được giấy phép ra tờ Thần chung rồi thì Diệp Văn Kỳ xử lý theo kiểu đổi tên : ông chấm dứt Đông Pháp thời báo từ ngày 22/12/1928 (số báo 809) để rồi hai tuần sau, vẫn tại toà soạn ấy ở góc đường Filippini và Espagne tại thành phố Sài Gòn, vẫn với nguyên vẹn ban biên tập ấy, từ ngày 7/1/1929, báo mới với nhan đề Thần chung (có tên bằng tiếng Pháp là La Cloche du Martin) ra mắt số 1. Nói gọn lại thì Đông Pháp thời báo đã được đổi tên thành Thần chung, nhưng giấy phép của Đông Pháp thời báo thì lại được trả lại cho Nguyễn Kim Đính; ông này sau đó có lúc đánh tiếng ở báo khác rằng sẽ tục bản tờ báo cũ này của mình, nhưng việc ấy rốt cuộc không xảy ra.
Chuyện bị chính quyền đóng cửa là chuyện thực đã xảy ra với tờ Thần chung sau 15 tháng nó hoạt động rất hiệu quả theo hướng báo chí đối lập. Lệnh đóng cửa tờ báo này ban ra từ phủ Toàn quyền ở ngoài Bắc (22/3/1930) buộc tờ báo này ở Sài Gòn phải lập tức thi hành, và toà soạn Thần chung đành phải dùng những tờ rơi dán lên tường nhà một vài đường phố Sài Gòn để báo tin và nhân thể tỏ ý cảm ơn và từ giã bạn đọc (6).
Trong số bài vở Phan Khôi góp cho mặt báo Thần chung, dễ thấy nhất là việc duy trì mục "Câu chuyện hằng ngày" dưới bút danh Tân Việt . Tôi đếm thử, được 337 kỳ báo có bài của mục này trên tổng số 346 kỳ báo Thần chung. Khi còn nằm trên Đông Pháp thời báo, vì báo chỉ ra 3 kỳ mỗi tuần, nên "câu chuyện hằng ngay" vẫn ở tình trạng "cách nhật". Nay nhật báo Thần chung ra tất cả các ngày thường trong tuần, trừ chủ nhật, câu chuyện mà Tân Việt góp với người đọc báo mỗi ngày quả thực là "câu chuyện hằng ngày" với đủ loại nội dung có thể nói tới, từ các sự việc xảy ra hằng ngày tại đô thị Sài Gòn và các miền trong nước đến các sự việc ở nước ngoài. Nhờ mục này mà nay đọc lại chúng ta biết các chuyện bầu cử hội đồng quản hạt, chuyện thiếu nước, chuyện nghiện hút ở Sài Gòn, rồi chuyện thi hào Tagore đến thăm thành phố, chuyện phế đế Phổ Nghi, chuyện các quân phiệt bên Tàu, chuyện thi sắc đẹp bên Tây, v.v., và nổi bật lên là cái giọng riêng của tác giả, khi cười cợt khi nghiêm chỉnh.
Trên Thần chung Phan Khôi xuất hiện với họ tên thật của mình từ 3/10/1929 trong loạt 21 kỳ của tiểu luận Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta, sau đó trong những bài thảo luận về dịch sách Phật học với nhà sư Thiện Chiếu. Ông cũng vẫn ký Chương Dân hoặc ký tắt C.D. trong những bài về ngôn ngữ, về thi văn. Một bút danh khác ông dùng ở một vài bài đăng Thần chung là Khải Minh Tử, đây là bút danh ông đã dùng cho một số bài báo chữ Hán ông viết cho tờ Quần báo của Hoa kiều ở Chợ Lớn (7).
Ngoài những bài ký tên hoặc bút danh rõ rệt, có lẽ Phan Khôi còn có nhiều bài ký tên toà soạn (Thần Chung, T.C.) hoặc không ký tên, ví dụ nói về bút chiến, về vùng đất Tây Nguyên, về luận lý học, về thời sự trong nước, thời cuộc Trung Hoa, v.v...Ta cũng có thể dự đoán rằng trong những loại công việc mà báo Thần chung tổ chức như cuộc thi quốc sử, chắc hẳn có vai trò của Phan Khôi. Nhìn vào 30 bản tóm tắt sự tích và công trạng 30 nhân vật trong sử Việt (mà Thần chung lần lượt đăng tải mỗi bản sự tích đến 2 lần cho độc giả đọc để biết mà tham gia trả lời các câu hỏi), -- ta có thể dự đoán là có bàn tay Phan Khôi tham gia soạn thảo.
Giữa năm 1929, Phan Khôi tham gia từ đầu vào một tờ tuần báo mà tên gọi của nó sẽ được nhắc nhở nhiều về sau như một thành công rất đáng kể của báo chí tiếng Việt những năm 1930 : tuần báo Phụ nữ tân văn. Đối với cơ quan tư nhân này, Phan Khôi là một trong những người gắn bó đến mức được gọi là "đứng mũi chịu sào" (8) cùng với Đào Trinh Nhất, nhưng nếu Đào Trinh Nhất thường đảm nhận vai trò chủ bút thì Phan Khôi trước sau chỉ giữ vai trò một cộng tác viên. Lượng bài viết của ông đăng trên tuần báo này là khá lớn : khoảng trên 100 bài lớn nhỏ (nhiều bài thực chất là những chuyên mục kéo dài hàng chục kỳ) trong tổng số 273 kỳ xuất bản tuần báo này từ 2/5/1929 đến 21/4/1935.
Trong sự đa dạng của các đề tài được đề cập thì nổi bật vẫn là xoay quanh đề tài về giới nữ với đủ cung bậc loại hình : nghị luận xã hội, khảo luận lịch sử, nghiên cứu văn học, sáng tác thơ văn. Việc Phan Khôi và các tác giả khác cùng thời ông đề cập vấn đề phụ nữ, theo nhận xét của tôi, không đơn giản là việc kiếm đề tài để viết cho hợp với nhãn một tờ báo, mà thực sự là việc triển khai đường lối duy tân vào thực tế đời sống. Hoạt động báo chí đương thời cho thấy không phải chỉ một nhóm làm tờ Phụ nữ tân văn mà còn nhiều nhóm khác nhận ra đề tài phụ nữ như một lối vào thuận lợi để tác động đến xã hội, tạo ra những chuyển biến trong nếp sống. Trong các bài viết của Phan Khôi, chủ trương giải phóng phụ nữ, giải phóng thế hệ trẻ khỏi sự áp chế của cái khung đại gia đình trung cổ được tác giả kiên trì theo đuổi bằng những lý lẽ thuyết phục; có thể hình dung điều đó qua nhan đề các bài viết ( Việt Nam phụ nữ liệt truyện // PNTV 2/5/1929; 13/6; 4/7; 1/8; 8/8; 15/8; 12/9/1929; Tơ hồng nguyệt lão với hôn nhân tự do // PNTV 12/9/1929; Chữ trinh: cái tiết với cái nết // PNTV 19/9/1929; Luận về phụ nữ tự sát // PNTV 26/9/1929; Chuyện bà cố tôi (Một cái đơn kiện cái chế độ gia đình An Nam) // PNTV 17/10/1929; Nữ công // PNTV 24/10/1929 ; Hoàng đế với phụ nữ // PNTV 9/1/1930; Lại hoàng đế với phụ nữ (Chuyện một bà hoàng hậu vì mắc oan mà bị tử hình) // PNTV 1/5/1930; Đàn bà mới của một nước mới Thổ Nhĩ Kỳ // PNTV 8/5; 15/5/1930; Thân oan cho Võ Hậu // PNTV 22/5/1930; Gia đình ở xứ ta nay đã thành ra vấn đề rồi // PNTV 21/5/1931; Cái chế độ gia đình nước ta đem gióng với luân lý Khổng Mạnh // PNTV 4/6/1931; Sự lập thân của thanh niên nam nữ đời nay // PNTV 18/6/1931; Lại nói về tam cang với ngũ luân // PNTV 2/7/1931; Tống nho với phụ nữ // PNTV 13/8/1931; Một cái hại của chế độ đại gia đình: bà gia với nàng dâu // PNTV 20/8/1931; Vấn đề cải cách cho phụ nữ // PNTV 28/1/1932; Vấn đề phụ nữ giải phóng với nhân sinh quan // PNTV 7/7; 21/7/1932; Con có vợ rồi có nên ở chung với cha mẹ chăng? // PNTV 14/7/1932; Thanh niên với tổ quốc // PNTV 13/10/1932; Câu chuyện lấy vợ đầm // PNTV 6/12/1934 )...Ơ' khía cạnh văn học, Phan Khôi đã nhân tính chuyên đề về giới của tờ tuần báo này để thử nêu các khía cạnh : văn học của các tác gia phụ nữ ( Về văn học của phụ nữ Việt Nam // PNTV 2/5/1929; Văn học của phụ nữ nước Tàu về thời kỳ toàn thịnh // PNTV 2/5/1929), và văn học về đề tài phụ nữ ( Văn học với nữ tánh // PNTV 9/5/1929; Lại nói về vấn đề văn học với nữ tánh // PNTV 6/6/1929; Cái tánh ghen cùng dật sự thi văn bởi nó mà ra // PNTV 23/5/1929; Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta // PNTV [11 kỳ] từ 30/5 đến 29/8/1929, v.v...).
Một loạt bài khác, Phan Khôi đã làm cho tờ Phụ nữ tân văn nổi tiếng, được cả những độc giả có học vấn cao tìm đọc, đó là loạt bài thảo luận về tư tưởng học thuật. Được khởi lên từ một vài bài ông đề nghị trao đổi hoặc chất vấn về nội dung học thuật và về học phong (Đọc cuốn Nho giáo của ông Trần Trọng Kim // PNTV 29/5/1930; Cảnh cáo các nhà học phiệt // PNTV 24/7/1930), Phan Khôi đã khiến những cây bút hàng đầu của học thuật đương thời như Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh,... lên tiếng trên tuần báo Phụ nữ tân văn phúc đáp và thảo luận về những vấn đề ông nêu ra. Cuộc tranh biện giữa những đầu óc uyên thâm không dễ cho bất kỳ ai học vấn nông cạn có thể tham dự, nhưng nó vẫn được đông đảo người đọc chờ đợi có lẽ vì đấy là dịp khá hiếm hoi để lắng nghe những người hiểu biết nhất trong nước bàn luận về những điều không hề dễ hiểu như các khái niệm và phạm trù của Nho giáo, nhận định về hoạt động tư tưởng văn hoá ở Việt Nam, về học phong của giới học giả,...Không khí tranh biện nghiêm túc mà không hề nhiễm thói giả dối hàn lâm kinh viện của những thảo luận này khiến ta có thể nghĩ rằng đây là những thời khắc thăng hoa không dễ lặp lại trong hoạt động tư tưởng học thuật ở Việt Nam. Có thể chính không khí ấy cũng đã hỗ trợ nâng bước cho Phan Khôi, khiến ông minh mẫn khác thường; điều này không chỉ bộc lộ qua việc không về hùa với người anh rể là Lê Dư trong chuyện "nước ta có quốc học", mà còn thể hiện ở khả năng nhận định chính xác nhiều vấn đề lịch sử và lịch sử tư tưởng ở tầm xa : Trên lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến (PNTV 29/11/1934), Thánh hiền ta đời xưa chưa hề có tư tưởng dân chủ (PNTV 13/12/1934).
Trên Phụ nữ tân văn, Phan Khôi, như một người chuyên nghiệp sống bằng ngòi bút, vẫn đóng kiêm nhiệm nhiều vai trò: vai trò dịch giả (ví dụ trích dịch Tư Mã Thiên, Tư Mã Dung, Hàn Dũ, v.v...), vai trò nhà ngôn ngữ thực hành với nhiều loại việc, từ việc đề xuất "viết chữ quốc ngữ cho đúng, dùng danh từ cho trúng"(PNTV 12/6/1930), "đính chánh lại cách xưng tên của người Việt Nam"(PNTV 26/6/1930), cảnh tỉnh đồng bào đừng thổi phồng khác biệt phương ngữ mà vô tình chia rẽ dân tộc (Tiếng hay văn Việt Nam cũng chỉ có một mà thôi // PNTV 11/6/1931), phản đối chủ trương dạy tiểu học bằng chữ nho (PNTV 24/3/1932),...Ông cũng đảm nhận vai trò người sửa văn, dọn vườn văn mà ông cao hứng tự phong là "vai ngự sử trên đàn văn". Cũng có thể thấy ông trong vai trò người giúp việc lấp các khoảng trống cho toà soạn bằng những mẩu "tạp trở" về đủ thứ chuyện cổ kim đông tây. Ông vừa thử vai hương sư dạy cách làm văn quốc ngữ (tập bài hướng dẫn Phép làm văn của ông đăng Phụ nữ tân văn [từ 23/10 đến 30/11/1930] đến hết bài thứ tư thì dừng lại), vừa lặp lại vai trò "thày đồ" dạy chữ nho (tập bài giảng nhan đề Hán văn độc tu [phụ đề tiếng Pháp là Chinois sans maitre] của ông được báo Đuốc nhà Nam in và phát hành như một phụ trương trước khi đăng trên Phụ nữ tân văn liền trong 20 kỳ, từ 18/8 đến 29/12/1932, sau nữa Phan Khôi cho đăng lại trên Sông Hương, 1936-37).
Ơ' phương diện thuần văn học, bên cạnh loạt bài chuyên về văn học của tác gia phụ nữ và văn học về đề tài phụ nữ như đã nêu trên, ở Phụ nữ tân văn, Phan Khôi còn có những bài mang tính khái quát lý thuyết về thể loại ( Giới thiệu lối văn phê bình nhân vật // PNTV 30/7/1931; Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhật ký // PNTV 23/6/1932; Sự nghị luận sai lầm bởi dùng chủ quan // PNTV 15/9/1932; Cái địa vị khôi hài trên đàn văn // PNTV 3/11/1932; Sử với tiểu thuyết // PNTV 1/12/1932; Lối văn học của bình dân // PNTV 15/12/1932), về văn chương và nghề văn nói chung (Một ít nghiên cứu văn học về thần mùa xuân // PNTV 4/2/1932; Sự dùng điển trong thơ văn và sự chú thích // PNTV 18/8/1932; Cái bịnh ăn cắp của Tàu // PNTV 1/9/1932; Văn học chữ Hán của nước ta // PNTV 22/9/1932; Sách tiếu lâm đời xưa // PNTV 22/12/1932).
Tất nhiên trong số đó ta không thể quên bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ (PNTV 10/3/1932), bài báo được coi như lời phát động cho phong trào thơ mới tiếng Việt (1932-45), mở ra một cuộc cách tân sẽ đưa tới thành tựu lớn nhất trong thơ Việt Nam thế kỷ XX. Xin nhắc lại một cảm tưởng trong hồi ức: ở miền Bắc sau suốt ba bốn chục năm tên tuổi Phan Khôi bị coi là nguy hiểm nên bị quên lãng, khi kỷ niệm 60 năm phong trào thơ mới, tức là vào năm 1992, tên tuổi Phan Khôi chỉ được nhắc lại một cách dè dặt, như thể ông chỉ dính dáng một cách ngẫu nhiên tới phong trào cách tân văn học này. Thế nhưng nếu tìm hiểu lại, ta sẽ thấy vai trò Phan Khôi gắn với phong trào này là không hề ngẫu nhiên. Hồi những năm 1970 ở Sài Gòn, nhà nghiên cứu Bùi Đức Tịnh (9) đã nêu những dấu hiệu cho thấy kiểm duyệt thực dân có vẻ như đã ngửi ra mùi "duy tân" ,"cải lương"trong những lời Phan Khôi kêu gọi đổi mới thi ca. Đọc lại một cách tương đối hệ thống loạt bài Phan Khôi đăng Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn những năm 1929-1932, chúng ta sẽ có thể thấy Phan Khôi như một trong những cây bút hàng đầu đã tạo cơ sở và chuẩn bị về nhiều mặt cho những thay đổi trong văn hoá, học thuật và văn chương của người Việt những năm 1930-40, trong đó có phong trào thơ mới. Tôi tin rằng đã và sẽ có nhiều nhà nghiên cứu văn học sử và văn hoá sử Việt Nam thấy nhận định này là hữu lý.
Ngoài chuyện bài vở đăng báo, Phan Khôi còn tham dự một số hoạt động xã hội của báo này, ví dụ chấm thi để trao "học bổng phụ nữ" cho học sinh đi du học sang Pháp.
Tờ báo thứ tư ở Sài Gòn mà Phan Khôi tham gia là nhật báo Trung lập.
Về tờ báo này, học giả Huỳnh Văn Tòng (2000, sđd.) xếp nó vào loại báo thiên về thông tin thương mại, "tự nhận mình không làm chính trị, đứng trung lập, có sao nói vậy, không thiên vị dân chúng hoặc chính quyền, có chủ đích rõ rệt là thương mại nhưng ít nhiều vẫn theo khuôn khổ của chính quyền thuộc địa"(sđd., tr.398). Tờ nhật báo này vốn là bản tiếng Việt của tờ báo tiếng Pháp Impartial, cả hai được sáng lập bởi Henri de Lachevrotière, một người Pháp lai Việt, xuất thân cai thợ, sau tiến thân vào chính trường, lên đến chức chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam Kỳ; khoảng 1925-26, cả hai tờ này được bán đứt cho tập đoàn tài phiệt của Octave Homberg ( theo Huỳnh Văn Tòng, sđd., tr.411). Có những thời kỳ, Trung lập báo bị các đồng nghiệp vận động tẩy chay, do việc báo này hoặc người chủ trì nó là Nguyễn Phú Khai tố giác phong trào cấp tiến, ngăn cản các hoạt động tưởng niệm Phan Chu Trinh, ngăn cản thanh niên Sài Gòn tổ chức đón rước Bùi Quang Chiêu du học Pháp trở về...Chính Phan Khôi dưới bút danh Tân Việt, Bùi Thế Mỹ dưới bút danh Phiêu Linh Tử trên Đông Pháp thời báo và Thần chung từng không ít lần châm chọc Trung lập.
Vậy mà tới giữa năm 1930, cả Phan Khôi lẫn Bùi Thế Mỹ lại đến với tờ Trung lập. Có điều gì xảy ra đây?
Trước tiên phải kể tai nạn đột ngột xảy ra với tờ Thần chung, việc tờ này bị đóng cửa dẫn đến sự chia lìa của nhóm nhà báo trẻ cấp tiến từng quần tụ nhau quanh tờ báo này. Chủ nhiệm Diệp Văn Kỳ vẫn còn là chủ nhà in Bảo Tồn, lại hành nghề luật sư; chủ bút Nguyễn Văn Bá thì sang làm chủ bút Công luận báo nhưng lúc làm lúc bỏ, vì khi nào ông này để cho ngòi bút ngả theo ông chủ tờ báo là Jules Haag thì liền bị các đồng nghiệp người Việt chế nhạo; rút cuộc đến 1932 thì hai ông chủ cũ của Thần chung trở thành hai ông chủ mới của tờ Công luận đã đổi chủ. Đào Trinh Nhất sang làm chủ bút Phụ nữ tân văn rồi làm chủ bút Đuốc nhà Nam, Ngô Tất Tố trở về Bắc với các tờ báo ở Hà Nội. Hai cây bút quê Quảng Nam là Bùi Thế Mỹ và Phan Khôi thì bước sang Trung lập.
Khi khảo về quan hệ của các nhóm tài phiệt với báo chí Đông Dương đương thời thuộc Pháp, nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Tòng có đưa ra ví dụ nhóm tài phiệt Octave Homberg mua các tờ Impartial và Trung lập rồi về sau bỏ rơi khi nhà tài phiệt này trở về Pháp kinh doanh và bước vào chính trường; sự "bỏ rơi" này được nhà nghiên cứu xem là nguyên nhân dẫn đến chỗ tờ Trung lập thua lỗ và phải đóng cửa vào năm 1933 (sđd, tr.409-413). Từ sự tìm hiểu của mình, tôi cho rằng nếu sự "bỏ rơi" kia là sự thực thì vẫn cần tìm hiểu thêm về hoạt động của giới quản trị và kinh doanh báo chí người Việt đã tiếp thu và duy trì các tờ báo ấy, -- chính điều này tạo ra diện mạo cụ thể của những tờ báo đã đổi chủ; và đây là trường hợp của cả tờ Trung lập lẫn tờ Công luận ở Sài Gòn trong những năm 1930.
Về trường hợp tờ Trung lập. Từ 13/8/1929, vai trò Tổng lý (directeur propriétaire) Trung lập báo chuyển từ Nguyễn Phú Khai sang Trần Thiện Quý tự Tôn Hiền. Những điều được toà soạn thông tin trên mặt báo và những biến chuyển thể hiện qua tin tức bài vở đăng ra cho thấy Trần Thiện Quý đã mua lại tờ báo này và đổi nó thành tờ báo khác, có khuynh hướng dân tộc rõ rệt so với tờ báo cũ tuy vẫn mang tên như cũ (10). Chẵn một năm sau ngày 2/5/1929 (ngày khai sinh tuần báo Phụ nữ tân văn), báo giới Sài Gòn lại nhấn vào cái ngày đáng nhớ này bằng một việc mà họ cho là cũng sẽ đáng nhớ khác nữa, ấy là việc đúng ngày 2/5/1930 chính thức ra mắt tờ Trung lập đổi mới, tuy không ghi chú "bộ mới" hay "tục bản", không đánh số lại, chỉ khai trương một manchette mới ( chữ "trung lập" màu đỏ với các nét cách điệu hình thân và cành lá thông) và một bộ biên tập mới, do Bùi Thế Mỹ làm chủ bút (rédacteur en chef). Phan Khôi vẫn giữ nguyên tắc riêng của ông là chỉ cộng tác viết bài chứ không ở trong toà soạn, tuy có lúc bài ông viết được đăng với tên ký Trung Lập tức là ký tên toà soạn.
Lượng bài Phan Khôi viết và đăng Trung lập có lẽ là lớn nhất so với lượng bài của ông đăng bất cứ tờ nào trong số ba tờ báo Sài Gòn đã nêu trên. Trước hết là mục hài đàm «Những điều nghe thấy» mà toà soạn dành riêng cho ông viết với bút danh Thông Reo (10 ngày đầu ký là Tha Sơn). Từ 2/5/1930 đến 30/5/1933, ngày Trung lập bị đóng cửa, Phan Khôi đã viết trên 600 bài cho mục « Những điều nghe thấy ».
Ở trên nhân nói về chuyện Phan Khôi vào vai Tân Việt trong Câu chuyện hằng ngày ở Đông Pháp thời báo và Thần chung, tôi có dẫn khái niệm "mặt nạ tác giả", một khái niệm dầu sao cũng mang dấu tư duy Tây phương, trỏ một thứ "thi pháp" của cái "tôi" trong vai lệch ở tản văn; tiếp đây xin thuật thêm một sự việc thực mà hoá ra lại liên quan đến khái niệm ấy. Đó là từ giữa năm 1932, sau khi "Hội chợ Phụ nữ" ở Sài Gòn do báo Phụ nữ tân văn và hội Dục anh Sài Gòn đồng tổ chức kết thúc, những lời phàn nàn về một vài xử sự không hay của Nguyễn Đức Nhuận (chủ báo Phụ nữ tân văn) đã từ bé xé ra to, lời qua tiếng lại đến mức đưa nhau ra toà. Một nửa báo giới Sài Gòn do Tổng lý Trung lập Trần Thiện Quý và Chủ nhiệm Sài thành Bút Trà dẫn đầu hăng hái lên án vợ chồng chủ báo Phụ nữ tân văn; còn vợ chồng chủ báo ấy thì đưa đơn ra toà kiện hai tờ Sài thành và Trung lập về tội phỉ báng. Tình thế ấy khiến Bùi Thế Mỹ, -- người lên tiếng bênh vực chủ báo Phụ nữ tân văn lúc sự việc mới phát lộ, -- phải từ chức chủ bút Trung lập ra đi. Phan Khôi được tiếng là người thân thiết với chủ báo Phụ nữ tân văn, cũng không còn ký tên mình đăng bài trên Trung lập nữa. Trên vài tờ báo khác lúc đó đã thấy đăng những ý kiến trách Trần Thiện Quý đã để cho cả Phan Khôi lẫn Bùi Thế Mỹ bỏ Trung lập ra đi. Thế nhưng Thông Reo với chuyên mục "Những điều nghe thấy" thì vẫn xuất hiện đều đặn trên chính tờ Trung lập cho đến tận số cuối cùng, trước khi báo này đột nhiên bị cấm; và đáng lưu ý là Thông Reo cũng có những bài đồng tình với phe nhà báo lên án chủ nhân Phụ nữ tân văn là "con buôn hám lợi". Vậy là chính nhờ "mặt nạ tác giả" đó, trang viết của Phan Khôi vẫn có thể xuất hiện ở những tờ báo mà tình thế và thời điểm khiến họ tên thật (vốn đi liền với nhân thân thật) của ông không thể hoặc không nên xuất hiện (Xin nói thêm: chuyện "mặt nạ tác giả" nói ở đây là chuyện nghề nghiệp hơn là chuyện đạo đức).
Về văn chính luận, một việc rất đáng kể là chỉ hơn một tháng từ ngày ra tờ Trung lập đổi mới, Phan Khôi đã khởi ra cuộc bút chiến giữa hai tờ Trung lập -- Đuốc nhà Nam xoay quanh thái độ đối với các sự biến vừa xảy ra lúc đó ở Nam Kỳ (nông dân biểu tình bị đàn áp đổ máu, các nhân vật hàng đầu của đảng Lập hiến dấu mặt im lặng...). Các bài viết tuy ký Trung Lập nhưng, như Phan Khôi sau đó ít lâu sẽ nói rõ, tất cả đều do một tay bút ông viết ra. Ông đã đi từ việc bình luận về thái độ của những người được coi là làm chính trị (là nghị viên hội đồng quản hạt hoặc hội đồng thành phố, tham gia một đảng được gọi là đảng Lập hiến...) trước những sự biến liên quan đến vận mệnh dân chúng (bắt đầu từ bài Ý kiến Trung lập : Phải nói minh bạch // TL 20/6/1930, qua một loạt bài : Trung lập xin nói cho Đuốc nhà Nam nghe thế nào là cái nhã độ quân tử ?// TL 21/6/1930 ; Trung lập lại nói cho Đuốc nhà Nam nghe : Theo cái nhã độ quân tử, hễ có lỗi thì phải chịu // TL 23/6/1930 ; Sự khởi hấn giữa Đuốc nhà Nam và Trung lập nếu trở thành cuộc bút chiến thì phải thế nào ? // TL 24/6/1930 ; 4 bài nhỏ : Ai nói dối ? ; Bây giờ chúng tôi mới biết cái văn và cái người của ông Nguyễn Phan Long ; Trung lập giành lại cái nhân cách cho quốc dân dưới bàn chưn kẻ vô lễ ; « Kiến hiền tư tề yên » đều in trên Trung lập ngày 25/6/1930, v.v… đến loạt bài Về các cuộc biểu tình ở Nam Kỳ vừa rồi [ kỳ I - IV] từ 26/6/1930 đến 30/6/1930), chuyển sang bình luận về các vấn đề của đảng Lập hiến Nam Kỳ (Nói về đảng Lập hiến ở Nam Kỳ, từ kỳ I, 2/7/1930, đến kỳ XIII, 25/7/1930, với những tiểu mục từng kỳ như : Cái chủ nghĩa của đảng Lập hiến; Đảng Lập hiến có thế lực mà không biết dùng; Cái sai lầm của đảng ấy trong đường chánh trị; Đảng viên và cơ quan của đảng ấy; Đảng Lập hiến với thanh niên; Hiệp quần với phân đảng; Y' kiến chúng tôi về đảng Lập hiến nay sắp sau,...). Đó là những bình luận xã hội chính trị mà về nội dung thì những người nghiên cứu lịch sử hiện đại có lẽ có thẩm quyền đánh giá hơn những người nghiên cứu về văn học sử hiện đại. Chỉ xin lưu ý rằng năm 1929, chính Phan Khôi trên báo Thần chung đã có bài luận về bút chiến (không ký tên tác giả, nhưng tôi đoán là do Phan Khôi viết); có thể nghĩ rằng ông cũng mong có dịp thực hiện một cuộc bút chiến đúng như ông hình dung trong ý niệm. Đối thủ của ngòi bút ông lần này là chủ nhiệm Đuốc nhà Nam Nguyễn Phan Long. Những gì diễn ra có lẽ không thật giống với hình dung thuần ý niệm, tuy Phan Khôi giữ nguyên tắc của mình. Khi Nguyễn Phan Long trả đũa bằng thủ đoạn bôi nhọ cá nhân người viết bút chiến với báo mình (cho đăng trên báo Đuốc nhà Nam 12/7/1930 một bài bình thơ ký tên Đức Kỉnh, bàn về bài Viếng mộ ông Lê Chất của Phan Khôi rồi viết rằng "người mình có cái tật "vì người mà bỏ lời nói" nên chi bài thi nầy hay thật nhưng không mấy ai truyền tụng đến", tức là mượn một câu ở sách Luận ngữ để thoá mạ nhân cách Phan Khôi), Phan Khôi đã thẳng thắn công khai nguồn dư luận mờ ám mang tính vu cáo vẫn lan truyền bằng rỉ tai trong giới về mình (theo đó người ta đồn ông là mật thám của khâm sứ Trung Kỳ), nhân đây Phan Khôi buộc tội Nguyễn Phan Long khơi ra chuyện vô bằng cứ đó là "đã bôi lọ cái tên của ông trong làng báo", "làm xấu trong trường ngôn luận" (Vài lời hỏi ông Nguyễn Phan Long, chủ nhiệm "Đuốc nhà Nam" // TL 19/7/1930; Một sự buồn trong báo giới // TL 21/7 ; 24/7 ; 1/8/1930).
Xin kể thêm một bài bình luận cũng rất đáng kể nữa là bài báo đăng 4 kỳ nhan đề Vấn đề cải cách (TL 9/8; 12/8; 13/8; 18/8/1930), trong đó Phan Khôi nêu kinh nghiệm Nhật Bản và Trung Hoa để khẳng định ý kiến mình: "muốn duy tân cải cách thì phải bắt từ học thuật tư tưởng mà duy tân cải cách trước"; đó là một chủ kiến có không ít căn cứ.
Về phương diện văn học, một điều khá nổi bật là khi hai ông Bùi Thế Mỹ và Phan Khôi làm với Đông Pháp thời báo trong năm 1929 đã ra được "Phụ trương văn chương", thì đến khi hai ông này làm với Trung lập, cũng ra được "Phụ trương văn chương" vào mỗi thứ bảy hằng tuần (khởi đầu vào đúng ngày 2/5/1931, như lặp lại điểm thời gian đáng nhớ của giới làm báo ở Sài Gòn), cũng do Bùi Thế Mỹ là chủ bút; từ 2/5/1931 đến 29/5/1933 ra được cả thảy 104 kỳ. Ở mỗi kỳ, ngoài những mục như "Văn uyển" đăng sáng tác thơ, mục "Giấy thừa mực vụn" đăng tạp văn hoặc chuyện làng văn, còn có một lượng khá lớn bài vở trong đó bước đầu giới thiệu những khái quát văn học sử Việt Nam (ví dụ bài Ngôn ngữ và văn chương Việt Nam của Bùi Kỷ từ PTVC số 8 : 20/6/1931, đến PTVC số 13: 25/7/1931), nêu các vấn đề mang tính lý luận văn nghệ, giới thiệu văn chương nước ngoài, bàn thảo để nhận diện những hiện tượng như "đạo văn" (Cao Minh Chiếm PTVC số 41 : 13/2/1932, "tố giác cái án đạo văn" nhưng lầm lẫn một loạt trường hợp thuộc loại phóng tác của Hồ Biểu Chánh và nhiều tác giả khác; Mai Lan Quế PTVC số 47: 26/3/1932 nhận thấy họ Cao nghiệt ngã vô lý, đề nghị Phan Khôi giải giúp; Phan Khôi PTVC số 48: 2/4/1932 giải rõ những trường hợp ấy không phải là "đạo văn"), hiện tượng nhà văn bị cáo giác là có những sáng tác gây tổn thương phong hoá (11), v.v...Chính ở "Phụ trương văn chương" số 2(TL 9/5/1931) một tác giả ký T.S. đã nêu vấn đề lý thuyết về "nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh" (chứ không phải đợi đến Hải Triều với những cuộc tranh luận sau này vào năm 1936). Nhân nói về phụ trương này, phải kể đến sự đóng góp của một cây bút khác cũng đến từ xứ Quảng là Phan Thứ Khanh, người đã có khá nhiều bài giới thiệu các nội dung lý thuyết mới về văn nghệ như : văn học và quốc dân tính, văn học tiến hoá với sự biến thiên của xã hội, văn học với cách mạng, văn học bình dân, khái niệm "trào lưu", về chủ nghĩa tả chân của Zola và Flaubert, nguyên lai tiểu thuyết Tàu và tiểu thuyết thời Đường, xuất xứ các bộ Thuỷ hử, Tam quốc, Tây du, lược qua về bộ Kim Bình Mai, v.v...Đây cũng là một trong số những tác giả đang bị quên lãng cả ở Sài Gòn đây lẫn ở quê gốc của mình.
Phần văn học Phan Khôi góp mặt với Trung lập cũng gần với các bài loại này ông đăng Phụ nữ tân văn. Thường thì một bài của ông nếu không đăng trên tờ này thì sẽ đăng trên tờ kia và ngược lại, và cũng có trường hợp đăng đồng thời cả trên hai tờ đó (thậm chí nhiều tờ khác cũng đăng lại), chẳng hạn những bài ông thảo luận với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, những bài ông tranh luận về "quốc học" với Lê Dư, v.v.... Riêng ở Trung lập Phan Khôi còn có những bài về ngôn ngữ, về thể loại văn chương; ông tham gia cuộc thảo luận về văn nghị luận của báo chí ngoài Bắc, bênh vực lối văn Hoàng Tích Chu (khác với Ngô Tất Tố là người chê bai lối văn này), nhận xét chỗ được và chưa được ở bộ Việt Nam tân tự điển của hội Khai trí Tiến đức, v.v...Ông không chỉ thường xuyên có bài về thời sự nước Tàu mà còn có nhiều bài dịch thuật, giới thiệu văn hoá Trung Hoa, đáng kể nhất là bài giới thiệu Thương vụ ấn thư quán ở Thượng Hải (PTVC số 36: 31/12/1931; số 37: 9/1/1932). « Phụ trương văn chương » của báo Trung lập cũng đăng nhiều bài Phan Khôi trích dịch Sử ký của Tư Mã Thiên, Tùy Viên thi thoại của Viên Mai, v.v...Nhân đây cũng cần nhắc lại rằng hầu hết các bài trong mục "Những điều nghe thấy" chính là một dạng sáng tác của văn chương báo chí; không có báo chí thì không có đất sống cho loại tản văn này; ngoài ra, trong khá nhiều loại để tài mà các bài trong mục này đề cập cũng có nhiều bài về văn chương nghệ thuật, khá nhiều bài bàn đến văn chương Truyện Kiều, đến các sáng tác đương thời.
Ngoài 4 tờ báo tiếng Việt kể trên, Phan Khôi còn cộng tác với một hoặc một vài tờ báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn. Một trường hợp đã biết rõ là tờ Quần báo hồi đầu năm 1929 đã đăng bài Phan Khôi chỉ ra chỗ sai của báo ấy khi đăng một bài thơ, nói là của tác gia Trung Hoa Ngô Bội Phu nhưng thực ra là thơ của tác gia Việt Nam là vua Thành Thái ; sau đó báo đăng liền 2 kỳ bài Chính trị gia khẩu đầu chi Khổng Tử của ông; ở cả hai bài ông đều ký là Khải Minh Tử. Sau này, vào năm 1939, trên tờ Tao đàn ở Hà Nội, Phan Khôi viết rằng khoảng 1928 ông từng đăng bài với bút danh Khải Minh Tử trên Hoa kiều nhật báo nói về văn học chữ Hán của người Việt (12). Riêng về thông tin này hiện vẫn chưa có kiểm chứng trên tư liệu.
Trên đây là sơ lược về hai thời kỳ Phan Khôi tham gia báo chí văn chương tại Sài Gòn. Giữa năm 1933, ông ra Bắc cộng tác với các tờ Thực nghiệp dân báo, Phụ nữ thời đàm. Giữa năm 1934 ông vào Huế cộng tác với tờ Tràng An, rồi sáng lập và điều hành tờ Sông Hương, tờ báo tư nhân đầu tiên mà ông là chủ trong đời mình. Năm 1937, sau khi nhượng tờ Sông Hương ở Huế này cho nhóm cộng sản của Phan Đăng Lưu, theo một nguồn tài liệu (Phan Cừ, Phan An, 1996, sđd), Phan Khôi lại vào Sài Gòn, nhưng không biết ông có cộng tác với tờ báo nào tại đây hay không. Do đó cũng chưa rõ ông có một thời kỳ thứ ba làm việc với văn chương báo chí Sài Gòn nữa hay không? Tôi chưa tìm hiểu được kỹ điều này nhưng ngờ rằng không có.
3/ Trở lại điều nêu ở phần đầu bài này. Rõ ràng là Phan Khôi có thời gian làm báo viết văn tại Sài Gòn, tức là tại Nam Kỳ (nay ta dùng từ "Nam Bộ"). Hoạt động văn chương báo chí ấy của ông (ở đây chưa kể đến hoạt động văn chương báo chí của ông tại các nơi khác) chẳng những để lại dấu ấn tại đây mà còn có tiếng vang và ảnh hưởng đến tiến trình chung của văn học Việt Nam trên quy mô cả nước. Vậy thì, từ góc độ văn học sử, khi tập trung vào một quy mô nhỏ, ở đây là quy mô vùng văn học Nam Bộ, các nhà nghiên cứu có nên tính đến hoạt động của những "cây bút nhập cư" như Phan Khôi (và không chỉ có Phan Khôi) hay không? Nếu loại bỏ không kể đến những "cây bút nhập cư" đã đến, sống và viết ở đây, thì đời sống văn học thực diễn ra ở đây có vì vậy mà trở nên nghèo nàn hơn thực tế đã có hay không?
Hà Nội, tháng Ba 2006
Lại Nguyên Ân
2006 Lại Nguyên Ân - tác giả giữ bản quyền
-------
Chú thích
(1) Phan Thị Nga: Lối tự học của những bực đàn anh nước ta : [ kỳ 1] Ông Phan Khôi học chữ Tây và làm quen với cô Luận Lý // Hà Nội báo, Hà Nội, s. 10 (11 Mars 1936);
Phan Cừ&Phan An : Phan Khôi niên biểu //[trong sách] Chương Dân thi thoại (tái bản), Đà Nẵng 1996 : Nxb. Đà Nẵng, tr.152-163.
(2) Huỳnh Văn Tòng : Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945, Tp HCM : Nxb TP HCM, 2000, tr. 185.
(3) Chi tiết hơn xin xem trong: Phan Khôi : Tác phẩm đăng báo 1928 / Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/, Đà Nẵng : Nxb. Đà Nẵng, 2003.
(4) Khái niệm "mặt nạ tác giả" [maska avtorskaja] được một số học giả Nga định nghĩa như phương thức mà nhà văn dùng để che giấu nhân thân của mình nhằm tạo nên ở độc giả cái hình ảnh một tác giả khác hẳn (so với dạng thực có); đây là thủ pháp chính của mê hoặc (mistifikacija) trong văn chương (theo O.E. Osovsky, Maska Avtorskaja / Mặt nạ tác giả / trong sách : Literaturnaja Enciklopedija Terminov i ponjatij // A.N. Nikoljukin tổng chủ biên // Moskva: HPK "Intelvak", 2001, tr.511-512).
(5) Về hai nhà báo và nhà văn Pháp này, mới đây dịch giả Trần Thiện Đạo từ Paris đã tra cứu và thông tin về, cho biết : Georges [chứ không phải Charles] de la Fouchardière (1874-1946): năm 1916 đã cùng Gustave Téry sáng lập tờ L' oeuvre (Xây dựng), viết liên tục 15 năm những bài luận bàn thế sự với giọng hài hước hóm hỉnh, thu hút đủ loại độc giả; là cây bút có ảnh hưởng đến tận thế chiến 1939-45; Clément Vautel ( 1876-1954; tên thật Clément Vaulet; trong bút danh đảo let thành tel ) : viết cho các báo ngày ở Paris như Le Matin, La Liberté..., đặc biệt giữ mục "Mon film" (Dưới mắt tôi) hằng ngày bàn luận thế sự bằng cái nhìn rất "phải lẽ" của một "francais moyen" (thường dân), được độc giả đương thời hâm mộ; ngoài ra còn là tác giả một số tiểu thuyết; cũng là cây bút có ảnh hưởng đến tận thế chiến II. Xin chân thành cảm ơn dịch giả Trần Thiện Đạo về những thông tin trên.
(6) Xem : Vương Lệ Thiên : Thỏ chết động lòng chồn (Tại sao báo Thần chung bị cấm xuất bản?) // Trung lập, Sài Gòn, 27/3/1930; Phan Khôi: Có lẽ là điều sai lầm của những người trí giả // Trung lập, Sài Gòn,10/5/1930.
(7) Chi tiết hơn xin xem trong: Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1929 / Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/, Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 2004.
(8) Tin : "Phụ nữ tân văn" bị đóng cửa 5 tháng // Trung lập, 14/5/1931.
(9) Bùi Đức Tịnh : Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới(1865-1932), [in lại có sửa so với bản in lần đầu 1975], Tp. HCM : Nxb. TP HCM, 1992, tr . 235
(10) Chi tiết hơn xin xem : Tiểu dẫn [trong sách] Phan Khôi : Tác phẩm đăng báo1930 / Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/ Hà Nội : Nxb. Hội Nhà Văn, 2005, tr.8-14.
(11) Xem thêm : Lại Nguyên Ân : Vài tư liệu về việc Vũ Trọng Phụng bị gọi ra toà năm 1932 // Tiền phong, 5/11/2005; Thế giới mới, s.660 (7/11/2005).
(12) Phan Khôi : Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta // Tao đàn, Hà Nội, s.1, 1 Mars 1939, tr.13-18 ; s. 2, 16 Mars 1939, tr.107-114 ; dẫn theo Sưu tập trọn bộ TAO ĐÀN 1939, / Nguyễn Ngọc Thiện và Lữ Huy Nguyên sưu tầm / Hà Nội : Nxb Văn học, 1998.
© Copyright Lại Nguyên Ân 2006
Lại Nguyên Ân : SUY NGHĨ TỪ HÀNH TRÌNH KHAI QUẬT QUÁ KHỨ
SUY NGHĨ TỪ HÀNH TRÌNH KHAI QUẬT QUÁ KHỨ
Nhân dịp kỉ niệm 120 năm sinh Phan Khôi (1887-1959), và sự ra mắt những tập sách mới nhất trong bộ Phan Khôi, tác phẩm đăng báo do NXB Hội nhà văn và Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây phối hợp xuất bản, phóng viên TIA SÁNG đã có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, người sưu tầm và biên soạn bộ sách này. Ông đã chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ của mình về Phan Khôi, về công tác nghiên cứu lịch sử văn học, văn hóa và các nguồn tư liệu ở Việt Nam hiện nay.
● Chào ông, trước hết xin được chúc mừng ông nhân dịp hai tập sách mới nhất trong loạt sách Phan Khôi tác phẩm đăng báo do ông sưu tầm đã được ra mắt đúng dịp kỉ niệm 120 năm sinh nhà văn hóa này. Thưa ông, công việc sưu tầm di sản văn hóa của Phan Khôi đã được ông bắt đầu từ bao giờ?
Có thể nói là ngay từ những năm 1997, 1998 nhưng công việc chỉ thực sự bắt đầu từ năm 2000. Nguyên nhân trực tiếp là cuộc gặp gỡ với ban giám đốc nhà xuất bản Đà Nẵng và một người bạn vong niên thời học đại học của tôi là họ hàng xa của gia đình Phan Khôi. Tôi đã được họ ủy thác cho công việc này. Nhưng sâu xa hơn, mối quan tâm của tôi đã có từ những đầu những năm 1990, lúc tôi làm nhiều loại sách, đều là các sưu tập Thơ Mới, nhân kỷ niệm 60 năm phong trào này (1932-92). Ngay hồi đó ở tôi xuất hiện câu hỏi: việc Phan Khôi mở đầu cho phong trào Thơ Mới phải chăng là ngẫu nhiên? Câu hỏi ấy ngấm ngầm thúc đẩy tôi tìm hiểu nhân vật này.
● Ông có thể giới thiệu đôi chút về hành trình "đi tìm Phan Khôi" của ông?
Ban đầu công việc cũng khó khăn. Tôi bắt đầu từ những cái dễ tìm: Nam phong tạp chí, An Nam tạp chí, Tri tân.Trong 3 tờ này, chỉ ở Nam phong có một ít tác phẩm PK.
Về mặt này mấy cuốn kê biên mục lục các tờ Nam phong, Tri tân của học giả Nguyễn Khắc Xuyên là công cụ bổ trợ đắc lực; nhờ vậy mà tôi biết chắc trên Tri tân không có tác phẩm PK để khỏi mất công sục tìm trong bộ sưu tập dày dặn này. Rồi tôi cùng Trung tâm Đông Tây khai thác sưu tập Sông Hương, tờ báo duy nhất do Phan Khôi sáng lập; sưu tập Sông Hương chúng tôi đã làm xong từ lâu dưới dạng bản thảo, nhưng đến nay vẫn chưa kiếm được tài trợ để in ra.
Thời điểm vào cuộc mạnh mẽ nhất của tôi là một tháng tìm tài liệu ở mấy thư viện Đại học ở Mỹ. Tôi đã có dịp kể chuyện Peter Zinoman đến tìm tôi ở Hà Nội hồi 1997 để hỏi tư liệu xung quanh văn nghiệp Vũ Trọng Phụng, và từ đấy quen nhau; đến giữa năm 2000, Peter Zinoman mời tôi thăm khoa sử Đại học Berkeley, California, luôn thể cho biết tại các thư viện đại học Mỹ có một số lượng kha khá vi phim (microfilm) báo chí cũ Việt Nam, do mua được từ Pháp, hy vọng tôi có thể tìm trong số đó các bài vở cần tìm. Trước lúc tôi lên đường, vợ chồng Peter còn cẩn thận fax cho tôi một bản kê các báo cũ Việt Nam trước 1945 hiện có tại các thư viện đại học Mỹ, bảo tôi “chấm” trước dăm bảy tờ thật cần để có thể mượn trước đưa về một nơi. Thế là tôi có trên 20 ngày miệt mài đọc tại thư viện đại học Berkeley, 5 ngày đọc tại thư viện đại học Cornell, tiền chụp tài liệu phải tính bằng ngàn đô, hành lý trở về là mấy chục kí giấy A4 chụp photocopy; hành động của mình nếu không gọi là đưa “châu về Hợp Phố” thì cũng là “trả cây về rừng”, thế mà về đến Nội Bài còn lo….
Tôi đọc và chụp, đồng thời ghi thành danh mục bài PK đăng các tờ Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm…, lại còn tìm được một ít tài liệu hiếm nữa của Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Kim Lân…
Thời điểm mà tôi muốn “eureka” lên một mình là khi tôi dám chắc có bài PK đăng Đông Pháp thời báo năm 1928, dù trên đó không hề có chữ “Phan Khôi” nào hết. Tôi thấy Nam âm thi thoại được đăng tiếp tục ở đây, chỉ ký tác giả C.D.; “Nam âm thi thoại” thì chắc chắn của PK rồi; vậy C.D. tức Chương Dân, tức Phan Khôi; và tôi lấy tất cả các bài ký C. D. trên báo đó.
Tất nhiên nguồn tư liệu lấy được từ chuyến đi nói trên lại vẫn cần được bổ sung bằng nguồn tư liệu có trong nước. Năm 2002, tôi và Zinoman đọc ở thư viện quốc gia Hà Nội đã được tiếp sức bởi một chuyên gia thư viện khác: chị Judith Henchy; chị là người Anh, làm việc ở thư viện đại học bang Washington (Mỹ), sang Việt Nam đọc để viết luận án về Nguyễn An Ninh, thấy báo chí cũ ở đây khó tìm, chị đã giúp tìm tài trợ cho một dự án kiểm định và sắp xếp lại báo chí cũ, vậy là nhân thể có được một tổng mục lục, giống như một "bản đồ". Tôi cũng nhờ cái bản đồ ấy mà dễ tiếp cận kho báo chí trước năm 1945 lưu trữ tại thư viện quốc gia (Đến hiện nay thì cơ sở dữ liệu lưu trữ tại thư viện quốc gia đã được số hoá, có thể tra cứu từ xa theo địa chỉ: http://www.nlv.gov.vn ). Các tư liệu tôi lấy ở Thần chung, Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn…đều được bổ sung nhờ bản gốc các báo đó lưu tại thư viện quốc gia; riêng tờ Trung lập mà từ tháng 5.1930 đến 1933 có dày đặc bài của PK thì chỉ thư viện quốc gia ở Hà Nội là có, và đây là bộ sưu tập đầy đủ.
Qua việc đọc và lấy tư liệu từ những nguồn nói trên, trước mắt tôi, diện mạo hoạt động của ngòi bút Phan Khôi hiện diện rõ dần.
● Như thế là ông đã tham khảo được khá nhiều nguồn lưu trữ khác nhau. Vậy đâu là nơi cung cấp tư liệu chính và ông có nhận định gì về tình trạng tư liệu ở những lưu trữ này?
Nơi chủ yếu cho tư liệu Việt Nam vẫn là thư viện quốc gia Hà Nội. Đây là kết luận chung của giới nghiên cứu Việt học nước ngoài. Mấy năm nay, hè nào tôi cũng gặp David Marr từ Úc sang đây đọc báo Việt cũ; tôi với ông ta có hẹn nhau sẽ có lúc cùng đi uống bia mà chưa lúc nào thực hiện vì cùng mải đọc như nhau!
Nhưng tư liệu ở nguồn chính này cũng đầy khiếm khuyết nên mọi chuyên gia Việt học đều không thể không tìm kiếm ở những kho tư liệu khác. Nhân đây cũng xin nói một thực trạng là thư tịch sách báo quốc ngữ trước 1945 còn lại cho đến ngày nay là hết sức tản mác, lại chưa hề một lần được kê biên rốt ráo. Không một kho tư liệu nào giữ được đầy đủ, vậy mà đây lại là nguồn tài liệu gốc tối quan trọng phục vụ cho một loạt các ngành nghiên cứu từ sử học, văn học, tư tưởng, văn hóa…Vì thế ngay ở mảng tư liệu bằng chữ quốc ngữ từ trước 1945 vẫn cần đặt vấn đề liên kết, phối hợp các kho tư liệu trong và ngoài nước. Cần phải làm điều này sớm chừng nào hay chừng đó. Nên nhớ, với các tư liệu Hán Nôm, sau khi liên kết các nguồn thư tịch trong và ngoài Việt Nam, với việc biên soạn và xuất bản được bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam ( in 1993, 3 tập, gần 3000 trang, kê tên trên 5000 đơn vị tư liệu), khả năng “nối mạng” để tìm tài liệu đã khả quan hơn trước. Theo tôi, với các mảng tư liệu chữ Việt 1965-1945, rồi 1945-1954, v.v…cũng cần những nỗ lực liên kết tương tự.
● Thưa ông, sau khi đã hoàn thành được một chặng quan trọng của việc sưu tập các bài viết về Phan Khôi, ông có thể cho biết Phan Khôi là ai?
Thực ra tôi mới chỉ sưu tầm tác phẩm của Phan Khôi chứ chưa đặt bút để luận bàn khái quát về nhân vật này; nhân được hỏi, xin phác thảo một vài nhận định.
Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí; nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Có thể đi vào chi tiết hơn để thấy ở ông một nhà tư tưởng sớm biết đặt ra vấn đề của di sản tư tưởng Nho giáo cổ truyền trước thời đại mới, sớm đặt vấn đề tiếp nhận tư tưởng Âu Tây để đổi mới xã hội, rõ nhất là xây dựng quan niệm mới về người phụ nữ trong sự bình đẳng về giới tính, xem đổi mới vị trí người phụ nữ là góp phần đổi mới xã hội; một nhà xã hội học biết phân tích sự chuyển động bên trong xã hội và đặt ra các vấn đề về phẩm chất người hoạt động chính trị, phẩm chất quan chức trong bộ máy quản lý; một nhà Hán học và Trung Quốc học, am tường văn hoá cổ Trung Hoa và hiểu biết các vấn đề của xã hội Trung Hoa đương thời mình; một nhà ngữ học vừa nghiên cứu tiếng Việt vừa tác động đến sự phát triển của tiếng Việt trong thời hiện đại; một nhà thơ, một dịch giả văn học, là một trong những người đã dịch Kinh Thánh Thiên Chúa giáo ra tiếng Việt; một nhà văn xuôi với thể hài đàm mà ông là người mở đầu ở Việt Nam, một nhà phê bình văn học đã tác động thật sự đến sự phát triển của nền văn học tiếng Việt.
Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ; ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hoá cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…, ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho tri thức.
● Quan sát những gì mà Phan Khôi để lại, có thể thấy, ông là một trong những kiến trúc sư chuẩn bị cho cuộc cách mạng văn học trong thập niên 30 của thế kỉ trước.
Đúng vậy. Ông chuẩn bị cho cuộc cách mạng ấy trước hết là về ngôn ngữ. Từ kinh nghiệm tân văn nghệ Trung Quốc, ông hiểu rằng việc họ chuyển sang dùng bạch thoại để viết văn có nghĩa là đưa ngôn ngữ sống đương đại trở lại làm chất liệu cho sáng tạo văn chương đương đại, thay cho việc sử dụng văn ngôn là thứ văn phong đã xa cách đời sống, đã gần trở thành tử ngữ như chữ Latin. Đối với Việt Nam thời Phan Khôi, việc chữ Quốc ngữ bắt đầu đi vào đời sống hàng ngày cùng lúc với sự xuất hiện của những phương tiện truyền thông mới là báo in sách in cũng đặt ra vấn đề xây dựng những lối viết tiếng Việt mới, đáp ứng các nhu cầu từ thực dụng tới nghệ thuật, cho báo chí, cho các loại văn, song tất cả phải dựa trên căn bản tiếng nói đời thường đương thời.
● Nhưng đó là khuynh hướng chung của toàn bộ văn chương học thuật ở Nam kì cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Vậy đâu là đóng góp riêng của Phan Khôi.
Cái riêng của Phan Khôi là ở chỗ trong khi chủ trương xây dựng tiếng Việt trên căn bản ngôn ngữ nói, ông vẫn chống lại khuynh hướng tuyệt đối hóa các phương ngữ, một dạng "li khai" ngôn ngữ có thể dẫn đến li khai trong nội bộ dân tộc. Ông luôn đấu tranh cho một tiếng Việt chuẩn mực, chung cho toàn quốc mà mỗi phương ngữ chỉ là một biến thể của tiếng Việt chung đó. Phải đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1929-1930, trong lúc có những người đã đòi soạn riêng sách giáo khoa tiếng miền Nam thì mới thấy đóng góp của Phan Khôi và các đồng nghiệp của ông ở tờ Thần chung khi xới lên cuộc tranh luận bảo vệ sự thống nhất của tiếng Việt là quan trọng.
● Nhưng đóng góp của Phan Khôi không chỉ có ngôn ngữ…
Còn cả trong lĩnh vực tư tưởng. Ta biết rằng trước cả Tự lực văn đoàn, ông là người khởi xướng trào lưu nữ quyền với những bài phê phán những mặt trái của đại gia đình truyền thống, vạch ra cả tính phi nhân khi chế độ đại gia đình đưa đến nạn tự vẫn của một số thanh niên, do nó hạn chế sự tự chủ của cá nhân những con người đã ở lứa tuổi trưởng thành. Ông phê phán Khổng giáo đặc biệt ở phương diện hệ tư tưởng này bảo vệ cho chế độ quân chủ chuyên chế. Ông giống như người "giải phóng mặt bằng" cho những người tiếp theo trong đó có các nhà Thơ mới và nhóm Tự lực văn đoàn, dựng trên đó những công trình của mình. Tất nhiên đó là một thế hệ mới đầy tài năng, đã thực hiện đôi khi ở mức tuyệt vời hơn hẳn điều mà người tiền bối có thể hình dung.
● Vậy thì câu trả hỏi của ông đặt ra khi bắt đầu tìm hiểu Phan Khôi đã có lời giải đáp. Nhưng hình như những đóng góp của Phan Khôi đối với xã hội và văn hóa Việt Nam không chỉ giới hạn trong địa hạt văn chương.
Trước hết là văn hóa. Phan Khôi là người có ý thức về di sản văn hóa truyền thống của người Việt và nhu cầu tổng kết di sản đó. Nhưng ông cũng là người vượt qua được ảo tưởng mang tính phóng đại về tầm lớn lao của nền văn hóa đó. Điều đó thể hiện rất rõ trong các cuộc tranh luận về quốc học, quốc văn. Là nhà báo, ông là người theo sát các diễn biến chính trị ở Việt Nam trong những năm đầu thập niên 1930: các cuộc biểu tình, các đảng chính trị, giới chính khách ở Nam Kì. Ông sớm nhận ra những hủ bại của giới "chính trị gia" đó và từ đó, ông bắt đầu hình dung về một xã hội dân sự kiểu Tây phương, − một xã hội mà theo ông hình dung là Việt Nam sẽ phải vận động tới đó. Và ông chuẩn bị cho xã hội đó khi đề cập đến một loạt chuyện: chuyện chính đảng, lập hội, biểu tình, quan hệ chính đảng với quần chúng, vấn đề tự do ngôn luận…
● Ông đã nói Phan Khôi không chỉ là một nhà Hán học mà còn là một nhà Trung Quốc học am hiểu xã hội Trung Quốc đương đại thời ông sống. Liệu điều đó có tác dụng gì cho việc đặt ra và giải quyết những vấn đề của xã hội Việt Nam?
Phan Khôi là người quan sát kĩ xã hội Trung Quốc từ sau cuộc cách mạng của Tôn Trung Sơn cho đến nền cai trị của Quốc Dân Đảng, giai đoạn những năm 1920 − 1930. Một trong những vấn đề mà ngay từ thời đó, qua thực tế Trung Quốc ông đã sớm nhận ra là sự khó khăn của các xã hội Khổng giáo khi chuyển đổi từ thể chế quân chủ chuyên chế sang thể chế dân chủ cộng hòa. Phan Khôi chỉ ra rất sớm cái phương cách “dĩ đảng trị quốc” trên thực tế đã được dùng như phương cách thay thế tạm thời cho quân quyền sau khi đã lật đổ quân quyền. Xem thế thì thấy những xã hội mang nặng truyền thống Khổng giáo sẽ rất khó khăn trong việc xây dựng một hiến pháp dân chủ và một thể chế chính trị thượng tôn hiến pháp.
● Thưa ông, cũng là người có điều kiện "quan sát" Phan Khôi, tôi có ấn tượng rằng Phan Khôi là một người cô độc. Ông có chia sẻ với tôi ấn tượng này?
Điều này cũng đúng. Thiếu Sơn từng nói ở Phan Khôi có nét "bất cận nhân tình". Điều ấy không phải không có. Trọng chân lí hơn thầy, thẳng thắn, quyết liệt và không khoan nhượng không thỏa hiệp trong sự truy tìm chân lí. Đó là nét tính cách Phan Khôi. Hình như tính cách ấy có một cái gì thật khó dung hòa với nền văn hóa "duy tình", "chín bỏ làm mười" của người Việt. Không thể phủ nhận Phan Khôi là một người yêu dân tộc mình. Nhưng cũng hiếm ai như ông đã chỉ ra không thiếu một thói xấu nào của dân tộc mình. Một con người như thế thường bất hạnh. Nhưng tính cách ấy lại không sợ bất hạnh đâu. Cái khoẻ khoắn, cái sức mạnh của tính cách ấy nằm trong sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm với nhận thức của mình.
● Thưa ông, trong hành trình đi tìm Phan Khôi của mình, ông có tiếp nhận được gì từ các học giả miền Nam, những người đã đi trước trong việc đề cập đến nhân vật này?
Tôi có đọc họ. Từ Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Bằng Giang cho đến Vu Gia, Nguyễn Q.Thắng.Trong chuyện này có cái gì đó giống như một cuộc chạy tiếp sức vậy. Họ là những đi trước trong các hồ sơ tư liệu và cấp cho mình những gợi ý về văn học sử; ở mức cao hơn, họ và công chúng miền Nam trước 1945 gửi cho chúng ta những tín hiệu về giá trị; những thiện cảm đối với các tên tuổi này hay khác thông báo một điều gì đó có khi quan trọng hơn cả những tư liệu làm sẵn.
● Quan sát công việc của ông trong khoảng gần chục năm trở lại đây, có thể thấy ông đã chọn cho mình công việc của một nhà biên khảo, sưu tầm tư liệu, lập các hồ sơ cá nhân của các tác giả quá khứ. Điều gì đã dẫn ông đến lựa chọn này?
Các sách nghiên cứu văn học sử 1900-45 ở miền Bắc tỏ ra quá nghèo về cứ liệu, lại tập trung một cách không bình thường vào một số tác giả, tác phẩm. Nhà trường và truyền thông vừa "tiếp tay" vừa làm “lộ tẩy” điều này. Những ai không quá hời hợt đều không thể bằng lòng với tình trạng đó; người ta yêu cầu được thấy một lịch sử văn học, một lịch sử văn hóa khác, phồn tạp hơn và sống động hơn. Và tôi thấy mình có nhu cầu đi tìm cái hình ảnh sống động đó trong những tài liệu gốc, những tài liệu mà thậm chí nhiều người còn chưa biết đến. Hơn nữa, tôi thấy trong nghiên cứu văn học sử và nhiều bộ môn xã hội và nhân văn khác có tình trạng là thiếu điều tra cơ bản, thiếu việc làm kỹ những hồ sơ cho từng đề tài, trước khi nêu ra những luận bàn tổng kết về quá khứ. Có những nơi tuy có điều tra cơ bản nhưng hồ sơ làm xong cất một chỗ, người viết văn học sử không dùng tới, thậm chí là có những người viết văn học sử không cần dữ liệu cơ bản, họ cho là chỉ cần viết trên cái trí nhớ của mình, chỉ ngồi luận là được rồi.
Ở đây phải đặt vấn đề lại: ta hiểu làm văn học sử Việt Nam là thế nào? Tôi cho rằng: Nếu bạn đã nghiên cứu văn học quá khứ, ví dụ một giai đoạn 1930-45, thì dứt khoát bạn không thể bỏ qua một cái tên nào, một tác phẩm nào, tức là trong những kênh xuất hiện của văn học là các tờ báo, tạp chí, sách xuất bản, phải kiểm kê hết. Thế là có hai nhóm: một là sách, phải thống kê hết ra, hai là báo chí, cũng phải lọc hết bài vở tác phẩm các loại đăng trên đó, thống kê hết ra. Còn chuyện ai hơn ai kém, quyển hay quyển dở, ấy là quan điểm đánh giá, mà chuyện đánh giá thì tuỳ thuộc chủ quan, tuỳ thuộc thiện cảm ác cảm từng thời từng giới. Xét theo quan niệm này thì văn học sử của ta, ví dụ một đoạn 1930-45 thôi, còn bỏ quên hàng trăm tác giả, tác phẩm; đó là chưa nói có thể nghiên cứu các chủ thể văn hoá từng thời như các nhóm phái, từng tờ báo, tạp chí, nhà xuất bản…Nghiên cứu văn học sử là nghiên cứu hoạt động sáng tạo ngôn từ của con người trong lịch sử; làm sao có thể bằng lòng với một bản thu nhỏ về tác gia tác phẩm mà ban đầu chỉ cốt dùng để dạy đủ mấy trăm tiết cho học trò, rồi về sau lại vênh vang cho rằng văn học giai đoạn ấy tất cả chỉ có thế mà thôi?
● Là người đã "đằm đìa" trong các kho tư liệu, ông có nhận xét gì về tình trạng bảo tồn tư liệu quá khứ nhất là mảng sách báo trước năm 1945 bằng chữ quốc ngữ?
Rất đáng báo động. Nó là hệ quả của lịch sử. Lưu trữ ở cả hai miền không tốt. Không tốt từ khởi nguồn. Mặc dù chế độ thực dân làm được một việc cũng tốt là từ năm 1922 bắt đầu quy định chế độ lưu chiểu ấn phẩm, nhưng chế độ này được thực hiện ở cả hai miền đều không tốt. Thế nên bộ mặt thật của xuất bản báo chí ở mọi kho tư liệu dồn lại đều thiếu thốn rất nhiều. Thời trước 1945 hình như người Pháp cũng không đánh giá cao lắm những gì đang được làm ra đương thời ở Việt Nam. Các chuyên gia giỏi của họ tập trung hết tài lực vào tư liệu Hán Nôm. Họ đi dập bia, đi mua sách, thuê chép sách chữ Hán, nhưng sách báo đương thời thì hình như được chăng hay chớ. Tiếp theo là cách mạng và kháng chiến rồi chia cắt hai miền. Khi đất nước chia đôi hình như tư liệu cũng bị mang đi, bị chia sẻ. Rồi sau đó suốt những năm 1950−1980 là một tâm lí ngự trị trong nhiều giới với niềm tin rằng mọi cái cũ đều chẳng còn giá trị gì, người ta nghĩ rằng di sản quá khứ đáng bị vứt hết. Một thái độ như thế đối với quá khứ đã ảnh hưởng nhiều và xấu tới công tác tư liệu. Giở lại tư liệu nhất là tư liệu liên quan đến những tác giả bị phê một thời sẽ thấy một thái độ rất ấu trĩ của những người tiếp cận tư liệu. Có cuốn sách của Vũ Trọng Phụng trong đó người ta ghi đầy những lời chửi bới xúc phạm. Thế nên phải nhận rằng thái độ hư vô đối với quá khứ đã có tác hại trong một khoảng thời gian không ngắn. Ngày nay, tình hình đã có thay đổi, nhưng nếu không hành động kịp thời ngay từ bây giờ thì tôi e rằng đến một lúc nào đó, cũng gần thôi, mọi việc sẽ là quá muộn.
● Xin cảm ơn ông đã chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ của mình.
Phạm Xuân Thạch thực hiện
Trở lại trang “Hồ Sơ Phan Khôi”
Nhân dịp kỉ niệm 120 năm sinh Phan Khôi (1887-1959), và sự ra mắt những tập sách mới nhất trong bộ Phan Khôi, tác phẩm đăng báo do NXB Hội nhà văn và Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây phối hợp xuất bản, phóng viên TIA SÁNG đã có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, người sưu tầm và biên soạn bộ sách này. Ông đã chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ của mình về Phan Khôi, về công tác nghiên cứu lịch sử văn học, văn hóa và các nguồn tư liệu ở Việt Nam hiện nay.
● Chào ông, trước hết xin được chúc mừng ông nhân dịp hai tập sách mới nhất trong loạt sách Phan Khôi tác phẩm đăng báo do ông sưu tầm đã được ra mắt đúng dịp kỉ niệm 120 năm sinh nhà văn hóa này. Thưa ông, công việc sưu tầm di sản văn hóa của Phan Khôi đã được ông bắt đầu từ bao giờ?
Có thể nói là ngay từ những năm 1997, 1998 nhưng công việc chỉ thực sự bắt đầu từ năm 2000. Nguyên nhân trực tiếp là cuộc gặp gỡ với ban giám đốc nhà xuất bản Đà Nẵng và một người bạn vong niên thời học đại học của tôi là họ hàng xa của gia đình Phan Khôi. Tôi đã được họ ủy thác cho công việc này. Nhưng sâu xa hơn, mối quan tâm của tôi đã có từ những đầu những năm 1990, lúc tôi làm nhiều loại sách, đều là các sưu tập Thơ Mới, nhân kỷ niệm 60 năm phong trào này (1932-92). Ngay hồi đó ở tôi xuất hiện câu hỏi: việc Phan Khôi mở đầu cho phong trào Thơ Mới phải chăng là ngẫu nhiên? Câu hỏi ấy ngấm ngầm thúc đẩy tôi tìm hiểu nhân vật này.
● Ông có thể giới thiệu đôi chút về hành trình "đi tìm Phan Khôi" của ông?
Ban đầu công việc cũng khó khăn. Tôi bắt đầu từ những cái dễ tìm: Nam phong tạp chí, An Nam tạp chí, Tri tân.Trong 3 tờ này, chỉ ở Nam phong có một ít tác phẩm PK.
Về mặt này mấy cuốn kê biên mục lục các tờ Nam phong, Tri tân của học giả Nguyễn Khắc Xuyên là công cụ bổ trợ đắc lực; nhờ vậy mà tôi biết chắc trên Tri tân không có tác phẩm PK để khỏi mất công sục tìm trong bộ sưu tập dày dặn này. Rồi tôi cùng Trung tâm Đông Tây khai thác sưu tập Sông Hương, tờ báo duy nhất do Phan Khôi sáng lập; sưu tập Sông Hương chúng tôi đã làm xong từ lâu dưới dạng bản thảo, nhưng đến nay vẫn chưa kiếm được tài trợ để in ra.
Thời điểm vào cuộc mạnh mẽ nhất của tôi là một tháng tìm tài liệu ở mấy thư viện Đại học ở Mỹ. Tôi đã có dịp kể chuyện Peter Zinoman đến tìm tôi ở Hà Nội hồi 1997 để hỏi tư liệu xung quanh văn nghiệp Vũ Trọng Phụng, và từ đấy quen nhau; đến giữa năm 2000, Peter Zinoman mời tôi thăm khoa sử Đại học Berkeley, California, luôn thể cho biết tại các thư viện đại học Mỹ có một số lượng kha khá vi phim (microfilm) báo chí cũ Việt Nam, do mua được từ Pháp, hy vọng tôi có thể tìm trong số đó các bài vở cần tìm. Trước lúc tôi lên đường, vợ chồng Peter còn cẩn thận fax cho tôi một bản kê các báo cũ Việt Nam trước 1945 hiện có tại các thư viện đại học Mỹ, bảo tôi “chấm” trước dăm bảy tờ thật cần để có thể mượn trước đưa về một nơi. Thế là tôi có trên 20 ngày miệt mài đọc tại thư viện đại học Berkeley, 5 ngày đọc tại thư viện đại học Cornell, tiền chụp tài liệu phải tính bằng ngàn đô, hành lý trở về là mấy chục kí giấy A4 chụp photocopy; hành động của mình nếu không gọi là đưa “châu về Hợp Phố” thì cũng là “trả cây về rừng”, thế mà về đến Nội Bài còn lo….
Tôi đọc và chụp, đồng thời ghi thành danh mục bài PK đăng các tờ Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm…, lại còn tìm được một ít tài liệu hiếm nữa của Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Kim Lân…
Thời điểm mà tôi muốn “eureka” lên một mình là khi tôi dám chắc có bài PK đăng Đông Pháp thời báo năm 1928, dù trên đó không hề có chữ “Phan Khôi” nào hết. Tôi thấy Nam âm thi thoại được đăng tiếp tục ở đây, chỉ ký tác giả C.D.; “Nam âm thi thoại” thì chắc chắn của PK rồi; vậy C.D. tức Chương Dân, tức Phan Khôi; và tôi lấy tất cả các bài ký C. D. trên báo đó.
Tất nhiên nguồn tư liệu lấy được từ chuyến đi nói trên lại vẫn cần được bổ sung bằng nguồn tư liệu có trong nước. Năm 2002, tôi và Zinoman đọc ở thư viện quốc gia Hà Nội đã được tiếp sức bởi một chuyên gia thư viện khác: chị Judith Henchy; chị là người Anh, làm việc ở thư viện đại học bang Washington (Mỹ), sang Việt Nam đọc để viết luận án về Nguyễn An Ninh, thấy báo chí cũ ở đây khó tìm, chị đã giúp tìm tài trợ cho một dự án kiểm định và sắp xếp lại báo chí cũ, vậy là nhân thể có được một tổng mục lục, giống như một "bản đồ". Tôi cũng nhờ cái bản đồ ấy mà dễ tiếp cận kho báo chí trước năm 1945 lưu trữ tại thư viện quốc gia (Đến hiện nay thì cơ sở dữ liệu lưu trữ tại thư viện quốc gia đã được số hoá, có thể tra cứu từ xa theo địa chỉ: http://www.nlv.gov.vn ). Các tư liệu tôi lấy ở Thần chung, Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn…đều được bổ sung nhờ bản gốc các báo đó lưu tại thư viện quốc gia; riêng tờ Trung lập mà từ tháng 5.1930 đến 1933 có dày đặc bài của PK thì chỉ thư viện quốc gia ở Hà Nội là có, và đây là bộ sưu tập đầy đủ.
Qua việc đọc và lấy tư liệu từ những nguồn nói trên, trước mắt tôi, diện mạo hoạt động của ngòi bút Phan Khôi hiện diện rõ dần.
● Như thế là ông đã tham khảo được khá nhiều nguồn lưu trữ khác nhau. Vậy đâu là nơi cung cấp tư liệu chính và ông có nhận định gì về tình trạng tư liệu ở những lưu trữ này?
Nơi chủ yếu cho tư liệu Việt Nam vẫn là thư viện quốc gia Hà Nội. Đây là kết luận chung của giới nghiên cứu Việt học nước ngoài. Mấy năm nay, hè nào tôi cũng gặp David Marr từ Úc sang đây đọc báo Việt cũ; tôi với ông ta có hẹn nhau sẽ có lúc cùng đi uống bia mà chưa lúc nào thực hiện vì cùng mải đọc như nhau!
Nhưng tư liệu ở nguồn chính này cũng đầy khiếm khuyết nên mọi chuyên gia Việt học đều không thể không tìm kiếm ở những kho tư liệu khác. Nhân đây cũng xin nói một thực trạng là thư tịch sách báo quốc ngữ trước 1945 còn lại cho đến ngày nay là hết sức tản mác, lại chưa hề một lần được kê biên rốt ráo. Không một kho tư liệu nào giữ được đầy đủ, vậy mà đây lại là nguồn tài liệu gốc tối quan trọng phục vụ cho một loạt các ngành nghiên cứu từ sử học, văn học, tư tưởng, văn hóa…Vì thế ngay ở mảng tư liệu bằng chữ quốc ngữ từ trước 1945 vẫn cần đặt vấn đề liên kết, phối hợp các kho tư liệu trong và ngoài nước. Cần phải làm điều này sớm chừng nào hay chừng đó. Nên nhớ, với các tư liệu Hán Nôm, sau khi liên kết các nguồn thư tịch trong và ngoài Việt Nam, với việc biên soạn và xuất bản được bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam ( in 1993, 3 tập, gần 3000 trang, kê tên trên 5000 đơn vị tư liệu), khả năng “nối mạng” để tìm tài liệu đã khả quan hơn trước. Theo tôi, với các mảng tư liệu chữ Việt 1965-1945, rồi 1945-1954, v.v…cũng cần những nỗ lực liên kết tương tự.
● Thưa ông, sau khi đã hoàn thành được một chặng quan trọng của việc sưu tập các bài viết về Phan Khôi, ông có thể cho biết Phan Khôi là ai?
Thực ra tôi mới chỉ sưu tầm tác phẩm của Phan Khôi chứ chưa đặt bút để luận bàn khái quát về nhân vật này; nhân được hỏi, xin phác thảo một vài nhận định.
Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí; nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Có thể đi vào chi tiết hơn để thấy ở ông một nhà tư tưởng sớm biết đặt ra vấn đề của di sản tư tưởng Nho giáo cổ truyền trước thời đại mới, sớm đặt vấn đề tiếp nhận tư tưởng Âu Tây để đổi mới xã hội, rõ nhất là xây dựng quan niệm mới về người phụ nữ trong sự bình đẳng về giới tính, xem đổi mới vị trí người phụ nữ là góp phần đổi mới xã hội; một nhà xã hội học biết phân tích sự chuyển động bên trong xã hội và đặt ra các vấn đề về phẩm chất người hoạt động chính trị, phẩm chất quan chức trong bộ máy quản lý; một nhà Hán học và Trung Quốc học, am tường văn hoá cổ Trung Hoa và hiểu biết các vấn đề của xã hội Trung Hoa đương thời mình; một nhà ngữ học vừa nghiên cứu tiếng Việt vừa tác động đến sự phát triển của tiếng Việt trong thời hiện đại; một nhà thơ, một dịch giả văn học, là một trong những người đã dịch Kinh Thánh Thiên Chúa giáo ra tiếng Việt; một nhà văn xuôi với thể hài đàm mà ông là người mở đầu ở Việt Nam, một nhà phê bình văn học đã tác động thật sự đến sự phát triển của nền văn học tiếng Việt.
Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ; ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hoá cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…, ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho tri thức.
● Quan sát những gì mà Phan Khôi để lại, có thể thấy, ông là một trong những kiến trúc sư chuẩn bị cho cuộc cách mạng văn học trong thập niên 30 của thế kỉ trước.
Đúng vậy. Ông chuẩn bị cho cuộc cách mạng ấy trước hết là về ngôn ngữ. Từ kinh nghiệm tân văn nghệ Trung Quốc, ông hiểu rằng việc họ chuyển sang dùng bạch thoại để viết văn có nghĩa là đưa ngôn ngữ sống đương đại trở lại làm chất liệu cho sáng tạo văn chương đương đại, thay cho việc sử dụng văn ngôn là thứ văn phong đã xa cách đời sống, đã gần trở thành tử ngữ như chữ Latin. Đối với Việt Nam thời Phan Khôi, việc chữ Quốc ngữ bắt đầu đi vào đời sống hàng ngày cùng lúc với sự xuất hiện của những phương tiện truyền thông mới là báo in sách in cũng đặt ra vấn đề xây dựng những lối viết tiếng Việt mới, đáp ứng các nhu cầu từ thực dụng tới nghệ thuật, cho báo chí, cho các loại văn, song tất cả phải dựa trên căn bản tiếng nói đời thường đương thời.
● Nhưng đó là khuynh hướng chung của toàn bộ văn chương học thuật ở Nam kì cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Vậy đâu là đóng góp riêng của Phan Khôi.
Cái riêng của Phan Khôi là ở chỗ trong khi chủ trương xây dựng tiếng Việt trên căn bản ngôn ngữ nói, ông vẫn chống lại khuynh hướng tuyệt đối hóa các phương ngữ, một dạng "li khai" ngôn ngữ có thể dẫn đến li khai trong nội bộ dân tộc. Ông luôn đấu tranh cho một tiếng Việt chuẩn mực, chung cho toàn quốc mà mỗi phương ngữ chỉ là một biến thể của tiếng Việt chung đó. Phải đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1929-1930, trong lúc có những người đã đòi soạn riêng sách giáo khoa tiếng miền Nam thì mới thấy đóng góp của Phan Khôi và các đồng nghiệp của ông ở tờ Thần chung khi xới lên cuộc tranh luận bảo vệ sự thống nhất của tiếng Việt là quan trọng.
● Nhưng đóng góp của Phan Khôi không chỉ có ngôn ngữ…
Còn cả trong lĩnh vực tư tưởng. Ta biết rằng trước cả Tự lực văn đoàn, ông là người khởi xướng trào lưu nữ quyền với những bài phê phán những mặt trái của đại gia đình truyền thống, vạch ra cả tính phi nhân khi chế độ đại gia đình đưa đến nạn tự vẫn của một số thanh niên, do nó hạn chế sự tự chủ của cá nhân những con người đã ở lứa tuổi trưởng thành. Ông phê phán Khổng giáo đặc biệt ở phương diện hệ tư tưởng này bảo vệ cho chế độ quân chủ chuyên chế. Ông giống như người "giải phóng mặt bằng" cho những người tiếp theo trong đó có các nhà Thơ mới và nhóm Tự lực văn đoàn, dựng trên đó những công trình của mình. Tất nhiên đó là một thế hệ mới đầy tài năng, đã thực hiện đôi khi ở mức tuyệt vời hơn hẳn điều mà người tiền bối có thể hình dung.
● Vậy thì câu trả hỏi của ông đặt ra khi bắt đầu tìm hiểu Phan Khôi đã có lời giải đáp. Nhưng hình như những đóng góp của Phan Khôi đối với xã hội và văn hóa Việt Nam không chỉ giới hạn trong địa hạt văn chương.
Trước hết là văn hóa. Phan Khôi là người có ý thức về di sản văn hóa truyền thống của người Việt và nhu cầu tổng kết di sản đó. Nhưng ông cũng là người vượt qua được ảo tưởng mang tính phóng đại về tầm lớn lao của nền văn hóa đó. Điều đó thể hiện rất rõ trong các cuộc tranh luận về quốc học, quốc văn. Là nhà báo, ông là người theo sát các diễn biến chính trị ở Việt Nam trong những năm đầu thập niên 1930: các cuộc biểu tình, các đảng chính trị, giới chính khách ở Nam Kì. Ông sớm nhận ra những hủ bại của giới "chính trị gia" đó và từ đó, ông bắt đầu hình dung về một xã hội dân sự kiểu Tây phương, − một xã hội mà theo ông hình dung là Việt Nam sẽ phải vận động tới đó. Và ông chuẩn bị cho xã hội đó khi đề cập đến một loạt chuyện: chuyện chính đảng, lập hội, biểu tình, quan hệ chính đảng với quần chúng, vấn đề tự do ngôn luận…
● Ông đã nói Phan Khôi không chỉ là một nhà Hán học mà còn là một nhà Trung Quốc học am hiểu xã hội Trung Quốc đương đại thời ông sống. Liệu điều đó có tác dụng gì cho việc đặt ra và giải quyết những vấn đề của xã hội Việt Nam?
Phan Khôi là người quan sát kĩ xã hội Trung Quốc từ sau cuộc cách mạng của Tôn Trung Sơn cho đến nền cai trị của Quốc Dân Đảng, giai đoạn những năm 1920 − 1930. Một trong những vấn đề mà ngay từ thời đó, qua thực tế Trung Quốc ông đã sớm nhận ra là sự khó khăn của các xã hội Khổng giáo khi chuyển đổi từ thể chế quân chủ chuyên chế sang thể chế dân chủ cộng hòa. Phan Khôi chỉ ra rất sớm cái phương cách “dĩ đảng trị quốc” trên thực tế đã được dùng như phương cách thay thế tạm thời cho quân quyền sau khi đã lật đổ quân quyền. Xem thế thì thấy những xã hội mang nặng truyền thống Khổng giáo sẽ rất khó khăn trong việc xây dựng một hiến pháp dân chủ và một thể chế chính trị thượng tôn hiến pháp.
● Thưa ông, cũng là người có điều kiện "quan sát" Phan Khôi, tôi có ấn tượng rằng Phan Khôi là một người cô độc. Ông có chia sẻ với tôi ấn tượng này?
Điều này cũng đúng. Thiếu Sơn từng nói ở Phan Khôi có nét "bất cận nhân tình". Điều ấy không phải không có. Trọng chân lí hơn thầy, thẳng thắn, quyết liệt và không khoan nhượng không thỏa hiệp trong sự truy tìm chân lí. Đó là nét tính cách Phan Khôi. Hình như tính cách ấy có một cái gì thật khó dung hòa với nền văn hóa "duy tình", "chín bỏ làm mười" của người Việt. Không thể phủ nhận Phan Khôi là một người yêu dân tộc mình. Nhưng cũng hiếm ai như ông đã chỉ ra không thiếu một thói xấu nào của dân tộc mình. Một con người như thế thường bất hạnh. Nhưng tính cách ấy lại không sợ bất hạnh đâu. Cái khoẻ khoắn, cái sức mạnh của tính cách ấy nằm trong sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm với nhận thức của mình.
● Thưa ông, trong hành trình đi tìm Phan Khôi của mình, ông có tiếp nhận được gì từ các học giả miền Nam, những người đã đi trước trong việc đề cập đến nhân vật này?
Tôi có đọc họ. Từ Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Bằng Giang cho đến Vu Gia, Nguyễn Q.Thắng.Trong chuyện này có cái gì đó giống như một cuộc chạy tiếp sức vậy. Họ là những đi trước trong các hồ sơ tư liệu và cấp cho mình những gợi ý về văn học sử; ở mức cao hơn, họ và công chúng miền Nam trước 1945 gửi cho chúng ta những tín hiệu về giá trị; những thiện cảm đối với các tên tuổi này hay khác thông báo một điều gì đó có khi quan trọng hơn cả những tư liệu làm sẵn.
● Quan sát công việc của ông trong khoảng gần chục năm trở lại đây, có thể thấy ông đã chọn cho mình công việc của một nhà biên khảo, sưu tầm tư liệu, lập các hồ sơ cá nhân của các tác giả quá khứ. Điều gì đã dẫn ông đến lựa chọn này?
Các sách nghiên cứu văn học sử 1900-45 ở miền Bắc tỏ ra quá nghèo về cứ liệu, lại tập trung một cách không bình thường vào một số tác giả, tác phẩm. Nhà trường và truyền thông vừa "tiếp tay" vừa làm “lộ tẩy” điều này. Những ai không quá hời hợt đều không thể bằng lòng với tình trạng đó; người ta yêu cầu được thấy một lịch sử văn học, một lịch sử văn hóa khác, phồn tạp hơn và sống động hơn. Và tôi thấy mình có nhu cầu đi tìm cái hình ảnh sống động đó trong những tài liệu gốc, những tài liệu mà thậm chí nhiều người còn chưa biết đến. Hơn nữa, tôi thấy trong nghiên cứu văn học sử và nhiều bộ môn xã hội và nhân văn khác có tình trạng là thiếu điều tra cơ bản, thiếu việc làm kỹ những hồ sơ cho từng đề tài, trước khi nêu ra những luận bàn tổng kết về quá khứ. Có những nơi tuy có điều tra cơ bản nhưng hồ sơ làm xong cất một chỗ, người viết văn học sử không dùng tới, thậm chí là có những người viết văn học sử không cần dữ liệu cơ bản, họ cho là chỉ cần viết trên cái trí nhớ của mình, chỉ ngồi luận là được rồi.
Ở đây phải đặt vấn đề lại: ta hiểu làm văn học sử Việt Nam là thế nào? Tôi cho rằng: Nếu bạn đã nghiên cứu văn học quá khứ, ví dụ một giai đoạn 1930-45, thì dứt khoát bạn không thể bỏ qua một cái tên nào, một tác phẩm nào, tức là trong những kênh xuất hiện của văn học là các tờ báo, tạp chí, sách xuất bản, phải kiểm kê hết. Thế là có hai nhóm: một là sách, phải thống kê hết ra, hai là báo chí, cũng phải lọc hết bài vở tác phẩm các loại đăng trên đó, thống kê hết ra. Còn chuyện ai hơn ai kém, quyển hay quyển dở, ấy là quan điểm đánh giá, mà chuyện đánh giá thì tuỳ thuộc chủ quan, tuỳ thuộc thiện cảm ác cảm từng thời từng giới. Xét theo quan niệm này thì văn học sử của ta, ví dụ một đoạn 1930-45 thôi, còn bỏ quên hàng trăm tác giả, tác phẩm; đó là chưa nói có thể nghiên cứu các chủ thể văn hoá từng thời như các nhóm phái, từng tờ báo, tạp chí, nhà xuất bản…Nghiên cứu văn học sử là nghiên cứu hoạt động sáng tạo ngôn từ của con người trong lịch sử; làm sao có thể bằng lòng với một bản thu nhỏ về tác gia tác phẩm mà ban đầu chỉ cốt dùng để dạy đủ mấy trăm tiết cho học trò, rồi về sau lại vênh vang cho rằng văn học giai đoạn ấy tất cả chỉ có thế mà thôi?
● Là người đã "đằm đìa" trong các kho tư liệu, ông có nhận xét gì về tình trạng bảo tồn tư liệu quá khứ nhất là mảng sách báo trước năm 1945 bằng chữ quốc ngữ?
Rất đáng báo động. Nó là hệ quả của lịch sử. Lưu trữ ở cả hai miền không tốt. Không tốt từ khởi nguồn. Mặc dù chế độ thực dân làm được một việc cũng tốt là từ năm 1922 bắt đầu quy định chế độ lưu chiểu ấn phẩm, nhưng chế độ này được thực hiện ở cả hai miền đều không tốt. Thế nên bộ mặt thật của xuất bản báo chí ở mọi kho tư liệu dồn lại đều thiếu thốn rất nhiều. Thời trước 1945 hình như người Pháp cũng không đánh giá cao lắm những gì đang được làm ra đương thời ở Việt Nam. Các chuyên gia giỏi của họ tập trung hết tài lực vào tư liệu Hán Nôm. Họ đi dập bia, đi mua sách, thuê chép sách chữ Hán, nhưng sách báo đương thời thì hình như được chăng hay chớ. Tiếp theo là cách mạng và kháng chiến rồi chia cắt hai miền. Khi đất nước chia đôi hình như tư liệu cũng bị mang đi, bị chia sẻ. Rồi sau đó suốt những năm 1950−1980 là một tâm lí ngự trị trong nhiều giới với niềm tin rằng mọi cái cũ đều chẳng còn giá trị gì, người ta nghĩ rằng di sản quá khứ đáng bị vứt hết. Một thái độ như thế đối với quá khứ đã ảnh hưởng nhiều và xấu tới công tác tư liệu. Giở lại tư liệu nhất là tư liệu liên quan đến những tác giả bị phê một thời sẽ thấy một thái độ rất ấu trĩ của những người tiếp cận tư liệu. Có cuốn sách của Vũ Trọng Phụng trong đó người ta ghi đầy những lời chửi bới xúc phạm. Thế nên phải nhận rằng thái độ hư vô đối với quá khứ đã có tác hại trong một khoảng thời gian không ngắn. Ngày nay, tình hình đã có thay đổi, nhưng nếu không hành động kịp thời ngay từ bây giờ thì tôi e rằng đến một lúc nào đó, cũng gần thôi, mọi việc sẽ là quá muộn.
● Xin cảm ơn ông đã chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ của mình.
Phạm Xuân Thạch thực hiện
Trở lại trang “Hồ Sơ Phan Khôi”
Dựng lại hành trạng một trí thức
Phạm Xuân Thạch soạn theo tư liệu của gia đình
và của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân
Năm nay, tròn 120 năm sinh Phan Khôi (1887-1959), − học giả, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà ngữ học, nhà tư tưởng, nhà văn hóa, dịch giả.
Dịp kỷ niệm này đã được đánh dấu bằng một loạt sự kiện có ý nghĩa. Các tập sách sưu tầm bài viết của Phan Khôi trong các năm 1930, 1931 và các bản dịch Lỗ Tấn của ông đã được xuất bản. Một tọa đàm về ông được tạp chí Xưa và Nay, hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức (ngày 5/10/2007 tại Hà Nội) với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, học giả có uy tín như Đinh Xuân Lâm, Vu Gia, Nguyễn Q. Thắng, Lại Nguyên Ân.
Từ những vùng xa của quá khứ, từng bước một, chân dung một trí thức đang được phục dựng trở lại.
Không một con người nào có thể bị lãng quên! Nhân dịp này, xin điểm lại đôi nét tiểu sử, sự nghiệp trứ thuật và những công trình chính của Phan Khôi.
● Phan Khôi, hiệu Chương Dân sinh ngày 6.10.1887 (20 tháng 8 năm Đinh Hợi) tại làng Bảo An (nay thuộc xã Điện Quang), huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cha là Phó bảng Phan Trân, tri phủ Diên Khánh; mẹ là bà Hoàng Thị Lệ, con gái Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội- Ninh Bình) Hoàng Diệu.
● Thiếu thời Phan Khôi học chữ Hán, năm 18 tuổi đi thi, đỗ tú tài (1905), sau đó bỏ lối học khoa cử, tìm học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp; ông là một trong những người đầu tiên cắt tóc ngắn, hưởng ứng vận động duy tân.
● Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia công việc của Đông Kinh nghĩa thục. Nghĩa thục bị đóng cửa, ông đi Nam Định học chữ Pháp với Nguyễn Bá Học, vì nhà nho này bị mật thám Pháp theo dõi, ông phải trở về quê.
● Năm 1909 Phan Khôi ra Huế xin vào học trường dòng Pellerin (của nhà thờ Ki-tô giáo), được vài tháng lại phải trở về quê vì ở nhà có đại tang. Lúc này ở Quảng Nam nổ ra phong trào “xin xâu” (biểu tình đòi giảm sưu thuế), Phan Khôi tham gia (có làm bài vè Dân quạ đình công), bị bắt và cầm tù tại nhà lao Hội An cùng Huỳnh Thúc Kháng và nhiều nhân sĩ khác. Trong tù tiếp tục tự học tiếng Pháp.
● Năm 1913, được ra tù, Phan Khôi về nhà cưới vợ và mở lớp dạy chữ Hán tại nhà mình. Khi triều đình Huế bãi bỏ chế độ khoa cử chữ Hán, ông thôi dạy và khuyên học trò đi học chữ Quốc ngữ.
● Năm 1916 Phan Khôi ra Hải Phòng làm thư ký cho Công ty vận tải đường thuỷ của Bạch Thái Bưởi, nhận thấy công việc ở đây chỉ để kiếm sống chứ không hợp chí hướng riêng nên đã xin thôi việc.
● Năm 1918, do Nguyễn Bá Trác giới thiệu, Phan Khôi lên Hà Nội tham gia viết bài cho tờ Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Được một thời gian, ông bỏ tờ báo này, vào Sài Gòn viết cho báo Lục tỉnh tân văn; vì có một bài có giọng “kịch liệt quá”, ông thôi việc ở tờ này.
● Năm 1920, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết cho các tờ Thực nghiệp dân báo và Hữu thanh tạp chí; đồng thời cộng tác với vợ chồng mục sư người Mỹ W.C. Cadman để dịch Kinh Thánh (Bible) của Cơ Đốc giáo ra chữ Quốc ngữ (tiếng Việt) bằng cách đối chiếu bản chữ Hán với bản chữ Pháp.
● Khoảng năm 1925 Phan Khôi vào Sài Gòn, sau đó nhân một vụ việc gì đó, vì bị chính quyền Pháp tình nghi và đe dọa, ông chạy xuống Cà Mau tá túc tại nhà một người bạn là chủ đồn điền; ban đầu chỉ dùng thời giờ học tiếng Pháp qua thư từ với nhà báo người Pháp là Dejean de la Bâtie ở Sài Gòn, sau đó cộng tác gửi bài cho các báo ở Sài Gòn.
● Những năm 1928-1933 tại Sài Gòn, Phan Khôi viết cho các tờ Đông Pháp thời báo (1928), Thần chung (1929-1930), Phụ nữ tân văn (1929-1934), Trung lập (1930-1933), Quần báo (báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn,1928-30), gửi bài cộng tác với Đông Tây tuần báo (1929-1932) ở Hà Nội. Đây là những năm ông làm nên “thương hiệu Phan Khôi” (mượn cách nói ngày nay).
− Năm 1928 Phan Khôi (trên Đông Pháp thời báo) tranh luận bác bỏ “cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam về hồi thế kỷ XVIII”, nói rõ việc hiệp ước Pháp-Việt 1787 đã không được phía Pháp thực hiện.
− Năm 1929 Phan Khôi (trên Phụ nữ tân văn) mở cuộc trưng cầu ý kiến các nhân vật nổi tiếng trong nước về vấn đề phụ nữ.
− Năm 1929-30 Phan Khôi (trên Thần chung) mở cuộc thi về quốc sử.
− Năm 1929-31 Phan Khôi (trên Thần chung, Trung lập, Phụ nữ tân văn) mở ra tranh luận về việc viết đúng chữ quốc ngữ.
− Năm 1930 Phan Khôi (trên Trung lập) mở ra cuộc bút chiến với Nguyễn Phan Long và đảng Lập hiến Nam Kỳ về trách nhiệm của người làm chính trị trước thời cuộc và vận mệnh người dân.
− Năm 1929-30 Phan Khôi (trên Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập) nêu vấn đề về di sản Nho giáo trong thời “Âu hoá” của Á Đông; thảo luận các vấn đề Nho giáo với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng.
− Năm 1931- 32 Phan Khôi (trên Đông tây, Trung lập, Phụ nữ tân văn) tham gia tranh luận về “quốc học”, đánh giá di sản học thuật Việt Nam trong quá khứ.
− Năm 1932, Phan Khôi (trên Phụ nữ tân văn) công bố bài thơ Tình già, kêu gọi đổi mới thơ ca, khởi đầu cho phong trào Thơ mới tiếng Việt.
− Từ 1928 đến 1933, Phan Khôi (trên Đông Pháp thời báo, Thần chung, Trung lập) thực nghiệm lối văn hài đàm với các “mặt nạ tác giả”, xây dựng một loại văn tiểu phẩm học từ báo chí Pháp nhưng vẫn đậm phong vị tản văn Á Đông, là tác giả trên dưới 1000 bài hài đàm với các bút danh Tân Việt, Tha Sơn, Thông Reo, để lại một bách khoa thư văn hoá về cái hằng ngày của đời sống.
● Năm 1933, Phan Khôi ra Hà Nội, viết cho Thực nghiệp dân báo, sau đó nhận lời với chủ báo Phụ nữ thời đàm, cùng Tế Xuyên đổi tờ này sang thể tài tuần báo, tiếp tục đề cập vấn đề phụ nữ với dư luận ngoài Bắc vốn bảo thủ hơn; tham gia tranh luận “duy tâm − duy vật”; duy trì tờ báo này được 26 tuần lễ.
● Năm 1935 Phan Khôi vào Huế làm chủ bút tờ Tràng An. Tháng 8.1936 được phép xuất bản tờ Sông Hương do chính ông sáng lập, duy trì tờ này được 37 số, sau đó bán lại cho nhóm cộng sản Phan Đăng Lưu.
● Năm 1937, ông vào lại Sài Gòn, dạy quốc văn và chữ Hán tại trường Chấn Thanh; đồng thời cộng tác gửi bài cho các báo ở Hà Nội: Hà Nội báo (1936-37), Đông Dương tạp chí (1937-38); Dư luận (1938), Thời vụ (1938-39), Tao đàn (1939), Phổ thông bán nguyệt san (1939)… Năm 1941, trường Chấn Thanh từ Sài Gòn chuyển về Đà Nẵng; Phan Khôi về làng Bảo An sống với gia đình.
● Trong năm 1945, Phan Khôi từ chối khi được Nguyễn Bá Trác đến vận động tham gia chính phủ thân Nhật mà Trần Trọng Kim đang thành lập; ông cũng không mặn mà với đại diện tổ chức phản đế là Hoàng Phê đến vận động; ông chỉ nhận lời một cách hờ hững với tổ chức Quốc dân đảng (do Phan Bá Lân đến vận động nhiều lần), nhưng không hoạt động gì.
Sự kiện Việt Minh cướp chính quyền ở Quảng Nam và trong cả nước là bất ngờ đối với Phan Khôi, ông ngạc nhiên khi biết ngay trong gia đình có người của Việt Minh (em trai ông là Phan Bôi, con trai ông là Phan Thao…). Được mời dự mít tinh mừng thàmh lập nước ở tỉnh Quảng Nam, ông lên diễn đàn tỏ ý tán thành độc lập dân tộc nhưng không đồng tình đi con đường cộng sản vì theo ông nó sẽ khiến kinh tế lạc hậu, dân trí thấp kém.
● Tháng 10.1945, chính quyền mới ở tỉnh Quảng Nam mời ông ra Hà Nội, theo chỉ thị triệu tập của Chính phủ. Khi cuộc kháng chiến nổ ra trong cả nước, từ Hà Nội ông tản cư lên Việt Bắc, làm công tác nghiên cứu và dịch thuật trong cơ quan hội Văn nghệ Việt Nam.
● Năm 1955 trở về Hà Nội, ông làm việc trong hội Văn nghệ Việt Nam.
Năm 1956, ông được bộ Văn hoá và hội Văn nghệ Việt Nam cử đi Trung Quốc dự kỷ niệm 20 năm (1936-56) ngày mất Lỗ Tấn (1881-1936); ông có bài phát biểu tại lễ kỷ niệm.
Năm 1957 Phan Khôi tham gia đại hội thành lập Hội nhà văn Việt Nam.
● Trong hai năm 1956, 1957 Phan Khôi có một số bài viết đăng trên các tập Giai phẩm (nhất là bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ) của Nxb Minh Đức. Ông đứng tên làm chủ nhiệm báo Nhân văn (1956) và đăng một số bài trên báo này. Khi tờ Nhân văn bị đóng cửa, ông có một số bài đăng tuần báo Văn (của Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-58) bị đương thời xem như những biểu hiện tư tưởng tiêu cực và có tính phá hoại.
● 11 giờ trưa ngày 16.1.1959 (mồng 8 tháng Chạp năm Mậu Tuất) tại số nhà 73 phố Thuốc Bắc, Phan Khôi nằm quay mặt vào tường lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng, thọ 72 tuổi. Ông được mai táng tại nghĩa trang Hợp Thiện, Hà Nội; trong những năm 1970-80, phần mộ ông đã bị thất lạc.
***
Khoảng thời gian hoạt động rực rỡ nhất trong đời Phan Khôi, "làm cho Phan Khôi trở thành Phan Khôi", kéo dài từ năm 1928 đến năm 1939. Trong khoảng thời gian này, toàn bộ các bài viết của ông đều được đăng trên báo chí với các đề tài rất đa dạng: cổ học Trung Quốc và Việt Nam; văn hóa, văn học và chính trị Trung Quốc đương đại; khảo cứu lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và văn học Việt Nam, phê phán chính sự đương thời,… Đặc biệt Phan Khôi là người khởi động hoặc tham gia hàng loạt các cuộc tranh luận trên báo chí về khá nhiều vấn đề học thuật có tính cơ bản và lâu dài, gắn với sự phát triển của tư tưởng, văn học và xã hội Việt Nam thế kỷ XX.
Các tác phẩm của Phan Khôi đã in thành sách:
-- Chương Dân thi thoại (1936; đã tái bản 1996)
-- Trở vỏ lửa ra (1939)
-- Một vài nhận xét trong tiếng ta theo chữ Nôm (1949)
-- Tìm tòi trong tiếng Việt (1950)
-- Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ học (dịch của Xit-ta-lin, 1951)
-- Thù làng (truyện, dịch của Mã Phong, 1952)
-- Ánh lửa đằng trước (truyện, dịch của Lưu Bạch Vũ, 1954)
-- Việt ngữ nghiên cứu (1955; đã tái bản 1997)
-- Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn (dịch, 1955)
-- Phân tích vần quốc ngữ (1956)
-- Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn (dịch, 1956)
-- Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập II (dịch, 1957)
Vựng biên các tác phẩm của Phan Khôi do hậu thế thực hiện:
-- Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2003)
-- Tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2005)
-- Tác phẩm đăng báo 1930 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2006)
-- Tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; 2007)
-- Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2007).
Tác phẩm viết về Phan Khôi đã in thành sách:
-- Phan Thị Mỹ Khanh: Nhớ cha tôi Phan Khôi, Đà Nẵng:2001.
-- Vu Gia: Phan Khôi, tiếng Việt, báo chí và thơ mới, Tp. HCM: 2005.
Trở lại Hồ sơ Phan Khôi
25-10-07
và của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân
Năm nay, tròn 120 năm sinh Phan Khôi (1887-1959), − học giả, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà ngữ học, nhà tư tưởng, nhà văn hóa, dịch giả.
Dịp kỷ niệm này đã được đánh dấu bằng một loạt sự kiện có ý nghĩa. Các tập sách sưu tầm bài viết của Phan Khôi trong các năm 1930, 1931 và các bản dịch Lỗ Tấn của ông đã được xuất bản. Một tọa đàm về ông được tạp chí Xưa và Nay, hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức (ngày 5/10/2007 tại Hà Nội) với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, học giả có uy tín như Đinh Xuân Lâm, Vu Gia, Nguyễn Q. Thắng, Lại Nguyên Ân.
Từ những vùng xa của quá khứ, từng bước một, chân dung một trí thức đang được phục dựng trở lại.
Không một con người nào có thể bị lãng quên! Nhân dịp này, xin điểm lại đôi nét tiểu sử, sự nghiệp trứ thuật và những công trình chính của Phan Khôi.
● Phan Khôi, hiệu Chương Dân sinh ngày 6.10.1887 (20 tháng 8 năm Đinh Hợi) tại làng Bảo An (nay thuộc xã Điện Quang), huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cha là Phó bảng Phan Trân, tri phủ Diên Khánh; mẹ là bà Hoàng Thị Lệ, con gái Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội- Ninh Bình) Hoàng Diệu.
● Thiếu thời Phan Khôi học chữ Hán, năm 18 tuổi đi thi, đỗ tú tài (1905), sau đó bỏ lối học khoa cử, tìm học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp; ông là một trong những người đầu tiên cắt tóc ngắn, hưởng ứng vận động duy tân.
● Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia công việc của Đông Kinh nghĩa thục. Nghĩa thục bị đóng cửa, ông đi Nam Định học chữ Pháp với Nguyễn Bá Học, vì nhà nho này bị mật thám Pháp theo dõi, ông phải trở về quê.
● Năm 1909 Phan Khôi ra Huế xin vào học trường dòng Pellerin (của nhà thờ Ki-tô giáo), được vài tháng lại phải trở về quê vì ở nhà có đại tang. Lúc này ở Quảng Nam nổ ra phong trào “xin xâu” (biểu tình đòi giảm sưu thuế), Phan Khôi tham gia (có làm bài vè Dân quạ đình công), bị bắt và cầm tù tại nhà lao Hội An cùng Huỳnh Thúc Kháng và nhiều nhân sĩ khác. Trong tù tiếp tục tự học tiếng Pháp.
● Năm 1913, được ra tù, Phan Khôi về nhà cưới vợ và mở lớp dạy chữ Hán tại nhà mình. Khi triều đình Huế bãi bỏ chế độ khoa cử chữ Hán, ông thôi dạy và khuyên học trò đi học chữ Quốc ngữ.
● Năm 1916 Phan Khôi ra Hải Phòng làm thư ký cho Công ty vận tải đường thuỷ của Bạch Thái Bưởi, nhận thấy công việc ở đây chỉ để kiếm sống chứ không hợp chí hướng riêng nên đã xin thôi việc.
● Năm 1918, do Nguyễn Bá Trác giới thiệu, Phan Khôi lên Hà Nội tham gia viết bài cho tờ Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Được một thời gian, ông bỏ tờ báo này, vào Sài Gòn viết cho báo Lục tỉnh tân văn; vì có một bài có giọng “kịch liệt quá”, ông thôi việc ở tờ này.
● Năm 1920, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết cho các tờ Thực nghiệp dân báo và Hữu thanh tạp chí; đồng thời cộng tác với vợ chồng mục sư người Mỹ W.C. Cadman để dịch Kinh Thánh (Bible) của Cơ Đốc giáo ra chữ Quốc ngữ (tiếng Việt) bằng cách đối chiếu bản chữ Hán với bản chữ Pháp.
● Khoảng năm 1925 Phan Khôi vào Sài Gòn, sau đó nhân một vụ việc gì đó, vì bị chính quyền Pháp tình nghi và đe dọa, ông chạy xuống Cà Mau tá túc tại nhà một người bạn là chủ đồn điền; ban đầu chỉ dùng thời giờ học tiếng Pháp qua thư từ với nhà báo người Pháp là Dejean de la Bâtie ở Sài Gòn, sau đó cộng tác gửi bài cho các báo ở Sài Gòn.
● Những năm 1928-1933 tại Sài Gòn, Phan Khôi viết cho các tờ Đông Pháp thời báo (1928), Thần chung (1929-1930), Phụ nữ tân văn (1929-1934), Trung lập (1930-1933), Quần báo (báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn,1928-30), gửi bài cộng tác với Đông Tây tuần báo (1929-1932) ở Hà Nội. Đây là những năm ông làm nên “thương hiệu Phan Khôi” (mượn cách nói ngày nay).
− Năm 1928 Phan Khôi (trên Đông Pháp thời báo) tranh luận bác bỏ “cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam về hồi thế kỷ XVIII”, nói rõ việc hiệp ước Pháp-Việt 1787 đã không được phía Pháp thực hiện.
− Năm 1929 Phan Khôi (trên Phụ nữ tân văn) mở cuộc trưng cầu ý kiến các nhân vật nổi tiếng trong nước về vấn đề phụ nữ.
− Năm 1929-30 Phan Khôi (trên Thần chung) mở cuộc thi về quốc sử.
− Năm 1929-31 Phan Khôi (trên Thần chung, Trung lập, Phụ nữ tân văn) mở ra tranh luận về việc viết đúng chữ quốc ngữ.
− Năm 1930 Phan Khôi (trên Trung lập) mở ra cuộc bút chiến với Nguyễn Phan Long và đảng Lập hiến Nam Kỳ về trách nhiệm của người làm chính trị trước thời cuộc và vận mệnh người dân.
− Năm 1929-30 Phan Khôi (trên Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập) nêu vấn đề về di sản Nho giáo trong thời “Âu hoá” của Á Đông; thảo luận các vấn đề Nho giáo với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng.
− Năm 1931- 32 Phan Khôi (trên Đông tây, Trung lập, Phụ nữ tân văn) tham gia tranh luận về “quốc học”, đánh giá di sản học thuật Việt Nam trong quá khứ.
− Năm 1932, Phan Khôi (trên Phụ nữ tân văn) công bố bài thơ Tình già, kêu gọi đổi mới thơ ca, khởi đầu cho phong trào Thơ mới tiếng Việt.
− Từ 1928 đến 1933, Phan Khôi (trên Đông Pháp thời báo, Thần chung, Trung lập) thực nghiệm lối văn hài đàm với các “mặt nạ tác giả”, xây dựng một loại văn tiểu phẩm học từ báo chí Pháp nhưng vẫn đậm phong vị tản văn Á Đông, là tác giả trên dưới 1000 bài hài đàm với các bút danh Tân Việt, Tha Sơn, Thông Reo, để lại một bách khoa thư văn hoá về cái hằng ngày của đời sống.
● Năm 1933, Phan Khôi ra Hà Nội, viết cho Thực nghiệp dân báo, sau đó nhận lời với chủ báo Phụ nữ thời đàm, cùng Tế Xuyên đổi tờ này sang thể tài tuần báo, tiếp tục đề cập vấn đề phụ nữ với dư luận ngoài Bắc vốn bảo thủ hơn; tham gia tranh luận “duy tâm − duy vật”; duy trì tờ báo này được 26 tuần lễ.
● Năm 1935 Phan Khôi vào Huế làm chủ bút tờ Tràng An. Tháng 8.1936 được phép xuất bản tờ Sông Hương do chính ông sáng lập, duy trì tờ này được 37 số, sau đó bán lại cho nhóm cộng sản Phan Đăng Lưu.
● Năm 1937, ông vào lại Sài Gòn, dạy quốc văn và chữ Hán tại trường Chấn Thanh; đồng thời cộng tác gửi bài cho các báo ở Hà Nội: Hà Nội báo (1936-37), Đông Dương tạp chí (1937-38); Dư luận (1938), Thời vụ (1938-39), Tao đàn (1939), Phổ thông bán nguyệt san (1939)… Năm 1941, trường Chấn Thanh từ Sài Gòn chuyển về Đà Nẵng; Phan Khôi về làng Bảo An sống với gia đình.
● Trong năm 1945, Phan Khôi từ chối khi được Nguyễn Bá Trác đến vận động tham gia chính phủ thân Nhật mà Trần Trọng Kim đang thành lập; ông cũng không mặn mà với đại diện tổ chức phản đế là Hoàng Phê đến vận động; ông chỉ nhận lời một cách hờ hững với tổ chức Quốc dân đảng (do Phan Bá Lân đến vận động nhiều lần), nhưng không hoạt động gì.
Sự kiện Việt Minh cướp chính quyền ở Quảng Nam và trong cả nước là bất ngờ đối với Phan Khôi, ông ngạc nhiên khi biết ngay trong gia đình có người của Việt Minh (em trai ông là Phan Bôi, con trai ông là Phan Thao…). Được mời dự mít tinh mừng thàmh lập nước ở tỉnh Quảng Nam, ông lên diễn đàn tỏ ý tán thành độc lập dân tộc nhưng không đồng tình đi con đường cộng sản vì theo ông nó sẽ khiến kinh tế lạc hậu, dân trí thấp kém.
● Tháng 10.1945, chính quyền mới ở tỉnh Quảng Nam mời ông ra Hà Nội, theo chỉ thị triệu tập của Chính phủ. Khi cuộc kháng chiến nổ ra trong cả nước, từ Hà Nội ông tản cư lên Việt Bắc, làm công tác nghiên cứu và dịch thuật trong cơ quan hội Văn nghệ Việt Nam.
● Năm 1955 trở về Hà Nội, ông làm việc trong hội Văn nghệ Việt Nam.
Năm 1956, ông được bộ Văn hoá và hội Văn nghệ Việt Nam cử đi Trung Quốc dự kỷ niệm 20 năm (1936-56) ngày mất Lỗ Tấn (1881-1936); ông có bài phát biểu tại lễ kỷ niệm.
Năm 1957 Phan Khôi tham gia đại hội thành lập Hội nhà văn Việt Nam.
● Trong hai năm 1956, 1957 Phan Khôi có một số bài viết đăng trên các tập Giai phẩm (nhất là bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ) của Nxb Minh Đức. Ông đứng tên làm chủ nhiệm báo Nhân văn (1956) và đăng một số bài trên báo này. Khi tờ Nhân văn bị đóng cửa, ông có một số bài đăng tuần báo Văn (của Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-58) bị đương thời xem như những biểu hiện tư tưởng tiêu cực và có tính phá hoại.
● 11 giờ trưa ngày 16.1.1959 (mồng 8 tháng Chạp năm Mậu Tuất) tại số nhà 73 phố Thuốc Bắc, Phan Khôi nằm quay mặt vào tường lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng, thọ 72 tuổi. Ông được mai táng tại nghĩa trang Hợp Thiện, Hà Nội; trong những năm 1970-80, phần mộ ông đã bị thất lạc.
***
Khoảng thời gian hoạt động rực rỡ nhất trong đời Phan Khôi, "làm cho Phan Khôi trở thành Phan Khôi", kéo dài từ năm 1928 đến năm 1939. Trong khoảng thời gian này, toàn bộ các bài viết của ông đều được đăng trên báo chí với các đề tài rất đa dạng: cổ học Trung Quốc và Việt Nam; văn hóa, văn học và chính trị Trung Quốc đương đại; khảo cứu lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và văn học Việt Nam, phê phán chính sự đương thời,… Đặc biệt Phan Khôi là người khởi động hoặc tham gia hàng loạt các cuộc tranh luận trên báo chí về khá nhiều vấn đề học thuật có tính cơ bản và lâu dài, gắn với sự phát triển của tư tưởng, văn học và xã hội Việt Nam thế kỷ XX.
Các tác phẩm của Phan Khôi đã in thành sách:
-- Chương Dân thi thoại (1936; đã tái bản 1996)
-- Trở vỏ lửa ra (1939)
-- Một vài nhận xét trong tiếng ta theo chữ Nôm (1949)
-- Tìm tòi trong tiếng Việt (1950)
-- Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ học (dịch của Xit-ta-lin, 1951)
-- Thù làng (truyện, dịch của Mã Phong, 1952)
-- Ánh lửa đằng trước (truyện, dịch của Lưu Bạch Vũ, 1954)
-- Việt ngữ nghiên cứu (1955; đã tái bản 1997)
-- Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn (dịch, 1955)
-- Phân tích vần quốc ngữ (1956)
-- Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn (dịch, 1956)
-- Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập II (dịch, 1957)
Vựng biên các tác phẩm của Phan Khôi do hậu thế thực hiện:
-- Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2003)
-- Tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2005)
-- Tác phẩm đăng báo 1930 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2006)
-- Tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; 2007)
-- Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2007).
Tác phẩm viết về Phan Khôi đã in thành sách:
-- Phan Thị Mỹ Khanh: Nhớ cha tôi Phan Khôi, Đà Nẵng:2001.
-- Vu Gia: Phan Khôi, tiếng Việt, báo chí và thơ mới, Tp. HCM: 2005.
Trở lại Hồ sơ Phan Khôi
25-10-07
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)