27/11/08

PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1930 SAU KHI ĐỌC BÀI TRẢ LỜI CỦA TRẦN TRỌNG KIM TIÊN SANH CẢNH CÁO CÁC NHÀ “HỌC PHIỆT”

PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1930



SAU KHI ĐỌC BÀI TRẢ LỜI CỦA TRẦN TRỌNG KIM TIÊN SANH

CẢNH CÁO CÁC NHÀ “HỌC PHIỆT”



Sau khi tôi đọc bài của Trần Trọng Kim tiên sanh bàn với tôi về sự phê bình cuốn sách Nho giáo, đăng ở Phụ nữ tân văn số 60, tôi rất lấy làm phục cái nhã độ của tiên sanh. Tôi lấy làm phục tiên sanh bao nhiêu, thì tôi càng mừng cho học giới nước ta có cơ khai phóng bấy nhiêu!

Số là, chẳng những như Trần quân đã nói, người mình xưa nay chưa quen chịu kẻ khác phê bình, mà lại trong xã hội nầy, có một hạng người, tôi muốn dâng cho họ một cái huy hiệu mới, là “học phiệt”. Hạng người ấy ỷ có học rộng, tri thức nhiều, văn hay, trí thuật cũng khá, rồi tự coi mình như là bậc “thầy”, chẳng kể dư luận ra chi. Đã hay rằng mình giỏi, song thế nào cho khỏi sự sai lầm, vậy mà họ tự phụ quá, cứ mạt sát hết. Ừ, cái dư luận nào không chánh đáng, họ mạt sát chẳng nói làm chi; cái nầy, khi người ta công kích họ một cách chánh đáng, mà họ cũng làm thinh. Làm thinh, không phải tỏ ra là họ phục; nhưng làm thinh, tỏ ra là họ không thèm nói với, thế mới đáng ghét. Tôi dâng cho họ cái huy hiệu “học phiệt”, lấy nghĩa rằng họ có ý kế nghiệp nhau mà chuyên quyền trong học giới, cũng như bọn “quân phiệt”, đã nối nhau mà chiếm cứ đất đai và quyền chánh trị bên Tàu.

Tôi chẳng nói gần nói xa chi hết; tôi nói ngay rằng hạng “học phiệt” ấy ở nước ta chẳng bao lăm người, mà Phạm Quỳnh tiên sinh là một. Thử xách ra lấy một việc. Chắc hẳn nhiều độc giả còn nhớ chuyện Ngô Đức Kế tiên sanh công kích sự đề xướng Truyện Kiều hồi mấy năm trước nên đã viết một bài trong tạp chí Hữu thanh. Nói có vong linh Ngô tiên sanh! Không biết làm sao mà ông nầy có ác cảm với Phạm quân quá. Hồi đó tôi đương ở Hà Nội, tôi đi lại với cả hai đằng, đầu đuôi làm sao tôi rõ hết. Vì sự tư ý đó nên trong bài Chánh học với tà thuyết của họ Ngô có chỗ không được công bằng; tuy vậy, lấy đại thế cái bài mà nói, thì cách công kích như vậy là chánh đáng. Vả lại nó là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập, dầu phải dầu chăng, cũng không có thế nào bỏ qua đặng. Vậy mà bên Phạm Quỳnh tiên sanh nín lặng, chẳng thèm nói đi nói lại lấy nửa lời.

Có một lẽ có thể vin lấy mà cãi cho Phạm quân về sự làm thinh đó, là trong bài của họ Ngô chưa hề có một lần nào nói đến tên tuổi Phạm quân. Theo phép, khi người ta nói đến mình một cách không chánh thức, thì mình có quyền làm thinh được.

Song le, có lẽ khác mạnh hơn để đánh đổ lẽ ấy đi. Trong bài của họ Ngô tuy không nói đến tên Phạm quân, song toàn nói những công việc của Phạm quân đã chủ trương, hoặc đã thi hành, mà công việc ấy lại không có thể lộn với của người khác. Huống chi, công việc lại là công việc làm ra giữa xã hội, chẳng phải riêng của một người, ai cũng có quyền can thiệp đến, ai cũng có quyền bàn bạc đến. Chỉ có một điều nên hỏi, là lời người ta bàn bạc đó phải hay quấy mà thôi. Nếu là phải, thì mình nên viết ra mà nhận lỗi và tỏ ý phục thiện của mình; bằng quấy, thì mình cũng nên viết ra mà cãi lại để binh vực cho chơn lý. Đàng nào cũng phải trả lời hết, không phép làm thinh. Làm thinh thì tỏ ra hai dấu: một là bí, hết đường nói lại; hai là khinh người. Bí mà làm thinh, không nhận lỗi cách đường đường chánh chánh, thì thành ra mình không có can đảm, không biết phục thiện. Còn khinh người thì lại vô lý lắm, mình khinh người, người lại chẳng biết khinh mình sao? Huống chi, phải biết rằng khinh người bằng một cách như vậy, thì trong khi mình khinh người đó, chính mình tự khinh lấy mình rồi, vì mình đã đối với mình, với người, cũng đều không ngay thật.

Hai cái lỗi đó, thế nào Phạm tiên sanh cũng phải vấp một, vì tiên sanh đã làm thinh trong khi ấy. Nhưng nói tiên sanh vấp cái lỗi trước thì thà nói tiên sanh vấp cái lỗi sau. Bởi chưng, sau khi nín không trả lời, Phạm tiên sanh có viết một bài trong Nam phong nhớ chừng như đầu đề là Xử thế châm ngôn thì phải; trong đó có những câu, nhớ chừng như “Một thanh bảo kiếm…” chi chi đó thì phải. Đại ý nói ta là thanh gươm bách luyện đây, tha hồ mà công kích, có sờn đâu được ta? Thiệt nó in hệt như cái giọng Tử Cống xưa kia binh vực cho thầy mình mà nói rằng: “Nhân tuy dục tự tuyệt, kỳ hà thương ư nhựt nguyệt hồ?” một thứ!

Về câu chuyện trên nầy ta lại nên chia ra hai mặt mà bàn. Cái kiểu làm thinh ấy, nói về mặt học vấn là dở; chớ nói về mặt làm báo thì lại là hay. Vong hồn ông Tập Xuyên, sống thì khôn thác thì thiêng, ông chứng giám cho lời tôi đây! Thật hồi đó Ngô tiên sanh hằm hằm chực Phạm quân trả lời thì kéo luôn cả đại đội ra mà công kích; song cái kế Tư Mã Trọng Đạt diệu thay, làm cho cái phương lược “lục xuất kỳ sơn” kia mới vừa có “nhứt xuất” thì đã quay đầu ngựa trở về! Tôi nói: về mặt làm báo là hay, cái hay ở đó.

Song le, cái nghề làm báo, gặp thì làm, chớ có phải cái đất mà chúng ta toan đặt cái đời mình trên đó đâu. Chúng ta – các ông đã đành, mà cũng xin cho tôi xen vào với – nên đặt cái đời mình trên cái đất học vấn. Trong sự học vấn mà không ngay thật, ngay thật đối mình, đối với người, đối với nhứt thiết, thì thật là nguy hiểm lắm, nguy hiểm đến cái đời của mình nữa!

Có một điều nên lượng thứ cho Phạm tiên sanh, là lúc bấy giờ tiên sanh còn đương vào cái tuổi thanh niên, cái tuổi ấy thường làm cho người ta phụ khí và hiếu thắng. Song ngày nay, tiên sanh niên càng cao, đức càng mậu, có lẽ những điều ký vãng ấy, tiên sanh đã rất lấy làm hối hận mà không nói ra chăng.

Thánh nhân có nói rằng: “Quân tử tấn đức tu nghiệp, dục cập thời dã.”(1) Chữ “đức” khỏi cắt nghĩa; còn chữ “nghiệp” đó tức là sự học vấn của mình. Hai cái đó có quan hệ lẫn nhau, tới thì cùng tới, lui thì cùng lui, với nhau. Muốn cho sự học vấn của mình một ngày một tới, phải hư tâm, phải khắc kỷ, phải biết phục thiện, thì mới tới được; mà sự học vấn đã tới, thì cái đức của mình cũng ngày càng đầy đủ thêm. Cập thời là thời nào? Theo ý tôi thì vào lúc ngoài ba mươi cho đến bốn năm mươi, xoang(*) cỡ tuổi chúng ta ngày nay, là cái thời mà những sự phụ khí hiếu thắng đã lần lần xa ra khỏi mình.

Sự tấn đức tu nghiệp mà thánh nhân nói đó, ở đời xưa thiệt rất khó; khó vì chẳng biết noi theo một cái phương pháp nào. Song đương đời ta đây thì đỡ được sự khó ấy một chút; sẵn có phương pháp khoa học đó, ta nên lợi dụng lấy để mà tấn đức.

Đã có người đứng sau lưng tôi mà cười tôi rồi! Họ cười họ lại còn nói: Cái đời anh nhà nho đặc sệt mà mỗi chút mỗi khoa học, khéo làm rầy tai! - Nếu có phải vậy thì tôi kiếu ông ấy đi, mà chỉ nói với những người nào không ra ý khinh tôi. Thật vậy, sự nầy lại là một cái vấn đề nên nói rõ ở nơi khác nữa. Đây tôi chỉ nói rằng: Cái phương pháp khoa học cũng vậy, hay là đích thân khoa học cũng vậy, thật là cái tiện cho học giả lợi dụng để mà tấn đức. Vì theo phương pháp khoa học thì mỗi một sự gì cũng phải luật lịnh, cậy chứng nghiệm để tìm cho thấy chơn lý, mà trong khi ấy lại phải bỏ hết cả những điều tư tâm, thành kiến và sự kiêu căng của mình đi; chẳng phải là trong lúc cầu tri thức đó, cũng luôn thể làm ích lợi cho tánh nết của mình sao? Tôi chối dài, tôi không phải nhà khoa học; song thật như ông Trần Trọng Kim nói, tôi có cái khuynh hướng về khoa học. Câu chuyện vừa rồi là tôi lấy ở sự kinh nghiệm của chính mình tôi mà nói ra, có ích cho ai thì có, không thì thôi, không có hại.

Nãy giờ tôi nói dông dài những tấn đức tu nghiệp, khoa học khoa hiếc để cho lợt bớt câu chuyện đi, chớ rồi cũng không thể bỏ qua cái thói kiêu căng của mấy ông “học phiệt”. Họ làm vậy khác nào như ôm lấy cái độc quyền dư luận, trở ngại sự tấn bộ của học giới nước ta. Ai nói, họ không thèm nói với, tức là có ý để một mình họ nói thôi, thế chẳng phải ôm lấy độc quyền dư luận là gì? Mà đã không cãi cọ thì không nẩy ra chơn lý; không có ánh sáng của chơn lý thì học giới tối tăm; thiệt họ đã vô ý mà dứt ngang con đường tấn bộ của học giới đi, chớ chẳng những trở ngại mà thôi vậy.

Thật vậy, cái thói của họ đó đã tràn ngập cả xã hội mà thành ra như phong tục trong hơn mười năm nay. Ai nói trời nói đất chi thì nói, ngang ngạnh đến đâu cũng không có người cãi. Cái phong tục ấy nên đặt cho nó một cái danh từ là “nguội lạnh”.

Chính mình Phạm Quỳnh tiên sanh đã nhìn thấy chỗ đó. Tiên sanh có viết trong Nam phong số 148, hồi tháng Mars năm nay, về phần phụ trương tiếng Pháp, nơi bài “Hồi tưởng về Khổng Tử và Khổng giáo” (Réflexion sur Confucius et le Confucéisme), một đoạn như vầy:

“Ở nước Nam ta, cái phong trào bài kích Khổng giáo thà kêu là cái phong trào nguội lạnh… Mới có một nhà nho cũng học đòi bạn đồng đạo mình bên “thiếu niên Trung Quốc", ra tay phản đối Khổng Tử và Khổng giáo, mà chừng như độc giả chẳng mấy ai thiết đến, không ai cho là phải mà cũng không ai cho không, dầu rằng những bài phản đối ấy viết bằng lối văn chín chắn và tài liệu dồi dào, đáng khen thật, song tôi tưởng chắc độc giả của nó cũng không nhiều bằng của những cái tin ngắn chút xíu trên tờ báo nói về công trạng của hai tay vô địch nghề banh vợt, mà hết thảy các báo đã tôn cho là nhứt quốc chi hùng”.(2)

Xin độc giả thử nghĩ coi, có cái xã hội nào lại nguội lạnh đến nỗi nước nầy chăng? Mà việc đó, đố ai dám cả gan bảo là việc tầm thường. Chính trong đoạn đó chỗ để những cái chấm giây đó, Phạm tiên sanh nói rằng: “Kể ra thì đấng Thánh ở Khúc Phụ xa xuôi thật, xa cả về không gian và về thời gian, song lâu nay chính ngài vẫn đã chi phối những điều giáo huấn của ngài trong cả cuộc sanh hoạt xứ nầy, về tinh thần và luân lý”.(3) Ừ! nếu đã nhìn nhận cho Khổng giáo ở xã hội mình là quan hệ với sự sống của mọi người vậy thì sao trong khi có kẻ nhè nó phản đối, ai nấy lại nỡ làm lơ, không thèm quan thiết đến cho đành? Tôi xin trung cáo cùng người trong nước: đừng có lấy cái cớ nói ra không ai thèm nói lại, làm dịp tiện để nhạo cười cái anh nhà nho mà Phạm quân nói kia; song ai nấy hãy nhìn điều nầy là một điều sỉ nhục cho cả một dân tộc, vì trong việc đó tỏ ra rằng cái lương tâm của dân nầy hình như đã tê điếng rồi vậy!

Lẽ đáng trong khi thấy những bài phản đối Khổng giáo đó, hạng người thường có cho là không quan hệ mà bỏ qua đi nữa, thì những người bấy lâu đã có tông tín (conviction) về Khổng giáo chủ trương cái thuyết duy trì Khổng giáo, cũng phải vội vã đứng ra, một là binh vực cho sự tông tín của mình, hai là vệ dực cho thánh đạo, ba là phá sự cổ hoặc cho người đương thời, mới phải cho. Cái nầy từ hiền đến ngu rủ nhau làm thinh một loạt; sau khi đó rồi, có kẻ lại tỏ ý ra như tuồng mình làm vậy là đắc sách, thì tôi phải chịu, không hiểu cái lòng dạ người ta là thế nào! Nếu anh nhà nho công kích Khổng giáo đó mà công kích phải lẽ, thôi chẳng nói làm chi; ví bằng anh ta công kích bậy mà lại dùng lối văn chín chắn, tài liệu dồi dào, đến nỗi ông Phạm Quỳnh phải khen, thì tôi tưởng, chẳng nhiều thì ít, thế nào cũng có hại cho thế đạo nhân tâm chớ. Vậy mà cứ nguội lạnh là nguội lạnh làm sao?

Tôi thấy đám trẻ con chơi với nhau, đến lúc đổ quạu, một đứa đứng ra một phía, lấy lời vô lễ mà xỉ mắng mấy đứa kia. Mấy đứa nầy thiệt hành cái chủ nghĩa tiêu cực phản kháng, ra hiệu lịnh cho nhau rằng: “Nó nói gì kệ nó, mình cứ bịt lỗ tai, chẳng thèm nghe!” Chúng nó bảo nhau thế nào, làm y như thế. Đứa kia nói một chặp, mỏi miệng rồi thôi. Khi ấy mấy đứa làm thinh ban nãy đó mới rập nhau xỉ vào mặt đứa ấy mà nói rằng: “Lêu lêu mắc cỡ! Lêu lêu mắc cỡ!”

Quái làm sao! câu chuyện nói trên kia mà lại tình cờ giống với cái trò trẻ con nầy!

Trời ôi! nhà nho ấy chẳng phải ai đâu lạ, chính thị là tôi đây. Mà nếu còn có ai nữa thì tôi là một. Phạm quân nói nhà nho trổng mà không kêu tên, ấy là vì cái tên tôi không đáng làm dơ ngòi bút của Phạm quân hay là vì người sợ tôi “mắc cỡ” tội nghiệp mà dấu tên đi, thì tôi không biết.

Năm ngoái tôi có viết cả thảy 21 bài nói về ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta, đăng trong báo Thần chung, từ ngày 3 octobre cho đến 18 novembre 1929. Sự độc giả nguội lạnh đối với những bài ấy có đến như Phạm tiên sanh nói chăng, thì tôi không được biết cho chắc; song trước sau vỏn vẹn chỉ có một bài gởi tới phản đối, cũng có đăng ở Thần chung(**), mà tôi đã thú thiệt, không hiểu tác giả ý muốn nói những gì. Vì vậy đương khi toàn văn của tôi chưa hết mà tôi cũng bắt chước đứa con nít nói trên đó, mỏi miệng rồi thôi.

Chẳng đợi đến bây giờ có Phạm tiên sanh nói, tôi mới biết; cái sự nguội lạnh ấy tôi đã đoán trước rồi. Trong bài thứ 21, là khi tôi đã ngã lòng toan gác bút, tôi có viết một đoạn rằng:

“Nước Tàu còn có năm ba bọn trung với Khổng giáo, gặp cơn nguy biến, ra tay chống chỏi, hết phương nầy, tìm phương khác, tuy không kéo lại được mà cũng còn tỏ cho thiên hạ biết trong Khổng giáo vẫn có người. Đến nước ta thì hết chỗ nói! Khổng giáo ở nước ta trong khi gặp văn minh Âu châu, hình như nó nằm sát rạt xuống, vừa khóc vừa rên, vừa ngửng đầu lên coi chánh phủ. Chánh phủ có để khoa cử thì cứ thi đậu làm quan chơi; chánh phủ bỏ khoa cử thì cũng đau lòng mà khóc rên chút đỉnh; nhưng đến khi chánh phủ lập trường bắt học chữ Pháp thì lại lau nước mắt mà cứ việc học, mong cho tốt nghiệp đặng làm quan. Rồi đến ngày nay đây, có kẻ ngỗ nghịch là tôi, dám ra đương trường chỉ trích Khổng giáo, – để rồi coi, giạc chừng như – cũng không ai thèm nóng mặt mà ra miệng hết. Ừ, nó nói ông Khổng Tử chớ nó có nói chi mình đâu, nó có động đến bát cơm của mình đâu mà hòng ra miệng! Không dám dối độc giả, tôi viết đến đây bỗng dưng hai hàng nước mắt tôi trào ra trên giấy. Không phải tôi khóc vì Khổng giáo điêu tàn; nhưng tôi khóc, một là vì cái kẻ chỉ trích Khổng giáo lại là tôi; hai là vì ngó thấy cái tình đời bạc bẽo!”

Sự nguội lạnh đó, theo như tôi đã kể ra trong đoạn trước, thì quả là do mấy nhà “học phiệt” tạo ra. Nếu còn bởi các cớ khá nữa, thì cái cớ mấy nhà “học phiệt” chuyên chế dư luận cũng là một cớ lớn, họ phải chịu một phần trách nhiệm lớn trong sự đó.

Khi tôi viết bài bình phẩm cuốn sách Nho giáo, trong anh em đã có người e cho tôi lại “mắc cỡ” chuyến nữa, nhưng tôi cũng cứ đánh bạo mà làm. May quá! Trần tiên sanh khứng viết ra mà thương xác sự học vấn cùng tôi; cái tên tiên sanh tôi quý trọng bao nhiêu, thì cái bài ấy tôi cũng quý trọng bấy nhiêu; quả là “vàng”thật!

Về phương diện lý thuyết của cái bài tiên sanh trả lời cho tôi đó, tôi xin để rồi sẽ nói đến. Nay chính tôi và cũng xin đại biểu cho những anh em có học vấn ít nhiều mà cùng tôi đồng ý kiến, ngỏ lời cảm tạ Trần tiên sanh về sự người đã có ý tốt, mở cái đường thương xác về sự học cho chúng tôi và hết thảy mọi người trong nước Việt Nam sau nầy.

Nhơn đó tôi dám lấy tư cách một nhà học giả tầm thường, không có cái bằng cấp nào hết, chỉ có cái óc tự do độc lập, lấy chơn lý làm thầy, không thần phục dưới quyền đạo giáo nào hay là thánh hiền nào, viết một cách thiệt nghiêm cẩn ra ở đây mấy lời, để cảnh cáo các nhà “học phiệt” nước ta mà trong đó, tôi đã cử một Phạm Quỳnh tiên sanh ra làm đại biểu.

Học thuật của nước ta xưa nay chỉ có cái hư danh mà thôi, chớ coi đi coi lại, đem mà so sánh với các nước, thì thấy ra tầm thường quá. Nước Việt Nam nầy mà gọi được là có học thuật, hoạ từ nay về sau chăng. Sự đó, cái trách nhiệm ở chúng ta, là những kẻ có học mà ở vào cái thời đại văn hóa Đông Tây giao hội với nhau nầy.

Chúng tôi muốn rằng trong nước ta từ rày về sau, nên lần lần bỏ hẳn cái danh từ Nho hoc và Tây học mà lập ra một nền học thuật mới, kêu là nền học thuật Việt Nam; nó sẽ đứng với nước ta đời đời: nước còn có thì học thuật còn có; học thuật còn có thì nước còn có. Ấy là một cái khí giới chúng tôi định sắm ra để cầm giữ tổ quốc và đưa đồng bào lên đường tấn hóa, hầu theo kịp loài người trên thế giới trong cõi đại đồng ngày nay.

Trên đây nói “chúng tôi muốn, chúng tôi định”, chẳng qua là để tỏ ra cái ý kiến của một bọn người chúng tôi mà thôi. Bên các ông, những người mà chúng tôi kêu là “học phiệt”, chắc cũng có cái ý kiến như chúng tôi đó, vì thấy có người đã tỏ ra trong khi luận về sự học.

Vậy thì hai bên, cái ý kiến đại để đồng nhau; có khác nhau, chỉ là cái thái độ. Chúng tôi thì muốn, về sự học, phải cho ngôn luận được công khai. Còn các ông, theo như cái thái độ đã vẽ ra trên kia, thì hình như muốn chuyên chế.

Chúng tôi cho cái thái độ ấy ở trong việc gì thì hoặc giả còn được, chớ ở trong học giới thì nhứt định không có thể được. Cái lẽ tại sao mà không được, đã nói rõ trên kia rồi. Vậy bây giờ chúng tôi yêu cầu các ông phải bỏ hẳn cái thái độ ấy đi. Nghĩa là từ nay về sau, về sự học, khi có ai nghi ngờ những điều các ông chủ trương mà chất vấn hoặc công kích, thì các ông phải trả lời minh bạch, phải thì nói phải, quấy thì nói quấy.

Chúng tôi nhìn các ông là bậc túc học; nếu các ông chịu đem ý kiến mình trao đổi với mọi người, thì sự ích cho các ông chưa nói, mà phần chắc là có ích cho cả xã hội. Nếu các ông còn giữ thói cũ, thì xã hội đã không được ích, mà tập theo các ông, lại thành ra cái phong tục nguội lạnh nữa. Sự nguội lạnh ấy, tôi đã cho là cái lương tâm tê điếng; mà theo Trang Tử thì là cái lòng đã chết, chẳng có gì đáng buồn rầu hơn! (Ai mạc đại ư tâm tử).

Lần nầy là lần thứ nhứt mà tôi đem cái chánh nghĩa ra thưa cùng các ông như vậy; rồi mới tới dưới nầy là cái ý cảnh cáo.

Các ông đành là bậc túc học, cái công nghiệp của các ông ở trong học giới nước ta đành chẳng phải là nhỏ. Song cái thái độ ấy của các ông, hôm nay đã có nhiều người không phục, có ngày họ sẽ nổi lên mà phản đối.

Tôi biết trong ba kỳ mỗi nơi đã có ít nữa là một người học vấn rộng rãi, có đức, có tài, có thức, chẳng kém các ông là mấy. Những người ấy đều khuynh hướng về cái bình dân chủ nghĩa, họ muốn sự học vấn được phổ cập, nên thế nào họ cũng sẽ đứng dậy mà đánh đổ cái kiểu học phiệt của các ông. Sự ấy chưa xảy ra là vì họ đương nuôi cái thế lực bằng học thức của họ cho thật mạnh đã. Chẳng sớm thì chầy, trong nước Việt Nam nầy cũng sẽ có một cuộc chiến tranh về tư tưởng. Trước mặt các ông, tôi không nói dối.

Cái chỗ tôi đem mà cảnh cáo các ông là chỗ đó. Tùy các ông muốn làm như Diêm Tích Sơn, Trương Học Lương thì làm, hay là muốn làm như Ngô Bội Phu, Đoàn Kỳ Thụy thì làm.

Tôi đây, chưa phải là kẻ phản đối các ông đâu. Tôi chỉ là một viên tiểu tướng của đạo quân bình dân tư tưởng đi trước dẹp đường, và luôn thể báo hiệu cho các ông mà thôi.



PHAN KHÔI

Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.62 (24.7.1930)

Trung lập, Sài Gòn, s. 6206 (26.7.1930); s.6207(28.7); s.6208 (29.7); s.6209 (30.7.1930).




(1) Xin lỗi độc giả, chỗ nầy tôi dẫn sách mà không nói rõ sách nào, lời ai nói, là vì lâu nay tôi ít ôn nhuần nên tôi quên xuất xứ, mà trong tay cũng không sẵn sách để tra lại. Câu nầy tôi nhớ như ở kinh Dịch thì phải. Lại xin độc giả cũng biết cho rằng khi nào tôi dẫn sách như vậy là đã suy đi nghĩ lại câu sách ấy mà nhận cho như là một cái công lệ rồi, tôi mới dẫn vào; chớ không phải hễ tôi thấy lời ông thánh thì tin là phải mà dẫn vào đâu.

(*) xoang: H.T. Paulus Của (sđd) giải là: “đụng nhằm, tuông phải”; vậy “xoang cỡ tuổi…” có thể được hiểu là: vào trạc tuổi, vào lứa tuổi.

(2) Nguyên văn: En Annam, la vague de défaveur est plutôt une vague d’indifférence… Et si dernièrement un lettré Annamite, emboitant le pas à ses confrères de la “jeune Chine” a essayé de faire le procès de Confucius et du Confucéisme, il ne semble pas qu’il a beaucoup intéressé ses lecteurs: personne ne l’a ni approuvé ni contredit et je doute fort que ses articles, ecrits pourtant avec un louable souci de style et de documentation, aient eu autant de lecteurs que le moindre petit entrefilet relatif aux exploits de deux champions de tennis promus par toute la presse progressiste au rang de héros nationnaux (nguyên chú của Phan Khôi).

(3) Nguyên văn: Le sage de Khu-fou parait loin, bien loin dans l’espace et le temps, lui qui naguère encore animait de ses enseignements et de ses préceptes toute la vie morale et spirituelle de ce pays (nguyên chú của Phan Khôi).

(**) Đó là bài của Hoành Sơn: Đôi lời về Khổng giáo bàn cùng Phan Khôi tiên sinh đăng 9 kỳ báo Thần chung từ 6.1.1930 đến 12.2.1930.

PHAN KHÔI: Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim

PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1930



Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim



Mặc dầu sống trong đời Âu hóa nầy, không biết Khổng giáo cũng không phải là người Việt Nam. Nho giáo là sách của Trần tiên sanh đã dùng thức lực và lắm công phu nghiên cứu mà soạn ra, mọi người Việt Nam đều nên đọc

Mới rồi, tòa soạn Phụ nữ tân văn giao cho tôi một cuốn sách mới xuất bản, mà tác giả là Trần Trọng Kim tiên sanh đã gởi tặng, cậy tôi đọc qua và viết một bài phê bình cho xứng đáng.

Sách, tên là Nho giáo, dày 344 trang, in thiệt đẹp, tại nhà in Trung Bắc Tân Văn, giá mỗi cuốn 1$20. Nho giáo nầy có lẽ là một bộ sách, chưa biết mấy cuốn, đây mới là cuốn I.

Trần tiên sanh, trong tập báo nầy đã có lần giới thiệu; và chính tôi, hồi ở Hà Nội, cũng từng được thừa tiếp tiên sanh. Trần quân rõ là một nhà học giả, mà lại thuần túy cái thái độ học giả đời nay, nghĩa là dùng phương pháp khoa học mà nghiên cứu các học thuật, bởi vậy làm ra sách vở rất có giá trị.

Tiên sanh vốn là nhà Tây học, mà lại chuyên trị về các học thuyết phương Đông. Đã có hai lần tiên sanh giảng diễn về Khổng Tử và Lão Tử, bài diễn văn có đăng trong tạp chí Nam phong. Lại có lần, chính tôi thấy tiên sanh gởi mua kinh Phật bên Tàu thiệt nhiều, hình như tiên sanh đương nghiên cứu về Phật học nữa.

Tôi sẵn có những điều ghi nhớ ấy trong đầu, tiếp được cuốn sách nầy, là tự nhiên phải đốt hương lên mà đọc.

Bắt đầu đọc cái tựa, đã thấy mướt mồ hôi. Vì tiên sanh có nói thiệt tình rằng việc làm cuốn sách nầy đáng lẽ là việc của nhà nho, nhưng thấy không ai làm, nên tiên sanh phải gánh lấy. Tôi đây cũng bị kêu là nhà nho, bảo sao tôi đừng hổ thẹn cho được?

Kế đến, trong lời phát đoan, tiên sanh nói rằng: “… Thậm chí những nhà dòng dõi thi lễ, trước còn không chịu theo tân học, nay lại tự mình bài bác cái học cũ kịch liệt hơn những người thường”.

Câu ấy, tôi biết tiên sanh nói giữa thinh không. Nhưng đại phàm có ghẻ thì né ruồi, tôi nhìn thấy mấy lời ấy càng như nước lạnh xối vào xương sống.

Năm ngoái, tôi có viết trong Thần chung một mớ mấy chục bài nói về Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta. Trong đó, không phải là bài bác hết thảy, song có nhiều điều tôi bài bác Khổng giáo thiệt tình. Tôi làm điều ấy theo cái sở kiến của tôi, có cái lẽ mà tự tôi cho là phải. Song tôi vẫn là người, dầu nguội lạnh cho mấy cũng còn có tình cảm khi, thấy người ta nói như chạm đến mình, thì né mình một chút cũng là thường.

Đó là việc riêng của tôi, ăn thua gì vào đây mà kể. Nhưng tôi đã kể, là vì có sự cần, như là muốn phân chứng cùng độc giả vậy.

Coi như trên đó thì đủ thấy về Nho giáo, ý Trần tiên sanh với ý tôi khác nhau. Vậy thì lấy người bên phe tả mà phê bình sách của người bên phe hữu làm ra, nhiều người chắc cho là sự nguy hiểm, thế nào cũng không khỏi lấy thành kiến mà bắt bẻ nhau, dùng tư tâm mà bới móc nhau.

Vì muốn giải trước cái sự nghi ngờ ấy nên tôi kể ra câu chuyện trên kia, và phân bua cùng độc giả rằng: Trong khi tôi viết bài nầy, nói xin bỏ lỗi, là chỉ như kiểm soát lại coi thử cuốn sách ông Trần có thiệt đúng với Nho giáo không; chớ còn, về cái ý kiến của ông Trần và của tôi đối với Nho giáo thế nào, tôi không nói tới.

*

Trước hết ta phải phục cái sự xếp đặt trong cuốn Nho giáo là rất khéo. Chia làm tám chương:

Chương I, nói về thượng cổ thời đại, kể cái tình trạng xã hội Tàu và cái triết học thuở xưa, là cái nền Nho giáo bởi đó lập lên.

Chương II, nói về Xuân Thu thời đại và Khổng phu tử, đặng cho biết Nho giáo cũng là theo sự cần dùng của thời đại mà xuất hiện, y như cái luật nhân quả.

Chương III, nói về học thuyết của Khổng phu tử, mà Hình nhi thượng học là cái học về phần huyền diệu.

Chương IV, nói về Hình nhi hạ học, là cái học về phần đời.

Chương V, nói về những sách Khổng phu tử.

Chương VI, nói về môn đệ Khổng phu tử, tức là những học trò của ngài.

Chương VII, nói về Chiến Quốc thời đại, các học phái của Nho giáo, tức là cái học phái do từ Khổng phu tử mà chia ra.

Chương VIII, nói về Mạnh tử, là người tiếp lấy chơn truyền của Khổng phu tử.

Trong tám chương ấy có chương III và IV là trọng yếu hơn hết. Chính cái thống hệ của Khổng học là ở đó. Khổng Tử thường xưng cái đạo của mình là nhứt quán, tức là phần hình nhi thượng học và phần hình nhi hạ học xâu suất cùng nhau làm một vậy. Thiệt Trần tiên sanh đã móc cái chỗ tinh vi của đạo ngài ra cho thiên hạ cùng xem.

Tóm lại, một cuốn sách nói về Nho giáo tường tận tinh tế như vầy, thiệt là trong cõi Việt Nam ta từ xưa đến nay chưa hề có. Mà cũng chỉ có người nào đã chịu phép bóp-tem(*) của khoa học như Trần quân thì mới nói được ra. Cho nên, công việc nầy, nói thì mích lòng, đâu có thể trông mong được ở những nhà nho cổ hủ!

*

Nếu trong bài nầy tôi cứ tán tụng hoài như vậy thì thiệt là vô vị quá, chẳng có ích chi cho độc giả, mà cũng chẳng có ích chi cho tác giả chút nào.

Cuốn sách nầy tác giả nói rằng như là vẽ cái bản đồ của Khổng giáo, mà tự mình cũng chưa chắc là đã đúng hết. Vậy kẻ đọc nếu có thấy những chỗ chưa đúng ấy mà chỉ ra, há chẳng là có ích lắm sao?

Bây giờ tôi muốn chỉ ra một vài chỗ không đúng ấy. Nhưng tôi dựa vào đâu mà dám nói là không đúng? Ấy, chẳng có gì chắc chắn cho bằng lấy những chứng cớ trong sách họ Khổng ra mà đối cứu lại.

1. Tống nho với Khổng Tử. – Trong khi xét về Nho giáo, điều nên thận trọng thứ nhứt, là chớ làm lộn Khổng Tử với Tống Nho. Các ông nầy xưng mình là tiếp lấy chánh truyền của Khổng thị mà kỳ thiệt là có nhiều điều trái với thánh nhân. Điều đó tác giả vẫn đã biết rồi, có chỗ Trần tiên sanh nói rằng Tống nho đã đem Lão học và Phật học vào trong Nho giáo… Thế nhưng tiên sanh cũng còn có chỗ không khỏi bị Tống nho qua mặt mình.

Ở sách Nho giáo tr. 89, tác giả nói rằng: “Đối với cuộc tạo hóa thì Khổng phu tử cho rằng lúc đầu ở trong võ trụ chỉ có cái lý vô cực tức là đời hỗn mang mờ mịt không rõ là cái gì cả. Lý vô cực ấy tức là lý thái cực, v.v…”

Ấy là cái thuyết “vô cực nhi thái cực” của Chu Đôn Di ở nhà Tống, chớ Khổng Tử không hề nói như vậy. Trong kinh Dịch, Khổng Tử chỉ nói “Dịch hữu thái cực, thị sanh lưỡng nghi…” mà thôi, chớ không còn cái vô cực nào ở trên cái thái cực nữa.

Thiệt như tác giả nói, Tống nho đã dựa theo Lão học mà đem cái vô cực để chồng lên cái thái cực của Khổng Tử. Bởi vì Lão Tử có nói: “Vô danh thiên địa chi thủy”; lại nói: “Thiên hạ vạn vật sanh ư hữu; hữu sanh ư vô”. Lão Tử cho cái “vô” là bổn thể của võ trụ, tự thành ra cái thuyết một nhà; Tống nho đem mà nhập với cái thuyết của họ Khổng, làm cho tối mờ Khổng giáo đi cũng vì đó.

Cái triết học của Lão Tử là phát nhẫn từ chữ “vô”, cho nên hướng chiều về mặt tiêu cực, yếm thế. Còn cái triết học của Khổng Tử là phát nhẫn từ chữ “hữu”(1), cho nên hướng chiều về mặt tích cực, nhập thế. Vậy nếu đem vô cực làm cái lẽ gốc về võ trụ quan của Khổng Tử, thì thành ra một chỗ khớp trong cái đạo nhứt quán của ngài.

Nguyên câu “vô cực nhi thái cực” của Chu Liêm Khê(**) có ý là vô cực rồi mới đến thái cực. Nhưng theo Trần tiên sanh cắt nghĩa đây, thì vô cực tức là thái cực. Đã vậy thì nên cứ nói thái cực theo đúng như Khổng Tử, lại còn nói vô cực làm chi? Vậy xin Trần quân trả cái “vô cực” lại cho Tống nho, đừng đem mà nhập vào với cái thái cực của Khổng Tử.

Trong đoạn nầy, tôi không có ý cho bên nào là phải hay bên nào là trái; tôi không có ý binh bên Khổng Tử và bỏ bên Lão Tử cùng bắt bẻ Tống nho. Song tôi chỉ nói cách thật thà rằng: cái chơn lý của võ trụ cũng như là chén bạc chưa mở, các nhà triết học xưa nay cũng như là con bạc mỗi người đánh một vỉ theo ý mình. Trong khi chén bạc còn úp đó, nhà học giả là bọn ta đây cũng như tay phá hoả, nên coi từng vỉ cho thiệt rành mà không nên thò tay sửa vỉ của con bạc.

2. Triết học phương Tây với Khổng học. - Học giả đời nay hay đem cái học thuyết Đông Tây mà so sánh nhau, ấy là việc phải làm mà cũng là việc nên làm. Nhưng, so sánh nhau thì được, chớ còn chỉ quyết rằng cái nầy tức là cái kia, cái kia tức là cái nọ thì không được. Bởi vì sự hơi giống với nhau thì có, chớ còn giống hệt như nhau thì chưa hề có.

Tức như các danh từ về triết học, Đông có của Đông, Tây có của Tây, mượn mà chứng minh cho nhau thì không hại, đem mà đánh nhập vào một thì có hại. Vì những danh từ ấy là lợi khí cho ta dùng mà nghiên cứu, nếu dùng sai đi thì nó sẽ đưa ta đến chỗ lỗi lầm.

Như trong danh từ triết học, tây có chữ “Intuition”, chỉ nghĩa là sự biết thẳng, không cần phải suy nghĩ, phải lý luận. Chữ trong ấy triết học Tàu không có, nên người Tàu phải dịch là “Trực giác”. Cũng như chữ “Raison”, không có chữ sẵn, phải dịch “Lý tánh” hay là “Lý trí”.

Vậy mà trong sách Nho giáo, ở trang 23-24 và 31, tác giả cho “Lương tri” tức là “Trực giác” và “Trí” tức là “Lý trí”.

Chữ “Lương tri” xuất trong sách Mạnh Tử. Mạnh Tử nói rằng: “Nhân chi… sở bất lự nhi tri giã, kỳ lương tri dã”. (Cái điều người ta không cần suy nghĩ mà biết, ấy là lương tri). Cứ như ý nghĩa câu đó thì có hơi giống với “trực giác” thiệt, nhưng vốn khác nhau xa.

Theo ý Mạnh Tử thì lương tri là cái sự biết mà trời phó cho mình, hay là tự nhiên mà biết. Bởi vì tiếp sau câu đó ngài có nói thêm rằng: “Con nít mới đẻ ra, đều biết yêu cha mẹ mình; đến lớn, đều biết kính anh mình. Yêu cha mẹ, ấy là nhân; kính anh, ấy là nghĩa”. Coi như vậy thì cái lương tri, hàm nghĩa của nó rộng lắm, chẳng những bao nhân và nghĩa, mà luôn cả lễ, trí, tín nữa, cho đến cái trực giác hay là cái lý trí, nó cũng nuốt vào ở trong.

Lương tri là nói về “tánh”, còn trực giác – cả đến lý trí nữa – chỉ nói về cái cách nhận thức của nhà triết học dùng mà thôi. Cho nên không có thể nói quyết trực giác tức là lương tri được. Mà theo đó lại đủ biết rằng lý trí không phải là trí, vì Khổng Tử khi nào nói trí là chỉ về cái đức của người quân tử dùng để ứng sự tiếp vật, chớ không phải cái cách dùng để nhận thức mọi sự.

Ở trang 30, Trần tiên sanh có nói rằng: “Khổng phu tử không hay nói đến lý trí”. Ấy là bởi Tiên sanh nhận nghĩa chữ trí và lý trí không được rạch ròi.

Chính cái chữ lý trí là chữ dịch của Tây ra, thiệt Khổng Tử không hề nói đến. Nhưng cái phương pháp dùng lý trí mà nhận thức mọi sự thì Khổng Tử vẫn dùng. Như ngài nói “Thận tư chi, minh biện chi”, cùng những cái kêu là “cách vật, trí tri” trong Đại học, thì chẳng phải lý trí là gì?

3. Trần Trọng Kim với Khổng Tử. – Có những chỗ mà Trần tiên sanh lấy ý mình cắt nghĩa Khổng giáo; chỗ nào tôi thấy hợp với Khổng Tử thì thôi, còn chỗ nào tôi thấy là không hợp, thì tôi xin chỉ chỗ ấy ra.

Cái lẽ trung dung của Khổng Tử, nó ra làm sao, không có thể đem mà bàn luận ở đây. Duy nói tóm một điều, tôi cho nó là lẽ cao siêu quá, người ta khó làm theo được. Nếu đem cái lẽ trung dung mà truyền bá cho cái xã hội nầy thì hầu hết tín đồ của nó sẽ thành ra “hương nguyện” là một hạng người mà Khổng Tử đã ghét cay ghét đắng. Cho nên trong bài Ảnh hưởng Khổng giáo của tôi, tôi bảo bỏ cái thuyết trung dung đi, đừng nói đến là hơn, vì theo nó thì chưa chắc làm được “thánh hiền”, mà thiệt dễ làm ra “hương nguyện” quá.

Tôi nói trung dung khó theo, là tôi nói theo Khổng Tử. Chính trong sách trung dung, ngài tỏ ra cái ý ấy chẳng phải một lần. Ngài nói rằng: “Lẽ trung dung thật là là tột vậy thay, đã lâu rồi, người ta ít làm theo được!” Lại rằng: “Thiên hạ, quốc gia, có thể quân binh được; tước lộc có thể từ đi được; gươm đao, có thể xông vào được; chớ trung dung không có thể làm theo được!” Lại nói rằng: “Quân tử nương theo lẽ trung dung, trốn đời, đời chẳng biết mình mà mình chẳng ăn năn, duy có bực thánh mới làm được như vậy”. Đó, coi mấy lời ngài đó thì cái lẽ trung dung nó khó là đến bực nào!

Vậy mà sách Nho giáo, nơi trang 237, tác giả nói rằng: “Nói rút lại, đạo của Khổng phu tử là trung dung, tuy không huyền diệu siêu việt như đạo Lão, đạo Phật, nhưng cũng cao minh lắm, mà lại rất thích hợp với chơn lý, thật là cái đạo xử thế rất hay, rất phải, ai theo cũng được và thi hành ra đời nào cũng được”.

Lạ chưa! Cái người lập ra đạo trung dung ấy ở trước hơn hai ngàn năm nay, cho rằng rất khó, “ít làm theo được, duy có bậc thánh mới làm được”. Rồi đến cái người cắt nghĩa đạo ấy ở sau hơn hai ngàn năm, lại nói rằng “ai theo cũng được và thi hành ra đời nào cũng được”, bỗng hóa ra sự rất dễ! Độc giả biểu mình nên tin ai? Tự nhiên tôi phải tin lời Khổng Tử hơn là tin lời Trần quân vậy.

*

Ở trang 116, tác giả nói Khổng Tử “tin có quỷ thần”. Nói theo danh từ của học giới ngày nay, thì ý Trần quân cho Khổng Tử là hữu thần luận giả. Điều nầy tôi e còn chưa đúng. Theo tôi biết thì Khổng Tử là một nhà vô thần luận giả. Vì trong Luận ngữ nói: “Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần”. Lại khi Tử Lộ hỏi sự thờ quỷ thần, ngài cũng không trả lời. Song le cái chứng cớ ấy chưa vững mấy, vì có lẽ ngài nhìn là có, nhưng ngài không nói đến.

Tôi phải lấy cái chứng nầy cho chắc hơn chút nữa: Trong Luận ngữ nói: “Tế như tại, tế thần như thần tại”. Trong Trung dung cũng nói: “Dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu”. Hãy ngẫm nghĩ bốn chữ như đó cho kỹ, có phải ngài nhìn là không có quỷ thần, song trong khi tế tự, mình phải coi như là có không?

Đã tin rằng không có quỷ thần, thì sao còn bày ra tế tự làm chi? Đó là một vấn đề khác, cắt nghĩa ra đây rườm quá, xin cho tạm bỏ qua.

Lại còn có một cái bằng chứng nữa đủ tỏ ra Khổng Tử là vô thần luận giả. Mặc Tử là vị giáo chủ của đạo Mặc, sanh sau Khổng Tử độ non một trăm năm, có nói trong sách của mình rằng: “Nho dĩ thiên vi bất minh, dĩ quỷ vi bất thần”. Trong sách Mặc Tử có một thiên, kêu là “Minh quỷ”, chứng minh rằng quỷ thần là thiệt có, để phản đối lại cái vô thần chủ nghĩa của đạo Nho. Nếu nói Khổng Tử tin có quỷ thần, thì sao Mặc Tử còn phản đối mà nói ra lời như vậy?

Mặc Tử ở đồng xứ với Khổng Tử, vả lại cách nhau chỉ non một trăm năm, chắc là nói đúng hơn Trần tiên sanh là người ở sau Khổng Tử hơn hai ngàn năm và lại đẻ ra trong nước Nam Việt, bởi vậy tôi phải tin lời Mặc Tử.

Sự quỷ thần có hay không, là quan hệ với sự sanh tử. Trong khi Tử Lộ hỏi sự thờ quỷ thần, ngài không trả lời đã đành; kế hỏi đến sự sanh tử, ngài cũng không trả lời. Tuy vậy, hình như ngài có tỏ cái lẽ sanh tử ra trong Hệ từ kinh Dịch. Tại đó, ngài có nói rằng: “Tinh khí vi vật, du hồn vi biến”. Câu nầy chừng như nghĩa là: Lúc người ta sanh ra thì chịu cái tinh khí mà thành hình; đến lúc chết, cái du hồn biến đi, thì còn có quỷ thần đâu mà tin?

Trần tiên sanh vì đã lấy sự hữu thần làm cái quan niệm gốc của Khổng giáo, cho nên diễn dịch ra mà nói rằng Nho giáo tin hễ người nào tu đến bực thánh thì sau chết sẽ lên trời; có nhiều lần dẫn những câu “Tam hậu tại thiên” và “Văn vương trắc giáng, tại đế tả hữu” ra để làm chứng. Tôi e không phải. Mấy câu ấy chỉ là lời trong bài ca tụng của nhà vua dùng mà khoa trương tổ tông mình đó thôi, chẳng nên đem làm tài liệu cho sự khảo cứu về triết học.

*

Ngoài ba điều quan hệ ấy ra, còn đôi điều đáng nói nữa, mà nói những điều nầy ra thì e phạm đến chỗ cái ý kiến của Trần quân và của tôi đối với Khổng giáo, mà trên kia tôi đã hứa rằng sẽ không đụng chạm đến. Tuy vậy, không hề gì; trong khi nói, tôi vẫn giữ cái thái độ ngay thật đối với Khổng giáo, đối với Trần quân, và sau lại đối với tôi nữa.

Tôi bình nhựt vẫn nói: Khổng giáo không dung được với Tây học ngày nay vì có hai điều: một là cái vẻ huyền học của Khổng giáo trái với khoa học; hai là cái chủ nghĩa tôn quân của Khổng giáo trái với chủ nghĩa duy dân (démocratisme). Rồi tôi kết luận rằng ta ngày nay theo Khổng giáo chỉ nên lấy nội cái phần tu thân để đạt đến cái mục đích làm quân tử mà thôi; còn phàm những cái gì nghịch với hai cái của Tây học kia thì nên bỏ đi, vì sự theo Tây học cần cho ta ngày nay lắm.

Sách Nho giáo trang 36, tác giả nói rằng: “Nho giáo trọng sự chánh tâm tu thân, nhưng vẫn lấy điều trí tri cách vật làm cốt yếu. Vậy đem Nho giáo mà dung hợp với khoa học ngày nay, tưởng cũng không phải là trái với cái tôn chỉ của Khổng - Mạnh…”

Ý Trần tiên sanh muốn lấy bốn chữ “cách vật trí tri” đó để phân cớ rằng Khổng giáo không trái với khoa học.

Thế nhưng chỉ bốn chữ ấy mà thôi, ngoài ra thiệt có lắm điều trở ngại cho khoa học. Đại để Khổng giáo chỉ nói cái lẽ đương nhiên mà không nói đến cái lẽ sở dĩ nhiên, bảo người ta phải làm như vậy mà không cắt nghĩa cho người ta tại làm sao phải làm như vậy. Tôi tưởng cái phương pháp chuyên dùng trực giác ấy thiệt có hại cho cái tinh thần khoa học chẳng phải vừa.

Ấy là cắt nghĩa bốn chữ “cách vật trí tri” theo như ta thường hiểu đó. Chớ tóm hết thảy thì bốn chữ ấy còn có hơn bảy chục vị tiên nho cắt nghĩa khác nhau nữa kia. Mà kỳ quái nhứt là Vương Thủ Nhân, tức là Dương Minh tiên sanh, trong bức thơ đưa cho La Khâm Thuận, ngài có nói rằng: “Cách vật giã, cách kỳ tâm chi vật, cách kỳ ý chi vật, cách kỳ tri chi vật; chánh tâm giã, chánh kỳ vật chi tâm; thánh ý giã, thành kỳ vật chi ý; trí tri giã, trí kỳ vật chi tri”. Nếu “cách vật trí tri” mà theo như lời họ Vương đó thì thôi, thiệt không còn ra nghĩa lý chi nữa. Song ta lại phải biết, Vương học là một phái rất có thế lực trong Nho giáo, và hiện thời có nhiều người sùng thượng lắm.

Theo tôi tưởng, chúng ta ngày nay đối với khoa học, duy có một câu hỏi là: nên theo hay không? Nếu không nên thì thôi; bằng nên theo, có lẽ cần buộc ta phải theo, thì dầu có trái với tôn chỉ Khổng -Mạnh cũng vô hại vậy.

Còn đến cái vấn đề quân chủ, dân chủ, ở trang 212, Trần tiên sanh nói rằng: “Ngày nay người ta đổi quân chủ làm dân chủ, chẳng qua là chỉ đổi cái danh mà thôi, chớ cái thực, vẫn không sao bỏ được, vì rằng chánh thể nào cũng cần phải có cái quân quyền”. Do đó tiên sanh cắt nghĩa chữ trung quân của Khổng giáo là trung với cái quân quyền chớ không phải trung với người làm vua; và kết luận rằng bất kỳ ở vào thời đại nào, hai chữ trung quân vẫn có nghĩa chánh đáng.

Đọc cả cuốn sách Nho giáo, thấy có chỗ nầy tác giả nói hơi lúng túng một chút. Một ông vua chuyên chế đời xưa với một ông tổng thống của dân quốc đời nay, quyền hạn khác nhau thế nào, cái đó có lẽ Trần tiên sanh còn biết rõ hơn tôi, thế nào lại gọi được rằng đổi danh mà không bỏ thực? Nếu quả thiệt như lời tiên sanh đó, thì cả thế giới họ lấy cái lợi gì mà chịu chết hết lớp nọ đến lớp khác để chỉ đem có hai chữ tổng thống mà thay cho hai chữ đế vương? Tiên sanh lại nói “chánh thể nào cũng cần phải có quân quyền” - lời đó không đúng. Phải nói rằng chánh thể nào cũng cần có chủ quyền, mới đúng. Cái chủ quyền của các dân quốc đời nay ở đâu? Ở hiến pháp. Vậy thì nhân dân trung là trung với hiến pháp, trung với cái chủ quyền ấy chớ chẳng phải trung với cái quyền của vua nào hay là của ông tổng thống nào. Cho nên, ông nếu đem cái nghĩa trung quân của Khổng giáo mà thi hành trong một nước dân chủ nào, thì thiệt chẳng thấy có cái nghĩa gì là chánh đáng cả.

Tuy nhiên, tôi biết những chỗ nầy chẳng qua là tại cái cảm tình của Trần tiên sanh nó xui cho tiên sanh nói thế đó mà thôi; chớ ở trang 34, tiên sanh đã chịu rằng một cái học thuyết chú trọng trực giác như Nho giáo là không còn thích hợp với thời nay; kế qua trang 35, lại nói rằng ở vào thời đại nầy ta không thể trở lại theo lối sanh hoạt như thời cổ, thì tiên sanh không phải là thủ cựu đâu, xin độc giả chớ lầm.

Tiên sanh đã biết là dường ấy mà còn nói dường kia, chẳng qua vì đã kết cái duyên nặng với thánh hiền, phải có một cách tống tình khi lâm biệt; không có như tôi, đọc sách họ Khổng từ lúc sáu tuổi, đẻ ra và lớn lên trong cửa ngài, mà đến lúc chia tay, chẳng được một giọt nước mắt gọi là có!

*

Dầu thế nào đi nữa, đạo của Khổng thánh cũng còn có một phần rất cần thiết cho người mình, mà phần ấy choán hết già nửa trong đạo Khổng. Tôi xin tóm lại trong hai chữ “tu thân”. Nào những là chánh tâm, thành ý, thận độc, trí ngôn, lưỡng khí, trung, thứ, v.v… ấy đều là những cái khuôn phép nắn cho một con người nên hình một con người. Không phải là các đạo khác không có cái phần ấy; song ta là người Việt Nam, trải bao nhiêu đời nay, các đấng tiên dân ta đã thâm nhiễm trong đạo Khổng mà nên người rồi, thì bây giờ ta cứ lấy ở cái nguồn ấy có quen hơn và có tiện hơn.

Trong sách nầy, có một chỗ, tác giả nói rằng: “Ai đã tấm tắc đến cái tinh thần Khổng giáo, thì cũng có cái nhân cách tôn quý đặc biệt, khác hẳn người thường”. Câu ấy Trần tiên sanh nói đúng lắm, chẳng những tỏ ra rằng vào trong Nho giáo đã sâu, mà cũng tỏ ra rằng xem người thiệt từng trải lắm vậy.

Huống chi, phàm đã kêu là người có học, không cứ học thứ chữ gì, về các tông giáo, các triết học, mà đã gây nên một nền văn hóa xưa nay, là đều phải biết qua mới được. Có nhiều kẻ tự xưng là có học, mà hỏi đến Nho giáo, lại trả lời rằng tôi dốt cái đó, là nghĩa làm sao?

Muốn học đạo Khổng hay muốn biết qua Khổng giáo, nên đọc sách Nho giáo của ông Trần Trọng Kim.

Vì vậy trên đầu bài tôi có nêu lên rằng: Mặc dầu sống trong đời Âu hóa nầy, không biết Khổng giáo cũng không phải là người Việt Nam. Nho giáo là sách của Trần tiên sanh đã dùng thức lực và lắm công phu nghiên cứu mà làm ra, mọi người Việt Nam đều nên đọc.



PHAN KHÔI kính đọc và phê bình

Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.54 (29.5.1930)









(*) bop-tem (tiếng Pháp: baptême): lễ rửa tội của đạo Thiên Chúa; ở đây dùng theo nghĩa rộng.

(1) Thái cực tức là “hữu”, vì dễ hiểu nên tôi không cắt nghĩa và dẫn chứng (nguyên chú của Phan Khôi).

(**) tức Chu Đôn Di (1017-73) tự Mậu Thúc, nhà tư tưởng hàng đầu của phái lý học thời Bắc Tống; ông lập Liêm Khê thư phòng nên người đời gọi ông là Liêm Khê tiên sinh (Theo Từ điển bách khoa Nho Phật Đạo; bản dịch, Hà Nội, 2001).

Huỳnh Thúc Kháng CHÁNH HỌC CÙNG TÀ THUYẾT CÓ PHẢI LÀ VẤN ĐỀ QUAN HỆ CHUNG KHÔNG?

Huỳnh Thúc Kháng



CHÁNH HỌC CÙNG TÀ THUYẾT
CÓ PHẢI LÀ VẤN ĐỀ QUAN HỆ CHUNG KHÔNG?



Chiêu tuyết những lời bài báng cho một chí sĩ mới qua đời



Báo Phụ nữ tân văn số 67 ra ngày 28.8.30 có đăng bức thơ của ông Phạm Quỳnh chủ bút Nam phong trả lời cho ông Phan Khôi về câu chuyện “học phiệt”. Trong thơ ông Quỳnh có kể chuyện ông Ngô Đức Kế ngày làm chủ bút Hữu thanh có bài công kích ông về chuyện Kiều. Bài ông nói đó tức chỉ về bài Chánh học cùng tà thuyết của ông Ngô đăng ở báo Hữu thanh số 21 ra ngày 1er Septembre 1924, là một bài tuyệt xướng có giá trị nhứt trong quốc văn báo giới ta về khoảng vài mươi năm nay, mà đồng bào ta ai đã đọc đến, cũng in sâu vào trong não, không khi nào quên được. Thế mà 5, 6 năm nay, không nghe ông Quỳnh có câu gì biện bác bài ấy hay dở, phải không thế nào. Nay ông Ngô đã qua đời rồi, nhân ông Phan Khôi chỉ trích sự không trả lời ấy, ông Quỳnh mới giở mối hiềm riêng chất chứa lâu nay, công nhiên phô giữa công chúng rằng bài ấy là “câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyền lợi, không quan hệ đến học vấn tư tưởng gì cả…”. Ông lại bươi những chuyện riêng của ông Ngô với ông, hai người đối đãi nhau lúc bấy giờ, để làm chứng câu nói “cá nhân quyền lợi” của ông, mà buông lời thô bỉ như là “hàng thịt nguýt hàng cá”, “thỏa lòng ác cảm”, “đạo đức hương nguyện” v.v…, bôi lọ đến danh dự một người chí sĩ đã qua đời.

Những lời nói trên mà xuất tự một người văn sĩ xằng nào thì không đủ trách; song tự lỗ miệng và ngòi bút một người tân nhân vật, nghiễm nhiên tự nhận cái gánh gầy dựng một nền văn hóa mới cho nước nhà, lại chủ trương một cái cơ quan ngôn luận trong nước mười mấy năm nay, mà có lời thô bỉ tỏ cái tâm sự hiềm riêng, nói xấu cho một người thiên cổ, thì không thể bỏ qua được.

Ông Ngô Đức Kế là một người tài học trổ từ lúc thiếu niên; nếu như có ý thờ cái chủ nghĩa vinh thân phì gia, mượn lối văn chương để tiện đường mua giàu chác tiếng như ai, thì trong đám người đời mà lên mặt sang trọng thông thái ấy, ông làm đến đâu cũng thừa ra. Thế mà hy sinh cả thảy, chỉ ôm một lòng lo việc chung cho đất nước, trọn đời đày đoạ mà cứ khăng khăng một mực, cho đến ngày đậy nắp hòm. Trong cái sự nghiệp trước tác của ông, bài “Chánh học cùng tà thuyết” nói ở trên chỉ là một bài trong ngàn bài khác…

Lịch sử cay đắng của ông, đã nhiều người rõ, tôi không cần phải nhắc lại. Nay tôi xin gác lịch sử cá nhân ra ngoài, mà chỉ tựu trong phạm vi bài “Bác Kiều” của ông cùng bức thơ “Học phiệt” của ông Quỳnh mà biện bạch cho luận điểm có giới hạn để độc giả cùng xem:

a) Bài “Bác Kiều” đầu tiên đại ý nói: chánh học cùng tà thuyết, có quan hệ đến vận nước: chánh học xướng minh thì thế đạo, nhân tâm phải tốt mà nước được cường thạnh; tà thuyết thạnh hành thì thế đạo, nhân tâm phải xấu mà vận nước cũng suy đồi… Đoạn giữa nói đến truyện Kiều thì cho là một truyện phong tình, không đường nào tránh cái án của tám chữ “Ai dâm sầu oán đạo dục tăng bi”, thương, dâm, sầu, oán, mở đường tà dục mà tăng mối buồn rầu; dầu văn có hay cũng là một thứ văn mua vui (chính ông Nguyễn Du tác giả truyện cũng tự nhận thế), chớ không đem ra mà dạy đời được. Sau ông mới bài bác những người tán dương truyện Kiều rằng “quốc hồn quốc túy” đem làm sách dạy quốc văn; cho là giả dối, là hoặc thế vu dân… Toàn bài đại cương như thế, nói về nghĩa lý thì quang minh chánh đại, thật là một bài quan hệ trong học giới rất to tát; mà về lời biện bác thì lời nghiêm nghĩa chánh, có một cái mãnh lực như sét phang trước trán, nước xối sau lưng khiến cho ai đọc đến cũng tỉnh giấc hôn mê. Độc giả thử xem, một bài biện luận xác đáng rạch ròi như vậy, sao gọi là câu chuyện cá nhân quyền lợi, mà không quan hệ đến học vấn tư tưởng? sao gọi lập luận thiên đi? Như vậy mà cho là không quan hệ thì những lối trèo tường trổ ngõ, quạt ước trăng thề, ép liễu nài hoa, cắp hương trộm ngọc kia mới là quan hệ với học vấn tư tưởng sao? lập luận ấy mới là chánh sao?

b) Ông nói làng văn làng báo cãi nhau là thói con buôn thì câu nói rất trái lẽ mà không có cân lường: Phàm học vấn tư tưởng có biện chiết mà sau chân lý mới được rõ ràng; thuở nay những nhà học giả cãi biện nhau là một điều thường thấy; huống đã là nhà báo thì có cái nghĩa truyền bá chân lý, miễn là cãi biện nhau không ra ngoài luận điểm thì thôi. Nay ông nói cãi nhau là “hàng thịt nguýt hàng cá”, thì làng văn làng báo, cứ vầy hùa nhau, làm con sâu nhái tiếng cho nhau mà không xét đến luận thuyết có phải cùng không hay sao. Hàng rau hàng thịt cãi nhau là chỉ bọn thù vặt nói thàm kia chớ không đem điều ấy mà che cái vấn đề “Chánh học - tà thuyết” nầy được. Ông nói bài kia không phải phẩm bình truyện Kiều thì bài ấy nói chuyện gì? Ông tưởng 20 triệu đồng bào đều không có tai có mắt mà tin như lời ông nói sao?

c) “Đạo đức hương nguyện” là đạo đức thế nào? Cứ như lời ông Mạnh Tử đã giải thích thì hương nguyện là chiều đời dua tục, không nói trái với ai, chính là chỉ bọn nhu mỵ. Như con đĩ Kiều kia và cả chuyện Kiều nữa mới gọi là nhu mỵ. Thế mà cho kẻ bác học Kiều(*) là đạo đức hương nguyện thì cái chuyện phong tình ấy là đạo đức gì?

d) Ông nói: ông Ngô thấy người ta hoan nghinh Kiều mà có ý căm tức nên viết bài phản đối. Phải, căm tức là chính phải. Con đĩ Kiều kia, có cái giá trị gì? Người tô vẽ Kiều kia có công đức gì mà hoan nghinh?(1) Ông đã đề xướng chánh học thì đối với sự bất chánh đáng ấy mà phản đối chính là vì nhân tâm thế đạo mà sanh lòng công phẫn, chớ có cái gì gọi là thù riêng? Chính ông Quỳnh cũng tự nói rằng: họ Ngô cùng ông không có hiềm khích gì, kia mà!

e) Ông nói không phải nhu nhược, bị người ta công kích không biết đối phó, thì thật là câu độn từ mà không phải lời nói của một nhà học giả: Đã là nhà học giả thì phải yêu chân lý, người ta công kích mình (bất kỳ việc làm hay lời nói) mà hợp với chân lý, không chỗ cãi chối được thì mình phải phục tùng; nếu như người ta công kích mà trái lẽ, mình cứ lấy lẽ mà biện bác lại; ấy là thái độ chơn chánh của một nhà học giả. Bằng như người ta công kích mình, mình không xét phải hay là không, mà cứ công kích lại; người ta nói mình “văn sĩ lóp lép” thì mình tặng lại họ tên nọ tên kia… Ấy là biết đối phó mà không nhu nhược sao? Còn nói ông Ngô có cái lịch sử 10 năm ở Côn Lôn nên ông không ngang sức thì thật là vô lý. 10 năm Côn Lôn là một vấn đề, bác học Kiều là một vấn đề khác, hai điều có dính liếu gì đâu? Và trong bài Chánh học của ông Ngô, ông có đem 10 năm Côn Lôn mà khoe với ai đâu? Ông có làm Côn Nôn du ký mà tuyên bố để mua danh đâu? Lúc ấy ông Ngô còn, ông không đối phó mà đợi đến nay ông Ngô đã khuất rồi mới viện cớ nầy bươi lẽ nọ, để giành lại sự phải cho ông, thật là đủ chứng hai chữ nhu nhược ông nói trên.

Về sự bác Kiều mà ông Quỳnh không trả lời, lâu nay tôi vẫn kính trọng, tấm lòng phục thiện của ông rõ là thái độ quân tử. Phải như ông Phan Khôi hỏi điều ấy mà ông Phạm Quỳnh cho là chuyện cũ, chỉ lược giải mấy câu, không nói phạm đến danh dự một người chí sĩ đã qua đời, thì cái lòng quang minh lỗi lạc của một nhà học giả, người thức gia ai chẳng kính phục thêm? Nay cứ như bức thơ ông thì rõ cái mối thù riêng hiềm vặt, đối với chuyện công kích ấy chất chứa trong trái tim ông đã 5, 6 năm nay; nhơn ông Phan Khôi khêu mối mà ông kéo dây ra, toàn bức thơ ông không chỗ nào gãi ngứa vào bài “Chánh học cùng tà thuyết” kia, mà chỉ là những lời nhạo báng. Cái lối nặc oán ấy là tâm lý gì?

Độc giả thử xem bài “Chánh học” của ông Ngô cùng bức thơ “Học phiệt” của ông Quỳnh mà so sánh, thì đủ rõ ai là kẻ có lòng ác cảm riêng.

Sau nầy tôi xin chánh cáo cho anh em trí thức trong nước rằng: Truyện Kiều chẳng qua là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải là thứ sách học; mà nói cho đúng, Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại. Ở xã hội ta từ có kẻ tán dương Truyện Kiều, truyền bá học Kiều đến nay, đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mối ham mê của mình. Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều, gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít. Vậy ngày nay mà được trăm ngàn người học Kiều, thì khắp trong xã hội ta, không thấy cái gì ích mà chỉ thấy cái hại; mà nếu được một người “đạo đức hẹp hòi” như ông Ngô Đức Kế thì không khác gì cột đá giữ giòng sông lở, ngọn đuốc trong khoảng đêm trường, có công với thế đạo nhân tâm không phải ít, vì cái mãnh lực của ông đủ kéo được biết bao nhiêu kẻ sa hầm sụp hố kia.



HUỲNH THÚC KHÁNG



Tiếng dân, Huế, s.317 (17.9.1930)

Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.72 (2.10.1930)





(*) “kẻ bác học Kiều”: ý nói Ngô Đức Kế, là kẻ bài bác việc học Truyện Kiều (NST).

(1) Cho con đĩ Kiều không có giá trị gì thì phải lắm; còn bảo người tô vẽ Kiều không có công đức gì thì chúng tôi không chịu. - P.N.T.V. (nguyên chú).

PHAN KHÔI: Một bài vận văn rất có giá trị về lịch sử: Hà Nội Chánh khí ca

PHAN KHÔI: ( TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1928 }



Một bài vận văn rất có giá trị về lịch sử:
Hà Nội Chánh khí ca

Năm Tự Đức thứ 35 (1882) là năm Nhâm Ngọ, cách nay 48 năm, Hà Nội thất thủ, quan tổng đốc bấy giờ là cụ Hoàng Diệu tử tiết. Sau khi cụ thác mấy ngày thì ở Hà Nội có bài nầy truyền ra; và người ta đọc lại đọc đi cho đến bây giờ.

Trước khi Văn Thiên Tường chết theo nhà Tống, có đặt một bài ca gọi là Chánh khí ca, kể sự mình giúp vua nhà Tống không thành công và phải chết, chớ không chịu hàng nhà Nguyên. Hà Nội Chánh khí ca là do nghĩa đó và nói việc xảy ra ở Hà Nội.

Bài nầy, theo người ta nói, của ông Ba Giai là một nhà văn sĩ ở Hà Nội lúc bấy giờ làm ra.

Một bài văn đã hay lại có quan hệ nhiều về lịch sử, mà xưa nay chưa được in ra, thì chắc truyền không được rộng, và có ngày sẽ mất đi, là ngày nếu người ta quên nó ráo. Vì nghĩ như vậy chúng tôi mới đem đăng báo để truyền lại cho đời sau một cái sử liệu.

Trong bài nầy có một vài chỗ nói lời quá đáng, song chúng tôi cũng cứ để y nguyên văn, không đẽo gọt chút nào cả; chúng tôi tưởng để y như vậy chẳng những vô hại, mà lại nhơn đó được biết tâm lý của người mình lúc bấy giờ đối với nước Pháp thế nào.

Những chỗ nào trong bài cần phải chú thích thì chúng tôi sẽ chú thích ra đây. Không dám nói là đã tường tận, song chỉ biết được chừng nào thì chú thích chừng nấy.

C.D. cẩn chí

Một vừng chánh khí lưu bình,

Rộng trong trời đất, nhựt tinh sơn hà,

Hạo nhiên ở tại người ta,

Tấc vuông son sắt hiện ra khi cùng.(1)

Nên thua theo vận truân phong,

Ngàn thu rạng tiếng anh hùng sử xanh.

Có quan tổng đốc Hà Ninh

Hiệu là Quang Viễn, trung trinh ai bằng? (2)

Lâm nguy, lý hiểm đã từng,

Vâng ra trọng trấn mới chừng ba năm.

Thôn hồ dạ những chăm chăm,

Ngoài tuy giao thiệp, trong căm những là...

Vừa năm Nhâm Ngọ, tháng ba,

Rạng ngày mồng tám, mới qua giờ thìn,

Biết cơ trước đã giữ gìn,

Hơn trăm võ sĩ, vài nghìn tinh binh.(3)

Tiên nghiêm lên đóng trên thành,

Thệ sư (4) rót chén rượu quỳnh đầy vơi.

Văn quan võ tướng nghe lời,

Ai ai xin quyết một bài tận trung.

Ra uy xuống lịnh vừa xong,

Bỗng nghe ngoài đã đùng đùng pháo ran.

Tòa kiểm duyệt bỏ hết một đoạn

Bắn ra nó chết cũng nhiều(5)

Phố phường trông thấy, tiếng reo ầm ầm!

Quan quân đắc chí bình tâm,

Trên thành Cửa Bắc vẫn cầm vững binh.(6)

....................................

Không ngờ thất ý tại ta,

Vẫn rằng thắng trận, hóa mà thua cơ!

Nội công phải những bao giờ,

Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngả theo (7)



................................ (8)

Nào ai sức mạnh gan liền?

Nào ai cầm vững cho bền ba quân?

Nào ai có chí kinh luân?

Nào ai nghĩ đến thánh quân trên đầu?

Một cơn gió thảm mưa sầu,

Đốt nung gan sắt, giãi dầu lòng son,

Chữ trung còn chút con con,

Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây.(9)

Trời cao, biển rộng, đất dày,

Non Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi!

Than ôi trong lúc gian nguy!

Đau lòng ai cũng thương vì người trung!

Rủ nhau tiền góp của chung,

Rước người ra táng ở trong học đường.(10)

Đau đớn nhẽ! ngẩn ngơ dường!

Tả tơi thành quách, tồi tàn cỏ hoa!

Kể từ năm Dậu bao xa,(11)

Đến nay tính đốt phỏng đà mười niên.

Long thành thất thủ hai phen,

Kho tàng hết sạch, quân quyền dời tan.

Đổi thay trải mấy ông quan,

Quyên sanh tựu nghĩa, có gan mấy người?

Trước, quan Võ Hiển khâm sai (12)

Sau, quan Tổng đốc một vài mà thôi.

Ngoài ra võ giáp văn khôi,

Quan bào trâm hốt nhác coi ngỡ là...

Thanh bình làm hại dân ta,

Túi tham vơ nhặt chẳng tha miếng gì.

Đến khi hoạn nạn gian nguy,

Mắt trông ngơ ngác, chơn đi gập ghình.

Võ, như đề đốc Lê Trinh,

Cùng là chánh phó lãnh binh một đoàn,

Đương khi giao chiến ngang tàng,

Thấy quân hầu đổ vội vàng chạy ngay.

Nghĩ xem thật cũng ghê thay,

Bảo thân chước ấy ai bày sẵn cho?

Thế mà nghe nói mồ hồ

Rằng: quan đề đốc xuống hồ cửa tây;

Kẻ rằng: Treo ở cành cây

Người rằng: hẳn xuống giếng nầy không sai.

Thăm tìm ngày một ngày hai,

Định rằng hiệp táng cùng nơi học đường.

Hỏi ra sau mới biết tường,

Cũng loài uý tử, cũng phường tham sanh.

Phép công nên tội đào chinh,

Rồi ra nặng túi nhơn tình lại thôi (13)

Văn như Tuần vũ nực cười,

Bình Chi là hiệu, năm mươi tuổi già (14)

Biết bao cơm áo nước nhà?

Nhắm trong sĩ tịch cũng là đại viên.

Chén son chưa cạn lời nguyền,

Nỡ nào bỗng chốc quên liền ngay đi? (15)

Lại còn lẩn khuất làm chi?

Hay là tham tiếc mùi gì ở đây?

Hay là còn chước bình Tây,

Chực làm nội ứng, đợi ngày viện binh?

Hay là tiếc gái xuân xanh? (16)

Hay là còn chút khuê hình từ thân (17)

Ngổn ngang tính nỗi xa gần,

Rắp toan tịch cốc mấy lần lại thôi. (18)

Sao không sợ tiếng với đời?

Sao không thẹn với chế đài tuyền cung (19)

Kìa Tôn Thất Bá niết công, (20)

Kim chi ngọc diệp, vốn dòng tôn nhân,

Đã quốc tộc, lại vương thần,

Sao không nghĩ đến quân thân, nhưng mà.....

Nước non vẫn nước non nhà,

Nỡ nào để mất một tòa Thăng Long?

Thế xưa liệu đã chẳng xong,

Lại còn mở mặt trong vòng trần gian!

Tư giao sắp những mưu gian,

Thừa cơ xin chữ hội thương ra ngoài (21)

Ấy mới khôn, ấy mới tài,

Lẩn đi tránh tiếng, giục người tiến chinh.

Dâng công quyền nhận tỉnh thành,

Xui người đổ tiếng một mình quan trên.(22)

Tội danh thiệt đã quả nhiên,

Xin đem giao xuống cửu nguyên chế đài

Thung dung kể đến phiên đài(23)

Xỉ ban cũng đã tuổi ngoài sáu mươi.

Thác trong thôi cũng nên đời.

Sống thừa chi để kẻ cười người chê?

Nhĩ mi Tản lãnh đi về,(24)

Giang sơn tuyết chở, sương che cũng liều!

Còn như ty thuộc hạ liêu,

Kẻ công người quả còn nhiều chan chan,

Biết đâu cho hết mà bàn,

Sau nầy sẽ có sử quan phẩm bình,

Trước rèm gió mát trăng thanh(25)

Thừa lương có chốn nhàn đình thong dong.



Xa trông chót vót Bình phong(26)

Chúc mừng vạn thọ thánh cung lâu dài!

Rồi khi cá nước duyên hài,

Ra tay khương tế, giở tài kinh luân.

Nghiêu Thuấn quân, Nghiêu Thuấn dân,

Bát thiên thu, bát thiên xuân thái hòa!

Bây giờ ta gắn với ta,

Túy tinh khiển hứng, ngâm nga tiêu sầu.

Ở đời văn võ công hầu,

Càng nghe câu chuyện càng sầu bên tai!

Diễn nôm Chánh khí một bài,

Để cho thiên hạ người người khuyên răn(*).





Chú thích

(1) Đây nhẫn lên lấy đại ý trong bài Chánh khí ca của Văn Thiên Tường.

(2) Cụ họ Hoàng tên là Diệu, tự là Quang Viễn, người làng Xuân Đài tỉnh Quảng Nam, có đậu cử nhân và phó bảng.

(3) Tháng hai năm ấy, đại tá Henri Rivière đem hai chiếc tàu và mấy trăm lính ở Sài Gòn ra Hải Phòng, rồi lên Hà Nội, đóng ở Đồn Thuỷ. Cụ Tổng đốc thấy vậy thì sửa sang thành trì để phòng bị. Đại tá không ưng. Ngày mồng 8, lúc 5 giờ sáng, đưa tối hậu thơ, hẹn đến 8 giờ không đầu thì đánh.

(4) Nghĩa là thề với quân lính…….

(5) Có người đã chứng kiến trong khi giao chiến, nói rằng bấy giờ trong thành bắn ra, lính Pháp chẳng chết mấy; đấy là lời nói khoe đó thôi.

(6) Bấy giờ bốn ông quan tỉnh chia giữ bốn cửa, quan Tổng đốc giữ Cửa Bắc.

(7) Hai bên giao chiến từ 8 giờ đến 11 giờ thì kho thuốc súng trong thành phát hoả, quân lính rối loạn, bèn đổ chạy. Theo đây thì như có người làm nội công, đốt kho thuốc; song không phải, đó là lửa ngoài bắn vào.

(8) Quân Pháp leo vào thành từ phía tây.

(9) Cụ Tổng đốc Hoàng cởi giây thắt lưng bằng nhiễu điều ra tự ải trên nhành cây táo trước mặt Võ Miếu.

(10) Bấy giờ quyền táng ngài trong trường Đốc; sau đó ba tháng mới đưa quan tài về Quảng Nam.

(11) Năm Tân Dậu, Tự Đức thứ 25 (1873), Hà Nội bị thất thủ một lần rồi, lần nầy là lần thứ hai.

(12) Tức là cụ Nguyễn Tri Phương uống thuốc độc mà chết theo thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhứt.

(13) Đoạn nầy nói Đề đốc Lê Trinh không chết trong khi thành mất mà lại chạy trốn, theo phép phải có tội, song vì đút tiền thì được khỏi.

(14) Hoàng Hữu Xứng, tự Bình Chi, làm Tuần vũ Hà Nội bấy giờ.

(15) Bữa chiều mồng bảy, các quan có uống rượu mà thề cùng nhau sẽ lấy chết giữ thành.

(16) Ông nầy mới vừa cưới hầu non thì gặp giặc.

(17) Ổng còn mẹ già.

(18) Hoàng Hữu Xứng đã nhịn đói mấy ngày, sau ăn trở lại.

(19) Chế đài là Tổng đốc; tuyền cung là âm phủ.

(20) Tôn Thất Bá làm Án sát bấy giờ.

(21) Buổi sớm mai ngày mồng tám, quân Pháp mới kéo đến , ông Bá xin giấy ra thành để thương thuyết với tướng Pháp xin hoãn binh.

(22) Sau khi thành bị hạ, tướng Pháp giao thành lại, ông Bá đứng nhận. Ông ấy lấy chứng cớ mình ra ngoài hội thương mà đổ trách nhiệm đánh nhau cho một mình quan Tổng đốc, còn mình không dự.

(23) Phiên đài là quan Bố chính.

(24) Quan Bố (quên tên) thì chạy lên Sơn Tây rồi trở về Hà Nội, đi lại nhiều lần.

(25) Đây sắp xuống là lời tác giả tự phu.

(26) Bình phong là núi Ngự Bình ở Huế.

(các chú thích đánh số trên đây là nguyên chú của Phan Khôi)



Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 777 (4.10.1928)

---------------

* Nhan đề tác phẩm này, theo giới nghiên cứu, là Hà thành chính khí ca. Bạn đọc có thể xem toàn văn tác phẩm này ở các nguồn tư liệu khác. Về văn bản do phan khôi sưu tầm và chú thích trên đây, tôi xin lưu ý một điểm: vì Phan Khôi là cháu ngoại Hoàng Diệu nên có thể ông đã tìm hiểu kỹ lưỡng về sự kiện thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai (1882) và sự chú thích của ông có những nét đặc sắc riêng (NST)

PHAN KHÔI: : Dân quạ đình công

PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1928



Dân quạ đình công



Mồng bảy tháng Bảy năm Canh Thân,

Chiếu lệ bắc cầu sang sông Ngân.

Hằng hà sa số cu li quạ,

Bay bổng về trời dường trảy quân.

Hai bên bờ sông đậu lóc ngóc,

Con thì kêu đói, con kêu nhọc.

Đường sá xa xuôi việc nặng nề,

Phần lũ con thơ ở nhà khóc.

Bỗng nghe lệnh Trời truyền khởi công,

Nào con đầu cúi, con lưng cong,

Thêm thầy huyện Bẻo đứng coi việc,

Đụng đâu đánh đó như bao bông.

Ngán cho cái kiếp làm dân thiệt!

Làm có, ăn không, chết chó chết!

Cắn cỏ kêu Trời, Trời chẳng nghe,

Một con bay lên đứng diễn thuyết:

"Hỡi đồng bào, nghe tôi nói đây!

Dân quyền thạnh nhứt là đời nay,

Việc mà chẳng phải việc công ích,

Không ai có phép đem dân đày.

Trối kệ Hoàng Ngưu với Chức Nữ,

Qua được thì qua, không thì chớ;

Quốc dân Ô Thước tội tình gì,

Mà bắt xâu bơi làm khổ sở?

Anh em ta hè, về quách thôi! "

Luôn thể kéo nhau vào cửa trời,

Động trống đăng văn ầm đế tọa,

Ngai vàng bệ ngọc rung rinh, rơi.



Có tin dân quạ nổi cách mệnh:

Trời sai thiên lôi ra thám thính,

Đầu đen máu đỏ quyết hi sinh.

Ngừng búa, thiên lôi không dám đánh.

Tức thì chiếu Trời vạch mây ra,

Đánh chữ đại xá Trời ban tha;

Dân quạ ở đâu về ở đó.

Từ nay khỏi bắc cầu Ngân Hà.



Ờ té ra:

Mềm thì ai cũng nuốt,

Cứng thì Trời cũng nhả!

Hằng hà sa số cu li quạ,

Bay về hạ giới kêu "khá khá" (*).

C.D.



Đăng trong Phụ trương văn chương

của Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.726 (2.6.1928)

---------------------

* Theo một số nguồn tư liệu khác nhau thì Phan Khôi làm bài vè Dân quạ đình công vào khoảng năm 1911, kể về sự kiện thường được gọi là vụ án xin xâu ở Quảng Nam hồi năm 1908. Về văn bản bài vè, một số bản sưu tầm đã in gần đây (ví dụ Nguyễn Q. Thắng trong Từ điển tác giả văn hoá Việt Nam, Hà Nội, 1999; Phan Thị Mỹ Khanh trong Nhớ cha tôi Phan Khôi, Đà Nẵng, 2001, tr.150-152) có những chênh lệch về câu chữ. Tôi cho rằng văn bản in ở sưu tập này là bản do chính Phan Khôi cho đăng Đông Pháp thời báo năm 1928 nên đáng tin cậy hơn (LNÂ)

LẠI NGUYÊN ÂN : Phan Khôi và cuộc thảo luận sử học năm 1928 trên Đông Pháp Thời Báo

LẠI NGUYÊN ÂN

Phan Khôi

và cuộc thảo luận sử học

năm 1928

trên Đông Pháp Thời Báo



Các nhà nghiên cứu lịch sử chung, lịch sử báo chí, lịch sử văn học lâu nay hầu như chưa ai nói đến cuộc thảo luận này, có lẽ vì một lý do dễ thấy: ngành nghiên cứu lịch sử báo chí Việt Nam hiện giờ còn để những khoảng trống quá lớn trong việc mô tả diện mạo cụ thể của báo chí từng thời kỳ lịch sử.

Để thấy đường viền của cuộc thảo luận này, ta hãy trở lại sinh hoạt báo chí ở Sài Gòn những năm 1920-1930: bên cạnh báo chí tiếng Việt còn có khá nhiều báo chí tiếng Pháp, báo chí chữ Hán, trong đó lớn giọng nhất vẫn là các báo tiếng Pháp tuy chắc hẳn không chiếm được số đông công chúng. Không phải tất cả các tờ báo tiếng Pháp đều giữ lập trường thực dân trong khi họ có quá nhiều vấn đề của thế giới đương thời để tham dự. Tuy vậy không hiếm khi một vài ký giả hay học giả, hoặc cố ý hoặc vô ý, động chạm đến tự ái dân tộc của người bản xứ. Lúc đó một số ký giả người Việt đọc được các tờ báo Pháp đó sớm muộn cũng sẽ lên tiếng thông tin với đồng bào mình và tỏ thái độ trên các báo tiếng Việt.

Nội trong năm 1928, ít nhất có hai lần, hai tác giả Pháp là Albert de Pouvourville và Jean Bouchot đã viết trên báo chữ Pháp ở Sài Gòn rằng tổ tiên người An Nam mời người Pháp sang bảo hộ, rằng người Pháp đã giúp cho người An Nam chinh phục đất Nam Kỳ. Các ký giả Việt Nam như Đào Trinh Nhất, Nguyễn Phan Long,v.v.. đã lên tiếng phản bác trên cả các báo tiếng Việt lẫn báo tiếng Pháp, nhưng, như ký giả Tân Việt cay đắng nhận xét, đó chỉ là những lý sự giữa sa mạc, chính quyền thuộc địa không trách cứ răn đe gì các tác giả người Pháp, còn các tác giả ấy thì không đáp lại phản ứng của dư luận từ phía người bản xứ. Vì vậy, để sự bàn luận có quy mô và khiến đông đảo công chúng Việt Nam chú ý thì tốt hơn là nên chuyển thành cuộc trao đổi giữa các tác giả, ký giả người Việt. Có lẽ Phan Khôi đã tính như vậy nên khi bắt gặp một vài phát ngôn thiếu chính xác về nhận định sử học, ông bèn tận dụng để gây thành cuộc thảo luận lớn.

Hai phát ngôn rơi vào tầm ngắm nói trên thuộc về hai ký giả tên tuổi đương thời: Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng và Nam Kiều Trần Huy Liệu. Ở một bài xã thuyết trên tờ Tiếng dân (xuất bản ở Huế) Minh Viên có chỗ viết rằng Gia Long đã nhờ được binh lực nước Pháp mà làm thành cuộc thống nhất đất nước, còn Nam Kiều trong sách Một bầu tâm sự (lúc đó vừa mới phát hành thì bị cấm) cũng có chỗ nói Pháp quốc giúp cho [vua Gia Long] hai cái tàu và một ít súng thần công.

Dưới bút danh C.D. (viết tắt từ tên hiệu Chương Dân), Phan Khôi châm ngòi thảo luận bằng bài Mấy cái quái trong sách và báo ta (Đông Pháp Thời Báo, 1/5/1928). Ông nhắc người viết bài trên tờ Tiếng dân rằng bản điều ước ký khi hoàng tử Cảnh và Bá Đa Lộc được phái sang Pháp cầu viện, rốt cuộc đã không được phía Pháp thực hiện. Vì vậy chỉ có việc Bá Đa Lộc mộ được vài mươi người Pháp sang giúp Gia Long, song đó chẳng qua là người riêng của nước Pháp giúp chứ không phải chính nước Pháp giúp. Ông cũng nhắc tác giả Một bầu tâm sự nhớ rằng chuyện nước Pháp tặng tàu và súng là chuyện thời Tự Đức, sau khi đã ký hòa ước Pháp Nam, chứ không phải thời nội chiến Nguyễn Ánh chống Tây Sơn.

Trần Huy Liệu gửi đến tòa soạn Đông Pháp Thời Báo bài Trả lời ông C.D. (Đông Pháp Thời Báo, 12/5/1928), bảo vệ ý kiến cũ của mình bằng việc dẫn cuốn Đại Nam sử ký, một chỗ nói cuối năm 1784 Gia Long giao hoàng tử Cảnh cho cố đạo Bá Đa Lộc sang cầu cứu bên Pháp một vài chỗ khác nói trong năm 1789, Bá Đa Lộc và hoàng tử Cảnh đi tàu về, có vài chiếc tàu chở về súng đạn, và kể tên mươi người Pháp sang giúp việc trong quân.

Phan Khôi không chú trọng việc trả lời ý kiến phản hồi của Trần Huy Liệu. Ông muốn nhân dịp này làm rõ một số tình tiết lịch sử quan trọng và nhất là hiểu đúng ý nghĩa của chúng. Ông đã lần lượt cho in các bài: Bác cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam về hồi cuối thế kỷ XVIII (Đông Pháp Thời Báo, 2 kỳ: 15/5 và 19/5/1928); Trở lại việc nước Pháp giúp nước Nam: Sách Tàu nói bướng. Các nhà Hán học ta mở mắt ra mà coi (Đông Pháp Thời Báo, 10/7/1928); Nói một lần nầy nữa thôi, về việc nước Pháp giúp nước Nam. Một cuốn sách Tàu minh oan cho chúng ta (Đông Pháp Thời Báo, 4/8/1928). Đối tượng tranh cãi của Phan Khôi trong loạt bài này không phải là Minh Viên hay Nam Kiều mà là cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam, cái thuyết mà những tác gia đầu tiên có lẽ là một số học giả thực dân, cái thuyết mà giới quan chức nho sĩ Việt Nam tuy không muốn nhưng vì thiếu một nhận thức rạch ròi, họ đã ngấm ngầm cam chịu thừa nhận, cái thuyết mà tính đến những năm 20 thế kỷ XX - đã phổ biến khá rộng, đã thâm nhập không ít đầu óc trí thức người Việt, thâm nhập cả vào một số thư tịch sử học Trung Hoa, tóm lại đã thành một thảm họa nhận thức.

Phải nói ngay rằng tác giả bài báo đã nêu trong Tiếng dân lên tiếng phục thiện rất sớm. Trong bài Nói điều lỗi của ta là sự may cho ta (Tiếng dân số 79, Đông Pháp Thời Báo đăng lại 24/5/1928) tác giả Minh Viên nói thẳng rằng tôi tâm phục lời chỉ trích của ông C.D, rằng thấy có kẻ mới nghe mấy chữ nhờ binh lực nước Pháp mà đã lấy làm bất bình, cho là quái lạ thì theo ông (Minh Viên), thật không khác gì giữa vùng sa mạc mà thấy chòm cây tốt, ở chốn rừng không mà nghe tiếng chân người, dầu cho người vô tâm đến đâu cũng phải cảm động, huống tác giả là một kẻ đa tình, không thể nào ngăn mối lòng hứng khởi được.

Tuy vậy Minh Viên vẫn chưa dứt bỏ được quan niệm đồng nhất chủng tộc với quốc gia, vẫn cho rằng dầu thế nào mặc lòng, người nước mình hồi đó cũng có cầu cứu nước Pháp, nước Pháp cũng có hứa lời, trong cuộc chinh chiến cũng có tàu Pháp súng Pháp và người Pháp, rằng đương thời đại đó thì vua Gia Long tức là nước Nam ta, mà những người tóc vàng da trắng mũi nhọn mắt thau tức là nước Pháp; người Pháp cùng nước Pháp cũng không phân biệt là mấy, ông giám mục d’Adran cùng đôi mươi người Pháp, mà nói là nước Pháp cũng không sai bao nhiêu. Quan niệm còn đậm màu sắc trung đại này khác với quan niệm mang tính hiện đại của Phan Khôi theo đó nhận thức sử học cần dựa trên cơ sở phân biệt các quan hệ giữa quốc gia với quốc gia, và các quan hệ giữa các cá nhân với quốc gia hoặc tập đoàn chính trị quân sự, dù cá nhân ấy thuộc dân tộc, quốc tịch nào.

Việc đầu tiên Phan Khôi thấy cần giải trình với công chúng là cái sự thật mà vẻ tù mù của nó đã tạo cơ hội cho sự hình thành cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam hồi cuối thế kỷ XVIII. Kiểm lại sự việc thông qua các sử liệu, Phan Khôi ưu tiên lấy sử sách của người Nam chép ra làm chủ yếu vì việc này quan hệ với nước Nam nhiều hơn (Đông Pháp Thời Báo, 15/5/1928); ông đã đưa độc giả đi qua đoạn sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép truyện Bá Đa Lộc, sách Quốc triều chính biên toát yếu chép việc các năm Quý Mão 1783, Giáp Thìn 1784, Bính Ngọ 1786, Kỷ Dậu 1789 trong đó có ghi việc Nguyễn Ánh giao con trai là Cảnh cho Bá Đa Lộc làm con tin, nhờ Bá Đa Lộc sang thuyết phục vua Pháp đem binh sang giúp mình; Bá Đa Lộc và Cảnh lưu lại Pháp hai năm, song nhân vì trong nước có việc, người Tây không thể giúp được. Sách chính thống của triều Nguyễn chép về việc này quả thật hãy còn sơ lược quá, nhưng đã nói rõ phía nước Pháp chưa giúp gì cho Nguyễn Ánh. Phan Khôi cũng chọn sách sử Việt Nam do soạn giả Pháp viết để làm rõ sự kiện này. Ông nhận thấy sách Histoire moderne du Pays d’Annam của tiến sĩ văn khoa Charles B. Maybon viết khá dài và kỹ về sự kiện này nên đã tóm tắt lại cho công chúng. Sách này cho biết Nguyễn Ánh có giao cho giám mục d Adran (tức Bá Đa Lộc) một bức thư gồm 14 khoản, đại ý là nhờ nước Pháp giúp cho 1500 quân và tàu bè, súng ống, thuốc đạn thì Ánh sẽ nhường cho nước Pháp cửa Hàn, đảo Côn Lôn và cho Pháp độc quyền buôn bán ở nước mình. Đoàn của Bá Đa Lộc rời Việt Nam tháng 12/ 1785, đến Pondichéry (đất Ấn Độ lúc đó thuộc Pháp) tháng 2/1786, Bá Đa lộc xin viên Tổng đốc Pháp ở đây đem quân sang giúp, nhưng không được hưởng ứng, chỉ được họ cho tàu chở sang Pháp. Tháng 2/1787 đoàn của Bá Đa Lộc tới Pháp, gặp được vua Pháp Louis XVI. Tờ giao ước Pháp Việt được ký kết tại Versailles, nhưng việc thực hiện nó thì vua Pháp giao cho Tổng đốc Pháp ở 5 tỉnh Ấn Độ thuộc Pháp lúc ấy. Tuy được vua Pháp cắt cho ngân khoản 2 vạn đồng (tiền Pháp đương thời) dự chi cho việc can thiệp này, nhưng bộ ngoại giao Pháp lại có thư riêng nhắc viên Tổng đốc đương nhiệm là De Conway thận trọng, có lợi thì hãy cử binh, đừng làm gì si sứt khoản tiền trên vì vua Pháp đang túng bấn về tài chính. Vì vậy, khi đoàn của Bá Đa Lộc từ Paris trở về đến Pondichéry, mọi đề nghị của giám mục đều bị De Conway bác bỏ. Ông ta không cử binh sang Nam Kỳ, không cấp dù chỉ một chiếc tàu nhỏ đi báo tin cho Nguyễn Ánh, thậm chí không cấp tiền chi tiêu cho Bá Đa Lộc cùng hoàng tử Cảnh. Tháng 3/1789, Bá Đa Lộc được liên lạc từ Nam Kỳ cho biết Nguyễn Ánh đã chiếm lại được 5 tỉnh phía Nam, có nhiều tàu thuyền, nhưng vẫn mong có đạo quân lớn đến làm thanh viện. Một lần nữa Bá Đa Lộc xin De Conway phái một số tàu, một trăm lính pháo thủ sang Nam Kỳ và phía Nguyễn Ánh xin chịu phí tổn. Nhưng De Conway vẫn không nghe, thậm chí còn viết thư về bộ ngoại giao Pháp xin bác bỏ đề nghị của Bá Đa Lộc và bộ ngoại giao Pháp đã đồng ý với chủ trương không can thiệp của De Conway. Bá Đa Lộc đành nhờ tiền của một số nhà buôn Pháp ở Pondichéry và Ile de France, lại cũng dùng tiền Nguyễn Ánh gửi sang cho, mua một số tàu thuyền, súng ống, đạn dược, lại rủ được vài chục người Pháp, kể cả một số người đang là sĩ quan trong hải quân Pháp bỏ ngũ đi với mình sang đầu quân giúp Nguyễn Ánh. Rốt cuộc Nguyễn Ánh đã thắng trong cuộc nội chiến, lập nên triều Nguyễn, xác lập nền thống trị khắp đàng trong, đàng ngoài.

Tóm tắt đoạn sách của Maybon như trên, Phan Khôi đặt câu hỏi: Vậy thì, nhơn thấy giám mục Bá Đa Lộc nhờ tiền của mấy nhà buôn Pháp hoặc lấy tiền của Gia Long gởi sang mà mua tàu súng và mộ người Pháp về giúp vua để đánh lại Tây Sơn, rồi nói rằng đó là nước Pháp giúp, có được không? Và trả lời: Không được, vì đó là mấy mươi người riêng của nước Pháp giúp, chứ không phải chính nước Pháp giúp. Mấy mươi người ấy hoặc có vì lòng háo nghĩa chăng nữa, song đã không phụng mạng bổn quốc mình, ăn lương của vua Cao hoàng [ý nói Nguyễn Ánh] mà đi đánh giặc mướn, thì người ta chỉ coi như một bọn lính thuê mà thôi. (Đông Pháp Thời Báo, 19/5/1929)

Thêm một bước nữa, Phan Khôi còn khẳng định: nói rằng nước Pháp giúp đi chăng nữa, thì sự giúp ấy cũng chỉ giúp vua Gia Long mà thôi, nào có giúp gì cho nước An Nam mà hòng kể công với dân An Nam? Vì bấy giờ, cuộc loạn trong nước Nam chỉ là một cuộc nội tranh, bên nào thắng thì làm vua đó thôi; còn dân An Nam vẫn cứ làm dân, và nước An Nam cũng không hề bị mất mà! (Đông Pháp Thời Báo, 19/5/1928).

Phan Khôi phán đoán, nếu sự việc diễn ra ngược lại, tức là nước Pháp thi hành giao ước, đem quân giúp Nguyễn Ánh thì có lẽ nước Nam lại vong quốc ngay bởi nước Pháp trong lúc đó chưa biết chừng chứ không phải có thêm hơn nửa thế kỷ tự chủ nữa rồi mới bị Pháp xâm lược.

Cách trình bày và lý giải của Phan Khôi có lẽ đã giành được sự tán thưởng của khá đông độc giả Đông Pháp Thời Báo. Báo có đăng vào mục Độc giả luận đàm ý kiến của một điền chủ ở Vĩnh Long nguyên là một giáo viên là ông Huỳnh Ích Lợi bài Một cái đại ngộ điểm ta phải liệng ra ngoài sử Nam Việt (Đông Pháp Thời Báo, 22/5/1928). Vị độc giả này tỏ ý thấm thía nhất là học được cách hiểu mới mẻ, không dừng lại ở cách nghĩ hồ đồ rằng Tây giúp vua Gia Long, mà phải phân biệt việc nước Pháp tức là chính phủ Pháp giúp Gia Long với việc vài mươi người Pháp ăn lương của Gia Long mà giúp Gia Long. Sự việc mà Phan Khôi tóm lược trong sách của Maybon được ông xác nhận bằng cách dẫn thêm tư liệu từ cuốn Histoire générale do E.Lavisan chủ biên, và cuốn L’ Empire d’Annam của Gosselin.

Việc thứ hai Phan Khôi thấy cần phải làm rõ là xem cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam kia đã lây nhiễm như thế nào vào thư tịch Trung Hoa, nguồn thư tịch mà các giới sử học, văn hóa học Việt Nam xưa nay thường xem trọng. Ông khảo hai cuốn Thanh giám dị tri lục của Hứa Quốc Anh soạn dưới thời Thanh (trước 1911) và sách Bách khoa toàn thư của Thương vụ ấn thư quán ở Thượng Hải soạn dưới thời Dân quốc (sau 1911). Thanh giám dị tri lục viết rằng khoảng ngang thời Gia Khánh (1796-1821) ở Việt Nam chúa Nguyễn cũ dấy lên ở Nam Kỳ giành nước với Nguyễn mới (Tây Sơn), mượn binh của Pháp, hẹn trả bằng tiền nhưng về sau chỉ trả được phân nửa, lại vì việc giết cố đạo nên bị Pháp đánh chiếm lấy Nam Kỳ. Bách khoa toàn thư thì viết rằng Phước Ánh thuộc dòng Nguyễn cũ muốn chống Nguyễn mới (Tây Sơn) và thống nhất cả nước, bèn cầu cứu nước Pháp, hứa cho tự do giảng đạo và cắt cho cù lao Hóa Nam (?); sau Nguyễn cũ thống nhất được cả nước, nhưng bội lời ước; người Pháp giận, đánh các pháo đài ven biển miền Trung rồi chiếm Nam Kỳ.

Cái sai của cả hai cuốn sách Tàu này rất rõ. Phan Khôi phán đoán rằng họ viết sai vì họ đã theo những cuốn sách của những sử gia thực dân. Ông tin rằng các soạn giả Tàu đã dùng sách Pháp vì thấy họ đã để lại ở văn bản những dấu vết là những tên riêng viết lầm, ví dụ cù lao Hóa Nam (?), hoặc tên riêng Lê Tuấn chép ra Lê Tuần. Thế là cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam không những nhồi một mình sọ An Nam thôi, mà lại nhồi luôn cả sọ Chệt nữa! (Đông Pháp Thời Báo, 10/7/1928).

Để xảy ra điều này, theo Phan Khôi, có lỗi một phần ở giới sử gia Việt Nam. Phép chép sử hai chiến quốc nào phải lấy sử liệu của cả hai nước ấy làm gốc. Như người Tàu chép chuyện Pháp chiếm lãnh Việt Nam đây, tất phải căn cứ ở sách Pháp và sách Việt Nam. Song trong khoảng trăm năm nay trừ ra bổn sử chữ quốc ngữ và chữ Pháp của Trương Vĩnh Ký, Việt Nam có ai chép cái gì bằng chữ Hán đủ làm tài liệu cho người Tàu tham khảo đâu, trách nào họ chẳng vớ lấy chỉ một mình sách Pháp! (Đông Pháp Thời Báo, 10/7/1928).

Bởi vậy Phan Khôi cắn cỏ mà kêu các nhà Hán học trong nước, các ông tiến sĩ triều Nguyễn, hãy làm sách mà đính chính lại những sai lầm của sử gia nước láng giềng phương Bắc về sử cận đại nước mình như ở mấy cuốn sách trên kia đi! Vạch ra những sai lầm về sử Việt Nam trong một số cuốn sách Trung Hoa cũng tức là nhắc nhở sự cẩn trọng trước nguồn thư tịch này, nhất là về sử cận đại, tuy nhiên Phan Khôi vẫn tin rằng các học giả thực dân đã dựng nên ngụy thuyết trên kia dù sao cũng không thể lừa gạt được mọi học giả Trung Hoa. Ông tìm thấy cuốn Cận thế đại quốc gia chủ nghĩa của Lưu Văn Hải xuất bản năm Dân quốc 14 (1925) như tìm thấy lời minh oan cho sự kiện đang bàn, nhờ vậy ông có thể yên tâm viết bài cuối cùng, kết thúc một cuộc thảo luận mà càng về sau ông càng trở thành người độc diễn tuy được công chúng lắng nghe; đó là bài Nói một lần nầy nữa thôi, về việc nước Pháp giúp nước Nam (Đông Pháp Thời Báo, 4/8/1928). Phan Khôi đã tìm thấy một nhà sử học Tàu hiện đại, nghiên cứu các điều ước quốc tế theo tinh thần mới. Tương tự các học giả Pháp Gosselin và Maybon, Lưu Văn Hải xác định điều ước Pháp Việt 1787 chưa được ký và cũng chưa được thi hành. Sang giữa thế kỷ XIX, khi cách mạng Pháp đã qua, chính phủ Pháp muốn mở thêm thuộc địa, đã viện đến bản điều ước 1787 và việc triều Nguyễn giết cố đạo như hai cái cớ cho sự xâm lược. Lưu Văn Hải cho rằng phía Pháp chưa thực hiện giao ước thì chưa thể đòi quyền lợi từ phía Việt Nam. Vả chăng, nếu coi chút đỉnh viện binh và súng ống Bá Đa Lộc đưa sang là thi hành điều ước Versailles thì tính hợp pháp của bản điều ước này vẫn là điều cần xét kỹ. Theo công pháp quốc tế, khi lập một giao ước mà có dấu hiệu lừa gạt, gian dối thì bản điều ước ấy vô hiệu. Phía Việt Nam tham gia điều ước Versailles chỉ là cậu bé 8 tuổi, những người cùng đi với cậu đều là người Pháp, còn phía Pháp là vua Louis XVI và các chính trị gia hàng đầu. Dấu hiệu không bình thường, không công bằng khá rõ. Lại nữa, việc phía chúa Nguyễn hứa sẽ cho phía Pháp những thứ mà mình chưa có, - là điều không có giá trị về luật pháp. Những thứ của cải đem ra làm điều kiện trao đổi đó (hòn đảo, cửa biển, độc quyền buôn bán) lại mang tính ác liệt mà công lý không dung được, và hành động của phía Pháp thực hiện điều ước ấy là xúi giục cuộc nội loạn của các nước khác để kiếm lợi ích riêng cho mình; đây là điều mà các dân tộc văn minh nên lên án.

Phan Khôi đánh giá rất cao lập luận này: Xem những lời nghị luận trên đó thì thấy ra ông Lưu Văn Hải chẳng những không bị cái ngụy thuyết kia phỉnh gạt, mà lại đã ra công bài bác nó nữa và bài bác đến tận gốc (Đông Pháp Thời Báo, 4/8/1928).

Với việc dẫn giải cuốn sách của Lưu Văn Hải, Phan Khôi thấy đã có thể tạm kết thúc cuộc thảo luận mà thực chất nhằm đính chính một sai lầm trong nhận định về lịch sử cận đại Việt Nam. Ông kết luận bằng lời đề nghị: Xin hết thảy người trong nước phải biết tôn trọng quốc sử, phải biết tôn trọng sự thực của lịch sử nước mình, đừng để cho người khác xáo bậy đi. (Đông Pháp Thời Báo, 4/8/1928).

Vậy là cuộc thảo luận về một sự kiện thuộc lịch sử Việt Nam cận đại đã được Phan Khôi khơi lên và kéo dài suốt ba tháng ròng trong năm 1928 trên một tờ báo phát hành mỗi số khoảng 9 ngàn bản ở Sài Gòn và nhiều nơi trong nước. Điều này có ý nghĩa không nhỏ, cả về mặt nhận thức lịch sử, cả về mặt nâng cao ý thức dân tộc cho công chúng đương thời.

LẠI NGUYÊN ÂN