Chương 8
Nói về Giáo dục Đào tạo
Chương này chủ yếu tập hợp các bài của tôi đã đăng trên báo mạng, tạp chí, hay kỷ yếu. Tôi chép lại nguyên văn, một trong những lý do là báo chí yêu cầu viết bài ngắn, để làm nổi ý phát biểu dù là trong khuôn khổ giới hạn của số trang số chữ. Tôi giữ « nguyên văn » để giữ tính trung thực ; do đó bài nọ bài kia có thể có một số câu trùng lặp. Tuy nhiên, những câu này, đặt trong khuôn khổ của từng bài, làm sáng tỏ những ý kiến phát biểu.
1. Nói về Giáo dục Đào tạo
(Trong cuốn “Trong ngần bóng gương” , mừng thọ GS Đặng Đình Áng 80 tuổi, năm 2006).
Bùi Trọng Liễu
Tôi đã phát biểu những ý kiến của tôi về Giáo dục Đào tạo, đã từ mấy chục năm nay, ngay trước ngày hòa bình trở lại trên đất nước ta, thoạt tiên là qua những thư hoặc lời phát biểu điều trần tới các nhà lãnh đạo ở cái thuở mà còn rất ít người có điều kiện hoặc có ý muốn làm việc này ; tiếp theo là những kiến nghị trên báo, trên sách và phương tiện truyền thông khác khi thời thế đã cho phép, và tôi còn « lải nhải » nói đi nói lại mãi đến tận ngày nay. Hơn ba mươi năm là một thời gian rất dài trong một đời người – giữa nàng Kiều và chàng Kim Trọng chỉ «mười lăm năm ấy » [mà đã] « biết bao nhiêu tình », huống hồ đây đã vượt quá hai lần « mười lăm năm » – tôi chẳng còn gì hoàn toàn mới mẻ để mà nói, trong đó có những ý khi mới được chớm thực hiện đã bị lái đi theo đường khác, có ý đã trở thành ý của người khác – một điều rất đáng mừng miễn là nó đừng bị lạc hướng trong thực hiện – có ý đã hòa đồng với ý của một tập thể, vv. Vậy ở đây, tôi xin được nhắc lại, với sự cập nhật ngôn ngữ và nội dung cho hợp với thời thượng, một số điều vẫn còn dang dở tuy đã nói đi nói lại nhiều lần.
I. Về mục tiêu của việc học :
Về mục tiêu của việc học, khởi thủy tôi đã điều trần nội bộ, với những ý cứ luôn luôn ám ảnh tôi : đừng « cấm học » như một hình phạt ; đừng dùng bằng cấp để thưởng công ; nếu cần nâng đỡ các thành phần cơ bản thì chỉ nên tạo điều kiện thuận lợi (vật chất và « phụ đạo ») cho việc học được dễ dàng, nhưng chớ nhân nhượng nếu không đủ trình độ ; đừng dùng lý lịch gia đình để quyết định việc « cho phép » học hành. Nghĩ thì như vậy, nhưng phát biểu được ra thành lời, dù là nói bóng gió, đâu có phải là chuyện dễ. Mãi đến thời đổi mới, vào tháng 4/1987, giáo sư Phan Đình Diệu và tôi mới có dịp có viết chung một bài báo, với đầu đề là « Góp ý kiến về việc học », đăng trên báo Tổ Quốc số tháng 11/1987, rồi báo Nhân Dân đăng ngày 27/12/1987 và báo Tuổi Trẻ đăng ngày 29/11/1987. Tôi muốn nhắc lại đây mấy ý về việc học trong bài báo đó:
1.- Mục tiêu thứ nhất là tạo lập một cơ sở tri thức, văn hoá cho con người và xã hội.
a/ « Học » là một đòi hỏi của xã hội, bởi vì một xã hội tiến bộ chỉ có thể là tập hợp của những con người có trình độ hiểu biết cao.
b/ « Học » là một nhu cầu tri thức của mỗi cá nhân: nhu cầu đó cần được đáp ứng vì nó dựa trên quyền được hiểu biết của mỗi người.
2.- Mục tiêu thứ nhì là việc đào tạo chuyên môn nghề nghiệp:
a/ Đào tạo chuyên môn nghề nghiệp để đáp ứng cho các khu vực sản xuất, kinh tế, hành chính và cho các hoạt động xã hội khác của đất nước.
b/ Cho mỗi cá nhân một (hay những) chuyên môn nghề nghiệp, để mưu cuộc sống (và để thực hiện vai trò của mình trong chỗ đứng của mình trong xã hội).
Hai mục tiêu đó tạm gọi tắt là mục tiêu « kiến thức » và mục tiêu « nghề nghiệp » quan hệ với nhau, nhưng phải được phân biệt, và không nên xem là đồng nhất.
Thuở ấy, chúng tôi cũng đã nhấn mạnh :
1.- Trong sự phát triển của một nước, trình độ văn hoá, khả năng học hỏi và sự hiểu biết chung của quần chúng, cũng như của lãnh đạo, đóng một vai trò quan trọng, chứ vấn đề không chỉ phụ thuộc vào có bao nhiêu kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, vv. Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, yêu cầu hiểu biết chung để trở thành một người « có văn hoá », một xã hội « có văn hoá » càng ngày càng cao.
2.- Không thể tách rời trình độ đào tạo nghề nghiệp trong một nước ra khỏi trình độ chung của thế giới: thời đại hiện nay là thời đại của trao đổi, phân công, cạnh tranh. Cần phân biệt tư tưởng « không ỷ lại » với tư tưởng sai lầm « tự cấp, tự túc » đưa đến việc đóng cửa và dàn đều ở một trình độ thấp, chất lượng kém. Trong đào tạo nghề nghiệp ngày nay, cũng như trong vấn đề sản xuất, cần có lựa chọn trọng điểm, trọng tâm và bảo đảm chất lượng cao.
3.- Phải phân biệt giữa ba vấn đề : học, học vị và vị trí nghề nghiệp trong xã hội. Mặc dù ba vấn đề đó liên quan mật thiết với nhau, không thể lẫn lộn hoặc để nhập nhằng rằng cứ học là sẽ có học vị, cứ có học vị là sẽ có vị trí nghề nghiệp. Nếu không thì học vị sẽ không đánh giá đúng trình độ hiểu biết, và vị trí nghề nghiệp sẽ không tương xứng với thực lực. Và từ đó sẽ xảy ra sự hỗn loạn trong phát triển và sử dụng trí tuệ. Sự hỗn loạn đó sẽ có những hậu quả rất lâu dài, kéo theo những hỗn loạn khác trong kinh tế, luân lý, xã hội, văn hoá, vv.
Ngày nay, đọc lại mấy dòng viết đó, tôi không thấy là thừa, và dường như vẫn còn mang tính thời sự. Vì vậy mà gần đây, tôi còn cố phát biểu tiếp về « Một nền giáo dục đào tạo lành mạnh » (Thời Báo Kinh tế Sài gòn đăng một phần ngày 16/2/2006, Tia Sáng đăng ngày 20/2/2006) như sau:
Một vế trong vấn đề phát triển bền vững là phải có một nền Giáo dục đào tạo (GDĐT) « lành mạnh ». Điều này đã đem ra bàn cãi nhiều rồi, và hầu như đã được sự đồng thuận, bởi vì trong thời đại xã hội tri thức và thông tin này, trong khung cảnh toàn cầu hóa mà sự cạnh tranh luôn luôn hiện diện, « trình độ biết việc » và « giá trị của tay nghề » càng ngày càng là những tiêu chuẩn phân định trong cuộc chạy đua kiếm khách mua hàng, và hơn thế nữa, bao trùm lên cả vấn đề kinh tế, sự cạnh tranh toàn cầu còn là sự tranh đua của bản thân các xã hội. Nhưng thế nào là « lành mạnh » ?
Theo tôi, nói tóm tắt, một nền GDĐT « lành mạnh » là : một nền GDĐT có sứ mạng rõ rệt, mang mục tiêu khả thi, trung thực, mang tính khoa học, phân minh, bảo đảm được hiệu quả ích lợi cho đất nước, bảo đảm được sự công bằng cho mọi thành viên trong xã hội, vv.
Vì giới hạn của câu chữ, tôi chỉ xin nêu vài nét chính với thí dụ minh họa tập trung vào nền Giáo dục đại học:
Sứ mạng của đại học là gì, và tại sao ở mức độ đó, giảng dạy lại phải gắn liền với nghiên cứu khoa học ? (Tôi dùng từ « đại học » theo nghĩa tôi vẫn dùng từ trước đến nay, nghĩa là bao trùm cả cái gọi là « sau đại học » nữa, như Luật giáo dục 1/1/2006 rốt cục đã công nhận trong điều 4.d/ chương I). Nói vắn tắt bằng một câu : sứ mạng của đại học là mở rộng biên thùy của sự hiểu biết, mang sự hiểu biết (đã, đang và sẽ có được) vào cuộc sống ; do đó từ nghiên cứu cơ bản, tìm cách chuyển sang nghiên cứu ứng dụng, rồi sau đó tìm cách đưa vào sử dụng đại trà (thí dụ như khâu công nghệ của một số ngành, có liên kết với các doanh nghiệp), song song với sự chuyển giao hiểu biết. Từ sứ mạng đó, mới định ra mục tiêu, qui chế, mới phân biệt phần kiến thức cơ bản và phần đào tạo nghề nghiệp, mới đưa những phương tiện tài chính và vật chất vào để thực hiện, mới tính toán sao cho cân đối ngành nghề hợp với nhu cầu, mới phân chia vai trò của công lập và tư lập, vv. Sức mạnh của các nước phát triển cao hiện nay chính nhờ ở quan niệm đại học như vậy, dựa trên cơ sở một niềm tin lành mạnh vào khoa học. Nó khác xa với một quan niệm về một nền đại học nào đó tồn tại trong một số người Việt Nam, kiểu : « đại học » là nơi nhắm đào tạo ra những «danh nhân », mà thời thịnh thì giúp vua trị dân, thời suy thì vinh thân phì gia ; thậm chí ngày nay còn có ý đòi hỏi nơi đó phải là nơi có những phương tiện đồ sộ, và tụ tập những nhân vật có chức danh cao quí (!), nhưng mục tiêu thì lu mờ. Nguy cơ vụng sử dụng sẽ là : để tự tồn tại, một số nhân vật phải bày ra những công trình nghiên cứu để chứng minh sự cần thiết của mình, và rồi chuyển giao sự hiểu biết về những phát minh vô bổ của mình cho những sinh viên chen đua vào học để có bằng cấp nhắm kiếm được một địa vị xã hội, và rồi cứ quay vòng như vậy… Một quan niệm sai lạc như vậy không thể tạo ra những con người « biết việc » và những « tay nghề có giá trị » cần thiết cho sự phát triển.
II. Về đào tạo người:
Gắn liền với mục tiêu của việc học là vấn đề đào tạo con người. Trong bài báo « Về ý muốn đào tạo nhân tài » đăng trên Tia Sáng số tháng 9/2004 – sau khi bày tỏ sự dè dặt của tôi đối với một định nghĩa nào đó về « nhân tài » khá thông dụng ở một số người : họ đánh đồng « nhân tài » với người có bằng cấp cao, thật hay giả – tôi có viết :
Tôi thiết tưởng một nền giáo dục đào tạo (GDĐT) « hay » cho một xã hội « bình thường » – ở đây, « bình thường » không phải là « tầm thường », mà nghĩa là « lành mạnh » – là giáo dục được những con người « bình thường » thành những công dân « bình thường », đào tạo họ thành những con ngưòi « biết việc », đảm nhiệm tốt những công việc « bình thường ». Trong một xã hội bình thường như vậy, lương đủ sống làm cho ai cũng đảm nhiệm công việc của mình, không phải làm thêm để kiếm của ; xã hội ổn định, nên con người không phải lo tích lũy riêng cho mình, rồi cho con mình, rồi cho cháu mình một cách vô tận; giàu nghèo không chênh lệch quá đáng cho nên tình người tồn tại, vv. Trong xã hội bình thường đó, bằng cấp đánh giá đúng được trình độ hiểu biết, chức danh phù hợp với nhiệm vụ, luật pháp cho phép và bảo đảm cho những người làm ăn lương thiện phát huy được tài năng của họ, và nhân tài từ đó mà có. Trong một xã hội bình thường đó, ngành nghề nào cần được tăng cường thì chỉ cần tăng số sinh viên, số người học nghề, số nghiên cứu sinh, và trang bị thêm phương tiện cho ngành đó, mà chẳng cần bàn luận dài dằng dặc về trình độ nào, hạch xát như thế nào, tính số năm dài ngắn như thế nào, để có được nhân tài. Ngược lại, một nền GDĐT «dở », là một nền GDĐT chỉ nhắm khuyến khích con người nuôi dưỡng ý tưởng trở thành những danh nhân bản xứ, danh nhân sở tại… Tôi thiết tưởng ngày nay, đất nước không thể thịnh vượng hơn nếu chỉ cứ nhắm tăng số anh hùng được bàu, tăng các kỳ thi đua (bởi vì cao thấp cũng chỉ là tương đối, « trong nhà nhất mẹ nhì con »), nếu chỉ qui định rằng đang ở chức vụ này thì phải có bằng cấp kia (bởi vì người ta sẽ tìm cách mua bán bằng cấp, giả mạo trong thi cử, dối trá trong việc làm luận văn, rồi sinh ra đạo văn, đạo ý, đạo ngôn, …), nếu chỉ nhắm những tiêu chí kiểu bao nhiêu trường, bao nhiêu thày, bao nhiêu trò, bao nhiêu năm (bởi vì sẽ rơi vào cái cảnh nói dối theo thống kê, chạy theo thành tích). Và người ta dùng mọi biện pháp, thường là bất chính, để có được mảnh bằng để rồi tranh giành nhau để lấy địa vị xã hội, để ăn trên ngồi trốc.
Từ một số năm trước, đã thấy manh nha xuất hiện một số hiện tượng không bình thường, và tôi đã có lời can, trước là bằng con đường nội bộ, sau là trên mặt báo như trong các bài báo : « Một Viện Hàn lâm khoa học lúc này ở Việt Nam? », Nông nghiệp Việt Nam 29/11/2001(để can hư danh); « Bán hàm», Nông nghiệp Việt Nam 15/4/2002, và « Vài phô trương không cần thiết », Nông nghiệp Việt Nam 16/5/2002 (để can đừng tôn vinh danh hiệu hão (1) ); « Trình tự đảo lộn », Tia Sáng số tháng 7/2002, (can cách làm phi lý: bổ nhiệm vào chức vụ trước rồi mới tổ chức cho « học » và « thi lấy bằng sau »; điều này cũng đã có người nói trước tôi: một nhà giáo dục có phát biểu trong một bài báo cái ý là ngày xưa « thi rồi mới cử » còn ngày nay thì « cử rồi mới thi »), « Vài điểm về tổ chức giáo dục đại học nhìn từ ngoài», Nhân Dân 1/12/1999 và Tia Sáng số 12/1999 (nhắc lại sự mong mỏi của tôi đựoc thấy giáo sư đại học là một « chức vụ » như các nước vẫn thường làm, chứ không phải là một « hàm » phong để vinh danh, nghĩa là tôi mong mỏi trở lại với cái ý mà tôi điều trần từ năm 1975 với Thủ tướng Chính phủ thuở đó). Nói, nhưng chắc gì đã có người nghe thấy.
III. Một lối ra:
Nhận xét tình hình rồi, mà không đề nghị biện pháp, thì e rằng chỉ hoàn toàn là phiếm luận. Vì thế nên một câu hỏi đáng được chú ý là : trong một xã hội đã « trót không bình thường » như ở ta, thì giải pháp trong cấp bách phải là gì?
Tôi thiết tưởng, nói gọn vài nét, cái « hướng » chung phải là : nghiêm phạt những sự gian lận (như cấm thi mươi năm đối với những học sinh quay cóp; có hình án đối với những người tổ chức gian mạo; cất chức những người bao che; truy tố kẻ mạo danh). Những việc ấy sẽ không làm xáo trộn xã hội, mà ngược lại sẽ góp phần mang lại ổn định. Tất nhiên, nói thì dễ, làm thì khó, nhất là trong một số xã hội nơi hạ giới này, thường có một giới thần tiên. Để cho rõ ý, tôi xin kể một giai thoại làm ví dụ: có lời đồn về ông Shah Mohammed Shah Aga Khan (1877-1957), imam (giáo chủ) thứ 48 của cộng đồng Hồi giáo Ismaeli – một cộng đồng một thời khá thịnh ở vùng Pakistan thuở xưa, sau tản mát ở nhiều nước. Nghe kể: Ông rất thích uống rượu sâm banh. Có người hỏi ông rằng : « Đạo Hồi cấm uống rượu, sao Ngài lại uống?». Ông trả lời : « Khi Ta bưng cốc rượu lên đến miệng, thì nó biến thành nước, nên Ta uống được không sao » ! Nếu thật vậy thì ông đúng là thần tiên linh thiêng nơi hạ giới, nên thoát khỏi những qui định. Trở lại lĩnh vực GDĐT, tôi thiết tưởng ít nhất nhà cầm quyền cũng có thể răn đe nghiêm cấm « người trần tục » để cho sự phạm pháp đừng trở thành nhởn nhơ đại trà.
Về cách tổ chức, trong tình hình hiện tại rất phức tạp, không đồng đều và đôi khi tự phát của ngành GDĐT của nước ta, một cuộc chấn hưng « toàn bộ » tất khó thực hiện được. Do đó, xin nhắc lại một trong những kiến nghị của tôi trong thời gian qua là lập ra một [vài] cơ sở đại học công lập hoàn toàn « mới », cỡ nhỏ, đa khoa, không cần đủ các ngành, nhưng đủ các « cấp » kể cả cấp đào tạo qua nghiên cứu (tiến sĩ), để có sức quản lý cho tốt để làm gương. Đồng thời cứ để cho các đại học khác tiếp tục tồn tại, dù là công lập, dân lập hay tư lập, kệ họ phát triển tốt, hoặc lay lắt, hoặc biến đi, miễn là đừng đi lệch hướng. Việc lập ra những cơ sở mới bên cạnh những cơ sở cũ (đang tồn tại nhưng không đáp ứng được hết những yêu cầu của thời đại) cũng là chuyện đã xảy ra từ thuở xưa đến nay ở nước khác. Do đó, không nên tiến hành cải cách bằng việc đổ ồ ạt những phương tiện vào những cơ sở cũ ghép lại cho có vẻ đồ sộ, (dù cho có cài một vài tính cách « cho là mới » vào đó), vì như vậy là vừa tốn kém vừa ít hiệu quả (như kinh nghiệm cách đây hơn mười năm đã cho thấy, điều mà tôi đã hết sức can thuở đó : rất tốn kém mà không mang lại hiệu quả mong đợi, cứ sai rồi sửa, rồi càng sửa càng sai). Việc lập ra một [vài] đại học nhỏ, nhưng hoàn toàn « mới» như kể trên, hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế « bình thường », mang tính cách «hoa tiêu » (« đại học hoa tiêu»), chính là cách tiến hành cuộc chấn hưng có hiệu quả, mà không làm cho các thành phần liên quan bị « hãi ». Theo tôi, đó là con đường nhanh nhất, rẻ nhất, thực tế nhất, dẫn tới chấn hưng GDĐT của đất nước. Ý này, nay hình như may mắn đã trở thành ý của một số người khác; nhưng về cách tiến hành thì sự khác biệt khá xa. Theo kinh nghiệm của bản thân, ở nước tôi định cư – và tôi có nhắc lại ý này trong bài báo Tiền Phong đăng ngày 14/10/2005 (2) – tôi nghĩ rằng lẽ ra nên trao việc thực hiện cho một người « đặc nhiệm » (tiếng Pháp gọi là « chargé de mission »), trong một thời gian có hạn, được toàn quyền lựa chọn thành viên hội đồng khoa học và đồng thời là ban trị sự: họ có nhiệm vụ thành lập cơ sở hành chính và vật chất, soạn thảo văn bản xác định sứ mạng mục tiêu của trường, tuyển chọn nhà giáo đợt đầu, thành lập các ban soạn lập chương trình giảng dạy, tuyển sinh đợt đầu, vv. Nhiệm vụ ngắn hạn của người « đặc nhiệm » và cộng tác viên làm tăng tính cách « vô tư » của họ. Sau đó, chính đội ngũ nhà giáo được tuyển sẽ tự bầu ra các hội đồng, các ban của trường cho các đợt tiếp theo. Lúc đầu thì tầm cỡ khiêm tốn, cứ lẳng lặng mà tiến hành (sau này sẽ khuếch trương), như vậy tránh được sự đố kị; đó là cách làm của « nhà nghèo » mà muốn được việc (ngay nước tôi định cư cũng không dám tự coi là tiền của vô hạn !). Cách làm kể trên khác với cách làm dự án đồ sộ, đất đai rộng, nhà cửa to, ngân quĩ lớn, dễ gây ganh tị, cản trở, « ném vỏ chuối », vì tiền bạc trên thực tế cũng có hạn, mà ai cũng muốn hưởng. Tiếc rằng khuynh hướng chính thức và của một số người thì lại khác: lập ban trù bị đầy đủ đại diện cả mọi cơ quan, thành phần, ai cũng được hỏi ý và góp ý, người trong nước rồi người ngoài nước – « [mới] ba người [mà đã] mười ý », e khó tránh được cảnh « đẽo cày giữa đường » : khúc gỗ để đẽo cày, trở thành mảnh gỗ gọt cái chìa vôi, rồi teo thành miếng gỗ vót cái tăm xỉa răng). Nhưng là một người đã nghỉ hưu, định cư ở xa, tôi chẳng có cách nào khác là chỉ bộc bạch ý nghĩ của mình mà thôi, kèm theo lời thành thực chúc thành công cho những dự án đồ sộ, nếu mà thực hiện được mà không lãng phí thì tôi mừng cho đất nước quá.
IV. Những điều khó hiểu về cách học cách dạy:
Từ một khoảng thời gian nay, tôi thấy nhiều thông tin về việc học và dạy quá tải ở mọi cấp trong nước, kể cả tiểu học, về cách học vẹt, về cách thày đọc trò ghi, vv. Thú thật là có những điều tôi không hiểu. Nếu có nơi nào ở hạ giới này mà còn một giới thần tiên, thì tất nơi ấy phải có Thánh kinh, mà người trần tục nơi đó phải học. Đã là Thánh kinh, thì không có chuyện lô-gíc, chỉ có chuyện tin (hay giả bộ tin), và phải học thuộc lòng, vẹt hay không, không có chuyện hiểu hay không hiểu, sáng tạo hay không sáng tạo. Vậy thì hãy tạm gác ra một bên câu chuyện học Thánh kinh, mà chỉ nói để những môn học « trần tục ».
Chữ viết của ta ngày nay là chữ viết theo kiểu chữ cái (alphabet) la-tinh; chữ viết chủ yếu lại theo âm đọc. Tôi nhớ thuở trước và sau Cách mạng Tháng Tám 1945 mấy năm, với phong trào « Truyền bá quốc ngữ » rồi « Bình dân học vụ », những người lớn tuổi mù chữ, đầu óc đã « cứng », cũng chỉ học ba bốn tháng là đọc được viết được. Có một thứ chữ quốc ngữ như ngày nay, là một ưu thế lớn, không phải như thứ chữ Nho mà tổ tiên ta học mượn viết nhờ trong gần một nghìn năm, cũng không phải như thứ chữ Nôm, vừa khó học vừa « bất nhất » (chưa thành lối chữ nhất định), như tôi có dịp tỏ ý trong bài « Thoáng nghĩ về chữ Nho», Nông nghiệp Việt Nam số Tết Nhâm Ngọ 2002 và Tia Sáng số Xuân tháng 2/2002.
Vì vậy, có lẽ phải tìm nguyên nhân những bất cập kể trên ở các môn học, các chương trình học, cách tổ chức học và cách dạy học như tôi đã có dịp viết trong bài « Kỹ thuật giết rồng », Tia Sáng tháng 2/2003 (3) – đó là câu chuyện ngụ ngôn cổ kể việc có người bỏ ngàn vàng đi học nhiều năm thông thạo kỹ thuật giết rồng, rồi không biết tìm đâu ra rồng để mà giết ; người xưa dùng chuyện đó để chê việc học những điều vô ích. Về cách học trọng sự bóng bảy bề ngoài trong khi nội dung rỗng tuếch, thì đã nhiều người nói tới, tôi xin bỏ không nhắc lại. Ở đây tôi muốn đặt « kỹ thuật giết rồng » trong khung cảnh tương quan giữa mục tiêu đào tạo và nội dung việc học, không chỉ bao gồm các môn học không cần thiết cho xã hội, mà còn bao gồm cả quan niệm sai lệch về mức độ hiểu biết cho từng loại tuổi, từng loại người, học thừa để bị hiểu thiếu, đánh giá cao thấp không đúng mức, vv. Ngày nay, nền kinh tế của nước ta là kinh tế thị trường (dù có định hướng) trong một khung cảnh toàn cầu hóa, GDĐT cần phù hợp với những mục tiêu « cao cả » đặt ra cho toàn xã hội. Mặt khác, trong sự đánh giá lợi hại, cũng nên tránh rơi vào sự cực đoan. Loài người tiến triển được, chính là ở sự biết chuyển giao kinh nghiệm, hiểu biết. Được hưởng những hiểu biết của các thế hệ trước, người thế hệ sau tự đó mới cải tiến và phát minh ra những cái mới và tiến lên thêm trong sự hiểu biết, để rồi truyền đạt lại cho các thế hệ sau nữa. Cho nên đặc biệt đối với tuổi niên thiếu, nên coi đó là tuổi còn phải học tập, chưa phải là lúc sáng kiến, phát minh. Chưa học xong cái mà người ta đã biết, mà đã đòi sáng chế ra cái mới, đó chỉ là cách nhìn của những người không biết. Tất nhiên là không nên học « thuộc mà không hiểu » ; nhưng « hiểu mà không thuộc » thì cái hiểu đó cũng chỉ thoáng trong chốc lát rồi bay đi, rồi chỉ để lại cái đầu rỗng tuếch. Cũng liên tưởng đến ví dụ cách đây một số năm, ở một số nước, vài nhà giáo viện lẽ chế biến ra một thứ phương pháp sư phạm « mới », ngăn chặn không cho trẻ em học thuộc lòng : mà một trong những hệ quả là trẻ em không thuộc bản(g) cửu chương ; rồi người ta ngạc nhiên là trẻ em không biết làm tính. Hoặc họ đem dạy trẻ em các phép tính cộng trừ nhân chia trong hệ 2,3,4,..., 9 vv., chứ không chỉ trong hệ 10. Cũng lạ. Cùng lắm thì dạy phép tính trong hệ 2 còn có lý do để nói rằng để hiểu phương pháp máy tính, chứ trẻ em học như thế kia để làm gì, khi chưa đến tuổi để hấp thụ được một cách có hiệu quả, mà chỉ có khả năng lặp lại một cách máy móc như những động vật làm xiếc? Mấy người đó giải thích là dạy như vậy để trẻ em sớm tập luyện có óc sáng kiến trở thành nhà nghiên cứu sau này. Nhưng có người vặn lại rằng : trong số học sinh đi học, cùng lắm là độ 1 phần 100 sau này sẽ đi vào nghiên cứu, vậy mà bắt 100 phần 100 học như vậy từ lúc còn thơ ; nếu lý luận theo kiểu đó thì : gần 100 phần 100 trẻ em sau này khi đến tuổi trưởng thành sẽ « làm ái tình », không lẽ đem trẻ sáu, bảy tuổi dạy cho chúng thực tập « làm ái tình » từ bây giờ sao? Nói tóm lại, là tôi rất hãi mục tiêu đồ sộ, nhắm thành tích hoàng tráng, mà rồi hóa ra đầu voi đuôi chuột. Thà cứ khiêm tốn, liệu cơm mà gắp mắm, có khi rốt cục cũng chẳng thua kém thiên hạ nhiều lắm.
V. Công lập và ngoài công lập:
Ở đây, tôi không có ý nhắc lại câu chuyện cũ – việc tôi gợi ý với năm nhà khoa học trong nước đứng ra xin thành lập Trung tâm đại học « dân lập » Thăng Long năm 1988, có kể trong (3) – tôi cũng không muốn nhắc lại những ý kiến của tôi về giáo dục công lập và giáo dục tư lập nói chung (vì tôi đã viết trong những bài như «Vài suy nghĩ về “công học” và “tư học” » đăng trên Tuần Tin Tức 10/4/1993 và Quê hương tháng 7/1993) (4) . Nay vì có vấn đề thời sự, tôi muốn gợi lại một đoạn đề cập đến trường công trường tư trong bài của tôi « Giáo dục đại học : Những vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng », cho Hội thảo Đà Nẵng : 28-30/7/2005, và đăng trên báo mạng « Thời Đại Mới » số tháng 11-2005 :
http://www.thoidai.info/ThoiDai6/200506_BTLieu.htm ,
nội dung tóm tắt như sau :
Hiện nay, một số người nêu những câu hỏi, loại « Có hay không có thị trường giáo dục? Có thể coi giáo dục như hàng hóa không ? Với kinh tế thị trường, các nước tiên tiến giải quyết vấn đề GDĐT như thế nào ? vv.». Tất nhiên câu trả lời rất phức tạp bởi vì các từ sử dụng phải được hiểu theo nghĩa nào? Thí dụ như : ở nước tiên tiến nào, kinh tế thị trường nào và mục tiêu GDĐT nào ? vv.
Rồi để diễn tả ý tưởng, tôi nêu trong bài đó hai « kiểu » tổ chức khá khác nhau, bởi phần nào chúng có thể « điển hình » cho hai « triết lý » về GDĐT trong một xã hội tư bản áp dụng kinh tế thị trường : Mỹ và Pháp. (Tôi không nêu thí dụ các nước khác, vì nói chung, chúng cũng na ná như một trong hai trường hợp dẫn trên). Nói tóm một cách sơ lược, một đằng là nước liên bang, mỗi bang rộng quyền cũng gần như một nước; một đằng là nước có chính quyền tập trung. Một đằng là kinh tế thị trường tự do, một đằng là kinh tế thị trường phần nào có điều khiển. Một đằng (Mỹ) có nhiều cơ sở giáo dục tư (theo nghĩa không chịu sự quản lý của chính quyền về mặt tài chính, trong khi công lập hưởng một phần sự tài trợ từ ngân sách của chính quyền địa phương hay trung ương, nhưng theo một nguồn, tỉ số công tư ở đại học cũng chỉ khoảng : công lập 77%, tư lập 23%) ; một đằng (Pháp) thì giáo dục chủ yếu là công lập, nhà nước trợ cấp tài chính nên người đi học trả học phí ít, vì lẽ dân chúng cho rằng tiền bạc của nhà nước là do của cải chung của nhân dân, người dân đóng góp trả thuế, cho nên nhà nước phải gánh GDĐT. Nhưng dù ở Mỹ hay ở Pháp, nói chung, công hay tư, các cơ sở giáo dục đều không có mục đích kinh doanh, chúng hoạt động « không vụ lợi », chúng không phải là những công ty với cổ đông hưởng lợi nhuận. Lợi nhuận nếu có – thí dụ như do những hợp đồng ký và thực hiện với các doanh nghiệp, hoặc các của cải, như bất động sản do những nhà hảo tâm biếu tặng có thể đầu tư sinh lời – đều được sử dụng vào việc trang trải các kinh phí và trang bị nghiên cứu hoặc phát triển trường. Trên mặt này, có thể nói là cả hai nơi đều không coi GDĐT là một thứ hàng hóa mua bán kiếm lời. Thêm vào đó, mục tiêu GDĐT của hai nước này không khác nhau mấy, thí dụ như trong Giáo dục đại học không đặt vấn đề « đào tạo nhân tài », mà nhằm trang bị cho người học những hiểu biết cơ bản nghiêm túc và, ngay từ đó hay sau đó, mang lại cho họ những kỹ thuật nghề nghiệp vững chãi để đi vào thị trường lao động. Tài năng được nảy nở hay không là ở lúc đã vào đời : tài năng cho phép cá nhân có đường tiến thân, đồng thời tài năng được phát huy cũng góp phần làm cho xã hội phồn vinh. Nó khác xa với việc kinh doanh giáo dục, « thuận mua vừa bán » bằng cấp và danh hiệu (hậu quả đương nhiên của việc mở trường vung vãi mà không có đủ một đội ngũ nhà giáo đủ tiêu chuẩn, dựa trên việc tính số lượng mà không tính chất lượng, với những lý luận kỳ dị là cứ có cầu thì phải có cung), vv. Nhắc lại tóm tắt như vậy, chứ ở đây, tôi không nhắc lại chi tiết những điều đã viết trong bài đã dẫn.
Tôi chỉ muốn nói thêm : Cụm từ « xã hội hóa » giáo dục hiện đang dùng ở ta là một cụm từ khó hiểu đối với tôi. Ở những nước khác, khi các thành phần của xã hội ngoài chính quyền (phụ huynh học sinh, giới doanh nghiệp, công đoàn,…) « tham gia » vào vấn đề GDĐT, thì là để nói lên những yêu cầu làm lợi ích chung cho xã hội – thí dụ như nhu cầu của doanh nghiệp là như thế nào ; chương trình học nên như thế nào để phù hợp với đòi hỏi của xã hội ; những giải pháp nào là hợp lý hay những giải pháp nào là phi lý để bảo vệ trình độ giảng dạy và để có được những bảo đảm tối thiểu về vật chất trường sở, vv. – chứ không phải là chỉ để chuyển gánh nặng tài chính mà Nhà nước « nhường » lên vai người công dân (phải trả học phí nặng, phải cung đốn đủ thứ nhu cầu, từ trường sở cho đến trang thiết bị, sách giáo khoa, vv.). Người công dân đóng thuế cho ngân quĩ nhà nước, vậy ngân quĩ đó dùng để làm gì, nếu mọi chi phí trong cuộc sống, đặc biệt là trong GDĐT, người công dân phải tự cáng hết? Và hình thức giáo dục nào, công lập (nghiêm chỉnh) hay « ngoài công lập » công bằng hơn, và có hiệu quả để giải quyết đối với vấn đề giàu nghèo?
Để kết luận, về GDĐT, nếu không mau chóng chấn hưng thực sự, tôi e rằng đang và sẽ tồn tại trong xã hội ta, một loại người có điều kiện thuận lợi thì « các thủ sở nhu » (được hưởng hết thảy những thức mình cần dùng), trong khi những tầng lớp khác thì « các tận sở năng » (làm cho hết những việc mà tài sức mình làm được).
2. Giáo dục Đào tạo :
Những câu hỏi còn tồn tại
Tiền Phong đăng ngày thứ Năm, 09/11/2006, Hà Nội Mới đăng lại cùng ngày.
Bùi Trọng Liễu
Gần đây, một số bất cập về Giáo dục Đào tạo (GDĐT) đã được báo chí nêu ra, ông tân bộ trưởng đã lên tiếng, dư luận chú ý, vv. Nhưng vẫn còn tồn tại một số câu hỏi, chưa có lời giải đáp thích đáng :
- 1/ Tại sao những người có trách nhiệm, phạm lỗi, chưa được xử lý thích đáng ? Tôi không hiểu cái lô-gíc của luật pháp và cách xử lý hiện hành, khi GDĐT được coi là quốc sách hàng đầu : luật pháp thì rất nghiêm đối với những người buôn bán ma túy, có khi bị án tử hình hoặc chung thân, mà sự xử phạt về những sự bê bối gian lận về GDĐT thì so ra nhẹ nhàng hơn nhiều, trong khi hậu quả của ma túy « chỉ » gây tác hại đến một phần thành viên xã hội, còn những tác hại về GDĐT thì ở mức đại trà và có hậu quả cho nhiều thế hệ (thí dụ như : người « học giả bằng thật », ở mức giảng dạy thì lại đào tạo ra những « người phế phẩm » đồng loại, để rồi những người đó lại tiếp tục đào tạo ra những đồng loại nối tiếp ; người « học giả bằng thật » ở địa vị chỉ huy, thì có thể có những quyết định ngớ ngẩn, có thể tai hại cho cả nước vv.). Quốc hội là cơ quan làm luật pháp ; tôi không hiểu những đại biểu Quốc hội khi chất vấn các quan chức của Bộ GDĐT, có nghĩ tới « hành trang » pháp lý được trang bị cho ngành này không ? Ông bộ trưởng GDĐT, dù có thiện chí đến đâu, phải chăng cũng khó tự mình giải quyết những bất cập của ngành mình được, nếu như không có sẵn những qui định pháp lý phù hợp ?
- 2/ Nền GDĐT của một nước, không thể tách rời với thể chế và với mô hình của xã hội của nước đó. Việc tư hóa các trường học, dự tính cao hơn cả tỉ số các trường tư lập ở một nước tư bản có nền kinh tế thị trường tự do như nước Mỹ, có thực sự phù hợp với thể chế mà mình tuyên bố mong muốn cho nước mình không ?
- 3/ Việc sử dụng những mỹ từ như « xã hội hóa », « có cầu thì phải có cung » vv. không thể là giải pháp cho những bất cập. Một loại hàng hóa như lương thực, khi có « cầu » thì cũng không thể « cung » bằng của ôi. Đối phó với bệnh tật, khi có « cầu » thì cũng không thể « cung » bằng thuốc dỏm. Vậy thì trong GDĐT, khi không có đội ngũ nhà giáo tương xứng, phải chăng không nên cho phép mở trường vung vãi, dù là ở hệ thống « ngoài công lập »? Khi trong một đội ngũ nhà giáo của một đại học mà chỉ lèo tèo có được vài tiến sĩ, thì mức đại học sẽ thực còn là đại học, hay là phổ thông cấp 4 ?
- 4/ Vẫn lấy thí dụ các trường đại học hiện nay, (tôi vốn không mặn mà với việc mở vung vãi đại học « ngoài công lập »), đã trót có công lập và có nhiều tư lập, phải chăng nên có sự phân biệt cho rành rọt trong việc xét tuyển giáo sư (GS, mà hầu hết các nước trên thế giới coi là một chức vụ gắn liền với chỗ làm trong một đại học, chứ không phải là một « hàm » để tôn vinh như ở ta) ? Thiết tưởng, trong hệ công lập, nên làm như ở các nước có chính quyền tập trung như Pháp với hai khâu : khâu 1 là khâu mà Hội đồng Khoa học chuyên ngành ở mức toàn quốc, chỉ xét hồ sơ để kết luận rằng cá nhân nộp hồ sơ có đủ tiêu chuẩn để thành ứng viên GS đại học hay không, và giai đoạn 2 là giai đoạn Hội đồng Khoa học chuyên ngành nhà trường tuyển hay không tuyển ứng viên đã qua giai đoạn 1. Như vậy để giữ được mức đồng đều của cả nước, và vì GS hệ đại học công lập là công chức nhà nước, cần được nhà nước bảo vệ và nâng đỡ, như những « món hàng chiến lược ». Trong hệ tư lập, phải chăng cứ để cho tiến hành theo kiểu Mỹ, nghĩa là Hội đồng khoa học nhà trường (đại học tư) đảm nhiệm cả 2 khâu, Bộ GDĐT chỉ hậu kiểm, thí dụ như nếu có sự bê bối trong việc tuyển chọn đội ngũ nhà giáo của nhà trường (đại học tư), thì thu bằng cấp của họ cấp phát, cấm người có bằng cấp của đại học tư thành viên chức cơ quan nhà nước nếu bằng cấp họ không được Bộ công nhận, và nặng hơn nữa là đóng cửa trường. Việc Bộ GDĐT lấy quyết định cho phép mở đại học tư, trên nguyên tắc dựa trên một số tiểu chuẩn như một tỉ số tối thiểu đội ngũ nhà giáo phải có bằng tiến sĩ, thì trách nhiệm đã thuộc về Bộ rồi. Những khâu khác trong việc tuyển chọn giáo sư, như cở sở đề nghị ứng viên, vv., đều là phù phiếm, thiết tưởng cần phải bỏ.
3. Giáo dục Đào tạo : Khiêm tốn thì dễ thành công
VietNamNet đăng ngày 9/12/2006 : http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/12/642381/
Bùi Trọng Liễu
Về Giáo dục Đào tạo (GDĐT), khi những nhà quản lý đưa ra đề án hoành tráng, thì hẳn cũng có lý do riêng. Tuy nhiên, đối với nhà giáo chúng tôi ở nơi nào cũng vậy, cũng như đối với một phần công luận, khi đi vào thực hiện, thì mục tiêu có khiêm tốn mới có khả năng thành công. « Khiêm tốn » đây có nghĩa là mục tiêu hợp với khả năng, cân nhắc tiến từng bước, đạt được bước này rồi mới tiến tới giải quyết bước kia, và có khi như vậy mới thực sự có tiến bộ. Phát biểu chung chung thì khó hiểu, vậy tôi xin nêu vài thí dụ minh họa dưới dạng « Ôn cố tri tân »:
« Ôn cố » : Mới đây có ý kiến đánh giá việc thành lập hai Đại học quốc gia cách đây hơn 10 năm là một quyết định sáng suốt, cải tiến một bước lớn Giáo dục đại học. Thuở ấy, không ít nhà giáo chúng tôi, trong hay ngoài nước, (dù rất đồng tình với việc thành lập hai Đại học Quốc gia này), đã kiến nghị nên nhân dịp đó « thanh lọc » để có một đội ngũ nhà giáo có trình độ cao để đưa vào hai cơ sở này, đồng thời nên lựa chọn những ngành trọng điểm, và tập trung trang bị cho thật tốt. Kiến nghị cũng dẫn cái ý của người xưa : Năm 1287, quân Nguyên lại sang xâm chiếm nước ta. Các quan xin tuyển thêm binh. Trần Hưng Đạo nói : « Binh cốt giỏi, không cốt nhiều ; nếu nhiều mà không giỏi, thì như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng không ích gì ». (Bồ Kiên đây là vua Tiền Tần (chú ý : Tần, với dấu huyền) bên Tàu, có trăm vạn quân mà bị thua nhà Tấn (chú ý : Tấn với dấu sắc). Nhưng lúc ấy, hai Đại học Quốc gia được thành lập rất đồ sộ, theo nghĩa gộp nhiều trường sẵn có mà không có sự thanh lọc. Thành quả nay đã được công nhận công khai. Tuy nhiên nếu lời kiến nghị thuở ấy được nghe, thì thành quả có lẽ đã gấp bội, và không chừng đã đạt đẳng cấp cao ! Tôi nghĩ rằng các nhà giáo được trao nhiệm vụ lãnh đạo hai cơ sở này, tuy không nói ra, có lẽ cũng không nghĩ khác.
« Tri tân » : Vừa qua, có ý kiến nên thành lập một đại học « mới », thế rồi nghe đồn là dự án này có khả năng không thành, và các phương tiện nhà nước sẽ lại được chia ra để nâng cấp các cơ sở sẵn có. Rồi lại có đề án đào tạo 2 vạn tiến sĩ trong 10 năm tới. Ông Bộ trưởng GDĐT hoàn toàn có lý khi ông nhắc nhở là ở các nước đã phát triển, phải có bằng tiến sĩ mới được là nhà giáo đứng trên bục giảng đại học. (Cần nói kỹ thêm là đó là những nhà giáo cơ hữu, không kể những thỉnh giảng thí dụ như những nhà doanh nhân có kinh nghiệm để truyền đạt lại cho sinh viên trong những hệ đào tạo nghề, vv.). Tuy nhiên, đào tạo hàng mấy vạn kỹ sư là chuyện có thể thực hiện được trong 10 năm, nhưng đào tạo tiến sĩ thì khác : nghiên cứu sinh, dù là người học trò giỏi trong quá khứ, « tìm » (tiếng Pháp là chercher) không có nghĩa là « tìm thấy » (trouver) cái mới. Như vậy, trừ phi châm chước, cho bảo vệ những phiếm luận vô bổ thành luận án tiến sĩ, lấy gì bảo đảm để có được 2 vạn tiến sĩ để phân phối cho mấy trăm trường « đại học » dự định được mở trong 10 năm tới ? Sao con cháu Trần Hưng Đạo không khoan khoan tạm đừng tính mở vung vãi mấy trăm trường đại học, mà tập trung đào tạo tiến sĩ giỏi, trang bị cho một số cơ sở thành đại học thực sự đúng nghĩa của nó đã ? Thiếu gì thí dụ lịch sử, ở những nước láng giềng hay xa hơn, có những đợt « cách mạng » đập phá tan hoang, nhưng vẫn giữ được những « biệt khu tri thức cao ». Không cứ phải giải quyết đồng bộ theo kiểu đại trà mới là thượng sách.
Tất nhiên, quyết định thuộc về nhà cầm quyền chính trị. Nhưng bổn phận của người trí thức nhà giáo chúng tôi, là phát biểu ý kiến mà mình cho là phù hợp nhất với lợi ích chung.
4. Mong ông Bộ trưởng “nói không” với tiến sĩ rỏm
VietNamNet đăng ngày 8/1/2007: http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/01/651465/
Bùi Trọng Liễu
Ít có ai năng nổ tận tụy như ông Bộ trưởng GDĐT hiện nay; ông đã liên tiếp có mặt ở nhiều địa bàn để giải quyết những việc cấp bách, khen thưởng, úy lạo (thí dụ như chính ông kể trong bức thư gửi cho báo Thanh Niên trên mạng ngày 29/12/2006). Với một nhịp độ làm việc như vậy, dù là « mình đồng da sắt », tôi không biết ông sẽ chịu đựng được bao lâu ở vị thế « vừa là tư lệnh vừa là xung kích » như thế. Vì vậy, tôi thiết tha mong các cấp lãnh đạo cao hơn ông, dư luận cả nước và các phương tiện truyền thông, hỗ trợ ông để ông có thể thực hiện được nhiệm vụ của người tư lệnh trong ngành Giáo dục Đào tạo, bởi vì các vấn đề tầm cỡ vĩ mô, chiến lược, cũng cần rất nhiều thì giờ tập trung suy nghĩ trước khi được đưa ra giải quyết. Trong các vấn đề tầm cỡ vĩ mô đó, có vấn đề quản lý đào tạo tiến sĩ, một trong những khâu chủ chốt của việc chấn hưng Giáo dục đại học.
Tôi mong ông Bộ trưởng có phương tiện « nói không » với tiến sĩ rỏm.
Thật vậy, trong một môi trường không lành mạnh, sự trí trá tất nhiên phát triển, và đã có những người gian lận bằng cấp để có địa vị xã hội. Mới đây, đã xuất hiện một số bài báo, có cả văn tế, thơ phú, chê bai những « tiến sĩ giấy », cụm từ mà các tác giả, với thiện chí, dùng để chỉ những tiến sĩ bằng thật học giả. Nhưng tôi nghĩ là hơi oan cho « tiến sĩ giấy thật », nghĩa là oan cho những hình nộm bày làm đồ chơi ngày tết trung thu thuở xưa như câu thơ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến tả: « Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi ! ». Oan, bởi vì « tiến sĩ giấy thật » mang lại giải trí chốc lát, nhưng không có khả năng để lại những hậu quả tai hại : không vì chức vụ mà lấy những quyết định ngớ ngẩn, không vì nghiệp vụ mà chuyển giao những hiểu biết sai, không có khả năng sản xuất ra những đồng loại mà hậu quả xấu có thể kéo dài nhiều thế hệ.
Thuở xưa, các ông tiến sĩ có được danh hiệu này là do mấy bài văn sách trong trường thi do quan trường theo lịnh nhà vua ra đầu bài và chấm đỗ, nghĩa là thuở ấy đặt trọng tâm vào sự học nhiều, hiểu nhanh, thuộc sách, trả bài đúng ý người ra đầu bài, .... So với ngày nay, có giống nhau chỉ là cái tên gọi tiến sĩ, còn quan niệm thì hoàn toàn khác. Trong một xã hội đang trên đà phát triển – nhất là trong môi trường toàn cầu hóa mà sự cạnh tranh luôn luôn hiện diện – nhu cầu giải đáp các vấn đề mới nảy sinh, làm cho vấn đề « đào tạo qua nghiên cứu » trở nên quan trọng. Để đáp ứng được những nhu cầu đó, cho nên mới cần có luận án tiến sĩ. Tôi nhắc lại câu của người xưa : « Ba quân dễ kiếm, một tướng khó tìm », để nói rằng : đào tạo ra người đi làm thuê dưới quyền điều khiển của người nước ngoài thì không khó ; đào tạo ra người góp phần cho nước mình tự chủ thì khó. Cho nên mới cần thận trọng, cần đổ công sức vào như thế nào cho phù hợp, và không chạy theo chỉ tiêu số lượng.
Về những tiêu chuẩn cần thiết để có những luận án tiến sĩ thật sự, các nhà khoa học, các nhà giáo đại học « chân chính » đều biết, tôi không cần nói lại.
Kính chúc ông Bộ trưởng đủ sức « đề kháng » đối với những khuynh hướng đã ô nhiễm Giáo dục Đại học từ hơn 20 năm nay, để thẳng tiến trên đường chấn hưng.
5. Giáo dục Đại học :
Mong Bộ trưởng quan tâm đến
“cầu” và “cung”
VietNamNet đăng ngày 30/1/2007 : http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/01/659380/ dưới đầu đề : Không « cung » với « cầu rởm ».
Hà Nội Mới đăng lại ngày 31/1/2007 : http://www.hanoimoi.com.vn/vn/47/118003/
Bùi Trọng Liễu
Từ một số năm nay, một số người đề cập đến « cầu » và « cung » để dẫn chứng cho sự đòi hỏi tăng số lượng trường đại học, tăng số sinh viên, tăng học phí, vv. Tôi không dám khẳng định rằng có một động cơ để thương mại hóa Giáo dục Đại học kiếm lời. Nhưng tôi thấy nên đặt lại một số câu hỏi để cho vấn đề thật sáng tỏ về « cầu » và « cung », và mong được ông Bộ trưởng quan tâm.
« Cầu » đây là cầu nào ? Nếu « cầu » là nhu cầu của xã hội, bao gồm mọi lĩnh vực, để đất nước tồn tại và tiến triển trong một khung cảnh toàn cầu hóa mà sự cạnh tranh luôn luôn hiện diện, (thí dụ như cần bao nhiêu kỹ sư, bao nhiêu chuyên viên trong ngành này ngành nọ, CNTT, canh nông, thủy sản, giao thông, vv. để doanh nghiệp phát triển, cần bao nhiêu giáo viên để bảo đảm sự học hành cho con em cả nước, cần bao nhiêu bác sỹ y tá để bảo đảm sức khỏe cho nhân dân, vv.) thì đây là « cầu chính đáng », cần được kiểm kê và có kế hoạch đáp ứng. Bộ GDĐT chính là Tư lệnh, hoặc – trong trường hợp không phải là bộ chủ quản của một số ngành – là « đồng Tư lệnh » như thường thấy ở một số nước đã phát triển, hay ít ra cũng có tiếng nói của mình trong vai trò tham mưu.
Còn « cầu » theo nghĩa là quan hay dân hiện đang đòi hỏi có bằng cấp ở mức này mức nọ để có địa vị trong xã hội, các địa phương này nọ đang cần một số đại học để « làm cảnh », vv. thì « cầu » này là loại « cầu không chính đáng », xin tạm gọi là « cầu rởm ». Tất nhiên có sự khác biệt giữa sự mong mỏi tiến thân của người dân và sự mong muốn có bằng cấp để được thăng quan tiến chức của một số cán bộ : con đường tiến thân bình thường phải nằm trong khuôn khổ của sự học hành chính đáng, còn nhu cầu thăng quan tiến chức với kiểu học tại chức được cấp phát bằng cấp không phải là con đường lành mạnh ; nó rất khác với việc học bổ túc để trau dồi nghiệp vụ không bằng cấp. Tại sao « cử rồi mới thi » thay vì « thi rồi mới cử » ? Nếu người chưa đủ hiểu biết, thì sao đã vội trao cho chức vụ ? Còn nếu muốn trao cho chức vụ cao hơn, thì đánh giá theo khả năng ; còn nếu đánh giá theo bằng cấp thì bằng cấp đó phải được bảo đảm từ hệ chính qui mà ra.
« Cung » đây là cung gì ? Đối với « cầu chính đáng » thì Nhà nước, qua Bộ GDĐT, mới có bổn phận phải « cung ». Ngược lại, đối với « cầu rởm » thì có bổn phận « không cung ». Chỉ riêng việc « không cung » cho « cầu rởm », cũng đã gỡ được một phần mớ bòng bong, và làm cho phương tiện và khả năng sát với thực tế hơn. Thí dụ như vấn đề tỉ số tiến sĩ trong đội ngũ nhà giáo đại học. Ông bộ trưởng có lý khi phát biểu muốn nâng một cách đáng kể tỉ số tiến sĩ này. Nhưng nếu số trường đại học có hạn thì dễ thực hiện hơn, còn nếu mở vung vãi quá nhiều đại học thì đề án trở thành bất khả thi. Bởi vì đào tạo tiến sĩ không dễ : đào tạo trong nước đã khó ; gửi ra ngoài đào tạo cũng khó, vì các trường đại học nghiêm chỉnh nước ngoài cũng tuyển một cách chặt chẽ ; không phải nghiên cứu sinh Việt Nam nào được phép đi du học cũng có thể ghi tên soạn luận án được, và ghi tên soạn luận án tiến sĩ rồi không có nghĩa là sẽ hoàn thành nổi một luận án. Đã có những trường hợp phải bỏ cuộc. Đó cũng là một thí dụ chứng tỏ rằng ngay với « cầu chính đáng », chắc gì đã có được « cung ». Huống hồ với « cầu rởm » !
Từ nhiều năm, cũng như một số đồng nghiệp, tôi đã cố điều trần với các vị lãnh đạo về việc kết hợp giảng dạy và nghiên cứu trong Giáo dục đại học. Với tàn dư của mô hình Liên Xô cũ, giải pháp nhanh chóng và tiết kiệm nhất để góp phần nâng chất lượng và số lượng nhà giáo đại học trẻ có bằng tiến sĩ là : hoặc đưa các viện nghiên cứu về trường đại học, hoặc là lập trường đại học từ các Viện Khoa học và Công nghệ, và Viện Khoa học Xã hội và Nhân Văn. Đó là hai khả năng giải pháp cụ thể để thực hiện « đại học hoa tiêu » đã nhiều lần được kiến nghị. Trong khi giải pháp thứ nhất xem ra có vẻ quá phức tạp, thì giải pháp thứ nhì có vẻ như dễ thực hiện hơn, vì cơ sở vật chất và nhân sự đã có sẵn. Bước đầu không cứ phải đủ ngành, đủ cấp. Tuy nhiên có hai điểm đáng được chú ý : dần dần tiến tới xóa bỏ sự ngăn cách giữa Khoa học-Kỹ thuật-Công nghệ, và Khoa học Xã hội-Nhân Văn-Kinh tế (vì đó là xu hương hướng chung của thế giới), và dần dần mở rộng đủ các cấp học, chứ không chỉ khoanh vào cấp đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ (vì đầu vào có tốt thì đầu ra mới tốt). Đây là một giải pháp « cung » cho « cầu chính đáng ». Càng chóng được thực hiện càng tốt cho nền Giáo dục đại học nước nhà.
6. Vấn đề “người”
trong Giáo dục Đào tạo hiện nay
(Đăng trong Hồn Việt 1/7/2007)
Bùi Trọng Liễu
Vấn đề Giáo dục Đào tạo đã được nói đi nói lại đã quá nhiều, sao lại vẫn tiếp tục nói ? Bởi vì chừng nào chưa ra lẽ, chừng nào những vấn đề bức xúc còn tồn tại, thì vẫn phải nhắc đi nhắc lại.
Mới đây, thấy nở rộ việc mở truờng, công, tư, tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học, kèm theo những dự án xây cất nhà cửa, ngân quĩ, sắm sửa trang thiết bị vật chất, đủ thứ. Trong khi đó thì vấn đề liên quan đến « con người », có vẻ rất lu mờ, hoặc khi được đề cập đến thì có vẻ giống như những khẩu hiệu hoặc những ước mơ. Khi nói đến « người » tôi muốn nói đến 3 loại : người học (học sinh, sinh viên, học tại chức, vv.), nhà giáo, và những người phụ trách chiến lược và quản lý.
I.- Vấn đề người học :
Nhắc lại là cách đây 20 năm, GS Phan Đình Diệu và tôi có viết chung một bài báo, với đầu đề là « Góp ý kiến về việc học », đăng trên báo Nhân Dân đăng ngày 27/12/1987 và báo Tuổi Trẻ đăng ngày 29/11/1987. Trong bài đó chúng tôi có nêu mấy mục tiêu của việc học (đã điều trần nội bộ trong nhiều năm trước):
Mục tiêu thứ nhất là tạo lập một cơ sở tri thức, văn hoá cho con người và xã hội : « Học » là một đòi hỏi của xã hội, bởi vì một xã hội tiến bộ chỉ có thể là tập hợp của những con người có trình độ hiểu biết cao. « Học » là một nhu cầu tri thức của mỗi cá nhân : nhu cầu đó cần được đáp ứng vì nó dựa trên quyền được hiểu biết của mỗi người.
Mục tiêu thứ nhì là việc đào tạo chuyên môn nghề nghiệp: Đào tạo chuyên môn nghề nghiệp để đáp ứng cho các khu vực sản xuất, kinh tế, hành chính và cho các hoạt động xã hội khác của đất nước. Cho mỗi cá nhân một (hay những) chuyên môn nghề nghiệp, để mưu cuộc sống (và để thực hiện vai trò của mình trong chỗ đứng của mình trong xã hội).
Hai mục tiêu đó tạm gọi tắt là mục tiêu « kiến thức » và mục tiêu « nghề nghiệp » quan hệ với nhau, nhưng phải được phân biệt, và không nên xem là đồng nhất.
Trong khung cảnh các mục tiêu này, nguyên tắc là người học được đánh giá theo sự hiểu biết đã tiếp thu được, và bằng cấp được đặt ra là để chứng nhận sự đã đạt được các mức hiểu biết đó. Theo tôi, không có chỗ cho những cá nhân gian lận để có bằng cấp để được « ăn trên ngồi trốc », lại càng không có chỗ cho một tập thể nào đó tổ chức gian lận để « có thành tích ». Chính quyền nhà nước và xã hội bảo đảm để người đi học, bất cứ ở cấp bậc nào, bất cứ thuộc thành phần nào, không được vượt ra ngoài nguyên tắc đó. Nếu không thì là loạn (thí dụ như việc học sinh « ngồi nhầm lớp », hoặc như người dùng bằng giả để có địa vị xã hội, vv.).
II.- Vấn đề nhà giáo :
Ở đây, tôi không đề cập đến những nhà giáo có trình độ nghiệp vụ cao và có lương tâm nhà nghề, tận tụy với công việc. Tôi hy vọng đó là đa số, mà tôi rất trân trọng, và do đó chẳng cần nhắc đến dài dòng, trừ cái mong muốn là lương bổng và điều kiện vật chất hành nghề được nâng tới mức tương xứng để các vị này có thể toàn tâm toàn ý đảm nhiệm được công việc của mình. Ở đây, tôi cũng tạm bỏ ra ngoài những trường hợp cá biệt gây ra những vụ « bạo hành » đối với học sinh (như cô giáo bắt học sinh liếm ghế, thầy giáo đẩy học sinh ngã chấn thương, cô giáo cho cả lớp tát học sinh đến phải đi viện, bỏ thuốc chuột vào thức ăn trẻ em mẫu giáo, vv ...), mà báo chí hàng ngày đã và đang đăng. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến những trường hợp bất cập, do trình độ hiểu biết chưa đạt mà vẫn có bằng cấp để đi dạy và để rồi dạy sai, bởi vì những « phế phẩm » loại này lại này lại tiếp tục sinh ra những « phế phẩm » tiếp theo, có thể kéo dài trong nhiều thế hệ. Tuy những bất cập này xảy ra ở khắp cấp bậc (mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học), do một thời có một thứ bệnh thành tích, một thứ tính toán thô thiển, ưu tiên số lượng chứ không chú trọng chất lượng – một thứ « ăn xổi ở thì » – tôi chỉ muốn tập trung nói tới nhà giáo đại học, bởi vì nhà giáo đại học phần nào là đầu mối « sản xuất » ra nhà giáo trung học và tiểu học (không kể việc « sản xuất » ra những chuyên gia cho những hoạt động khác của xã hội).
Trong bài « Đứng nhầm lớp » còn hại hơn « Ngồi nhầm lớp », (mà Vietnamnet và Hà Nội mới đăng một phần ngày 14/5/2007)
http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/05/694528/
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/47/129980/
tôi có phát biểu một số ý như sau :
Từ dăm tháng nay, báo chí truyền thông đưa rất nhiều thông tin về việc học sinh « ngồi nhầm lớp » và dư luận cho rằng đây là một tai hại lớn cho ngành Giáo dục. Nhưng « đứng nhầm lớp » còn tai hại hơn. Tôi muốn nói đến sự việc có những nhà giáo không có khả năng và trình độ phù hợp, mà vẫn được trao trách nhiệm giảng dạy. Tai hại hơn, vì mặt nào, đó là sự góp phần biến những học sinh, sinh viên thành những người « ngồi nhầm lớp ». Chẳng cần nói quanh co : hiện nay không ít nhà giáo đại học không có bằng cấp tương xứng – và dù cho có bằng cấp, thì chưa chắc đã có hiểu biết tương xứng – để giảng dạy đại học. Vậy mà vẫn dạy. Và lại có sự ồ ạt mở thêm nhiều đại học, và nhiều đại học lại được mở thêm nhiều ngành. Lớp thì mở nhiều, nhà giáo có trình độ tương xứng thì ít. Rồi sinh viên tốt nghiệp sẽ có trình độ nào để vào đời đáp ứng được nghiệp vụ, trong một khung cảnh toàn cầu hóa ? Không quyết tâm giải quyết nạn « đứng nhầm lớp », thì e rằng những lời phát biểu về chấn hưng giáo dục đại học chỉ là những khẩu hiệu rỗng, những chỉ tiêu nêu ra sẽ chỉ là bảng kê những thành tích ảo tương lai.
Lấy thí dụ con số 2 vạn tiến sĩ dự kiến sẽ được đào tạo trong non 10 năm. Trước hết là về số lượng nghiên cứu sinh, tuyển họ ở đâu ra ? Bao nhiêu người mỗi năm ? Giả thử như có đủ ngân quĩ để « nuôi » họ một cách tương xứng, họ sẽ được đào tạo ở cơ sở nào, ai hướng dẫn họ, ngành này bao nhiêu, ngành kia bao nhiêu, đề tài nghiên cứu gì, trong nước ? Câu hỏi cũng tương tự, nếu như đủ ngân quĩ để gửi họ ra để được đào tạo ở nước ngoài. Hình như một số nhà quản lý khi nêu chỉ tiêu đã « quên » rằng các đại học nghiêm chỉnh nước ngoài không dễ gì nhận nghiên cứu sinh nếu như quá trình học tập cơ bản không chứng tỏ được là họ đã là những sinh viên xuất sắc tốt nghiệp từ những đại học có trình độ. Tiếp theo đó, soạn một luận án, không phải là cứ học chăm, tiếp thu nhanh bài giảng của thày, trả bài đúng ý ban giám khảo, là có « bằng tiến sĩ », na ná như kiểu ông cha ta ngày xưa đi thi Hội thi Đình. Nói một cách tóm tắt cho dễ hiểu, luận án tiến sĩ ngày nay mặt nào có thể ví như những « bằng sáng chế » nhưng mang tính hàn lâm, có thể có ứng dụng ngay hay không. « Tìm ra cái mới » là theo nghĩa đó, chứ hoàn thành một luận án tiến sĩ không phải là ngồi viết ra một cái gì « không giống người khác ». Thêm vào đấy là đâu đó có lúc nêu ra tiêu chí kiểu : muốn được bảo vệ luận án tiến sĩ, phải có vài bài báo đã đăng ở « tập san có giá trị » ở nước ngoài, thậm chí còn đòi hỏi người muốn dự thi làm nghiên cứu sinh phải có 2 « công trình khoa học » đã công bố. Hình như tác giả của những chủ trương này không muốn biết rằng thời gian chờ đợi để một bài báo được thẩm định xong và được đăng lên một tập san nghiêm chỉnh có khi mất hàng hai, ba năm hay hơn nữa. (Ở đây tôi nói thời gian trung bình, xảy ra ngay ở một số nước đã phát triển với nhiều truờng hợp khác nhau : có trường hợp bị phản biện sai, oan phải cãi lại ; cũng có trường hợp đặc biệt « có tay trong », hay cả thày và trò đều xuất chúng nên nhanh hơn ; cũng có những luận án có nội dung tế nhị đụng tới an ninh quốc phòng, kết quả không bao giờ được công bố). Như vậy thì cần bao nhiêu năm để có được 2 vạn tiến sĩ, và bao nhiêu trong đám tiến sĩ này sẽ là nhà giáo cho các đại học đã thành lập hiện nay ở Việt Nam ? Vì con số này và thời gian dự đoán để thực hiện, không có sức thuyết phục, nên có lẽ phải hiểu theo cách khác : Có lẽ lời tuyên bố về con số 2 vạn tiến sĩ đào tạo trong vòng non 10 năm tới được nêu ra, chỉ nhằm mục đích « báo động » một tình trạng bất cập của giáo dục đại học hiện thời ?
Cho nên, giải quyết vấn đề « đứng nhầm lớp » (liên quan trực tiếp đến việc chấn hưng giáo dục đại học và đào tạo người) rất là khó, và ta nên có cái nhìn thiết thực hơn. 40 năm làm giáo sư đại học ở nước định cư – nước Pháp cũng thuộc loại đã phát triển cao và có một chiều dày trong truyền thống giáo dục – tôi cũng có chút kinh nghiệm để nhận thấy là cải cách theo kiểu đại trà là khó lắm, bởi vì nó liên quan tới việc chuyển đổi đồng loạt cả một hệ thống sẵn có, với những khuyết tật của nó, với phương tiện vật chất cần có, với sức ì, với sự cầu an của một phần nhân viên. Ở nước ta thì những khó khăn này lại gấp bội, do bối cảnh lịch sử để lại, thí dụ như một thời đã trót tuyển một số nhà giáo có trình độ yếu kém mà nay lại không thể sa thải, cộng với sự tế nhị trong việc nâng lương bổng nhà giáo sao cho đủ sống để họ có thể toàn tâm toàn ý trong việc thực hiện nhiệm vụ, cộng với khả năng trang bị trường sở, cộng với việc phải nâng đỡ sinh viên về điều kiện sinh sống và học tập như thế nào, để đạt được một trình độ « bình thường » – khoan nói tới đẳng cấp cao làm gì – của một nền giáo dục đại học. Đối với ai có cái nhìn khách quan, không bị ràng buộc về mặt này mặt nọ, rõ ràng là giải pháp nâng cấp các đại học đã có là một giải pháp đắt hơn, lâu hơn và khó thực hiện hơn gấp bội ; có chăng là nâng cấp một vài ngành trọng điểm trong một vài đại học sẵn có, nhưng như vậy thì vấn đề quản lý vẫn bị mắc những ràng buộc chung.
Do đó, đã từ nhiều năm, tôi cố kiến nghị cho giải pháp thành lập « mới » một đại học công lập, bước đầu cỡ nhỏ, để làm « mẫu » – cho nên mới dùng tên gọi « hoa tiêu» – để giải quyết cấp bách, song song với việc dần dần nâng cấp những cơ sở còn lại nếu có thể, và kệ cho những cơ sở khác sụp đi nếu chúng không có sức để tồn tại. Tôi chỉ nói đến đại học « công lập », vì đây thuộc trách nhiệm của Nhà nước, không thể dễ dàng phủi tay. Cũng cần nói thêm rằng, theo ý tôi, «thành lập mới » không có nghĩa là phải « xây cất mới » nhà cửa – có người hiểu lẫn « xây dựng » với « xây cất » – mà trong ý tưởng « hoa tiêu » này, dù cho có gọi nó là đẳng cấp quốc tế, hay đẳng cấp cao, hay có tiêu chuẩn quốc tế, hay gì gì đi nữa, chữ « mới » cần hiểu theo nghĩa là : phải tuyển chọn nhà giáo có trình độ, bổ nhiệm theo chức vụ, chứ không phải theo quan niệm phong hàm, tập trung lại để có một khối lượng tối thiểu nhân sự, kết hợp giảng dạy và nghiên cứu, tổ chức phương cách quản lý, trang bị và giảng dạy theo chương trình phù hợp, tuyển sinh có trình độ, học tập và kiểm tra nghiêm túc, đa khoa kết hợp, nhưng bước đầu chỉ mở những ngành có phương tiện, vv.
Trong nhiều năm trước đây, tôi đã kiến nghị sát nhập các viện nghiên cứu vào các trường đại học, nhưng nay nhận thấy có những đại học quá yếu để vực lên được khâu nghiên cứu khoa học. Do đó tôi chia sẻ cái ý là nên thành lập một đại học « mới » từ các viện nghiên cứu, nơi có nhiều nhân viên có khả năng và đã có chức danh giáo sư, với điều kiện là nhân viên cũng phải được tuyển chọn lại. Cơ sở vật chất lại đã có sẵn. Một đại học đa ngành thành lập từ các viện nghiên cứu, đã có sẵn khả năng để đào tạo tiến sĩ, và dần dần mở thêm những cấp đào tạo từ dưới lên (cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ) để bảo đảm « đầu vào » thật nghiêm túc, và dần dần kết hợp được khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ và các ngành khoa học kinh tế, nhân văn , … là một giải pháp nhanh chóng nhất mở ra triển vọng cho tương lai, trong đó có khâu giải quyết một phần vấn đề « đứng nhầm lớp ».
Muốn thực hiện hay không, đó là câu hỏi đang tồn tại.
III.- Vấn đề những người phụ trách chiến lược và quản lý :
Về các vị này, tôi chỉ có vài lời ngắn gọn thôi. Các vị đương nhiệm phải thừa hưởng một tình trạng phức tạp do quá khứ để lại. Với một « kho tàng » bất cập khổng lồ, cộng thêm với một sự tự do phát biểu nào đó về lĩnh vực Giáo dục Đào tạo của những người có kinh nghiệm cũng như của người không có kinh nghiệm, người nghe cũng như trong tình trạng kẻ « đẽo cày giữa đường », đâm ra phân vân, trong khi sự phát triển không thể chờ đợi. Nếu không hẳn là « tư lệnh », thì các vị cũng là « tham mưu », để đề ra được những giải pháp để các nhà lãnh đạo đất nước lấy được những quyết định phù hợp cho quyền lợi của dân tộc, của nước nhà. Bởi vì có những vấn đề mà lĩnh vực giáo dục đào tạo tự nó không thể giải quyết được, chỉ xin nêu vài thí dụ :
Thí dụ như trong việc học sinh đi thi quay cóp, đã có những giáo viên tỏ ra hết sức lo lắng khi làm cán bộ coi thi : « Nếu mình làm nghiêm thì sợ bị trả thù. Còn làm không nghiêm thì sợ thanh tra kỷ luật » (theo
http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/05/699402/). Giải pháp là gì để che chở họ khi làm nhiệm vụ, tránh tình trạng « sống chết mặc bay » ?
Thí dụ như Bộ Giáo dục muốn cải tiến trình độ nhà giáo đại học, trong khi địa phương muốn mở đại học tuy thiếu thày – lấy thành tích, hay vì sức ép nào khác loại « làm quan, làm cảnh » ?
Thí dụ có những vụ hiển nhiên gian lận bằng cấp để có chức có quyền – ở nước khác thì có thể « tù mọt gông », ở ta có thật là cứ vẫn « trơ như đá vững như đồng » ?
Thí dụ như vấn đề mở trường « ngoài công lập » để kinh doanh có lợi nhuận, có còn nằm trong nền « kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa » không ? (Việc tồn tại một hệ trường tư lập nghiêm chỉnh không thể đánh đồng với việc tự do kinh doanh giáo dục kiếm lợi nhuận).
Kính chúc các vị có được sự tỉnh táo, sáng suốt, gạt được cái đục, lọc được cái thanh, tránh được những lắt léo làm nặng thêm cái « kho tàng » bất cập, và chọn được một con đường chấn hưng phù hợp.
7. Những kỳ dị đằng sau cụm từ
« Xã hội hóa » giáo dục
Đăng trên Vietnamnet
http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/721181/
Bùi Trọng Liễu
Ở các nước phương Tây, dù là người cộng sản hay không, cụm từ « xã hội hóa » (tiếng Pháp là socialisation, từ ngữ mà tôi quen thuộc) từ trước tới nay, vẫn thường được dùng theo nghĩa « tập thể hóa », « đặt dưới chế độ cộng đồng », « quản lý hay điều khiển [của nhà nước] nhân danh xã hội », vv. Tôi nghĩ rằng các ngôn ngữ nước khác, qua từ điển, thấy cũng có nghĩa tương đương.
Cho nên tôi ngạc nhiên khi thấy xuất hiện cụm từ « xã hội hóa » ở Việt Nam ta – có lẽ là xuất hiện từ khoảng mươi năm nay, và càng ngày càng bị sử dụng một cách thản nhiên theo nghĩa ngược lại – theo nghĩa đẩy gánh nặng tài chính lên vai người công dân, và trao cho tư nhân đảm nhiệm một số lĩnh vực thuộc bổn phận nhà nước phải quản lý, đặc biệt là giáo dục đào tạo. Theo tôi biết, ở các nước tiên tiến hay không, sự tham gia của người công dân vào lĩnh vực giáo dục đào tạo này được thể hiện qua sự hiện diện trong các hội đồng quản trị hay tư vấn, của các phụ huynh học sinh, của các công đoàn, của đại diện xã hội dân sự, vv. và nói chung qua tiếng nói của dư luận, chủ yếu là để góp ý về chiến lược, về hướng phát triển, đề nghị những giải pháp phù hợp cũng như để tố cáo những bất cập. Ở những nước đó, tôi không hề thấy có sự cưỡng bức nào ghi trong hiến pháp (thí dụ như cuỡng bức học hết tiểu học, hay học đến tuổi 16, vv.) mà lại gắn liền với sự cưỡng bức gia đình người học phải đóng học phí, nhất là học phí cao. Nếu có, thì thật là một sự kỳ dị, vì người dân phải đóng thuế, vậy thì thuế đó dùng để làm gì? Nếu quả là mức thu nhập của người dân đất nước đó chưa đủ cho phép có phương tiện vật chất để bảo đảm những mục tiêu « cao » trong việc học hành, vv. thì họ cũng đủ lương thiện để « liệu cơm mà gắp mắm », và không đưa vào hiến pháp những điều mà rốt cục nhà nước của họ không thực hiện được.
Ai cũng ước mơ có một nền giáo dục đào tạo với chất lượng tốt. Và tất nhiên, chất lượng tốt đòi hỏi những phương tiện về nhân sự và về vật chất, với một giá phải trả. Nhà nước thay mặt xã hội để điều hành, quản lý công việc của đất nước, bảo đảm cuộc sống của toàn dân. « Công bằng », « bình đẳng » trong việc học hành, không có nghĩa là ai ai cũng phải có bằng cấp cao, mà có nghĩa là : giàu nghèo sang hèn, ai có trình độ thì học cao, ai không có trình độ thì học vừa đủ, theo số chỗ mà phương tiện của đất nước có thể bảo đảm nổi. Thi tuyển để lấy người vào học trong các trường công lập mang ý nghĩa đó, cho nên không thể tăng học phí vô tội vạ ở các trường thuộc hệ thống đó, gây ra sự kỳ thị giàu nghèo. Nếu không đủ ngân quĩ để bảo đảm mức độ của trường công lập, thì đừng mở tràn lan. Đó là trách nhiệm quản lý của nhà nước. Tất nhiên, có thể có những đóng góp của những nhà hảo tâm cho các trường, nhưng đó là tự nguyện. Thiết tưởng đừng dùng cụm từ « xã hội hóa » để nhập nhằng che đậy việc ép buộc đóng học phí cao hay những chi phí nhì nhằng gì khác trong hệ thống công lập. Còn các trường tư thì tùy mức độ ; tuy nhiên tư bản hoang dã kiểu thế kỉ 19, và kinh doanh giáo dục tàn nhẫn, ngày nay không còn tồn tại ở đa số các nước trên thế giới nữa.
8. Xã hội hóa: vài lời thanh minh
(Đăng trên Vietnamnet
http://vietnamnet.vn/bandocviet/2007/07/724433/
http://www.vietnamnet.vn/service/show_forum.vnn?forumid=151103)
Bùi Trọng Liễu
Sau khi tôi đăng bài Những kỳ dị đằng sau cụm từ « Xã hội hóa » giáo dục http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/721181/ ,
có một số phản ứng. Trước hết, tôi xin có lời cảm ơn những bạn đọc tỏ lời thông cảm đồng tình. Đối với vài độc giả có ý kiến ngược lại – có thể là do hiểu lầm, đôi khi hiểu ngược lại ý tôi phát biểu – tôi xin được trả lời cho thật rõ:
1/ Tôi không hề « đổ hết trách nhiệm lên người thầy khi mà thu nhập của người thầy quá thấp vì ngân sách không có để chi, học phí thì quá thấp». Tôi trân trọng với nghề dạy học, vì đó cũng chính là nghề của tôi. Và cũng như mọi người, tôi mong mỏi nhà giáo có lương đủ sống để có thể hành nghề một cách tương xứng. Nhưng lương đó ai phải trả ? Tạm nói đến nhà giáo trong hệ công lập đã, (hệ tư lập tôi sẽ nói sau): nhà nước trả hay gia đình người đi học phải trả ? Trong bài
http://www.laodong.com.vn/Home/sknb/2007/7/43566.laodong
GS Nguyễn Xuân Hãn (Đại học Quốc gia Hà Nội) viết như sau: « Giảm biên chế hành chính, đồng thời tăng lương gấp hai lần mức lương hiện nay. Liệu giải pháp này có khả thi? Chỉ xin kể kinh phí Nhà nước cấp năm 2007 đã là 4 tỉ USD, trong khi đó lương cho cán bộ GV trong toàn bộ hệ thống khoảng 1 tỉ USD/năm, vậy số còn lại đi đâu?», để khẳng định rằng việc này khả thi. Một số đồng nghiệp trong nước cũng có ý tương tự như ý GS Hãn. Nếu ai thắc mắc không tin, cần hỏi, thì có lẽ nên hỏi nơi quản lý.
2/ Tôi không hề chủ trương « không mở các trường công lập [để phổ cập giáo dục] ». Tôi đồng tình với GS Hãn khi ông viết: « Cấp phổ cập giáo dục không thu học phí được coi là một nguyên tắc cho mọi thể chế », cũng như tôi đồng tình với GS Trần Văn Thọ (Tokyo) trong bài
http://www.thanhnien.com.vn/Giaoduc/2007/7/26/202504.tno
khi ông cũng phát biểu ý tương tự.
Tóm tắt vài con số ở Pháp : Tất cả các trường tiểu học và trung học công lập đều miễn phí ; bất cứ học sinh nào muốn học trường công lập đều được nhận. Tuổi cưỡng bức học là tới 16 tuổi. 91% học sinh tiểu học (vì phụ thuộc các thị xã) và 100% học sinh trung học cơ sở (vì phụ thuộc tỉnh) được cho mượn sách giáo khoa. Tùy gia cảnh, mỗi lần khai trường, mỗi học sinh cho đến 18 tuổi, được hưởng một « phụ cấp khai trường » (năm nay 2007 là khoảng 272 euros) ; 5 triệu 4 trăm nghìn học sinh được hưởng phụ cấp này. Luơng của giáo viên tiểu học và trung học cơ sở (sau 2 năm hành nghề) là 1550 euros/tháng.
Khi tôi viết câu: « giàu nghèo sang hèn, ai có trình độ thì học cao, ai không có trình độ thì học vừa đủ, theo số chỗ mà phương tiện của đất nước có thể bảo đảm nổi » là có ý nói đừng có mở vung vãi những trường đại học «làm cảnh », và đừng cho phép các đại học mở vung vãi nhiều ngành, khi số nhà giáo chưa đủ, khi ngân quĩ nhà nước chưa bảo đảm cho lương nhà giáo đủ sống, trang thiết bị dụng cụ chưa tương xứng, như tôi đã viết trong bài « Giáo dục ĐH: Không cung với cầu rởm» trong http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/01/659380/
3/ Nhưng tôi cũng đã phát biểu ý là cần có một hệ giáo dục dân lập tư lập bổ sung cho hệ công lập. Điều lạ là cũng có ý trách tôi chống việc mở trường « ngoài công lập ». Tôi xin được kể câu chuyện sau đây làm bằng chứng cho thật rõ: Ngày 2/4/1988, tôi có viết một thư gửi cho 5 nhà khoa học trong nuớc, đề nghị các anh chị này đứng ra xin phép chính quyền cho mở « Trung tâm đại học dân lập Thăng Long». Từ « dân lập » xuất hiện đầu tiên trong dịp này. Và khi chính quyền đã cởi mở cho phép, trong vòng 4 năm (1988-1992) vợ chồng tôi cùng một số bạn bè đã vận động đóng góp tiền bạc cho cơ sở này tồn tại với mức học phí thấp nhất hoặc miễn phí cho sinh viên, và với mức lương đủ sống cho nhà giáo khỏi phải làm một nghề tay trái kiếm sống trong thời buổi rất khó khăn đó. Nếu ai muốn kiểm chứng, có thể tạm mở đọc bài
http://vietnamnet.vn/psks/200601/536437/,
hoặc tìm hỏi những nhân chứng, như 3 vị trong đám 5 người sáng lập ra Trung tâm đại học dân lập Thăng Long này : GS Phan Đình Diệu (Đại học Quốc gia Hà Nội); GS Nguyễn Đình Trí (Đại học Bách khoa Hà Nội) ; GS Hoàng Tụy (Viện Toán). Và cao hơn nữa, nếu các vị cho phép, có thể hỏi nơi Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, lúc đó đang là Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, người đã ký giấy cho phép mở trường, và nơi Tướng Đặng Quốc Bảo, lúc đó là trưởng ban Khoa giáo Trung ương, người đã chuyển đạt lệnh cho phép của Tổng bí thư thuở đó. Đừng quên là thuở ấy, Liên Xô và Khối các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu còn đang tồn tại, Giáo dục là độc quyền của Nhà nước, ai dám nói tới dân lập, tư lập?
Nhưng tôi cũng như nhiều đồng nghiệp trong và ngoài nước, không tán thành việc mở vung vãi trường tư thục vị lợi, và tôi chống việc dùng Giáo dục như một thứ hàng hóa để kinh doanh kiếm lời, và tôi đã tỏ ý lo ngại về việc Việt Nam muốn nâng tỉ số sinh viên hệ « ngoài công lập » lên 40% , thậm chí 50%, trong khi chính ở Mỹ, tỉ số sinh viên công lập là 77%, tư lập là 23% (bài của tôi tại Hội thảo Đà Nẵng tháng 7/2005, đăng trên
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai6/200506_BTLieu.htm).
4/ Một độc giả khác chất vấn tôi (nhưng lại cắt đi một mẩu) đã viết câu : « tuy nhiên tư bản hoang dã kiểu thế kỉ 19, và kinh doanh giáo dục tàn nhẫn, ngày nay không còn tồn tại ở đa số các nước trên thế giới nữa ». Tôi trả lời : Thế kỉ 19, tư bản kinh doanh không bị kiềm chế, và tha hồ mặc sức sử dụng nhân công với tiền trả tùy tiện, số giờ lao động tùy tiện; người lao động không có ngày nghỉ và « tự do mất việc ». Mới đây, có xảy ra ở một nước lớn, vụ việc chủ một lò gạch bắt cóc, giam cầm làm nô lệ và cưỡng bức trẻ em lao động không công 18g /ngày. May là vụ việc được phát hiện ra, và có án xử tử và án chung thân đối với đám chủ lò, nhưng còn bao nhiêu vụ chưa phát hiện ra ? (nguồn Assiated Press 17/7/2007). Nếu không phải là hoang dã thì là gì ? Ở các nước tư bản phương Tây, trong hơn 150 năm, có những cuộc đấu tranh đổ máu của công nhân. Dần dần mới có những luật lao động ra đời, cải thiện đời sống của người lao động như ngày nay.
Trong bài http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/718033/ tiến sĩ Vũ Quang Việt (chuyên gia cao cấp của Liên hợp quốc), ước tính (trích tóm tắt một trường hợp trong bảng tính) : nếu mức học phí là 200.000 đồng/tháng, ở vùng Đông Nam Bộ, khoảng 60% học sinh có khả năng bỏ học. Tôi chưa thấy ai phản đối bảng tính của ông Việt. Nếu đúng vậy, thì không phải là tàn nhẫn thì là gì ?
5/ Vị độc giả chất vấn tôi kể trên, còn viết : « Tôi thấy mọi người nói nhiều về cái gọi là « xã hội hoá » giáo dục mà không thấy ông Bùi Trọng Liễu còn nói những điều chưa đúng về gd Việt Nam ». Tôi xin thưa rằng tôi có nói đấy, nhưng có thể tôi nói mà không được nghe thấy. Tự tôi biện minh thì cũng khó tin, vậy tôi chép lại một lời chứng của (cố) GS VS Nguyễn Văn Đạo, nguyên giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, khi ông viết lời tựa cho một cuốn sách của tôi : « Đóng góp ý kiến nhằm xây dựng đất nước tốt hơn thì nhiều kiều bào ta đã thực hiện được. Song kiên trì góp ý kiến nhiều lần, nhiều năm như Giáo sư Liễu cũng là một hiện tượng hiếm thấy ». Tôi chép lại câu này để cảm ơn lời tri âm của GS Đạo chứ không phải để khoe, vì định cư ở nước ngoài, tôi không cần đến điều này.
6/ Tôi không biết khi học tập Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, điều 15 của Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 1946 : « [...] Cấp học phổ cập là miễn phí », và lời Hồ Chủ tịch mong muốn : «...ai cũng có cơm ăn áo mặc ; ai cũng được học hành... », có được nhắc đến như GS Hãn đã nhắc trong bài của ông không ? Trở lại cụm từ « xã hội hóa », tất nhiên không chỉ có vấn đề từ ngữ, dù cho không muốn giữ gìn tiếng Việt trong sáng, như lời nhắc nhở của (cố) Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời. Tôi không chống việc « tư nhân hóa », « cổ phần hóa » một số lĩnh vực, khi cần thiết đi vào nền kinh tế thị trường trong khung cảnh toàn cầu hóa. Tôi chỉ chống việc dùng từ ngữ để biện bạch cho một số hành động kỳ dị.
9. Về một bài phỏng vấn
không đăng toàn bộ
Ngày 6-8-2007, tôi nhận được thư của một biên tập viên trẻ của một tạp chí trong nước, thay mặt Ban biên tập, yêu cầu được phỏng vấn tôi, với lời lẽ mà tôi cho là thành thật, và bày tỏ mong được câu trả lời càng thẳng thắn bao nhiêu, càng có lợi cho tình hình nước nhà bấy nhiêu. Tôi nghĩ rằng người biên tập viên này cầu thị, nên tuy những câu hỏi tế nhị, tôi đã cố gắng trả lời. Bài gửi về trong nước, thì được hứa hẹn sẽ đăng toàn bộ. Nhưng rốt cục, chỉ có đoạn tôi trả lời một câu hỏi (câu hỏi số 2 trong số 6 câu hỏi) được tạp chí này trích ra, đăng thành bài mang tên tôi là tác giả, nhưng dưới một đầu đề của họ: « Khởi đầu chấn hưng đại học bằng tinh hoa » (Tia Sáng ngày 5-9-2007). Tôi viết thư hỏi họ sẽ làm gì với phần còn lại của những câu trả lời của tôi, thì người phụ trách Ban biên tập trả lời là « thành thật xin lỗi về việc đã trả lời là sẽ đăng nguyên văn bài trả lời phỏng vấn, nhưng vì một số lý do riêng, trong số báo vừa ra lại chỉ trích đăng một phần (dù đó là phần quan trọng nhất) ». Tôi không nghĩ rằng trách nhiệm là do người biên tập viên trẻ. Tôi cũng không biết những « lý do riêng » mà người phụ trách Ban biên tập của họ nêu ra là lý do gì, và họ sẽ làm gì với những câu trả lời còn lại của tôi. Tuy nhiên, tôi đã mất công và lộng hiểm trả lời những câu hỏi tế nhị này, thì tôi cần ghi lại toàn bộ những lời hỏi-đáp ra đây.
1. Hỏi: Giáo sư suy nghĩ như thế nào về thực trạng khoa học của đất nước hiện nay trên cơ sở những gì mà giáo sư thu lượm được?
Bùi Trọng Liễu trả lời:
Tôi định cư ở nước ngoài, từ nhiều năm nay không về nước, lại không được thông tin về các văn bản tài liệu chính thức, nên không thể đánh giá trực tiếp được thực trạng của khoa học đất nước hiện nay. Tôi chỉ có thể có cái nhìn « toàn cảnh », qua những nhận xét gián tiếp. Nói kỹ hơn, tôi nghĩ rằng hẳn có những thành công nhất định nào đó, trong một số lĩnh vực nào đó, nhưng nói chung thì chưa thấy chứng cớ gì để có một cái nhìn lạc quan về nền khoa học Việt Nam hiện nay. Những nhận xét gián tiếp của tôi là những nhận xét về cách đánh giá về sự thành đạt của những nhà khoa học – xin nói kỹ để tránh hiểu lầm : ở đây tôi dùng chữ « những », chứ không dùng chữ « các = tất cả ». Mà khi con người đã bị đánh giá sai, thì ít có khả năng là công trình của họ được đánh giá đúng.
Một thí dụ là từ một số năm nay, thấy nở rộ những danh hiệu dởm do người tôn vinh hiểu sai hay do đương sự tiếm nhận, thí dụ như « viện sĩ » (kỳ thật ra là hội viên đóng tiền của những hội tư mang tên Academy gì đó), nhà khoa học xuất sắc của thế kỷ (do đương sự tự đánh giá những « phát minh » của mình, hay do bị một số bọn kinh doanh tiểu sử quốc tế lừa mua đồ của họ xuất bản). Hoặc như có sự ngộ nhận về ý nghĩa ẩn sau một số từ ngữ, như ngỡ giáo sư emeritus là « siêu giáo sư » tại chức, trong khi thực ra ở Pháp theo đạo luật 6/6/1984, đó là giáo sư đại học (professeurs des universités) nghỉ hưu có thể xin được quyền (nhưng phải được hội đồng khoa học trường đại học bỏ phiếu thuận) tiếp tục một thời gian có hạn để tham gia tự kết thúc hay kết thúc hướng dẫn một số công trình nghiên cứu, vv. và đạo luật 12/7/1999 mở rộng emeritus, vẫn theo nghĩa kể trên, ra cho các nhà khoa học có cương vị tương đương với giáo sư đại học, như các giám đốc nghiên cứu (directeurs de recherche) trong các viện nghiên cứu (đừng lầm chức danh này với giám đốc của viện nghiên cứu, là một chức vụ quản lý và hành chính). Ở Mỹ, theo tôi hiểu, tùy trường đại học, nhưng nói chung, emeritus vẫn hàm nghĩa giáo sư nghỉ hưu [một phần]. Hoặc như có sự ngộ nhận « postdoc » (chercheur post-doctoral) là « siêu tiến sĩ » trong khi đó chỉ là vị trí công việc tạm thời (học bổng, hợp đồng lâm thời) cho những tiến sĩ chưa tìm được việc làm trong chính ngạch, vv. Rồi lại từ những ngộ nhận đó, luận ra giá trị cao thấp của công trình các đương sự, thì sự đánh giá của mấy vị trong nuớc về khoa học (có nhiệm vụ quản lý làm việc này) không có thể gọi là chính xác được.
Vẫn về vấn đề người, cách đánh giá các công trình khoa học theo số liệu, chấm điểm, ngay cả khi xếp hạng theo « chuẩn » các tập san quốc tế cũng chỉ là tương đối, vv. không phải là cách tiến hành thông thường mà tôi được biết. Đã đành là cần thiết có một số tiêu chuẩn cụ thể tương đối khách quan để đánh giá, nhưng đó là nói cho tổng thể của một nước, chứ không phải là nói cho một nhà khoa học riêng lẻ. Ai đã thực sự làm khoa học, và đã từng tham gia các hội đồng khoa học thẩm định các công trình nghiên cứu, hẳn biết rằng có nhà khoa học chỉ công bố vài công trình mà đã nổi trội, trong khi có người rặn ra cả trăm ấn phẩm trên tập san mà chẳng mấy ai chú ý. Nhà khoa học biết cách đánh giá khi xét hồ sơ, chứ không áp dụng một cách máy móc tiêu chuẩn mà cơ quan quản lý hành chính xếp sẵn, khi tuyển lựa ứng viên. Họ cũng không lẫn lộn chức danh, chức vụ hành chính, hư hàm.
Tôi cũng thấy một số người trong nước đánh giá những nhà khoa học Việt kiều thành đạt như là những sản phẩm của Việt Nam, trong khi thực ra họ lại chủ yếu là sản phẩm của nơi họ định cư, mà ở đó họ cũng chỉ là một mắt xích của cả một hệ thống.
Về các đề án và đề tài khoa học, tôi thú thật không hiểu cách tổ chức đấu thầu và nghiệm thu các đề tài khoa học (hay là tại ngôn ngữ bất đồng?) trong nước. Đấu thầu một công trình xây dựng, đấu thầu một đề án chắc chắn thực hiện được, thì tôi hiểu tiêu chuẩn (chẳng hạn như chọn chủ thầu nào có kinh nghiệm xây dựng, giá rẻ, trình bày thời gian thực hiện, nguyên vật liệu thích hợp, vv.), rồi khi chấm dứt thời gian thực hiện, có thể nghiệm thu theo nghĩa đánh giá công trình này đã được thực hiện tới đích. Đấu thầu một đề tài nghiên cứu, khi mà những nhà nghiên cứu không thể biết trước được kết quả của nó – ai mà biết trước được kết quả của một nghiên cứu ? – thì dựa trên những tiêu chuẩn gì để trao trọn gói kinh phí ? Tôi chỉ thường thấy, khi khuyến khích phát triển một hướng nghiên cứu nào đó, thì các nhóm nghiên cứu trình bày đề án tiến hành của mình và qua đó, tùy theo tính chất cam kết nghiêm chỉnh của đề án (ước mong đạt tới kết quả chờ đợi), mà được hưởng sự tài trợ, và sẽ phải báo cáo và bị kiểm tra tính nghiêm túc trong việc tiến hành. Cách quản lý nghiên cứu khoa học kiểu đấu thầu như vậy, xem ra là bất bình thường.
Tóm lại, qua những nhận xét kiểu kể trên, tôi chưa có cái nhìn lạc quan về thực trạng khoa học của Việt Nam.
2. Hỏi : Trong chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có phát biểu: đến 2020 Việt Nam sẽ xây dựng được một trường đại học lọt vào top 200 trường đại học thế giới Theo ý kiến cá nhân của giáo sư, để đạt được mục tiêu trên chúng ta phải làm gì?
Bùi Trọng Liễu trả lời:
Trước hết, tôi xin được nói vài lời về sự xếp hạng cao thấp, mà một số người Việt Nam rất ưa chuộng, có lẽ do một thứ truyền thống « chiếu trên chiếu dưới » gì đó từ cổ xưa. Gần đây, một số báo chí hay phát biểu của một số người Việt Nam thường nhắc đến bảng xếp thứ tự các trường « đại học », thí dụ như bảng xếp của Jiao Tong University (nếu tôi không lầm chữ Hán, thì nghĩa là Đại học giao thông) ở Thượng Hải.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học nước ngoài cho rằng không thể coi đó như là một thứ « khuôn vàng thước ngọc ». Xin nêu vài nhận xét sau đây của họ, mà phần nào tôi chia sẻ. Tôi nêu 3 thí dụ:
1/ «Người» đánh giá xếp hạng (Đại học giao thông Thượng Hải), xếp chung các « trường » mà hình như họ cũng không phân biệt được định nghĩa. Thí dụ như với Pháp họ xếp lẫn các Universités (bao gồm nhiều ngành, nhiều khoa) với các « Grandes Ecoles » (thường chỉ có một ngành, và tầm cỡ khối lượng có khi chỉ tương đương với một khoa). Nói chi tiết một chút cho rõ. Bằng tú tài Pháp (baccalauréat) ra đời năm 1808, có đặc điểm sau đây : theo luật, nó vừa là bằng kết thúc Trung học (định nghĩa thứ nhất), đồng thời là « bằng cấp đầu tiên của đại học », (« premier grade universitaire», định nghĩa thứ nhì). Vì cái định nghĩa thứ nhì là như thế nên từ thuở nó được khai sinh đến nay đã 200 năm, người có bằng tú tài Pháp được đương nhiên ghi tên vào học Université (« đại học » Pháp, tôi dùng tiếng Pháp cho khỏi lẫn lộn dưới đây) mà không phải thi tuyển gì hết : bằng tú tài Pháp là kết quả của một sự « gộp thi », một thứ bằng « hai trong một », một tai họa mà từ mấy chục năm nay, các chính quyền tả hay hữu cố sửa mà không sửa được. Và vì thế mà « kẹt » : các Universités không được phép tuyển sinh, nghĩa là không lọc được « đầu vào » ; bất cứ ai có bằng tú tài cũng được phép ghi tên vào học dù không học được. Với một số lượng sinh viên rất lớn, với trình độ linh tinh, không ngân sách nào có thể chịu đựng nổi ; số sinh viên phải rời trường sau 3 năm, không được phép học tiếp, không có một mảnh bằng nào trong tay, là một con số khổng lồ. Do đó sự lãng phí thật khủng khiếp về thời gian, về nhân lực, về ngân quĩ, khuynh gia bại sản các Universités. Trong khi đó, cũng do lý do lịch sử để lại, có sự hiện diện song song của một số cơ sở giáo dục mà Pháp gọi là những « Grandes Ecoles » – (« Trường lớn », tôi dùng tiếng Pháp cho khỏi lẫn lộn dưới đây, tóm tắt là những trường kỹ sư, những trường thương mại quản lý, chủ yếu là những trường cao cấp dạy nghề) – đã được mở bên ngoài các Universités. May cho các cơ sở này, và may cho nền giáo dục của Pháp : nhờ được mở bên ngoài các Universités mà các cơ sở này không bị « kẹt » vào cái định nghĩa thứ hai của cái bằng tú tài kể trên. Do đó, các « Grandes Ecoles » tuyển sinh theo kiểu thi tuyển ở mức tú tài +2. « Đầu vào » nghiêm chỉnh, nên không lãng phí, và có phương tiện học hành đầy đủ hơn. Nhưng đây chỉ là một thiểu số . Các Universités thực sự chỉ « bảnh bao » ở cấp đào tạo tiến sĩ vì trừ một số trường hợp đặc biệt, đa số « Grandes Ecoles » không đảm nhiệm cấp này. Nói rất tóm tắt, có ý nghĩa gì khi đem so sánh (cùng có trên bảng danh sách xếp hạng), Université Paris XI (27000 sinh viên « đầu vào » không thi tuyển trong nhiều ngành như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Luật, Kinh tế, vv. trong đó có 7000 sinh viên Y-Dược, 4500 sinh viên cấp thạc sĩ, 2600 sinh viên cấp tiến sĩ) với Ecole Nationale Supérieure des Mines (Trường kỹ sư Hầm Mỏ, nghĩa là một ngành, với non 1300 sinh viên, mà « đầu vào » đã thi tuyển ở mức tú tài+2, con số sinh viên vừa kể gồm cả 200 sinh viên cấp thạc sĩ, 470 sinh viên cấp tiến sĩ) ?
2/ Nghe nói một trong những tiêu chuẩn để đánh giá xếp hạng cao thấp các trường là đếm số ấn phẩm. Nhưng « người » đánh giá xếp hạng lại không kể những ấn phẩm viết bằng tiếng Pháp !
3/ Một số lớn nghiên cứu khoa học ở Pháp được thực hiện ở trong các phòng thí nghiệm của Universités, nơi chứa nhiều ê-kíp nghiên cứu và nghiên cứu viên của nơi khác, kể cả của CNRS (Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học) và của Grandes Ecoles. Nhưng vì lý do nghề nghiệp, khi đăng công trình, nhiều nghiên cứu viên lại không ghi là nghiên cứu đã thực hiện trong Universités ! Con số ấn phẩm do đó bị đếm sai.
Nhưng đừng ngạc nhiên khi chính một số người quản lý Universités Pháp cũng dẫn bảng xếp hạng kể trên, tuy biết rằng có sự sai lệch : đó là cách họ than vãn để đòi thêm ngân quĩ, cũng như để đòi quyền tự chủ để tiến hành cải cách. Do đó, theo tôi, ta không nên bị ám ảnh bởi sự xếp hạng.
Về việc thành lập một đại học có trình độ nghiêm chỉnh, đàng hoàng – tôi chủ ý tránh dùng những cụm từ như đẳng cấp cao, đẳng cấp quốc tế, vv. – tôi cũng đã nhiều lần kiến nghị (kể cả qua các bài báo) việc thành lập mới một đại học « hoa tiêu » công lập, bước đầu cỡ nhỏ dần dần khuếch trương ra, theo khả năng, nhưng luôn luôn giữ được chất lượng để làm gương. Ý này tôi cũng đã được nhiều đồng nghiệp trong nước chia sẻ và kiến nghị nhiều lần từ một số năm nay (thí dụ như trước cả khi tôi tham gia Bản Kiến nghị chung của 23 nhà khoa học tham dự xê-mi-na « Chấn hưng giáo dục » trình bày với chính quyền vào tháng 5-2004). Nhà cầm quyền đã ưu tiên giải pháp gộp nhiều trường lại với nhau cho đồ sộ mà không có thanh lọc, và chủ trương nâng cấp những cơ sở sẵn có, với những kết quả mà cả nước đều biết. Nếu cần nói một cách cụ thể cho ngày hôm nay, thì tôi xin phát biểu như sau. Giải pháp nhanh nhất, rẻ rất, hợp lý nhất, tốt nhất, là việc thành lập một đại học từ các cơ sở sẵn có của Viện Khoa học và Công nghệ : tuyển nghiêm chỉnh giáo sư từ đội ngũ sẵn có của viện hoặc từ các đại học khác, sử dụng các phòng ốc của viện, sử dụng các phòng thí nghiệm sẵn có của viện, chỉ mở một số ngành « mạnh » theo nghĩa đủ nhân sự và phương tiện trang bị, tuyển sinh « đầu vào » chặt chẽ trong đám các học sinh giỏi, chuyển các nghiên cứu sinh nghiêm chỉnh sẵn có sang trường này, vv. Đại học này có thể đặt dưới sự đồng chủ quản của Bộ Đại học và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Bước đầu như vậy, rồi dần dần sẽ khuếch trương. Như vậy, chẳng cần phải đợi đến 2020 để mơ lọt vào cái bảng xếp top 200 trường đại học nào đó, bởi vì đại học « hoa tiêu » này ngay từ bước đầu có thể đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng, trừ tiêu chuẩn khối lượng. Về tiêu chuẩn khối lượng này, tôi muốn nhắc lại câu của Trần Hưng Đạo trả lời khi các quan nhà Trần xin tuyển thêm binh để chống giặc Nguyên thời thế kỉ 13 : « Binh cốt giỏi, chứ không cốt nhiều, nếu nhiều mà không giỏi thì như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng không ích gì ! ». Bồ Kiên đây là vua Tiền Tần thời cổ bên Tàu, có đến 100 vạn quân mà bị thua nhà Tấn.
Ngày nay, nước ta cần chấn hưng giáo dục, nghĩa là cần đánh giặc dốt, nếu cứ nhắm tuyển tướng không giỏi, quân không giỏi, thì thắng sao được ? Tôi không nói vu vơ : đọc các bản tin, tôi thấy ở ta nhắc nhiều đến sự so sánh rằng nước này cứ 1 vạn dân thì có bao nhiêu sinh viên, rằng nước kia cứ 1 trăm sinh viên có bao nhiêu thầy, nhưng đồng thời không thấy nhấn mạnh đến việc nước họ không có chuyện « ngồi nhầm lớp », « đứng nhầm lớp » tràn lan. Dự báo, thì cứ dự báo, nhưng tôi nghĩ rằng phải khởi đầu sự chấn hưng bằng « tinh hoa » đã, « đại trà » là bước sau.
3. Hỏi : Vừa rồi Bộ KHCN có bàn về vấn đề nghiệm thu các đề tài khoa học và có nhiều ý kiến khác nhau. Ý kiến của GS Hoàng Tụy cho rằng, đã nghiên cứu khoa học cơ bản thì phải có công bố quốc tế. Nhưng cũng có nhiều ý kiến khác lại nói, trong hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam chưa thể làm như thế được. Ý kiến nào giáo sư cho là đúng?
Bùi Trọng Liễu trả lời :
Trong phần trả lời câu hỏi 1, tôi đã phần nào đề cập đến vấn đề nghiệm thu đề tài khoa học, và đã nói lên ý của tôi về sự khác biệt của nó với nghiệm thu một công trình xây dựng. Sự khác biệt là ở chỗ, trong nghiên cứu, không thể khẳng định rằng hễ « tìm » là sẽ « thấy ». Nhưng các nhóm nghiên cứu phải báo cáo và bị kiểm tra tính nghiêm túc trong việc tiến hành, chứ không phải là nhận tài trợ rồi muốn làm gì thì làm. Có câu chuyện cổ tích : Người hầu già của một ông vua già xin vua trao vàng cho mình để cất công dạy cho một con khỉ lớn tập nói và cả quyết rằng sẽ dạy được khỉ biết nói. Vua hỏi bao lâu thì khỉ nói được, người hầu nói phải mươi năm. Vua trao vàng cho y , để đài thọ y dạy khỉ. Câu chuyện không kết luận, nhưng người nghe chuyện, tất nhiên hiểu khỉ sẽ không bao giờ biết nói, và người khờ không phải là người hầu, y hẳn ước đoán rằng mươi năm thì khỉ và người đều đã chết. Chuyện cũng không kể là có một cận thần nào đó xúi vua trao vàng, cho nên không có việc đồng lõa tham nhũng. Có lẽ chỉ ngụ ý rằng nhà vua lẽ ra phải biết mục tiêu có khả thi hay không.
4. Hỏi : Đối với những ngành mà hoạt động nghiên cứu cơ bản còn thấp như vật lý địa cầu, môi trường,…rất khó có thể có công bố quốc tế. Như vậy, có nên tiến hành nghiên cứu cơ bản không?
Bùi Trọng Liễu trả lời :
Tôi không hiểu rõ ý nghĩa câu hỏi về « nghiên cứu cơ bản và công bố quốc tế », cũng như câu về « những ngành hoạt động nghiên cứu còn thấp nên khó có thể có công bố quốc tế », nên tôi e rằng sẽ nói lạc đề. Tuy vậy tôi cũng cố gắng phát biểu như sau : phải chăng câu hỏi hàm ý việc kết quả nghiên cứu phải được đăng trên tập san quốc tế ? Nếu nghiên cứu có kết quả, thì tại sao không « thử » gửi đăng trên tập san quốc tế ? Đó cũng là một cách được thẩm định độc lập. Tuy nhiên, tôi cũng muốn lưu ý là việc gửi bài đăng trên một tập san quốc tế cũng có cái phức tạp của nó : có những « thẩm định viên » tập san quốc tế thẩm định sai, hiểu nhầm, làm cho tác giả bài báo phải cãi, nêu ra sự sai, và yêu cầu thẩm định lại, hoặc gửi cho một tập san quốc tế khác. Do đó, thời gian đăng bài trong một tập san quốc tế có giá trị thường đòi hỏi có thời gian. (Ai khẳng định rằng thời gian đăng bài là ngắn, thì hoặc là họ có tay trong (!) hoặc là họ không có kinh nghiệm). Mặt khác cũng không nên ám ảnh bởi bảng xếp hạng cao thấp của các tập san quốc tế, nó cũng tương đối như bảng xếp hạng các trường đại học nói trong phần 1. Còn nếu như nghiên cứu, sau một thời gian qui định nào đó, mà không có nổi được kết quả để viết thành một vài bài báo để « thử » đưa đăng, thì cần xem lại tình hình ê-kíp nghiên cứu, có phải thay đổi hay không, ngân quĩ tài trợ có sử dụng đúng hay không, vv., thậm chí, đề tài và lĩnh vực nghiên cứu có thực đáng được tiếp tục hay không. Tất nhiên, ở đây, tôi không nói tới các đề tài tế nhị thuộc bí mật quốc gia, quốc phòng, có sự thẩm định nào đó mà kết quả không được công bố.
5. Hỏi : Giáo sư có thể cho biết cụ thể ranh giới giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trên thế giới hiện nay như thế nào?
6. Hỏi : Theo đánh giá chủ quan của giáo sư thì mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam ra sao? Nhà nước nên ưu tiên chú trọng đầu tư cho lĩnh vực trọng điểm nào cho tương lai?
Bùi Trọng Liễu trả lời :
Tôi xin trả lời gộp hai câu hỏi 5 và 6, vì tôi không chắc đã hiểu rõ ý câu hỏi. Thường thì, nếu không có hiểu biết sâu sắc về khoa học cơ bản, thì không thể có nghiên cứu ứng dụng. Cho nên phải chú trọng tạo điều kiện để bảo đảm được sự hiểu biết về khoa học cơ bản. Nói như vậy không có nghĩa là cứ bó buộc phải đầu tư nghiên cứu cơ bản, cũng không có nghĩa là đừng nghiên cứu cơ bản. Theo cách nhìn của tôi, nước ta còn nghèo, cho nên trừ những trường hợp rất đặc biệt, nhà nghiên cứu cũng nên là những nhà giáo giảng dạy (giáo sư đại học theo nghĩa ấy). Vì những GS giảng dạy và nghiên cứu này (người Pháp gọi là « enseignant-chercheur »), đã có nhiệm vụ giảng dạy đào tạo sinh viên và hướng dẫn nghiên cứu sinh rồi, việc họ được hưởng lương tương xứng cũng đã là chính đáng. Còn về lĩnh vực nghiên cứu của họ, nếu là lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết cơ bản (thí dụ như về toán học, hay vật lý lý thuyết, hay một lĩnh vực nào đó chưa có ứng dụng ngay), thì chẳng có lý do gì mà ngăn cản công việc của họ. Vấn đề chỉ đặt ra khi Nhà nước đầu tư, với ngân quĩ lớn, cho một lĩnh vực dù gọi là cơ bản hay ứng dụng, với những nhà nghiên cứu chỉ nghiên cứu mà không biết có tìm ra được cái gì không. Đây là thuộc trách nhiệm của chính quyền, với sự tham mưu của các hội đồng khoa học.
Còn câu hỏi về việc « Nhà nước nên ưu tiên chú trọng đầu tư cho lĩnh vực trọng điểm nào cho tương lai? » thì tôi ở xa, không nắm rõ thực trạng, không thể trả lời được. Chỉ có một điều mà tôi dám khẳng định, là : trong tình trạng hiện nay của đất nước, nhà nước không nên tham gia đầu tư vào các đề án loại « big science », loại đề án cần những ngân quĩ khổng lồ, đội ngũ khổng lồ, xây cất khổng lồ, như ITER, CERN, thám hiểm vũ trụ, vv. (Xin đừng hiểu lầm : tôi nói đầu tư nhà nước, chứ tôi không nói sự hiện diện cá nhân của một vài nhà khoa học).
7. Hỏi : Tầm nhìn phát triển khoa học công nghệ ở nước ta trong tương lai, chúng ta có nên đi theo mô hình của một số nước đi trước như Nhật, Hàn Quốc, Singapore,…hay chúng ta phải vạch ra con đường riêng?
Bùi Trọng Liễu trả lời :
Sự tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm của các nước khác, nước đi trước cũng như nuớc đang cùng trình độ phát triển, là sự cần thiết. Nhưng mỗi nước có thực trạng của mình : tình hình kinh tế, văn hóa, thể chế chính trị, trình độ dân trí, vv. Không thể rập khuôn mô hình của người ta rồi bưng nguyên si vào áp dụng cho nước mình. Cũng đã có những kinh nghiệm cay đắng rồi. Nhưng cũng đừng nên tưởng rằng mình khôn hơn thiên hạ. Tôi phát biểu như vậy là đủ, xin miễn nói thêm.
24/11/08
Chương 7 Nói về ba nhà khoa học
Chương 7
Nói về ba nhà khoa học
***
1. Chuyện kể từ ngoài nước
về nhà toán học Hoàng Tụy
Bùi Trọng Liễu
Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)
Đăng trên ZIDOL (Diễn Đàn mạng)
http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/nha-toan-hoc-hoang-tuy/
Năm nay, giáo sư Hoàng Tụy 80 tuổi. Một tập Kỷ yếu mừng thọ ông sẽ được xuất bản cuối năm nay, với sự tham gia của nhiều tác giả, đồng nghiệp, bạn bè, môn đệ của ông. Với sự đồng ý của nhà văn Nguyên Ngọc và TSKH Nguyễn Xuân Xanh, đồng phụ trách ban biên soạn tập Kỷ yếu, ZIDOL đăng trước bài viết kèm đây của tác giả Bùi Trọng Liễu mà toàn bản sẽ có mặt trong cuốn Kỷ yếu nói trên.
Lời nói đầu
Tôi quen biết giáo sư Hoàng Tụy từ hè năm 1970 vào dịp tôi về thăm miên Bắc nước ta và làm thí điểm cho việc người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc ngắn hạn, do Ủy Ban Khoa học Nhà Nước tổ chức. Thuở ấy còn chiến tranh, tôi lại bỡ ngỡ mới trở về sau 20 năm vắng mặt, sự giao dịch còn dè dặt ; hình như lúc đó chỉ kịp chào hỏi làm quen, và tôi chỉ giữ ở anh hình ảnh bộ tóc đã sớm bạc trắng và thành tích về ứng dụng Vận trù học đã được nghe nhiều người nói tới. Hè năm 1975, tôi trở về Hà Nội lần thứ nhì, cũng không có dịp trao đổi gì mấy với anh. Có chăng là từ mùa thu 1976, tôi mới có dịp cùng anh tâm sự nhiều, (tuy anh hơn tôi 7 tuổi nhưng rất thoải mái), trong điều kiện nào, tôi sẽ kể dưới đây. Lại nhớ tới một lần, đã lâu, anh kể cho tôi nghe chuyện cái hộ chiếu của anh bị ghi chỗ họ tên : Ông Hoàng Tụy, làm anh khổ sở giải thích cho cảnh sát nước ngoài khi anh nhập cảnh, ý nghĩa của chữ Ông bị gán thêm một cách vô ý thức, có lẽ vì người làm hộ chiếu sợ viết họ tên không thôi thì là cộc lốc. Ngược lại, tôi cũng nghe anh kể một lần khác, anh viết một bài gửi đăng trên một tờ báo hàng ngày, có người ngạc nhiên vì anh đề nghề nghiệp anh là « nhà toán học ». Thật vui mà cũng thật buồn.
Tôi nghe nói, trong sách Luận Ngữ của Trung Hoa, thiên Thái Bá, có chép hai câu của Tăng tử (Tăng Sâm), như sau :
Điểu chi tương tử, kỳ minh dã ai,
Nhân chi tương tử, kỳ ngôn dã thiện. (1)
Tôi hiểu thoát nghĩa là :
Con chim sắp chết, tiếng kêu bi ai.
Người đời sắp chết, lời nói thành thật.
Tất nhiên, tôi không tự nghĩ tôi như « người sắp chết » theo nghĩa đen, nhưng theo nghĩa bóng thì tôi là người đã nghỉ hưu, không còn cầu danh vọng, chẳng có lý do để khoe khoang cho mình hay cho ai ; những dịp hiếm hoi còn lại để phát biểu ý kiến thì lời phát biểu là lời thành thật, không che dấu. Vả lại, theo câu thành ngữ la-tinh : « verba volant, scripta manent », lời nói bay đi, câu viết còn lại. Vì thế mà tôi viết, và những điều mà tôi viết lại dưới đây về anh Tụy là do tôi được nghe từ những nguồn mà tôi tin cậy, hay từ chính anh, hay do tôi được trực tiếp chứng kiến. Tuy là kể chuyện cũ, nhưng nội dung lại vẫn còn mang tính thời sự, chủ yếu là chuyện liên quan đến giáo dục và đào tạo, vì đối với một xã hội muốn tiến triển, phát triển, lại vốn tự hào về nền văn hóa lâu đời của mình, không gì đáng nâng niu bằng Trí tuệ và việc Học. Lẽ ra chớ nên để nó bị ô nhiễm : « corruptio optimi pessima », câu la-tinh này nghiã là « Sự băng hoại xấu xa nhất là sự băng hoại cái tốt đẹp nhất ». Thế mà nhiều vấn đề thuộc việc Học, từ thuở đó đến nay vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng.
Dưới đây, tôi không đề cập đến các công trình khoa học của anh Tụy ; điều này đã có các đồng nghiệp khác và các môn đệ của anh làm tốt hơn tôi. Tôi chọn chỉ kể lại một số sự việc mà tôi cho là tiêu biểu nhất :
Mười chuyện để kể
I.- Anh Tụy, Ban Tu thư và Chương trình cải cách giáo dục phổ thông năm 1956 :
Cuối năm 1955, sau khi tiếp quản Thủ đô, khi quân đội viễn chinh Pháp đã rút vào miền Nam, anh Tụy đang dạy học ở trường Sư Phạm Trung cấp Trung Ương (đào tạo giáo viên cấp 2 phổ thông), thì được điều động về Bộ Giáo dục, làm trưởng ban trù bị « Cải cách giáo dục phổ thông» (CCGDPT) với nhiệm vụ nghiên cứu và soạn thảo kế hoạch cải cách giáo dục phổ thông, thống nhất hệ thống phổ thông 9 năm ở vùng giải phóng cũ với hệ thống 12 năm ở vùng mới giải phóng thành hệ thống mới 10 năm. Ban này gồm mươi người, trong số đó có ông Lê Thước (2) và ông Hoàng Ngọc Phách (3) là cao tuổi nhất. Sau mấy tháng trù bị, đến tháng 2/1956 hội nghị giáo dục toàn miền Bắc chính thức thông qua kế hoạch và bắt tay thực hiện cải cách. Anh Tụy lại được cử phụ trách ban Tu thư để biên soạn chương trình và sách giáo khoa cho mọi môn, từ lớp 1 đến lớp 10, làm sao để đến tháng 8/1956 thì biên soạn và in xong đủ sách giáo khoa cho các trường theo hệ thống giáo dục phổ thông mới. Ngoài những thành viên sẵn có của ban Trù bị CCGDPT, anh đề nghị điều động thêm về ban Tu thư khoảng 40 người nữa trong số các giáo viên giỏi nhất ở miền Bắc lúc đó. Chỉ một tuần lễ sau khi danh sách được trình lên Bộ thì toàn thể các vị trong danh sách đều đã có mặt đông đủ tại Hà Nội, dù có nhiều người ở cách xa Hà Nội 5- 6 trăm cây số mà hồi ấy phương tiện giao thông duy nhất là xe đạp. Phần lớn các vị đều lớn tuổi hơn anh nhiều, như ông Lê Trí Viễn (thày cũ của anh hồi tiểu học, về sau là giáo sư đại học về văn học), ông Đỗ Trọng Cảnh (4) , ông Trương Chính (5) , vv. Điều đáng chú ý là sao hồi đó người trẻ như anh lại được giao việc mạnh dạn như vậy, mà không thấy ai thắc mắc, tranh giành như những năm về sau. Các vị làm việc nỗ lực trong tinh thần thân ái, không nề hà tuổi tác. Ban không đông người, phương tiện vật chất rất giới hạn, vậy mà trong thời gian non 6 tháng, đã hoàn thành được một chương trình hoàn chỉnh cho giáo dục, thực hiện được một bộ sách giáo khoa có giá trị, tồn tại trong rất nhiều năm.
Tất nhiên mỗi thời một cảnh ; ngày nay, con số học sinh đã tăng gấp bội, so với thời đó. Nhưng câu hỏi day dứt vẫn còn lại là tại sao bây giờ, nay hội thảo này, mai hội nghị kia, huy động người đông, của lớn, nào khảo sát bên trong, nào tham quan bên ngoài, mà tại sao chương trình học, sách giáo khoa nay vẫn lộn xộn gây bức xức trong dư luận ?
II.- Anh Tụy, từ Đại học Tổng hợp đến Viện Toán :
Năm 1954, sau khi tiếp quản Thủ đô ông Lê Văn Thiêm làm giám đốc Đại học Khoa học, ông Đặng Thai Mai làm giám đốc Đại học Văn khoa. Đến 1956 đổi thành Đại học Tổng hợp (cả khoa học tự nhiên và xã hội), do ông Ngụy Như Kontum làm hiệu trưởng, và Đại học Sư phạm (cũng đủ mọi ngành), do ông Phạm Huy Thông làm hiệu trưởng. Anh Thiêm trở thành Chủ nhiệm khoa Toán Lý chung cho cả Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm, với lý do để chuyên tâm « làm khoa học ». Đến tháng 9 năm 1956, sau khi xong việc ở ban Tu thư, anh Tụy được chuyển hẳn qua biên chế Đại học Sư phạm, nhưng làm việc trong khoa Toán do anh Thiêm phụ trách. Đến tháng 8 năm 1957 anh được cử sang thực tập ở Đại học Tổng hợp Mạc Tư Khoa cùng với 8 anh em khác. Vì sau mấy tháng, anh viết được mấy bài báo khoa học đăng trong Doklady của Liên Xô nên được ở lại thêm để hoàn thành luận án và bảo vệ năm 1959. Xong, anh về nước, được giao làm Tổ trưởng bộ môn Toán của Khoa Toán-Lý-Hóa ở Đại học Tổng hợp (do anh Thiêm làm Chủ nhiệm). Năm 1960, Khoa Toán-Lý-Hóa tách thành hai khoa độc lập: Toán-Lý và Hóa. Anh Tụy được cử làm chủ nhiệm Khoa Toán-Lý. Năm 1963, Khoa Toán-Lý lại tách ra thành Khoa Toán và Khoa Lý. Anh làm chủ nhiệm Khoa Toán, cho đến khi anh rời Đại học Tổng hợp (1968), chuyển qua Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (UBKHKTNN).
Ở đây, tôi muốn kể lại vụ việc anh Tụy và anh Thiêm bị đấu ở Đại học Tổng hợp, bắt đầu từ cuối 1963 và kéo dài đến tận 1970. Hồi đó, sau Nghị quyết 9 (Hội nghị Trung ương lần thứ 9 của khoá 3 của Đảng Lao Động Việt Nam, họp từ tháng 12-1963, nhưng tháng 1-1964 mới xong), theo đó Việt Nam phê phán đường lối xét lại, đồng thời cũng có chút phê phán chủ nghĩa giáo điều, nhưng thực chất có thể hiểu là nghiêng về phía Trung Quốc hơn (có câu nói đùa là « không Mao-ít thì cũng Mao nhiều »). Hàng loạt nghiên cứu sinh Việt Nam về khoa học xã hội ở Liên Xô bị gọi về nước ; trong nước, một số cán bộ cao cấp bị xử lý vì không tán thành Nghị quyết 9. Theo gương Trung quốc, ở đại học ta cũng nêu cao khẩu hiệu « chính trị là thống soái », lên án những người « chuyên môn thuần túy » . Không may cho anh Tụy, vì lúc đó cũng là thời kỳ mà anh đang cùng với anh Thiêm và anh Tạ Quang Bửu, thực hiện nhiều chủ trương như : mở nhiều lớp chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ giảng dạy, thành lập Hội Toán 1963, thành lập tạp chí Acta Scientiarum Vietnamicarum 1962, sau đổi thành Acta Mathematica Vietnamica 1975, thông qua ban Toán ở UBKHKTNN và Hội Toán đề ra phương hướng ộiHxây dựng ngành Toán cho cả miền Bắc, không chỉ coi trọng tiêu chuẩn chính trị (« hồng ») mà chú ý cả tiêu chuẩn chuyên môn (« chuyên ») khi tuyển nghiên cứu sinh đưa sang Liên Xô đào tạo ; chấn chỉnh thi cử; đảm bảo thi cử nghiêm túc, ai không đủ điểm thì dù thành phần gì cũng phải học lại, thi lại, chứ không được cho đỗ hoặc lên lớp ; khuyến khích nghiên cứu khoa học trong cán bộ giảng dạy ; tổ chức các « hội nghị khoa học » hàng năm để báo cáo các kết quả nghiên cứu khoa học ; lập ra chế độ hướng dẫn sinh viên năm thứ ba và thứ tư làm khóa luận ; mở nhiều lớp bồi dưỡng học sinh phổ thông, giáo viên phổ thông ; kiến nghị mở kỳ thi giỏi Toán cả miền Bắc hàng năm ; mở các lớp « Toán đặc biệt » tuyển chọn học sinh có năng khiếu, sau này gọi là lớp chuyên Toán, v.v. Tất cả các việc đó được đề xuất và thực hiện đầu tiên ở khoa Toán Đại học Tổng hợp rồi lan dần sang các khoa khác và một vài đại học khác. Nhờ các chủ trương đó mà trình độ, chất lượng giảng dạy, nghiên cứu về Toán được nâng lên rõ rệt. (Điều này, tôi biết được là do nhà toán học Grothendieck, huy chương Fields (6) , tình nguyện sang miền Bắc giảng dạy và thuyết trình khoa học mấy tuần năm 1967, khi trở về Pháp đã bày tỏ sự ngạc nhiên của anh ta với đồng nghiệp nói chung và với tôi nói riêng). Đây là nhận xét ở bên ngoài. Nhưng ở trong nước thì khác. Những loại việc này đã gây ra những ác cảm với các anh vì có lẽ các chủ trương ấy cản đường tiến của một số người và con cháu họ vốn lâu nay chủ yếu dựa vào ưu thế thành phần và hoạt động chính trị, dù học kém vẫn được ưu tiên. Từ đó xảy ra sự lên án các anh trọng « chuyên môn thuần túy », coi nhẹ chính trị, « chèn ép công nông », « đi ngược đường lối công nông của Đảng », theo « thiên tài chủ nghĩa » (khen người giỏi, mở lớp Toán đặc biệt cho học sinh có năng khiếu), đề cao lý thuyết viển vông thuần túy (mặc dù hồi đó anh Tụy làm ứng dụng Vận trù học rất có kết quả), đề cao nghiên cứu khoa học trong khi – theo phái chủ trương « Hồng hơn Chuyên » – « trường đại học tuyệt đối không phải là cơ sở nghiên cứu khoa học », vv. Trong nhóm lãnh đạo đại học khi ấy ông Tạ Quang Bửu bị cô lập. Mấy ông trên cao nữa tuy hiểu thực chất vấn đề nhưng bận nhiều việc khác quan trọng hơn và lại đang có cao trào chống xét lại nên ai cũng ngại can thiệp. Tuy không có máu chảy, đầu rơi, nhưng trong mấy năm liền, trong bàu không khí ngột ngạt căng thẳng và đầy cay đắng, ban ngày dạy học, ban đêm chong đèn ngồi viết tự kiểm điểm để trình bày trong các buổi kiểm điểm có mấy quan chức ở trên về dự, ít buổi tối được rỗi để làm khoa học – và làm được khoa học thật sự – hẳn phải có nghị lực và niềm tin khác thường. Dù sao, hàng trăm buổi kiểm điểm nặng nề đã làm anh Tụy và anh Thiêm không thể tiếp tục ở Đại học Tổng hợp được nữa. Năm 1968, anh Tụy đành xin gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng để xin chuyển qua UBKHKTNN, và anh Thiêm cũng chuyển qua nơi đó năm 1970.
Về việc thành lập Viện Toán ở UBKHKTNN, thì tôi đuợc nghe kể như sau. Thoạt đầu là thành lập bộ phận nghiên cứu Toán (nhóm Toán). Đến khi anh Tụy chuyển hẳn sang UBKHKTNN thì mở rộng thành phòng Toán, rồi trên cơ sở này, anh Tụy đề nghị lập ra Viện Toán. Đề nghị ấy gặp thuận lợi là ở cấp trên thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng ủng hộ (do ông hiểu đó là lối thoát cho tình trạng bế tắc ở Đại học Tổng hợp), ở UBKHNN thì các ông Trần Đại Nghĩa và Lê Khắc cũng đồng tình. Tuy vậy, đến khi có quyết định chính thức thì phái chủ trương « Hồng hơn Chuyên » ngăn cản không cho anh Tụy phụ trách, chỉ để anh Thiêm làm viện phó, rồi « quyền viện trưởng » – tuy Viện lúc đó không có viện trưởng ! Anh Thiêm thì rất tôn trọng anh Tụy, mọi việc đều tranh thủ bàn bạc với anh Tụy, và anh Tụy hết lòng giúp anh Thiêm xây dựng viện Toán ; anh Tụy lại kiên trì báo cáo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng về sự phi lý của chức vụ anh Thiêm (bản thân tôi cũng bày tỏ sự phi lý này những khi có dịp), nhưng sức cản ở nơi khác mạnh đến mức ông Thủ tướng can thiệp mãi không xong, đến 1975 ông phải trực tiếp quyết định, anh Thiêm mới được bổ nhiệm viện trưởng.
Cái hay và cái may của anh Tụy là, mặc dù gặp khó khăn mọi bề, anh vẫn làm khoa học có kết quả, (kể cả việc soạn thảo các phương hướng phát triển lâu dài ngành Toán của Việt Nam), và uy tín khoa học của anh ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng phần nào giúp làm nhẹ bớt « tội » cho anh. Hơn nữa, việc nghiên cứu ứng dụng Vận trù học làm anh quan tâm đến quản lý kinh tế và những ý kiến của anh về các vấn đề kinh tế thường được các ông Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn chú ý, cho nên anh thường được các ông mời riêng đến trao đổi. Năm 1969, một tháng trước khi cụ mất, Hồ Chủ tịch cũng có cho gọi anh đến gặp. Thuở ấy, có lúc cũng có người trong bộ máy muốn lên án anh là « xét lại » vì những ý kiến « cấp tiến » của anh , nhưng vì ông Duẩn và ông Đồng đã để mắt tới, mà anh được yên. Yên là may, chứ muốn tiến hành một số việc thì cũng vẫn bị cản.
Nhìn lại quá khứ, lại liên tưởng đến ngày nay. Khi nghiên cứu đã trót bị tách ra khỏi việc giảng dạy tại đại học rồi, thì hàn gắn lại không phải là dễ. Khi những khuyết tật trong Giáo dục Đào tạo, như việc chiếu cố trong tuyển sinh, thi cử, chọn nghiên cứu sinh vv., dù là vì thành phần lý lịch, đã xâm nhập vào việc Học, thì chúng cũng dễ biến thể đi, và chúng cũng biết thích nghi trong một khung cảnh mới. Vì thế mà việc chấn hưng giáo dục ngày nay mới khó khăn như vậy. Tôi sẽ có dịp trở lại vấn đề này dưới đây.
III.- Anh Tụy và hai tờ tập san khoa học của Việt Nam :
Tờ Acta Scientiarum Vietnamicarum được thành lập năm 1962, chung cho cả Toán, Lý Hóa, sau tách riêng phần Toán thành Acta Mathematica Vietnamica từ năm 1975. Thời đó anh Tụy và anh Lê Văn Thiêm là những nhân vật thành lập đồng thời cũng là những người phải thực hiện, đã vô cùng vất vả trong việc duyệt bài và chạy nhà in. Tất nhiên đây là một thành tích lớn trong việc xây dựng nền khoa học nước nhà. Tuy nhiên, có một điểm mà sau đó, tôi có lần tâm sự với anh Tụy : có lẽ nên theo xu hướng quốc tế, chọn một cái tên tập san bớt « quốc gia » hơn (chữ Vietnamica) để dễ có sự tham gia của các nhà khoa học nước ngoài hơn trong việc gửi đăng bài trong tập san đó. Theo tôi hiểu, từ nửa sau thế kỉ 20 nói chung, hầu như chỉ tồn tại những tập san đã thành lập và có tiếng tăm từ lâu của các nước có truyền thống khoa học rất lâu đời mới còn mang tên « quốc gia ». Tôi nói điều đó, là vì tôi trải qua kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt là ở cương vị chủ tịch hội đồng xét duyệt tuyển giáo sư ở Đại học của tôi trong 21 năm và trước đó là thành viên của hội đồng này trong 13 năm, cũng đã được dịp đọc các hồ sơ lý lịch khoa học và nghe phản ứng của nhiều đồng nghiệp ngoại quốc. Tôi cảm thấy dường như lời tâm sự của tôi có gặp một sự thông cảm của anh Tụy, nhưng không có sự thiện cảm từ phía những nhà toán học cộng tác với anh trong công tác quản lý tập san này. Dù sao, tôi cũng chỉ là một kẻ ở xa …
IV.- Anh Tụy và việc mở đầu việc học sinh dự thi Olympic :
Năm 1974, anh Tụy tham gia đoàn cán bộ do Chính phủ cử sang các nước Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức), Tiệp Khắc và Hung để khảo sát về quản lý kinh tế (trưởng đoàn là ông Đoàn Trọng Truyến, đoàn viên có các ông Việt Phương và Lê Đăng Doanh là nhà kinh tế và anh là nhà toán học lúc ấy được coi là có nhiều ý kiến cấp tiến về quản lý kinh tế). Trong thời gian đoàn này ở Mạc Tư Khoa diễn ra buổi lễ tổng kết (và trao phần thưởng) của cuộc thi Olympic Toán quốc tế năm ấy tổ chức ở Mạc Tư Khoa. Chủ tịch ban tổ chức cuộc thi này là một giáo sư người Nga, bạn khá thân của anh, khi biết anh đang qua Mạc Tư Khoa, đã mời anh tham gia ngồi vào chủ tịch đoàn buổi lễ. Trong buổi lễ, đoàn Cuba chỉ được một giải khuyến khích, nhưng họ rất tự hào và được nhiệt liệt hoan nghênh. Cuối buổi lễ, đoàn Đông Đức đến gặp anh, thông báo họ đăng cai tổ chức thi Olympic năm sau (1975) ở Berlin và nhiệt tình mời Việt Nam tham gia, đồng thời cho biết hội Toán học Đông Đức sẵn sàng đài thọ mọi chi phí cho đoàn Việt Nam, kể cả vé máy bay. Thật ra, trước đó trong nước chưa nghĩ đến việc tham gia các Olympic toán quốc tế vì hai lẽ : 1) Khó khăn tài chính, Nhà nước khó có thể chấp nhận cấp chi phí ; 2) Trình độ mình còn yếu, e thi thố với các nước mà kém quá thì mất thể diện. Nhưng nay có Đông Đức đài thọ thì tài chính không còn là vấn đề, và việc đoàn Cuba được giải cho thấy ta cũng không nên quá tự ti. Do đó anh Tụy đề nghị đoàn Đức gửi ngay thư mời chính thức cho Bộ Giáo Dục của Việt Nam. Khi về nước, anh báo cáo việc này với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và được ông tỏ ý chấp thuận ngay; ông chỉ dặn thêm : gắng đừng để đoàn đi dự thi bị « đứng cuối bảng ».
Rất may kỳ thi năm 1975 ấy tuy là lần đầu Việt Nam tham gia nhưng đã đạt ngay kết quả xuất sắc ; nếu tôi nhớ không nhầm, thì 5 học sinh dự thi kỳ đó, đã đạt 1 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 2 huy chương đồng, và thí sinh thứ 5 thì chỉ thiếu 1 điểm để có huy chương đồng. Đúng như câu tiếng Pháp : « Coup d’essai, coup de maître » (nghĩa là « Bước đầu làm thử, thành tích tổ sư ») ! Thế là từ đó có đà để tham gia liên tiếp và gặt hái nhiều kết quả khả quan vượt quá mong đợi. Tuy vậy, khác với một số người nhân việc đó tung hô quá mức tài năng đặc biệt của học sinh Việt Nam, tôi cũng như anh Tụy hiểu ý nghĩa rất tương đối của những thành công này, trong đó có phần do ta đã cố gắng đầu tư công sức gấp bội. Và mặt tích cực của các lớp chuyên Toán và việc tham gia các cuộc thi Olympic là những chủ trương đúng đắn và tốt, gây ra một không khí chuyên cần học tập. Nhưng về sau này do có sự sa đà trong đánh giá và trong cách làm, đã đẻ ra một số vấn đề lẽ ra không nên có.
V.- Anh Tụy sang Pháp lần đầu tiên, mùa thu năm 1976 :
Đó là vào dịp mà tôi đề nghị với trong nước cho phép – và cụ thể là tôi đã tổ chức nhờ một đồng nghiệp Pháp, anh Dacunha-Castelle, giáo sư ở Đại học Paris Sud-Orsay, mời anh Tụy sang Pháp một tháng làm « giáo sư thỉnh giảng » (professeur invité, theo nghĩa của Pháp thời đó). Trong khung cảnh nước ta thuở ấy, được phép đi nước ngoài, nhất là nước tư bản, rất là khó khăn ngay cả đối với các nhà khoa học có tên tuổi. Tôi thấy cần kể thêm hai yếu tố đã làm cho chuyến sang Pháp đầu tiên của anh Tụy thực hiện được, mà sau này tôi mới biết. Cái thứ nhất là lúc đó (cuối tháng 8/1976) anh được mời làm một plenary lecture trong Hội thảo Quốc tế về Mathematical Programming ở Budapest (hội thảo lớn, có đến sáu, bảy trăm người dự từ nhiều nước) và ban Tổ chức hứa trả tiền vé máy bay và ăn ở trong thời gian hội nghị. Lần đầu tiên trong nước có người được mời như vậy, hồi đó coi là vinh dự lớn ; điều đó làm cho việc anh được mời sang Pháp « tự nhiên » hơn (bởi hồi ấy ai được mời đích danh thường bị nghi ngờ là đã liên hệ lén lút với nước ngoài). Yếu tố thứ hai là : khi anh nhận được thư mời sang Pháp thì chỉ còn thời gian hai tháng để làm thủ tục xin đi Pháp (giữa tháng 8 anh đã phải lên đường sang Budapest), mà thời đó một thủ tục như vậy bình thường phải bốn, năm tháng chưa chắc đã xong, huống chi đây là lần đầu tiên đi sang một nước tư bản phương Tây mà anh lại thuộc diện bị « chú ý » (tôi không dùng cụm từ này theo nghĩa « ưu ái »). May mắn trước đó mấy tuần, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có bảo thư ký chuyển cho anh một cuốn sách về quản lý kinh tế của giáo sư Kantorovitch, giải Nobel (7) , tặng Thủ tướng (nhân dịp Thủ tướng thăm Liên Xô, đến thăm Viện khoa học nơi ông Kantorovitch làm việc) và đề nghị anh đọc để trình bày lại cho ông biết rõ nội dung cuốn sách có gì hay về quản lý kinh tế. Anh bèn báo ngay với thư ký của Thủ tướng là anh đã đọc xong cuốn sách và muốn gặp Thủ tướng để báo cáo lại nội dung theo yêu cầu của ông. Hai hôm sau, trong buổi làm việc với Thủ tướng anh tranh thủ đề cập chuyện anh được mời sang Paris. Thế là nhờ chỉ thị trực tiếp của Thủ tướng, chỉ trong một tuần lễ mọi thủ tục cần thiết cho chuyến đi đầu tiên của anh đến một nước tư bản phương Tây được giải quyết xong. Đó là một chuyện « lạ » thuở ấy.
Lại nhắc lại là về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ năm 1958, không biết có phải do ảnh hưởng của Trung quốc không, không còn « phong giáo sư » cho ai nữa (tôi nhớ là anh Lê Văn Thiêm lúc đó là GS duy nhất về ngành Toán (?) , đã được « phong » trước cái mốc 1958 vừa kể) ; « hàm giáo sư » thuở đó lại còn gắn với những tiêu chuẩn vật chất như nhà ở, xe hơi, tem phiếu Tôn Đản. Người trí thức, ngay cả các nhà khoa học tự nhiên, không phải dễ dàng gì giao dịch với các đồng nghiệp các nước tư bản phương Tây. Tôi còn nhớ, một số anh chị em khoa học, y học, dược học … dù đã được coi là « đầu ngành », sang Pháp, cũng chỉ đi trong khung cảnh/danh nghĩa tu nghiệp hay là thực tập sinh. Ngay cả việc được mời làm một buổi thuyết trình khoa học, cũng còn phải xin phép, và thường là không được phép – một cán bộ chính trị đã có câu trả lời một nhà khoa học « đầu ngành » lúc đó là : « Anh được phép sang Pháp tu nghiệp là để thu chứ không phải để chi » – nghĩa là coi làm một buổi thuyết trình về công tác nghiên cứu của anh ta là làm mất đi một phần vốn chất xám của đất nước! Phía Pháp thuở ấy, việc mời một nhà khoa học nước khác, đặc biệt là từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sang làm « giáo sư thỉnh giảng », rất khó (hồ sơ khoa học của đương sự phải được Hội đồng khoa học toàn quốc và Hội đồng khoa học của trường đại học xét duyệt và bỏ phiếu công nhận danh nghĩa, rồi lại có sắc lệnh bổ nhiệm của Nhà nước), nó khác với những hình thức tới làm việc ở một cơ quan khoa học, một phòng thí nghiệm nào đó với sự trả tiền bằng một ngân quĩ nào đó. Anh Tụy là người đầu tiên từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm giáo sư thỉnh giảng ở Pháp như vậy. Cũng vì lý do tế nhị cả đôi bên Việt và Pháp như thế, sợ cả đôi bên nghi ngờ là người Việt và người gốc Việt đồng lõa chứ không phải tại giá trị khoa học thực sự, nên tôi đã tránh mời về trường tôi, mà nhờ anh bạn đồng nghiệp kể trên tổ chức hộ. Xin kể thêm là thuở đó, do chênh lệch hối đoái, và mức sống rất thấp ở trong nước, lương của một cán bộ đi thực tập, nghiên cứu sinh, cũng bị coi là quá cao, huống hồ lương giáo sư thỉnh giảng cấp cao nhất ở đại học Pháp, là một số tiền khổng lồ. Thuở ấy có lệ là các cán bộ này phải « tình nguyện » nộp lại một tỉ số tiền lương cho cơ quan (8) . Anh Tụy đã dàn xếp được để số tiền nộp lại đó về đến Viện Toán, mà không « lạc » đi đâu.
Lần sang Pháp đó, anh Tụy ở nhà tôi vài buổi, rồi dọn lên ở một phòng mà tôi đã thuê cho anh trong gian nhà dành cho các giáo sư ngoại quốc được mời sang thỉnh giảng ở đại học Paris, trong khu Cité internationale universitaire. Những chuyện tưởng như « vặt vãnh » này, thực ra đều có chủ ý nhắm nhiều tác dụng. Thuở ấy đang còn tồn tại một sự co cụm do chiến tranh gây ra và để lại, các nhà khoa học Việt Nam hầu như không có và không được thoải mái trực tiếp giao dịch trao đổi với đồng nghiệp ở các nước phương Tây. Việc mời anh Tụy sang Pháp ở cương vị cao, có mục tiêu « phá rào ». Như tôi đã có dịp kể nhiều lần, năm 1975, trước ngày Giải phóng ít lâu, tôi có thư gửi thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị cải cách đại học, lập lại chức vụ giáo sư, học vị tiến sĩ, để/và ổn định công tác khoa học, ... (theo lời ông Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học và ông Trần Quang Huy, Bộ trưởng phủ Thủ tướng và phụ trách Ban Khoa giáo Trung ương kể lại, thư này có được đem ra bàn trong một buổi họp của Hội đồng Chính phủ mùa xuân 1975) (9) . Những ý tưởng đó tuy được cấp lãnh đạo chấp nhận trên nguyên tắc, nhưng trong thực tế vẫn đang có nhiều hoài nghi, đặc biệt là về cái danh hiệu giáo sư mà không ít người Việt Nam lúc đó cho là quá « cao quí ». Việc anh Tụy sang Pháp làm giáo sư thỉnh giảng ở Đại học Paris-Sud – rồi sau đó ít lâu, đến lượt anh Phan Đình Diệu, làm giáo sư thỉnh giảng ở Đại học Paris 7 trong điều kiện tương tự – chính là một cách chứng tỏ rằng nếu giới đại học Pháp công nhận một số nhà khoa học Việt Nam ở mức cao nhất, thì chẳng có lý do gì để đại học Việt Nam đánh giá những vị này thấp hơn. Ấy vậy mà đến 1980 – nghĩa là thêm 5 năm chờ đợi, và hết sức thuyết phục – trong nước mới thực hiện đợt phong giáo sư đầu tiên của CHXHCNVN, mặc dù bị thực hiện dưới dạng « phong hàm », mà hiếm có nước nào trên thế giới tiến hành như vậy. Anh Tụy có danh hiệu giáo sư của Việt Nam, trong đợt đầu tiên này.
Tuy nhiên, cách tiến hành theo kiểu « phong hàm », rồi nay đổi thành « phong chức chức danh », tiếp tục không ổn. Tôi đã nhiều lần phát biểu về vấn đề này (10) – theo tôi hiểu thì anh Tụy cũng cùng ý tưởng như tôi – và chúng tôi tiếp tục kiến nghị để có một sự thay đổi hợp lý hơn. Nói tóm tắt thì : Hiện có quan niệm « không đúng » về vai trò của giáo sư đại học. Ở các nước đã phát triển, đây là một chức vụ, gắn liền với một cơ sở đại học, gồm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu và điều hành các công việc khoa học liên quan đến chuyên môn của một ngành, một bộ môn. Trong một xã hội trên đà phát triển, nhu cầu cần giải đáp các vấn đề mới nảy sinh, buộc phải có việc nghiên cứu và « đào tạo qua nghiên cứu ». Cũng vì thế mà người giáo sư đại học phải đồng thời là nhà nghiên cứu. Chức vụ là như vậy, nó gắn với nhu cầu của xã hội. Cho nên quan niệm giáo sư đại học như là một « hàm » hay một « danh hiệu» cao quí mà Nhà nước phong thưởng cho những cá nhân xuất sắc vì những công trình cá nhân của họ, là một quan niệm không có cơ sở khoa học. Do đó cần thay đổi cho hợp lý ; và nay đã có lời hứa hẹn được sửa đổi theo hướng đúng, và tôi vẫn chờ đợi được thấy thực hiện như thế.
VI.- Anh Tụy và Trung Tâm Đại học (TTĐH) « dân lập » Thăng Long :
Như tôi đã có dịp kể nhiều lần về việc tôi điều trần với các nhà lãnh đạo trong nước về sự cần thiết cải cách giáo dục đại học, đặc biệt là từ 1975. Nhưng đối với tôi 13 năm sau đó, việc cải cách giáo dục đại học quá chậm, nếp cũ đã quen, hướng đi lại không rõ, bàn ra bàn vào đã nhiều mà nhúc nhích chẳng được bao nhiêu. Tôi nghĩ rằng phải tìm cách thực hiện một thí điểm « làm gương », gây ra một « tiền lệ » để minh hoạ cho những đề nghị cải cách. Do đó, trong một thư đề ngày 2/4/1988, gửi cho năm anh chị Phan Đình Diệu, Bùi Trọng Lựu, Hoàng Xuân Sính, Nguyễn Đình Trí, Hoàng Tuỵ, tôi khơi ý với các anh chị đứng ra làm đơn xin thành lập một cơ sở đại học « dân lập », nghĩa là không xin tài trợ của Nhà nước; về giảng dạy, bằng cấp, quản lý, giao dịch lại theo quan niệm mới, phù hợp với yêu cầu của xã hội và phù hợp với tình hình quốc tế. Một mặt, tôi viết thư gửi các vị lãnh đạo ở các cấp cao nhất trong nước để trình bày vấn đề, một mặt vợ chồng tôi hứa giải quyết vấn đề quyên góp tài trợ, để cơ sở này có thể đủ tiền sinh hoạt trong ít nhất 3 năm, nhưng có triển vọng là lâu hơn nữa. Khỏi cần giải thích chi tiết tại sao tôi lại liên lạc với 5 anh chị đó để góp ý thành lập cơ sở này. Tôi nhắc lại đây những đặc điểm của TTĐH Thăng Long mà tôi đề nghị trong khung cảnh thời ấy, và được sự đồng tình của 5 anh chị nói trên:
- 1/ Nhằm đào tạo những sinh viên có trình độ đại học theo tiêu chuẩn quốc tế, nhằm phục vụ cho các cơ sở giáo dục, kinh tế, sản xuất ... của Nhà nước và của các thành phần kinh tế khác của đất nước.
- 2/ Nguồn tài chính một phần nhỏ là do học phí (rất thấp), còn chủ yếu là do tài trợ của những cá nhân và tập thể trong hay ngoài nước. Tuy là đại học « không phải của Nhà nước », nhưng chương trình giảng dạy được sự chấp thuận của Bộ Đại học, và bằng cấp do Nhà nước chứng nhận.
- 3/ Các đại học nhà nước (lúc đó) đào tạo « luôn một chặng » theo số năm cố định là 4 hay 5 năm; khi sinh viên tốt nghiệp thì được phát chứng nhận « Tốt nghiệp đại học » (theo mô hình Liên Xô). Để được linh hoạt, dễ đáp ứng với nền kinh tế và của xã hội, nâng cao dân trí, TTĐH Thăng Long muốn thực hiện việc cấp học vị (nghĩa là bằng cấp « có tên gọi »), tốt nghiệp từng chặng để sinh viên sau 3 năm (cao đẳng), 4 năm (cử nhân), 5 năm (cao học), tuỳ trường hợp, tuỳ khả năng, tuỳ thị trường lao động, có thể đi vào lao động sớm, học liên tục, hay trở lại học nối... (đây là một cách góp phần giải toả con đường « lập thân, tiến thân » cho mọi người Việt Nam, khi đó còn chịu rất nhiều ràng buộc).
- 4/ TTĐH Thăng Long tuyển sinh theo hồ sơ khoa học, dựa theo khả năng học của sinh viên, không có vấn đề lý lịch . Đối với những sinh viên có gia cảnh eo hẹp, chỉ có nâng đỡ về mặt miễn phí, hoặc cho học bổng. (Thời đó, lý lịch trong việc học còn rất nặng, và vấn đề « nâng đỡ bằng cách cho thêm điểm » một số « thành phần cơ bản » còn đang thịnh hành).
- 5/ Chương trình học theo tiêu chuẩn quốc tế, và thể hiện cả hai mặt : mang lại cho sinh viên kiến thức khoa học cơ bản đủ rộng để có khả năng suy luận, và những « kỹ thuật » chuyên môn để đáp ứng được yêu cầu về nghề nghiệp.
- 6) Trong khi trường đại học nhà nước chỉ sử dụng cán bộ giảng dạy của trường mình, với chất lượng không đồng đều, TTĐH Thăng Long tập hợp sử dụng những nhà giáo có khả năng phù hợp (vẫn là cán bộ nhà nước), và cố gắng thù lao họ một cách tương xứng, để họ có thể tập trung tâm trí vào việc giảng dạy và công tác khoa học. (Nói một cách thẳng hơn, các đại học nhà nước đều có một số cán bộ không có trình độ, trót tuyển vào trước kia, và buộc vẫn phải dùng họ).
- 7/ TTĐH Thăng Long cũng thể hiện một hình thức « du học tại chỗ » theo nghĩa: giảng dạy với chương trình khoa học và nhà giáo theo như tiêu chuẩn quốc tế, như những nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây. Đây cũng là một cách nâng đỡ một số sinh viên có tài năng, mà vì một số lý do và vì gia cảnh, không xuất ngoại du học « tự túc » được.
(Với các điểm 6/ và 7/ , mô hình TTĐH Thăng Long góp phần nhằm làm ngưng việc « chảy máu chất xám », bởi vì lúc đó, chất xám « chảy máu » dưới nhiều dạng : trí thức đi hẳn – xin đi công khai hay vượt biên – ; đi bán sức lao động trí thức của mình ở một số nước thành phần thứ ba để mưu cuộc sống ; hoặc làm một nghề tay trái không dính dáng gì đến sự hiểu biết chuyên môn của mình ; sinh viên xin đi du học để « tự trang bị » cho mình, hay tìm một lối thoát cho mình ...)
- 8/ Mô hình tổ chức của TTĐH Thăng Long nhằm góp phần minh họa cho một chiến lược mới : mở rộng việc học để nâng cao dân trí, và có « kho » dự trữ trí tuệ ; nhắm hướng « tuyển lựa sử dụng » cán bộ theo tài năng (trong đám sinh viên đã tốt nghiệp đại học), khác với chính sách « phân phối công tác » (cho sinh viên đã tốt nghiệp) với những khuyết điểm của nó. (Lúc đó ở Việt Nam , cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, chính sách « phân phối công tác » thực sự là hình thức thi tuyển thấp, ngưng ở mức độ thi tuyển học sinh từ trung học vào đại học; rồi sau đó sự phân công công tác hầu như hiển nhiên, không công bố các « chỗ làm » nên ứng viên không biết mà nộp đơn; phân phối bổ nhiệm công tác theo những tiêu chuẩn nào, do ai tiến hành, cũng không rõ rệt, vì vậy mà dễ tuỳ tiện).
- 9/ Với phương tiện vật chất giới hạn, TTĐH Thăng Long chỉ nhắm mở những ngành cần trang bị nhẹ, đồng thời nhắm góp phần phục hồi, mở thêm và nâng cao giá trị một số ngành học gần với « khu vực thứ ba » (dịch vụ và thông tin, tiếng Pháp là « secteur tertiaire »), như các ngành kinh tế, thương mại, sinh ngữ, luật, khoa học xã hội, ... Khu vực thứ ba này tạo ra nguồn thu nhập, trong khung cảnh « mở cửa » làm ăn với thiên hạ. (Lúc đó các ngành kinh tế, thương mại, luật, khoa học xã hội, ... đang là các ngành « tế nhị »; đừng quên là lúc đó, ở các nước xã hội chủ nghĩa, khuynh hướng « chính trị là thống soái » còn tồn tại mạnh.)
- 10/ TTĐH Thăng Long thí điểm một mô hình tổ chức đại học mới, nhằm góp phần thúc đẩy một cuộc cải tổ đại học phù hợp với tình hình và nhu cầu của nước ta trong giai đoạn mới. (Mục tiêu của nó không phải là tồn tại mãi mãi để đào tạo một số chuyên viên trong đám chuyên viên mà các đại học nhà nước đang đào tạo).
Đề án TTĐH Thăng Long được cấp lãnh đạo chính quyền chấp nhận. Thuở ấy Trưởng ban Khoa giáo Trung ương là ông Đặng Quốc Bảo hết lòng ủng hộ, Tổng Bí thư là ông Nguyễn Văn Linh bật đèn xanh cho phép ; phía Hội đồng bộ trưởng, thì Phó Chủ tịch Võ Nguyên Giáp đặc biệt quan tâm, … Thư cho phép của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đề ngày 10/12/1989, quyết định của Bộ đề ngày 15/12/1988 và trường được chính thức khai mạc ở Văn miếu ngày 21/2/1989 như tôi mong đợi. Rõ ràng là sự đứng tên của cả 5 anh chị đã là một trong những yếu tố quan trọng trong việc được phép mở trường này. Nhưng 3 người trong đám 5 người đứng tên xin phép mở trường, anh Tụy, anh Diệu, anh Trí, lúc đó đang giữ những trách nhiệm quan trọng trong các cơ sở giáo dục và nghiên cứu nhà nước, nên chỉ có chị Sính và anh Lựu phụ trách quản lý TTĐH Thăng Long.
Lòng tôi ngay từ đầu thành thực mong muốn rằng, khi thí điểm đó đã chứng minh hiệu quả của nó, Nhà nước sẽ tiếp nhận nó trở về trong lòng hệ thống « công lập », để rồi dần dần áp dụng phương pháp làm đó cho các trường công lập khác. Nhưng mục tiêu rốt cục không thành. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại rườm rà những vế thực hiện cụ thể, bởi vì đã kể chi tiết trong một số tài liệu như (11) . Chỉ xin nói gọn một điều là sau mấy năm hoạt động, chị Sính với tư cách giám đốc TTĐH dân lập Thăng Long này đã tự lấy quyết định đổi hướng, và do đó không còn sự tham gia của 4 anh kia nữa, cũng như sự chấm dứt hỗ trợ của chúng tôi bên ngoài. Nhưng những ý tưởng về chấn hưng giáo dục đại học vẫn còn đó, và còn đang tiếp tục dưới những hình thức khác trong đó anh Tụy đóng một vai trò chủ chốt, mà tôi sẽ kể dưới đây.
VII.- Anh Tụy và đề án thành lập « Trung tâm đào tạo Toán học ứng dụng » năm 1995 :
Trong bài: « Một số vấn đề khoa học và giáo dục: Góc nhìn trong cuộc » , phát biểu tại Hội thảo Hè tại Đà Nẵng 28-30/7/2005, và sau đó đăng trong báo mạng « Thời Đại Mới », số 6, tháng 11/2005, anh Hoàng Tụy có nhắc tới việc năm 1995, anh và một số đồng nghiệp đứng ra xin mở một Trung tâm toán học ứng dụng, với nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ ở trình độ quốc tế, đồng thời đưa Toán học ứng dụng vào các lĩnh vực kinh tế và công nghệ. Anh có kể lý do tại sao đề án này rốt cục không thành. Tôi muốn trở lại dài dòng một chút về câu chuyện này, vì nó là một kinh nghiệm về những khó khăn làm khoa học ở Việt Nam. Nó là một chuyện trong chuỗi cố gắng của anh Tụy trong mấy thập kỷ để góp sức cải thiện tình hình quản lý đất nước. Số là từ đầu những năm 60 của thế kỉ trước, anh đã cùng một số học trò tìm cách ứng dụng Vận trù học, Tối ưu hoá và Khoa học hệ thống vào Kinh tế. Mặc dù rất khó khăn và công việc có khi lên khi xuống, nhưng nhìn chung cũng có một số kết quả, gây được ý thức tính toán, cân nhắc hiệu quả trong các hoạt động kinh tế và có trường hợp khá thiết thực. Nhờ những hoạt động đó, trong xã hội miền Bắc một thời các khái niệm, từ ngữ như « vận trù », « tối ưu », « hệ thống » được dùng khá phổ biến ngay cả trong nhân dân và trong một số văn kiện chính trị. Sau 1968, các cơ quan, xí nghiệp chỉ lo chấn chỉnh tổ chức, khôi phục sinh hoạt và nền nếp lao động là chính, không quan tâm mấy đến hiệu quả sản xuất. Trong lúc đó, quản lý kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô quá cũ kỹ, cho nên anh Tụy chuyển sang nghiên cứu và góp ý kiến về lĩnh vực này. Nghe nói nhiều ý kiến của anh trình bày trong môt số hội nghị hoặc viết trên báo bị một số người phê phán là « xét lại », nhưng thật may cho anh là cả ông Phạm Văn Đồng và ông Lê Duẩn hồi ấy đều đánh giá tốt, tuy có người chống kịch liệt. Năm 1971, sau khi đọc một bài báo của anh về quản lý kinh tế, ông Duẩn cho mời anh xuống Đồ Sơn để nghe anh trình bày. Anh kể là anh hơi e ngại, không ngờ ông hoan nghênh và còn chỉ thị Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước lập một « Viện nghiên cứu các phương pháp khoa học trong quản lý kinh tế » để cho anh phụ trách. Việc này đã cứu anh khỏi bị đấu, nhưng có lẽ cũng vì nó mà người ta càng tìm cách cản trở không cho anh làm gì cả. Và cái viện ông Duẩn đã chỉ thị thành lập, cũng bị lờ đi. Năm 1979, ông Duẩn dành hẳn mấy ngày nghỉ ở Đồ Sơn để nghe ý kiến anh và 4 anh khoa học khác về quản lý kinh tế, xã hội. Lần đó, trả lời câu hỏi nêu lên : làm sao chống tiêu cực (hồi ấy chưa nói « tham nhũng ») anh đã phát biểu rất thẳng thắn : với cách quản lý của ta, mà không tiêu cực, tham nhũng mới lạ. Nội dung anh phát biểu thuở đó cũng gần như những ý kiến anh đã phát biểu sau này với ông Phạm Văn Đồng và các ông lãnh đạo khác thời sau đó (với sự giới thiệu của ông Đồng). Mấy buổi làm việc với các anh ở Đồ Sơn hình như đã có tác dụng với ông Duẩn vì Nghị quyết 6 liền sau đó đã lật ngược một số ý kiến rất bảo thủ trước đó để khẳng định một số quan niệm khá thông thoáng như các anh đã đề nghị.
Những năm 80 là thời kỳ kinh tế cực kỳ khó khăn, nhiều cán bộ khoa học bỏ đi sang các nước Đông Âu làm kinh tế, nhiều viện khoa học kiếm sống bằng những hoạt động không có chút gì dính dáng đến chuyên môn, riêng Viện Toán cố gắng đẩy mạnh nghiên cứu khoa học để tồn tại và phát triển bằng chính chuyên môn của mình. Song song, anh Tụy và đồng nghiệp giúp thành lập Viện Toán kinh tế ở Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, rồi trung tâm Nghiên cứu Hệ thống ở Viện Quản lý Kinh tế Trung ương. Tiếc rằng cuối cùng cũng không làm được kết quả gì vì vấp phải chính sách dùng người. Sau đổi mới, năm 1987, anh được ông Phạm Văn Đồng giao việc nghiên cứu góp ý kiến về chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho Ban Nghiên cứu Chiến lược Kinh tế Xã hội, do ông làm chủ tịch. Lần đầu tiên các anh gọi đúng tên sự khủng hoảng nhiều mặt của chế độ và nêu lên hàng loạt vấn đề nghiêm trọng lúc ấy còn coi là « kỵ húy », ít người dám đụng tới. Sau khi chủ động xin thôi chức viện trưởng Viện Toán, anh đi dạy và làm khoa học ở nước ngoài một thời gian (Áo, Thụy Điển, Canada). Trở về nước anh muốn dựa theo những kinh nghiệm thu thập được, dành sức góp ý kiến chấn hưng giáo dục và khoa học trong nước. Do đó từ 1994 anh theo dõi sát tình hình và bắt đầu phát biểu về hai lĩnh vực này một cách có hệ thống. Đồng thời, trước sự phát triển mạnh mẽ của máy vi tính và công nghệ thông tin tạo nhiều điều kiện ứng dụng các phương pháp toán học vào các lĩnh vực thực tế, anh nảy ra ý muốn thành lập « Trung tâm đào tạo Toán học ứng dụng » năm 1995, để một mặt hỗ trợ sự phát triển kinh tế, một mặt làm hồi sinh sự phát triển Toán học đang có nguy cơ tàn tạ trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế (thời ấy thanh niên đổ xô vào các ngành/nghề dễ kiếm tiền, không mấy ai quan tâm khoa học cơ bản, đến nỗi có lúc ngành Toán ở đại học cả nước chỉ lèo tèo có mấy sinh viên). Theo anh Tụy, lúc đó so với các nước trong khu vực, đội ngũ khoa học của Việt Nam về một số lĩnh vực Toán tương đối khá, nếu cố gắng và biết hợp tác với bạn đồng nghiệp ở một vài nước phát triển nữa thì hoàn toàn đủ khả năng lập một Trung tâm đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ tầm cỡ, không chỉ cho trong nước mà có thể thu hút cả sinh viên, nghiên cứu sinh các nước xung quanh, đồng thời làm nhiệm vụ bồi dưỡng và tu nghiệp ngắn hạn cho giáo viên phổ thông và đại học, giúp nâng cao trình độ cho họ bằng nguồn lực trong nước. Sau khi bàn và được sự nhất trí trong Hội Toán, anh gặp trực tiếp Thủ tướng Võ Văn Kiệt để trình bày kiến nghị. Ông Kiệt rất hoan nghênh và bảo anh làm kế hoạch cụ thể. Nhưng rồi khi ủy cho người khác chỉ đạo thực hiện, thì chẳng đi đến đâu. Sau hai năm chờ đợi, anh xin gặp lại Thủ tướng và được ông tái khẳng định sự ủng hộ, và bảo anh làm thêm kế hoạch cụ thể cho năm 1997 ; nhưng không ngờ khi kế hoạch cụ thể đưa lên thì việc lại không thành. Đến thời Thủ tướng Phan Văn Khải, anh lại đặt vấn đề, rồi sự việc lại tái diễn tương tự. Nghĩa là cấp trên hứa hẹn, cấp dưới không chấp hành. Tiếc tốn công mấy năm mà việc không thành.
Nhân dịp này, tôi muốn nói đến một chút liên quan. Ở Pháp, sau cuộc cải cách giáo dục đại học năm 1984, dần dần hình thành trong đại học Pháp một sự chuyển hướng trong cung cách đào tạo tiến sĩ. Ngoài việc bỏ các bằng tiến sĩ nhà nước (Doctorat d’Etat), và các bằng tiến sĩ thấp hơn (Doctorat 3ème cycle, Doctorat d’université), thay bằng một bằng tiến sĩ duy nhất ở mức tú tài+8 và đặt thêm bằng HDR (Habilitation à Diriger des Recherches) cho những tiến sĩ nào mong muốn trau dồi thêm để trở thành giáo sư đại học, việc đào tạo tiến sĩ dần dần hình thành dưới dạng mới : bỏ dạng một thày một/nhiều trò, mà tiến tới hình thức tổ chức những « Ecoles doctorales » (rất khó dịch và tiếng Việt bởi vì chữ « trường » bị dùng lộn xộn). Nói một cách tóm tắt và đơn giản hóa, đây là những cơ sở giảng dạy và nghiên cứu của một đại học hay của chung nhiều đại học, với sự tham gia về mặt nhân sự (các giáo sư và nghiên cứu sư, vẫn là những nhân viên cơ hữu « bình thường » của các đại học tham gia, nghĩa là họ vẫn đảm nhiệm mọi nhiệm vụ như tham gia giảng dạy ở mọi cấp « bình thường » khác của đại học của họ), về phương tiện vật chất và tri thức (các phòng thí nghiệm, các trang bị, thư viện, tổ chức các xê-mi-ne, vv.) nhằm mục tiêu đào tạo tiến sĩ cho một hay nhiều ngành, và góp phần hướng nghiệp cho các tiến sĩ khi xong luận án. Thuở ấy, tôi có dịp trao đổi thông tin và ý kiến với anh Tụy, nhưng phải nói là sau đó, đề án của anh Tụy có phần hơi khác với các cơ sở nói trên về mặt quản lý, vì tình hình ở Việt Nam khác tình hình ở Pháp. Ở Việt Nam, do có sự tách rời giữa việc giảng dạy ở các đại học và việc nghiên cứu khoa học tại các viện nghiên cứu – « thừa hưởng » từ một nguyên nhân lịch sử đã kể trong phần II trên đây và vì dấu ấn mô hình tổ chức kiểu các nước xã hội chủ nghĩa thuở ấy, vẫn còn tồn tại đến nay – tôi hiểu Trung tâm toán học ứng dụng trong đề án của anh Tụy như một cơ sở tồn tại dưới một dạng có qui chế riêng, ngân quĩ riêng, độc lập trong quản lý, và « được phép » giảng dạy và đào tạo và được công nhận phát bằng cấp như một cơ sở đại học, tuy nó không tổ chức đào tạo các cấp bên dưới tiến sĩ, thạc sĩ. Trong tình hình rất lộn xộn của nền giáo dục đại học và tình hình các viện nghiên cứu ở Việt Nam, tôi nghĩ là đề án đó của anh Tụy cũng là một bước tiến tới phá bỏ hàng rào ngăn cách giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời là một thí dụ giải quyết một cách nghiêm chỉnh khâu đào tạo nhà giáo cho đại học cũng như đào tạo nhân sự cho các lĩnh vực khác của đất nước. Việc đã không thành, và anh Tụy đã nêu lý do trong bài của anh (đã dẫn trên) ; nhưng tôi cũng còn có một hoài nghi khác : phải chăng đề án không thành là vì khả năng thực sự hiểu vấn đề giáo dục đại học của một số nhà trách nhiệm chiến lược và quản lý, quá giới hạn?
VIII.- Vấn đề trường công trường tư, trường học vô vị lợi, giáo dục có là hàng hóa hay không :
Tôi vốn là « tông đồ » của giáo dục công lập, có lẽ do tiêm nhiễm ảnh hưởng của văn hóa Pháp, coi giáo dục là vốn quí của dân tộc, đồng thời muốn bảo đảm sự công bằng cho mọi công dân trong việc học tập, tuy Pháp là một nước tư bản với một nền kinh tế thị trường. Điều coi giáo dục công lập là trọng tâm, tất nhiên không thể đánh đồng với cách Nhà nước bao cấp chi li và quản lý theo kiểu hành chính vô ý thức. Trong nhiều năm, tôi đã đăng nhiều bài báo về vấn đề này, thí dụ xem (12) . Với tôi, việc gợi ý thành lập Trung tâm Đại học « dân lập » Thăng Long chỉ là một giai đoạn bất đắc dĩ, tạm thời để gỡ mối bòng bong, với hy vọng góp phần dần dần đưa nền giáo dục đại học về quĩ đạo nghiêm chỉnh của nó. Nếu tôi không lầm, thì anh Tụy cũng chia sẻ ý tưởng này. Nhưng với tình hình đổi mới, với kinh tế thị trường áp dụng vào nước ta và những suy diễn theo cách này cách nọ, đã nở rộ những cụm từ mới hình như để phù hợp với ngôn ngữ « định hướng xã hội chủ nghĩa » nhưng nội dung thì lại thật khác : như « xã hội hóa » (thực sự là nhường gánh tài chính của xã hội, của Nhà nước, lên vai người công dân), như « ngoài công lập » (kỳ thật để chỉ giáo dục tư thục), vv. Anh Tụy sống trong nước, anh hiểu môi trường hơn tôi, một kẻ ở xa, cho nên anh cũng có những nhận xét và đề nghị mềm dẻo hơn tôi và những anh chị em khác sống ở bên ngoài – vậy mà cũng có người cho rằng anh quá cứng rắn! Thí dụ như trong bài phát biểu của anh « Một số vấn đề khoa học và giáo dục : Góc nhìn trong cuộc » đã dẫn trên, anh viết (tôi trích):
Trước hết, một thực tế hiển nhiên là Nhà Nước không thể bao cấp toàn bộ dịch vụ đại học (mà hiện nay cũng đâu có bao cấp như vậy?). Mô hình đại học miễn phí như các nước Bắc Âu tuy có lẽ là hợp lý nhất cho « kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa », nhưng hoàn toàn không khả thi đối với Việt Nam. Vì vậy cần xã hội hóa, huy động sự đóng góp của dân để chia sẻ với Nhà Nước chi phí đào tạo đại học. Có hai cách thực hiện việc đó : một là tăng học phí ở các đại học công tới mức đủ trang trải một phần đáng kể chi phí cần thiết (giải pháp này phải đi đôi với chính sách học bổng cho người nghèo), hai là khuyến khích mạnh tư nhân đầu tư phát triển đại học tư. Cả hai giải pháp đều tốt, và thường có thể thực hiện kết hợp. Trên nguyên tắc trường tư lại có thể phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận. Cho đến gần đây phần lớn trường tư ở Việt Nam đều gọi là dân lập (chẳng qua vì dị ứng với chữ « tư » vô tội), và đều thu lợi nhuận (một số trường hợp có lãi lớn), nhưng quy chế hoạt động không rõ ràng, nên dễ bị lợi dụng, sinh nhiều chuyện không hay, do chính quyền khi buông lỏng quá mức, khi can thiệp quá tự tiện vào việc quản lý nội bộ của họ. Trước sự phát triển của các hiện tượng mua bán tiêu cực trong giáo dục, một số người cương quyết phản đối việc cho phép kinh doanh giáo dục lấy lãi, nhưng điều này vấp phải những thỏa thuận tự do hóa giáo dục mà, theo sự giải thích của các quan chức, ta khó có thể đứng ngoài khi gia nhập WTO. Ngược hẳn lại, một số khác đòi hỏi các trường tư vị lợi phải được phát triển không hạn chế và phải được hưởng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ tích cực của Nhà Nước, coi đó chính là cốt lõi đổi mới tư duy giáo dục hiện nay và là biện pháp cởi trói có thể tạo chuyển biến đột phá của giáo dục trong những năm tới, giống như « khoán mười » đối với nông nghiệp trước đây vậy.
Mặc dù không phản đối trường tư vị lợi, tôi không thấy có lý do gì chính đáng để Nhà Nước cần có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đặc biệt các hoạt động kinh doanh giáo dục để lấy lãi, và cũng không tin rằng phát triển mạnh trường tư kiểu đó, rồi tiến đến cổ phần hóa một bộ phận đại học công nữa, như một số quan chức giáo dục đang hô hào, lại có thể là một giải pháp «khoán mười » cho giáo dục đại học. Trái lại, có lý do để lo ngại, nếu không cẩn thận, giải pháp này có thể đẩy giáo dục đại học trượt xa đến chỗ hỗn loạnn nguy hiểm khó lường. (Hết phần trích).
Tất nhiên tôi tôn trọng lý luận của anh, và chia sẻ – tuy không phải toàn bộ – lý luận này.
IX.- Đại học « hoa tiêu » :
Bốn muơi năm làm giáo sư đại học ở nước định cư – nước Pháp cũng thuộc loại đã phát triển cao và có một chiều dày trong truyền thống giáo dục – tôi cũng có chút kinh nghiệm để nhận thấy là cải cách theo kiểu đại trà là khó lắm, bởi vì nó liên quan tới việc chuyển đổi đồng loạt cả một hệ thống sẵn có, với những khuyết tật của nó, với phương tiện vật chất cần có, với sức ì, với sự cầu an của một phần nhân viên. Ở nước ta thì những khó khăn này lại gấp bội, do bối cảnh lịch sử để lại, thí dụ như một thời đã trót tuyển một số nhân viên mà trình độ hiểu biết yếu kém mà nay lại không thể sa thải ; hoặc như sự tế nhị trong việc nâng lương bổng nhà giáo sao cho đủ sống để họ có thể toàn tâm toàn ý trong việc thực hiện nhiệm vụ ; hoặc như khả năng trang bị trường sở ; hoặc như phải nâng đỡ sinh viên về điều kiện sinh sống và học tập như thế nào, để đạt được một trình độ « bình thường » – khoan nói tới đẳng cấp cao làm gì – của một nền giáo dục đại học. Đối với ai có cái nhìn khách quan, không bị ràng buộc về mặt này mặt nọ, rõ ràng là giải pháp nâng cấp các đại học sẵn có là một giải pháp đắt hơn, lâu hơn và khó thực hiện hơn gấp bội. Do đó, đã từ nhiều năm, tôi cố kiến nghị (13) giải pháp thành lập mới một đại học công lập, bước đầu cỡ nhỏ, để làm « gương » – cho nên mới dùng tên gọi « hoa tiêu » – để giải quyết cấp bách, song song với việc dần dần nâng cấp những cơ sở còn lại. Cũng cần nói thêm rằng, theo ý tôi, « thành lập mới » không có nghĩa là phải « xây cất mới » nhà cửa – có người hiểu lẫn « xây dựng » với «xây cất » – mà trong ý tưởng « hoa tiêu » này, dù cho có gọi nói nó là đẳng cấp quốc tế, hay đẳng cấp cao, hay có tiêu chuẩn quốc tế, hay gì gì đi nữa, vấn đề chủ yếu đối với tôi là « mới » là theo nghĩa bao gồm : việc tuyển chọn nhà giáo có trình độ, bổ nhiệm theo chức vụ, chứ không phải theo quan niệm phong hàm ; kết hợp giảng dạy và nghiên cứu ; tổ chức phương cách quản lý, trang bị và giảng dạy theo chương trình phù hợp ; tuyển sinh có trình độ ; học tập và kiểm tra thi cử nghiêm túc, vv. Hình như ý này gặp sự trùng hợp với suy nghĩ của anh Tụy, như vậy là trong và ngoài cùng nghĩ như nhau, và anh cũng đã bỏ mất nhiều công sức để soạn đề án cụ thể này nọ.
Tuy vậy ý anh Tụy và ý tôi có lẽ không phải lúc nào cũng hoàn toàn giống nhau, thí dụ như trong việc kết hợp nghiên cứu và giảng dạy, trong nhiều năm qua, tôi kiến nghị sát nhập các viện nghiên cứu vào các trường đại học ; nhưng tôi cũng chia sẻ ý của anh là – nếu các đại học quá yếu để vực lên được khâu nghiên cứu khoa học – cũng có thể thành lập một đại học từ các viện nghiên cứu, nơi có nhiều nhân sự có khả năng và đã có chức danh giáo sư. Tất nhiên, tôi chỉ đồng tình hoàn toàn, nếu như từ việc đào tạo cấp tiến sĩ, thạc sĩ, một đại học đa ngành thành lập từ các viện nghiên cứu, sẽ dần dần mở thêm những cấp đào tạo từ dưới lên (cử nhân, kỹ sư) để bảo đảm « đầu vào » thật nghiêm túc, và kết hợp được khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ và các ngành khoa học kinh tế, nhân văn, ... Loại kiến nghị này vốn đã có từ nhiều năm nay ; gần đây lại thấy một nhóm nhà khoa học đưa ra một đề án cùng loại (tôi không rõ anh Tụy có tham gia không). Nhưng việc thực hiện sẽ bao giờ xảy ra, hay rồi lại đợi chờ năm này qua năm khác?
Biết như vậy, nên trong một đợt gắng sức, tôi có viết bài báo (14) , trong đó tôi có đề cập đến cách tiến hành, đặc biệt là trao trách nhiệm thực hiện cho một người « đặc nhiệm», và tôi đã không ngần ngại đề nghị tên anh Tụy. Việc tôi nêu tên anh Tụy cũng đã gây ra một chút phản ứng ngạc nhiên trong vài đồng nghiệp quen biết : theo họ, tính cương trực của anh có thể không gặp sự đồng tình của bộ máy quản lý, và anh đã cao tuổi. Nhân đây, tôi muốn nói cho thật rõ. Tuy ở xa và đã lâu không về nước, tôi cũng không khờ dại đến mức không biết những điều đó ; hơn thế nữa, tôi cũng đã nghĩ rằng giả thử như lời đề nghị của tôi được bộ máy quản lý chấp nhận thì không chắc gì chính anh Tụy đã nhận. Việc tôi đề nghị tên anh có một lý do : vào thời điểm cuối tháng 10-2005, trong lúc nền giáo dục nước nhà đang gặp nhiều bức xúc, chưa hề hé mở được một lối ra khả quan, không khí vọng ngoại lại đang đè nặng, tôi muốn «chứng tỏ » rằng trong nước có những « người biết việc »; cho nên hà tất phải mang « lễ vật » đi cầu mưu kế nơi người ngoại quốc, để rốt cục nghe những lời kiến nghị tuơng tự. Mới đây, tôi lại cố gắng viết thêm một bài báo, nhắc lại một số nhận xét phân tích (15) . Tôi hy vọng rằng câu thành ngữ của người Pháp : « Il n’est pire sourd que celui qui ne veut pas entendre » (nghĩa là «Không ai điếc hơn người không muốn nghe») sẽ không « linh » , và rốt cục nhà cầm quyền sẽ nghe thấy lời thiết tha kêu gọi từ trong và ngoài nước.
X.- Anh Tụy và bản « Kiến nghị chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục » 2004 :
Sau nhiều năm thường xuyên trao đổi với nhau, nhưng mỗi người phát biểu ý của mình với phương tiện của mình, đầu 2004 tôi được anh Tụy rủ tham gia một xê-mi-na do anh tổ chức với sự tham gia của một số trí thức trong và ngoài nước. Để cho chính xác, tôi thấy cần phải nhắc lại nội dung của xê-mi-na này, theo thông tin đã đăng trên website http://www.ncst.ac.vn/HVGD/ thời đó (tôi trích):
« Công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước đang đặt ra những yêu cầu mới và những thử thách lớn cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Trước tình hình ấy, một số nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn có tâm huyết với giáo dục, có thành lập một xê-mi-na để nghiên cứu, thảo luận và đóng góp ý kiến vào việc chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục đáp ứng những yêu cầu và vượt qua thử thách đó ».
Xê-mi-na được tổ chức trong nhiều buổi, từ đầu tháng 3/2004 cho đến cuối tháng 5/2004; thành phần tham dự gồm những người trong nước và một số người ngoài nuớc, thảo luận trao đổi hoặc trực tiếp, hoặc qua thư điện tử. Các đề tài nghiên cứu, thảo luận gồm :
a) Đánh giá thực trạng giáo dục hiện nay.
b) Nêu những vấn đề lớn cần giải quyết để vượt qua khó khăn, đưa giáo dục tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
c) Đề xuất các phương hướng chính nhằm chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội.
Sau đó, thảo luận nhằm đi đến kiến nghị cụ thể hướng giải quyết một số vấn đề lớn như:
1. Thi cử.
2. Dạy thêm.
3. Hướng hiện đại hóa chương trình, phương pháp.
4. Sách giáo khoa.
5. Phân ban ở THPT.
6. Trường chuyên, trường điểm.
7. Học từ xa.
8. Hệ thống cơ cấu tổ chức đại học và vấn đề đào tạo tiến sĩ.
9. Phát triển qui mô đại học và vấn đề đào tạo nhân tài. Vấn đề đại trà và đặc tuyển.
10. Quản lý giáo dục và quyền tự chủ của các đại học lớn.
11. Giáo viên các cấp (chính sách đào tạo và sử dụng), đặc biệt vấn đề tuyển chọn Giáo sư, Phó giáo sư cho các đại học.
12. Trường tư thục. Xung quanh vấn đề chống thương mại hóa giáo dục.
Nói tóm tắt, mặt nào đây cũng là sự phát biểu liên quan đến những điểm bất cập (16) và những giải pháp mà chúng tôi đã kiến nghị từ rất nhiều năm.
Thoạt đầu các buổi họp tiến hành ở Viện Toán học, nhưng sau đó được mời về họp ở Bộ Giáo dục Đào tạo, với sự có mặt của Bộ trưởng Giáo dục lúc đó và một số quan chức của Bộ để các vị này có thể theo dõi thảo luận. Cuối tháng 5/2004, một bản Kiến nghị chung được anh Tụy thay mặt các thành viên thảo ra, với 22 trên 23 thành viên của xê-mi-na đồng ý ký (sau đó có thêm 2 người nữa đề nghị tham dự), và được gửi tới Trung Ương. Thủ tướng Chính phủ tiếp một số thành viên xê-mi-na. Quốc hội theo dõi, vv. (tôi có chép lại toàn bộ bản Kiến nghị đó trong sách của tôi « Học gần Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005, sau do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và nxb Tổng hợp Tp. Hồ chí Minh tái bản 2006). Sự việc xảy ra cách đây đã 2 năm, báo chí và các phương tiện truyền thông khác cũng đã nói tới, tôi nghĩ chắc chẳng cần phải dài dòng ở đây. Nhắc lại là anh Tụy cũng đã có những cuộc gặp gỡ khác, thí dụ như việc Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến thăm anh tại nhà trong dịp Tết năm 1998, ông Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cũng tới thăm anh tại nhà năm 2007 này, hẳn anh đã có dịp nói lên những suy nghĩ và mong muốn của riêng anh và của những ai thiết tha với một sự chấn hưng có kết quả nhanh chóng.
Có ý cho rằng cách tổ chức nền giáo dục đại học ở ta nó lạ lắm, một mặt, nó vẫn « trơ như đá, vững như đồng ; ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng dời », đồng thời nó « thiên biến vạn hóa », khởi thủy từ một ý tưởng và ngôn từ chấn hưng, nó cũng có thể từ ý tưởng và những ngôn từ chấn hưng đó, « xì » ra những biến hóa ngược lại. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng mấy năm nay cũng đã dần dần có những biến chuyển, tuy chậm chạp và có những điểm không phải hoàn toàn như chúng tôi đề nghị. Tôi nghĩ rằng dù trong tình huống nào, cũng như tôi, anh Tụy vẫn kiên nhẫn phát biểu.
Lại nhớ tới một lần, nhân dịp Đại học Linköping, nơi anh làm giáo sư thỉnh giảng mấy năm, tặng phong anh bằng tiến sĩ danh dự (1995), tôi hỏi anh rằng họ có biếu anh bộ lễ phục hôm vinh danh không, anh trả lời họ có cho mượn cái áo, nhưng tặng anh cái mũ và một cái nhẫn khắc tên anh với dòng ghi « Tiến sĩ danh dự Đại học Linköping ». Cái mũ của bộ lễ phục, đội đầu, chính là tượng trưng cho trí tuệ được tự do tư duy ; cái nhẫn là để nói lên sự gắn bó với khoa học (17) .
Tôi lại hỏi, mấy năm ở Thụy Điển anh nghĩ gì về dân nơi đó. Anh nhận xét là họ rất trật tự, lễ độ và rất « hiền ». Tôi nhớ có nói với anh : Thuở xưa, thời Trung cổ phương Tây, xứ này là quê hương của bọn cướp biển Vikings, nổi tiếng hung ác, đi đánh phá khắp vùng duyên hải Tây Âu với những chiến thuyền drakkars mũi cong, nơi nào cũng hãi ; nay họ hiền hòa bác ái như vậy, hẳn là do nền giáo dục, văn hóa ngày nay của họ. Chắc tôi khỏi cần nói thêm.
Lời kết
Những chuyện kể trên, dù sao cũng mang tính dính dấp tới công việc chung. Còn gì để tôi nói riêng với anh Tụy trong quan hệ cá nhân ? Gọn hơn cả, là tôi mượn mấy câu thơ của hai thi sĩ Trung Hoa đời Đường, để nói về chuyện « đón-đưa » anh của vợ chồng tôi:
Hoa kính bất tằng duyên khách tảo
Bồng môn kim thủy vị quân khai.
(trích bài Khách chí, của Đỗ Phủ) (18) ,
Nghĩa là :
Đường hoa không vì khách đến mà quét
Cửa cỏ nay vì khách mà mở.
Và
Mạc oán tha hương tạm ly biệt,
Tri quân đáo xứ tẫn phùng nghinh.
Nghĩa là :
Không than phiền ở chốn tha hương tạm ly biệt nhau,
[bởi vì ] Biết ông đi đâu cũng đều được người ta đón rước.
(trích bài Dạ biệt Vi tư sĩ, của Cao Thích) (18).
Nay tôi mượn ý, chuyển lại thành bốn câu (9-10-11-12 từ) dưới đây, đặt tên là Tạm biệt Hoàng giáo sư, gửi anh với tất cả tình cảm thân ái :
Cổng vào nơi chúng tôi thường không sơn mới,
Nhưng cửa nhà luôn sẵn mở khi anh chợt tới.
Biết anh đi đâu, đồng nghiệp cũng mến mộ đón đợi,
Nên nỗi buồn khi tạm chia tay với anh, rồi cũng vợi.
Chú thích :
(1) Cám ơn anh V.N.Q. đã tìm cho tôi xuất xứ chính xác của 2 câu này. Nói thêm là 2 câu này cũng là 2 câu mà Chiêu Liệt hoàng đế nhà Thục, tức là nhân vật Lưu Bị, kể trong Tam quốc chí, khi sắp chết, dùng làm lời mào đầu khi gửi gắm con mình cho Khổng Minh.
(2) Ông Lê Thước (1891-1975), đỗ giải nguyên khoa thi hương cuối cùng ở Nghệ An (1918) rồi tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội (1921), là một trong những nhà giáo được kính trọng đầu thế kỉ 20. Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Ban chấp hành Trung uơng mặt trận Liên Việt, rồi công tác ở Ban Tu thư bộ Giáo dục, và vụ Bảo tồn bảo tàng bộ Văn hóa. Ông là soạn giả, dịch giả nhiều sách về Nguyễn Du, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Khuyến, và là tác giả của cuốn « Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ » (1928). Theo cuốn sách « Giáo sư Lê Văn Thiêm », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2003, (bài của cố GS Nguyễn Văn Đạo), ông Lê Thước là anh em con cô con cậu với ông Thiêm, và là thân sinh ra Lê Thiệu Huy, một sinh viên đặc biệt xuất sắc ở Đại học Hà Nội, đỗ mấy bằng cử nhân lúc rất trẻ tuổi vào khoảng những năm 1939, 1940 của thế kỉ 20. Tháng 8 năm 1945, Lê Thiệu Huy theo Cách mạng, tham gia vụ bắt nhóm của thiếu tá Castella, nhảy dù xuống gần Huế (mang mật lệnh của tướng De Gaulle định lập lại chính quyền bảo hộ của Pháp ở Trung Kỳ – điều này được kể kỹ trong cuốn « Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sĩ đường số 4 anh hùng », nxb Trẻ, 2004). Sau đó, Lê Thiệu Huy được Chính phủ ta cử sang Lào giúp nước bạn xây dựng quân đội, được cử đi bảo vệ hoàng thân « đỏ » Souphanouvong, và đã hy sinh vào tháng 3 năm 1946. Cũng theo bài viết của anh Nguyễn Văn Đạo đã dẫn trên : sau này, khi hoàn thành luận án tiến sĩ nhà nước của mình tại Paris 1947, anh Lê Văn Thiêm có lời đề tặng cháu mình (vốn chỉ chênh nhau có 2 tuổi và rất thân thiết như đôi bạn) bằng tiếng Đức : Meinem Freund Lê Thiệu Huy, Gefallen auf dem Mekong für Vietnam in Fruhling 1946 (Kính dâng người bạn của tôi : Lê Thiệu Huy, đã hy sinh cho [tổ quốc] Việt Nam trên sông Mê Kông mùa xuân 1946). Nhà nước Lào đã tặng Huân chương cao nhất cho Lê Thiệu Huy. Ông Lê Thước có bài thơ « Khóc con », với hai câu : «Treo gươm nghĩa liệt soi ba nước. Uổng kiếp tài hoa mới nửa đời ».
(3) Ông Hoàng Ngọc Phách (1896-1973) tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội là nhà giáo, hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ tỉnh Bắc Ninh. Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông làm giám đốc giáo dục nhiều địa phương , rồi về công tác ở Ban Tu thư bộ Giáo dục. Ông có nhiều tác phẩm nghiên cứu chung hay riêng, về văn học. Nhưng ông được nhiều người biết đến hơn cả là do cuốn tiểu thuyết Tố Tâm (1925).
(4) Ông Cảnh (tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội thời Pháp thuộc) là thày cũ của tôi hồi tôi học ở trường trung học Nguyễn Khuyến ở Yên Mô năm 1947-1949 thời Kháng chiến chống Pháp. Tôi xin trích lại đây một đoạn bài viết của tôi « Người cũ Yên Mô » đăng trong Kỷ yếu 2001 liên trường Thành chung, Nguyến Khuyến, Trà Bắc, Yên Mô,…, rồi trong cuốn sách của tôi « Tự sự của người xa quê hương » (Chuyện gia đình và ngoài đời), nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004 :
Thế là đã năm mươi mấy năm tôi rời Yên Mô không trở lại. Trọ ở đó từ cuối 1947, tôi đã trải học trường Nguyễn Khuyến-Nguyễn Thượng Hiền qua lớp đệ nhị phổ thông rồi một phần lớp đệ tam phổ thông, thi nhảy bằng Trung học phổ thông, rồi học mấy ngày lớp đệ nhất chuyên khoa, đến khi quân đội viễn chinh Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm cuối 1949. Chắc tôi chẳng cần nhắc đến những ngày ăn ở kham khổ, tắm giếng mùa đông, những buổi hội hiếm hoi, nhưng với không khí học tập chuyên cần dù cho sách thiếu, vở xấu, mực nhoè, đèn dầu tù mù, vv. Tôi muốn tập trung nhắc tới vài người cũ Yên Mô mà tôi tình cờ được gặp lại, đặc biệt là những người mà nhiều anh chị học sinh cũ biết. […] Hè 1970, vào dịp trong nước mời tôi, với tư cách là giáo sư Đại học Paris, về làm thí điểm cho việc Việt kiều về làm việc ngắn hạn, tôi có thuyết trình chuyên môn ở trụ sở trường Đại học Hà Nội cũ. Buổi đầu, trong giờ tạm nghỉ giải lao trước khi tiếp tục, một số ngưòi lại hỏi thăm, chợt có một người đến cạnh tôi bảo : « Nên nghỉ nói đi một lát kẻo mệt đấy ». Tôi quay lại nhìn, chợt nhận ra ngay thày Đỗ Trọng Cảnh dạy Vạn vật học hồi tôi còn nhỏ, học đệ nhị phổ thông (lớp 5 ngày nay). Thế là đã hơn 20 năm mới gặp lại thày. Thày nghe tôi về, nên thày lại dự buổi thuyết trình, tuy đề tài không thuộc lĩnh vực của thày, mà chỉ với mục đích tìm tôi vì thày còn nhớ tôi ; may mà tôi nhận ra ngay vì thày không thay đổi. Chỉ kịp trao đổi với thày vài câu thăm hỏi vì ngày ấy còn chiến tranh, chương trình làm việc và đi lại của tôi được tổ chức rất sít sao, tôi không có dịp gặp lại. Khi chiến tranh đã chấm dứt, hè 1975 tôi lại về nước với mục đích thăm hỏi bà con và người quen, và mừng mọi người đã tai qua nạn khỏi ; lần này, tôi có nhờ các anh tôi hỏi được địa chỉ của thày, để tới thăm. Thuở ấy rất nghèo nàn, nhà thày ở trong một ngõ hẻm, bùn lầy, chật chội, trải chiếu ngồi dưới sàn, uống chén nước lọc, ăn vài viên lạc rang, chụp chung với thày một tấm ảnh, kỷ niệm một thày học nghiêm trang tận tụy mà tôi quí trọng từ thuở còn học thày ...
(5) Ông họ Bùi, sinh năm 1918 tại Hà Tĩnh, viết cuốn phê bình văn học « Dưới mắt tôi », 1939. Ông đi kháng chiến, có học ở Trung Quốc, giỏi chữ Hán, dịch chuyện Lỗ Tấn, và viết cuốn « Hương hoa đất nước», nghiên cứu tiểu luận, Hà Nội, nxb Văn học 1979. Tạp chí Văn học có đăng nhiều bài của ông. Ông cũng là đồng tác giả của cuốn “Tiếng cười dân gian Việt Nam”, nxb KHXH, 1979.
(6) Ông Alexander Grothendieck (1926- .), nhà Toán học, chuyên gia về Hình học đại số, huy chương Fields năm 1966. Lúc sang Việt Nam, ông đang là giáo sư ở Institut des Hautes Etudes Scientifiques (vùng Paris), rồi sau đó là giáo sư ở Đại học Montpellier đến khi nghỉ hưu, và lui về ở ẩn, cắt đứt quan hệ với giới khoa học và xã hội bên ngoài. Ông được nhiều nhà Toán học coi là một trong những bộ óc lớn nhất về Toán học của thế kỉ 20.
(7) Ông Leonid Kantorovitch (1912-1986), vốn là nhà Toán học, sau chuyên nghiên cứu về Toán kinh tế, giáo sư trường đại học Leningrad lúc còn rất trẻ tuổi, sau là giám đốc một trung tâm nghiên cứu về Toán kinh tế ở Đại học Mạc Tư Khoa (từ 1971). Giải thưởng Nobel về Kinh tế năm 1975.
(8) Năm 1981, tôi về nước lần cuối cùng (từ 3-8-1981 đến 16-8-1981), với tư cách trưởng một Đoàn đại biểu trí thức Việt kiều ở Pháp do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tên gọi Phó Thủ tướng thời đó) Võ Nguyên Giáp và Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước mời về để: nghe và trình bày ý kiến của mình về chính sách khoa học và kỹ thuật, đặt cơ sở cho việc đóng góp chuyên môn sao cho có hiệu quả và năng suất của đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài với đất nước. Vào dịp đó, một buổi chiều, khi đang làm việc với ông Lê Khắc, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, tôi được văn phòng của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tên gọi Thủ tướng lúc bấy giờ) Phạm Văn Đồng gọi điện cho biết là Chủ tịch lời cơm riêng tôi buổi tối. Lẽ ra, buổi đó dự định có cả anh Tụy, nhưng vì điện thoại nhà anh hỏng, nên không gọi được anh. Tôi cứ tiếc mãi lỡ dịp, vì bữa đó một mình tôi, tôi chỉ phát biểu được những điều liên quan đến trí thức Việt kiều là chính. Giả thử như có cả hai anh em, bên trong và bên ngoài, thì có lẽ nói được với Chủ tịch Phạm Văn Đồng nhiều điều mà chúng tôi trăn trở và muốn trực tiếp kiến nghị về công tác và cách cư xử đối với trí thức nói chung.
Cũng nhân dịp này, tôi muốn kể một câu chuyện khác mà tôi gặp phải hè 1981 đó. Chuyện xảy ra đã 26 năm ; đó là một thời gian đã dài, có lẽ đủ « thời hiệu » (prescription) để có thể kể ra mà không gây phiền đến ai. Tôi nhớ sao kể vậy, không hề bịa đặt, dù là tôi có thể nhìn dưới lăng kính chủ quan cá nhân. Một buổi chiều, sau khi làm việc, tôi về khách sạn thì thấy hai người đang đợi. Hai anh tự giới thiệu là cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương đến gặp tôi để hỏi ý tôi về một chuyện xảy ra ở Pháp ; thời gian đã quá lâu, tôi không nhớ tên hai anh này. Câu chuyện đại khái như sau. Có lời đồn, trước đó dăm tháng là trong nhóm các vị từ trong nước sang làm việc ở một Đại học Pháp – tôi dùng chữ « vị » để tránh nói anh hay chị – có một cuộc trao đổi ý kiến nội bộ về việc phải nộp một tỉ số tiền lương (điều mà tôi đã kể trong bài về trường hợp anh Tụy). Có một vị, tính vốn rất thận trọng, cho rằng nên chấp hành nghiêm chỉnh lệ đó, vì phải có «lương tâm ».Một vị khác, tính hay bông đùa, trả lời rằng ai muốn có «tâm » thì cứ có « tâm », còn vị đã lao động thì « lương » là của riêng vị. Ngoài ra, còn có một vị khác, có nhờ một đồng nghiệp Pháp, chủ nhiệm bộ môn nơi vị làm việc, làm cho vị một giấy chứng nhận là đời sống ở Pháp đắt đỏ, tiền lương cần để tiêu pha, không còn đủ để góp cái tỉ số phải nộp. Không biết qua ngỏ nào mà lời đồn đó về đến trong nước. Hai anh cán bộ hỏi tôi về sự thực hư, và muốn biết ý kiến của tôi về cách nên xử sự, có nên phải kỷ luật hay không (ý muốn nói đến cái việc phong hàm giáo sư vừa mới bắt đầu từ năm 1980). Tôi nghĩ rằng việc hỏi ý tôi, có lẽ xuất phát từ việc lúc đó tôi đang là chủ tịch Hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tại Pháp nên trong nước cho rằng tôi phần nào biết vấn đề, và cũng vì 6 năm trước đó tôi là người kiến nghị việc lập lại chức vụ giáo sư (xem chú thích (9) dưới đây). Tôi trả lời hai anh rằng tôi cũng có nghe lời đồn đại nói trên, nhưng tôi không thể xác định thực hư thế nào. Điều mà tôi có thể phát biểu được là xét về tình về lý, dù lời đồn là đúng, thì cũng nên thông cảm và « giảm khinh » : cuộc sống vật chất trong nước đang rất khó khăn, người trí thức có trình độ lại rất khan hiếm, nếu tình hình ở ta chưa cho phép đãi ngộ tương xứng, thì ít nhất khi ra ngoài cũng còn thể diện quốc gia ; vả lại, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần căn dặn Việt kiều chúng tôi ở bên ngoài là không nên ép buộc, mà để người ta tự nguyện đóng góp – nếu suy rộng ra thì lời căn dặn đó cũng có thể áp dụng cho người trí thức trong nước – ai tự nguyện thì coi là quí, còn không thì cũng không nên « nặng tay ». Nghe tôi phát biểu như vậy, hai anh cán bộ cám ơn rồi ra về mà không nói gì thêm. Việc này, có thể các đương sự có liên quan cũng không biết (?), sau đó tôi không thấy động tĩnh gì cả, hay là có sự kiểm thảo nội bộ nào đó (nhưng không nặng nề) mà tôi không biết chăng.
(9) Thí dụ : xem bài tôi viết về bộ trưởng Tạ Quang Bửu («Tưởng nhớ một người thân », in trong cuốn sách « GS Tạ Quang Bửu, con người và sự nghiệp » do Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản, năm 2000, hay trong cuốn sách của tôi « Chung quanh việc Học », nxb Thanh Niên Hà Nội 2004). Tôi kiến nghị từ mùa xuân 1975, vậy mà mãi đến năm 1980 đợt đầu tiên phong giáo sư mới được thực hiện. Trong 5 năm đó, tôi không ngừng nhắc nhở thúc giục. Ông Bửu ngay từ đầu, lúc ấy còn đang tại chức, luôn luôn khuyến khích tôi phát biểu, và tôi hiểu là vì tự ông cũng không giải quyết được. Cũng cần nói một một cách công bằng : ông Trần Quang Huy, lúc đó cũng đang tại chức, vốn bị anh chị em trí thức coi là người khó tính, tuy lúc đầu ông có tỏ ý e ngại, nhưng sau khi trao đổi với tôi, thì ông nói là hoàn toàn ủng hộ. Trong khi thuyết phục, tôi nói với mấy ông là cứ lấy tôi làm mốc : tôi chỉ là một nhà khoa học « bình thường », vậy mà tôi đã là giáo sư ở đại học Pháp từ lúc chưa đầy 30 tuổi và giáo sư titulaire de chaire ở Đại học Paris lúc 35 tuổi, không lẽ Việt Nam còn đòi hỏi kén chọn đến mức nào? Ông Trần Quang Huy còn hỏi tôi giải quyết thế nào về những tiêu chuẩn đặc biệt lúc đó ở Việt Nam : nhà ở, xe hơi, tem phiếu. Tôi trả lời ông là chiến tranh đã chấm dứt, những tiêu chuẩn đặc biệt này trước sau rồi sẽ bỏ ; lúc này người khoa học không cầu mấy thứ đó, họ chỉ mong vai trò của họ được công nhận tương xứng, vậy nên tách rời việc phong giáo sư với những tiêu chuẩn vật chất này ; và ông tỏ ý đồng tình. Sau đó, nhiều lần, ông phân trần với tôi là sự chậm trễ thực hiện không do ông ; ông bảo sự chậm trễ một phần là do sự giằng co giữa chính mấy nhà khoa học (?). Hè 1979, tôi đưa vợ tôi về thăm trong nước ; tuy chuyến đi này là chuyến đi cá nhân, nhưng ông Nguyễn Đình Tứ, lúc đó là bộ trưởng Bộ đại học thay ông Bửu từ một thời gian, nghe tin tôi đang ở Hà Nội, ông có nhã ý mời tôi tới gặp ông ở Bộ. Ông bảo ông chỉ đặt với tôi một câu hỏi : có một số nhà khoa học, đang công tác trong sản xuất, cũng muốn được phong giáo sư, vậy thì tôi nghĩ gì? Ông còn bảo là nếu tôi có được lời đáp thỏa đáng, thì ông sẽ ký ngay quyết định. Tôi có trả lời ông như sau : trên nguyên tắc, giáo sư là một chức vụ để giảng dạy, nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu ở đại học, nhưng tôi cũng có thể hiểu cái nguyện vọng của một số cán bộ muốn được hưởng chút danh vọng sau bao năm gian khổ ; dù sao đó cũng là một thứ sức ép của xã hội, cho nên nếu cần phải chịu cái « tiểu tiết » để thực hiện cái « cần thiết », thì tôi cũng cố thông cảm. Thế rồi đợt đầu « phong giáo sư » được tiến hành năm 1980 ; (nếu tôi nhớ không nhầm thì ông HST, sau này một thời làm chủ tịch Hội đồng quản trị của một Tổng công ty, được phong GS trong đợt đầu này). Và sau đó tiến hành thêm mấy đợt, nhưng đã lạc mất ý ban đầu, và tiếp tục « phong hàm » ; còn tôi thì cứ phải lải nhải điều trần mãi cho cái quan niệm « chức vụ » cho đến tận ngày nay. Lại còn chuyện này nữa : đối với mấy người giáo sư đại học ở miền Nam trước ngày Giải phóng, ở lại không ra đi, tôi đề nghị đặc cách cho họ được giữ cái chức danh giáo sư cũ nếu còn để họ công tác, vì lẽ rằng « nếu tin thì hãy dùng, nếu dùng thì nên tin ». Hè năm 1981, ông Nguyễn Văn Hường, phó chủ nhiệm phụ trách Văn phòng 10 trên phủ Thủ tướng, vốn cũng là người « ủng hộ» tôi trong việc kiến nghị, bảo tôi : về việc này rốt cục, khi tiến hành mấy đợt phong hàm, « người ta » cũng bình bàu, cũng hội đồng xét duyệt tuốt tuột, kẻ được người không, ...
Tôi thấy cần nói rõ ở đây để tránh sự hiểu lầm : tôi kể những gì mà tôi biết và tôi đã làm, chứ tôi không hề nói là vì tôi mà việc này việc kia đã được thực hiện. Tôi cũng muốn nói rằng việc phong giáo sư này nó cũng như cái quả lắc, lúc đầu thì ngần ngại khắt khe, lúc sau thì biến dạng, đôi khi chẳng còn chất lượng gì nữa.
Nhân đây, tôi cũng xin được nói một câu về cái bằng tiến sĩ. Tôi cũng là « thủ phạm » trong việc kiến nghị ở Việt Nam chỉ nên có một bằng tiến sĩ kiểu Ph.D. như ở Mỹ, trước thì phát biểu nội bộ bằng nói hay thư, sau này thì viết cả thành bài đăng trên báo, trong đó tôi có phân tích lợi ích (thí dụ như : bài Vài suy nghĩ chung quanh vấn đề « đào tạo qua nghiên cứu » đăng trong trong tạp chí Tia Sáng, số tháng 11/1998, Thời Đại số 3, 1999 và trong mục Nhịp cầu báo Nông Nghiệp Việt Nam 17/12/2001). Nhưng khi đã có quyết định một bằng tiến sĩ rồi, thì đâu đó lại xảy ra cái danh xưng TSKH (tiến sĩ khoa học, mà theo tôi hiểu nghĩa là bằng tiến sĩ hạng nặng lấy ở nước ngoài), có lẽ vì cái bằng tiến sĩ trong nước bị phá giá, kéo theo sự buộc lòng một số người phải dùng danh xưng nói trên để phân biệt ?
(10) Xem bài « Nhà giáo đại học và những vấn đề liên quan » của tôi trong cuốn sách « Học gần Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005 ; một phần bài này được trích đăng trên báo Tiền Phong số 36 ra ngày 21/2/2005 dưới đầu đề « Cần nhìn lại nhà giáo đại học», và báo Tuổi trẻ online đăng lại ngày 22/2/2005.
(11) Thí dụ như trong cuốn sách của tôi « Tự sự của người xa quê hương » (Chuyện gia đình và ngoài đời), nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004. Trong đoạn viết đăng trong cuốn sách này, tôi có kể lại chi tiết tiếng vang của việc thành lập trường ở trong và ngoài nước, qua báo chí và chính giới ngoại quốc, việc vợ chồng tôi quyên góp tiền bạc để « nuôi » trường như thế nào, vv.
Xin kể thêm một chi tiết có liên quan đến anh Tụy. Cách đây hơn một năm, ngày 15/1/2006, báo mạng Vietnamnet có đăng bài báo: « Ngôi trường không thích... lên ti vi : Chuyện người khai sáng » (http://vietnamnet.vn/psks/2006/01/532705/). Trong bài báo này, phóng viên LHN viết về trường đại học dân lập Thăng Long (TTDHTL), và theo lời kể, thuật lại là bà Hoàng Xuân Sính là người khai sáng duy nhất. Ngay sau đó, tôi có viết một thư gửi cho Tòa soạn Vietnamnet và phóng viên LHN, trong đó, với lời lẽ rất ôn tồn, tôi đưa tài liệu, và nhắc rằng, tuy tòa báo thực tâm (de bonne foi), nhưng sẽ bất công nếu chỉ «vinh danh » 1 người mà không nói tới 4 người kia – và tôi nói thêm là tôi định cư ở nước ngoài, không cần trong nước nói đến. Tôi có đề nghị là họ có thể kiểm chứng bằng cách : đọc các tài liệu tôi gửi cho họ (trong đó có ghi tên các báo đăng tin thuở đó, và có cả bản chụp bức « thư gợi ý » đề ngày 2-4-1988 của tôi gửi 5 anh chị) ; tìm gặp các GS Hoàng Tụy, Phan Đình Diệu và Nguyễn Đình Trí để hỏi cho rõ (Bùi Trọng Lựu, anh tôi, vừa mất trước đó vài ngày) ; lại thăm căn nhà 34 Hàn Thuyên, vốn là văn phòng cũ của TTĐHTL , nơi có gắn 2 tấm bia kể sự tích TTĐHTL mà tôi đặt khắc năm 1962 để ghi sự việc và công đức ; nếu cần có thể hỏi thăm một chứng nhân khác hiện còn sống. Tôi cũng nói là tôi không có ác ý muốn hại ai mà chỉ muốn lập lại sự công bằng. Do đó phóng viên Vietnamnet có lại thăm căn nhà nói trên, đọc 2 tấm bia và có lại hỏi chuyện anh Hoàng Tụy. Tôi đồng tình với thái độ khoan dung của anh Tụy : yêu cầu Vietnamnet tìm cách xử sự cho đúng, đừng để người đọc hiểu lầm, đồng thời nhẹ nhàng không làm mất mặt ai. Do đó, trong tinh thần phục thiện muốn lập lại phần nào sự thật, ngày 26-1-2006, Vietnamnet đã đăng bài báo « Chuyện về một tấm văn bia » của cùng phóng viên : http://vietnamnet.vn/giaoduc/2004/10/338574/
(12) Thí dụ như : §§« Vài suy nghĩ về công học và tư học », Bùi Trọng Liễu, Tuần Tin tức 10-4-1993 và Quê hương tháng 7-1993.
« Về vai trò của Nhà nước trong giáo dục đại học », Bùi Trọng Liễu, Diễn Đàn, tháng 1-1994, Tia Sáng tháng 12-1998 trích đăng 1 đoạn.
« Có thể coi Giáo dục Đào tạo là hàng hóa được không ? », Bùi Trọng Liễu, Văn Nghệ, 19/2/2005.
« GS có những kỳ vọng gì với Quốc hội khóa XI về Chấn hưng Giáo dục nước nhà? », Bùi Trọng Liễu trả lời phỏng vấn từ xa của phóng viên Hạ Anh của báo mạng Vietnamnet 25/10/2004, đăng trong http://vietnamnet.vn/giaoduc/2004/10/338574/=
(13) Thoạt đầu, tôi điều trần qua thư từ nội bộ, đặc biệt là can việc thành lập hai Đại học Quốc gia, nếu như không cương quyết thanh lọc cán bộ nhân viên (theo tiêu chuẩn trình độ khoa học) trước khi đưa vào đó. Theo tôi, nếu sự thành lập hai đại học quốc gia này chỉ là sự gộp lại nguyên si một số trường đã có, thì dù những ưu điểm được cộng lại, nhưng những khuyết tật cũng bị cộng lại, và sẽ rất khó nâng cấp. Anh Tụy cũng có ý nghĩ tương tự. Và nếu tôi hiểu không lầm, chính [cố] giáo sư Nguyễn Văn Đạo – giám đốc đầu tiên của Đại học Quốc gia Hà Nội, người mà tôi thương tiếc và coi là một đồng minh tin cậy trong việc kiến nghị chấn hưng giáo dục – cũng phần nào chia sẻ nhận xét này, tuy phải buộc lòng đứng ra thực hiện sự gộp các trường vì không thể làm khác. Anh Đạo cũng là một trong những người tham gia xê-mi-na và ký bản « Kiến nghị chấn hưng giáo dục » kể trong phần X trong bài. Những năm tiếp theo, tôi đã viết một số bài báo trình bày chi tiết các lý do tại sao nên thành lập mới một đại học, thí dụ các bài báo đăng :
« Đào tạo nhân tài hay đào tạo người biết việc? », Tia Sáng, tháng 9-2004.
« Về đào tạo và sử dụng nhân tài », Văn Nghệ, 23-10-2004.(14) Đó là bài « Xây dựng một Đại học mới » mà báo Tiền Phong đăng dưới đầu đề « Xây dựng Đại Học đẳng cấp quốc tế: Không nên vá víu ! » ngày 14/10/2005, và Nhân Dân và Vietnamnet đăng lại cùng ngày: http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=25275&ChannelID=71
http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=41&sub=71&article=43990
http://vietnamnet.vn/dhqt/2005/10/500018/
Vì bài này ngắn, tôi xin chép lại nguyên văn như sau :
Đã từ nhiều năm nay, tôi kiến nghị việc thành lập một đại học hoàn toàn mới có tiêu chuẩn quốc tế – mà tôi gọi là đại học « hoa tiêu » công lập... Và đừng có tham, đừng làm nhiều, chỉ lập một cái thôi, ở ngay tại Thủ đô.
Đối với tôi: Vấn đề không còn là « nên hay không nên », mà là « tại sao tới nay chưa thực hiện ?».
Không chỉ riêng tôi là người đã hành nghề ở ngoài nước, mà chính một số nhà khoa học trong nước cũng kiến nghị như vậy. Thêm vào đó chính chuyên gia nước ngoài được vấn kế, họ cũng trả lời như thế, vậy tại sao còn chờ đợi ?§§Tóm tắt một cách cụ thể :
1. Nên thành lập một đại học hoàn toàn mới, mà trong đó đào tạo và nghiên cứu gắn liền với nhau, đa khoa kết hợp, nhưng bước đầu chỉ mở những khoa nào mà ta có đủ sức mạnh, chủ yếu là về đội ngũ nhà giáo, và có khả năng đáp ứng tài chính.
2. Đừng có tham, đừng làm nhiều, chỉ lập một cái thôi, ở ngay tại Thủ đô. Đó là giải pháp duy nhất để chấn hưng có hiệu quả mà không gây xáo trộn.
Dứt khoát không nên vá víu kiểu « cải tạo từ các đại học cũ sẵn có ». Kết quả thực tế cho thấy rằng việc gộp các trường cũ lại thành những cơ sở đồ sộ, là một sai lầm, rất tốn kém mà không mang lại hiệu quả mong đợi, cứ sai rồi sửa, rồi càng sửa càng sai.
3. Theo kinh nghiệm đã làm ở các nước phát triển cao, cách tiến hành là :§§Trao hẳn nhiệm vụ thành lập đại học mới này cho một GS có danh vọng, có ý tưởng mới (dứt khoát không phải là người ở bộ máy quản lý hành chính). Người « đặc nhiệm » này (tiếng Pháp gọi là « chargé de mission »), trong một thời gian có hạn, được toàn quyền lựa chọn thành viên hội đồng khoa học và đồng thời là ban trị sự:
Họ có nhiệm vụ thành lập cơ sở hành chính và vật chất, soạn thảo văn bản xác định sứ mạng của trường, tuyển chọn nhà giáo đợt đầu, thành lập các ban soạn lập chương trình giảng dạy, tuyển sinh đợt đầu, vv. Nhiệm vụ ngắn hạn của người « đặc nhiệm » và cộng tác viên làm tăng tính cách « vô tư » của họ.
Sau đó, chính đội ngũ nhà giáo được tuyển sẽ tự bầu ra các hội đồng, các ban, của trường cho các đợt tiếp theo. Trong hoàn cảnh hiện tại của nước nhà, người mà tôi đề cử để làm người « đặc nhiệm » này là GS Hoàng Tụy. Đồng thời, Nhà nước nên ưu tiên tập trung mở ra một số « chỗ làm - chức vụ giáo sư » dành riêng cho đại học hoa tiêu này, để hội đồng khoa học của đại học này tuyển giáo sư mới trong số các nhà khoa học trẻ có tài năng đã có bằng tiến sĩ, đặc biệt là du học ở nước ngoài về. Một số cơ sở vật chất của các viện nghiên cứu, nên được trưng dụng để biến thành những cơ sở vật chất đầu tiên của trường này.
4. Bước đầu, nên song song mở năm thứ nhất đại học đồng thời với cấp đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ (trong những ngành nào có khả năng).
Đối với đội ngũ nhà giáo, nên có ngân quỹ đặc biệt cho trường để thù lao tương xứng, để họ có thể toàn tâm toàn ý làm việc có hiệu quả. Sinh viên của trường, bước đầu không cần đông, sau khi được tuyển kỹ, cần có sự nâng đỡ như miễn phí, thậm chí cấp học bổng cho những sinh viên nghèo.
Sự tự chủ của trường trong việc tuyển sinh, trong việc tuyển chọn nhà giáo, trong việc lập chương trình giảng dạy, trong việc sử dụng ngân quỹ Nhà nước cấp, cũng như trong việc tìm kiếm các nguồn tài chính khác (hợp đồng với doanh nghiệp, trợ cấp của các nhà hảo tâm, vv.), không làm giảm vai trò của Nhà nước, mà chỉ là một sự « bình thường hóa », chấn chỉnh lại một tình trạng bất cập như hiện nay.
5. Sự cộng tác với những đại học danh tiếng nước ngoài cần thiết, chủ yếu trong việc nhờ họ giúp đào tạo nhân lực cho những ngành mà đại học hoa tiêu này chưa có hoặc còn yếu. Nên gửi nghiên cứu sinh của ta sang nước họ để họ đào tạo giúp, song song với việc họ gửi giáo sư thỉnh giảng sang giảng dạy, cũng như chuyển giao kinh nghiệm quản lý của họ.
Tôi nghĩ rằng đó là con đường duy nhất để có thể chấn hưng giáo dục đại học nói riêng, và từ đó chấn hưng nền giáo dục nói chung của nước nhà.
(15) Bài báo mang đầu đề : « Đứng nhầm lớp » còn hại hơn « ngồi nhầm lớp », đăng trên Vietnamnet ngày 14/5/2007, và Hà Nội Mới đăng lại. Xem: http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/05/694528/
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/47/129980/
(16) Tôi đã thử diễn tả những bất cập đó, có khi có nguồn gốc từ thuở xa xưa, bằng bài thơ « Gửi ông Khổng tử » trong bài viết của tôi :
«Giáo dục đại học : Những vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng », Thời Đại Mới số 6, tháng 11-2005, hay Vietsciences 2006 (http://vietsciences.free.fr/).
Tôi vốn là người ưa phát biểu ôn tồn, nhưng đôi khi cũng đành bắt chước người xưa, dùng những hình thức phát biểu đặc biệt để cố gây một sự chú ý. Vì đó mà có bài thơ này. Tôi chép lại nguyên văn ở đây với cả chú thích, ghi thứ tự a,b,c:
« Gửi ông Khổng tử »
Khổng tử, ông người Tàu, sinh ra ở nước Lỗ,
Lũ hủ nho nước tôi vái ông, đặt ông trên cả bố (a).
Họ phục nước ông văn minh,
Họ chê dân tôi mọi rợ, sơn răng đóng khố (b).
Họ học ông những điều hay, điều dở,
Rồi họ chế biến cả những điều vô bổ.
Họ lập Văn miếu (c) , họ lập Võ miếu (d),
Họ thờ người nước ông, hơn cả thờ tổ (e).
Họ bày ra thứ chữ Nho,
Làm dân nước tôi, nhiều thể kỉ, học khổ (g).
Mấy thế kỉ độn đần, hiểu biết thô lỗ.
Hậu quả đến tận nay, còn gây ra những điều nhăng nhố.
Chẳng qua vì trọng sự vinh danh, hám ngồi chiếu trên ăn cỗ.
Lũ hủ nho tân thời, hậu sinh khả ố,
Dẫn học thuyết phương Tây,
Nhưng trong đầu họ, tư tưởng tôn ti của ông đâu có đổ !
Người khôn nước mình thì chẳng nghe,
Với người nước ngoài thì vái như búa bổ.
Lời, ý phát ra, sặc mùi lưỡi gỗ.
Đấy cũng là một yếu tố
Gây ra một số chuyện lạ kỳ, lố lăng tổ bố:
Dỡ ngói, ném phao ;
Học không nổi, thi không đạt, mà vẫn đỗ.
Bằng thật bằng giả cũng là bằng,
Công việc làm thì dành chỗ,
Chèn ép những người năng nổ.
Đâu có phải một vài kẻ, bè cánh cũng cả ổ.
Lợi cho kẻ giàu, thiệt cho kẻ nghèo, bất công trong phân bố.
Tưởng rằng tân, hóa ra vẫn cổ (h).
Vinh danh giáo sư viện sĩ, bộ óc vĩ đại, danh nhân thế giới,…
Để cho bọn kinh doanh tiểu sử quốc tế dụ dỗ (k).
Thật lố,
Mà không biết rằng mình ngố.
Học thế, dạy thế, muốn mua bán giáo dục thế, có mà xuống hố.
Chứng kiến việc họ làm, người ngay muốn độn thổ.
Khổng tử ông ơi, nếu ông linh thiêng, phù phép cho họ tỉnh ngộ.
Nếu không, xin mời tư tưởng ông về Tàu,
Cho Hồng vệ binh họ tố.
Để dân tôi đổi mới tư duy,
Để những việc lố lăng chóng xuống lỗ.
Để danh nước tôi khỏi hoen ố,
Để con cháu chúng tôi khỏi hổ.
Chú thích:
(a) Quân, sư, phụ.
(b) Câu người xưa « sơn răng, chằng đít, đánh đai đầu », nghĩa là nhuộm răng đen, đóng khố và chít khăn.
(c) Theo Đại việt sử ký, Văn miếu ở Hà Nội, từ lúc thành lập, thờ Khổng tử, Chu công, Tứ phối (Nhan tử, Tăng tử, Tử tư, Mạnh tử) và thất thập nhị hiền (72 người học trò giỏi của Khổng tử) đều là người Trung Hoa. Còn Chu (Văn) An người nước ta (1292-1370, thời nhà Trần) được thờ theo ở Văn miếu.
(d) Theo bài « Võ miếu ở Huế » của Phan Thuận An, trong « Hồn Việt » số 2, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, nxb Văn Học, 2004, tr. 291-309, tôi tóm tắt như sau : Võ miếu ở Huế được bắt đầu xây dựng vào năm 1835, thời vua Minh Mạng, đến 1836 thì xong. Tại Miếu chính thờ 12 danh tướng Trung Hoa sau đây : ở án chính trung, thờ Khương Tử Nha (thời nhà Chu) ; ở án phía đông, thờ 6 nhân vật : Quản Trọng (nước Tề thời Đông Chu liệt quốc), Tôn Võ (nước Ngô thời Đông Chu liệt quốc), Hàn Tín (nhà Hán), Lý Tĩnh (nhà Đường), Lý Thanh (nhà Đường), Từ Đạt (nhà Minh) ; ở án phía tây, thờ 5 nhân vật : Điền Nhương Thư (nước Tề thời Đông Chu liệt quốc), Trương Lương (nhà Hán), Gia Cát Lượng (nhà Hán thời Tam quốc), Quách Tử Nghi (nhà Đường), Nhạc Phi (nhà Tống). Tại 2 Miếu phụ (Tả Vu và Hữu Vu), thờ 6 nhân vật Việt Nam ; ở Tả Vu, thờ 3 vị : Trần Quốc Tuấn (1226-1300, nhà Trần) ; Nguyễn Hữu Tiến (1602-1665, thời các chúa Nguyễn), Tôn Thất Hội (1757-1789, thời Nguyễn Ánh) ; ở Hữu Vu, thờ 3 vị : Lê Khôi ( ?-1446, nhà Lê), Nguyễn Hữu Dật (1603-1681, thời các chúa Nguyễn) ; Nguyễn Văn Trương (1740-1810, thời Nguyễn Ánh-Gia Long). Với binh lửa và thời gian, hiện nay, chỉ còn 10 bài vị thờ 5 nhân vật Trung Hoa (Quản Trọng, Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lý Thanh, Quách Tử Nghi) và 5 nhân vật Việt Nam (Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Trương). 5 bài vị thờ người Tàu thì được sơn son thếp vàng, trang trí kỹ, đều một cỡ cao khoảng 52,5cm ; 5 bài vị thờ người Việt Nam sơ sài hơn, sơn son nhưng không thếp vàng, cũng không trang trí gì, không cùng một cỡ, nhưng nói chung nhỏ hơn (cao từ 47cm đến 48cm).
(e) Trong bài Nhân đọc 2 lời bình về việc học của người xưa, đã in lại trong cuốn sách Chung quanh việc Học trên đây, tôi đã kể rằng ông Nguyễn Trường Tộ và ông Dương Bá Trạc phê bình cách học thiếu tinh thần tự lập và năng lực sáng tạo của người xưa.
(g) Trong bài báo Thoáng nghĩ về chữ Nho, đã in lại trong cuốn sách Chung quanh việc Học, trên đây, tôi đã nói ý nghĩ của tôi về cái thứ chữ này : viết thì viết như người Tàu, nhưng đọc ra thì người Tàu cũng không hiểu, người nước ta cũng không hiểu, trừ vua quan và nho sĩ. Chín thế kỉ học hành, thi cử, sách vở, văn bản, pháp lệnh vv. đều dùng thứ chữ Nho như vậy ; đến thời Pháp thuộc, năm 1918 mới bỏ thi Hương, 1919 mới bỏ thi Hội thi Đình.
(h) Thí dụ như câu chuyện ông Phạm Đình Hổ kể trong cuốn Vũ Trung tuỳ bút, mà tôi đã dẫn trong cuốn Chung quanh việc Học : thời Lê mạt, ông Nguyễn Hoãn, khi đi thi tiến sĩ, bài văn sách là do bài của sáu văn sĩ làm giúp cho trước.
(k) Trong cuốn Chung quanh việc Học đã dẫn trên, tôi đã kể sự ngộ nhận (về từ Academy), sự nhập nhằng tiếm xưng, tự tôn vinh hay để được tôn vinh. Và trong bài Bán hàm (cũng trong cuốn sách kể trên), tôi cũng đã nói tới mấy công ty kinh doanh tiểu sử lừa người nhẹ dạ. Và tôi cũng đã đề nghị giải pháp… « bán hàm ».
(17) Theo một nguồn, người La-mã cổ xưa, có cái mũ gọi là pileus libertatis, chỉ người công dân tự do (người nô lệ đã được giải phóng) mới được đội (trừ ngày lễ Saturnales, thì ai cũng có thể đội). Còn chiếc nhẫn tượng trưng của sự gắn bó thì cũng có thể thấy trong phong tục phương Tây như nhẫn cưới của cặp vợ chồng, nhẫn của các tu sĩ Thiên chúa giáo gắn bó với Chúa Trời , vv.
(18) Thơ văn đời Đường được chia ra làm 4 thời kỳ : Sơ Đường (618-712), Thịnh Đường (713-765), Trung Đường (766-835), Vãn Đường (836-907). Đỗ Phủ và Cao Thích là nhà thơ của thời Thịnh Đường. Có thể xem thêm trong « Đưòng thi trích dịch », của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb Văn học, tp HCM 2006
2. Một “đồng minh tin cậy”
trong việc Kiến nghị chấn hưng giáo dục
Vào dịp tưởng niệm GS Nguyễn Văn Đạo (*) , tôi viết bài này đăng trong
http://news.vnu.edu.vn/ttsk/Vietnamese/C1737/C1757/C2065/2007/08/N19019/?35 ,
bản tin (Bulletin) trên mạng của Đại học Quốc gia Hà Nội, mục « Sự kiện »: Hội thảo khoa học ngày 10/8/2007, kỷ niệm 70 ngày sinh GS. Nguyễn Văn Đạo.
Bùi Trọng Liễu
Tuy định cư ở nước ngoài, tôi quen biết anh Nguyễn Văn Đạo đã lâu lắm rồi, ít nhất là đã trên 30 năm, lâu tới mức tôi không còn nhớ rõ buổi đầu gặp anh là vào thời điểm nào, ở cái thuở anh còn chưa là giáo sư, viện sĩ VS, và chưa đảm nhiệm những chức vụ cao. Gặp anh ở trong nước, rồi gặp anh ở ngoài nước ; tôi tiếp anh ở nhà tôi ở Pháp ; anh tiếp Đoàn trí thức Việt kiều về nước làm việc hè 1981 do lời mời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng và Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (mà tôi là trưởng đoàn) tại Viện Khoa học Việt Nam mà lúc đó anh đang là Tổng thư ký ; rồi tôi còn gặp lại anh ở sứ quán Việt Nam những lần anh công du qua Pháp. Biết bao nhiêu kỷ niệm qua vài tấm hình chụp chung. Nhưng với tôi, đáng ghi nhớ hơn cả là những lần trao đổi ý kiến thân mật và tin cậy giữa anh và tôi qua thư từ về nền giáo dục đào tạo, mà anh luôn luôn trăn trở mong được sớm thấy chấn hưng. Mươi năm gần đây, tôi thỉnh thoảng hỏi thăm anh về tình hình giáo dục đại học trong nước trước khi viết thư hay bài « Kiến nghị » đăng báo, vì anh nắm rõ nhiều vấn đề, qua những cương vị quan trọng anh đã đảm nhiệm: giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội, ủy viên Hội đồng Chức danh Giáo sư nhà nước, chủ tịch Hội đồng Khoa học Tự nhiên- Hội đồng Khoa học Quốc gia, vv. Tôi còn giữ lại một mớ thư điện tử của anh gửi, đặc biệt là bức thư anh hỏi ý tôi về bài báo anh viết « Cần thay đổi cách xét và công nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư » trước khi anh gửi đăng trên báo, hay « Bản góp ý kiến về Giáo dục » mà anh phát biểu ngày 19/11/2006 tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ mấy tuần trước khi anh bị tai nạn.
Trong thư gửi chia buồn cùng chị Trần Thị Kim Chi, phu nhân của anh, khi được tin anh mất (11/12/2006), tôi viết : Anh mất đi làm cho tôi mất một “đồng minh” tin cậy trong việc kiến nghị đổi mới Giáo dục Đào tạo nước nhà, điều mà Anh luôn luôn quan tâm. Tôi cũng không quên việc Anh đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc xuất bản hai cuốn sách “Tự sự của người xa quê hương” và “Học gần Học xa” ở nxb ĐHQGHN và như vậy đã giúp tôi nói lên được với nhà lãnh đạo cũng như với dư luận, những “ý điều trần” của tôi về nền tri thức nước nhà.
Chính anh, ở cương vị Chủ tịch Hội Liên Lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, đã nhận viết lời giới thiệu hai cuốn sách đó, bởi vì anh hiểu tôi hơn ai hết trong mục tiêu viết sách này. Trong Lời giới thiệu cuốn sách đầu, anh viết [tôi trích] : Loại sách hồi ký hoặc tự sự với các lối viết khác nhau, đều nhằm ghi chép lại những sự việc hay cũng như dở đã xảy ra, những con người tốt hoặc xấu đã gặp. Những cuốn sách như vậy giúp chúng ta có được những thông tin bổ ích, về một giai đoạn lịch sử nhất định của đất nước và về những tập thể hoặc cá nhân nhất định. Đây là một cách lưu trữ tư liệu rất tốt để cho các thế hệ sau hướng tới cái chân, thiện, mỹ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nước ta, khi vấn đề sưu tập và lưu trữ chưa trở thành thói quen và hứng thú đối với đông đảo người dân. Trong Lời giới thiệu cuốn sách thứ nhì , anh viết [tôi trích] : Thiện ý của tác giả khi viết cuốn sách này là cố gắng đúc kết, chắt lọc những hiểu biết của thiên hạ, tìm tòi những cái mà tác giả cho là tinh túy để trao tặng cho những ai muốn đọc, muốn biết hoặc muốn giải trí trong lúc thư nhàn. Với lối viết trong sáng, dí dỏm, không “hàn lâm”, cuốn sách giúp chúng ta dễ dàng tiếp thu những kiến thức sâu rộng về thế giới bên ngoài. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi nước ta đang hội nhập và giao lưu rộng rãi với bè bạn khắp năm Châu, khi mà không chỉ có ngôn ngữ mà cả phong tục tập quán và nền văn minh của các nước đều là những vấn đề phải được hiểu biết tường tận.
Trong văn học sử của Pháp, J-B. Bossuet (1627-1704) là nhà văn nổi tiếng về viết điếu văn. Các bài ông viết gợi lại sự nghiệp của người quá cố, và nhất là nhấn mạnh đến giá trị đạo đức của con người. Tất nhiên, tôi không phải là Bossuet. Nhưng tôi cũng đã có mấy lần viết bài tưởng niệm người quá cố, như viết về ông Tạ Quang Bửu (bài trong cuốn « GS Tạ quang Bửu, con người và sự nghiệp », do anh Nguyễn Văn Đạo chủ biên, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2000) , về ông Lê Văn Thiêm (bài trong cuốn « Giáo sư Lê Văn Thiêm », cũng do anh Nguyễn Văn Đạo chủ biên, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2003), đều do anh Đạo rủ. Có điều là các vị kia đều lớn tuổi hơn tôi nhiều. Còn gì buồn hơn khi tôi viết bài này, tưởng niệm anh Đạo, một người đáng quí, ra đi lúc còn đang sung sức, đầy dự án muốn thực hiện, lại ít tuổi hơn tôi?
(*) Tiểu sử của GS Nguyễn Văn Đạo (ngày sinh: 10-8-1937 tại Phú Thọ; ngày mất do bị xe máy đâm: 11-12-2006 tại Hà Nội). Tốt nghiệp Đại học Đại học Sư phạm Hà Nội, ngành Toán: 1957. Tiến sĩ Toán-Lý, Đại học Lomonosov, Matscơva, Nga, 1965. Tiến sĩ khoa học, Đại học Bách Khoa, Warszawa, Ba Lan, 1976. Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc (1988). Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Ukraina (2000). Giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (2000). Phó Viện trưởng - Tổng thư ký Viện Khoa học Việt Nam (1977 - 1993). Viện trưởng đầu tiên Viện Cơ học Việt Nam (1979 - 1990). Giám đốc đầu tiên Đại học Quốc gia Hà Nội (1994 - 2001). Chủ tịch Hội đồng Khoa học tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ (từ 1996). Chủ tịch Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài (từ 2002).
3. Nhân dịp mừng thọ GS Đặng Đình Áng 80 tuổi.
Nhân dịp đó, được bạn bè rủ, tôi có viết một bài, đăng trong tập « Trong ngần bóng gương », Kỷ yếu mừng thọ GS Đặng Đình Áng 80 tuổi, nxb Tri thức, 2006, mang tên « Nói về Giáo dục Đào tạo ». Tôi viết mở đầu bài đó như sau :
Tôi chỉ gặp GS Đặng Đình Áng có một lần, cách đây đã lâu lắm (có lẽ vào 1983 ?), cùng ăn cơm ở nhà học giả Hoàng Xuân Hãn ở Orsay, ngoại ô nam Paris; (mà hôm đó cũng có cả các GS Hoàng Tụy và Phan Đình Diệu và các anh chị em trong Nhóm Toán của Hiệp hội khoa học và kỹ thuật ở Pháp). Chuyện trò làm quen, nhưng không có nhiều thì giờ để trao đổi với ông; tuy vậy lần gặp gỡ duy nhất ấy đã đủ để lại cho tôi một ấn tượng tốt, một thiện cảm lớn, nhất là « tiếng lành đồn xa » về ông, tôi đã được nghe từ nhiều năm trước. Sau đó, cũng có một vài lần ông có nhã ý gọi điện hoặc có thư từ hỏi thăm khi ghé qua Pháp. Hôm nay, góp phần mừng thọ ông 80 tuổi, tôi không viết về thân thế, về sự nghiệp, về tài năng, tài nghệ, về sở thích, vv. của ông, vì những cái đó, đã có bạn bè, đồng môn, đồng nghiệp, môn đệ của ông làm tốt hơn tôi. Tôi chỉ xin viết vài lời về Giáo dục Đào tạo. Tôi muốn được nói với ông : « Tôi không chắc là những ý của tôi – người sống ở xa – đã trùng hợp với những ý của Anh – người tại chỗ – nhưng tôi dám chắc rằng Anh đã nhiều năm trăn trở, cố gắng, vật lộn, để đóng góp hết sức mình với nền Giáo dục Đào tạo nuớc nhà. Chúc Anh đủ thì giờ để thấy những kết quả của cuộc chấn hưng – hay ít nhất là cuộc khởi đầu chấn hưng thực sự – của nền Giáo dục Đào tạo, vì đất nước ta có đủ tiềm năng vật chất và trí tuệ để làm việc đó, nếu có sự quyết tâm ».
Toàn bài « Nói về Giáo dục Đào tạo » ghi trong chương sau, chung với các bài về Giáo dục đào tạo cũng là cách chuyển tiếp từ chương 7 này sang chương 8.
Nói về ba nhà khoa học
***
1. Chuyện kể từ ngoài nước
về nhà toán học Hoàng Tụy
Bùi Trọng Liễu
Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)
Đăng trên ZIDOL (Diễn Đàn mạng)
http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/nha-toan-hoc-hoang-tuy/
Năm nay, giáo sư Hoàng Tụy 80 tuổi. Một tập Kỷ yếu mừng thọ ông sẽ được xuất bản cuối năm nay, với sự tham gia của nhiều tác giả, đồng nghiệp, bạn bè, môn đệ của ông. Với sự đồng ý của nhà văn Nguyên Ngọc và TSKH Nguyễn Xuân Xanh, đồng phụ trách ban biên soạn tập Kỷ yếu, ZIDOL đăng trước bài viết kèm đây của tác giả Bùi Trọng Liễu mà toàn bản sẽ có mặt trong cuốn Kỷ yếu nói trên.
Lời nói đầu
Tôi quen biết giáo sư Hoàng Tụy từ hè năm 1970 vào dịp tôi về thăm miên Bắc nước ta và làm thí điểm cho việc người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc ngắn hạn, do Ủy Ban Khoa học Nhà Nước tổ chức. Thuở ấy còn chiến tranh, tôi lại bỡ ngỡ mới trở về sau 20 năm vắng mặt, sự giao dịch còn dè dặt ; hình như lúc đó chỉ kịp chào hỏi làm quen, và tôi chỉ giữ ở anh hình ảnh bộ tóc đã sớm bạc trắng và thành tích về ứng dụng Vận trù học đã được nghe nhiều người nói tới. Hè năm 1975, tôi trở về Hà Nội lần thứ nhì, cũng không có dịp trao đổi gì mấy với anh. Có chăng là từ mùa thu 1976, tôi mới có dịp cùng anh tâm sự nhiều, (tuy anh hơn tôi 7 tuổi nhưng rất thoải mái), trong điều kiện nào, tôi sẽ kể dưới đây. Lại nhớ tới một lần, đã lâu, anh kể cho tôi nghe chuyện cái hộ chiếu của anh bị ghi chỗ họ tên : Ông Hoàng Tụy, làm anh khổ sở giải thích cho cảnh sát nước ngoài khi anh nhập cảnh, ý nghĩa của chữ Ông bị gán thêm một cách vô ý thức, có lẽ vì người làm hộ chiếu sợ viết họ tên không thôi thì là cộc lốc. Ngược lại, tôi cũng nghe anh kể một lần khác, anh viết một bài gửi đăng trên một tờ báo hàng ngày, có người ngạc nhiên vì anh đề nghề nghiệp anh là « nhà toán học ». Thật vui mà cũng thật buồn.
Tôi nghe nói, trong sách Luận Ngữ của Trung Hoa, thiên Thái Bá, có chép hai câu của Tăng tử (Tăng Sâm), như sau :
Điểu chi tương tử, kỳ minh dã ai,
Nhân chi tương tử, kỳ ngôn dã thiện. (1)
Tôi hiểu thoát nghĩa là :
Con chim sắp chết, tiếng kêu bi ai.
Người đời sắp chết, lời nói thành thật.
Tất nhiên, tôi không tự nghĩ tôi như « người sắp chết » theo nghĩa đen, nhưng theo nghĩa bóng thì tôi là người đã nghỉ hưu, không còn cầu danh vọng, chẳng có lý do để khoe khoang cho mình hay cho ai ; những dịp hiếm hoi còn lại để phát biểu ý kiến thì lời phát biểu là lời thành thật, không che dấu. Vả lại, theo câu thành ngữ la-tinh : « verba volant, scripta manent », lời nói bay đi, câu viết còn lại. Vì thế mà tôi viết, và những điều mà tôi viết lại dưới đây về anh Tụy là do tôi được nghe từ những nguồn mà tôi tin cậy, hay từ chính anh, hay do tôi được trực tiếp chứng kiến. Tuy là kể chuyện cũ, nhưng nội dung lại vẫn còn mang tính thời sự, chủ yếu là chuyện liên quan đến giáo dục và đào tạo, vì đối với một xã hội muốn tiến triển, phát triển, lại vốn tự hào về nền văn hóa lâu đời của mình, không gì đáng nâng niu bằng Trí tuệ và việc Học. Lẽ ra chớ nên để nó bị ô nhiễm : « corruptio optimi pessima », câu la-tinh này nghiã là « Sự băng hoại xấu xa nhất là sự băng hoại cái tốt đẹp nhất ». Thế mà nhiều vấn đề thuộc việc Học, từ thuở đó đến nay vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng.
Dưới đây, tôi không đề cập đến các công trình khoa học của anh Tụy ; điều này đã có các đồng nghiệp khác và các môn đệ của anh làm tốt hơn tôi. Tôi chọn chỉ kể lại một số sự việc mà tôi cho là tiêu biểu nhất :
Mười chuyện để kể
I.- Anh Tụy, Ban Tu thư và Chương trình cải cách giáo dục phổ thông năm 1956 :
Cuối năm 1955, sau khi tiếp quản Thủ đô, khi quân đội viễn chinh Pháp đã rút vào miền Nam, anh Tụy đang dạy học ở trường Sư Phạm Trung cấp Trung Ương (đào tạo giáo viên cấp 2 phổ thông), thì được điều động về Bộ Giáo dục, làm trưởng ban trù bị « Cải cách giáo dục phổ thông» (CCGDPT) với nhiệm vụ nghiên cứu và soạn thảo kế hoạch cải cách giáo dục phổ thông, thống nhất hệ thống phổ thông 9 năm ở vùng giải phóng cũ với hệ thống 12 năm ở vùng mới giải phóng thành hệ thống mới 10 năm. Ban này gồm mươi người, trong số đó có ông Lê Thước (2) và ông Hoàng Ngọc Phách (3) là cao tuổi nhất. Sau mấy tháng trù bị, đến tháng 2/1956 hội nghị giáo dục toàn miền Bắc chính thức thông qua kế hoạch và bắt tay thực hiện cải cách. Anh Tụy lại được cử phụ trách ban Tu thư để biên soạn chương trình và sách giáo khoa cho mọi môn, từ lớp 1 đến lớp 10, làm sao để đến tháng 8/1956 thì biên soạn và in xong đủ sách giáo khoa cho các trường theo hệ thống giáo dục phổ thông mới. Ngoài những thành viên sẵn có của ban Trù bị CCGDPT, anh đề nghị điều động thêm về ban Tu thư khoảng 40 người nữa trong số các giáo viên giỏi nhất ở miền Bắc lúc đó. Chỉ một tuần lễ sau khi danh sách được trình lên Bộ thì toàn thể các vị trong danh sách đều đã có mặt đông đủ tại Hà Nội, dù có nhiều người ở cách xa Hà Nội 5- 6 trăm cây số mà hồi ấy phương tiện giao thông duy nhất là xe đạp. Phần lớn các vị đều lớn tuổi hơn anh nhiều, như ông Lê Trí Viễn (thày cũ của anh hồi tiểu học, về sau là giáo sư đại học về văn học), ông Đỗ Trọng Cảnh (4) , ông Trương Chính (5) , vv. Điều đáng chú ý là sao hồi đó người trẻ như anh lại được giao việc mạnh dạn như vậy, mà không thấy ai thắc mắc, tranh giành như những năm về sau. Các vị làm việc nỗ lực trong tinh thần thân ái, không nề hà tuổi tác. Ban không đông người, phương tiện vật chất rất giới hạn, vậy mà trong thời gian non 6 tháng, đã hoàn thành được một chương trình hoàn chỉnh cho giáo dục, thực hiện được một bộ sách giáo khoa có giá trị, tồn tại trong rất nhiều năm.
Tất nhiên mỗi thời một cảnh ; ngày nay, con số học sinh đã tăng gấp bội, so với thời đó. Nhưng câu hỏi day dứt vẫn còn lại là tại sao bây giờ, nay hội thảo này, mai hội nghị kia, huy động người đông, của lớn, nào khảo sát bên trong, nào tham quan bên ngoài, mà tại sao chương trình học, sách giáo khoa nay vẫn lộn xộn gây bức xức trong dư luận ?
II.- Anh Tụy, từ Đại học Tổng hợp đến Viện Toán :
Năm 1954, sau khi tiếp quản Thủ đô ông Lê Văn Thiêm làm giám đốc Đại học Khoa học, ông Đặng Thai Mai làm giám đốc Đại học Văn khoa. Đến 1956 đổi thành Đại học Tổng hợp (cả khoa học tự nhiên và xã hội), do ông Ngụy Như Kontum làm hiệu trưởng, và Đại học Sư phạm (cũng đủ mọi ngành), do ông Phạm Huy Thông làm hiệu trưởng. Anh Thiêm trở thành Chủ nhiệm khoa Toán Lý chung cho cả Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm, với lý do để chuyên tâm « làm khoa học ». Đến tháng 9 năm 1956, sau khi xong việc ở ban Tu thư, anh Tụy được chuyển hẳn qua biên chế Đại học Sư phạm, nhưng làm việc trong khoa Toán do anh Thiêm phụ trách. Đến tháng 8 năm 1957 anh được cử sang thực tập ở Đại học Tổng hợp Mạc Tư Khoa cùng với 8 anh em khác. Vì sau mấy tháng, anh viết được mấy bài báo khoa học đăng trong Doklady của Liên Xô nên được ở lại thêm để hoàn thành luận án và bảo vệ năm 1959. Xong, anh về nước, được giao làm Tổ trưởng bộ môn Toán của Khoa Toán-Lý-Hóa ở Đại học Tổng hợp (do anh Thiêm làm Chủ nhiệm). Năm 1960, Khoa Toán-Lý-Hóa tách thành hai khoa độc lập: Toán-Lý và Hóa. Anh Tụy được cử làm chủ nhiệm Khoa Toán-Lý. Năm 1963, Khoa Toán-Lý lại tách ra thành Khoa Toán và Khoa Lý. Anh làm chủ nhiệm Khoa Toán, cho đến khi anh rời Đại học Tổng hợp (1968), chuyển qua Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (UBKHKTNN).
Ở đây, tôi muốn kể lại vụ việc anh Tụy và anh Thiêm bị đấu ở Đại học Tổng hợp, bắt đầu từ cuối 1963 và kéo dài đến tận 1970. Hồi đó, sau Nghị quyết 9 (Hội nghị Trung ương lần thứ 9 của khoá 3 của Đảng Lao Động Việt Nam, họp từ tháng 12-1963, nhưng tháng 1-1964 mới xong), theo đó Việt Nam phê phán đường lối xét lại, đồng thời cũng có chút phê phán chủ nghĩa giáo điều, nhưng thực chất có thể hiểu là nghiêng về phía Trung Quốc hơn (có câu nói đùa là « không Mao-ít thì cũng Mao nhiều »). Hàng loạt nghiên cứu sinh Việt Nam về khoa học xã hội ở Liên Xô bị gọi về nước ; trong nước, một số cán bộ cao cấp bị xử lý vì không tán thành Nghị quyết 9. Theo gương Trung quốc, ở đại học ta cũng nêu cao khẩu hiệu « chính trị là thống soái », lên án những người « chuyên môn thuần túy » . Không may cho anh Tụy, vì lúc đó cũng là thời kỳ mà anh đang cùng với anh Thiêm và anh Tạ Quang Bửu, thực hiện nhiều chủ trương như : mở nhiều lớp chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ giảng dạy, thành lập Hội Toán 1963, thành lập tạp chí Acta Scientiarum Vietnamicarum 1962, sau đổi thành Acta Mathematica Vietnamica 1975, thông qua ban Toán ở UBKHKTNN và Hội Toán đề ra phương hướng ộiHxây dựng ngành Toán cho cả miền Bắc, không chỉ coi trọng tiêu chuẩn chính trị (« hồng ») mà chú ý cả tiêu chuẩn chuyên môn (« chuyên ») khi tuyển nghiên cứu sinh đưa sang Liên Xô đào tạo ; chấn chỉnh thi cử; đảm bảo thi cử nghiêm túc, ai không đủ điểm thì dù thành phần gì cũng phải học lại, thi lại, chứ không được cho đỗ hoặc lên lớp ; khuyến khích nghiên cứu khoa học trong cán bộ giảng dạy ; tổ chức các « hội nghị khoa học » hàng năm để báo cáo các kết quả nghiên cứu khoa học ; lập ra chế độ hướng dẫn sinh viên năm thứ ba và thứ tư làm khóa luận ; mở nhiều lớp bồi dưỡng học sinh phổ thông, giáo viên phổ thông ; kiến nghị mở kỳ thi giỏi Toán cả miền Bắc hàng năm ; mở các lớp « Toán đặc biệt » tuyển chọn học sinh có năng khiếu, sau này gọi là lớp chuyên Toán, v.v. Tất cả các việc đó được đề xuất và thực hiện đầu tiên ở khoa Toán Đại học Tổng hợp rồi lan dần sang các khoa khác và một vài đại học khác. Nhờ các chủ trương đó mà trình độ, chất lượng giảng dạy, nghiên cứu về Toán được nâng lên rõ rệt. (Điều này, tôi biết được là do nhà toán học Grothendieck, huy chương Fields (6) , tình nguyện sang miền Bắc giảng dạy và thuyết trình khoa học mấy tuần năm 1967, khi trở về Pháp đã bày tỏ sự ngạc nhiên của anh ta với đồng nghiệp nói chung và với tôi nói riêng). Đây là nhận xét ở bên ngoài. Nhưng ở trong nước thì khác. Những loại việc này đã gây ra những ác cảm với các anh vì có lẽ các chủ trương ấy cản đường tiến của một số người và con cháu họ vốn lâu nay chủ yếu dựa vào ưu thế thành phần và hoạt động chính trị, dù học kém vẫn được ưu tiên. Từ đó xảy ra sự lên án các anh trọng « chuyên môn thuần túy », coi nhẹ chính trị, « chèn ép công nông », « đi ngược đường lối công nông của Đảng », theo « thiên tài chủ nghĩa » (khen người giỏi, mở lớp Toán đặc biệt cho học sinh có năng khiếu), đề cao lý thuyết viển vông thuần túy (mặc dù hồi đó anh Tụy làm ứng dụng Vận trù học rất có kết quả), đề cao nghiên cứu khoa học trong khi – theo phái chủ trương « Hồng hơn Chuyên » – « trường đại học tuyệt đối không phải là cơ sở nghiên cứu khoa học », vv. Trong nhóm lãnh đạo đại học khi ấy ông Tạ Quang Bửu bị cô lập. Mấy ông trên cao nữa tuy hiểu thực chất vấn đề nhưng bận nhiều việc khác quan trọng hơn và lại đang có cao trào chống xét lại nên ai cũng ngại can thiệp. Tuy không có máu chảy, đầu rơi, nhưng trong mấy năm liền, trong bàu không khí ngột ngạt căng thẳng và đầy cay đắng, ban ngày dạy học, ban đêm chong đèn ngồi viết tự kiểm điểm để trình bày trong các buổi kiểm điểm có mấy quan chức ở trên về dự, ít buổi tối được rỗi để làm khoa học – và làm được khoa học thật sự – hẳn phải có nghị lực và niềm tin khác thường. Dù sao, hàng trăm buổi kiểm điểm nặng nề đã làm anh Tụy và anh Thiêm không thể tiếp tục ở Đại học Tổng hợp được nữa. Năm 1968, anh Tụy đành xin gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng để xin chuyển qua UBKHKTNN, và anh Thiêm cũng chuyển qua nơi đó năm 1970.
Về việc thành lập Viện Toán ở UBKHKTNN, thì tôi đuợc nghe kể như sau. Thoạt đầu là thành lập bộ phận nghiên cứu Toán (nhóm Toán). Đến khi anh Tụy chuyển hẳn sang UBKHKTNN thì mở rộng thành phòng Toán, rồi trên cơ sở này, anh Tụy đề nghị lập ra Viện Toán. Đề nghị ấy gặp thuận lợi là ở cấp trên thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng ủng hộ (do ông hiểu đó là lối thoát cho tình trạng bế tắc ở Đại học Tổng hợp), ở UBKHNN thì các ông Trần Đại Nghĩa và Lê Khắc cũng đồng tình. Tuy vậy, đến khi có quyết định chính thức thì phái chủ trương « Hồng hơn Chuyên » ngăn cản không cho anh Tụy phụ trách, chỉ để anh Thiêm làm viện phó, rồi « quyền viện trưởng » – tuy Viện lúc đó không có viện trưởng ! Anh Thiêm thì rất tôn trọng anh Tụy, mọi việc đều tranh thủ bàn bạc với anh Tụy, và anh Tụy hết lòng giúp anh Thiêm xây dựng viện Toán ; anh Tụy lại kiên trì báo cáo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng về sự phi lý của chức vụ anh Thiêm (bản thân tôi cũng bày tỏ sự phi lý này những khi có dịp), nhưng sức cản ở nơi khác mạnh đến mức ông Thủ tướng can thiệp mãi không xong, đến 1975 ông phải trực tiếp quyết định, anh Thiêm mới được bổ nhiệm viện trưởng.
Cái hay và cái may của anh Tụy là, mặc dù gặp khó khăn mọi bề, anh vẫn làm khoa học có kết quả, (kể cả việc soạn thảo các phương hướng phát triển lâu dài ngành Toán của Việt Nam), và uy tín khoa học của anh ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng phần nào giúp làm nhẹ bớt « tội » cho anh. Hơn nữa, việc nghiên cứu ứng dụng Vận trù học làm anh quan tâm đến quản lý kinh tế và những ý kiến của anh về các vấn đề kinh tế thường được các ông Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn chú ý, cho nên anh thường được các ông mời riêng đến trao đổi. Năm 1969, một tháng trước khi cụ mất, Hồ Chủ tịch cũng có cho gọi anh đến gặp. Thuở ấy, có lúc cũng có người trong bộ máy muốn lên án anh là « xét lại » vì những ý kiến « cấp tiến » của anh , nhưng vì ông Duẩn và ông Đồng đã để mắt tới, mà anh được yên. Yên là may, chứ muốn tiến hành một số việc thì cũng vẫn bị cản.
Nhìn lại quá khứ, lại liên tưởng đến ngày nay. Khi nghiên cứu đã trót bị tách ra khỏi việc giảng dạy tại đại học rồi, thì hàn gắn lại không phải là dễ. Khi những khuyết tật trong Giáo dục Đào tạo, như việc chiếu cố trong tuyển sinh, thi cử, chọn nghiên cứu sinh vv., dù là vì thành phần lý lịch, đã xâm nhập vào việc Học, thì chúng cũng dễ biến thể đi, và chúng cũng biết thích nghi trong một khung cảnh mới. Vì thế mà việc chấn hưng giáo dục ngày nay mới khó khăn như vậy. Tôi sẽ có dịp trở lại vấn đề này dưới đây.
III.- Anh Tụy và hai tờ tập san khoa học của Việt Nam :
Tờ Acta Scientiarum Vietnamicarum được thành lập năm 1962, chung cho cả Toán, Lý Hóa, sau tách riêng phần Toán thành Acta Mathematica Vietnamica từ năm 1975. Thời đó anh Tụy và anh Lê Văn Thiêm là những nhân vật thành lập đồng thời cũng là những người phải thực hiện, đã vô cùng vất vả trong việc duyệt bài và chạy nhà in. Tất nhiên đây là một thành tích lớn trong việc xây dựng nền khoa học nước nhà. Tuy nhiên, có một điểm mà sau đó, tôi có lần tâm sự với anh Tụy : có lẽ nên theo xu hướng quốc tế, chọn một cái tên tập san bớt « quốc gia » hơn (chữ Vietnamica) để dễ có sự tham gia của các nhà khoa học nước ngoài hơn trong việc gửi đăng bài trong tập san đó. Theo tôi hiểu, từ nửa sau thế kỉ 20 nói chung, hầu như chỉ tồn tại những tập san đã thành lập và có tiếng tăm từ lâu của các nước có truyền thống khoa học rất lâu đời mới còn mang tên « quốc gia ». Tôi nói điều đó, là vì tôi trải qua kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt là ở cương vị chủ tịch hội đồng xét duyệt tuyển giáo sư ở Đại học của tôi trong 21 năm và trước đó là thành viên của hội đồng này trong 13 năm, cũng đã được dịp đọc các hồ sơ lý lịch khoa học và nghe phản ứng của nhiều đồng nghiệp ngoại quốc. Tôi cảm thấy dường như lời tâm sự của tôi có gặp một sự thông cảm của anh Tụy, nhưng không có sự thiện cảm từ phía những nhà toán học cộng tác với anh trong công tác quản lý tập san này. Dù sao, tôi cũng chỉ là một kẻ ở xa …
IV.- Anh Tụy và việc mở đầu việc học sinh dự thi Olympic :
Năm 1974, anh Tụy tham gia đoàn cán bộ do Chính phủ cử sang các nước Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức), Tiệp Khắc và Hung để khảo sát về quản lý kinh tế (trưởng đoàn là ông Đoàn Trọng Truyến, đoàn viên có các ông Việt Phương và Lê Đăng Doanh là nhà kinh tế và anh là nhà toán học lúc ấy được coi là có nhiều ý kiến cấp tiến về quản lý kinh tế). Trong thời gian đoàn này ở Mạc Tư Khoa diễn ra buổi lễ tổng kết (và trao phần thưởng) của cuộc thi Olympic Toán quốc tế năm ấy tổ chức ở Mạc Tư Khoa. Chủ tịch ban tổ chức cuộc thi này là một giáo sư người Nga, bạn khá thân của anh, khi biết anh đang qua Mạc Tư Khoa, đã mời anh tham gia ngồi vào chủ tịch đoàn buổi lễ. Trong buổi lễ, đoàn Cuba chỉ được một giải khuyến khích, nhưng họ rất tự hào và được nhiệt liệt hoan nghênh. Cuối buổi lễ, đoàn Đông Đức đến gặp anh, thông báo họ đăng cai tổ chức thi Olympic năm sau (1975) ở Berlin và nhiệt tình mời Việt Nam tham gia, đồng thời cho biết hội Toán học Đông Đức sẵn sàng đài thọ mọi chi phí cho đoàn Việt Nam, kể cả vé máy bay. Thật ra, trước đó trong nước chưa nghĩ đến việc tham gia các Olympic toán quốc tế vì hai lẽ : 1) Khó khăn tài chính, Nhà nước khó có thể chấp nhận cấp chi phí ; 2) Trình độ mình còn yếu, e thi thố với các nước mà kém quá thì mất thể diện. Nhưng nay có Đông Đức đài thọ thì tài chính không còn là vấn đề, và việc đoàn Cuba được giải cho thấy ta cũng không nên quá tự ti. Do đó anh Tụy đề nghị đoàn Đức gửi ngay thư mời chính thức cho Bộ Giáo Dục của Việt Nam. Khi về nước, anh báo cáo việc này với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và được ông tỏ ý chấp thuận ngay; ông chỉ dặn thêm : gắng đừng để đoàn đi dự thi bị « đứng cuối bảng ».
Rất may kỳ thi năm 1975 ấy tuy là lần đầu Việt Nam tham gia nhưng đã đạt ngay kết quả xuất sắc ; nếu tôi nhớ không nhầm, thì 5 học sinh dự thi kỳ đó, đã đạt 1 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 2 huy chương đồng, và thí sinh thứ 5 thì chỉ thiếu 1 điểm để có huy chương đồng. Đúng như câu tiếng Pháp : « Coup d’essai, coup de maître » (nghĩa là « Bước đầu làm thử, thành tích tổ sư ») ! Thế là từ đó có đà để tham gia liên tiếp và gặt hái nhiều kết quả khả quan vượt quá mong đợi. Tuy vậy, khác với một số người nhân việc đó tung hô quá mức tài năng đặc biệt của học sinh Việt Nam, tôi cũng như anh Tụy hiểu ý nghĩa rất tương đối của những thành công này, trong đó có phần do ta đã cố gắng đầu tư công sức gấp bội. Và mặt tích cực của các lớp chuyên Toán và việc tham gia các cuộc thi Olympic là những chủ trương đúng đắn và tốt, gây ra một không khí chuyên cần học tập. Nhưng về sau này do có sự sa đà trong đánh giá và trong cách làm, đã đẻ ra một số vấn đề lẽ ra không nên có.
V.- Anh Tụy sang Pháp lần đầu tiên, mùa thu năm 1976 :
Đó là vào dịp mà tôi đề nghị với trong nước cho phép – và cụ thể là tôi đã tổ chức nhờ một đồng nghiệp Pháp, anh Dacunha-Castelle, giáo sư ở Đại học Paris Sud-Orsay, mời anh Tụy sang Pháp một tháng làm « giáo sư thỉnh giảng » (professeur invité, theo nghĩa của Pháp thời đó). Trong khung cảnh nước ta thuở ấy, được phép đi nước ngoài, nhất là nước tư bản, rất là khó khăn ngay cả đối với các nhà khoa học có tên tuổi. Tôi thấy cần kể thêm hai yếu tố đã làm cho chuyến sang Pháp đầu tiên của anh Tụy thực hiện được, mà sau này tôi mới biết. Cái thứ nhất là lúc đó (cuối tháng 8/1976) anh được mời làm một plenary lecture trong Hội thảo Quốc tế về Mathematical Programming ở Budapest (hội thảo lớn, có đến sáu, bảy trăm người dự từ nhiều nước) và ban Tổ chức hứa trả tiền vé máy bay và ăn ở trong thời gian hội nghị. Lần đầu tiên trong nước có người được mời như vậy, hồi đó coi là vinh dự lớn ; điều đó làm cho việc anh được mời sang Pháp « tự nhiên » hơn (bởi hồi ấy ai được mời đích danh thường bị nghi ngờ là đã liên hệ lén lút với nước ngoài). Yếu tố thứ hai là : khi anh nhận được thư mời sang Pháp thì chỉ còn thời gian hai tháng để làm thủ tục xin đi Pháp (giữa tháng 8 anh đã phải lên đường sang Budapest), mà thời đó một thủ tục như vậy bình thường phải bốn, năm tháng chưa chắc đã xong, huống chi đây là lần đầu tiên đi sang một nước tư bản phương Tây mà anh lại thuộc diện bị « chú ý » (tôi không dùng cụm từ này theo nghĩa « ưu ái »). May mắn trước đó mấy tuần, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có bảo thư ký chuyển cho anh một cuốn sách về quản lý kinh tế của giáo sư Kantorovitch, giải Nobel (7) , tặng Thủ tướng (nhân dịp Thủ tướng thăm Liên Xô, đến thăm Viện khoa học nơi ông Kantorovitch làm việc) và đề nghị anh đọc để trình bày lại cho ông biết rõ nội dung cuốn sách có gì hay về quản lý kinh tế. Anh bèn báo ngay với thư ký của Thủ tướng là anh đã đọc xong cuốn sách và muốn gặp Thủ tướng để báo cáo lại nội dung theo yêu cầu của ông. Hai hôm sau, trong buổi làm việc với Thủ tướng anh tranh thủ đề cập chuyện anh được mời sang Paris. Thế là nhờ chỉ thị trực tiếp của Thủ tướng, chỉ trong một tuần lễ mọi thủ tục cần thiết cho chuyến đi đầu tiên của anh đến một nước tư bản phương Tây được giải quyết xong. Đó là một chuyện « lạ » thuở ấy.
Lại nhắc lại là về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ năm 1958, không biết có phải do ảnh hưởng của Trung quốc không, không còn « phong giáo sư » cho ai nữa (tôi nhớ là anh Lê Văn Thiêm lúc đó là GS duy nhất về ngành Toán (?) , đã được « phong » trước cái mốc 1958 vừa kể) ; « hàm giáo sư » thuở đó lại còn gắn với những tiêu chuẩn vật chất như nhà ở, xe hơi, tem phiếu Tôn Đản. Người trí thức, ngay cả các nhà khoa học tự nhiên, không phải dễ dàng gì giao dịch với các đồng nghiệp các nước tư bản phương Tây. Tôi còn nhớ, một số anh chị em khoa học, y học, dược học … dù đã được coi là « đầu ngành », sang Pháp, cũng chỉ đi trong khung cảnh/danh nghĩa tu nghiệp hay là thực tập sinh. Ngay cả việc được mời làm một buổi thuyết trình khoa học, cũng còn phải xin phép, và thường là không được phép – một cán bộ chính trị đã có câu trả lời một nhà khoa học « đầu ngành » lúc đó là : « Anh được phép sang Pháp tu nghiệp là để thu chứ không phải để chi » – nghĩa là coi làm một buổi thuyết trình về công tác nghiên cứu của anh ta là làm mất đi một phần vốn chất xám của đất nước! Phía Pháp thuở ấy, việc mời một nhà khoa học nước khác, đặc biệt là từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sang làm « giáo sư thỉnh giảng », rất khó (hồ sơ khoa học của đương sự phải được Hội đồng khoa học toàn quốc và Hội đồng khoa học của trường đại học xét duyệt và bỏ phiếu công nhận danh nghĩa, rồi lại có sắc lệnh bổ nhiệm của Nhà nước), nó khác với những hình thức tới làm việc ở một cơ quan khoa học, một phòng thí nghiệm nào đó với sự trả tiền bằng một ngân quĩ nào đó. Anh Tụy là người đầu tiên từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm giáo sư thỉnh giảng ở Pháp như vậy. Cũng vì lý do tế nhị cả đôi bên Việt và Pháp như thế, sợ cả đôi bên nghi ngờ là người Việt và người gốc Việt đồng lõa chứ không phải tại giá trị khoa học thực sự, nên tôi đã tránh mời về trường tôi, mà nhờ anh bạn đồng nghiệp kể trên tổ chức hộ. Xin kể thêm là thuở đó, do chênh lệch hối đoái, và mức sống rất thấp ở trong nước, lương của một cán bộ đi thực tập, nghiên cứu sinh, cũng bị coi là quá cao, huống hồ lương giáo sư thỉnh giảng cấp cao nhất ở đại học Pháp, là một số tiền khổng lồ. Thuở ấy có lệ là các cán bộ này phải « tình nguyện » nộp lại một tỉ số tiền lương cho cơ quan (8) . Anh Tụy đã dàn xếp được để số tiền nộp lại đó về đến Viện Toán, mà không « lạc » đi đâu.
Lần sang Pháp đó, anh Tụy ở nhà tôi vài buổi, rồi dọn lên ở một phòng mà tôi đã thuê cho anh trong gian nhà dành cho các giáo sư ngoại quốc được mời sang thỉnh giảng ở đại học Paris, trong khu Cité internationale universitaire. Những chuyện tưởng như « vặt vãnh » này, thực ra đều có chủ ý nhắm nhiều tác dụng. Thuở ấy đang còn tồn tại một sự co cụm do chiến tranh gây ra và để lại, các nhà khoa học Việt Nam hầu như không có và không được thoải mái trực tiếp giao dịch trao đổi với đồng nghiệp ở các nước phương Tây. Việc mời anh Tụy sang Pháp ở cương vị cao, có mục tiêu « phá rào ». Như tôi đã có dịp kể nhiều lần, năm 1975, trước ngày Giải phóng ít lâu, tôi có thư gửi thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị cải cách đại học, lập lại chức vụ giáo sư, học vị tiến sĩ, để/và ổn định công tác khoa học, ... (theo lời ông Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học và ông Trần Quang Huy, Bộ trưởng phủ Thủ tướng và phụ trách Ban Khoa giáo Trung ương kể lại, thư này có được đem ra bàn trong một buổi họp của Hội đồng Chính phủ mùa xuân 1975) (9) . Những ý tưởng đó tuy được cấp lãnh đạo chấp nhận trên nguyên tắc, nhưng trong thực tế vẫn đang có nhiều hoài nghi, đặc biệt là về cái danh hiệu giáo sư mà không ít người Việt Nam lúc đó cho là quá « cao quí ». Việc anh Tụy sang Pháp làm giáo sư thỉnh giảng ở Đại học Paris-Sud – rồi sau đó ít lâu, đến lượt anh Phan Đình Diệu, làm giáo sư thỉnh giảng ở Đại học Paris 7 trong điều kiện tương tự – chính là một cách chứng tỏ rằng nếu giới đại học Pháp công nhận một số nhà khoa học Việt Nam ở mức cao nhất, thì chẳng có lý do gì để đại học Việt Nam đánh giá những vị này thấp hơn. Ấy vậy mà đến 1980 – nghĩa là thêm 5 năm chờ đợi, và hết sức thuyết phục – trong nước mới thực hiện đợt phong giáo sư đầu tiên của CHXHCNVN, mặc dù bị thực hiện dưới dạng « phong hàm », mà hiếm có nước nào trên thế giới tiến hành như vậy. Anh Tụy có danh hiệu giáo sư của Việt Nam, trong đợt đầu tiên này.
Tuy nhiên, cách tiến hành theo kiểu « phong hàm », rồi nay đổi thành « phong chức chức danh », tiếp tục không ổn. Tôi đã nhiều lần phát biểu về vấn đề này (10) – theo tôi hiểu thì anh Tụy cũng cùng ý tưởng như tôi – và chúng tôi tiếp tục kiến nghị để có một sự thay đổi hợp lý hơn. Nói tóm tắt thì : Hiện có quan niệm « không đúng » về vai trò của giáo sư đại học. Ở các nước đã phát triển, đây là một chức vụ, gắn liền với một cơ sở đại học, gồm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu và điều hành các công việc khoa học liên quan đến chuyên môn của một ngành, một bộ môn. Trong một xã hội trên đà phát triển, nhu cầu cần giải đáp các vấn đề mới nảy sinh, buộc phải có việc nghiên cứu và « đào tạo qua nghiên cứu ». Cũng vì thế mà người giáo sư đại học phải đồng thời là nhà nghiên cứu. Chức vụ là như vậy, nó gắn với nhu cầu của xã hội. Cho nên quan niệm giáo sư đại học như là một « hàm » hay một « danh hiệu» cao quí mà Nhà nước phong thưởng cho những cá nhân xuất sắc vì những công trình cá nhân của họ, là một quan niệm không có cơ sở khoa học. Do đó cần thay đổi cho hợp lý ; và nay đã có lời hứa hẹn được sửa đổi theo hướng đúng, và tôi vẫn chờ đợi được thấy thực hiện như thế.
VI.- Anh Tụy và Trung Tâm Đại học (TTĐH) « dân lập » Thăng Long :
Như tôi đã có dịp kể nhiều lần về việc tôi điều trần với các nhà lãnh đạo trong nước về sự cần thiết cải cách giáo dục đại học, đặc biệt là từ 1975. Nhưng đối với tôi 13 năm sau đó, việc cải cách giáo dục đại học quá chậm, nếp cũ đã quen, hướng đi lại không rõ, bàn ra bàn vào đã nhiều mà nhúc nhích chẳng được bao nhiêu. Tôi nghĩ rằng phải tìm cách thực hiện một thí điểm « làm gương », gây ra một « tiền lệ » để minh hoạ cho những đề nghị cải cách. Do đó, trong một thư đề ngày 2/4/1988, gửi cho năm anh chị Phan Đình Diệu, Bùi Trọng Lựu, Hoàng Xuân Sính, Nguyễn Đình Trí, Hoàng Tuỵ, tôi khơi ý với các anh chị đứng ra làm đơn xin thành lập một cơ sở đại học « dân lập », nghĩa là không xin tài trợ của Nhà nước; về giảng dạy, bằng cấp, quản lý, giao dịch lại theo quan niệm mới, phù hợp với yêu cầu của xã hội và phù hợp với tình hình quốc tế. Một mặt, tôi viết thư gửi các vị lãnh đạo ở các cấp cao nhất trong nước để trình bày vấn đề, một mặt vợ chồng tôi hứa giải quyết vấn đề quyên góp tài trợ, để cơ sở này có thể đủ tiền sinh hoạt trong ít nhất 3 năm, nhưng có triển vọng là lâu hơn nữa. Khỏi cần giải thích chi tiết tại sao tôi lại liên lạc với 5 anh chị đó để góp ý thành lập cơ sở này. Tôi nhắc lại đây những đặc điểm của TTĐH Thăng Long mà tôi đề nghị trong khung cảnh thời ấy, và được sự đồng tình của 5 anh chị nói trên:
- 1/ Nhằm đào tạo những sinh viên có trình độ đại học theo tiêu chuẩn quốc tế, nhằm phục vụ cho các cơ sở giáo dục, kinh tế, sản xuất ... của Nhà nước và của các thành phần kinh tế khác của đất nước.
- 2/ Nguồn tài chính một phần nhỏ là do học phí (rất thấp), còn chủ yếu là do tài trợ của những cá nhân và tập thể trong hay ngoài nước. Tuy là đại học « không phải của Nhà nước », nhưng chương trình giảng dạy được sự chấp thuận của Bộ Đại học, và bằng cấp do Nhà nước chứng nhận.
- 3/ Các đại học nhà nước (lúc đó) đào tạo « luôn một chặng » theo số năm cố định là 4 hay 5 năm; khi sinh viên tốt nghiệp thì được phát chứng nhận « Tốt nghiệp đại học » (theo mô hình Liên Xô). Để được linh hoạt, dễ đáp ứng với nền kinh tế và của xã hội, nâng cao dân trí, TTĐH Thăng Long muốn thực hiện việc cấp học vị (nghĩa là bằng cấp « có tên gọi »), tốt nghiệp từng chặng để sinh viên sau 3 năm (cao đẳng), 4 năm (cử nhân), 5 năm (cao học), tuỳ trường hợp, tuỳ khả năng, tuỳ thị trường lao động, có thể đi vào lao động sớm, học liên tục, hay trở lại học nối... (đây là một cách góp phần giải toả con đường « lập thân, tiến thân » cho mọi người Việt Nam, khi đó còn chịu rất nhiều ràng buộc).
- 4/ TTĐH Thăng Long tuyển sinh theo hồ sơ khoa học, dựa theo khả năng học của sinh viên, không có vấn đề lý lịch . Đối với những sinh viên có gia cảnh eo hẹp, chỉ có nâng đỡ về mặt miễn phí, hoặc cho học bổng. (Thời đó, lý lịch trong việc học còn rất nặng, và vấn đề « nâng đỡ bằng cách cho thêm điểm » một số « thành phần cơ bản » còn đang thịnh hành).
- 5/ Chương trình học theo tiêu chuẩn quốc tế, và thể hiện cả hai mặt : mang lại cho sinh viên kiến thức khoa học cơ bản đủ rộng để có khả năng suy luận, và những « kỹ thuật » chuyên môn để đáp ứng được yêu cầu về nghề nghiệp.
- 6) Trong khi trường đại học nhà nước chỉ sử dụng cán bộ giảng dạy của trường mình, với chất lượng không đồng đều, TTĐH Thăng Long tập hợp sử dụng những nhà giáo có khả năng phù hợp (vẫn là cán bộ nhà nước), và cố gắng thù lao họ một cách tương xứng, để họ có thể tập trung tâm trí vào việc giảng dạy và công tác khoa học. (Nói một cách thẳng hơn, các đại học nhà nước đều có một số cán bộ không có trình độ, trót tuyển vào trước kia, và buộc vẫn phải dùng họ).
- 7/ TTĐH Thăng Long cũng thể hiện một hình thức « du học tại chỗ » theo nghĩa: giảng dạy với chương trình khoa học và nhà giáo theo như tiêu chuẩn quốc tế, như những nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây. Đây cũng là một cách nâng đỡ một số sinh viên có tài năng, mà vì một số lý do và vì gia cảnh, không xuất ngoại du học « tự túc » được.
(Với các điểm 6/ và 7/ , mô hình TTĐH Thăng Long góp phần nhằm làm ngưng việc « chảy máu chất xám », bởi vì lúc đó, chất xám « chảy máu » dưới nhiều dạng : trí thức đi hẳn – xin đi công khai hay vượt biên – ; đi bán sức lao động trí thức của mình ở một số nước thành phần thứ ba để mưu cuộc sống ; hoặc làm một nghề tay trái không dính dáng gì đến sự hiểu biết chuyên môn của mình ; sinh viên xin đi du học để « tự trang bị » cho mình, hay tìm một lối thoát cho mình ...)
- 8/ Mô hình tổ chức của TTĐH Thăng Long nhằm góp phần minh họa cho một chiến lược mới : mở rộng việc học để nâng cao dân trí, và có « kho » dự trữ trí tuệ ; nhắm hướng « tuyển lựa sử dụng » cán bộ theo tài năng (trong đám sinh viên đã tốt nghiệp đại học), khác với chính sách « phân phối công tác » (cho sinh viên đã tốt nghiệp) với những khuyết điểm của nó. (Lúc đó ở Việt Nam , cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, chính sách « phân phối công tác » thực sự là hình thức thi tuyển thấp, ngưng ở mức độ thi tuyển học sinh từ trung học vào đại học; rồi sau đó sự phân công công tác hầu như hiển nhiên, không công bố các « chỗ làm » nên ứng viên không biết mà nộp đơn; phân phối bổ nhiệm công tác theo những tiêu chuẩn nào, do ai tiến hành, cũng không rõ rệt, vì vậy mà dễ tuỳ tiện).
- 9/ Với phương tiện vật chất giới hạn, TTĐH Thăng Long chỉ nhắm mở những ngành cần trang bị nhẹ, đồng thời nhắm góp phần phục hồi, mở thêm và nâng cao giá trị một số ngành học gần với « khu vực thứ ba » (dịch vụ và thông tin, tiếng Pháp là « secteur tertiaire »), như các ngành kinh tế, thương mại, sinh ngữ, luật, khoa học xã hội, ... Khu vực thứ ba này tạo ra nguồn thu nhập, trong khung cảnh « mở cửa » làm ăn với thiên hạ. (Lúc đó các ngành kinh tế, thương mại, luật, khoa học xã hội, ... đang là các ngành « tế nhị »; đừng quên là lúc đó, ở các nước xã hội chủ nghĩa, khuynh hướng « chính trị là thống soái » còn tồn tại mạnh.)
- 10/ TTĐH Thăng Long thí điểm một mô hình tổ chức đại học mới, nhằm góp phần thúc đẩy một cuộc cải tổ đại học phù hợp với tình hình và nhu cầu của nước ta trong giai đoạn mới. (Mục tiêu của nó không phải là tồn tại mãi mãi để đào tạo một số chuyên viên trong đám chuyên viên mà các đại học nhà nước đang đào tạo).
Đề án TTĐH Thăng Long được cấp lãnh đạo chính quyền chấp nhận. Thuở ấy Trưởng ban Khoa giáo Trung ương là ông Đặng Quốc Bảo hết lòng ủng hộ, Tổng Bí thư là ông Nguyễn Văn Linh bật đèn xanh cho phép ; phía Hội đồng bộ trưởng, thì Phó Chủ tịch Võ Nguyên Giáp đặc biệt quan tâm, … Thư cho phép của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đề ngày 10/12/1989, quyết định của Bộ đề ngày 15/12/1988 và trường được chính thức khai mạc ở Văn miếu ngày 21/2/1989 như tôi mong đợi. Rõ ràng là sự đứng tên của cả 5 anh chị đã là một trong những yếu tố quan trọng trong việc được phép mở trường này. Nhưng 3 người trong đám 5 người đứng tên xin phép mở trường, anh Tụy, anh Diệu, anh Trí, lúc đó đang giữ những trách nhiệm quan trọng trong các cơ sở giáo dục và nghiên cứu nhà nước, nên chỉ có chị Sính và anh Lựu phụ trách quản lý TTĐH Thăng Long.
Lòng tôi ngay từ đầu thành thực mong muốn rằng, khi thí điểm đó đã chứng minh hiệu quả của nó, Nhà nước sẽ tiếp nhận nó trở về trong lòng hệ thống « công lập », để rồi dần dần áp dụng phương pháp làm đó cho các trường công lập khác. Nhưng mục tiêu rốt cục không thành. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại rườm rà những vế thực hiện cụ thể, bởi vì đã kể chi tiết trong một số tài liệu như (11) . Chỉ xin nói gọn một điều là sau mấy năm hoạt động, chị Sính với tư cách giám đốc TTĐH dân lập Thăng Long này đã tự lấy quyết định đổi hướng, và do đó không còn sự tham gia của 4 anh kia nữa, cũng như sự chấm dứt hỗ trợ của chúng tôi bên ngoài. Nhưng những ý tưởng về chấn hưng giáo dục đại học vẫn còn đó, và còn đang tiếp tục dưới những hình thức khác trong đó anh Tụy đóng một vai trò chủ chốt, mà tôi sẽ kể dưới đây.
VII.- Anh Tụy và đề án thành lập « Trung tâm đào tạo Toán học ứng dụng » năm 1995 :
Trong bài: « Một số vấn đề khoa học và giáo dục: Góc nhìn trong cuộc » , phát biểu tại Hội thảo Hè tại Đà Nẵng 28-30/7/2005, và sau đó đăng trong báo mạng « Thời Đại Mới », số 6, tháng 11/2005, anh Hoàng Tụy có nhắc tới việc năm 1995, anh và một số đồng nghiệp đứng ra xin mở một Trung tâm toán học ứng dụng, với nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ ở trình độ quốc tế, đồng thời đưa Toán học ứng dụng vào các lĩnh vực kinh tế và công nghệ. Anh có kể lý do tại sao đề án này rốt cục không thành. Tôi muốn trở lại dài dòng một chút về câu chuyện này, vì nó là một kinh nghiệm về những khó khăn làm khoa học ở Việt Nam. Nó là một chuyện trong chuỗi cố gắng của anh Tụy trong mấy thập kỷ để góp sức cải thiện tình hình quản lý đất nước. Số là từ đầu những năm 60 của thế kỉ trước, anh đã cùng một số học trò tìm cách ứng dụng Vận trù học, Tối ưu hoá và Khoa học hệ thống vào Kinh tế. Mặc dù rất khó khăn và công việc có khi lên khi xuống, nhưng nhìn chung cũng có một số kết quả, gây được ý thức tính toán, cân nhắc hiệu quả trong các hoạt động kinh tế và có trường hợp khá thiết thực. Nhờ những hoạt động đó, trong xã hội miền Bắc một thời các khái niệm, từ ngữ như « vận trù », « tối ưu », « hệ thống » được dùng khá phổ biến ngay cả trong nhân dân và trong một số văn kiện chính trị. Sau 1968, các cơ quan, xí nghiệp chỉ lo chấn chỉnh tổ chức, khôi phục sinh hoạt và nền nếp lao động là chính, không quan tâm mấy đến hiệu quả sản xuất. Trong lúc đó, quản lý kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô quá cũ kỹ, cho nên anh Tụy chuyển sang nghiên cứu và góp ý kiến về lĩnh vực này. Nghe nói nhiều ý kiến của anh trình bày trong môt số hội nghị hoặc viết trên báo bị một số người phê phán là « xét lại », nhưng thật may cho anh là cả ông Phạm Văn Đồng và ông Lê Duẩn hồi ấy đều đánh giá tốt, tuy có người chống kịch liệt. Năm 1971, sau khi đọc một bài báo của anh về quản lý kinh tế, ông Duẩn cho mời anh xuống Đồ Sơn để nghe anh trình bày. Anh kể là anh hơi e ngại, không ngờ ông hoan nghênh và còn chỉ thị Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước lập một « Viện nghiên cứu các phương pháp khoa học trong quản lý kinh tế » để cho anh phụ trách. Việc này đã cứu anh khỏi bị đấu, nhưng có lẽ cũng vì nó mà người ta càng tìm cách cản trở không cho anh làm gì cả. Và cái viện ông Duẩn đã chỉ thị thành lập, cũng bị lờ đi. Năm 1979, ông Duẩn dành hẳn mấy ngày nghỉ ở Đồ Sơn để nghe ý kiến anh và 4 anh khoa học khác về quản lý kinh tế, xã hội. Lần đó, trả lời câu hỏi nêu lên : làm sao chống tiêu cực (hồi ấy chưa nói « tham nhũng ») anh đã phát biểu rất thẳng thắn : với cách quản lý của ta, mà không tiêu cực, tham nhũng mới lạ. Nội dung anh phát biểu thuở đó cũng gần như những ý kiến anh đã phát biểu sau này với ông Phạm Văn Đồng và các ông lãnh đạo khác thời sau đó (với sự giới thiệu của ông Đồng). Mấy buổi làm việc với các anh ở Đồ Sơn hình như đã có tác dụng với ông Duẩn vì Nghị quyết 6 liền sau đó đã lật ngược một số ý kiến rất bảo thủ trước đó để khẳng định một số quan niệm khá thông thoáng như các anh đã đề nghị.
Những năm 80 là thời kỳ kinh tế cực kỳ khó khăn, nhiều cán bộ khoa học bỏ đi sang các nước Đông Âu làm kinh tế, nhiều viện khoa học kiếm sống bằng những hoạt động không có chút gì dính dáng đến chuyên môn, riêng Viện Toán cố gắng đẩy mạnh nghiên cứu khoa học để tồn tại và phát triển bằng chính chuyên môn của mình. Song song, anh Tụy và đồng nghiệp giúp thành lập Viện Toán kinh tế ở Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, rồi trung tâm Nghiên cứu Hệ thống ở Viện Quản lý Kinh tế Trung ương. Tiếc rằng cuối cùng cũng không làm được kết quả gì vì vấp phải chính sách dùng người. Sau đổi mới, năm 1987, anh được ông Phạm Văn Đồng giao việc nghiên cứu góp ý kiến về chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho Ban Nghiên cứu Chiến lược Kinh tế Xã hội, do ông làm chủ tịch. Lần đầu tiên các anh gọi đúng tên sự khủng hoảng nhiều mặt của chế độ và nêu lên hàng loạt vấn đề nghiêm trọng lúc ấy còn coi là « kỵ húy », ít người dám đụng tới. Sau khi chủ động xin thôi chức viện trưởng Viện Toán, anh đi dạy và làm khoa học ở nước ngoài một thời gian (Áo, Thụy Điển, Canada). Trở về nước anh muốn dựa theo những kinh nghiệm thu thập được, dành sức góp ý kiến chấn hưng giáo dục và khoa học trong nước. Do đó từ 1994 anh theo dõi sát tình hình và bắt đầu phát biểu về hai lĩnh vực này một cách có hệ thống. Đồng thời, trước sự phát triển mạnh mẽ của máy vi tính và công nghệ thông tin tạo nhiều điều kiện ứng dụng các phương pháp toán học vào các lĩnh vực thực tế, anh nảy ra ý muốn thành lập « Trung tâm đào tạo Toán học ứng dụng » năm 1995, để một mặt hỗ trợ sự phát triển kinh tế, một mặt làm hồi sinh sự phát triển Toán học đang có nguy cơ tàn tạ trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế (thời ấy thanh niên đổ xô vào các ngành/nghề dễ kiếm tiền, không mấy ai quan tâm khoa học cơ bản, đến nỗi có lúc ngành Toán ở đại học cả nước chỉ lèo tèo có mấy sinh viên). Theo anh Tụy, lúc đó so với các nước trong khu vực, đội ngũ khoa học của Việt Nam về một số lĩnh vực Toán tương đối khá, nếu cố gắng và biết hợp tác với bạn đồng nghiệp ở một vài nước phát triển nữa thì hoàn toàn đủ khả năng lập một Trung tâm đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ tầm cỡ, không chỉ cho trong nước mà có thể thu hút cả sinh viên, nghiên cứu sinh các nước xung quanh, đồng thời làm nhiệm vụ bồi dưỡng và tu nghiệp ngắn hạn cho giáo viên phổ thông và đại học, giúp nâng cao trình độ cho họ bằng nguồn lực trong nước. Sau khi bàn và được sự nhất trí trong Hội Toán, anh gặp trực tiếp Thủ tướng Võ Văn Kiệt để trình bày kiến nghị. Ông Kiệt rất hoan nghênh và bảo anh làm kế hoạch cụ thể. Nhưng rồi khi ủy cho người khác chỉ đạo thực hiện, thì chẳng đi đến đâu. Sau hai năm chờ đợi, anh xin gặp lại Thủ tướng và được ông tái khẳng định sự ủng hộ, và bảo anh làm thêm kế hoạch cụ thể cho năm 1997 ; nhưng không ngờ khi kế hoạch cụ thể đưa lên thì việc lại không thành. Đến thời Thủ tướng Phan Văn Khải, anh lại đặt vấn đề, rồi sự việc lại tái diễn tương tự. Nghĩa là cấp trên hứa hẹn, cấp dưới không chấp hành. Tiếc tốn công mấy năm mà việc không thành.
Nhân dịp này, tôi muốn nói đến một chút liên quan. Ở Pháp, sau cuộc cải cách giáo dục đại học năm 1984, dần dần hình thành trong đại học Pháp một sự chuyển hướng trong cung cách đào tạo tiến sĩ. Ngoài việc bỏ các bằng tiến sĩ nhà nước (Doctorat d’Etat), và các bằng tiến sĩ thấp hơn (Doctorat 3ème cycle, Doctorat d’université), thay bằng một bằng tiến sĩ duy nhất ở mức tú tài+8 và đặt thêm bằng HDR (Habilitation à Diriger des Recherches) cho những tiến sĩ nào mong muốn trau dồi thêm để trở thành giáo sư đại học, việc đào tạo tiến sĩ dần dần hình thành dưới dạng mới : bỏ dạng một thày một/nhiều trò, mà tiến tới hình thức tổ chức những « Ecoles doctorales » (rất khó dịch và tiếng Việt bởi vì chữ « trường » bị dùng lộn xộn). Nói một cách tóm tắt và đơn giản hóa, đây là những cơ sở giảng dạy và nghiên cứu của một đại học hay của chung nhiều đại học, với sự tham gia về mặt nhân sự (các giáo sư và nghiên cứu sư, vẫn là những nhân viên cơ hữu « bình thường » của các đại học tham gia, nghĩa là họ vẫn đảm nhiệm mọi nhiệm vụ như tham gia giảng dạy ở mọi cấp « bình thường » khác của đại học của họ), về phương tiện vật chất và tri thức (các phòng thí nghiệm, các trang bị, thư viện, tổ chức các xê-mi-ne, vv.) nhằm mục tiêu đào tạo tiến sĩ cho một hay nhiều ngành, và góp phần hướng nghiệp cho các tiến sĩ khi xong luận án. Thuở ấy, tôi có dịp trao đổi thông tin và ý kiến với anh Tụy, nhưng phải nói là sau đó, đề án của anh Tụy có phần hơi khác với các cơ sở nói trên về mặt quản lý, vì tình hình ở Việt Nam khác tình hình ở Pháp. Ở Việt Nam, do có sự tách rời giữa việc giảng dạy ở các đại học và việc nghiên cứu khoa học tại các viện nghiên cứu – « thừa hưởng » từ một nguyên nhân lịch sử đã kể trong phần II trên đây và vì dấu ấn mô hình tổ chức kiểu các nước xã hội chủ nghĩa thuở ấy, vẫn còn tồn tại đến nay – tôi hiểu Trung tâm toán học ứng dụng trong đề án của anh Tụy như một cơ sở tồn tại dưới một dạng có qui chế riêng, ngân quĩ riêng, độc lập trong quản lý, và « được phép » giảng dạy và đào tạo và được công nhận phát bằng cấp như một cơ sở đại học, tuy nó không tổ chức đào tạo các cấp bên dưới tiến sĩ, thạc sĩ. Trong tình hình rất lộn xộn của nền giáo dục đại học và tình hình các viện nghiên cứu ở Việt Nam, tôi nghĩ là đề án đó của anh Tụy cũng là một bước tiến tới phá bỏ hàng rào ngăn cách giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời là một thí dụ giải quyết một cách nghiêm chỉnh khâu đào tạo nhà giáo cho đại học cũng như đào tạo nhân sự cho các lĩnh vực khác của đất nước. Việc đã không thành, và anh Tụy đã nêu lý do trong bài của anh (đã dẫn trên) ; nhưng tôi cũng còn có một hoài nghi khác : phải chăng đề án không thành là vì khả năng thực sự hiểu vấn đề giáo dục đại học của một số nhà trách nhiệm chiến lược và quản lý, quá giới hạn?
VIII.- Vấn đề trường công trường tư, trường học vô vị lợi, giáo dục có là hàng hóa hay không :
Tôi vốn là « tông đồ » của giáo dục công lập, có lẽ do tiêm nhiễm ảnh hưởng của văn hóa Pháp, coi giáo dục là vốn quí của dân tộc, đồng thời muốn bảo đảm sự công bằng cho mọi công dân trong việc học tập, tuy Pháp là một nước tư bản với một nền kinh tế thị trường. Điều coi giáo dục công lập là trọng tâm, tất nhiên không thể đánh đồng với cách Nhà nước bao cấp chi li và quản lý theo kiểu hành chính vô ý thức. Trong nhiều năm, tôi đã đăng nhiều bài báo về vấn đề này, thí dụ xem (12) . Với tôi, việc gợi ý thành lập Trung tâm Đại học « dân lập » Thăng Long chỉ là một giai đoạn bất đắc dĩ, tạm thời để gỡ mối bòng bong, với hy vọng góp phần dần dần đưa nền giáo dục đại học về quĩ đạo nghiêm chỉnh của nó. Nếu tôi không lầm, thì anh Tụy cũng chia sẻ ý tưởng này. Nhưng với tình hình đổi mới, với kinh tế thị trường áp dụng vào nước ta và những suy diễn theo cách này cách nọ, đã nở rộ những cụm từ mới hình như để phù hợp với ngôn ngữ « định hướng xã hội chủ nghĩa » nhưng nội dung thì lại thật khác : như « xã hội hóa » (thực sự là nhường gánh tài chính của xã hội, của Nhà nước, lên vai người công dân), như « ngoài công lập » (kỳ thật để chỉ giáo dục tư thục), vv. Anh Tụy sống trong nước, anh hiểu môi trường hơn tôi, một kẻ ở xa, cho nên anh cũng có những nhận xét và đề nghị mềm dẻo hơn tôi và những anh chị em khác sống ở bên ngoài – vậy mà cũng có người cho rằng anh quá cứng rắn! Thí dụ như trong bài phát biểu của anh « Một số vấn đề khoa học và giáo dục : Góc nhìn trong cuộc » đã dẫn trên, anh viết (tôi trích):
Trước hết, một thực tế hiển nhiên là Nhà Nước không thể bao cấp toàn bộ dịch vụ đại học (mà hiện nay cũng đâu có bao cấp như vậy?). Mô hình đại học miễn phí như các nước Bắc Âu tuy có lẽ là hợp lý nhất cho « kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa », nhưng hoàn toàn không khả thi đối với Việt Nam. Vì vậy cần xã hội hóa, huy động sự đóng góp của dân để chia sẻ với Nhà Nước chi phí đào tạo đại học. Có hai cách thực hiện việc đó : một là tăng học phí ở các đại học công tới mức đủ trang trải một phần đáng kể chi phí cần thiết (giải pháp này phải đi đôi với chính sách học bổng cho người nghèo), hai là khuyến khích mạnh tư nhân đầu tư phát triển đại học tư. Cả hai giải pháp đều tốt, và thường có thể thực hiện kết hợp. Trên nguyên tắc trường tư lại có thể phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận. Cho đến gần đây phần lớn trường tư ở Việt Nam đều gọi là dân lập (chẳng qua vì dị ứng với chữ « tư » vô tội), và đều thu lợi nhuận (một số trường hợp có lãi lớn), nhưng quy chế hoạt động không rõ ràng, nên dễ bị lợi dụng, sinh nhiều chuyện không hay, do chính quyền khi buông lỏng quá mức, khi can thiệp quá tự tiện vào việc quản lý nội bộ của họ. Trước sự phát triển của các hiện tượng mua bán tiêu cực trong giáo dục, một số người cương quyết phản đối việc cho phép kinh doanh giáo dục lấy lãi, nhưng điều này vấp phải những thỏa thuận tự do hóa giáo dục mà, theo sự giải thích của các quan chức, ta khó có thể đứng ngoài khi gia nhập WTO. Ngược hẳn lại, một số khác đòi hỏi các trường tư vị lợi phải được phát triển không hạn chế và phải được hưởng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ tích cực của Nhà Nước, coi đó chính là cốt lõi đổi mới tư duy giáo dục hiện nay và là biện pháp cởi trói có thể tạo chuyển biến đột phá của giáo dục trong những năm tới, giống như « khoán mười » đối với nông nghiệp trước đây vậy.
Mặc dù không phản đối trường tư vị lợi, tôi không thấy có lý do gì chính đáng để Nhà Nước cần có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đặc biệt các hoạt động kinh doanh giáo dục để lấy lãi, và cũng không tin rằng phát triển mạnh trường tư kiểu đó, rồi tiến đến cổ phần hóa một bộ phận đại học công nữa, như một số quan chức giáo dục đang hô hào, lại có thể là một giải pháp «khoán mười » cho giáo dục đại học. Trái lại, có lý do để lo ngại, nếu không cẩn thận, giải pháp này có thể đẩy giáo dục đại học trượt xa đến chỗ hỗn loạnn nguy hiểm khó lường. (Hết phần trích).
Tất nhiên tôi tôn trọng lý luận của anh, và chia sẻ – tuy không phải toàn bộ – lý luận này.
IX.- Đại học « hoa tiêu » :
Bốn muơi năm làm giáo sư đại học ở nước định cư – nước Pháp cũng thuộc loại đã phát triển cao và có một chiều dày trong truyền thống giáo dục – tôi cũng có chút kinh nghiệm để nhận thấy là cải cách theo kiểu đại trà là khó lắm, bởi vì nó liên quan tới việc chuyển đổi đồng loạt cả một hệ thống sẵn có, với những khuyết tật của nó, với phương tiện vật chất cần có, với sức ì, với sự cầu an của một phần nhân viên. Ở nước ta thì những khó khăn này lại gấp bội, do bối cảnh lịch sử để lại, thí dụ như một thời đã trót tuyển một số nhân viên mà trình độ hiểu biết yếu kém mà nay lại không thể sa thải ; hoặc như sự tế nhị trong việc nâng lương bổng nhà giáo sao cho đủ sống để họ có thể toàn tâm toàn ý trong việc thực hiện nhiệm vụ ; hoặc như khả năng trang bị trường sở ; hoặc như phải nâng đỡ sinh viên về điều kiện sinh sống và học tập như thế nào, để đạt được một trình độ « bình thường » – khoan nói tới đẳng cấp cao làm gì – của một nền giáo dục đại học. Đối với ai có cái nhìn khách quan, không bị ràng buộc về mặt này mặt nọ, rõ ràng là giải pháp nâng cấp các đại học sẵn có là một giải pháp đắt hơn, lâu hơn và khó thực hiện hơn gấp bội. Do đó, đã từ nhiều năm, tôi cố kiến nghị (13) giải pháp thành lập mới một đại học công lập, bước đầu cỡ nhỏ, để làm « gương » – cho nên mới dùng tên gọi « hoa tiêu » – để giải quyết cấp bách, song song với việc dần dần nâng cấp những cơ sở còn lại. Cũng cần nói thêm rằng, theo ý tôi, « thành lập mới » không có nghĩa là phải « xây cất mới » nhà cửa – có người hiểu lẫn « xây dựng » với «xây cất » – mà trong ý tưởng « hoa tiêu » này, dù cho có gọi nói nó là đẳng cấp quốc tế, hay đẳng cấp cao, hay có tiêu chuẩn quốc tế, hay gì gì đi nữa, vấn đề chủ yếu đối với tôi là « mới » là theo nghĩa bao gồm : việc tuyển chọn nhà giáo có trình độ, bổ nhiệm theo chức vụ, chứ không phải theo quan niệm phong hàm ; kết hợp giảng dạy và nghiên cứu ; tổ chức phương cách quản lý, trang bị và giảng dạy theo chương trình phù hợp ; tuyển sinh có trình độ ; học tập và kiểm tra thi cử nghiêm túc, vv. Hình như ý này gặp sự trùng hợp với suy nghĩ của anh Tụy, như vậy là trong và ngoài cùng nghĩ như nhau, và anh cũng đã bỏ mất nhiều công sức để soạn đề án cụ thể này nọ.
Tuy vậy ý anh Tụy và ý tôi có lẽ không phải lúc nào cũng hoàn toàn giống nhau, thí dụ như trong việc kết hợp nghiên cứu và giảng dạy, trong nhiều năm qua, tôi kiến nghị sát nhập các viện nghiên cứu vào các trường đại học ; nhưng tôi cũng chia sẻ ý của anh là – nếu các đại học quá yếu để vực lên được khâu nghiên cứu khoa học – cũng có thể thành lập một đại học từ các viện nghiên cứu, nơi có nhiều nhân sự có khả năng và đã có chức danh giáo sư. Tất nhiên, tôi chỉ đồng tình hoàn toàn, nếu như từ việc đào tạo cấp tiến sĩ, thạc sĩ, một đại học đa ngành thành lập từ các viện nghiên cứu, sẽ dần dần mở thêm những cấp đào tạo từ dưới lên (cử nhân, kỹ sư) để bảo đảm « đầu vào » thật nghiêm túc, và kết hợp được khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ và các ngành khoa học kinh tế, nhân văn, ... Loại kiến nghị này vốn đã có từ nhiều năm nay ; gần đây lại thấy một nhóm nhà khoa học đưa ra một đề án cùng loại (tôi không rõ anh Tụy có tham gia không). Nhưng việc thực hiện sẽ bao giờ xảy ra, hay rồi lại đợi chờ năm này qua năm khác?
Biết như vậy, nên trong một đợt gắng sức, tôi có viết bài báo (14) , trong đó tôi có đề cập đến cách tiến hành, đặc biệt là trao trách nhiệm thực hiện cho một người « đặc nhiệm», và tôi đã không ngần ngại đề nghị tên anh Tụy. Việc tôi nêu tên anh Tụy cũng đã gây ra một chút phản ứng ngạc nhiên trong vài đồng nghiệp quen biết : theo họ, tính cương trực của anh có thể không gặp sự đồng tình của bộ máy quản lý, và anh đã cao tuổi. Nhân đây, tôi muốn nói cho thật rõ. Tuy ở xa và đã lâu không về nước, tôi cũng không khờ dại đến mức không biết những điều đó ; hơn thế nữa, tôi cũng đã nghĩ rằng giả thử như lời đề nghị của tôi được bộ máy quản lý chấp nhận thì không chắc gì chính anh Tụy đã nhận. Việc tôi đề nghị tên anh có một lý do : vào thời điểm cuối tháng 10-2005, trong lúc nền giáo dục nước nhà đang gặp nhiều bức xúc, chưa hề hé mở được một lối ra khả quan, không khí vọng ngoại lại đang đè nặng, tôi muốn «chứng tỏ » rằng trong nước có những « người biết việc »; cho nên hà tất phải mang « lễ vật » đi cầu mưu kế nơi người ngoại quốc, để rốt cục nghe những lời kiến nghị tuơng tự. Mới đây, tôi lại cố gắng viết thêm một bài báo, nhắc lại một số nhận xét phân tích (15) . Tôi hy vọng rằng câu thành ngữ của người Pháp : « Il n’est pire sourd que celui qui ne veut pas entendre » (nghĩa là «Không ai điếc hơn người không muốn nghe») sẽ không « linh » , và rốt cục nhà cầm quyền sẽ nghe thấy lời thiết tha kêu gọi từ trong và ngoài nước.
X.- Anh Tụy và bản « Kiến nghị chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục » 2004 :
Sau nhiều năm thường xuyên trao đổi với nhau, nhưng mỗi người phát biểu ý của mình với phương tiện của mình, đầu 2004 tôi được anh Tụy rủ tham gia một xê-mi-na do anh tổ chức với sự tham gia của một số trí thức trong và ngoài nước. Để cho chính xác, tôi thấy cần phải nhắc lại nội dung của xê-mi-na này, theo thông tin đã đăng trên website http://www.ncst.ac.vn/HVGD/ thời đó (tôi trích):
« Công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước đang đặt ra những yêu cầu mới và những thử thách lớn cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Trước tình hình ấy, một số nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn có tâm huyết với giáo dục, có thành lập một xê-mi-na để nghiên cứu, thảo luận và đóng góp ý kiến vào việc chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục đáp ứng những yêu cầu và vượt qua thử thách đó ».
Xê-mi-na được tổ chức trong nhiều buổi, từ đầu tháng 3/2004 cho đến cuối tháng 5/2004; thành phần tham dự gồm những người trong nước và một số người ngoài nuớc, thảo luận trao đổi hoặc trực tiếp, hoặc qua thư điện tử. Các đề tài nghiên cứu, thảo luận gồm :
a) Đánh giá thực trạng giáo dục hiện nay.
b) Nêu những vấn đề lớn cần giải quyết để vượt qua khó khăn, đưa giáo dục tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
c) Đề xuất các phương hướng chính nhằm chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội.
Sau đó, thảo luận nhằm đi đến kiến nghị cụ thể hướng giải quyết một số vấn đề lớn như:
1. Thi cử.
2. Dạy thêm.
3. Hướng hiện đại hóa chương trình, phương pháp.
4. Sách giáo khoa.
5. Phân ban ở THPT.
6. Trường chuyên, trường điểm.
7. Học từ xa.
8. Hệ thống cơ cấu tổ chức đại học và vấn đề đào tạo tiến sĩ.
9. Phát triển qui mô đại học và vấn đề đào tạo nhân tài. Vấn đề đại trà và đặc tuyển.
10. Quản lý giáo dục và quyền tự chủ của các đại học lớn.
11. Giáo viên các cấp (chính sách đào tạo và sử dụng), đặc biệt vấn đề tuyển chọn Giáo sư, Phó giáo sư cho các đại học.
12. Trường tư thục. Xung quanh vấn đề chống thương mại hóa giáo dục.
Nói tóm tắt, mặt nào đây cũng là sự phát biểu liên quan đến những điểm bất cập (16) và những giải pháp mà chúng tôi đã kiến nghị từ rất nhiều năm.
Thoạt đầu các buổi họp tiến hành ở Viện Toán học, nhưng sau đó được mời về họp ở Bộ Giáo dục Đào tạo, với sự có mặt của Bộ trưởng Giáo dục lúc đó và một số quan chức của Bộ để các vị này có thể theo dõi thảo luận. Cuối tháng 5/2004, một bản Kiến nghị chung được anh Tụy thay mặt các thành viên thảo ra, với 22 trên 23 thành viên của xê-mi-na đồng ý ký (sau đó có thêm 2 người nữa đề nghị tham dự), và được gửi tới Trung Ương. Thủ tướng Chính phủ tiếp một số thành viên xê-mi-na. Quốc hội theo dõi, vv. (tôi có chép lại toàn bộ bản Kiến nghị đó trong sách của tôi « Học gần Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005, sau do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và nxb Tổng hợp Tp. Hồ chí Minh tái bản 2006). Sự việc xảy ra cách đây đã 2 năm, báo chí và các phương tiện truyền thông khác cũng đã nói tới, tôi nghĩ chắc chẳng cần phải dài dòng ở đây. Nhắc lại là anh Tụy cũng đã có những cuộc gặp gỡ khác, thí dụ như việc Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến thăm anh tại nhà trong dịp Tết năm 1998, ông Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cũng tới thăm anh tại nhà năm 2007 này, hẳn anh đã có dịp nói lên những suy nghĩ và mong muốn của riêng anh và của những ai thiết tha với một sự chấn hưng có kết quả nhanh chóng.
Có ý cho rằng cách tổ chức nền giáo dục đại học ở ta nó lạ lắm, một mặt, nó vẫn « trơ như đá, vững như đồng ; ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng dời », đồng thời nó « thiên biến vạn hóa », khởi thủy từ một ý tưởng và ngôn từ chấn hưng, nó cũng có thể từ ý tưởng và những ngôn từ chấn hưng đó, « xì » ra những biến hóa ngược lại. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng mấy năm nay cũng đã dần dần có những biến chuyển, tuy chậm chạp và có những điểm không phải hoàn toàn như chúng tôi đề nghị. Tôi nghĩ rằng dù trong tình huống nào, cũng như tôi, anh Tụy vẫn kiên nhẫn phát biểu.
Lại nhớ tới một lần, nhân dịp Đại học Linköping, nơi anh làm giáo sư thỉnh giảng mấy năm, tặng phong anh bằng tiến sĩ danh dự (1995), tôi hỏi anh rằng họ có biếu anh bộ lễ phục hôm vinh danh không, anh trả lời họ có cho mượn cái áo, nhưng tặng anh cái mũ và một cái nhẫn khắc tên anh với dòng ghi « Tiến sĩ danh dự Đại học Linköping ». Cái mũ của bộ lễ phục, đội đầu, chính là tượng trưng cho trí tuệ được tự do tư duy ; cái nhẫn là để nói lên sự gắn bó với khoa học (17) .
Tôi lại hỏi, mấy năm ở Thụy Điển anh nghĩ gì về dân nơi đó. Anh nhận xét là họ rất trật tự, lễ độ và rất « hiền ». Tôi nhớ có nói với anh : Thuở xưa, thời Trung cổ phương Tây, xứ này là quê hương của bọn cướp biển Vikings, nổi tiếng hung ác, đi đánh phá khắp vùng duyên hải Tây Âu với những chiến thuyền drakkars mũi cong, nơi nào cũng hãi ; nay họ hiền hòa bác ái như vậy, hẳn là do nền giáo dục, văn hóa ngày nay của họ. Chắc tôi khỏi cần nói thêm.
Lời kết
Những chuyện kể trên, dù sao cũng mang tính dính dấp tới công việc chung. Còn gì để tôi nói riêng với anh Tụy trong quan hệ cá nhân ? Gọn hơn cả, là tôi mượn mấy câu thơ của hai thi sĩ Trung Hoa đời Đường, để nói về chuyện « đón-đưa » anh của vợ chồng tôi:
Hoa kính bất tằng duyên khách tảo
Bồng môn kim thủy vị quân khai.
(trích bài Khách chí, của Đỗ Phủ) (18) ,
Nghĩa là :
Đường hoa không vì khách đến mà quét
Cửa cỏ nay vì khách mà mở.
Và
Mạc oán tha hương tạm ly biệt,
Tri quân đáo xứ tẫn phùng nghinh.
Nghĩa là :
Không than phiền ở chốn tha hương tạm ly biệt nhau,
[bởi vì ] Biết ông đi đâu cũng đều được người ta đón rước.
(trích bài Dạ biệt Vi tư sĩ, của Cao Thích) (18).
Nay tôi mượn ý, chuyển lại thành bốn câu (9-10-11-12 từ) dưới đây, đặt tên là Tạm biệt Hoàng giáo sư, gửi anh với tất cả tình cảm thân ái :
Cổng vào nơi chúng tôi thường không sơn mới,
Nhưng cửa nhà luôn sẵn mở khi anh chợt tới.
Biết anh đi đâu, đồng nghiệp cũng mến mộ đón đợi,
Nên nỗi buồn khi tạm chia tay với anh, rồi cũng vợi.
Chú thích :
(1) Cám ơn anh V.N.Q. đã tìm cho tôi xuất xứ chính xác của 2 câu này. Nói thêm là 2 câu này cũng là 2 câu mà Chiêu Liệt hoàng đế nhà Thục, tức là nhân vật Lưu Bị, kể trong Tam quốc chí, khi sắp chết, dùng làm lời mào đầu khi gửi gắm con mình cho Khổng Minh.
(2) Ông Lê Thước (1891-1975), đỗ giải nguyên khoa thi hương cuối cùng ở Nghệ An (1918) rồi tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội (1921), là một trong những nhà giáo được kính trọng đầu thế kỉ 20. Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Ban chấp hành Trung uơng mặt trận Liên Việt, rồi công tác ở Ban Tu thư bộ Giáo dục, và vụ Bảo tồn bảo tàng bộ Văn hóa. Ông là soạn giả, dịch giả nhiều sách về Nguyễn Du, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Khuyến, và là tác giả của cuốn « Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ » (1928). Theo cuốn sách « Giáo sư Lê Văn Thiêm », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2003, (bài của cố GS Nguyễn Văn Đạo), ông Lê Thước là anh em con cô con cậu với ông Thiêm, và là thân sinh ra Lê Thiệu Huy, một sinh viên đặc biệt xuất sắc ở Đại học Hà Nội, đỗ mấy bằng cử nhân lúc rất trẻ tuổi vào khoảng những năm 1939, 1940 của thế kỉ 20. Tháng 8 năm 1945, Lê Thiệu Huy theo Cách mạng, tham gia vụ bắt nhóm của thiếu tá Castella, nhảy dù xuống gần Huế (mang mật lệnh của tướng De Gaulle định lập lại chính quyền bảo hộ của Pháp ở Trung Kỳ – điều này được kể kỹ trong cuốn « Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sĩ đường số 4 anh hùng », nxb Trẻ, 2004). Sau đó, Lê Thiệu Huy được Chính phủ ta cử sang Lào giúp nước bạn xây dựng quân đội, được cử đi bảo vệ hoàng thân « đỏ » Souphanouvong, và đã hy sinh vào tháng 3 năm 1946. Cũng theo bài viết của anh Nguyễn Văn Đạo đã dẫn trên : sau này, khi hoàn thành luận án tiến sĩ nhà nước của mình tại Paris 1947, anh Lê Văn Thiêm có lời đề tặng cháu mình (vốn chỉ chênh nhau có 2 tuổi và rất thân thiết như đôi bạn) bằng tiếng Đức : Meinem Freund Lê Thiệu Huy, Gefallen auf dem Mekong für Vietnam in Fruhling 1946 (Kính dâng người bạn của tôi : Lê Thiệu Huy, đã hy sinh cho [tổ quốc] Việt Nam trên sông Mê Kông mùa xuân 1946). Nhà nước Lào đã tặng Huân chương cao nhất cho Lê Thiệu Huy. Ông Lê Thước có bài thơ « Khóc con », với hai câu : «Treo gươm nghĩa liệt soi ba nước. Uổng kiếp tài hoa mới nửa đời ».
(3) Ông Hoàng Ngọc Phách (1896-1973) tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội là nhà giáo, hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ tỉnh Bắc Ninh. Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông làm giám đốc giáo dục nhiều địa phương , rồi về công tác ở Ban Tu thư bộ Giáo dục. Ông có nhiều tác phẩm nghiên cứu chung hay riêng, về văn học. Nhưng ông được nhiều người biết đến hơn cả là do cuốn tiểu thuyết Tố Tâm (1925).
(4) Ông Cảnh (tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội thời Pháp thuộc) là thày cũ của tôi hồi tôi học ở trường trung học Nguyễn Khuyến ở Yên Mô năm 1947-1949 thời Kháng chiến chống Pháp. Tôi xin trích lại đây một đoạn bài viết của tôi « Người cũ Yên Mô » đăng trong Kỷ yếu 2001 liên trường Thành chung, Nguyến Khuyến, Trà Bắc, Yên Mô,…, rồi trong cuốn sách của tôi « Tự sự của người xa quê hương » (Chuyện gia đình và ngoài đời), nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004 :
Thế là đã năm mươi mấy năm tôi rời Yên Mô không trở lại. Trọ ở đó từ cuối 1947, tôi đã trải học trường Nguyễn Khuyến-Nguyễn Thượng Hiền qua lớp đệ nhị phổ thông rồi một phần lớp đệ tam phổ thông, thi nhảy bằng Trung học phổ thông, rồi học mấy ngày lớp đệ nhất chuyên khoa, đến khi quân đội viễn chinh Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm cuối 1949. Chắc tôi chẳng cần nhắc đến những ngày ăn ở kham khổ, tắm giếng mùa đông, những buổi hội hiếm hoi, nhưng với không khí học tập chuyên cần dù cho sách thiếu, vở xấu, mực nhoè, đèn dầu tù mù, vv. Tôi muốn tập trung nhắc tới vài người cũ Yên Mô mà tôi tình cờ được gặp lại, đặc biệt là những người mà nhiều anh chị học sinh cũ biết. […] Hè 1970, vào dịp trong nước mời tôi, với tư cách là giáo sư Đại học Paris, về làm thí điểm cho việc Việt kiều về làm việc ngắn hạn, tôi có thuyết trình chuyên môn ở trụ sở trường Đại học Hà Nội cũ. Buổi đầu, trong giờ tạm nghỉ giải lao trước khi tiếp tục, một số ngưòi lại hỏi thăm, chợt có một người đến cạnh tôi bảo : « Nên nghỉ nói đi một lát kẻo mệt đấy ». Tôi quay lại nhìn, chợt nhận ra ngay thày Đỗ Trọng Cảnh dạy Vạn vật học hồi tôi còn nhỏ, học đệ nhị phổ thông (lớp 5 ngày nay). Thế là đã hơn 20 năm mới gặp lại thày. Thày nghe tôi về, nên thày lại dự buổi thuyết trình, tuy đề tài không thuộc lĩnh vực của thày, mà chỉ với mục đích tìm tôi vì thày còn nhớ tôi ; may mà tôi nhận ra ngay vì thày không thay đổi. Chỉ kịp trao đổi với thày vài câu thăm hỏi vì ngày ấy còn chiến tranh, chương trình làm việc và đi lại của tôi được tổ chức rất sít sao, tôi không có dịp gặp lại. Khi chiến tranh đã chấm dứt, hè 1975 tôi lại về nước với mục đích thăm hỏi bà con và người quen, và mừng mọi người đã tai qua nạn khỏi ; lần này, tôi có nhờ các anh tôi hỏi được địa chỉ của thày, để tới thăm. Thuở ấy rất nghèo nàn, nhà thày ở trong một ngõ hẻm, bùn lầy, chật chội, trải chiếu ngồi dưới sàn, uống chén nước lọc, ăn vài viên lạc rang, chụp chung với thày một tấm ảnh, kỷ niệm một thày học nghiêm trang tận tụy mà tôi quí trọng từ thuở còn học thày ...
(5) Ông họ Bùi, sinh năm 1918 tại Hà Tĩnh, viết cuốn phê bình văn học « Dưới mắt tôi », 1939. Ông đi kháng chiến, có học ở Trung Quốc, giỏi chữ Hán, dịch chuyện Lỗ Tấn, và viết cuốn « Hương hoa đất nước», nghiên cứu tiểu luận, Hà Nội, nxb Văn học 1979. Tạp chí Văn học có đăng nhiều bài của ông. Ông cũng là đồng tác giả của cuốn “Tiếng cười dân gian Việt Nam”, nxb KHXH, 1979.
(6) Ông Alexander Grothendieck (1926- .), nhà Toán học, chuyên gia về Hình học đại số, huy chương Fields năm 1966. Lúc sang Việt Nam, ông đang là giáo sư ở Institut des Hautes Etudes Scientifiques (vùng Paris), rồi sau đó là giáo sư ở Đại học Montpellier đến khi nghỉ hưu, và lui về ở ẩn, cắt đứt quan hệ với giới khoa học và xã hội bên ngoài. Ông được nhiều nhà Toán học coi là một trong những bộ óc lớn nhất về Toán học của thế kỉ 20.
(7) Ông Leonid Kantorovitch (1912-1986), vốn là nhà Toán học, sau chuyên nghiên cứu về Toán kinh tế, giáo sư trường đại học Leningrad lúc còn rất trẻ tuổi, sau là giám đốc một trung tâm nghiên cứu về Toán kinh tế ở Đại học Mạc Tư Khoa (từ 1971). Giải thưởng Nobel về Kinh tế năm 1975.
(8) Năm 1981, tôi về nước lần cuối cùng (từ 3-8-1981 đến 16-8-1981), với tư cách trưởng một Đoàn đại biểu trí thức Việt kiều ở Pháp do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tên gọi Phó Thủ tướng thời đó) Võ Nguyên Giáp và Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước mời về để: nghe và trình bày ý kiến của mình về chính sách khoa học và kỹ thuật, đặt cơ sở cho việc đóng góp chuyên môn sao cho có hiệu quả và năng suất của đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài với đất nước. Vào dịp đó, một buổi chiều, khi đang làm việc với ông Lê Khắc, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, tôi được văn phòng của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tên gọi Thủ tướng lúc bấy giờ) Phạm Văn Đồng gọi điện cho biết là Chủ tịch lời cơm riêng tôi buổi tối. Lẽ ra, buổi đó dự định có cả anh Tụy, nhưng vì điện thoại nhà anh hỏng, nên không gọi được anh. Tôi cứ tiếc mãi lỡ dịp, vì bữa đó một mình tôi, tôi chỉ phát biểu được những điều liên quan đến trí thức Việt kiều là chính. Giả thử như có cả hai anh em, bên trong và bên ngoài, thì có lẽ nói được với Chủ tịch Phạm Văn Đồng nhiều điều mà chúng tôi trăn trở và muốn trực tiếp kiến nghị về công tác và cách cư xử đối với trí thức nói chung.
Cũng nhân dịp này, tôi muốn kể một câu chuyện khác mà tôi gặp phải hè 1981 đó. Chuyện xảy ra đã 26 năm ; đó là một thời gian đã dài, có lẽ đủ « thời hiệu » (prescription) để có thể kể ra mà không gây phiền đến ai. Tôi nhớ sao kể vậy, không hề bịa đặt, dù là tôi có thể nhìn dưới lăng kính chủ quan cá nhân. Một buổi chiều, sau khi làm việc, tôi về khách sạn thì thấy hai người đang đợi. Hai anh tự giới thiệu là cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương đến gặp tôi để hỏi ý tôi về một chuyện xảy ra ở Pháp ; thời gian đã quá lâu, tôi không nhớ tên hai anh này. Câu chuyện đại khái như sau. Có lời đồn, trước đó dăm tháng là trong nhóm các vị từ trong nước sang làm việc ở một Đại học Pháp – tôi dùng chữ « vị » để tránh nói anh hay chị – có một cuộc trao đổi ý kiến nội bộ về việc phải nộp một tỉ số tiền lương (điều mà tôi đã kể trong bài về trường hợp anh Tụy). Có một vị, tính vốn rất thận trọng, cho rằng nên chấp hành nghiêm chỉnh lệ đó, vì phải có «lương tâm ».Một vị khác, tính hay bông đùa, trả lời rằng ai muốn có «tâm » thì cứ có « tâm », còn vị đã lao động thì « lương » là của riêng vị. Ngoài ra, còn có một vị khác, có nhờ một đồng nghiệp Pháp, chủ nhiệm bộ môn nơi vị làm việc, làm cho vị một giấy chứng nhận là đời sống ở Pháp đắt đỏ, tiền lương cần để tiêu pha, không còn đủ để góp cái tỉ số phải nộp. Không biết qua ngỏ nào mà lời đồn đó về đến trong nước. Hai anh cán bộ hỏi tôi về sự thực hư, và muốn biết ý kiến của tôi về cách nên xử sự, có nên phải kỷ luật hay không (ý muốn nói đến cái việc phong hàm giáo sư vừa mới bắt đầu từ năm 1980). Tôi nghĩ rằng việc hỏi ý tôi, có lẽ xuất phát từ việc lúc đó tôi đang là chủ tịch Hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tại Pháp nên trong nước cho rằng tôi phần nào biết vấn đề, và cũng vì 6 năm trước đó tôi là người kiến nghị việc lập lại chức vụ giáo sư (xem chú thích (9) dưới đây). Tôi trả lời hai anh rằng tôi cũng có nghe lời đồn đại nói trên, nhưng tôi không thể xác định thực hư thế nào. Điều mà tôi có thể phát biểu được là xét về tình về lý, dù lời đồn là đúng, thì cũng nên thông cảm và « giảm khinh » : cuộc sống vật chất trong nước đang rất khó khăn, người trí thức có trình độ lại rất khan hiếm, nếu tình hình ở ta chưa cho phép đãi ngộ tương xứng, thì ít nhất khi ra ngoài cũng còn thể diện quốc gia ; vả lại, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần căn dặn Việt kiều chúng tôi ở bên ngoài là không nên ép buộc, mà để người ta tự nguyện đóng góp – nếu suy rộng ra thì lời căn dặn đó cũng có thể áp dụng cho người trí thức trong nước – ai tự nguyện thì coi là quí, còn không thì cũng không nên « nặng tay ». Nghe tôi phát biểu như vậy, hai anh cán bộ cám ơn rồi ra về mà không nói gì thêm. Việc này, có thể các đương sự có liên quan cũng không biết (?), sau đó tôi không thấy động tĩnh gì cả, hay là có sự kiểm thảo nội bộ nào đó (nhưng không nặng nề) mà tôi không biết chăng.
(9) Thí dụ : xem bài tôi viết về bộ trưởng Tạ Quang Bửu («Tưởng nhớ một người thân », in trong cuốn sách « GS Tạ Quang Bửu, con người và sự nghiệp » do Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản, năm 2000, hay trong cuốn sách của tôi « Chung quanh việc Học », nxb Thanh Niên Hà Nội 2004). Tôi kiến nghị từ mùa xuân 1975, vậy mà mãi đến năm 1980 đợt đầu tiên phong giáo sư mới được thực hiện. Trong 5 năm đó, tôi không ngừng nhắc nhở thúc giục. Ông Bửu ngay từ đầu, lúc ấy còn đang tại chức, luôn luôn khuyến khích tôi phát biểu, và tôi hiểu là vì tự ông cũng không giải quyết được. Cũng cần nói một một cách công bằng : ông Trần Quang Huy, lúc đó cũng đang tại chức, vốn bị anh chị em trí thức coi là người khó tính, tuy lúc đầu ông có tỏ ý e ngại, nhưng sau khi trao đổi với tôi, thì ông nói là hoàn toàn ủng hộ. Trong khi thuyết phục, tôi nói với mấy ông là cứ lấy tôi làm mốc : tôi chỉ là một nhà khoa học « bình thường », vậy mà tôi đã là giáo sư ở đại học Pháp từ lúc chưa đầy 30 tuổi và giáo sư titulaire de chaire ở Đại học Paris lúc 35 tuổi, không lẽ Việt Nam còn đòi hỏi kén chọn đến mức nào? Ông Trần Quang Huy còn hỏi tôi giải quyết thế nào về những tiêu chuẩn đặc biệt lúc đó ở Việt Nam : nhà ở, xe hơi, tem phiếu. Tôi trả lời ông là chiến tranh đã chấm dứt, những tiêu chuẩn đặc biệt này trước sau rồi sẽ bỏ ; lúc này người khoa học không cầu mấy thứ đó, họ chỉ mong vai trò của họ được công nhận tương xứng, vậy nên tách rời việc phong giáo sư với những tiêu chuẩn vật chất này ; và ông tỏ ý đồng tình. Sau đó, nhiều lần, ông phân trần với tôi là sự chậm trễ thực hiện không do ông ; ông bảo sự chậm trễ một phần là do sự giằng co giữa chính mấy nhà khoa học (?). Hè 1979, tôi đưa vợ tôi về thăm trong nước ; tuy chuyến đi này là chuyến đi cá nhân, nhưng ông Nguyễn Đình Tứ, lúc đó là bộ trưởng Bộ đại học thay ông Bửu từ một thời gian, nghe tin tôi đang ở Hà Nội, ông có nhã ý mời tôi tới gặp ông ở Bộ. Ông bảo ông chỉ đặt với tôi một câu hỏi : có một số nhà khoa học, đang công tác trong sản xuất, cũng muốn được phong giáo sư, vậy thì tôi nghĩ gì? Ông còn bảo là nếu tôi có được lời đáp thỏa đáng, thì ông sẽ ký ngay quyết định. Tôi có trả lời ông như sau : trên nguyên tắc, giáo sư là một chức vụ để giảng dạy, nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu ở đại học, nhưng tôi cũng có thể hiểu cái nguyện vọng của một số cán bộ muốn được hưởng chút danh vọng sau bao năm gian khổ ; dù sao đó cũng là một thứ sức ép của xã hội, cho nên nếu cần phải chịu cái « tiểu tiết » để thực hiện cái « cần thiết », thì tôi cũng cố thông cảm. Thế rồi đợt đầu « phong giáo sư » được tiến hành năm 1980 ; (nếu tôi nhớ không nhầm thì ông HST, sau này một thời làm chủ tịch Hội đồng quản trị của một Tổng công ty, được phong GS trong đợt đầu này). Và sau đó tiến hành thêm mấy đợt, nhưng đã lạc mất ý ban đầu, và tiếp tục « phong hàm » ; còn tôi thì cứ phải lải nhải điều trần mãi cho cái quan niệm « chức vụ » cho đến tận ngày nay. Lại còn chuyện này nữa : đối với mấy người giáo sư đại học ở miền Nam trước ngày Giải phóng, ở lại không ra đi, tôi đề nghị đặc cách cho họ được giữ cái chức danh giáo sư cũ nếu còn để họ công tác, vì lẽ rằng « nếu tin thì hãy dùng, nếu dùng thì nên tin ». Hè năm 1981, ông Nguyễn Văn Hường, phó chủ nhiệm phụ trách Văn phòng 10 trên phủ Thủ tướng, vốn cũng là người « ủng hộ» tôi trong việc kiến nghị, bảo tôi : về việc này rốt cục, khi tiến hành mấy đợt phong hàm, « người ta » cũng bình bàu, cũng hội đồng xét duyệt tuốt tuột, kẻ được người không, ...
Tôi thấy cần nói rõ ở đây để tránh sự hiểu lầm : tôi kể những gì mà tôi biết và tôi đã làm, chứ tôi không hề nói là vì tôi mà việc này việc kia đã được thực hiện. Tôi cũng muốn nói rằng việc phong giáo sư này nó cũng như cái quả lắc, lúc đầu thì ngần ngại khắt khe, lúc sau thì biến dạng, đôi khi chẳng còn chất lượng gì nữa.
Nhân đây, tôi cũng xin được nói một câu về cái bằng tiến sĩ. Tôi cũng là « thủ phạm » trong việc kiến nghị ở Việt Nam chỉ nên có một bằng tiến sĩ kiểu Ph.D. như ở Mỹ, trước thì phát biểu nội bộ bằng nói hay thư, sau này thì viết cả thành bài đăng trên báo, trong đó tôi có phân tích lợi ích (thí dụ như : bài Vài suy nghĩ chung quanh vấn đề « đào tạo qua nghiên cứu » đăng trong trong tạp chí Tia Sáng, số tháng 11/1998, Thời Đại số 3, 1999 và trong mục Nhịp cầu báo Nông Nghiệp Việt Nam 17/12/2001). Nhưng khi đã có quyết định một bằng tiến sĩ rồi, thì đâu đó lại xảy ra cái danh xưng TSKH (tiến sĩ khoa học, mà theo tôi hiểu nghĩa là bằng tiến sĩ hạng nặng lấy ở nước ngoài), có lẽ vì cái bằng tiến sĩ trong nước bị phá giá, kéo theo sự buộc lòng một số người phải dùng danh xưng nói trên để phân biệt ?
(10) Xem bài « Nhà giáo đại học và những vấn đề liên quan » của tôi trong cuốn sách « Học gần Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005 ; một phần bài này được trích đăng trên báo Tiền Phong số 36 ra ngày 21/2/2005 dưới đầu đề « Cần nhìn lại nhà giáo đại học», và báo Tuổi trẻ online đăng lại ngày 22/2/2005.
(11) Thí dụ như trong cuốn sách của tôi « Tự sự của người xa quê hương » (Chuyện gia đình và ngoài đời), nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004. Trong đoạn viết đăng trong cuốn sách này, tôi có kể lại chi tiết tiếng vang của việc thành lập trường ở trong và ngoài nước, qua báo chí và chính giới ngoại quốc, việc vợ chồng tôi quyên góp tiền bạc để « nuôi » trường như thế nào, vv.
Xin kể thêm một chi tiết có liên quan đến anh Tụy. Cách đây hơn một năm, ngày 15/1/2006, báo mạng Vietnamnet có đăng bài báo: « Ngôi trường không thích... lên ti vi : Chuyện người khai sáng » (http://vietnamnet.vn/psks/2006/01/532705/). Trong bài báo này, phóng viên LHN viết về trường đại học dân lập Thăng Long (TTDHTL), và theo lời kể, thuật lại là bà Hoàng Xuân Sính là người khai sáng duy nhất. Ngay sau đó, tôi có viết một thư gửi cho Tòa soạn Vietnamnet và phóng viên LHN, trong đó, với lời lẽ rất ôn tồn, tôi đưa tài liệu, và nhắc rằng, tuy tòa báo thực tâm (de bonne foi), nhưng sẽ bất công nếu chỉ «vinh danh » 1 người mà không nói tới 4 người kia – và tôi nói thêm là tôi định cư ở nước ngoài, không cần trong nước nói đến. Tôi có đề nghị là họ có thể kiểm chứng bằng cách : đọc các tài liệu tôi gửi cho họ (trong đó có ghi tên các báo đăng tin thuở đó, và có cả bản chụp bức « thư gợi ý » đề ngày 2-4-1988 của tôi gửi 5 anh chị) ; tìm gặp các GS Hoàng Tụy, Phan Đình Diệu và Nguyễn Đình Trí để hỏi cho rõ (Bùi Trọng Lựu, anh tôi, vừa mất trước đó vài ngày) ; lại thăm căn nhà 34 Hàn Thuyên, vốn là văn phòng cũ của TTĐHTL , nơi có gắn 2 tấm bia kể sự tích TTĐHTL mà tôi đặt khắc năm 1962 để ghi sự việc và công đức ; nếu cần có thể hỏi thăm một chứng nhân khác hiện còn sống. Tôi cũng nói là tôi không có ác ý muốn hại ai mà chỉ muốn lập lại sự công bằng. Do đó phóng viên Vietnamnet có lại thăm căn nhà nói trên, đọc 2 tấm bia và có lại hỏi chuyện anh Hoàng Tụy. Tôi đồng tình với thái độ khoan dung của anh Tụy : yêu cầu Vietnamnet tìm cách xử sự cho đúng, đừng để người đọc hiểu lầm, đồng thời nhẹ nhàng không làm mất mặt ai. Do đó, trong tinh thần phục thiện muốn lập lại phần nào sự thật, ngày 26-1-2006, Vietnamnet đã đăng bài báo « Chuyện về một tấm văn bia » của cùng phóng viên : http://vietnamnet.vn/giaoduc/2004/10/338574/
(12) Thí dụ như : §§« Vài suy nghĩ về công học và tư học », Bùi Trọng Liễu, Tuần Tin tức 10-4-1993 và Quê hương tháng 7-1993.
« Về vai trò của Nhà nước trong giáo dục đại học », Bùi Trọng Liễu, Diễn Đàn, tháng 1-1994, Tia Sáng tháng 12-1998 trích đăng 1 đoạn.
« Có thể coi Giáo dục Đào tạo là hàng hóa được không ? », Bùi Trọng Liễu, Văn Nghệ, 19/2/2005.
« GS có những kỳ vọng gì với Quốc hội khóa XI về Chấn hưng Giáo dục nước nhà? », Bùi Trọng Liễu trả lời phỏng vấn từ xa của phóng viên Hạ Anh của báo mạng Vietnamnet 25/10/2004, đăng trong http://vietnamnet.vn/giaoduc/2004/10/338574/=
(13) Thoạt đầu, tôi điều trần qua thư từ nội bộ, đặc biệt là can việc thành lập hai Đại học Quốc gia, nếu như không cương quyết thanh lọc cán bộ nhân viên (theo tiêu chuẩn trình độ khoa học) trước khi đưa vào đó. Theo tôi, nếu sự thành lập hai đại học quốc gia này chỉ là sự gộp lại nguyên si một số trường đã có, thì dù những ưu điểm được cộng lại, nhưng những khuyết tật cũng bị cộng lại, và sẽ rất khó nâng cấp. Anh Tụy cũng có ý nghĩ tương tự. Và nếu tôi hiểu không lầm, chính [cố] giáo sư Nguyễn Văn Đạo – giám đốc đầu tiên của Đại học Quốc gia Hà Nội, người mà tôi thương tiếc và coi là một đồng minh tin cậy trong việc kiến nghị chấn hưng giáo dục – cũng phần nào chia sẻ nhận xét này, tuy phải buộc lòng đứng ra thực hiện sự gộp các trường vì không thể làm khác. Anh Đạo cũng là một trong những người tham gia xê-mi-na và ký bản « Kiến nghị chấn hưng giáo dục » kể trong phần X trong bài. Những năm tiếp theo, tôi đã viết một số bài báo trình bày chi tiết các lý do tại sao nên thành lập mới một đại học, thí dụ các bài báo đăng :
« Đào tạo nhân tài hay đào tạo người biết việc? », Tia Sáng, tháng 9-2004.
« Về đào tạo và sử dụng nhân tài », Văn Nghệ, 23-10-2004.(14) Đó là bài « Xây dựng một Đại học mới » mà báo Tiền Phong đăng dưới đầu đề « Xây dựng Đại Học đẳng cấp quốc tế: Không nên vá víu ! » ngày 14/10/2005, và Nhân Dân và Vietnamnet đăng lại cùng ngày: http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=25275&ChannelID=71
http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=41&sub=71&article=43990
http://vietnamnet.vn/dhqt/2005/10/500018/
Vì bài này ngắn, tôi xin chép lại nguyên văn như sau :
Đã từ nhiều năm nay, tôi kiến nghị việc thành lập một đại học hoàn toàn mới có tiêu chuẩn quốc tế – mà tôi gọi là đại học « hoa tiêu » công lập... Và đừng có tham, đừng làm nhiều, chỉ lập một cái thôi, ở ngay tại Thủ đô.
Đối với tôi: Vấn đề không còn là « nên hay không nên », mà là « tại sao tới nay chưa thực hiện ?».
Không chỉ riêng tôi là người đã hành nghề ở ngoài nước, mà chính một số nhà khoa học trong nước cũng kiến nghị như vậy. Thêm vào đó chính chuyên gia nước ngoài được vấn kế, họ cũng trả lời như thế, vậy tại sao còn chờ đợi ?§§Tóm tắt một cách cụ thể :
1. Nên thành lập một đại học hoàn toàn mới, mà trong đó đào tạo và nghiên cứu gắn liền với nhau, đa khoa kết hợp, nhưng bước đầu chỉ mở những khoa nào mà ta có đủ sức mạnh, chủ yếu là về đội ngũ nhà giáo, và có khả năng đáp ứng tài chính.
2. Đừng có tham, đừng làm nhiều, chỉ lập một cái thôi, ở ngay tại Thủ đô. Đó là giải pháp duy nhất để chấn hưng có hiệu quả mà không gây xáo trộn.
Dứt khoát không nên vá víu kiểu « cải tạo từ các đại học cũ sẵn có ». Kết quả thực tế cho thấy rằng việc gộp các trường cũ lại thành những cơ sở đồ sộ, là một sai lầm, rất tốn kém mà không mang lại hiệu quả mong đợi, cứ sai rồi sửa, rồi càng sửa càng sai.
3. Theo kinh nghiệm đã làm ở các nước phát triển cao, cách tiến hành là :§§Trao hẳn nhiệm vụ thành lập đại học mới này cho một GS có danh vọng, có ý tưởng mới (dứt khoát không phải là người ở bộ máy quản lý hành chính). Người « đặc nhiệm » này (tiếng Pháp gọi là « chargé de mission »), trong một thời gian có hạn, được toàn quyền lựa chọn thành viên hội đồng khoa học và đồng thời là ban trị sự:
Họ có nhiệm vụ thành lập cơ sở hành chính và vật chất, soạn thảo văn bản xác định sứ mạng của trường, tuyển chọn nhà giáo đợt đầu, thành lập các ban soạn lập chương trình giảng dạy, tuyển sinh đợt đầu, vv. Nhiệm vụ ngắn hạn của người « đặc nhiệm » và cộng tác viên làm tăng tính cách « vô tư » của họ.
Sau đó, chính đội ngũ nhà giáo được tuyển sẽ tự bầu ra các hội đồng, các ban, của trường cho các đợt tiếp theo. Trong hoàn cảnh hiện tại của nước nhà, người mà tôi đề cử để làm người « đặc nhiệm » này là GS Hoàng Tụy. Đồng thời, Nhà nước nên ưu tiên tập trung mở ra một số « chỗ làm - chức vụ giáo sư » dành riêng cho đại học hoa tiêu này, để hội đồng khoa học của đại học này tuyển giáo sư mới trong số các nhà khoa học trẻ có tài năng đã có bằng tiến sĩ, đặc biệt là du học ở nước ngoài về. Một số cơ sở vật chất của các viện nghiên cứu, nên được trưng dụng để biến thành những cơ sở vật chất đầu tiên của trường này.
4. Bước đầu, nên song song mở năm thứ nhất đại học đồng thời với cấp đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ (trong những ngành nào có khả năng).
Đối với đội ngũ nhà giáo, nên có ngân quỹ đặc biệt cho trường để thù lao tương xứng, để họ có thể toàn tâm toàn ý làm việc có hiệu quả. Sinh viên của trường, bước đầu không cần đông, sau khi được tuyển kỹ, cần có sự nâng đỡ như miễn phí, thậm chí cấp học bổng cho những sinh viên nghèo.
Sự tự chủ của trường trong việc tuyển sinh, trong việc tuyển chọn nhà giáo, trong việc lập chương trình giảng dạy, trong việc sử dụng ngân quỹ Nhà nước cấp, cũng như trong việc tìm kiếm các nguồn tài chính khác (hợp đồng với doanh nghiệp, trợ cấp của các nhà hảo tâm, vv.), không làm giảm vai trò của Nhà nước, mà chỉ là một sự « bình thường hóa », chấn chỉnh lại một tình trạng bất cập như hiện nay.
5. Sự cộng tác với những đại học danh tiếng nước ngoài cần thiết, chủ yếu trong việc nhờ họ giúp đào tạo nhân lực cho những ngành mà đại học hoa tiêu này chưa có hoặc còn yếu. Nên gửi nghiên cứu sinh của ta sang nước họ để họ đào tạo giúp, song song với việc họ gửi giáo sư thỉnh giảng sang giảng dạy, cũng như chuyển giao kinh nghiệm quản lý của họ.
Tôi nghĩ rằng đó là con đường duy nhất để có thể chấn hưng giáo dục đại học nói riêng, và từ đó chấn hưng nền giáo dục nói chung của nước nhà.
(15) Bài báo mang đầu đề : « Đứng nhầm lớp » còn hại hơn « ngồi nhầm lớp », đăng trên Vietnamnet ngày 14/5/2007, và Hà Nội Mới đăng lại. Xem: http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/05/694528/
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/47/129980/
(16) Tôi đã thử diễn tả những bất cập đó, có khi có nguồn gốc từ thuở xa xưa, bằng bài thơ « Gửi ông Khổng tử » trong bài viết của tôi :
«Giáo dục đại học : Những vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng », Thời Đại Mới số 6, tháng 11-2005
Tôi vốn là người ưa phát biểu ôn tồn, nhưng đôi khi cũng đành bắt chước người xưa, dùng những hình thức phát biểu đặc biệt để cố gây một sự chú ý. Vì đó mà có bài thơ này. Tôi chép lại nguyên văn ở đây với cả chú thích, ghi thứ tự a,b,c:
« Gửi ông Khổng tử »
Khổng tử, ông người Tàu, sinh ra ở nước Lỗ,
Lũ hủ nho nước tôi vái ông, đặt ông trên cả bố (a).
Họ phục nước ông văn minh,
Họ chê dân tôi mọi rợ, sơn răng đóng khố (b).
Họ học ông những điều hay, điều dở,
Rồi họ chế biến cả những điều vô bổ.
Họ lập Văn miếu (c) , họ lập Võ miếu (d),
Họ thờ người nước ông, hơn cả thờ tổ (e).
Họ bày ra thứ chữ Nho,
Làm dân nước tôi, nhiều thể kỉ, học khổ (g).
Mấy thế kỉ độn đần, hiểu biết thô lỗ.
Hậu quả đến tận nay, còn gây ra những điều nhăng nhố.
Chẳng qua vì trọng sự vinh danh, hám ngồi chiếu trên ăn cỗ.
Lũ hủ nho tân thời, hậu sinh khả ố,
Dẫn học thuyết phương Tây,
Nhưng trong đầu họ, tư tưởng tôn ti của ông đâu có đổ !
Người khôn nước mình thì chẳng nghe,
Với người nước ngoài thì vái như búa bổ.
Lời, ý phát ra, sặc mùi lưỡi gỗ.
Đấy cũng là một yếu tố
Gây ra một số chuyện lạ kỳ, lố lăng tổ bố:
Dỡ ngói, ném phao ;
Học không nổi, thi không đạt, mà vẫn đỗ.
Bằng thật bằng giả cũng là bằng,
Công việc làm thì dành chỗ,
Chèn ép những người năng nổ.
Đâu có phải một vài kẻ, bè cánh cũng cả ổ.
Lợi cho kẻ giàu, thiệt cho kẻ nghèo, bất công trong phân bố.
Tưởng rằng tân, hóa ra vẫn cổ (h).
Vinh danh giáo sư viện sĩ, bộ óc vĩ đại, danh nhân thế giới,…
Để cho bọn kinh doanh tiểu sử quốc tế dụ dỗ (k).
Thật lố,
Mà không biết rằng mình ngố.
Học thế, dạy thế, muốn mua bán giáo dục thế, có mà xuống hố.
Chứng kiến việc họ làm, người ngay muốn độn thổ.
Khổng tử ông ơi, nếu ông linh thiêng, phù phép cho họ tỉnh ngộ.
Nếu không, xin mời tư tưởng ông về Tàu,
Cho Hồng vệ binh họ tố.
Để dân tôi đổi mới tư duy,
Để những việc lố lăng chóng xuống lỗ.
Để danh nước tôi khỏi hoen ố,
Để con cháu chúng tôi khỏi hổ.
Chú thích:
(a) Quân, sư, phụ.
(b) Câu người xưa « sơn răng, chằng đít, đánh đai đầu », nghĩa là nhuộm răng đen, đóng khố và chít khăn.
(c) Theo Đại việt sử ký, Văn miếu ở Hà Nội, từ lúc thành lập, thờ Khổng tử, Chu công, Tứ phối (Nhan tử, Tăng tử, Tử tư, Mạnh tử) và thất thập nhị hiền (72 người học trò giỏi của Khổng tử) đều là người Trung Hoa. Còn Chu (Văn) An người nước ta (1292-1370, thời nhà Trần) được thờ theo ở Văn miếu.
(d) Theo bài « Võ miếu ở Huế » của Phan Thuận An, trong « Hồn Việt » số 2, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, nxb Văn Học, 2004, tr. 291-309, tôi tóm tắt như sau : Võ miếu ở Huế được bắt đầu xây dựng vào năm 1835, thời vua Minh Mạng, đến 1836 thì xong. Tại Miếu chính thờ 12 danh tướng Trung Hoa sau đây : ở án chính trung, thờ Khương Tử Nha (thời nhà Chu) ; ở án phía đông, thờ 6 nhân vật : Quản Trọng (nước Tề thời Đông Chu liệt quốc), Tôn Võ (nước Ngô thời Đông Chu liệt quốc), Hàn Tín (nhà Hán), Lý Tĩnh (nhà Đường), Lý Thanh (nhà Đường), Từ Đạt (nhà Minh) ; ở án phía tây, thờ 5 nhân vật : Điền Nhương Thư (nước Tề thời Đông Chu liệt quốc), Trương Lương (nhà Hán), Gia Cát Lượng (nhà Hán thời Tam quốc), Quách Tử Nghi (nhà Đường), Nhạc Phi (nhà Tống). Tại 2 Miếu phụ (Tả Vu và Hữu Vu), thờ 6 nhân vật Việt Nam ; ở Tả Vu, thờ 3 vị : Trần Quốc Tuấn (1226-1300, nhà Trần) ; Nguyễn Hữu Tiến (1602-1665, thời các chúa Nguyễn), Tôn Thất Hội (1757-1789, thời Nguyễn Ánh) ; ở Hữu Vu, thờ 3 vị : Lê Khôi ( ?-1446, nhà Lê), Nguyễn Hữu Dật (1603-1681, thời các chúa Nguyễn) ; Nguyễn Văn Trương (1740-1810, thời Nguyễn Ánh-Gia Long). Với binh lửa và thời gian, hiện nay, chỉ còn 10 bài vị thờ 5 nhân vật Trung Hoa (Quản Trọng, Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lý Thanh, Quách Tử Nghi) và 5 nhân vật Việt Nam (Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Trương). 5 bài vị thờ người Tàu thì được sơn son thếp vàng, trang trí kỹ, đều một cỡ cao khoảng 52,5cm ; 5 bài vị thờ người Việt Nam sơ sài hơn, sơn son nhưng không thếp vàng, cũng không trang trí gì, không cùng một cỡ, nhưng nói chung nhỏ hơn (cao từ 47cm đến 48cm).
(e) Trong bài Nhân đọc 2 lời bình về việc học của người xưa, đã in lại trong cuốn sách Chung quanh việc Học trên đây, tôi đã kể rằng ông Nguyễn Trường Tộ và ông Dương Bá Trạc phê bình cách học thiếu tinh thần tự lập và năng lực sáng tạo của người xưa.
(g) Trong bài báo Thoáng nghĩ về chữ Nho, đã in lại trong cuốn sách Chung quanh việc Học, trên đây, tôi đã nói ý nghĩ của tôi về cái thứ chữ này : viết thì viết như người Tàu, nhưng đọc ra thì người Tàu cũng không hiểu, người nước ta cũng không hiểu, trừ vua quan và nho sĩ. Chín thế kỉ học hành, thi cử, sách vở, văn bản, pháp lệnh vv. đều dùng thứ chữ Nho như vậy ; đến thời Pháp thuộc, năm 1918 mới bỏ thi Hương, 1919 mới bỏ thi Hội thi Đình.
(h) Thí dụ như câu chuyện ông Phạm Đình Hổ kể trong cuốn Vũ Trung tuỳ bút, mà tôi đã dẫn trong cuốn Chung quanh việc Học : thời Lê mạt, ông Nguyễn Hoãn, khi đi thi tiến sĩ, bài văn sách là do bài của sáu văn sĩ làm giúp cho trước.
(k) Trong cuốn Chung quanh việc Học đã dẫn trên, tôi đã kể sự ngộ nhận (về từ Academy), sự nhập nhằng tiếm xưng, tự tôn vinh hay để được tôn vinh. Và trong bài Bán hàm (cũng trong cuốn sách kể trên), tôi cũng đã nói tới mấy công ty kinh doanh tiểu sử lừa người nhẹ dạ. Và tôi cũng đã đề nghị giải pháp… « bán hàm ».
(17) Theo một nguồn, người La-mã cổ xưa, có cái mũ gọi là pileus libertatis, chỉ người công dân tự do (người nô lệ đã được giải phóng) mới được đội (trừ ngày lễ Saturnales, thì ai cũng có thể đội). Còn chiếc nhẫn tượng trưng của sự gắn bó thì cũng có thể thấy trong phong tục phương Tây như nhẫn cưới của cặp vợ chồng, nhẫn của các tu sĩ Thiên chúa giáo gắn bó với Chúa Trời , vv.
(18) Thơ văn đời Đường được chia ra làm 4 thời kỳ : Sơ Đường (618-712), Thịnh Đường (713-765), Trung Đường (766-835), Vãn Đường (836-907). Đỗ Phủ và Cao Thích là nhà thơ của thời Thịnh Đường. Có thể xem thêm trong « Đưòng thi trích dịch », của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb Văn học, tp HCM 2006
2. Một “đồng minh tin cậy”
trong việc Kiến nghị chấn hưng giáo dục
Vào dịp tưởng niệm GS Nguyễn Văn Đạo (*) , tôi viết bài này đăng trong
http://news.vnu.edu.vn/ttsk/Vietnamese/C1737/C1757/C2065/2007/08/N19019/?35 ,
bản tin (Bulletin) trên mạng của Đại học Quốc gia Hà Nội, mục « Sự kiện »: Hội thảo khoa học ngày 10/8/2007, kỷ niệm 70 ngày sinh GS. Nguyễn Văn Đạo.
Bùi Trọng Liễu
Tuy định cư ở nước ngoài, tôi quen biết anh Nguyễn Văn Đạo đã lâu lắm rồi, ít nhất là đã trên 30 năm, lâu tới mức tôi không còn nhớ rõ buổi đầu gặp anh là vào thời điểm nào, ở cái thuở anh còn chưa là giáo sư, viện sĩ VS, và chưa đảm nhiệm những chức vụ cao. Gặp anh ở trong nước, rồi gặp anh ở ngoài nước ; tôi tiếp anh ở nhà tôi ở Pháp ; anh tiếp Đoàn trí thức Việt kiều về nước làm việc hè 1981 do lời mời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng và Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (mà tôi là trưởng đoàn) tại Viện Khoa học Việt Nam mà lúc đó anh đang là Tổng thư ký ; rồi tôi còn gặp lại anh ở sứ quán Việt Nam những lần anh công du qua Pháp. Biết bao nhiêu kỷ niệm qua vài tấm hình chụp chung. Nhưng với tôi, đáng ghi nhớ hơn cả là những lần trao đổi ý kiến thân mật và tin cậy giữa anh và tôi qua thư từ về nền giáo dục đào tạo, mà anh luôn luôn trăn trở mong được sớm thấy chấn hưng. Mươi năm gần đây, tôi thỉnh thoảng hỏi thăm anh về tình hình giáo dục đại học trong nước trước khi viết thư hay bài « Kiến nghị » đăng báo, vì anh nắm rõ nhiều vấn đề, qua những cương vị quan trọng anh đã đảm nhiệm: giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội, ủy viên Hội đồng Chức danh Giáo sư nhà nước, chủ tịch Hội đồng Khoa học Tự nhiên- Hội đồng Khoa học Quốc gia, vv. Tôi còn giữ lại một mớ thư điện tử của anh gửi, đặc biệt là bức thư anh hỏi ý tôi về bài báo anh viết « Cần thay đổi cách xét và công nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư » trước khi anh gửi đăng trên báo, hay « Bản góp ý kiến về Giáo dục » mà anh phát biểu ngày 19/11/2006 tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ mấy tuần trước khi anh bị tai nạn.
Trong thư gửi chia buồn cùng chị Trần Thị Kim Chi, phu nhân của anh, khi được tin anh mất (11/12/2006), tôi viết : Anh mất đi làm cho tôi mất một “đồng minh” tin cậy trong việc kiến nghị đổi mới Giáo dục Đào tạo nước nhà, điều mà Anh luôn luôn quan tâm. Tôi cũng không quên việc Anh đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc xuất bản hai cuốn sách “Tự sự của người xa quê hương” và “Học gần Học xa” ở nxb ĐHQGHN và như vậy đã giúp tôi nói lên được với nhà lãnh đạo cũng như với dư luận, những “ý điều trần” của tôi về nền tri thức nước nhà.
Chính anh, ở cương vị Chủ tịch Hội Liên Lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, đã nhận viết lời giới thiệu hai cuốn sách đó, bởi vì anh hiểu tôi hơn ai hết trong mục tiêu viết sách này. Trong Lời giới thiệu cuốn sách đầu, anh viết [tôi trích] : Loại sách hồi ký hoặc tự sự với các lối viết khác nhau, đều nhằm ghi chép lại những sự việc hay cũng như dở đã xảy ra, những con người tốt hoặc xấu đã gặp. Những cuốn sách như vậy giúp chúng ta có được những thông tin bổ ích, về một giai đoạn lịch sử nhất định của đất nước và về những tập thể hoặc cá nhân nhất định. Đây là một cách lưu trữ tư liệu rất tốt để cho các thế hệ sau hướng tới cái chân, thiện, mỹ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nước ta, khi vấn đề sưu tập và lưu trữ chưa trở thành thói quen và hứng thú đối với đông đảo người dân. Trong Lời giới thiệu cuốn sách thứ nhì , anh viết [tôi trích] : Thiện ý của tác giả khi viết cuốn sách này là cố gắng đúc kết, chắt lọc những hiểu biết của thiên hạ, tìm tòi những cái mà tác giả cho là tinh túy để trao tặng cho những ai muốn đọc, muốn biết hoặc muốn giải trí trong lúc thư nhàn. Với lối viết trong sáng, dí dỏm, không “hàn lâm”, cuốn sách giúp chúng ta dễ dàng tiếp thu những kiến thức sâu rộng về thế giới bên ngoài. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi nước ta đang hội nhập và giao lưu rộng rãi với bè bạn khắp năm Châu, khi mà không chỉ có ngôn ngữ mà cả phong tục tập quán và nền văn minh của các nước đều là những vấn đề phải được hiểu biết tường tận.
Trong văn học sử của Pháp, J-B. Bossuet (1627-1704) là nhà văn nổi tiếng về viết điếu văn. Các bài ông viết gợi lại sự nghiệp của người quá cố, và nhất là nhấn mạnh đến giá trị đạo đức của con người. Tất nhiên, tôi không phải là Bossuet. Nhưng tôi cũng đã có mấy lần viết bài tưởng niệm người quá cố, như viết về ông Tạ Quang Bửu (bài trong cuốn « GS Tạ quang Bửu, con người và sự nghiệp », do anh Nguyễn Văn Đạo chủ biên, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2000) , về ông Lê Văn Thiêm (bài trong cuốn « Giáo sư Lê Văn Thiêm », cũng do anh Nguyễn Văn Đạo chủ biên, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2003), đều do anh Đạo rủ. Có điều là các vị kia đều lớn tuổi hơn tôi nhiều. Còn gì buồn hơn khi tôi viết bài này, tưởng niệm anh Đạo, một người đáng quí, ra đi lúc còn đang sung sức, đầy dự án muốn thực hiện, lại ít tuổi hơn tôi?
(*) Tiểu sử của GS Nguyễn Văn Đạo (ngày sinh: 10-8-1937 tại Phú Thọ; ngày mất do bị xe máy đâm: 11-12-2006 tại Hà Nội). Tốt nghiệp Đại học Đại học Sư phạm Hà Nội, ngành Toán: 1957. Tiến sĩ Toán-Lý, Đại học Lomonosov, Matscơva, Nga, 1965. Tiến sĩ khoa học, Đại học Bách Khoa, Warszawa, Ba Lan, 1976. Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc (1988). Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Ukraina (2000). Giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (2000). Phó Viện trưởng - Tổng thư ký Viện Khoa học Việt Nam (1977 - 1993). Viện trưởng đầu tiên Viện Cơ học Việt Nam (1979 - 1990). Giám đốc đầu tiên Đại học Quốc gia Hà Nội (1994 - 2001). Chủ tịch Hội đồng Khoa học tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ (từ 1996). Chủ tịch Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài (từ 2002).
3. Nhân dịp mừng thọ GS Đặng Đình Áng 80 tuổi.
Nhân dịp đó, được bạn bè rủ, tôi có viết một bài, đăng trong tập « Trong ngần bóng gương », Kỷ yếu mừng thọ GS Đặng Đình Áng 80 tuổi, nxb Tri thức, 2006, mang tên « Nói về Giáo dục Đào tạo ». Tôi viết mở đầu bài đó như sau :
Tôi chỉ gặp GS Đặng Đình Áng có một lần, cách đây đã lâu lắm (có lẽ vào 1983 ?), cùng ăn cơm ở nhà học giả Hoàng Xuân Hãn ở Orsay, ngoại ô nam Paris; (mà hôm đó cũng có cả các GS Hoàng Tụy và Phan Đình Diệu và các anh chị em trong Nhóm Toán của Hiệp hội khoa học và kỹ thuật ở Pháp). Chuyện trò làm quen, nhưng không có nhiều thì giờ để trao đổi với ông; tuy vậy lần gặp gỡ duy nhất ấy đã đủ để lại cho tôi một ấn tượng tốt, một thiện cảm lớn, nhất là « tiếng lành đồn xa » về ông, tôi đã được nghe từ nhiều năm trước. Sau đó, cũng có một vài lần ông có nhã ý gọi điện hoặc có thư từ hỏi thăm khi ghé qua Pháp. Hôm nay, góp phần mừng thọ ông 80 tuổi, tôi không viết về thân thế, về sự nghiệp, về tài năng, tài nghệ, về sở thích, vv. của ông, vì những cái đó, đã có bạn bè, đồng môn, đồng nghiệp, môn đệ của ông làm tốt hơn tôi. Tôi chỉ xin viết vài lời về Giáo dục Đào tạo. Tôi muốn được nói với ông : « Tôi không chắc là những ý của tôi – người sống ở xa – đã trùng hợp với những ý của Anh – người tại chỗ – nhưng tôi dám chắc rằng Anh đã nhiều năm trăn trở, cố gắng, vật lộn, để đóng góp hết sức mình với nền Giáo dục Đào tạo nuớc nhà. Chúc Anh đủ thì giờ để thấy những kết quả của cuộc chấn hưng – hay ít nhất là cuộc khởi đầu chấn hưng thực sự – của nền Giáo dục Đào tạo, vì đất nước ta có đủ tiềm năng vật chất và trí tuệ để làm việc đó, nếu có sự quyết tâm ».
Toàn bài « Nói về Giáo dục Đào tạo » ghi trong chương sau, chung với các bài về Giáo dục đào tạo cũng là cách chuyển tiếp từ chương 7 này sang chương 8.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)