24/11/08

Giáo dục : Cái “nhầm thứ ba” về người Bùi Trọng Liễu

Giáo dục : Cái “nhầm thứ ba” về người

Bùi Trọng Liễu
Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)



Từ ngày nhậm chức, ông Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo, nay là Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng, đã năng nổ nêu vấn đề người học “ngồi nhầm lớp” (cái nhầm thứ nhất trong nền giáo dục mà ông phải thừa hưởng khi nhậm chức) và cố gắng sửa. Trừ trường hợp cá biệt, chắc ông đã được sự đồng tình của cả nước.

Tuy ông không dùng cụm từ nhà giáo “đứng nhầm lớp”, nhưng một số vấn đề ông nêu, cũng chứng tỏ là ông cũng đã thấy vấn đề đặt ra cho cái nhầm thứ nhì này trong nền giáo dục nói trên.

Nhưng cái nhầm thứ ba về người, còn quan trọng hơn cả. Đó là cái mà có ai đó gọi là nhà quản lý “giữ (ngồi) nhầm ghế ”, hay nói cho rõ : đó là cái nhầm trao trách nhiệm cho một số nhà quản lý giáo dục cao hay thấp, và họ nhận mà không đảm nhiệm nổi trách nhiệm này. Cái “nhầm thứ ba” này về người – tôi không muốn dùng cụm từ đao to búa lớn “vì cơ chế” – là cái khó sửa nhất, tuy nó là cái trầm trọng nhất vì chính nó đã sinh ra hai cái nhầm kể trên, và nhiều hậu quả khác. Tất nhiên, tôi không vơ đũa cả nắm. Ở đây, tôi không đề cập đến những người “giữ đúng ghế” : tôi chỉ có thể hoan hô các vị. Mục đích bài của tôi là chỉ nói đến những trường hợp “giữ nhầm ghế” thôi.

Tôi không thể dài dòng, nên chỉ xin nêu vài thí dụ của hậu quả của cái nhầm thứ ba này:

1/ Có những việc “thường” , mà người chẳng có chuyên môn cũng hiểu, như : vấn đề nhà vệ sinh ở các trường học (mặc dù nó đụng đến sức khỏe của cả triệu học sinh, có thể kéo theo bệnh tật, mà sau này xã hội phải trả giá rất đắt : lực lượng lao động giảm sút, chi phí mà cá nhân và xã hội phải trả chi phí y tế để chữa chạy); vấn đề sách giáo khoa (kể cả trọng lượng của cái cặp của học sinh – ở Pháp, họ tính rằng cái cặp và sách vở đựng trong đó khi học sinh mang đến trường không được nặng quá 10% trọng lượng của học sinh, nếu không thì sẽ hại cho cột sống của trẻ em, và họ đề ra mấy giải pháp như sách giáo khoa phải nhẹ, nếu cần thì tách ra làm hai, tránh bìa cứng nặng, vở với số trang giới hạn, dùng cặp loại nhẹ, vv.); vấn đề bạo lực và kỷ luật trong trường học ; vấn đề chạy theo thành tích, với những con số giả tạo về học sinh giỏi, đạt thành tích cao, ngày nay mới được phần nào phanh phui, vv. là những vấn đề mà nhà quản lý lẽ ra phải quan tâm ngay từ đầu.

2/ Nhưng cũng có những vấn đề “kỹ thuật” hơn:
Có vấn đề thi cử kiểm tra trình độ học tập. Đề án “2 trong 1” – gộp thi tốt nghiệp Trung học phổ thông và thi tuyển đại học – là một đề án nguy hiểm vì 2 mục đích hoàn toàn khác nhau (nước ngoài người ta muốn tránh, mà có người nước mình lại khẳng định rằng làm vậy là rút kinh nghiệm của người ta). Đề án thi “trắc nghiệm” – cũng do lý luận không chính xác – đã có lúc lăm le đưa vào sử dụng, nay tạm thời chỉ sử dụng “một nửa”. (Nói đơn giản cho dễ hiểu: thi trắc nghiệm – mà tôi thấy ở Pháp, (gọi là QCM : Questionnaires à Choix Multiples, câu hỏi có nhiều lựa chọn giải đáp) – là nhiều giải đáp sai xen lẫn một giải đáp đúng để thí sinh chọn. Ngoại trừ cái nguy cơ đi thi đoán mò mà trúng, tôi cũng liên tưởng đến ý rằng chớ để cho hình ảnh của cái sai đã thâm nhập vào đầu, dù là “mang máng nhớ ”, sau khó xua đuổi nó ra lắm). E rằng việc chưa áp dụng hoàn toàn hình thức thi loại này chỉ là kế hoãn binh, vì theo http://www.hanoimoi.com.vn/vn/47/149988, bài “Lấy ý kiến dân về Đề án đổi mới thi và tuyển sinh” (gồm 6 vấn đề), 2 vấn đề dẫn trên đây được Bộ Giáo dục Đào tạo nêu ra rõ ràng (thí dụ như – tôi chép nguyên văn : “Chuyển việc ra đề từ hình thức tự luận sang hình thức trắc nghiệm đối với các môn thi, trừ môn Ngữ văn phối hợp tự luận và trắc nghiệm”).

Trong cái thiện ý nâng tỉ lệ nhà giáo đại học có bằng tiến sĩ, đề án 2 vạn tiến sĩ cho 2020 trong khung cảnh mở vung vãi rất nhiều trường đại học, gây ra nhiều nghi vấn, vv. Vấn đề chấm điểm kiểu hành chính để đánh giá công trình nghiên cứu, cũng gây ra nhiều câu hỏi về trình độ hiểu biết thực sự của một số nhà quản lý. Đó là chưa kể những chuyện cũ như vụ việc “bộ đề thi”, việc “phong hàm giáo sư thay vì bổ nhiệm theo chức vụ” mà đến nay vẫn chưa chỉnh được.

3/ Và cũng có những vấn đề quan trọng hơn, liên quan đến chiến lược phát triển, đôi khi liên quan cả đến độc lập tự chủ, đến sự tồn tại của đất nước Việt Nam.
Vấn đề trầm trọng hơn cả là cái quan niệm “thị trường hóa” giáo dục, hay hơn thế nữa, nói nôm na ra là “thương mại hóa” giáo dục. Có lẽ vì nó mà sinh ra nhiều điều kỳ lạ. Nếu sự mạo bằng cấp, tiếm xưng, còn có thể giải thích là sự gian lận cá nhân, thì việc “học giả bằng thật” không thể do đương sự tự tạo ra ; nó phải có một sự “phối hợp”, hoặc đồng lõa, hoặc chủ trương nào đó mới có thể xảy ra (lợi tức?). Việc ẩn sau cụm từ “xã hội hóa” giáo dục, giải thích quanh co để biện hộ cho việc đóng học phí cao, tăng học phí, phân biệt học phí và “chi phí học tập”, biện hộ cho lý luận “tiền nào của nấy” trong giáo dục và đào tạo, thật là khó chấp nhận (một cách khuyến khích nhà nước phủi tay ?), mặc dù sự bất công phân hóa giàu nghèo rất là rõ rệt (đây là một thứ kỳ thị theo tiền bạc), mà sự học sinh bỏ học vì gia cảnh đã rành rành. Việc cho mở vung vãi những đại học “ngoài công lập”, những cơ sở “giảng dạy”, câu sinh viên với cái nhãn về những ngành được coi là thời thượng, khi tiêu chuẩn về nhà giáo và phương tiện học tập thiếu bảo đảm, không thể không có những hậu quả tai hại lâu dài. Thậm chí, vì “thị trường”, có người tóm gọn mục tiêu giáo dục đại học thành việc đào tạo người có tay nghề để dễ có việc làm cho công ty nước ngoài, mà bỏ qua vế chuyển giao kiến thức, nguồn gốc của mọi nền văn minh. Một số người lúc này tỏ vẻ mê kiểu Mỹ : không biết là họ mê “thật” (nhưng lại không biết tiêu hóa những gì mà họ tưởng là đã học được từ người Mỹ) hay là họ cao tay ấn, mê “giả” vì có quyền lợi đâu đó? Lại có người đề cao việc càng ngày càng tăng số trường đại học hoàn toàn giảng dạy bằng tiếng Anh. Đến một lúc nào đó, có ai sẽ đề nghị toàn thể các đồng bào dân tộc, Kinh hay thiểu số, ở Việt Nam, học thẳng ngay tiếng Anh từ thuở sinh ra, cho dễ “hợp” với thị trường không ? Với lý luận về giáo dục kiểu ấy, nền văn hóa, trí tuệ của cả một dân tộc sẽ ra sao? vv. và vv.

Tôi nghĩ rằng không ít người Việt Nam trong hay ngoài nước, trong hay ngoài nghề giáo, mong đợi có những nhà quản lý “giữ đúng ghế” có đủ bản lĩnh để ngăn chặn những sa đà tóm tắt kể trên.

Năm chuột ta, nhắc chuyện tây - Bùi Trọng Liễu

Viet-studies và Zidol , 7/2/2008

http://www.diendan.org/giot-muc-giot-doi/chuot-ta-chuyen-tay/



Năm chuột ta, nhắc chuyện tây

Bùi Trọng Liễu



Năm Tý, liên tưởng đến một câu chuyện phương Tây, và … truyện Tam quốc.

Chắc có bạn đọc biết chuyện « Người thổi sáo », đại khái như sau : Thuở xưa, ở thành phố Hameln nước Đức, có xảy ra tai hoạ chuột, chuột nhiều đến mức chỗ nào cũng có, chúng gặm khoét phá phách đến mức dân chúng không chịu nổi ; ông thị trưởng và chức sắc mới treo biển cầu người có giải pháp trừ chuột. Một ngày kia, có một chàng trai từ đâu đến, nói có phép trừ chuột, nhưng hỏi muốn biết phần thưởng ra sao. Thị trưởng và chức sắc hứa nếu thành công sẽ trả một ngàn đồng tiền vàng. Hai bên giao ước xong, chàng trai kia bèn rút trong bọc ra một chiếc sáo, và bắt đầu thổi, vừa thổi sáo vừa đi qua khắp phố phường. Chuột nghe tiếng sáo, như bị hấp dẫn mê mẩn, chuột to chuột nhỏ kéo nhau ra đường theo người thổi sáo, dẫn chúng ra sông lội xuống nước. Đàn chuột theo sau cũng lội xuống chết đuối hết. Khi đã diệt xong chuột, người thổi sáo trở lại lĩnh thưởng. Thoát được nạn chuột, cả thành phố mở tiệc ăn mừng. Nhưng chẳng ai nghĩ đến lời hứa trả công cho « người thổi sáo ». Chàng này mấy lần nhắc ông thị trưởng và các chức sắc về món ngàn đồng tiền vàng, nhưng họ khất lần. Họ nghĩ rằng món tiền to như vậy, để tiêu xài hội hè cho sướng, cần gì đến lời hứa. Hiểu tâm địa bọn kia, « người thổi sáo » bèn rút trong bọc ra một cây sáo khác. Thổi lên, bao nhiêu trẻ em trong thành phố bị tiếng sáo quyến rũ, như mê hồn, mặc lời khuyên can đe doạ ngăn cấm của mẹ cha, lũ lượt bỏ ra đường bước theo « người thổi sáo » ra khỏi thành, đi mãi đi mãi, không bao giờ trở lại ...
Tôi nhắc câu chuyện chuột này, nhưng cũng muốn nói đến những liên tưởng.

Trước hết, câu chuyện chuột và người thổi sáo này mang tính huyền thoại và tính ngụ ngôn về chữ “Tín”.

Nhưng có thuyết cho rằng nó có một nguồn gốc “thực”, dựa trên sự tích của cái được gọi là cuộc “Viễn chinh chữ thập của trẻ em” (la Croisade des enfants), xảy ra giữa hai cuộc viễn chinh chữ thập “chính thức” thứ bốn và thứ năm (1) : tuy gọi là “của trẻ em”, mà cũng không phải hoàn toàn là của trẻ em ; tuy gọi là “một”, mà kỳ thật là “hai”. Theo mấy sử gia ngày nay thì “Viễn chinh chữ thập” này, ngoài một số trẻ em, còn có sự tham gia của những nông dân nghèo sống bên lề xã hội trong cảnh phụ thuộc, nghĩa là những người mà thuở đó tiếng la-tinh gọi là pueri, gây nên sự lẫn lộn với nghĩa “trẻ em”. Thêm vào đó, “Viễn chinh chữ thập của trẻ em” không phải chỉ có một cuộc mà là có hai cuộc : một cuộc khỏi đầu từ Đức, và một cuộc khỏi đầu từ Pháp ; có sử gia dùng chữ “đoàn” để bớt sự phân biệt, vì cả hai xảy ra cùng khoảng thời gian (1212) và cùng mục tiêu ; nay tôi cũng tạm dùng từ này : “Đoàn Đức ” và “Đoàn Pháp” cho gọn.

Đoàn Đức là do một thiếu niên tên là Nicolas (tiếng Đức có lẽ viết là Nikolaus?), có nguồn thì bảo là một lái buôn, có nguồn lại bảo đó là một thiếu niên chăn cừu chạc tuổi 14, ở Köln, nói rằng cậu ta thấy một vị thiên thần (ange) hiện ra, kêu gọi cậu ta đi giải phóng Thánh địa (nơi có mộ Chúa Ki-Tô, lúc đó đang trong tay người Hồi giáo ở Cận Đông). Nicolas có tài hùng biện, trong vài ngày lôi cuốn được khoảng hai vạn trẻ em và người lớn. Dọc đường có người theo thêm, có lúc con số lên đến khoảng 3 vạn. Cậu ta hứa hẹn rằng Chúa Trời sẽ ban một phép lạ : Khi nào Đoàn đến thành phố-cảng Genova (Ý), nước biển Địa Trung hải sẽ rẽ ra làm hai (2), để Đoàn có thể tiếp tục đi bộ tới tận Thánh địa! Đoàn này đi dọc theo sông Rhin, qua nhiều thành phố. Họ nghèo không có phương tiện hậu cần, đa số không có giày dép, quần áo ấm, lương thực dự trữ, nên phải xin ăn ở dọc đường khi qua các làng mạc. Dân các làng cũng cố giúp, nhưng họ nghèo; mà năm ấy lại mất mùa, nên số người trong Đoàn chết đói và chết bệnh rất nhiều. Rồi khi vượt qua dãy núi Alpes, thời tiết xấu, bị tai nạn, kiệt lực, khi tới Genova thì chỉ còn khoảng 7 ngàn người. Dù cầu nguyện, cũng chẳng thấy phép lạ (nước biển rẽ ra làm đôi), đa số thất vọng bỏ cuộc, muốn trở về Đức, nhưng không chịu nổi gian nan dọc đường, lại chết thêm rất nhiều; một số thiểu số đành làm thuê làm mướn tại chỗ; những trường hợp hãn hữu trở về quê thì bị người ta giễu cợt. Nicolas và khoảng một ngàn còn lại cố đi tiếp đến Pisa. Ở đó, khoảng một trăm “đoàn viên” tìm được hai chiếc tàu nhận chở đi Thánh địa, nhưng chẳng ai biết là rốt cục tàu đi đến đâu. Số còn lại theo Nicolas đi bộ tiếp, chết đói, chết bệnh, bị giặc cướp giết, đa số phụ nữ bị bắt cóc, phải làm gái điếm trong những nhà thổ, cánh nam giới thì bị bắt làm nô. Không thấy sử biên niên nói đến Nicolas nữa, trừ một vài nguồn kể là rốt cuộc cậu ta đến được Thánh địa, chiến đấu trong đám quân sĩ của cuộc viễn chinh chữ thập thứ 5 và trở nên giàu có khi trở về Köln. Chắc là bịa.

Còn câu chuyện Đoàn Pháp, thì như thế này. Tháng sáu năm 1212, một thiếu niên chăn cừu ở Cloyes tên là Etienne kể rằng cậu ta thấy Chúa Trời hiện ra, có “thông điệp” cho vua Pháp. Tin đồn ra, khoảng 3 vạn người, trẻ em và người lớn, từ khắp nơi theo cậu ta đổ dồn về kinh thành, thuyết vua Philippe Auguste cho phương tiện để tiến hành cuộc viễn chinh. Vua cho diện kiến, nhưng vua không đồng ý cho thực hiện cuộc viễn chinh, và khuyên giải tán phong trào. Không được sự giúp đỡ của nhà vua, Etienne và Đoàn của cậu ta kéo nhau đi từ Vendôme, tiến xuống phía Nam, để đến cảng Marseille, và hy vọng rằng ở đó nước biển Đại Trung hải cũng rẽ làm đôi để họ có thể đi bộ đến Thánh địa (cũng lại câu chuyện phép lạ, như câu chuyện Đoàn của Đức!). Tuy không gặp những trở ngại thiên nhiên trên đường đi từ Vendôme đến Marseille, nhưng đói khát, mệt mỏi và bệnh tật cũng làm chết khoảng hai phần ba đoàn viên trong Đoàn. Và tất nhiên, đến Marseille, dù có thiết tha cầu nguyện Chúa Trời, cũng chẳng thấy nước biển rẽ làm hai. Tuy vậy Đoàn vẫn hy vọng. “May thay”, sau mấy ngày chờ đợi, có hai lái buôn nhận chở Đoàn trên mấy chiếc tàu của họ để sang Thánh địa. Kỳ thật ra, bọn lái buôn này có dã tâm : ra đến biển rồi, chúng nhốt các đoàn viên xuống hầm tàu, tính chở đem bán họ làm nô. Đói khát và bị ngược đãi trên tàu làm chết thêm một số đoàn viên. Mấy ngày lênh đênh trên biển, gặp bão, 2 chiếc tàu trên đoàn 7 chiếc, trôi dạt tới một đảo miền nam nước Ý, cả thủy thủ và đoàn viên đều bị chết đuối. 5 chiếc tàu còn lại chở bọn họ sang Bắc Phi, bán họ làm nô cho người A-rập. Một kết thúc bi thảm.
Đó là gốc gác của câu chuyện chuột.

Nhưng tôi cũng muốn liên tưởng đến các cuộc viễn chinh chữ thập nói chung và rộng hơn. Thánh địa và đặc biệt là Jerusalem đâu có phải là Thánh địa của một đạo, mà là Thánh địa của ba tôn giáo : đạo Do-thái, đạo Ki-tô và đạo Hồi. (Cho nên Jerusalem còn được gọi là “ville 3 fois sainte”, tạm dịch là “thành phố Thánh địa 3 lần”). Trong việc tranh chấp đất đai, có chuyện đạo xen lẫn với chuyện đời, lòng tin xen lẫn với lợi ích và quyền lực.Vì không có khoan dung và chấp nhập chung sống hòa bình, nên mới có sự tranh chấp liên miên đời này qua đời khác, cho đến tận ngày nay. Trong bao nhiêu thế kỉ tranh chấp giữa các quyền lực tín đồ của các tôn giáo khác nhau, mồ hôi, nước mắt và máu đã chảy rất nhiều vì mảnh đất này.

Nhân nói đến Thánh địa và di tích, tôi cũng muốn liên tưởng rằng không thiếu những nơi khác mà khi nhà cầm quyền đổi đạo thì cũng kéo theo đổi đền thờ. Thí dụ như ở Cordoba (Tây-ban-nha). Năm 785, khi vua Hồi giáo chiếm được nơi này, sai mua (?) đất của nhà thờ Thiên chúa giáo San Vincente, và xây trên đó một đền thờ Hồi giáo rất lớn, khởi công vào năm 785 và sau đó mở rộng thêm. Đến năm 1236, khi vua Ki-tô giáo chiếm laị được đất này, thì biến đền Hồi giáo này thành nhà thờ Thiên chúa giáo, còn tồn tại đến nay. Một thí dụ khác: ở Constantinople (ngày nay là Istanbul, Thổ-nhĩ-kỳ), nhà thờ Thiên chúa giáo Haghia Sophia được xây trên nền cũ của đền thờ Apollon (một thần trong thần thoại Hy-lạp cũ), thoạt đầu là vào năm 325 ; sau nhiều lần bị hủy do hỏa hoạn hay loạn lạc, một Nhà thờ Lớn được khởi công xây vào năm 532 và hoàn thành vào năm 537, còn được biết dưới tên gọi (tiếng Pháp) Sainte Sophie. Khi vua Hồi giáo Mehmet II chiếm kinh đô Constantinople này của Đế quốc Byzance (1453), chuyển nhà thờ này thành đền Hồi giáo. Đến năm 1934, dưới nền cộng hòa, đền này trở thành bảo tàng. Ở nước ta, vào năm 1884, cũng có trường hợp Nhà Thờ Lớn Hà Nội, xây trên nền chùa Báo Thiên cũ (3).

Chung sống hòa bình được thì tốt biết bao. Đất đai công hữu hay tư hữu, chiếm đoạt hay tranh chấp càng nhiều thì càng gây đau khổ. Rồi khi đòi đất, cũng không nên quên những “quyền” sở hữu chồng chất theo thời gian : trước mình thì là ai, trước ai đó thì là ai khác nữa, vv. và vv. ? Câu hỏi này làm tôi liên tưởng đến chuyện ông thánh Quan “đòi đầu”.

Thánh Quan đây là Quan Vũ, đời Tam quốc bên Tàu (Ngụy, Thục, Ngô, thế kỉ thứ 3). Theo Tam quốc chí, ông này là em kết nghĩa của Lưu Bị (sau là vua Chiêu Liệt nhà Thục), theo anh lập nên cơ đồ nhà Thục, sau bị Tôn Quyền (vua nhà Ngô) giết. Người Tàu trọng ông ta là người trung nghĩa, thờ làm thánh; một số người nước ta cũng bắt chước thờ ké. Tôi tóm tắt lý lịch ông ta, theo cách nhìn của tôi : Một lần trong chiến trận, Quan Vũ lạc Lưu Bị, nên phải đầu hàng Tào Tháo. Tào Tháo đãi rất hậu. Đến khi Quan Vũ nghe tin Lưu Bị còn sống, bèn bỏ Tào Tháo để đi theo. Qua năm cửa ải, sáu tướng của Tào Tháo cản không cho đi vì chưa được lệnh thả, Quan Vũ đều chém họ chết. Như vậy là về thủy chung – nói một cách văn vẻ cố tôn vinh – là “gặp thời thế, thế thời phải thế” – còn nói bộc trực – tiếng Pháp là “à géométrie variable”, (tôi không biết dịch chính xác ra tiếng Việt là gì, chỉ nhớ là thời còn chiến tranh, có loại máy bay Mỹ mà ta gọi là “cánh cụp cánh xòe”; còn trong trường hợp này, phải chăng nên dịch là “tùy tiện”?). Khi Lưu Bị lên ngôi vua, phong cho Quan Vũ đứng đầu Ngũ hổ đại tướng, thì ông ta giận không chịu nhận ấn tín, vì lẽ rằng trong đám 5 hổ tướng đó, có tướng Hoàng Trung mà ông ta khinh gọi là một anh lính già xuất thân. Sau sứ giả phải can, ông ta mới chịu nhận ấn. Thế là ông ta tự gán giá trị “đẳng cấp cao” cho mình. Một lần ra trận, ông ta bị trúng một phát tên độc ở cánh tay; danh y là Hoa Đà mổ, thì ông ta không chịu để buộc tay, giả bộ không đau cứ ngồi uống rượu đánh cờ, chìa cánh tay cho Hoa Đà cạo vết thương đến tận xương, được nhận lời khen của Hoa Đà là « Tướng quân là người nhà trời ». Thế là ông ta biết lên gân làm “người hùng”. Vua Thục sai ông ta giữ thành Kinh Châu; vua Ngô (là Tôn Quyền) muốn cầu thân, sai sứ giả sang hỏi con gái ông ta cho con trai mình, thì ông ta nổi giận cự tuyệt trả lời rằng “Con (của) hổ không thể gả cho con (của) chó”. Thế là ông ta tự đánh giá mình là vĩ nhân thế giới – thế giới thuở ấy tất nhiên là Tam quốc và các phiên thuộc, cho nên chưa có các công ty kinh doanh tiểu sử vĩ nhân thời toàn cầu hóa ngày nay – và cho là vua Ngô là không “môn đăng hộ đối”. Và bởi ngỡ mình là vĩ nhân nên làm lỡ việc nước, vì vua Ngô giận sai tướng đánh chiếm thành Kinh Châu; ông ta bị bắt không chịu hàng nên bị chém đầu. Người Tàu thương, cho là trung nghĩa thờ làm thánh. Chả biết tác giả truyện Tam quốc có hóm hỉnh không, khen đấy mà cũng lén chê đấy , vì kể rằng : sau khi ông ta bị chém chết rồi, hồn lang thang, đêm thường hiện làm ma, đòi “trả đầu”. Một hôm, hồn tình cờ gặp nhà sư Phổ Tịnh, ân nhân cũ ; nhà sư bèn hỏi : “Tướng quân đánh nhau với quân Ngô, bị họ chém đầu; nay lại hiện lên mà đòi người khác trả đầu. Lúc tướng quân còn sống, qua năm cửa ải, chém sáu tướng, vậy thì đầu của sáu tướng ấy, đòi ai trả ? ”. Theo chuyện, hồn Quan Vũ liền tỉnh ngộ, tạ và biến đi. Vậy thì hồn ông ta cũng biết phục thiện, làm thánh cũng được đấy chứ.

Khổ nỗi “đòi đất” không giống “đòi đầu”, cho nên dễ kẹt. Nhưng ta vẫn cứ nên mơ ước.

Tết là dịp chúc cho một năm mới, hay xa hơn thế nữa, cho một tương lai tốt đẹp hơn. Vậy, cầu chúc cho có được sự chung sống hòa bình ở tất cả mọi nơi.


Chú thích:

(1) Các cuộc viễn chinh chữ thập có mục đích giải phóng Thánh địa (nơi có mộ Chúa Ki-Tô, lúc đó đang trong tay người Hồi giáo ở Cận Đông). Tất cả có 8 cuộc Viễn chinh chữ thập « chính thức » (tôi dùng từ « chính thức » để chỉ việc có tổ chức, do vua chúa phát động, có quân đội, vũ khí, thuyền bè, hậu cần, vv), xảy ra vào khoảng những năm sau đây : Cuộc thứ nhất (1096-1099); cuộc thứ nhì (1147- 1149) ; cuộc thứ ba (1189 -1192) ; cuộc thứ tư (1202 -1204) ; cuộc thứ năm (1217 -1219) ; cuộc thứ sáu (1228 -1229) ; cuộc thứ bảy (1248 -1254) ; cuộc thứ tám (1270) . (Có nguồn nói tới cuộc thứ chín (1291), nhưng hình như vài sử gia coi cuộc Viễn chinh thứ 9 là sự nối tiếp không thành công của cuộc thứ 8) .

(2) Theo Thánh kinh (Bible) của đạo Do-thái và đạo Ki-tô, trong 66 cuốn sách, cuốn sách thứ hai « Xuất hành » (Exode) của Cựu ước (Ancien Testament), có chuyện Moïse (Moses) khi dẫn dân Do-thái thoát khỏi Ai-cập, được phù phép rẽ nước biển làm hai để vượt Hồng hải sang bờ phía đông. Cuốn phim « Mười điều răn » (The ten Commandments) của đạo diễn Cecil B.DeMille (1956) có tả sự tích này, tất nhiên có thêu dệt ít nhiều, và tới nay, vẫn còn nhiều giả thuyết về sự việc thật của việc vượt Hồng hải này mà khoa học chưa soi sáng.

(3) Theo cuốn “Lịch sử thủ đô Hà Nội” của nhóm Trần Huy Liệu, nxb Sử học, 1960, và theo một số nguồn khác, như bài “Từ Chùa Báo Thiên Đến Nhà Thờ Lớn” của Nguyễn An Tiêm http://sachhiem.net/TONGIAO/NguyenAnTiem.php , (có dẫn cuốn “Tang Thương Ngẫu Lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án) :
Năm 1883, theo yêu cầu của chính quyền bảo hộ Pháp, kinh lược Bắc kỳ là Nguyễn Hữu Độ nhường đất chùa Báo Thiên cho cố đạo Puginier xây trên đó nhà Thờ Lớn hiện nay ở Hà Nội, khởi công xây năm 1884 và khánh thành ngày 24/12/1886.
Chùa Báo Thiên có cây Tháp Báo Thiên (Bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên) là một trong “An Nam tứ đại khí” – bốn công trình bằng đồng (?) thời Lý-Trần nay không còn nữa : tháp Báo Thiên ; tượng Phật chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều, Quảng Ninh, đúc thời Lý (năm nào?) ; chuông Quy Điền của chùa Diên Hựu (1101) đúc to quá, không đưa được vào treo trong một phương đình cao 8 trượng xây bằng đá xanh làm nơi treo chuông, nên bị bỏ ở ruộng có nhiều rùa nên có tên gọi đó; vạc Phổ Minh, thuộc chùa Phổ Minh ở Thiên Trường, Nam Định đúc vào thời vua Trần Nhân tông khoảng (1279-1293).
Tháp và chùa Báo Thiên xây năm 1059 đời vua Lý Thánh tông, được tả là gồm 12 tầng, cao mấy mươi trượng (!?), các tầng dưới xây bằng đá và gạch, tầng trên, bằng đồng. Thế kỉ 13 và 14, bão và sét đánh làm hư hỏng tháp. Năm 1426, tướng nhà Minh là Vương Thông, bị nghĩa quân của Lê Lợi vây trong thành, cùng quẫn quá, lấy đồng của tháp Báo Thiên để đúc vũ khí. Chùa Báo Thiên thì vẫn còn tồn tại cho đến năm 1883, theo các nguồn đã kể.

5 tấm hình kèm theo bài :



p1.jpg














« Bức tường phía tây » di tích còn lại của «Đền thứ hai » đạo Do-thái ở Jerusalem, còn được gọi là « Bức tường than khóc » (Mur des Lamentations), tuy người đạo Do-thái và đạo Hồi đều không chấp nhận tên gọi này.




p2.jpg
















Nhà thờ Saint-Sépulcre ở Jerusalem, được phỏng đoán là nơi xưa có mộ của chúa Ki-tô.


p3.jpg









Dôme du Rocher, ở Jerusalem, nơi linh thiêng thứ 3 của đạo Hồi


p4.jpg












Bên trong đền Hồi giáo ở Cordoba (Tây-ban-nha) chuyển thành Nhà thờ Thiên chúa giáo cho đến nay.



p5.jpg
















Nhà thờ Ki-tô giáo Sainte Sophie chuyển thành Đền Hồi giáo (Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ ), nay là bảo tàng.

Mừng mà không vui - Bùi Trọng Liễu

Mừng mà không vui

Bùi Trọng Liễu


Từ một thời gian nay, báo chí thường đăng những thông in về sự thành đạt của người (gốc) Việt Nam ở nước ngoài. Sự thành đạt này ở nhiều lĩnh vực. Tôi đặc biệt chú ý tới lĩnh vục giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, là lĩnh vực nghề cũ của tôi. Chức vụ lớn cũng có, giải thưởng khoa học to nhỏ cũng có, học hành thành công cũng có, càng ngày càng nhiều. Vì vậy mà tôi mừng : mừng cho các đương sự, mà cũng mừng vì nhận xét rằng người gốc Việt Nam cũng có thể thành công « như ai ».

Nhưng tôi lại không vui, vì nghĩ tới gốc của vấn đề, qua tích « Quất chua », thời Chiến quốc bên Tàu (1) – mà tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần, thí dụ như trong cuốn sách « Chung quanh việc Học » của tôi, nxb Thanh Niên, 2004, cũng có trên trang mạng của tôi http://www.buitronglieu.net:

Án Tử nước Tề, đi sứ sang nước Sở. Vua Sở muốn làm nhục, sai lính giả trói người mang đến trước tiệc ; lính thưa rằng đó là người Tề ngụ cư ở Sở, vì ăn trộm nên bị bắt. Vua Sở bảo Án Tử: « Người Tề hay trộm cắp lắm nhỉ ». Án Tử đứng dậy thưa rằng: « Quất ở đất Hoài Nam là quất ngọt, đem sang giồng ở Hoài Bắc thì thành quất chua; người Tề ở Tề thì lương thiện, sang Sở thì thành trộm cắp, thế là tại thuỷ thổ mà biến ra ». Vua Sở đành khen Án Tử là người có tài đối đáp, vua Sở định đùa để hạ nhục, mà chính vua Sở lại bị thua trong cuộc đấu lý này.

Suy rộng câu trả lời của Án Tử, thì hiểu rằng : trái với lý luận của tư tưởng kỳ thị chủng tộc, vấn đề khung cảnh/môi trường mới là quan trọng, chứ vấn đề giống nòi, huyết thống, màu da, thậm chí có người nêu chuyện… di truyền (« gien »), là thứ yếu. Vậy thì người Việt Nam, khi ở trong nước, việc học và việc làm khi vào đời, không/chưa đạt, mà khi ra nước ngoài thì lại thành công, phải chăng cũng là do việc tổ chức giáo dục đào tạo và cách sử dụng người của xứ sở người ta tốt hơn, chứ đâu chỉ do tài của người Việt Nam!

Trở lại chuyện mừng. Tôi mừng vì – (loại trừ một số trường hợp cá biệt) – thấy sự thành đạt càng ngày càng nhiều của mấy thế hệ trẻ là có thật, khác với mấy thế hệ trước, phần thì do điều kiện bản thân, phần thì do luật lệ nơi định cư trước kia chặt chẽ khép kín hơn (2). Hình như sự tiếm xưng, ngộ nhận, khoe mẽ, thành tích ảo,
tuy vẫn tồn tại, nhưng có giảm phần nào (3).

Nhưng tôi vẫn không vui vì : Học nhờ, sống nhờ, làm việc nhờ; đâu có phải hoàn toàn tự mình, tự người mình, tự nước mình; vậy thì sao lại « gáy » (4) dữ thế ? Đương sự « gáy » chưa đủ, một số báo, truyền thông, lại phụ họa « gáy » thêm!

Lại dẫn chuyện Án Tử (mà tôi đã có dịp nhắc nhiều lần, thí dụ như bài “Vênh váo” đăng trong báo Đoàn Kết, số 405, 1988, cũng có trong cuốn sách «Tự sự » của tôi, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005, cũng có trên trang mạng của tôi http://www.buitronglieu.net):

Án Tử làm tướng quốc nước Tề, có người đánh xe rất tự đắc. Vợ người đánh xe xin bỏ ra đi, không chung sống nữa. Chồng ngạc nhiên hỏi tại sao. Người vợ trả lời rằng: “Quan tướng quốc [Án Tử] quyền cao chức trọng, danh tiếng lẫy lừng, thân hình thì nhỏ bé, thái độ thì khiêm tốn; còn anh thì cao lớn vạm vỡ, làm người hầu đánh xe, mà luôn luôn vênh váo; tôi thấy xấu hổ, nên xin đi, không ở chung nữa”. Người chồng biết thẹn, từ đó nén mình. Án Tử hỏi biết chuyện, cho là người biết phục thiện, cất nhắc lên làm quan đại phu...
Thuở đó, khi nhắc lại chuyện này (5), tôi có luận như sau:
Trong bà con ta ngày nay, có một số người tự kiêu rằng người Việt Nam mình hay, giỏi, thông minh, đạo đức, hơn người, với lý lẽ rằng: (ở nước ngoài) đi học thì thầy khen ngoan, chăm, học được; đi làm công thì « chủ » ưa vì dễ bảo, cần cù, chịu khó; người có bằng cấp thì đã đạt được vài địa vị thừa hành, đã ngoi lên xây dựng được vài cơ sở làm ăn... Chao ôi, khác gì « người đánh xe »! Tôi không có ý giảm giá những cố gắng và thành tựu của bà con chúng ta, mà tôi rất trân trọng. Tôi chỉ dám chê những người vênh váo. Tôi không bàn chuyện vênh váo cá nhân (kệ cá nhân chịu trách nhiệm của mình), tôi chỉ chê chuyện vênh váo tập thể. Bởi vì tập thể người Việt Nam có quyền và có khả năng có « tham vọng » chính đáng hơn: ngang với thiên hạ.

Tôi cũng không vui khi nghĩ rằng quan chức Việt Nam không thể không biết những bất cập trong xã hội nói chung, trong giáo dục đào tạo, trong khoa học, nói riêng. Đã giải thích mãi rồi, đến người ù lì cũng còn có thể hiểu, huống hồ mấy quan chức này đâu có kém thông minh. Biết mà không sửa, tất nhiên có lý do. Phải chăng vì bị ràng buộc bởi những gì đó, thí dụ như ràng buộc với những nhóm quyền lợi? Chính người mình, trong và ngoài nước, đã cảnh báo nhiều rồi và đã nói trong nhiều năm. Và kinh nghiệm nước khác người ta làm như thế nào, thì cũng đã quá rõ, đâu có phải là thiếu thông tin. Cho nên tôi xin dẫn câu của một tác giả Việt Nam đầu thế kỉ thế kỉ 20 (khi luận về việc không chịu canh tân, để đến nỗi mất nước hồi thế kỉ 19): « Không hiểu tình thế ngoại quốc mà không theo [việc canh tân], lỗi ấy còn là lỗi nhỏ; đã hiểu tình thế ngoại quốc mà không chịu theo, lỗi ấy mới là lỗi to ».

Tôi là kẻ định cư và yên phận đã lâu ở nước ngoài, sao lại còn bàn chuyện mừng hay không ? Có lẽ chỉ vì :
Vấn vương còn chút tình quê,
Mong sao êm đẹp mọi bề mới vui.


Chú thích:

(1) Từ khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên đến khoảng năm 221 trước Công nguyên, khi Tần Thủy hoàng thống nhất Trung quốc.

(2) Lấy thí dụ nước Pháp, nơi tôi định cư. Vào khoảng những năm cuối thập niên 40,đầu thập niên 50 của thế kỉ 20, cuộc sống của đa số Việt kiều ở Pháp rất là cơ cực. Ngoại trừ những con em gia đình thật khá giả, một số gia đình gửi được con đi Pháp du học tự túc thuở ấy, là nhờ ở việc đổi tiền. Nhờ sự buôn tiền này mà một số gia đình vốn nghèo hay đã khánh kiệt, gửi được con sang Pháp học : vì hàng tháng mỗi người (thường dân) chỉ được chuyển một số tiền giới hạn, có những nhà nghèo huy động cả gia đình họ hàng gửi hộ tiền cho nhà giàu (bằng bưu phiếu, mandat-poste), rồi được trả lãi và dùng cái tiền lãi đó mà gửi cho con em mình du học ở Pháp sống. (Tôi có kể chi tiết trong một chú thích của bài « Cố nhân » http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/co-nhan/, và toàn bản trong cuốn sách « Học một sàng khôn » của tôi, nxb Tri thức 2007, cũng có trên mạng http://www.buitronglieu.net).
Thuở ấy, những du học sinh sống bằng cách này cơ cực lắm ; có cảnh sống chung năm, sáu người trong một buồng trọ – thuở ấy ở Pháp còn đầy dãy những khách sạn cho thuê phòng ngủ hàng tháng, không có nước ; vòi nước và cầu tiêu chung ở cầu thang ; có khi mùa rét không có sưởi – ăn uống rất kham khổ, một tuần mới đi tắm gội một lần ở các hiệu tắm công cộng lúc đó còn tồn tại. Nghèo đến cái mức đi thi còn có trường hợp không có đồng hồ đeo tay, phải mang theo trong cặp cái đồng hồ báo thức to bằng cái bát ! Cũng có trường hợp tối về phải giặt áo phơi cho kịp khô để ngày mai còn mặc, vì chỉ có một cái áo, nếu áo không khô thì đành mặc rồi đợi cho nó khô trên chính thân mình. Kham khổ là một phần lý do tại sao có nhiều người bị bệnh lao, và nhiều sinh viên Việt Nam, trong đó có tôi, trải qua nhiều năm tháng sống trong các sanatoriums của sinh viên Pháp. Vì đã phải trải qua và chứng kiến những giai đoạn đó và những giai đoạn khó khăn khác, nên tôi rất thông cảm với những ai không gặp may trong việc học hành và trong địa vị xã hội ; đồng thời tôi cũng rất trân trọng với những ai đã may mắn thành công ; khi người ta phải sống, ăn, ở, học trong những hoàn cảnh như kể trên, thì đi thi đỗ được cũng là chuyện mừng rồi, nói gì đến chuyện tranh đua với người khác !

Việc làm ở Pháp, ngày xưa qui định cũng chặt chẽ hơn. Thí dụ như ứng viên giáo sư đại học, ngoài những tiêu chuẩn bằng cấp và công trình khoa học, còn buộc phải có quốc tịch Pháp. Những năm sau này, mới bỏ lệ quốc tịch. Những huyền thoại về một số người Việt Nam (chưa có đến cái bằng tiến sĩ nhà nước!) được kể là được mời làm giáo sư ở đại học có danh tiếng nhưng từ chối để về nước, chỉ là chuyện kể lăng nhăng của/cho những người không biết.

(3) Những vụ mạo xưng viện sĩ, giáo sư đại học – được thuê dạy ké vài giờ bài tập trong đại học , chưa được bằng một phụ giảng viên, mà cũng tiếm xưng giáo sư – tiến sĩ, nội trú y khoa, giải thưởng hão, thành tích ảo, ..., dần dần rồi cũng bị lật tẩy, vì dư luận cũng mỗi ngày một tinh hơn.

(4) Tôi nhớ, một thời, « gáy » là tiếng lóng, dùng theo nghĩa khoe khoang, tôn vinh quá đáng. Tôi không biết thời nay, từ này còn thông dụng không.

(5) Viết bài này, tôi cũng không vui, vì tôi không tìm được một tích Việt Nam để minh họa ý của mình, mà phải mượn tích của Tàu !



Bùi Trọng Liễu,
Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)

Giáo dục: : Nhân câu chuyện “bán hồn cho Quỉ”.

10/12/2007 http://www.viet-studies.info/BTLieu_BanHonChoQui.htm


Giáo dục:
Nhân câu chuyện “bán hồn cho Quỉ”.

Bùi Trọng Liễu
Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)




Ở đây, tôi dùng chữ Quỉ để chỉ Xa-tăng : Satan còn gọi là Mephistopheles, là chúa quỉ, chuyên làm việc ác, trong đạo Do-thái và đạo Ki-tô, chứ tôi không nói nhân vật Xa tăng theo thày Tam tạng đi thỉnh kinh Phật trong Tây du kí đâu!

Dr Faust là đề tài của truyện, với nhiều dị bản, về một nhân vật bán linh hồn của mình cho Quỉ để đổi chác được hưởng một số quyền lợi tức thời. Có những bản trong đó nhân vật này gây thiện cảm của người đọc, có bản ngược lại, có bản “có hậu”, có bản không.

Theo truyền thuyết thì Dr Faust là một nhân vật có thật, người Đức sinh ra ở cuối thế kỉ 15 – tôi không biết tiếng Việt Nam phải dùng từ “bác sỹ” hay từ “tiến sỹ”, có lẽ có thể là cả hai, vì y vừa là người chữa bệnh (lang băm) vừa là nhà “thông thái” về bói toán (tiếng la-tinh doctus là chỉ người thông thái) – khoe là mình đã từng tốt nghiệp Đại học Cracovie (thật hay tiếm nhận?), một trường nổi tiếng thời đó, một phần vì ở đó có một khoa dạy phép phù thủy, cho đến tận cuối thể kỉ 16 (?). Nhưng Dr Faust này không phải là một nhận vật gây thiện cảm, mà là một tay đại bịp, khoe mình có tài chiêm tinh, khoe mình là một “cô đồng” siêu việt (biết gọi hồn ma để đoán sự việc), và biết phù phép, do có quan hệ đặc biệt với Quỉ. Trong vòng bốn chục năm, y lừa đảo được nhiều người, nhiều nơi, lại có một lúc có những hành vi cực xấu hiếp dâm trẻ em (nefandissimo fornicationis genere), nhiều lần bị săn đuổi, và cuối cùng y chết vào khoảng năm 1540.

Hình ảnh sau đó về nhân vật Dr Faust thì khác, biến thể. Có nhiều dị bản, có những bản được nổi tiếng, thí dụ như của Marlow (1590), của Goethe (đầu thế kỉ 19), của các nhạc kịch opéra của Berlioz (1846) và của Gounod (1859), trong đó nhân vật này bán hồn mình cho Quỉ để đổi lấy sự hiểu biết, tuổi trẻ và sự giàu sang. Đặc biệt là trong cuốn phim “La beauté du Diable” (Sắc đẹp của Quỉ, 1949) của đạo diễn René Clair, với các diễn viên Michel Simon trong vai Dr Faust già, lúc chưa bán hồn cho Quỉ, và Gérard Philipe trong vai Dr Faust, khi đã bán hồn cho Quỉ, trẻ lại, đẹp trai, lại gặp tình yêu, và rốt cục nhờ ơn Chúa Trời, giữ được những “quyền lợi” đã đổi được, mà không mất “linh hồn” của mình.

Ở đây, tôi không có ý kể dài dòng về Dr Faust, mà muốn liên hệ đến một vấn đề làm tôi trăn trở, khi hướng về quê hương Việt Nam. Tôi nghĩ kinh tế thị trường là điều tất yếu. Nhưng “thị trường hóa” giáo dục, hay nói thẳng ra là “thương mại hóa” giáo dục, thì tôi không thể đồng tình. Với tôi, “trí tuệ” có thể coi như “linh hồn” của cả dân tộc, trong khi đó “lợi nhuận trên hết” là một thứ Quỉ Satan. Cổ phần hóa trường công lập, nhất là đại học công lập, dù muốn giải thích bằng cách nào đi nữa, dù là do chưa đủ cân nhắc, do thiếu hiểu biết, hay cố tình chưa tiết lộ ra, cũng vẫn là con đường mon men tiến tới lấy tài sản công biến thành tài sản tư, bởi vì tôi chưa từng thấy có cổ đông mà không có chia chác lợi nhuận ; trên toàn thế giới này cốt lõi của công ti cổ đông là hoạt động như vậy.

Tiến hành việc đó là một thứ « bán hồn cho Quỉ » mà không đổi lại được gì khác ngoài một chút tiền, không có được cả những cái hấp dẫn như sự hiểu biết, sắc đẹp, tình yêu, dù là nhất thời. Tôi không phải là nhà tiên tri, nhưng tôi dám khẳng định là loại dự định như thế này, không thể dẫn đến kết luận tốt đẹp. Bán « trí tuệ », linh hồn của dân tộc thì còn gì ?

Tây Nguyên S.O.S. - Bui ngoc Lieu

Tây Nguyên S.O.S.
Tia Sáng Cập nhật : 10/11/2008 18:02

Nhưng nghiêm trọng hơn nữa -- điều này, vì những lí do dễ hiểu, không được nêu ra rõ ràng trong bài báo -- nó cho thấy sức ép của Trung Quốc và việc một bộ phận chính quyền đã lén lút để cho Trung Quốc -- không có công nghệ cao và "sạch" -- trúng thầu. Không những thế, theo những nguồn tin đáng tin cậy, những công ti Trung Quốc có thể sẽ đưa một lực lượng công nhân -- hay quân nhân mặc thường phục ? -- sang khai thác ; và điều này đang gây ra bức xúc, phẫn nộ ngay trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Phê phán dự án bauxit-nhôm ở Tây Nguyên


5 nguy cơ, rủi ro và giải pháp




Đầu tháng 11/2008, với sự chủ trì của GS. NGND Nguyễn Văn Chiển, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ nhiệm chương trình Tây Nguyên I, một số nhà khoa học, văn hóa, chuyên gia kinh tế : Nhà văn Nguyên Ngọc ; GS.TSKH Đặng Trung Thuận, Chủ tịch Hội Địa hóa Việt Nam ; GS.TS Trần Nghi, Chủ tịch Hội trầm tích, tổng Hội Địa chất VN ; GS.TS Phạm Duy Hiển, Nguyên Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt ; PGS.TS Khổng Diễn, Nguyên Viện trưởng Viện Dân tộc học ; PGS.TS Hà Huy Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam ; PGS.TS Trần Đình Thiên, Quyền Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam... đã nghiên cứu, phân tích các nguy cơ liên quan đến chương trình khai thác quặng Bauxit, sản xuất Alumin và luyện Nhôm ở Tây Nguyên của Tập đoàn Than – Khoáng sản và thống nhất đề xuất một số giải pháp đáp ứng.

I. BỐI CẢNH VẤN ĐỀ

Bauxit là một trong những khoáng sản phổ biến trên bề mặt Trái đất để chế biến thành nhôm kim loại và là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản có trữ lượng lớn của Việt Nam. Theo kết quả điều tra thăm dò địa chất chưa đầy đủ, ở nước ta khoáng sản Bauxit phân bố rộng từ Nam đến Bắc với trữ lượng khoảng 5,5 tỷ tấn quặng nguyên khai, tương đương với 2,4 tỷ tấn quặng tinh ; tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (chiếm 91,4%), trong đó Đăk Nông 1,44 tỷ tấn (chiếm 61%). So với các mỏ Bauxit trên thế giới, Bauxit ở Việt Nam được đánh giá có chất lượng trung bình.

Bài này đã được công bố trên mạng của báo Tia Sáng (http://www.tiasang.com.vn/) ngày 7.11.2008 rồi bị bóc đi. Đây chắc chắn là kết quả một cú điện thoại hay SMS của bộ 4T. Diễn Đàn quyết định đăng lại toàn văn bài báo, vì nhiều lẽ. Trước tiên, để cho bộ máy kiểm duyệt biết rằng thời bao cấp và kiểm duyệt đã nhường chỗ cho thời đại internet. Thứ nhì, quan trọng hon, là nội dung vấn đề. Bài báo ngắn tổng hợp ý kiến của những nhà khoa học cho thấy rõ dự án khai thác quặng bauxit ở Tây Nguyên là phi kinh tế, phí phạm, và sẽ gây ra nhiều tác hại về môi trường, xã hội, văn hoá.

Nhưng nghêim trọng hơn nữa -- điều này, vì những lí do dễ hiểu, không được nêu ra rõ ràng trong bài báo -- nó cho thấy sức ép của Trung Quốc và việc một bộ phận chính quyền đã lén lút để cho Trung Quốc -- không có công nghệ cao và "sạch" -- trúng thầu. Không những thế, theo những nguồn tin đáng tin cậy, những công ti Trung Quốc có thể sẽ đưa một lực lượng công nhân -- hay quân nhân mặc thường phục ? -- sang khai thác ; và điều này đang gây ra bức xúc, phẫn nộ ngay trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Phải ngăn chận dự án nguy hại này.

Diễn Đàn

Theo báo cáo “Tổng quan về tài nguyên quặng Bauxit và quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng Bauxit giai đoạn 2007-2015 có xét đến năm 2025” của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc đầu tư thực hiện quy hoạch Bauxit tại Tây Nguyên thì đến năm 2015, Việt Nam sẽ sản xuất từ 6,0-8,5 triệu tấn Alumin và 0,2-0,4 triệu tấn Nhôm. Tại vùng Tây Nguyên sẽ xây dựng 6 nhà máy Alumin, 1 nhà máy điện phân nhôm, 1 đường sắt khổ đơn dài 270km, rộng 1,43m từ Đăk Nông đến Bình Thuận và 1 cảng biển chuyên dụng công suất 10 - 15 triệu tấn tại Bình Thuận. Đến năm 2025 sẽ xây dựng và nâng công suất của 7 nhà máy Alumin, 2 nhà máy điện phân nhôm, 1 đường sắt khổ đôi rộng 1,43 mét và 1 cảng biển công suất 25 - 30 triệu tấn để sản xuất từ 12-18 triệu tấn alumin / năm. Tổng đầu tư cho toàn bộ chương trình này đến năm 2025 ước khoảng 20 tỷ USD và Việt Nam sẽ trở thành một trong những “cường quốc” sản xuất và xuất khẩu Alumin ra thế giới.

Mặc dù kế hoạch “đồ sộ” trên đã bắt đầu được TKV triển khai bằng việc giải phóng mặt bằng, đấu thầu và khởi công nhà máy Alumin tại Bảo Lộc – Lâm Đồng (tháng 7/2008) với công suất 600.000 tấn / năm, và triển khai nhà máy Alumin Nhân Cơ – Đắc Nông cũng với công suất tương tự, nhưng chương trình này chưa nhận được sự đồng thuận của rất nhiều người, đặc biệt là giới khoa học. Bản thân TKV và UBND các tỉnh có Bauxit cũng đang rất lúng túng trong việc nhận dạng các nguy cơ, những tác động tiêu cực tiềm tàng và các giải pháp giảm thiểu trong tương lai.

Báo cáo này phân tích những nguy cơ, các tác động tiêu cực tiềm tàng và đề xuất các giải pháp chiến lược cho chương trình Bauxit tại Tây Nguyên.

II. NHỮNG NGUY CƠ VÀ RỦI RO CÓ THỂ XẢY RA
ĐỐI VỚI CHƯƠNG TRÌNH BAUXIT TÂY NGUYÊN

1. Các vấn đề liên quan đến quy hoạch tổng thể, hiệu quả kinh tế, quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên Quốc gia :

Kế hoạch chương trình khai thác khoáng sản Bauxit ở Tây Nguyên của Tập đoàn TKV được xây dựng với tổng mức kinh phí đầu tư lên đến gần 20 tỷ USD nhưng chưa có một chiến lược tổng thể tối ưu, cân nhắc thấu đáo mọi mặt cho việc phát triển toàn diện, bao gồm cả quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho Tây Nguyên trong mối liên quan chung với phát triển của cả nước. Kế hoạch này cũng chưa đưa ra được những tính toán chi tiết về hiệu quả kinh tế tổng thể của chương trình, bao gồm cả việc phân tích xu hướng thay đổi nhu cầu về nhôm trong quá khứ và dự báo trong tương lai. Dẫn đến chương trình này chưa đạt được sức thuyết phục, biểu hiện thiếu tính khả thi. Nếu không phân tích kỹ càng thì chương trình Bauxit-Nhôm có thể sẽ rơi vào tình trạng khốn đốn như đã gặp phải đối với chương trình mía đường, xi măng lò đứng trước đây và ngành thép hiện nay. Đó là đầu tư ào ạt và khi bắt đầu có sản phẩm giá thị trường lại rớt xuống, đẩy ngành sản xuất vào thế bế tắc và đứng bên bờ phá sản.

Từ nay đến năm 2020, nước ta sẽ còn thiếu điện trầm trọng. Đây là một nút thắt gây tắc nghẽn tăng trưởng nghiêm trọng kéo dài của nền kinh tế nước ta. Cùng với xu thế gia tăng mạnh đầu tư trong những năm tới, đặc biệt là những dự án đầu tư nước ngoài cực lớn, có nhu cầu tiêu thụ điện năng cao, việc tiến hành Chương trình Bauxit Tây Nguyên chắc chắn sẽ làm gia tăng tình trạng tranh chấp nguồn năng lượng khan hiếm vốn đang rất gay gắt này. Điều này cũng xảy ra với nhiều nguồn lực khan hiếm khác như nước, hạ tầng giao thông, cảng biển và nhân lực chất lượng cao. Cho đến nay, các chương trình phát triển đều chưa cho thấy sự cân nhắc đến việc giải quyết tranh chấp này và những hậu quả chiến lược dài hạn tổng thể của nó. Điều đó đồng nghĩa với khả năng làm suy giảm mức độ hấp dẫn và tính hiệu quả của môi trường đầu tư của nền kinh tế, dẫn tới chỗ làm Việt Nam chậm trễ, thậm chí, bị lỡ nhịp trong việc tận dụng các thời cơ phát triển lớn đang mở ra.

Trong bối cảnh thiếu điện trầm trọng như hiện nay, Việt Nam không thể điện phân nhôm bởi quá trình này đòi hỏi một lượng điện năng lớn, giá rẻ - chủ yếu là từ thủy điện. Ước tính, lượng điện năng cần thiết để luyện 0,3 triệu tấn nhôm / năm theo như quy hoạch là 4,5 tỷ KWh, tương đương các nhà máy thủy điện có tổng công suất lên tới 1200MW. Trong khi tiềm năng thủy điện của VN gần như đã cạn kiệt và bản thân TKV mới đây chỉ được giao xây dựng nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 chỉ với công suất 300MW, thì trong bối cảnh hiện nay luyện nhôm là điều bất khả thi.

Những phân tích trên cho thấy VN không nên quá vội vã trong việc khai thác Bauxit và xây dựng các nhà máy sản xuất Alumin để xuất khẩu, bởi giá trị của Alumin chỉ bằng 12% giá trị của Nhôm kim loại. Bauxit là tài nguyên không tái tạo, khi khai thác và sử dụng thì nó sẽ vĩnh viễn mất đi vì thế chúng ta không nên vội vàng lãng phí tài nguyên mà hãy để dành Bauxit đến khi có điều kiện (điện năng, công nghệ…) để sản xuất thành các sản phẩm có giá trị cao như nhôm và các sản phẩm nhôm. Bài học kinh nghiệm từ ngành than cho thấy sau bao nhiêu năm khai thác và xuất khẩu, đến nay Việt Nam đã phải tính đến việc nhập khẩu 3,5 triệu tấn than / năm từ Indonesia.

2. Các nguy cơ về ô nhiễm môi trường và sinh thái của Tây Nguyên

Ô nhiễm môi trường là vấn đề được quan tâm nhiều trong thời gian gần đây, đặc biệt khi ở Việt Nam liên tiếp xảy ra nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng về môi trường.

● Dưới góc độ môi trường thì bùn đỏ là vấn đề được quan tâm nhất : Bùn đỏ là hỗn hợp bao gồm các chất như sắt, mangan… và một lượng xút dư thừa do quá trình dung hòa, tách quặng Alumin. Đây là hợp chất vô cùng độc hại, thậm chí bùn đỏ được ví như “bùn bẩn”, “bom bẩn”. Hiện nay, trên thế giới chưa có nước nào xử lý triệt để được vấn đề bùn đỏ. Cách phổ biến mà người ta vẫn thường làm là chôn lấp bùn đỏ ở các vùng đất ít người, ven biển để tránh độc hại. Với quy hoạch phát triển bauxit ở Tây Nguyên đến năm 2015 mỗi năm sản xuất khoảng 7 triệu tấn Alumin, tương đương với việc thải ra môi trường 10 triệu tấn bùn đỏ. Đến năm 2025 là 15 triệu tấn alumin tương đương với 23 triệu tấn bùn đỏ. Cứ như thế sau 10 năm sẽ có 230 triệu tấn và sau 50 năm sẽ có 1,15 tỷ tấn bùn đỏ tồn đọng trên vùng Tây Nguyên. Vấn đề đặt ra là liệu các giải pháp kỹ thuật (hồ chứa lót vải địa kỹ thuật) có thể đảm bảo giữ được bùn đỏ không ngấm xuống đất, không hòa vào nước ngầm bởi tính chất của bùn đỏ là các hạt rất nhỏ. Mỗi biến động về kỹ thuật, địa chất (vỡ đập ngăn, lũ quét…) đều có thể để lại hậu quả khôn lường cho các vùng dân cư các tỉnh ở hạ lưu sông Đồng Nai và sông Serepok.

● Thiếu nước : Tài nguyên nước mặt và nước ngầm ở Tây Nguyên là rất hạn chế : Hiện tại, mực nước ngầm ở Tây Nguyên đang giảm xuống một cách báo động do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng, đặc biệt cho phát triển cây công nghiệp. Việc tuyển rửa quặng Bauxit và chế biến Alumin đòi hỏi một lượng nước rất lớn, các nhà khoa học cảnh báo rằng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ sẽ rơi vào tình trạng thiếu nước trầm trọng. Xung đột về nước giữa các ngành sản xuất và giữa sản xuất và tiêu dùng là điều chắc chắn xảy ra.

● Giảm tỷ lệ che phủ suy giảm đa dạng sinh học là vấn đề môi trường tiếp theo được cảnh báo. Do đặc điểm quặng Bauxit có tầng mỏng và phân bố dàn trải trên diện tích bề mặt rộng (ở Đăk Nông, Bauxit phân bố trên 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh), nên trong quá trình khai thác Bauxit sẽ phải chặt hạ, phá bỏ một diện tích lớn rừng tự nhiên, rừng trồng và thảm thực vật cây công nghiệp: Cao su, Chè, Cà phê, Điều, Tiêu... Đây chính là những nguồn thu chính nhằm đảm bảo ổn định sinh kế lâu dài và bền vững của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tây Nguyên là vùng có lượng mưa lớn (trên 2000mm/năm), lại tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa (đặc biệt là tháng 8, tháng 9) nên nguy cơ xói mòn, rửa trôi đất đai lớn, khó có khả năng hoàn thổ, phát triển lại thảm thực vật sau khai thác Bauxit.

● Ô nhiễm bụi, không khí : Quá trình khai thác và vận chuyển quặng Bauxit từ các điểm quặng đến nhà máy tuyển sẽ gây ra ô nhiễm không khí do bụi và các khí thải bởi phương tiện giao thông. Với công suất Alumin như ở nhà máy Nhân Cơ là 600.000 tấn/năm, tương đương với lượng quặng thô cần khai thác là 3 triệu tấn/năm. Ước tính hằng ngày sẽ có khoảng 400 chuyến xe vận chuyển quặng đến nhà máy tuyển rửa. Với đặc thù của đất đỏ Tây Nguyên và mùa khô kéo dài trong 6 tháng, các khu dân cư xung quanh sẽ bị bao trùm bởi bụi đất đỏ Bazan, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người dân. Ô nhiễm không khí sẽ trở nên trầm trọng hơn do bụi phát ra trong quá trình vận chuyển Alumin đến cảng biển, vận chuyển than và nguyên vật liệu ngược lại, cũng như phát thải do các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than ở các nhà máy Alumin.

3. Các vấn đề liên quan đến ảnh hưởng văn hoá, xã hội của các cộng đồng dân cư vùng khai thác khoáng sản :

Quá trình khai thác khoáng sản Bauxit diễn ra trên diện rộng (ở Đăk Nông là 2/3 diện tích bề mặt), cùng với việc sẽ có thêm gần 30.000 cán bộ kỹ thuật và nhân công lao động đến làm việc ở vùng này sẽ tạo ra sự ảnh hưởng sâu sắc đến vấn đề văn hoá và xã hội của các cộng đồng Tây Nguyên, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc thiểu số bản địa như Mơ Nông, Châu Mạ…

● Xói mòn văn hóa bản địa : Cho đến nay ở Đăk Nông đồng bào dân tộc thiểu số bản địa như Đăk Nông, Châu Mạ chỉ chiếm khoảng 12 % tổng dân số. Quá trình khai thác Bauxit được cảnh báo là sẽ tạo ra làn sóng mới về di dân đến vùng Tây Nguyên và sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của các cộng đồng dân tộc bản địa. Không gian xã hội của người dân bản địa sẽ bị xâm phạm, và bản sắc văn hoá, tập tục truyền thống có nguy cơ bị mất đi, và như thế những người dân bản địa sẽ trở nên bơ vơ, lạc lõng, mất phương hướng ; và xã hội sẽ rối loạn. Các nhà nghiên cứu văn hóa cảnh báo rằng, trong những năm qua cú sốc lớn nhất đối với Tây Nguyên là làn sóng di dân tự do và có lẽ cú sốc tiếp theo sẽ là sự thay đổi địa bàn cư trú, nếu chúng ta không có những phương án tái định canh, định cư bền vững nhằm đảm bảo sinh kế và bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá của dân cư tại địa phương trước khi tiến hành khai thác mỏ quặng, sẽ còn có những tác hại lớn hơn không lường trước được. Rất có thể nhiều người dân bản địa phải bỏ làng ra đi tìm nơi ở mới.

● Công ăn việc làm cho người dân địa phương : Mặc dù luận chứng của Tập đoàn TKV chỉ ra rằng các dự án Bauxit-Alumin sẽ tạo ra hàng ngàn công ăn việc làm cho người dân địa phương, tuy nhiên, nhiều người nghi ngờ về khả năng người dân địa phương (đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ) có thể có được chỗ đứng tại các nhà máy, các khu công nghiệp do các rào cản về trình độ học vấn và thiếu thông tin. Báo cáo của TKV cho thấy trong số hơn 300 thanh niên được gửi đi học nghề trong năm qua thì chỉ có 02 em là con em của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.

● Đền bù, tái định cư : Do đặc điểm phân bố quặng trên diện rộng nên việc khai thác Bauxit sẽ phải thu hồi đất đai và phải tổ chức di dời, tái định cư cho nhiều cộng đồng dân cư sống trong vùng. Các công trình nghiên cứu tái định cư ở Việt Nam đã chỉ ra rằng phần lớn các khu tái định cư trong các khu công nghiệp, các nhà máy thủy điện đã không thể đáp ứng được tiêu chí “ cuộc sống người dân ở khu ở mới tốt hơn hoặc bằng với khu ở cũ ” mà Chính phủ đã đề ra. Người dân ở các khu tái định cư gặp vô vàn khó khăn về đất đai sản xuất, cơ sở hạ tầng yếu kém và ổn định sinh kế dài hạn. Dù mới triển khai giải phóng mặt bằng đối với 190 hộ dân trong hơn 1 năm qua, nhưng những hạn chế về tái định cư đã bộc lộ khá rõ tại nhà máy Alumin Nhân Cơ khi vẫn còn 16 hộ gia đình chưa nhận tiền đền bù và khu tái định cư tạm thời cho người dân vẫn chưa được xây xong. Điều này báo hiệu những nguy cơ và khó khăn trong tương lai khi mà chương trình khai thác Bauxit sẽ ảnh hưởng đến hơn 100.000 hộ dân trên địa bàn tỉnh Đăk Nông.

4. Các vấn đề về công nghệ và phương thức đầu tư

Cho đến nay nhà máy Alumin Tân Rai (Lâm Đồng) vừa hoàn thành đấu thầu chuyển giao công nghệ EPC từ nhà thầu Chalco – Trung Quốc với giá trị 466 triệu USD. Bên cạnh đó TKV cũng đang xúc tiến hoàn thành hồ sơ xét thầu cho gói thầu EPC nhà máy Alumin Nhân Cơ với tổng giá trị khoảng 500 triệu USD. Điều đáng lưu ý đó là cả hai nhà thầu vào vòng chung kết cung cấp gói thầu EPC cho nhà máy Nhân Cơ đều lại là các nhà thầu Trung Quốc (trong đó có Chalco) và rất nhiều khả năng một lần nữa công ty Chalco lại trúng thầu. Câu hỏi đặt ra ở đây là trong khi xuất phát điểm về công nghệ chế biến Alumin của Việt Nam bằng 0, tại sao TKV lại lựa chọn toàn bộ các nhà thầu cung cấp thiết bị là Trung Quốc – một đất nước có nền công nghệ chưa cao ? Tại sao TKV không tính đến phương án lựa chọn 2 nhà thầu khác nhau ở hai nhà máy để có thể so sánh, đối chứng về mặt công nghệ, từ đó có những lựa chọn tốt hơn cho các nhà máy trong tương lai ? Giải thích của TKV cho rằng các nhà thầu Quốc tế khác không tham gia bỏ thầu vì giá thầu 500 triệu USD… là nhỏ, dường như không thuyết phục và còn nhiều điều ẩn chứa phía sau cần được làm rõ.

Ở nhà máy Alumin Tân Rai và Nhân Cơ, sau khi xây dựng xong tổng chi phí cho mỗi nhà máy ước tính khoảng trên 12.000 tỷ đồng (vì còn các gói thầu phụ chưa tính toán xong và chưa đấu thầu). TKV đã bỏ 100 % vốn ở nhà máy Tân Rai (mặc dù Chính phủ đã cho phép công ty cổ phần kim loại màu Vân Nam – Trung Quốc góp 20 % vốn nhưng vẫn chưa có hợp tác chính thức). Ở nhà máy Nhân Cơ TKV dự định cũng sẽ bỏ vốn 100 %. Đây lại là một vấn đề có nhiều uẩn khúc. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu chứa đựng nhiều rủi ro; lạm phát tăng cao và chủ trương cắt giảm đầu tư ở Việt Nam thì tại sao TKV không sử dụng phương án liên doanh tại nhà máy Alumin Nhân Cơ (Chính phủ đã cho phép TKV liên doanh với Tập đoàn Alcoa – Mỹ tại nhà máy này với số vốn đóng gớp của Alcoa lên đến 40 %.) bởi việc liên doanh với những tập đoàn có uy tín có thể sẽ giúp cho TKV giải quyết được cả vấn đề về vốn lẫn công nghệ.

5. Các vấn đề liên quan đến hậu khai khoáng

Nhiều đại biểu băn khoăn về các giải pháp ổn định cuộc sống người dân, hoàn thổ và phục hồi thảm thực vật hậu khai khoáng, và cho rằng giải pháp hoàn thổ là gần như không khả thi. Vấn đề hậu khai khoáng có thể còn nặng nề hơn rất nhiều so với những gì diễn ra trong quá trình khai khoáng. Nếu quá trình trình khai khoáng cho mỗi vùng chỉ mất từ 1-2 năm thì quá trình phục hồi đất và ổn định cuộc sống dân sinh sau khai khoáng phải mất hàng chục năm, và nó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp chính quyền, các chương trình phát triển cũng như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – điều mà Việt Nam chưa có các bài học thành công.

III. CÁC ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ

Với thực trạng của chương trình cùng với những phân tích nêu trên cho thấy rằng hiện tại TKV chưa có những chuẩn bị đầy đủ những điều kiện cơ bản về hiểu biết công nghệ, phân tích tính kinh tế, tối ưu hoá việc sử dụng tài nguyên, những ảnh hưởng tiêu cực và các giải pháp giảm thiểu cho chương trình Bauxit – Alumin tại Tây Nguyên ; và về mặt tổng thể thì chương trình này chưa được cân nhắc thấu đáo trong mối quan hệ phát triển tổng thể về kết cấu hạ tầng và các lợi thế so sánh phát triển khác của vùng Tây Nguyên và dải đất miền Trung.

Để công việc này được triển khai có hiệu quả và tránh những sai lầm, nguy cơ và rủi ro đáng tiếc xảy ra trong tương lai, những công việc sau đây cần sớm được tiến hành một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc :

1. Quốc hội cần yêu cầu Chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương chủ trì cùng với các cơ quan liên quan, các đơn vị tư vấn tiến hành đánh giá môi trường chiến lược cho quy hoạch bauxit tại Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, đánh giá ĐMC (Đánh giá Môi trường Chiến lược ) cần bao gồm :

2. (ĐMC) đối với chương trình Bauxit Tây Nguyên theo quy định tại điều 14, chương III, Luật Bảo vệ Môi trường 2005. Báo cáo đánh giá ĐMC cần thể hiện :

● Tính toán, cân nhắc kỹ càng việc đặt chương trình Bauxit Tây Nguyên trong khuôn khổ phát triển bền vững liên vùng Duyên hải miền Trung - Tây Nguyên. Định hướng bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên đặc sắc cũng như xây dựng những lợi thế phát triển mới đặc thù riêng của Vùng ;

● Tính toán chi phí – lợi ích của chương trình Bauxit ; so sánh với các chương trình phát triển khác như trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê…), phát triển kinh tế dịch vụ - du lịch, kinh tế tri thức của quốc gia. Đặc biệt cần cân nhắc khả năng biến động giá cả trên thị trường Alumin-Nhôm thế giới khi xuất hiện “cường quốc mới” là Việt Nam. Đây là yếu tố có tác động mạnh mẽ và lâu dài đến hiệu quả của toàn bộ Chương trình ;

● Đánh giá sự suy giảm và ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm. Mức độ lan toả ô nhiễm xuống hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai và sông Serepok. Sự suy giảm và các giải pháp phục hồi đa dạng sinh học của thảm thực vật, quy hoạch sử dụng đất và hoàn thổ sau khai thác Bauxit ;

● Đánh giá tác động đến mất cân bằng văn hoá bản địa trong tái định cư ; giao thoa, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc bao gồm cả những giá trị phi vật chất ; nguy cơ dịch bệnh của con người, gia súc, gia cầm trong vùng ảnh hưởng ;

● Đánh giá ảnh hưởng đến sinh kế của dân địa phương và các giải pháp nâng cao dân trí, đào tạo nghề, phát triển bền vững cho cộng đồng, đặc biệt là sự an toàn trong việc phát triển liên thế hệ ;

● Đưa ra các kịch bản phát triển cho Tây Nguyên ; cân đối các lợi ích và chi phí để so sánh và lựa chọn kịch bản tối ưu về phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo tồn văn hóa bản địa và bảo vệ môi trường – sinh thái toàn vùng.

● Từ các đánh giá, so sánh nêu trên cần đưa ra các kịch bản phát triển khác nhau cho Tây Nguyên để từ đó lựa chọn kịch bản phát triển hợp lý / tối ưu nhất trên cơ sở phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo tồn văn hóa bản địa và bảo vệ môi trường – sinh thái toàn vùng.

3. Tạm dừng các chương trình phát triển Bauxit ở quy mô lớn và ồ ạt. Tập trung công tác điều tra, thăm dò trữ lượng và đánh giá chất lượng quặng Bauxit ở Tây Nguyên. Trước mắt chỉ nên xây dựng chương trình thí điểm (pilot) về khai thác Bauxit, sản xuất Alumin nhằm thử nghiệm công nghệ, nhận dạng những nguy cơ, rủi ro, tiềm năng và đưa ra các giải pháp khả thi để giảm thiểu tác động tiêu cực của chương trình.

4. Cần cân nhắc, tính toán lại đối với kế hoạch xây dựng nhà máy Alumin Nhân Cơ. Tính toán phương án lựa chọn công nghệ tiên tiến của các nước phát triển và phương án liên doanh với công ty nước ngoài nhằm giảm thiểu rủi ro cả về mặt công nghệ và tài chính, tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong đầu tư và phát triển.

5. Về mặt vĩ mô, Chính phủ cần tăng cường hơn nữa các hoạt động hướng tới phát triển bền vững Tây Nguyên. Có thể cân nhắc đến việc chuyển đổi “Ban chỉ đạo Tây Nguyên” thành “Ủy ban phát triển bền vững Tây Nguyên” để tập trung trọng tâm các hoạt động vào phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường tại Tây Nguyên mà Bauxit là một trong những hợp phần của chương trình phát triển tổng thể.

6. Do đặc điểm khoáng sản Bauxit phân bố trên cả địa phận cao nguyên Boloven – Lào và Mondulkiry – Campuchia, vì thế, Việt Nam nên cân nhắc việc phối hợp với Chính phủ Lào và Campuchia tiến hành đánh giá ĐMC cho khai thác khoáng sản Bauxit liên Quốc gia. Phối hợp ràng buộc trách nhiệm xã hội, trách nhiệm phát triển đối với các công ty, tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước tham gia chương trình khai thác khoáng sản Bauxit liên Quốc gia.

nguồn : Tia Sáng ngày 7.11.2008


Copyright © 2006 by Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
diendan@diendan.org

Di sản - Bùi Trọng Liễu

Di sản

Bùi Trọng Liễu



Ở Ai-cập, phía bên kia sông Nil so với quần thể đền đài Louqsor và Karnak, có hai pho tượng khổng lồ bằng đá, cao 18m, nặng khoảng 1300 tấn ; đó là tượng của vua pharaon Amenophis III, tượng ngồi, hai tay đặt trên đùi (26 năm trước đây, tôi có dịp thăm Ai-cập, còn thấy). Hai tượng này thuở xưa gác ngôi đền nghe nói rất rộng thờ vua nói trên ; đền nay đã mất. Với thời gian, mặt tượng cũng đã bị mòn (đã hơn 3000 năm rồi!). Tương truyền, năm 27 trước Công nguyên, một trận động đất làm sụp phần lớn ngôi đền, và tượng phía bên phải bị nứt từ vai đến mông, và từ thời điểm ấy, cứ lúc mặt trời mọc là phát ra tiếng rên/hát. Ngày nay có thuyết cắt nghĩa rằng, ánh nắng mặt trời buổi sớm làm nóng kẽ nứt của đá, gây ra tiếng động. Vì thế mà thuở ấy, người Hy-lạp gán tượng này cho Memnon trong thần thoại Hy-lạp : Memnon, vua xứ Ethiopie và Ai-cập, mang quân sang cứu bác là vua Priam xứ Troie – cuộc chiến tranh ở xứ Troie này (1), mà đoạn cuối được kể trong Iliade và Odyssée, tác phẩm truyện thơ của Homère (phỏng đoán sống vào khoảng thế kỉ thứ 8 trước Công nguyên) và trong Enéide, tác phẩm của Virgile (Publius Vergilius Maro, khoảng thế kỉ thứ 1 trước Công nguyên). Memnon bị Achille giết chết. Mẹ Memnon là nữ thần Eos, (tức là Aurore, « Bình minh », nghĩa là lúc trời hửng sáng ngay trước khi mặt trời mọc), van xin Zeus, chúa tể các thần, cho Memnon sống lại. Về việc pho tượng phát ra tiếng mỗi khi mặt trời mọc, người Hy-lạp thuở đó cho là Memnon sống lại cất tiếng hát chào mẹ mình, nên mới gán cho tượng này là tượng của Memnon. Tới đầu thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên, hoàng đế La-mã Septimius Severus (lúc đó Ai-cập thuộc đế quốc La-mã), cho tu sửa lại pho tượng này, nhưng từ đó bặt im, không phát ra tiếng nữa. Đáng tiếc, nhưng đây là do thiện chí muốn bảo tồn. Mất tiếng hát, nhưng tượng còn đó.

Nước Afghanistan, vùng Bamiyan, có 2 tượng Phật trong tư thế đứng, khổng lồ, tạc ở núi đá, một tượng cao 35m, một tượng cao 55m, được ước lượng tạc vào khoảng đầu thế kỉ thứ 6 (theo ước lượng của ICOMOS, International Council of Monuments and Sites, với phương pháp cacbon 14). [Nghe kể là còn một pho tượng Phật bằng đá thứ ba nữa còn đồ sộ hơn nhiều, nhưng trong tư thế nằm, nay chưa tìm thấy, có lẽ còn vùi trong lòng đất. Ba pho tượng này có được nhà sư Huyền Trang đời Đường (2) kể là đã nhìn thấy và xác định vị trí trong chuyến đi thỉnh kinh, ròng rã 16 năm (629-645), trong cuốn « Kí sự du hành » còn gọi là « Đại đường Tây vực kí »]. Đã từ lâu, nước Afghanistan này theo Hồi giáo, đạo Phật không còn nữa ; nhưng 2 pho tượng đứng này vẫn được coi là di sản quí báu của bản xứ và nhân loại, và được gìn giữ. Thế nhưng vào tháng 3 năm 2001, chính quyền Taliban cho nổ mìn hủy hai pho tượng này, trước sự phẫn nộ của thế giới. Có lẽ là để chứng tỏ quyền lực của họ, mà rồi họ cũng không giữ được quyền lực đó! Cuồng tín đến mức hủy hoại di sản của chính nước mình, thì là cùng cực.

Nhưng đó là hai chuyện nước ngoài. Nước ta cũng có chuyện để kể. Sau khi đăng bài « Long mạch : Trả lời những câu hỏi » , đăng trên
http://www.viet-studies.info/BTLieu_LongMach_TraLoiCauHoi.htm, http://www.diendan.org/viet-nam/long-mach-tra-loi/
một số bạn đọc hỏi tôi chi tiết về vụ vua Chiêu Thống Lê Duy Kỳ đốt phủ chúa Trịnh. Cách cư xử của ông vua này cũng khác thường, nếu không nói là kỳ dị. Nhắc lướt qua lại trong bài dẫn trên, tôi có kể là theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí (3), ông ta có thù đối với chúa Trịnh Sâm (giết bố ông ta là thái tử Lê Duy Vỹ). Khi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ ra Bắc lần đầu, « phò Lê diệt Trịnh », chúa Đoan Nam vương Trịnh Tông (con Trịnh Sâm) đi trốn, bị Nguyễn Trang lừa bắt giải nộp cho quân Tây Sơn, nửa đường tự tử chết, ông ta lúc ấy còn đang là hoàng tự tôn, chưa nối ngôi vua, đã có lời cảm ơn Nguyễn Huệ. Tôi cũng chỉ xin nói lướt qua cách cư xử có thể gọi là thiếu ngoại giao của ông ta về việc không mời Bắc Bình vương Nguyễn Huệ dự lễ nhập quan vua Hiển Tông và lễ lên ngôi vua của ông ta (mặc dù Nguyễn Huệ lúc đó đã là chồng công chúa Ngọc Hân, nghĩa là con rể vua Hiển Tông, vv.) làm cho Nguyễn Huệ rất giận.

Sau khi vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc hộc tốc ra Bắc rồi cùng Bắc Bình vương Nguyễn Huệ bí mật rút quân về Nam, vua Lê Chiêu Thống bơ vơ, hai tôn thất họ Trịnh là quận Thụy (Trịnh Lệ, em ruột chúa Trịnh Sâm) và quận Côn (Trịnh Bồng, con trai chúa Trịnh Giang) mới mon men về Kinh để tính lập lại ngôi chúa. Quận Thụy về tới trước, vào phủ chúa ban đêm, cùng đồng đảng đánh trống khua chiêng, tự lên ngôi chúa, rồi sáng hôm sau sai người triệu tập các quan. Lúc ấy là lúc hỗn loạn, chưa biết quyền lực ngả về ai, bọn quan này hoang mang sợ vạ, bàn nhau trả lời nước đôi rằng chưa có mệnh của vua, nên không dám tự tiện tới phủ chúa. Quận Thụy mới sai vây cánh là tiến sĩ Dương Trọng Tế, thảo tờ tâu vua, xin ban sắc dụ phong mình làm chúa. Vua giận quận Thụy tự tiện lên ngôi chúa trước, rồi nay mới xin phong. Lúc ấy, quân của vua mới mộ đã được vài nghìn người, các quan trong triều mới xúi vua nên làm căng cho quận Thụy phải sợ. Vua sai sứ giả cầm một tờ chỉ đến phủ chúa, nhắc lại lệ cũ là mỗi khi lập ngôi chúa, « chúa mới » phải thân hành vào triều nhận mệnh của vua, rồi vua mới hậu đãi bằng lệ « vào triều không lạy, tờ tâu không xưng tên ». Dương Trọng Tế xé tờ chỉ trước mặt sứ giả, nói : « Chưa từng thấy triều nào lập ngôi chúa mà vua lại dám ngăn trở như vậy. Cứ đem quân đến bắt mấy thằng (quan) xúi bẩy ấy đi, cho trơ cái ngai gỗ ra, xem vua có cho lập hay không ?». Lại bảo sứ giả : « Chúa vẫn làm chúa, vua có thiệt gì đâu ! Cứ cho lập đã, rồi sẽ vào lạy sau ». Sứ giả về kể lại ; vua giận lắm, bảo : « Nó khinh ta quá. Như thế nó còn phải xin mệnh của ta làm gì ? Thôi mặc cho nó tự làm lấy, ta cũng không khiến nó lạy nữa ! ». Các quan trong triều đều run sợ. May lúc ấy, quân của quận Côn kéo tới, quận Côn lại có tờ tâu vua, lời lẽ nhún nhường ; vua vừa ý, sai người triệu vào chầu. Lúc ấy quận Thụy và đồng đảng sợ hết hồn, mới chịu lép vế, sai người vào triều tâu vua cho vào lạy. Vua ưng lời, nhưng sai quân lính mai phục, đợi khi quận Thụy và đồng đảng vào chầu, sẽ bắt hỏi tội. Nhưng rốt cục quận Thụy không dám vào.

Quân của quận Côn và quân của quận Thụy đánh nhau; quận Thụy thua to bỏ chạy; quận Côn kéo quân vào thành, vào chầu vua. Vua úy lạo, hỏi quận Côn đóng quân ở đâu – (ý vua không muốn quận Côn đóng quân ở phủ chúa, sợ y lộng quyền như các chúa trước). Quận Côn cũng giữ ý, tâu xin đóng quân ở « lượng phủ » (nghĩa là phủ cũ của thế tử họ Trịnh). Vua đồng ý. Nhưng khi quận Côn qua cửa phủ chúa, vào lạy thăm cung miếu, bọn chân tay mới xúi là nếu không vào ở trong phủ chúa, thì sẽ làm lòng người chán nản, binh lính sẽ tan. Quận Côn bùi tai, vào ở phủ chúa. Vua giận lắm. Rồi từ đó vua chúa kèn cựa nhau. Quận Côn muốn vua phong mình tước vương ngay, vua thì chỉ muốn phong tước quốc công. Phe chúa mạnh hơn, ép vua, nhưng cũng không dám ép nhiều, hứa hẹn rằng chúa được phong, nhưng quyền vẫn ở vua ; vua bất đắc dĩ phải nghe theo, phong cho quận Côn làm Án Đô vương. Được phong tước xong, phe chúa lại tính lấn thêm một bước nữa. Lúc ấy có quận Thạc Hoàng Phùng Cơ vốn trước theo vua, bây giờ lại thuận theo ý chúa, một lũ kéo nhau vào triều dâng tờ tâu, mà họ đã khéo léo thảo ra, ý muốn giành quyền cho chúa : thí dụ xin cho chức quan bình chương (tể tướng thời vua còn cầm quyền ở triều đình) kiêm tham tụng (tể tướng thời chúa cầm quyền ở phủ chúa), vv . Vua đọc tờ tâu, nổi giận trách họ lấy hư văn đánh lừa vua. Bọn quận Thạc không cãi được, cứ cùng nhau phủ phục ở sân rồng, mãi đến đầu canh một chưa dậy. Vua thấy họ cứ nằm lỳ ở sân, mới nghĩ rằng họ đã có bụng khác, không thể trông cậy được nữa, dẫu có giữ ý mình cũng là vô ích, bèn đành ưng cho lời tâu của họ. Từ đó vua chúa thù nhau, mộ binh lính, có lúc tính đánh nhau, vv. Rốt cục, vua lén sai người vời Nguyễn Hữu Chỉnh mang quân từ Nghệ An ra giúp mình. Quân chúa Án Đô vương thua quân Nguyễn Hữu Chỉnh, các quan bên phủ chúa cũng sợ hết vía và bỏ chúa mà đi, chúa thế cùng phải bỏ trốn, sau không biết chết nơi nào.

Chúa Án Đô vương bỏ trốn rồi, thì vua sai người nổi lửa đốt phủ chúa. Theo Đại Việt Sử ký tục biên (4) và Hoàng Lê Nhất Thống Chí (đã dẫn trên), khói lửa bốc ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt. Hai trăm năm lâu đài cung khuyết huy hoàng đều cháy hết. Đó là vào ngày mồng tám tháng chạp năm Bính Ngọ (1786). « Xa gần nghe tin đó, ai cũng trách vua làm quá đáng ». Hẳn là họ oán vua phá hủy di tích.

Đấy là mấy mẩu chuyện bi hài dẫn đến việc vua Lê Chiêu Thống đốt phủ chúa. Tranh quyền lực thì có thể hiểu được. Cái không chấp nhận được là phá hủy di sản, nhất là di sản của chính nước mình. Củng cố được quyền lực của mình, là do những việc làm thuận lòng dân, chứ đâu có phải là do việc phá hủy hay xây cất lâu đài. Trường hợp bọn talibans đã là kỳ ; trường hợp cái ông vua Lê Chiêu Thống Duy Kỳ này còn kỳ hơn.


Chú thích:

(1) Câu chuyện chiến tranh Troie, nửa thần tiên nửa trần tục, khởi thủy là một quả táo vàng, trên đó có ghi câu « tặng nàng đẹp nhất » mà Eris, nữ thần « Bất hòa » (Discorde) chơi xỏ, tìm cách vứt lên bàn tiệc một đám cưới thần trên thượng giới, vì tất cả các thần đều được mời, trừ nàng không được mời vì lẽ đương nhiên ! Đây là thần, không phải là thánh! Zeus, thần chúa tể các thần, không muốn tự mình chọn tặng ai trong đám các nữ thần, vì sợ làm mích lòng các nàng, nên chỉ chọn 3 nàng ; rồi vị mới phù phép chỉ định một kẻ trần tục, Pâris, con trai của Priam, vua xứ Troie (nay gần eo biển Dardanelles, thuộc Thổ-nhĩ-kỳ ngày nay) để chọn đưa quả táo vàng tặng ai. Nghe đâu như vị sai các nữ thần xuống hạ giới giả làm gái trần gian, trao quả táo vàng cho Pâris đang chăn cừu, để chọn tặng cho nàng nào. Chàng này không ngần ngại, cầm đưa tặng ngay Aphrodite (nữ thần « Ái tình và Sắc đẹp »), chẳng sợ mất lòng các nàng khác. Đền công cho Pâris, nữ thần Aphrodite giúp cho chàng chiếm được người phụ nữ đẹp nhất thế gian : Hélène, vợ vua Menelas xứ Sparte. – Nhắc lại là chàng này, tuy là con vua, nhưng lúc sinh ra, đã bị điềm gở : có lời « sấm » cảnh báo rằng chàng lớn lên sẽ làm cho đất nước suy vi. Vua sợ, mới sai người đem giết đi ; nhưng hoàng hậu thương con, lén sai bỏ đứa bé cho bọn chăn cừu, và mang một xác trẻ em khác về trình vua, vì vậy lớn lên chàng mới đi chăn cừu. Sự tích quanh co một hồi, rồi chàng về triều, và được cử đi sứ, do đó mới gặp nàng Hélène, vv. – Nàng này, tuy là gái có chồng, nhưng khi gặp chàng thì « tình trong tuy đã, mặt ngoài còn … ứ hự », mặc chàng bắt cóc mình mang về xứ Troie. Vua Ménélas mất vợ, và mất thể diện, mới nhờ các vua các xứ Hy-lạp tập hợp thuyền bè quân đội, dưới sự tổng chỉ huy của Agamemnon, vua xứ Mycènes, vây đánh thành Troie. Cuộc chiến kéo dài 10 năm. Lộn xộn phe này phái kia, hiệp sĩ này đấu với hiệp sĩ kia (Pâris, Hector, Enée bên này, Achille, Ulysse bên kia, vv.), thần này bênh phe này, thần kia giúp phe kia, rốt cục nhờ cái mưu kế « Con ngựa [gỗ] thành Troie » mới phá được thành. Chuyện « con ngựa gỗ » là do mưu kế của Ulysse được nữ thần Athena xúi cho : đóng một con ngựa gỗ rỗng thật to, chứa được nhiều người bên trong, giả làm đồ cúng thần Athena, để trên bãi cát, rồi giả bộ rút thuyền bè quân đội đi, nhưng kỳ thật là mang quân núp ở đó không xa. Quân thủ thành ngỡ là đối phương chịu thua rút đi, bèn mở cửa thành, kéo con ngựa vào thành như là một chiến lợi phẩm. Cũng có người can (thày tu Laocoon), nhưng bị thần biển Poséidon sai rắn bóp chết (vì thần này thù dai về một câu chuyện tiền bạc gì đó với bố vua Priam xứ Troie). Tại có thần phù phép, nên quân thủ thành mới u mê đến thế ! Đến đêm, Ulysse và nhóm quân núp trong bụng con ngựa gỗ, chui ra, mở cổng thành cho quân Hy-lạp kéo vào, và như vậy là chiếm được thành, và thắng trận. Chuyện « Chiến tranh Troie » có cơ sở nào hay hoàn toàn là huyền thoại ? Có thuyết cho rằng có, có thuyết cho rằng không. Giả sử rằng thi sĩ Homère là người có thật, ông là người xứ nào, cũng không ai biết chắc, và không chắc ông đã là tác giả của tác phẩm mà sau này người ta gán cho ông, và câu chuyện ông kể cũng xảy ra 4 thế kỉ trước khi ông sinh ra. Còn Virgile thì lại dựa vào tác phẩm của Homère để viết tác phẩm của mình. Có điều là năm 1871, một nhà khảo cổ nghiệp dư, Heinrich Schliemann, dựa trên những tài liệu Hy-lạp cổ, phát hiện ra một « thị xã » (ở bờ biển Egée, phía đông Đại Trung Hải thuộc Thổ-nhĩ-kỳ ngày nay), gồm 7 « tầng » chồng chất, với dụng cụ, đồ trang sức bằng vàng ngọc ; và niên đại của tầng cổ nhất là khoảng 2500 trước Công nguyên, nghĩa là khoảng 1000 năm trước niên đại câu chuyện vua Priam và chiến tranh. Như vậy cũng có cơ sở để nói rằng thành Troie là có thật, nhưng « thị xã » này nhỏ bé, không phù hợp với chuyện Homère kể số quân vây thành đông đến hơn 10 vạn, và cuộc chiến kéo dài đến 10 năm. Có thuyết cho rằng, thời đó, dân thưa, của ít, các cuộc chiến thường chỉ huy động độ vài ngàn người, và đánh nhau cũng chỉ vài tháng là cùng. Dù cho năm 1876, nhà khảo cổ lại tìm thấy ở Mycènes dấu vết của một « thị xã », lớn và giàu hơn, có thể gán cho vua Agamemnon, lại có câu hỏi : Vậy thì các vua giàu có, huy động nhau với nhiều công của, thời gian, để đánh chiếm một nơi nhỏ bé, để làm gì ? Có thuyết cho rằng huyền thoại này được đặt ra để tán tụng sức mạnh của Athènes vào lúc manh nha tập hợp các xứ Hy-lạp. Còn chuyện con ngựa gỗ, mà ngành khảo cổ không tìm thấy được một dấu vết nào, phải chăng nó phát nguồn từ sự ra đời lúc đó của những công cụ « công thành » thật lớn ?

(2) Nhà sư Huyền Trang, còn được gọi là Tạm tạng pháp sư, là nhân vật có thật. Tiểu sử của vị cao tăng này, tóm tắt như sau : Sư sinh năm 600 sau Công nguyên (đời Tùy), mất năm 664 (đời Đường), 13 tuổi đã đi tu, năm 21 tuổi sư tu học kinh sách Đại thừa với nhiều thày khác nhau và thấy có nhiều chỗ giảng mâu thuẫn, vì thế nên sư lên đường đi quê hương Phật để tìm hiểu. Chuyến đi kéo dài 16 năm (629-645), qua nhiều nước Trung Á và Ấn Độ, kể cả nhiều năm lưu lại học và thăm viếng các di tích Phật giáo quan trọng. Sau khi trở về nước, nhờ sự hiểu biết, nhờ tiếng tăm vang dội mà sư đã có, và nhờ vua Đường đặc biệt hỗ trợ, sư hoàn thành công tác phiên dịch, từ tiếng Phạn sang chữ Nho, của hơn 600 kinh sách sư mang về. Huyền Trang là tu sĩ tiếng tăm nhất tại vùng Đông Á trong thời đó. Ngoài việc truyền bá kinh sách Phật giáo và tư tưởng Ấn Độ vào Trung Quốc, sư cũng gây ảnh hưởng lên nền nghệ thuật và kiến trúc Trung Quốc bằng những vật dụng và thiết kế do sư mang về. Ngôi chùa được xây theo thiết kế của sư tại Tây An (kinh đô Tràng An cũ) để chứa dựng kinh sách và các tác phẩm nghệ thuật của Sư mang về, nay vẫn còn. Xin cám ơn anh NTB đã chỉ cho tôi các trang tiểu sử của vị sư này. Nhân vật mà Ngô Thừa Ân (thế kỉ 16) tiểu thuyết hóa trong cuốn « Tây du kí », là một nhà sư ba phải, đôi khi bất công đối với đồ đệ của mình, nhất là với Tôn Ngộ Không, tuy làm cho nhiều người biết biết tới sư, nhưng xem ra không phù hợp với nhân vật Huyền Trang thật.

(3) Hoàng Lê Nhất Thống Chí , bản dịch của Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch, nxb Văn học, Hà Nội 1970.

(4) Đại Việt Sử ký tục biên, do Ngô Thế Long và Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng, Nguyễn Đổng Chi hiệu đính, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1991.