ĐI TÌM CÁI TÔI ĐÃ MẤT
(Tuỳ bút chính trị - 2006)
Nguyễn Khải
1.
Năm 70 tuổi tôi bắt đầu chán viết, người rã ra, đọc sách cũng nằm, đọc được mười lăm phút chữ nghĩa đã loè nhoè, chả rõ mình đang đọc cái gì. Rồi ngủ. Ngủ như chim, một chớp mắt đã tỉnh, tiếp tục đọc nốt cái nửa trang đọc dở vẫn cứ lờ mờ vì chả còn nhớ họ viết cái gì trong cái nửa trang vừa đọc. Cũng năm ấy tôi được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 2. Mừng thì rất mừng nhưng tôi đã nhận ra ngay đây là tấm bia mộ sang trọng cắm lên một đời văn đã tới hồi phải kết thúc. Thế là lại buồn, ra vào ngẩn ngơ cả tháng. Rồi quyết định ra chơi ngoài Bắc, trở lại quê ngoại là nơi tôi đăng ký tòng quân năm 1946, cũng là nơi tôi tập tọng viết những bài báo kháng chiến đầu tiên in litô vào năm 1949. Nó mở đầu cho nhiều chục năm tiếp theo, vừa là anh bộ đội vừa là nhà báo nhà văn. Cái thị xã quạnh quẽ, tơi tớp, tối tăm, toàn một màu xanh và đen những năm nào, giờ đã biến hoá thành một quận của Hà Nội hay Sài Gòn hôm nay. Lại nhớ tới những dãy phố ngắn ngủi, nhà thấp, hè hẹp, rợp bóng nhãn, mặt người hiền lành, dáng đi thong thả, thị xã như cái làng lớn, đi một đoạn đường phải chào hỏi không biết bao nhiêu là người vì toàn người quen cả. Năm chục năm sau, trở lại cái thị xã của tuổi mới trưởng thành, mà là trở về lần thứ ba (hai lần trước cách đây đã hơn hai chục năm) , cái mảnh đất thân thuộc đã hoá ra xa lạ. Đạp xe cả ngày chả gặp người quen nào, hoặc có gặp nhưng đã là hai ông già ở tuổi bảy mươi làm sao nhớ lại gương mặt của nhau cái thời mới mười tám đôi mươi. Lần về thứ hai vẫn còn ba người quen cũ, một người là Thuận, đại tá về hưu, một người là Tùng, trung đội phó, một người là Mễ, tiểu đội trưởng là những cấp chỉ huy đầu tiên của tôi trong cuộc sống quân ngũ. Lần này về gặp anh Thuận, cũng là ông chủ báo đầu tiên của tôi, anh hơn tôi vài tuổi. Còn hai người kia đều mới mất ở tuổi ngoài bảy mươi cả. Đường phố không quen, mặt người không quen, còn lại một ông bạn thân tối ngày đi họp, đủ các thứ hội hè để ông đến họp, vẫn là cái khát khao của người đã già, đã nghỉ hưu có dịp gặp lại bạn cũ, trò chuyện là chính, nhắc lại chuyện ngày xưa là chính, rồi than thở, đủ thứ than thở, chuyện nhà chuyện nước. Cũng buồn nhỉ? Chuyện người già có vui bao giờ, người đã xong một việc có làm gì cũng không thể vui. Vì tôi là người có gốc địa phương nên tỉnh uỷ có gặp và mời ăn một lần cho phải phép. Nhưng nhìn những gương mặt quan chức của tỉnh hôm nay mà kinh ngạc. Mặt người nào cũng đầy những múi thịt, sần sùi, nói nhiều, cười to, lời lẽ nhạt nhẽo, dung tục, và không bao giờ nhìn thẳng vào mặt mình để nói, cứ như là đang nói với một ai khác ngồi cạnh mình hoặc ngồi sau mình. Bữa sắp về Hà Nội, bí thư tỉnh uỷ lại mời gặp, không phải là gặp chính thức mà là cùng ngồi ăn sáng với ông vì ông cũng đang bận. Buổi gặp vừa hình thức vừa khó chịu vì chỉ có người lãnh đạo của tỉnh nói, nói như người rao hàng, mắt nhìn đâu đâu, bụng nghĩ đâu đâu. Tôi chỉ còn nhớ một chuyện, có một ông tướng, là danh tướng, người địa phương, có đem một giống hoa lạ từ Hà Nội về, tự tay ông trồng ở vườn hoa của tỉnh uỷ vì phải chọn đúng ngày, đúng giờ, cả đúng hướng nữa mới đem lại thịnh vượng, hạnh phúc cho dân trong tỉnh. Thật vậy sao?
Trong mấy ngày xuống xã vừa vui vừa buồn. Ai cũng giàu có hơn trước, nấu cơm bằng nồi cơm điện, tối xem tivi mầu, giờ rảnh thì xem phim bộ. Mỗi xóm đều có cửa hàng cho thuê băng vidéo, có gái điếm cho ngủ chịu đến mùa trả bằng thóc, có cờ bạc, có hút thuốc phiện và chích heroin, thành phố có gì ở làng quê đều có, cả hay lẫn dở, dở nhiều hơn hay. Tôi về một xã, xã cho tôi ở nhà một anh bưu tá, lúc rảnh rỗi hỏi chuyện gì anh cũng bảo không biết. Ở xã ba ngày, đảng uỷ, uỷ ban không ai tiếp cả. Có một buổi tối có một anh chàng to béo đến chơi với gia đình, cả vợ lẫn chồng nhà chủ ăn nói thưa gửi, bộ điệu khúm núm. Anh ta ngồi ưỡn người trên ghế tựa, hai chân xoạc rộng, hai bàn tay đặt lên bụng, nói hỏi trống không, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn tôi nhưng không hỏi gì, chào cũng không, mắt nhìn cứ lừ lừ, mà hắn chỉ đáng tuổi con tuổi cháu. Tôi cứ nghĩ tay này hẳn là dân buôn bán ở tỉnh có họ hàng gì với anh chủ nhà, tạt qua chốc lác rồi đi. Nhưng anh bưu tá lại bảo đó là ông chủ tịch xã. Lại một ngạc nhiên nữa! Mấy ngày sau lại về một xã thuộc phía Bắc tỉnh. Cách đây đã ba chục năm tôi đã đi đi về về xã đó khoảng một năm để viết về một anh chủ tịch xã chưa tới ba mươi tuổi trong cái thời có cao trào lập hợp tác xã nông nghiệp. Ngồi chơi ở phố huyện kề liền xã bất ngờ lại gặp người quen cũ của mấy chục năm trước. Hiện giờ ông ấy đã ngoài sáu chục tuổi, có cửa hiệu chụp ảnh ở ngay phố, to béo, rềnh ràng, chuyện gì cũng biết, lại biết cách thuật lại về mọi cái biết của mình một cách sống động, tươi rói, nghe chuyện mà tưởng như chính mình cũng được chứng kiến. Nhà văn mà gặp được một người như thế là có thể nghĩ ngay một cuốn sách sẽ viết, viết cũng nhanh thôi, vì mọi vật liệu đã sẵn sàng. Bao nhiêu chuyện sui sẻo, buồn bã của chuyến đi bất thần được đền bù quá hậu hĩ nhân một lần gặp lại người quen cũ. Đang mừng khấp khởi liền bị mấy ông xã nhảy vô phá đám, đi một bước có trưởng công an xã theo một bước, vừa là người hướng dẫn vừa là người bảo vệ. Chỉ được trò chuyện với người đã được xã giới thiệu và ăn ngủ tại nhà ông bí thư xã. Nhưng tôi đâu có chịu thua hoàn toàn. Xuống cái xã bị ghẻ lạnh thì tôi chơi với dân, viết về một ông nông dân bị giời hành, được bạn bè khen là rất khá. Về cái xã được chiều chuộng quá mức tôi viết được cái bút ký “Mất toi một cuốn sách”. Sang tuổi 70, mọi hoạt động của con người đều chậm, đều kém, riêng cái chuyện viết lách của tôi vẫn giữ được phong độ gần như xưa, vẫn viết rất nhanh, riêng cái nhìn thì trào lộng nhiều hơn, ngậm ngùi nhiều hơn. Nó là thứ hương vị thơm ngát chắt ra từ hơn bảy mươi năm được làm người.
2.
Tôi là một đứa trẻ khi bước vào đời có nhiều điều thua thiệt nhưng tôi đã biết níu chặt lấy thời thế mà leo dần lên. Tôi nói thế chả phải vì cái thói cơ hội, thời này có mấy ai thích nói mình thành tài là nhờ cách mạng. Nhưng có nhiều người được cách mạng ôm hẳn vào lòng nâng niu, vỗ về mà vẫn không nên người thì sao? Là vì họ còn thiếu một yếu tố nữa, thiếu cái đó dầu họ có được bước trên thảm đỏ, kẻ nâng người dắt một đời vẫn không ra con người tử tế. Mà tôi thì có, có dư thừa. Ấy là cái tính hài hước bẩm sinh, trước hết là biết giễu mình, theo dõi từng bước đi, từng câu nói của chính mình bằng cái nhìn của người khác vừa nghiêm khắc vừa bỡn cợt. Sau mình đến người, tôi cũng hay nhìn ra cái khía cạnh buồn cười ở người khác dầu họ xuất hiện dưới cái vỏ trang trọng đến thế nào. Cái buồn cười là cái trái nghịch trong cùng một người, kẻ vô luân nói chuyện đạo đức, tên ăn cắp dạy dỗ phải bảo vệ của công, người hống hách lại là tên nịnh bợ bậc nhất. Nếu tán rộng ra thì còn vô vàn chuyện buồn cười mà ta bắt gặp ở mọi nơi, trong mọi thời gian của cuộc sống. Anh dốt thường làm ra vẻ thông thái, thằng nhát rất thích xuất hiện như người anh hùng, một chính khách đầu óc rỗng tuếch luôn tỏ ra uyên bác bằng những lời nói vô nghĩa. Nếu những người đó có được một chút hài hước, có khả năng tự ngắm mình trong khi diễn trò thì họ sẽ biết cách tự kiềm chế trong một giới hạn nào đó.
Muốn có cái mình không thể có không chỉ là chuyện buồn cười mà còn là căn bệnh không thể cứu chữa của nhân loại. Các triết gia, giáo chủ cũng không thoát khỏi cái trò cười ấy. Họ muốn cho nhân loại cái họ không thể có, muốn cứu nhân loại bằng những phương tiện nhiều lắm chỉ đem lại mê say tự huyễn hoặc mà thôi. Học thuyết xã hội hay tôn giáo khôn ngoan phải là học thuyết mở, có thể là thế này mà cũng có thể là thế khác, luôn luôn biến hoá, lấy sự biến hoá của thời thế và con người làm mục tiêu tối thượng để tự điều chỉnh. Học thuyết là do con người làm ra, một trí tuệ sáng láng nhất vẫn cứ bị ràng buộc bởi nhiều vòng tự giác và không tự giác của thời thế, của cuộc đời. Bởi vì họ không thể là Thượng Đế để biết hết vô vàn nguyên nhân những tác động qua lại, uốn éo, bất ngờ của nó đưa đẩy mọi sự vật tới những thay đổi rất nhỏ, không mấy ai chú ý, cuối cùng là những biến thiên cực lớn. Chả có học thuyết nào dự đoán đúng những gì sẽ xảy ra trong tương lai và cũng chẳng thể dự đoán được cái kết cuộc của nhiều sự việc đang xảy ra trong hiện tại. Mọi lời tiên tri đều có tính mê sảng, đồng cốt. Dành cả một thời thanh xuân để tin vào những lời tiên tri ấy, về già nhìn lại cái tài sản tinh thần thâu góp một đời chỉ là một cái kho chứa đủ tạp nham chẳng có một chút giá trị gì.
3.
Tính hài hước là cái thứ mà người cộng sản ghét nhất vì nó có thể biến mọi chuyện thiêng liêng thành trò cười. Một học thuyết không thể chứng minh sự đúng đắn của nó trong thực tiễn thì trước sau sẽ biến thành tôn giáo. Vì tôn giáo là niềm tin, là thói quen, là tập quán, là vâng phục, là ở thế giới này chỉ có một chân lý, ngờ vực nó, đặt quá nhiều câu hỏi về nó chỉ là kẻ phản đồ, phải bị trục xuất khỏi cộng đồng, phải bị cách ly, bị ngồi tù để tránh mọi sự truyền nhiễm có thể. Học thuyết xã hội đã phải đội lốt tôn giáo để tồn tại thì mọi thứ thuộc về nó đều là thiêng liêng. Lãnh tụ thành thần thánh, lời nói bài viết của họ thành kinh bổn, cuộc sống cá nhân và xã hội của họ đầy ắp những chuyện phi thường. Hình ảnh của Lenin và Stalin, của Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành và lời nói của các vị ấy bao trùm lên toàn bộ cuộc sống tinh thần của các quốc gia họ cầm quyền, làm gì, nói gì, nghĩ gì đều không thoát ra khỏi cái bóng che ấy. Bài hát về lãnh tụ trang nghiêm như thánh ca, người hát có dáng điệu sùng bái như tín đồ. Cái thế giới cá nhân của các công dân đã bị đốt cháy, đã thành tro bụi và tan biến trong hương khói của đền đài. Trong không khí ngùn ngụt lửa cháy cùng với tiếng sóng hoan hô khi gần khi xa không lúc nào dứt, vậy những người làm việc bằng trí tuệ sẽ tìm đâu ra một khoảng trời yên tĩnh và tự do để suy nghĩ về những công trình một đời của riêng mình. Người cộng sản sẽ không bao giờ hiểu được cách làm việc cá nhân, đơn độc, xa rời quần chúng, xa rời các phong trào cách mạng có tính địa phương của các nhà trí thức thấm đẫm “tư tưởng tư sản” ấy. Phải cải tạo họ bằng các chuyến đi thực tế, bằng các lớp học chính trị ngắn hoặc dài ngày, và bằng cả những lần được gặp gỡ thân mật với lãnh tụ để có thêm lòng tin vào những lý do phải tự phủ định, để khẳng định sự nghiệp vĩ đại của quần chúng. Phải bỏ hẳn những tư tưởng triết học và thế giới quan phù hợp với cách nghĩ, cách nhìn, cách đánh giá của riêng mình, đã được chứng minh qua những trải nghiệp của bản thân để nhập vào dòng tư tưởng chính thống, cái triết học chính thống, cách nhìn nhận và đánh giá chính thống, xét cho cùng chả liên quan bao nhiêu tới cái tâm sự đang ấp ủ, tới những điều cần phải viết, và trên hết, máu thịt hơn hết là những phát hiện độc đáo của riêng mình trong lịch sử, trong văn hoá, trong nhân sinh. Mất những cái đó thì còn sống tiếp làm gì, còn viết tiếp làm gì nên một số đã phải đổi nghề, bỏ nghề sáng tạo sang nghề cạo giấy, làm một anh công chức hiền lành, mẫu mực, vừa có quyền vừa có lợi. Cái danh cái lợi cũng có sức quyến rũ người ta lắm, qua nhiều năm tháng nó đã trở thành ý nghĩa quan trọng nhất để sống, sống với vợ con, với bạn bè, với xóm làng, với xã hội. Còn một số nhỏ vì không làm nghề gì khác ngoài cái nghề văn chương nên đã đầu quân về các nhà xuất bản, tuần báo, tạp chí tiếp tục làm nghề nhưng phải viết trong khuôn phép đã quy định, cũng có đôi lúc đã tự buông thả theo những cảm xúc tự nhiên hoặc bất chợt bị mê hoặc bởi những hình tượng nghệ thuật quá đẹp đã trở thành những nạn nhân oan uổng của nhiều vụ án văn tự, nghĩ lại mà tiếc cho nhiều người, mộng mơ nhiều thì tài năng cũng nhiều đều bị thui chột ngay từ những năm còn trẻ.
4.
Trong suốt ba chục năm chiến tranh, mỗi người Việt Nam đã quên hẳn những nhu cầu vật chất và tinh thần của riêng mình để được cùng sống như mọi người, cùng cảm nghĩ như mọi người, sống cùng sống chết cùng chết. Học thuyết Mác và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản được tôn vinh đến tuyệt đối. Vì số phận cá nhân gắn liền với tập thể với dân tộc, trùng hợp khít khao với các mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền và những tham vọng của người lãnh đạo. Nhưng cả mấy thế hệ cùng tham gia chiến tranh, sống trong một môi trường xã hội, chính trị của một đất nước đang có chiến tranh cũng là một tai hoạ khôn lường. Trong chiến tranh tập thể gạt phắt cá thể sang một bên, có thể giẫm đạp lên nó cũng chả mất mát gì, vì chiến tranh đòi hỏi sự nhất trí, cần sự ra lệnh đúng lúc của nhiều cái đầu chứ không có thời gian bàn luận, sai đúng có sự tham gia của nhiều cái đầu. Vả lại nếu người lãnh đạo tính toán sai lập tức sẽ bị đối phương trừng phạt ngay, không sớm tỉnh ngộ thì cả sự nghiệp có thể bị đổ vỡ. Đến thời hoà bình thì chỉ còn dân chúng đối mặt với chính quyền, quyền lợi khác nhau, nguyện vọng khác nhau, có trăm ngàn thứ khác nhau trong một cộng đồng: dân tộc, tôn giáo, văn hoá, điều kiện sống… trong một thời gian dài tạm quên đi, tạm gác lại để lo việc lớn, lúc này nhất loạt trỗi dậy, đòi hỏi và mỗi cá nhân đều thấy cái mình đòi là quan trọng nhất, bức thiết nhất. Độc lập có rồi, tự do có rồi, vậy cái hạnh phúc của mỗi chúng tôi nhà nước định quên sao? Nhưng người dân phải tìm ra cơ hội nào để nói, đến chỗ nào để nói, dùng phương tiện gì để nói. Nói với tổ chức, với các đoàn thể mình là một hội viên, không ai nghe cả. Nói trên báo chí không báo nào dám đăng. Viết kế sách, thỉnh nguyện gửi lên các cấp có thẩm quyền thì chả bao giờ nhận được trả lời. Vậy phải làm gì nhỉ? Làm loạn không dám, biểu tình đúng pháp luật cũng chưa có tiền lệ. Người đứng đắn bộc lộ sự không bằng lòng của mình tại các cuộc họp lập tức bị những kẻ cơ hội trấn áp tức thì, bị cơ quan an ninh ghi vào sổ đen, thăng chức nên lương từ nay không thể, chỉ còn đợi ngày về hưu thôi. Nhưng dân chúng vẫn có cách xả nỗi bất bình của họ bằng cách sáng tạo ra nhiều chuyện tiếu lâm chính trị. Trong cả nước không đâu có nhiều chuyện tiếu lâm bằng Hà Nội vì nó là thủ đô hành chính, mọi chuyện cung đình vừa thật vừa giả tràn gập các quán cà phê mỗi ngày. Không ra được báo viết thì làm báo mồm vậy, lời nói bay đi lấy đâu làm bằng, tưởng như vô hại mà hại vô kể. Vì nó sẽ thành dư luận, không ai bắt giam được dư luận, giết được dư luận, cái dư luận hỗn tạp, vô sở cứ mở rộng mãi ra, bao trùm mọi việc mọi người trở thành mặt bằng mới để đặt ra các tiêu chuẩn sống cho một thời. Cái tiêu chuẩn mới có tên gọi là “mặc kệ nó”. Nó là người khác, là nhà nước, là bất cứ ai, bất cứ việc gì không có quan hệ trực tiếp tới các lợi ích cá nhân mình. Cái cá thể sau một thời gian dài nhập vào cái tập thể đã tự tách ra khỏi nó để tìm lại mình. Nhưng cách tìm lại ấy thường thuộc về phía tiêu cực của con người, lấy lợi ích bản thân làm mục tiêu nên không tạo ra được sự thăng hoa, sự tự do chân chính, là môi trường cho mọi sáng tạo độc đáo, vừa thấm đẫm tính cá nhân vừa thấm đẫm tính thời đại ở yếu tố tiền phong của nó. Ở đây tôi muốn nói thêm, tự do được nuôi dưỡng tự nhiên trong môi trường dân chủ là tự do của cống hiến, còn tự do vừa thoát ách chuyên chế thường có tính phá hoại, trả thù, để bù lại những năm tháng bị tước đoạt. Cứ so sánh về tự do của một xã hội dân chủ nhiều trăm năm như Hoa Kỳ và tự do vừa giành được của nước Nga Xô Viết là đủ rõ. Vì nó không được chuẩn bị, không được giáo dục, mọi bản năng của con người được xổng ra nhất loạt sẽ gây hỗn loạn cho cộng đồng, nhiều hơn là xây dựng. Dân chủ và tự do phải có thời gian để làm quen, để học cách sử dụng và bảo vệ, phân được ranh giới giữa cá nhân và cộng đồng. thành pháp luật, thành tập quán mới có thể đơm hoa kết trái được.
5.
Một đất nước bị xâm lược, rồi bị nô dịch, dân chúng thành nô lệ không được pháp luật che chở, làm người cũng khó nói gì tới ý thức cá nhân trong mỗi con người. Ý thức cá nhân là ý thức về cái riêng biệt của mình, về cái có thể cống hiến của mình cho cộng đồng không giống với một ai do có một cách cảm nhận riêng, một cách suy nghĩ riêng, từ đó… Những cái giá trị cá nhân chỉ được nhìn nhận, được tôn vinh ở những xã hội tương đối tự do, các mối quan hệ giữa người với người tương đối tốt đẹp. Ở xã hội tư bản mà chúng ta vốn có thành kiến là rất xấu xa lại thường hay cho những tiếng kêu cứu, bảo vệ những giá trị truyền thống của cá nhân, vì đồng tiền đang làm mất phẩm giá của con người, phá vỡ nền tảng đạo đức, làm rối loạn các mối quan hệ xã hội. Con người được sống no đủ, trong tiện nghi mà vẫn đối địch với nó, muốn thoát ly khỏi nó vì không được thoả mãn những nhu cầu về tinh thần. Ta hay lấy những chuyện đó để làm chứng một cách hả hê cho sự tha hoá của con người sống dưới chế độ tư bản. Vậy các công dân của chế độ xã hội chủ nghĩa thì sao? Chả có ai kêu ca gì. Nhà văn là người có trách nhiệm chăm lo cuộc sống tinh thần của đồng loại cũng không kêu. Có một nhà văn Nga [Vladimir Dudinzev / Владимир Дудинцев - chú thích của Diễn Đàn] viết cuốn sách Người ta không chỉ sống bằng bánh mì [Не хлебом единым - chú thích của Diễn Đàn] bị cả giới văn nghệ Liên Xô phê phán. Ông đã viết sai vì các nước xã hội chủ nghĩa rất coi trọng cuộc sống tinh thần của các công dân. Họ đọc sách rất nhiều, trên xe điện, xe buýt, trong công viên, đứng xếp hàng từng dãy dài mua thực phẩm, mua vé xem vũ kịch, nghe âm nhạc họ đều mở sách đọc rất chăm chú, tưởng đâu như cuộc sống đích thực của họ là ở các trang sách. Chỉ có những giây phút chìm đắm trong sự đọc họ mới có cơ hội ngẫm nghĩ về thân phận của mình, của đồng loại, tìm lại cái bản gốc cá nhận đang lưu lạc ở một góc khuất nào đó của riêng mình. Rời khỏi trang sách là rơi ngay vào vòng quay của trăm ngàn công việc chả có nghĩa lý gì ngoài sự mưu sinh để tồn tại. Những ngày nghỉ, những giờ tạm gọi là rảnh rỗi họ cũng không được ngồi một mình, ngẫm nghĩ một mình, có bao nhiêu buổi lễ kỷ niệm lớn nhỏ, những phong trao cam kết thi đua và vô vàn cuộc họp của ngành của giới đã choán hết phần thời gian còn sót lại… Cuộc sống tập thể đã nhấn chìm cuộc sống cá nhân, cuộc sống trong chiến tranh đã xoá nhoà mọi thói quen của cuộc sống thời bình. Lúc nào cũng có kẻ thù rình rập đâu đó để tìm cớ lật đổ chế dộ bằng vũ trang, hay bằng diễn biến hoà bình. Lúc nào cũng được đồng chí trong chi bộ, bàn bè cơ quan giám sát mọi tư tưởng và hành vi để ngăn chặn mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân của mỗi thành viên. Lúc nào cũng phải đề phòng, phải đề cao cảnh giác cách mạng, không tin cậy bất cứ ai, kể cả bạn bè. Chỉ có một điều lạ, là trong hoàn cảnh sống không có một tí tự do nào cho cá nhân mà chúng tôi vẫn sống được, lại còn viết văn làm thơ được!
6.
Suốt 80 năm sống dưới ách đô hộ của Pháp, chúng ta vẫn đặt được những viên gạch đầu tiên cho nền văn xuôi Việt Nam. Những truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tuỳ bút của thời ấy được in trên các tuần báo hoặc xuất bản thành sách nay đọc lại vẫn thích thú, vẫn làm ta cảm động. Nhiều truyện được đọc từ tuổi niên thiếu vẫn ám ảnh ta tới tận lúc tuổi già, và một loạt các nhà thơ, nhà phê bình văn học của cái thời gọi là thuộc địa đã trở thành những tên tuổi lớn tồn tại mãi mãi trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc. Làm thân nô lệ mà vẫn trỗi lên thành những tài năng lớn là sao? Không chỉ trong văn chương mà còn cả trong mỹ thuật, trong kịch nghệ. Không chỉ trong văn nghệ mà trong cả khoa học, giáo dục, trong kinh doanh theo kiểu tư bản và trong nhiều nghề truyền thống. Tất cả đều được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ, được phát sáng, được bộc lộ mạnh mẽ các tài năng cá nhân và họ đã trở thành người khai sáng, người mở đường, thành tổ nghề, không chỉ có tài lớn mà còn có đức lớn, là những nhân cách kiểu mẫu cho con cháu, cho giống nòi, đều là chuyện có thật cả, không thể bóp méo hoặc bác bỏ. Mà giải thích về nó cũng rất đơn giản. Chế độ tư bản của Pháp và Châu Âu tiến bộ hơn, văn minh hơn chế độ phong kiến tập quyền của Châu Á tới vài thế kỷ, là khoảng cách giữa hai thời đại, nói như cụ Phan Chu Trinh. Thời Pháp thuộc bọn thực dân chỉ cấm, bỏ tù, xử bắn những người dám chống đối nó, trước hết là những người cộng sản. Cuộc sống của dân chúng vẫn lầm than như thời xưa, như thời phong kiến, khổ nhất vẫn là nông dân, nhưng xã hội có thêm nhiều nghề mới do công cuộc khai thác tài nguyên ở thuộc địa, hình thành dần nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, có đô thị và các trung tâm buôn bán, có các đường lớn xuyên quốc gia và liên tỉnh, có cầu cống và đường sắt, có báo hàng ngày, có tuần báo và tạp chí. Tiếng nói của công chúng sau nhiều thế kỷ câm bặt đã được cất lên bày tỏ thân phận và nguyện vọng của mình, dẫu còn yếu ớt nhưng đã gây được tiếng vang trong cả nước. Dầu xã hội phát triển một cách nhem nhuốc, đau đớn nhưng vẫn hơn cái thời tù mù, tối tăm của thời phong kiến. Thời thế là vị tư lệnh tối cao, không có học thuyết nào, một thiên tài chính trị nào dám chống lại những mệnh lệnh của nó. Dám chống lại nó học thuyết sẽ tiêu tan, các chính khách thì thân bại danh liệt. Chế độ thực dân tuy tàn bạo nhưng nó là sản phẩm của thời đại này nên nó vẫn có khả năng ươm cấy nhiều nhân tố tích cực, có giá trị bền vững cho những xứ sở nó đô hộ. Còn những vương triều phong kiến dẫu được cai trị bởi các bậc minh quân thánh trí vẫn là những xã hội hủ lậu và thuộc về quá khứ. Tài giỏi như Khang Hy, Càn Long nếu còn trị vì Trung Quốc tới cuối thế kỷ 19 mà không chịu thay đổi thể chế đã quá cũ kỹ thì vẫn cứ thua, có khi còn thảm bại hơn vì lòng kiêu hãnh bệnh tật của họ. Cách tổ chức xã hội của giai cấp tư sản dẫu có xấu xa tới tận đâu cũng vẫn tạo được những môi trường tự do và dân chủ hơn, mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển tài năng của mọi cá nhân và của cả cộng động. Lại lấy thêm một ví dụ về nước Nga trong non một thế kỷ qua. Dưới chế độ Xô Viết, người dân Nga được nhà nước chăm lo hoàn toàn từ khi sinh đến khi chết, nhưng họ vẫn không thích, vẫn thấy ngột ngạt vì đó là cuộc sống không phải lo nghĩ của một trại tập trung, con người bị đánh số, bị xếp theo khuôn, theo hàng, chỉ nhìn thấy đám đông chứ không thể nhìn ra từng con người riêng biệt, kể cả trong triết học và văn chương. Còn thời bây giờ là một xã hội mạnh ai nấy lo, người người lấn chen nhau, tranh cướp nhau vì những tham vọng không được kìm nén, kỷ cương cũ bị xoá bỏ, kỷ cương mới chưa kịp hình thành, mọi sự đều phải làm lại từ đầu từ quốc kỳ, quốc ca, quân kỳ… Nhưng xem ra chả có mấy ai than thở về hiện trang hỗn loại, họ cảm thấy thoải mái, bằng lòng với cuộc sống đầy bất trắc của hiện tại vì lần đầu tiên họ được lựa chọn cách sống của mình, thắng thua tự mình gánh chịu, cũng là lần đầu họ biết nhận ra cái “bản lai diện mục” của chính họ.
7.
Bất cứ nhà nước nào lấy học thuyết xã hội hoặc tôn giáo thay cho hiến pháp thì trước sau sẽ chuyển đổi thành nhà nước chuyên chế. Vì trong hàng triệu công dân sẽ có nhiều nhóm người không cùng lòng tin, không cùng tín ngưỡng với nhà cầm quyền. Họ trở thành những cộng đồng đáng ngờ, sẽ bị phân biệt đối xử, trước hết là mất quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do xuất bản. Đó là nói về tầng lớp trí thức. Còn những người làm các nghề khác, chả dính dáng gì đến sách vở cũng sẽ cảm thấy bị tước đoạt nhiều quyền tự do, như quyền tự do lựa chọn cách sống của riêng mình chẳng hạn. Đã độc quyền về tư tưởng tất nhiên sẽ độc quyền cả về cách sống, vì mỗi học thuyết đều có phần đạo lý của nó, nó cần tiêu chuẩn làm người đã được lý tưởng hoá của nó để làm khuôn mẫu cho tu sĩ và tín đồ. Tôi có một bà cô sống ở Hà Nội suốt thời Pháp tạm chiếm, là dân cũ của Hà Nội, sau này giải phóng được một năm, bà than thở với tôi, nghĩ rằng sống với cách mạng thì dễ mà hoá ra rất khó. Bà bảo chính phủ gì việc lớn không lo toàn lo việc vặt, từ cách ăn mặc, cách yêu đương, cách nuôi dạy con cái là những việc người dân tự biết cách lo, tự biết cách học, lo không nổi thì đã có dư luận xã hội lo giùm, từ cổ tới nay vẫn thế mà. Lại nói về những tín đồ trung thành của chủ nghĩa Mác, những chiến sỹ theo cách mạng từ thuở mới lập nước là đám văn nghệ sỹ chúng tôi cũng “sống không dễ” trong sự viết lách. Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh. Cái thế giới mênh mông, nhiều màu sắc ngày một thu hẹp và chỉ có hai màu: đỏ là quân ta, đen là quân địch. Văn chương cách mạng thoạt đầu cũng lạ so với văn chương thời trước nên được bạn đọc trẻ hoan nghênh. Nhưng cứ phải đọc mãi một vài đề tài quen thuộc, một vài loại người quen thuộc và những tâm trạng rất quen thuộc ngay những bạn đọc trung thành cũng phải chán. Chính chúng tôi cũng tự chán mình. Tài đã kém lại bị bó chặt từ đầu tới chân, xoay tới xoay lui cũng chỉ có một vòng quay, ú ớ một cách nói, càng viết càng nhảm cũng là phải. Một nền văn nghệ phải phục vụ chính trị (mà chính trị thì sớm nắng chiều mưa) là đã mất một nửa tự do rồi, lại phải phục chính trị theo nghĩa các chủ trương, chính sách của từng thời kỳ thì còn gì là tự do nữa. Ấy là chưa nói mỗi cấp cầm quyền lại có những yêu cầu riêng, những cách đối xử riêng, lúc nhu lúc cương, cái thằng nghệ sĩ chả còn biết lối nào mà lần. Văn chương đã đến nông nỗi ấy mà vẫn có giải thưởng quốc gia, nhưng những tác phẩm được giải thưởng Lenin, Stalin liệu có còn cuốn nào được người Nga hôm nay muốn đọc lại. Tôi cũng được giải thưởng văn chương cao nhất cấp quốc gia, nhưng tôi biết chỉ mươi năm nữa, thời thế đổi thay chắc chả còn ai nhớ tới mình nữa. Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân. Buồn nhỉ? Nghĩ lại cũng chả có gì phải buồn, con người vốn sống trong những chiều kích hữu hạn lại mơ tưởng những gì do con người làm ra sẽ thuộc về vĩnh viễn, có hoạ rồ! Tất nhiên vẫn có nhiều công trình của trí tuệ thuộc về cõi bất tử nhưng là của các thiên tài. Với bộ não con sâu cái kiến, ngước nhìn những cái đầu khổng lồ ấy làm gì cho thêm buồn ra. Hãy viết những gì trong cái tầm nhìn tầm nghĩ của con sâu cái kiến vậy. Một cách nghĩ thiếu “tự hào dân tộc” nhưng chắc chắn là một cách nghĩ đúng. Đã từng có những quốc gia từng nghĩ từng viết rất tự hào, rất kiêu hãnh rằng dân tộc họ đã sải bước trước nhân loại cả trăm năm, sắp chạm tay vào cánh cửa thiên đàng rồi! Mà rồi sao nhỉ? Là như mỗi chúng ta đều đã được chứng kiến trong suốt mấy chục năm nay đấy!
8.
Nhà văn Dư Hoa [Yu Hua, 余华, chú thích của DĐ], một cây bút đang nổi của văn đàn Trung Quốc, trong lời cuối sách của tiểu thuyết Huynh đệ (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2006), ông có viết đại ý, trong lịch sử thế giới từ thời Trung Cổ đến thời hiện đại phải trải qua 400 năm. Còn ở Trung Quốc từ thời cách mạng văn hoá, cả đất nước chìm sâu trong bóng đêm trung cổ với thời bấy giờ với bao nhiên thay đổi đến chóng mặt để đất nước Trung Hoa nhanh chóng bước vào đội ngũ các đại gia của G8. Cái khoảng cách vời vợi giữa hai thời đại ấy đã được rút gọn trong có 40 năm. Rằng hay thì thật là hay nếu chỉ nhìn vào toàn cục, vào cả dân tộc. Nhưng nếu nhìn vào từng cá nhân, những cá nhân không được chuẩn bị từ căn cơ trong lịch sử, trong văn hoá, trong truyền thống và nhất là trong nhân cách làm người thì cái rút gọn trong mỗi cá nhân sẽ dẫn tới đâu? Theo ý tôi (N. K.) là các cá nhân ấy sẽ rất dễ bị GÃY khi gặp phải sóng to gió lớn. Vì cái lõi của nó chưa đủ cứng, chưa đủ bền, chưa đủ những tố chất về di truyền, về giáo dục (rất cần có thời gian) để ứng phó hữu hiệu với những thay đổi quá nhanh của môi trường sống. Các nhà cách mạng thường chỉ nghĩ tới mục tiêu và những con đường ngắn nhất nhanh nhất để đạt được mục tiêu, bất chấp các công dân của họ bằng lòng hay không bằng lòng. Và họ lại tin một cách ngây thơ, một cách tệ hại rằng cứ ép là được, cứ đẩy tới bằng các phong trào cách mạng của quần chúng là được, trước lạ sau sẽ quen dần. Nhưng các cá nhân cũng là lòng người không thuận thì mọi chủ trương dẫu hay đến mấy sớm muộn cũng bị đào thải, chả để lại một dấu vết tích cực nào. Và càng lạ hơn là những tổ chức kinh tế được xem là lạc hậu, là phản động của một thời vẫn có muôn vàn cơ hội để tái sinh và xem ra còn tồn tại rất lâu dài.
Trong những năm 90 của thế kỷ 20 nhiều vị lão thành cách mạng Việt Nam lấy làm kinh ngạc và đau đớn trước sự tiêu vong quá nhanh của một siêu cường mà chân móng của nó đã ăn sâu trong mảnh đất Nga non một thế kỷ. Thật ra toà lâu đài kiểu mẫu của tương lai ấy không hề có chân móng. Nó được xây trên cát. Mọi thay đổi lớn đều dựa vào phong trào quần chúng được hình thành, được vận động chỉ bằng có tuyên truyền chứ không từ nguồn lực tự thân. Tất cả đều phải ép buộc, đều phải dàn dựng, và phải có các diễn viên chuyên nghiệp trình diễn theo một kịch bản độc nhất. Có hai nhà văn lớn của Châu Âu đều được mời xem màn diễn về một xã hội lý tưởng do người cộng sản lãnh đạo. Ông Romain Rolland thì khen không hết lời, còn ông André Gide thì chê từ đầu đến cuối. Vì một ông chỉ nhìn có cái mặt tiền, cái tổng thể, đến đâu cũng thấy dân chúng ca hát, nhảy múa và vẫy cờ, vẫy hoa. Còn một ông lại chỉ quan sát cái sân sau của chế độ và thân phận của nhiều cá nhân ông có dịp tiếp xúc. Đám đông thường cho ta cái cảm giác sai vì họ không thể giữ được tính độc lập trong tình cảm và phán xét. Còn cá nhân thì cái thân phận riêng tư của họ bao giờ cũng thuộc về nhân loại hôm nay và mai sau.
Một xã hội mà công dân không được quyền sống thật, nói thật, nhà văn cũng không được quyền bộc bạch tâm sự riêng tư của mình trên trang giấy là một xã hội không có chân móng. Các quốc gia cùng sống với nhau trong một liên bang, gọi nhau là anh em là đồng chí, nhìn ngoài thấy họ sống cũng yên ấm vui vẻ. Vậy mà khi họ chia tay nhau cũng dửng dưng. Và ngay lập tức họ nhận ra nhiều mối lợi trên đất nước mình đã bị người anh em ruột thịt chia sẻ trong một cuộc đổi chác không công bằng. Thế là bắt đầu những cuộc tranh chấp các đường biên giới, đã có lúc phải dùng đến xe tăng, đại bác để nói chuyện. Rồi tranh chấp đường ống dẫn dầu và các mỏ dầu, các căn cứ quân sự và các vùng biển có hạm đội. Khi Mỹ và NATO muốn đặt căn cứ quân sự trên đất nước họ, nhân danh chống khủng bố họ gật đầu liền đâu biết Mỹ là đối thủ của nước Nga anh em. Yêu Mỹ là tất nhiên vì Mỹ sẽ rót tiền vào những cái két rỗng của họ. Ghét Nga cũng là lẽ đương nhiên vì xưa kia anh bắt nạt tôi, lấn át tôi, xem tôi như chư hầu, như thuộc địa, bây giờ chính là lúc tôi có quyền trả thù. Lúc giận nhau thì nghĩ nông cạn thế, còn bình tĩnh lại thì giữa các nước cộng hoà trong liên bang Xô Viết (cũ) vẫn có sự ràng buộc tự nhiên và máu thịt trong lịch sử vì họ đã là người một nhà non một thế kỷ, đã cùng nhau sống chết chống hiểm hoạ phát xít để bảo vệ sự tồn tại của Liên bang cũng như của các nước cộng hoà. Lại đã cùng nhau sinh con đẻ cái, đã pha trộn ngôn ngữ, văn hoá và kỷ niệm. Bây giờ mỗi quốc gia vừa được trở lại là chính mình, vừa có phần đóng góp thêm của các nền văn hoá lân cận, bạn bè, giàu có hơn trước, văn minh hơn trước. Rồi họ cũng sẽ sống với nhau như một cồng đồng của khu vực, nhưng lần này là tự nguyện, là do họ tự chọn một hình thức liên minh bình đẳng, dân chủ và hoàn toàn tự do. Bất cứ một thiết chế xã hội nào nhắm tới dân chủ và tự do, xây một xã hội mở, một liên minh mở sẽ có may mắn tồn tại được lâu dài với sự đồng thuận của mọi người và sự hài lòng của mỗi cá nhân.
9.
Gần đây tôi có được đọc hai cuốn sách hay. Một cuốn là Bàn về tự do của Stuart Mill, một triết gia người Anh viết từ năm 1859, cách ta một thế kỷ rưỡi. Một cuốn là Tư duy tự do của Phan Huy Đường, một nhà nghiên cứu học thuyết Mác có tên tuổi ở Pháp viết vừa mới đây. Khoảng mươi năm nay tôi đọc tiểu thuyết không vào, cả của ta, của Tàu lẫn Tây, cả sách mới dịch, mới xuất bản, cả sách của các đại gia của những thế kỷ trước. Năm còn trẻ đọc thấy hay, bây giờ già rồi nhìn trang sách cứ dửng dưng vì nó không chịu ăn nhập vào những trải nghiệm cá nhân của tôi, không mở ra trong tôi một cách tiếp cận mới với hiện thực, không làm bùng cháy một điều gì đang còn ẩn sâu trong đáy tiềm thức khiến tôi phải choàng thức chợt nhận ra một vỉa sáng tạo mới vừa thoáng xuất hiện. Hai cuốn sách trên, một cuốn do bạn cho mượn, một cuốn tình cờ mua được ở nhà sách vì cái tên của một tác giả tôi vốn quan tâm. Tôi đọc say mê cả hai cuốn như thời trẻ được đọc một cuốn tiểu thuyết hay, tất nhiên là khó đọc hơn tiểu thuyết nhưng đã thích lại có trải nghiệm bản thân hướng dẫn, không hiểu được đầy đủ thì cũng hiểu được cái đại thể. Nhiều ý của bài viết này là được cảm hứng từ hai tác giả đó.
Năm tôi 60 tuổi, khi viết về một bà cô đã ngoài tám chục mà còn rất minh mẫn trong cách đối nhân xử thế, bà vẫn giữ được tính cách riêng mà không làm mất lòng một ai, từ con cháu trong nhà đến các mối quan hệ ngoài xã hội. Tôi đã viết nếu bà cụ được trời cho chứng sống đến trăm tuổi mà vẫn còn sáng suốt ắt hẳn bà sẽ biết mọi bí mật của then máy tạo hoá. Thật ra là tôi nói về tôi đấy, có hơi bốc đồng nhưng tôi tin là tôi sẽ biết được con người nhiều hơn nếu tôi được sống lâu hơn, không cần trăm tuổi, chỉ cần 90 là đủ, miễn là vẫn giữ được một cái đầu bén nhạy như bây giờ, sẵn sàng tiếp nhận mọi sự khác lạ như bây giờ, kể cả sự phủ định chính mình. Năm ấy tôi đã hiểu ra mọi sự rút gọn ở đời đều trái tự nhiên, đều dẫn đến thất bại. Các cuộc cách mạng xã hội ở nước ta trong suốt ba chục năm đều hỏng cả, đều phải làm lại từ đầu, tất nhiên là theo hướng khác, mà kết quả vẫn vừa chậm vừa dây dưa. Nguyên do là các nhà lãnh đạo muốn rút gọn những công việc của trăm năm thành chuyện chỉ làm trong mấy năm. Vì họ chưa hiểu đầy đủ con người Việt Nam trong cuộc sống đời thường, cái cuộc sống không có chiến tranh, không có cách mạng xen vô, cái cuộc sống trôi đi lặng lẽ của muôn đời. Nghĩ rằng người Việt Nam của hôm nay đã khác nhiều với người Việt Nam trước năm 1945 là một cách nghĩ rất thiển cận, tự gây cho mình nhiều ảo tưởng trong việc trù liệu những việc phải làm để kiến tạo một xã hội dân chủ và văn minh. Mọi phong trào thi đua chả có ích lợi gì trong những việc cần nhiều chăm sóc nhẫn nại, bền bỉ, bắt đầu từ các cá nhân chứ không phải từ các đám đông với những khẩu hiệu, cờ quạt, kèn trống, diễn văn và đáp từ, vỗ tay và tặng hoa. Đám đông không thể đứng mãi dưới nắng để nghe lãnh tụ diễn thuyết. Họ luôn mong đợi được giải tán để về nhà. Con người ở nhà vẫn cũ kỹ nhưng là người thật chứ không phải là sự nhập đồng chốc lát khi đứng trong đám đông. Tôi thật lòng yêu mến, ngưỡng mộ Fidel, một nhà yêu nước kiên cường, một nhân vật đã thuộc về lịch sử của Cuba. Ông là một trí thức lớn, bạn tâm giao của Marquez, nghe nói trong túi lúc nào cũng có một cuốn tiểu thuyết đang đọc dở. Bởi vậy tôi mới lấy làm lạ khi ông buộc dân chúng phải đứng hàng nửa ngày dưới nắng để nghe ông cao đàm khoát luận về đủ mọi vấn đề. Lúc cách mạng mới thành công nói dài thế vì người dân còn đang háo hức với cuộc sống mới và các ngôn từ cách mạng cũng rất mới. Như một cặp tình nhân đang yêu nhau, đang cần nhau, nói với nhau đủ thứ chuyện vớ vẩn nhưng chả ai thấy thời gian là dài. Còn đã thành vợ thành chồng thì chỉ cần nói ít thôi, chỉ nói những việc cần làm thôi, chứ cần gì những thuyết lý dông dài. Mao Trạch Đông cũng thế, ông là một nhà chính trị thông kim bác cổ, quanh nơi ông làm việc và cả nơi ông nghỉ ngơi sách đang đọc xếp từng chồng, nhưng xem ra cũng chả hiểu đồng bào ông bao nhiêu. Người dân ở đâu cũng thế, đều muốn có một cuộc sống bình yên, được tính việc cá nhân và gia đình trong một khoảng thời gian dài, một trăm năm chẳng hạn, không có những thay đổi lớn trong lối sống, trong công ăn việc làm, trong các giá trị, đặt biệt là giá trị của đồng tiền. Chứ cứ phải sống mãi từ năm này qua năm khác trong các phong trào cách mạng, lúc chống tả lúc chống hữu, những hội nghị toàn quốc và địa phương nối nhau không dứt, những hô hào la hét từ trong nhà ra ngoài đường như một lũ hoá rồ, các quan hệ xã hội và các giá trị thay đổi soành soạch thì còn biết đằng nào mà sống. Vả lại các cuộc cách mạng ấy chả đem lại bất cứ lợi lộc nào, cho bất cứ giai cấp nào. Chỉ có những mất mát thôi, người giàu thì mất cơ nghiệp được kiến tạo từ nhiều đời, người nghèo thì mất những chỗ dựa cạy, có thể mất cả công việc kiếm sống mỗi ngày để được làm chủ một cái rỗng không. Có thực mới vực được đạo, đã đói ăn thì ngay đến cái tư cách làm người cũng không thế có nói gì đến đạo. Thành thử cái chủ trương rất quyến rũ, rất “văn nghệ”, nhất là với giới tri thức, của chủ nghĩa Mác “cải tạo thế giới, cải tạo con người” hoá ra chuyện không đâu, nói cho vui, bây giờ người ta cũng hay nhắc đến để chế giễu một học thuyết xã hội chứa đầy những hoang tưởng.
10.
Do không hiểu con người cá nhân, hoặc chỉ hiểu theo những phân tích máy móc, nông cạn của chủ nghĩa duy vật cơ giới của thế kỷ 19, nên các nước xã hội chủ nghĩa mới dám đặt ra những mục tiêu huênh hoang nhằm cải tạo con người trong vài thập kỷ nếu môi trường xã hội thay đổi. Nên mới gọi nhà văn là “kỹ sư tâm hồn”! Văn chương do con người làm ra để trao tặng cho con người một cách tự do nhất, ít bị ép buộc nhất. Chỉ có văn chương mới tôn trọng mọi giá trị của cá nhân, tôn trọng mọi lựa chọn của cá nhân kể cả những thành kiến phi lý của họ. Họ có quyền yêu mình hoặc ghét mình , tôn vinh mình hoặc nguyền rủa mình, chả sao cả. Người viết cứ viết người ghét cứ ghét kể cả cái quyền ném sách vào lửa. Cái mục đích “tải đạo”, “giáo dục” của văn chương không bao giờ lộ liễu, lộ liễu là văn chương tồi. Vả lại chính người viết cũng không có ý định ấy, họ viết bằng tâm sự thành thật của mình, những trải nghiệm đau đớn của mình, họ viết cho họ trước rồi cho độc giả sau, có khi họ cũng chả nghĩ đến những người sẽ đọc họ, viết mà chơi thôi, viết để giải sầu rồi tự mình ngậm ngùi với mình, ứa lệ với riêng mình. Chả trách ai cả, chả giận ai cả, cũng chả lên án một ai. Vì không có vật cản nào nảy sinh trong ta khi đọc nên chữ nghĩa của tác phẩm cứ mặc nhiên trôi vào tận những kẽ ngách trong cái tâm sự u uẩn, những khát vọng thầm kín của riêng ta, đọng lại trong ấy, rồi cứ thẩm thấu dần dần vào cái thế giới tinh thần của ta một cách vô thức, giúp ta nhận ra một vùng sáng mới lạ nào đó, gột rửa một vài thành kiến, thay đổi một vài quan niệm, và ta vẫn nghĩ một cách khoan khoái là chính tự ta đã chủ động thay đổi, tuyệt nhiên không theo lời chỉ bảo của một ai cả, của một học thuyết nào cả, hoặc nhập vào một cách bất chợt một phong trào thời thượng nào cả. Bất cứ cái gì xa lạ với bản tính của mình, với thói quen của mình, nói một câu, với những gì làm nên lai lịch của mình, chả sớm thì muộn đều bị đào thải để mình lại được trở về với cái nguyên gốc. Tôi được biết có một cụ linh mục yêu nước và cấp tiến được cách mạng tín nhiệm mời lên khu làm việc cho kháng chiến thời đánh Pháp. Những khi ngồi một mình cụ vẫn rất buồn vì ở trong rừng không có nhà thờ để cụ đi lễ và làm lễ. Cụ nhớ Chúa, nhớ bày chiên và nhớ cả những lời nói của đấng chăn chiên với bày chiên trong công việc của mỗi ngày. Khi cụ sắp mất cụ thiết tha yêu cầu được một linh mục đang coi sóc một xứ đạo nào đó tới rửa tội và xức dầu Thánh cho cụ. Lại một chuyện khác, khi tôi được tiếp xúc với một vị lãnh đạo cấp cao của Đảng khi ông đang còn làm việc, quả thật tôi đã từng nghĩ ông là con người kiểu mẫu của một xã hội tương lai, chả nói gì, nghĩ gì về mình, tất cả cho tổ quốc, cho sự nghiệp, cho nhân dân. Nhưng rồi ông bị mất chức vì không được bầu lại vào uỷ ban trung ương của Đảng, một chuyện rất bất ngờ với nhiều người. Khi đại hội công bố kết quả bầu cử, nghe nói ông đã oà khóc, rồi khóc thầm lén tới mấy năm, không đi đâu cả, không gặp ai cả vì tự cho mình đã bị sỉ nhục, đã mất hết danh dự. Lại là một con người khác, tầm thường hơn cái lúc còn đeo tấm bài ngà rất nhiều. Con người mặc nhiều lớp áo là con người giả, con người đã bị lột truồng mới là con người thật. Con người đã bong một lớp sơn phủ kín chỉ còn trần lại cái lõi của nó mới là thật. Cái vỏ có thể luôn luôn thay đổi nhưng cái lõi muốn thay đổi phải mất có khi gần một đời người. Ấy là chỉ dám nói là có thể thay đổi chứ không dám nói chắc là sẽ thay đổi. Chỉ vì con người ta không chịu thay đổi theo những tiêu chuẩn đã được quy định hoặc theo mức tăng trưởng thu nhập tính theo đầu người. Sự phát triển của con người theo chiều hướng tích cực phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống tự do và dân chủ để tự nó khẳng định chính nó, tự nó đánh thức mọi tiềm năng sáng tạo đang nhen nhóm ở trong nó. Về cái thế giới tinh thần của mỗi cá nhân hãy để cho mỗi cá nhân tự lo liệu lấy, nó không thích người khác can thiệp bằng bất cứ cách nào. Nó sẽ biết cách tự điều chỉnh để thích ứng dần với mối quan hệ mới một cách có lợi nhất.
11.
Trong nửa thế kỷ sống dưới sự lãnh đạo của một Đảng theo học thuyết Mác Lê, tôi luôn luôn được nhắc nhở phải tôn trọng quần chúng, sức mạnh của quần chúng có thể thay đổi dòng chảy của lịch sử và số phận của nhiều cá nhân. Nhưng cũng thật trớ trêu, không có một chế độ cộng hoà nào ở thế kỷ 20 lại dám coi thường quần chúng như tại các nước xã hội chủ nghĩa. Sống trong thể chế này suốt mấy mươi năm không có một cuộc biểu tình nào được tổ chức để phản đối một chính sách nào đó của nhà nước. Như thời làm cải cách ruộng đất hay thời huy động nông dân vào các hợp tác xã nông nghiệp. Giám đốc xí nghiệp nhà nước tham ô, mức sống của công nhân giảm sút cũng không có đình công. Nông dân bị kẻ cường quyền đàn áp, làm nhiều việc trái pháp luật, vừa mới nhen nhóm bày tỏ sự bất bình liền bị giập tắt ngay. Vì người lãnh đạo đã nhận định rất đúng rằng, nhân dân ta rất tốt, rất dễ bảo, bỗng dưng họ dám nói xược, dám đòi hỏi này nọ là do có mấy thằng cán bộ về hưu bất mãn cầm đầu. Cứ nhắm mấy thằng đó mà đe, nếu cần thì bắt là đâu vào đấy ngay. Quả nhiên thế thật. Tức là người cầm quyền chả coi dân chúng vào đâu. Họ chỉ sợ các cá nhân hiểu nhiều biết rộng, rất khó bắt nạt, là hay bày trò xúi giục thôi. Giống hệt cái thời còn vua còn Tây, kẻ cai trị rất sợ người cộng sản vì họ là kẻ hay gây rối. Đã là người cầm quyền với nước ta thì xưa là thế nay vẫn là thế, người dân vẫn sống dưới chế độ chuyên chế chứ chưa bao giờ được biết chế độ dân chủ là gì, đâu là dân chủ tư sản. Đã chuyên chế là chuyên chế làm gì có sự phân biệt chuyên chế tư bản với chuyên chế vô sản.
Người cộng sản rất kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, nhưng lại chính từ các nước xã hội chủ nghĩa mà cái tệ sùng bái cá nhân đã nảy sinh. Vì lãnh tụ của học thuyết cũng là lãnh tụ của quốc gia. Họ lên cầm quyền không do phiếu bầu mà do tín nhiệm sẵn có của các tín đồ với giáo chủ. Giáo chủ là nhân vật tối linh, thuộc về thiêng liêng nên những gì của thế gian không thể ràng buộc ông ta được. Ông ta cầm quyền không có niên hạn vì ông phải phục vụ nhân dân cho tới lúc chết. Ông không phải tự phê bình và cũng không ai dám phê bình ông vì ông là biểu tượng của quốc gia, của Đảng cầm quyền, đứng trên hiến pháp và mọi luật pháp. Ông là người tự do hoàn toàn so với nguyên thủ các quốc gia dân chủ khác. Các cấp dưới từ trung ương tới địa phương cũng là những người có nhiều tự do nhất ở các ngành, các bộ và các địa phương họ cầm quyền. Là các lãnh chúa trong các lãnh địa của họ. Chả ai dám xâm phạm nếu còn muốn giữ cho mình một chút tự do cỏn con. Một xã hội có hàng triệu cá nhân không được đếm xỉa, không được tôn trọng nhưng một nhúm cá nhân lại được tôn vinh hết mức và được được hoàn toàn thoả mãn trong mọi nhu cầu là cái xã hội gì đây, là xã hội kiểu mẫu cho nhân loài tương lai ư?! Nói miệng mấy chuyện kỳ cục này đã khó nghe, lại còn viết thành văn mà các nhà văn không thấy ngượng sao? Ngượng thì vẫn ngượng nhưng chả lẻ lại gác bút, gác bút thì nuôi vợ con bằng gì? Nghĩ tới miếng ăn lại phải quên hết để sự bán mình cho quyền lực được hoàn toàn. Năm đất nước mới thống nhất vào Sài Gòn được gặp gỡ các nhà văn nhà báo, các nghệ sỹ của chế độ cũ mà thèm. Họ sống thoải mái quá, nói năng hoạt bát, cử chỉ khoáng đạt, như chưa từng biết sợ ai. Còn mình thì đủ thứ sợ, sợ gặp người thân vì chưa rõ họ có liên quan gì với Mỹ nguỵ? Nói cũng sợ vì nói thế là đúng hay sai? Đến vẻ mặt của mình cũng phải canh chừng, vui quá sợ mất cảnh giác, khen quá có thể đã ăn phải bả của nền kinh tế tư bản. Người lúc nào cũng căng cứng, nói năng gióng một nên bị bà con trong này chê là quê, nhà văn nhà báo gì mà “quê một cục”. Giải thích chuyện này cũng chả khó, họ là sản phẩm của nền kinh tế công nghiệp tư bản, dẫu là thuộc địa cũng vẫn thuộc hệ thống tư bản, vẫn là những người đã được giải phóng khỏi nhiều ràng buộc từ quá khứ trong cách nghĩ, trong cách làm. Còn mình là sản phẩm của nền kinh tế nông nghiệp phong kiến, đâu đã được làm chủ nhân ông nhưng cũng chưa từng được hưởng cái mùi vị tự do và dân chủ là thế nào! Cái khoảng cách ấy có tính thời đại không thể bỏ qua mà cũng không thể rẽ tắt. Mình cũng đã đi tắt suốt mấy chục năm, rất tiếc là lịch sử không công nhận cái lối đi ấy. Tôi còn sợ rồi sẽ có ngày lịch sử sẽ trừng phạt mình vì cái tội muốn khôn hơn lịch sử, muốn đánh lừa lịch sử!
12.
Các đảng cộng sản đều coi phê bình và tự phê bình là cách giải quyết mâu thuẫn nội bộ hữu hiệu nhất. Sự vật vận động sẽ sinh mâu thuẫn, giải quyết được mâu thuẫn sự vật mới có cơ hội phát triển, tiến lên. Phủ định và phủ định của phủ định, nghe vừa khoa học vừa huyền bí, như câu thần chú: “Vừng ơi, mở cửa ra!”, cứ đọc to lên là cánh cửa vào tương lai sẽ mở toang. Các nước xã hội chủ nghĩa vẫn đọc to câu thần chú ấy trong nửa thế kỷ mà cánh cửa vào tương lai vẫn đóng chặt. Mất thiêng rồi chăng? Quả là đã mất thiêng vì người hô không hề tin một chút nào vào cái khả năng kỳ diệu của nó. Nếu tin vào phê bình và tự phê bình thì Stalin đã không chế ra các vụ án chính trị man rợ để tiêu diệt các đối thủ vốn là tay trái tay phải của mình trong những năm đó. Nếu tin vào câu thần chú ấy thì Mao Trạch Đông đã không bày ra tấn tuồng “cách mạng văn hoá” để tiêu diệt mọi kẻ dám can ngăn những chủ trương đầy tính phiêu lưu của ông. Ấy là nói về những người nắm quyền lực cao nhất, còn những người nắm những cơ quan quyền lực thấp hơn cũng chả bao giờ họ tin vào cái phương pháp lãng mạn đó cả. Trong các cấp uỷ họ vẫn tự phê bình và phê bình nhau một cách sốt sắng giả dối. Và ai nấy đều tự bằng lòng hơn sau những lễ xưng tội giải tội hết sức vui vẻ này. Và mọi thói xấu, kể cả tội ác nữa, vẫn nghiễm nhiên tồn tại như trước đây, vẫn là những vùng cấm chỉ những kẻ quá chán đời mới dám đơn độc xông vào. Bởi vậy khi ông tổng bí thư của Đảng mới được bầu, trong cơn phấn khích đổi mới sinh hoạt đảng, đã phát động một phong trào tự phê bình và phê bình rộng khắp toàn đảng, các đảng bộ trong cả nước đều nhiệt liệt hưởng ứng, đều nhắc lại với lòng nhiệt thành hiếm có trong các bài diễn văn có đảng tính cao của họ. Đó là một màn diễn khổng lồ, rất tốn kém, chả đem lại bất cứ kết quả nào. Vì chỉ là diễn thôi, người cũ kẻ mới đều vào vai rất thành thạo. Rút cuộc kẻ có tội vẫn ngày càng hung hãn, càng tự tin, còn người tố tội càng lúc càng dè dặt, hãi sợ. Kỳ quái nhỉ?
Các tín đồ của học thuyết Mác đều rất tin môi trường xã hội và hoàn cảnh cá nhân có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành tính cách con người. Một địa phương có nhiều phong trào cách mạng tích cực ắt phải sản sinh ra nhiều tập thể tốt, một tập thể tốt sẽ sinh ra nhiều cá nhân tốt. Con người là một thực thể vật chất nên không thể thoát ly những điều kiện vật chất đã cho phép nó tồn tại. Nhưng nó còn là một thực thể sinh học, một thực thể tinh thần, tâm linh, văn hoá bao gồm lịch sử cá nhân và dòng họ ở trong nó. Nó cũng không thể biết hết nó, không thể biết hết những phản ứng bất thần trong chính nó khi vấp phải những đối nghịch trong cuộc sống. Nên cái thế giới tinh thần, tâm lý của con người là rất đa dạng, phức tạp, có muôn vàn lối đi ngoắt ngoéo. Từ thời con người có ngôn ngữ để giao tiếp, có chữ viết để lưu lại, có văn chương để bày tỏ những bí mật của riêng rình, nó vẫn không ngớt than thở là chả biết được bao nhiêu về mình và đồng loại. Con người vẫn nguyên vẹn là một bí mật mênh mông, sâu thẳm như từ thủa nguyên sơ vậy. Người cộng sản phải kiêu ngạo lắm mới dám bày cái trò chỉnh huấn phê bình để lãnh đạo một cách chuẩn xác cái phần khó nắm bắt nhất trong con người. Vì nó biến hoá, nó phù du như mây như gió vậy.
13.
Con người có 2 mắt đều hướng ra cái thế giới vật chất bên ngoài, không có con mắt nào hướng vào trong để ngắm nghía, kiểm soát cái thế giới tinh thần của nó nên nó bị mù một nửa, cũng như nó không có cái tai bên trong nên không thể nghe được những tiếng thì thầm rất nhỏ mỗi đêm trong chính mình. Hai cái khuyết tật bẩm sinh ấy đã làm con người thiếu hoàn chỉnh, là nguyên do mọi đổ vỡ của nhiều danh nhân dũng tướng vào những năm cuối đời. Nhưng cũng có một số ít người có khả năng nhìn được sự vận động cả trong lẫn ngoài, nghe được những tiếng động rất nhỏ cả ngoài lẫn trong. Họ không có cấu tạo vật chất đặc biệt nào mà chỉ bằng cái năng lực tinh thần rất mạnh đã bù đắp được những khiếm khuyết bẩm sinh. Nhiều tập hồi ký của các danh nhân cả chính trị lẫn văn hoá đều thiếu cái phần còn nhày nhụa của họ, cái phần thú vật của con người nơi sản sinh ra những tội ác chưa hình thành, cái què quặt, cái buồn cười đã được kiềm chế đúng lúc, đã được giấu nhẹm, cái phần họ muốn quên đi và rất dễ trở thành lang sói với đồng loại nếu trong đồng chí, đồng nghiệp còn có người biết đến và nhớ tới. Cuộc chiến đấu lớn, có tính bi kịch giữa mình với mình bao giờ cũng hoành tráng, cũng đẹp, rực rỡ những màu sắc đối nghịch vì nó đã bộc lộ đầy đủ nhất cái phẩm chất LÀM NGƯỜI trong mỗi CON NGƯỜI. Không phải bất cứ ai cũng tạo ra được trận chiến thần thánh ấy, vì chiến trường ở ngay trong lòng mình, mình vừa là kẻ thách đấu vừa là kẻ dám nhận đấu, dẫu thua cũng là cái thua của thần thánh. Một công việc trang trọng đến thế, hùng tráng đến thế mà lại dám nghĩ là công việc của số đông, của những người chưa hề chuẩn bị một cái nhìn bên trong, một cái nghe bên trong cho riêng mình, cả đời họ sống trong tự mãn, trong u mê, bất thần mời gọi hãy nhìn lại mình, hãy nhìn lại người để có được những phán xét và điều chỉnh chuẩn xác! Ông tổng bí thư đã mở một cuộc chiến ảo nên ông cũng chỉ nhận được những kết quả ảo.
Một Đảng, một thể chế chính trị lấy phê bình và tự phê bình làm vũ khí sắc bén để giải quyết mọi mâu thuẫn nội bộ, giả thử nó lại không còn dùng được nữa thì các mâu thUẫn sẽ được hoá giải bằng cách nào? Đảng đối lập không có, dư luận đối lập qua báo chí và các cuộc biểu tình quần chúng cũng không có, vậy làm cách nào để biết và điều chỉnh mọi sự rắc rối, thậm chí cả bạo loạn nữa nếu nó xảy ra? Vẫn có cách, là phải tạo ra một tình hình chính trị luôn căng thẳng (một cuộc chiến tranh có thể xảy ra, một cuộc bạo loạn có thể xảy ra) để buộc các công dân phải sống trong những quy chế nghiêm ngặt của thời chiến, ở các chế độ toàn trị chỉ có hai cơ quan mà quyền uy bao trùm cả xã hội. Đó là cơ quan tư tưởng, tuyên truyền và cơ quan công an. Một để chặn, một để chống. Còn khi đã có chuyện bất thường xảy ra thì chỉ có một biện pháp: đàn áp, bắt giữ, lập toà án xét xử những kẻ cầm đầu. Cách giải quyết vừa nhanh gọn lại mau ổn định, không dây dưa, phiền toái vì có quá nhiều luật lệ, qua nhiều lý lẽ như ở các nước tư bản. Những rối loạn vặt vãnh thật ra là nước là không khí của các nhà cầm quyền độc tài. Họ đâu có sợ loạn. Họ còn bày ra những cuộc chiến cung đình như ở Liên Xô và các nước Đông Âu, hay một cuộc chiến giữa nhân dân với nhau như đã làm ở Trung Quốc. Không có mùi vị của thuốc súng, của máu người và những tiếng la hét cuồng nộ của đám đông thì người cầm quyền biết thở bằng gì!
14.
Tập thể không làm ra văn chương vì nó không có cảm nghĩ riêng, tâm sự riêng, tính cách riêng. Nó là vô danh. Một tâm sự mãn nguyện, những tiếng cười hoan lạc, một kiếp người quá đầy đủ cũng không thể có chỗ đứng trong văn chương. Vì văn chương bao giờ cũng thuộc về những tiêng kêu của con người để đòi lại những gì còn thiếu: thiếu tự do, thiếu công bằng, thiếu hạnh phúc… Đời người là bể khổ, những khao khát về tinh thần của con người là vô cùng nên mới cần có văn chương và nghệ thuật để bù lại. Còn mọi thứ đều được biết, đều đầy đủ, đều mãn nguyện thì tôn giáo không còn, triết học không còn, và tất nhiên văn chương cũng không thể còn. Nó sẽ chết vì bị ngạt, vì không còn những khoảng trống huyền bí để suy nghĩ, để mơ mộng và để thở. Những gì mà chủ nghĩa cộng sản hứa sẽ thành hiện thực trong tương lai thì cái hiện thực ấy sẽ giết chết cả loài người. Vì thượng đế đâu cần những con dòi béo quay lúc nhúc dưới chân Ngài. Cũng may đó chỉ là những lời nói dối, tự dối mình và dối người của những con người đã phải sống nhiều trăm năm trong cùng khổ, trong tuyệt vọng. Còn hướng tới thiên đàng ư? Là thiên đàng trần gian hay thiên đàng thượng giới cũng không một ai có thể sống nổi. Sống không lo nghĩ, không mong muốn, không đấu tranh là kiếp sống con dòi rồi. Chả lẽ những con dòi cũng có thể cất cao những cái đầu múp míp của chúng để làm ra triết học và thơ ca!
Những điều viết trên đây không do tôi tưởng tượng ra mà do những trải nghiệm bản thân mà có. Những năm còn trẻ cả vợ lẫn chồng đều ăn lương quân đội, lại phải nuôi dưỡng những bốn đứa con, nhà ở ven bãi sông năm nào cũng phải chạy lụt, lại quá chật có 15 mét vuông. Ăn thì mì hai phần gạo một phần, gạo phải nhặt sạn cả buổi mới dám nấu thành cơm. Còn thức ăn ư? Chả nói nữa ai cũng ăn như thế, ăn dưa ăn mắm suốt mấy chục năm đã hoá quen. Cả nhà chỉ có hai cái giường, một cái bàn, hai cái ghế, tiếp khách ở đấy, mời cơm khách ở đấy, con học bài cũng ở đấy, và ông bố viết văn cũng chỉ có cái bàn ấy. Đêm đêm nằm cạnh hai thằng con trai lớn đạp ngang, quẫy dọc, rắm đánh thối um, vừa quạt cho hai thằng con ngủ tôi vừa mơ mộng đến một ngày nào đó, các con đã trưởng thành, tôi có được một phòng riêng để viết và tiếp bạn, mỗi bữa cơm đều có cá hoặc thịt, có cả chút rượu nữa càng hay. Tôi không phải lo nuôi con, không phải lo cả trăm thứ vặt vãnh để tồn tại, chỉ có đọc sách, ngẫm nghĩ, đi chơi đây đó với bạn bè và viết, ắt hẳn tôi sẽ viết được một hai cuốn sách để đời. Bây giờ tôi đã ngoài bảy chục tuổi, đã có đầy đủ những gì tôi khao khát, có thể nói còn hơn cả khao khát. Tôi đã sống đầy đủ, sang trọng nữa, hơn nhiều nhà văn tôi được biết ở các nước Đông Âu. Và tôi đã nghĩ nếu chủ nghĩa cộng sản thành công ở Việt Nam thì cũng chỉ cho được tôi đến thế. Khốn nỗi, lúc này tôi đâu còn năng lực làm việc bằng trí tuệ nữa mà cũng chả có nhu cầu nào phải đòi hỏi. Cuộc sống được vỗ béo của một kẻ ăn không ngồi rồi đã giết chết mọi tư tưởng ở trong tôi, rồi giết luôn đến đội quân chữ nghĩa, chúng đã hoá ra rỗng tuếch, vô hồn. Nhà văn mà hết chữ thì chỉ là cái xác chết. Xác chết con người với xác chết con dòi có gì là khác mà phải phân biệt!
15.
Tôi có một tuổi thơ rất buồn, lại sống với những người có số phận buồn nên mới 14, 15 tuổi đã nhìn đời như một ông già. Tức là một cái nhìn không mấy lạc quan. Cái xã hội tôi đang sống không mấy hoàn hảo, những người tôi gặp cũng không được hoàn hảo. Tôi quen thuộc với những gì không hoàn hảo tới mức gặp những gì quá đẹp, quá chu toàn tôi đều ngờ, đều sợ. Người truyền cho tôi cái nỗi sợ bẩm sinh ấy là mẹ tôi. Bà đã qua một đời chồng rồi mới gặp được bố tôi. Đời chồng trước mọi sự đều tốt đẹp, ông ấy còn trẻ, có địa vị trong xã hội, nhà giàu, lấy nhau được một năm lại sinh con trai. Mà rồi chỉ ở với nhau được ba năm phải bỏ. Đời chồng sau thì dở, dở cả mọi đằng. Bố tôi cũng còn trẻ, làm tham biện ở phủ thống sứ, nhưng ông đã có vợ và hai con nên phải làm lẽ và lấy giấu. Mẹ tôi bảo thế là đúng số, là đã an phận, nhưng lại lo bố tôi sẽ bỏ khi cuộc ăn chơi này gây thêm phiền phức cho cái gia đình chính thức của ông. Hai anh em tôi là bản sao nguyên mẫu của bà. Những gì nhận được từ tuổi thơ mãi mãi hằn dấu lên cho đến hết cuộc đời chúng tôi. Nhìn bên ngoài tôi có tướng con nhà phong lưu nhưng cái ruột của tôi lại thuộc về con cái của những gia đình nghèo, lại chả có thế thân gì nên rất biết phận, cho thì nhận, không cho cũng không đòi, chỉ cầu không có ai quấy nhiễu là mừng. Em trai kém tôi năm tuổi, lấy vợ muộn, về hưu sớm, lúc trẻ thì thay anh hầu hạ mẹ, về già thì đi chợ nấu cơm, giặt quần áo thay vợ chăm sóc các con. Cả đời chỉ biết cười, cái cười nhẫn nhục, bằng lòng với những gì mình có. Tôi thì khác, một cuộc sống bên ngoài ai cũng biết là khiêm tốn, nhẫn nại, ít làm phiền người khác và chả dám gây sự với một ai. Nhưng cuộc sống bên trong cũng có nhiều tham vọng, làm quan hay làm anh nhà giàu thì không dám vì tôi không có bản lĩnh tiến thân bằng hoạn lộ hay kinh doanh. Tôi chỉ có một ao ước duy nhất là được viết văn cho đến già. Với cái tài tôi tự biết, tôi phải sống rất lâu và viết rất nhiều may ra mới được một hai cuốn sách hay, mà cũng chỉ hay trong cái thời của nó chứ không thể hay ở mọi thời. Tôi tự nhận tôi là người có một con mắt bên trong và một cái tai bên trong từ nhỏ. Để quan sát, nghe ngóng những người khác họ yêu mình hay ghét mình. Càng lớn tuổi cái khả năng tự xét mình của tôi càng sắc nhọn. Và tôi đã nhận ra cái lợi của phép giấu mình. Trang Tử đã nói: Con chim bay cao thì tránh được tên, được bẫy, con chuột đào hang sâu thì tránh được cái hoạ bị khói hun.
16.
Khi tôi nói, tôi sống và viết cũng thoái mải, vui vẻ trong một chế độ chuyên chế về tư tưởng cứ như là người nói dối, lại nói dối một cách trơ tráo, sống sượng. Nhưng đó là lời nói thật, không thật với nhiều người nhưng với tôi là thật. Tôi được thay đổi số phận từ cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chín năm đánh Pháp với nhiều người là rất dài, với tôi lại rất ngắn vì tôi được sống trong niềm vui, trong những cái khác thường và cả trong nhiều hi vọng. Nhiều anh trong cơ quan tuyên huấn của quân khu đều xuất thân từ các gia đình viên chức nhỏ, địa chủ nhỏ, được ăn học đàng hoàng đến hết bậc cao đẳng tiểu học đã có những thói quen, những nền nếp của cuộc sống thị dân từ nhỏ. Họ rất thích quan sát những phản ứng của tôi khi phải đối mặt với mọi thiếu thốn của cuộc sống kháng chiến. Vì nhìn ngoài tôi như một thư sinh con nhà quý tộc chưa từng biết cái thiếu cái khổ là gì. Những việc làm rất tự nhiên của tôi đều được đánh giá phải có nhiều nghị lực, nhiều quyết tâm mới làm được thế. Tôi vẫn sống như xưa kia, ngày xưa thì bị chê bị chửi, bây giờ lại được khen, được tuyên dương, người cứ lâng lâng như nhập đồng, còn biết cái thiếu là gì cái khổ là gì. Nếu so sánh thì trước kia tôi chỉ là con số không, còn bây giờ tôi đã có một cái tên ký dưới các bài báo, đã được nhiều ông anh trong cơ quan nhờ vả, đòi hỏi, bực tức hoặc khen ngợi. Tôi đã được tách ra khỏi đám đông để tự bằng lòng mình và có cả chút ít “kế hoạch riêng” cho mình nữa. Còn các anh hơn tôi dăm bảy tuổi thì đã có nhiều thứ để so sánh những cái “đã có” trước kia và cái “đang có” bây giờ. Cái “đang có” của dân tộc thì nhiều, còn cái “đang có” của cá nhân như chả còn được bao nhiêu. Những kiến thức lịch sử và xã hội, triết học và văn chương xem ra phải bỏ đi quá nửa. Các quan hệ giao tiếp xã hội được dạy bảo từ thuở còn thơ nếu dùng lại cứ vênh váo, buồn cười thế nào trong hoàn cảnh kháng chiến. Sống tinh tế, tôn trọng người khác là cách sống của anh tiểu tư sản. Lòng thương người không đúng chỗ cũng được xem như biểu hiện của một tính cách nhu nhược, không đáng tin cậy. Còn những câu đùa thông minh, kín đáo ánh lên như một vệt sáng vui trong cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt của mỗi ngày lại dễ bị đồng đội hiểu lầm là một cách chế diễu của người có học với những anh em ít học. Qua mỗi cuộc chỉnh huấn tầm vóc của mấy anh càng như nhỏ lại, mờ nhạt hơn, mất dần những vẻ riêng, cái phần độc đáo riêng để nhập vào cái dòng chảy chung, vào cách nghĩ cách sống của một tập thể bao bọc quanh mình. Đại để cái riêng của mỗi chúng tôi đã bị cái chung nuốt dần như thế. Tôi thì sao? Tôi đã có một may mắn lớn vì tôi thuộc về số đông, một quần thể vô danh tồn tại âm thầm trong nhiều thế kỷ dưới chế độ phong kiến. Cách mạng Tháng Tám đã nhất loạt giải phóng họ ra khỏi thân phận nô lệ, tạo cơ hội cho họ phát triển những tài năng riêng của mình, chủ yếu trong lĩnh vực quân sự để kịp thời phục vụ những nhu cầu của kháng chiến. Số đông trong họ chỉ mới biết đọc biết viết từ ngày vào quân đội nhưng học rất nhanh cách xây dựng một quân đội hiện đại với những cơ quan phục vụ cho công việc tham mưu, tác chiến, hậu cần vì họ đã có được một ông thầy lý tưởng là quân đội hiện đại của đối phương với ông tướng lừng danh trong thế chiến 2 của nó. Trong chín năm đánh Pháp quân đội đã trở thành cái nôi đào tạo, nuôi dưỡng nhiều nhân tài quân sự của thời hiện đại, cả những tài năng văn nghệ phục vụ trong quân đội, nó là tổ chức tiên tiến nhất của xã hội Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 20. Trong chiến tranh người chỉ huy quân sự là hình tượng đẹp nhất, lãng mạn nhất vì họ là con người của hành động, của đảm bảo chiến thắng, luôn ở vị trí thứ nhất, còn con người của học thuyết chỉ ở vị trí đứng sau, trong nhiều trường hợp chỉ là cái anh bàn thêm, nói góp. Còn những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội thì con người lý luận có nhiệm vụ bảo vệ sự trong sáng của học thuyết chính thống ở hàng đầu được tôn trọng và có quyền quyết định sự sống chết của nhiều người. Chính là trong những năm này mới sinh ra nhiều vụ án chính trị và văn chương, nay nghĩ lại vừa vô nghĩa vừa buồn cười nhưng thời ấy nó đã chôn sống nhiều tài năng thực sự ở mọi lĩnh vực vì họ đã tỏ ra ngờ vực sự đúng đắn của tư tưởng chính thống.
Một nửa nước đã được độc lập nhưng lòng người tan nát vì tài sản một đời chắt chiu của họ đã bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chả có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn, vì từ nay họ chỉ được nghĩ được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, của một đường lối nếu họ không muốn giẫm vào vết chân của nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm”. Một dân tộc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà mặt người dân nám đen, mắt nhìn ngơ ngác, đi đứng long rom như một kẻ bại trận. Quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào chiến tranh giải phóng nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao lại phải chịu một số phận nghiệt ngã đến vậy!
Một xã hội tan nát, lòng người chĩu nặng những phiền muộn ưu tư, mà là những người đã hết lòng hết sức với kháng chiến bằng cách này hay cách khác. Vậy nhà văn phải viết như thế nào, phải viết cái gì để tạo được một hiện thực tràn đầy hy vọng như các nhà lãnh đạo cách mạng yêu cầu.
17.
Những năm 50, 60 của thế kỷ 20, với tôi là những năm tràn đầy niềm vui. Nhìn vào đâu tôi cũng thấy tôi được, dân tộc tôi được. Nhưng cũng những năm ấy với hàng triệu người dân thường lại là những năm đầy lo lắng, hãi sợ và tuyệt vọng. Tôi vui là chuyện có thật, những trang viết của tôi vào những năm ấy là rất thành thật. Nhưng nước mắt của người khác cũng là chuyện có thật, tôi có biết, có được chứng kiến. Tôi nên nghiêng ngòi bút của tôi về phía nào. Về già tôi mới nhận ra nhà văn phải nghe theo tiếng gọi của tình cảm, của trái tim, của cái phần thiện lương trong con người mình. Nó đã bảo sai là sai, không có thứ lý luận nào chống đỡ nổi. Vả lại văn chương bao giờ cũng đồng cảm với nỗi đau của con người, những bất hạnh của con người. Chưa bao giờ vì sự mãn nguyện, sự thành công của con người mà cất lên tiếng hát ca ngợi cả. Ở các thể loại nghệ thuật ngôn từ con người phải chống chọi với mọi cảnh ngộ trái ngược chiếm gần hết các trang viết, các màn diễn, còn khi người nghèo đã thành giàu, người hèn được bước vào thế giới phú quý, trai gái phải chịu nhiều năm chia lìa tới lúc tái hợp là cuốn sách, vở diễn phải chấm hết ngay. Nó đã kết thúc cái phần nghệ thuật để bắt đầu sang phần tụng ca là cái thế giới của mãn nguyện của buồn chán, là cái phần phi nghệ thuật. Nhưng người lãnh đạo lại chỉ thích cái phần không phải là nghệ thuật, tặng giải thưởng, trao huân chương cho các tác giả chỉ để tưởng thưởng cái phần nhạt nhẽo vô vị ấy mà thôi. Cái cách cảm nhận hiện thực đầy tính lãng mạn ấy đã làm lệch lạc cách xem xét, cách ứng xử của nhiều thế hệ bạn đọc, nhất là bạn đọc ở tuổi mới trưởng thành, trước những biến hoá muôn mặt của cuộc sống. Họ chỉ có mỗi khả năng làm người phê bình văn học theo đường lối chính trị chính thống, tại sao cuộc sống đẹp như thế mà nhà văn lại miêu tả nó xấu đến thế. Làm sao dám cãi, hãy để cho những trải nghiệm của chính họ qua năm tháng sẽ âm thầm biện hộ giúp mình thôi.
18.
Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quý ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ. Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe). Ngôn ngữ làm nên văn minh này, vì nó có thể lưu giữ và truyền lại toàn bộ kinh nghiệm của nhiều đời trước cho nhiều đời sau, càng ngày cái khả năng nhận thức càng gần đúng như nó có, khiến sự lựa chọn của con người khách quan hơn, có hiệu quả tích cực trong quá trình chủ động thích ứng với mọi đổi thay của môi trường sống và môi trường xã hội. Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa. Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “nói vậy mà không phải vậy”! Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế. Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực. Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “gỗ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào. Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói. Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.
Trong hàng trăm cuốn hồi ký của các nhà văn hoá, của những người hoạt động chính trị, của nhiều tướng lĩnh, ta chả biết được bao nhiêu cái thế giới riêng của họ, cái thế giới cá nhân của họ. Cái phần đóng góp của họ càng nhỏ thì cái ý nghĩa quyết định của tập thể càng lớn, cái có tên thì bé tí xíu, vô nghĩa, cái không tên thì bao trùm rộng khắp nhưng cũng không có hình thù rõ rệt, cứ mờ mờ mịt mịt, có đấy mà cũng không có đấy, cái chung ấy chả phải chịu trách nhiệm với một ai, có biết nó là ai mà truy cứu.
19.
Trong cái bối cảnh xã hội, chính trị như thế, mỗi người đều ít nhiều đánh mất cái cá nhân của mình cũng là lẽ đương nhiên. Nhà văn là chuyên viên nghiên cứu mọi chuyện của cá nhân, những sắc thái tâm lý cùng với những biến hoá vô tận của nó trong những hoàn cảnh khác nhau, những thời thế khác nhau. Nhưng đọc hồi ký của các nhà văn cũng nhạt nhẽo lắm, họ chỉ phô diễn cái tôi trong các cuộc gặp những bậc đàn anh và bạn bè trong nghề, nói toàn chuyện tào lao, vụn vặt, chuyện sinh hoạt và chả đả động chút nào tới thời thế, tới những bức xúc về thời thế và cái nghề của mình trong thời thế. Tính hiện thực và tính lịch sử của một thời rất mờ nhạt, đơn giản, thành thử cái ý nghĩa truyền đạt những giá trị đích thực của một thời tới các thế hệ đến sau hầu như không có. Đó là điều rất đáng tiếc, vì nếu các chứng nhân không nói gì cả thì lịch sử cũng không thể cất lên tiếng nói chân thực của nó, thời gian qua đi, bóng tối phủ lên, quên lãng phủ lên, cái thời mở nước, giữ nước chỉ còn lưu lại những cột mốc của các chiến công, còn cuộc chiến thầm lặng đã làm tan nát nhiều con người để con người được là chính mình, được là một thực thể thiêng liêng, đền đài lưu giữ muôn thuở cái tài sản tinh thần của một dân tộc, một dòng họ mãi mãi được vun xới, được phát triển tương ứng với sự phát triển của dân tộc, của thời đại thì chưa được văn thơ nói đến, triết học nói đến, các ngành khoa học nhân văn nói đến.
Dầu không nói đến, không được phép nói đến thì cái dòng chảy vĩnh cửu ấy vẫn được nhiều triệu người âm thầm khai thông, bồi đắp để các nhân tài Việt Nam không ngừng xuất hiện lúc ở lãnh vực này, lúc ở lãnh vực khác. Một đất nước không có những cá nhân kiệt xuất, tài ba làm chân dung đại diện trong cộng đồng nhân loại thì đó là một bất hạnh cho dân tộc, tạo ra một khoảng trống tiếp nối trong lịch sử sinh tồn của mỗi cá nhân. Rồi các thế hệ đến sau phải nối lại bằng cách nào vì vẫn phải bắt đầu từ môi trường chính trị, xã hội, từ một xã hội vừa truyền thống vừa văn minh, những mục tiêu nhắm tới vừa là phát triển cái riêng biệt, vừa là sự hòa nhập vào nền văn minh của khu vực và thế giới. Một nền văn minh riêng lẻ, với những mục tiêu hoang tưởng, một môi trường xã hội ngột ngạt vì cái bóng quyền lực phủ lên tất cả, quyết định tất cả thì số phận những cá nhân sẽ ra sao?
Hãy nhìn vào nước Nga những năm 90 của thế kỷ 20 là sẽ rõ. Họ vừa thoát khỏi cái bóng che của chủ nghĩa chuyên chế để được nhìn cái ánh sáng thật của dân chủ và tự do. Ai chả nghĩ họ đã có cơ hội sải những bước chân dài khi đã bung phá mọi sự trói buộc. Nước Nga mãi mãi là một siêu cường vì những thử thách lớn nhất của một dân tộc là chiến tranh và cách mạng nước Nga đều đã trải qua mà vẫn tồn tại vì đất đai mênh mông của mình và những tiềm lực vô hạn ẩn giấu trong đó cả vật chất lẫn tinh thần. Phải vài chục năm nữa nước Nga sẽ là như thế nhưng trước mắt thì không thể. Lý do rất đơn giản, kinh tế có thể phục hồi nhanh nhưng con người phải có thời gian dài hơn nhiều nó mới có thể lấy lại những gì đã mất. Tầm vóc cá nhân của người Nga trong non một thế kỷ dưới chế độ Xô Viết đã bị co hẹp lại rất nhiều dầu họ vẫn được sống, được học tập và lao động trong những điều kiện của một xã hội văn minh. Chỉ đáng tiếc cái văn minh của họ là một nền văn minh tự tạo tách khỏi nền văn minh nhân loại, dựa trên những tiêu chuẩn mà tâm hồn Nga không thể chấp nhận, không thể tiến hoá. Lại thêm trong non một thế kỷ người Nga đã mất dần thói quen suy nghĩ độc lập, quyết định độc lập, mất dần cả tính cách phản kháng và bảo vệ chân lý, con người quen sống trong đám đông, trong tập thể, trong bầy đàn, không có cơ hội và sự khích lệ của xã hội để tạo ra những chân dung riêng với những tư tưởng khác nhau, những triết lý khác nhau những cách sống khác nhau. Mọi cái khác với chính thống đều bị lên án, mọi cái giống nhau đều được tuyên dương. Vì những cái khác nhau rất khó tạo ra sự nhất trí, còn những cái giống nhau sẽ dễ nghe theo, làm theo mọi mệnh lệnh. Người cai trị sẽ rất dễ chịu, rất nhàn nhã nếu quốc gia mình cầm quyền được tổ chức giống như trại lính, ông ta sẽ có dư thời gian để làm thơ hoặc viết tiểu thuyết, vừa có cái bây giờ lại có cả cái sau này. Còn phải lãnh đạo một xã hội dân sự của các công dân tự do thì có hàng trăm công việc đòi hỏi phải được giải quyết mỗi ngày, mà cách thức giải quyết cũng rất phức tạp, nó yêu cầu phải đối thoại, phải được tranh luận bình đẳng, phải thương lượng, phải luôn luôn thay đổi những chủ trương mà dân chúng không bằng lòng. Và mọi việc làm đều phải tuân theo hiến pháp và được xã hội kiểm tra thông qua hệ thống thông tấn báo chí. Chẳng những người lãnh đạo phải bị kiểm tra những công việc thuộc về chức năng của họ mà còn bị theo dõi rất nghiêm ngặt mọi sinh hoạt thuộc về đời tư của họ để ngăn chặn kịp thời những vi phạm thuộc về đạo đức. Ở những xã hội văn minh thì người cầm quyền bị rất nhiều luật lệ câu thúc, trói buộc, là người mất tự do nhiều nhất, còn dân chúng thì được pháp luật bảo vệ đủ mọi đàng, càng ít bị trói buộc càng tốt, càng có nhiều tự do càng tốt. Chỉ một xã hội được tổ chức như thế thì vị trí cá nhân mới được tôn trọng, người có giá trị là người có cái TÔI mạnh mẽ, đầy sức sống, đầy sáng tạo. Nên mỗi người đều có ý thức vun trồng những nét đặc sắc của riêng mình, cái vẻ đẹp của riêng mình và con của cháu thành những gia đình nổi tiếng, những dòng họ nổi tiếng làm cột chống cho một quốc gia. Một chế độ độc tài khi phải đối mặt với những biến động lớn thường rễ bị nứt rạn, từ nứt rạn đến tiêu vong, thời gian diễn ra rất nhanh vì nó chỉ có trụ đỡ là quyền lực của một phe đảng, không có trụ đỡ về tinh thần của cả dân tộc. Một chế độ chính trị tồn tại tới non một thế kỷ hay một nửa thế kỷ cũng là lâu lắm, đã tạo ra mấy thế hệ ăn chung ở chung với nó, sinh con đẻ cái với nó mà khi nó chết không ai nhỏ được một giọt nước mắt, có người còn nhẫn tâm đạp lên cái vừa chết đó rồi mới tiếp tục bước đi, đủ biết người ta đã xem nó như vật bất thường, là quái thai, là tai hoạ, thời thế đã bất thần xoá bỏ nó một cách êm dịu, không phải tốn đến máu cũng là một may mắn phi thường. Có thể kết luận, một chế độ chính trị được xem là văn minh hay lạc hậu, là sẽ tồn tại lâu dài hay chỉ có mặt trong khoảng khắc của lịch sử là tuỳ thuộc vào cương lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền có thật sự tôn trọng những quyền của con người hay không, các cá nhân với những khác biệt, những phản ứng, những bất tuân của nó có được đặt ở vị trí trang trọng trong hiến pháp hay không? Vì tiềm lực tinh thần của mọi cá nhân được vun xới, được phát triển trong tự do là nền tảng vững chắc nhất của mọi thiết chế chính trị. Vì còn nó ta có thể vững tin sẽ vượt qua mọi sóng gió bất thần của thời thế để mãi mãi tiến về phía trước.
Viết xong tại quận Bốn Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/5/2006
NGUYỄN KHẢI
26/11/08
Thanh Thảo - Tôi viết trường ca "Đêm trên cát"
Đêm trên cát của nhà thơ Thanh Thảo
post by vanchuong @ 05 October, 2008
Đêm trên cát của nhà thơ Thanh Thảo
"Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán", đã hơn 150 năm từ ngày ông hy sinh, (Cao Bá Quát mất năm 1855) thơ ông vẫn tiếp tục "đánh đu" trên cả dao động và yên tĩnh. Ngưỡng mộ Cao Chu Thần, viết được một trường ca 600 câu về một đêm trong cuộc đời ngắn ngủi của ông, là một trong những điều mà nhà thơ Thanh Thảo cho rằng "bằng lòng hơn cả" trong cuộc đời mình...
TTO xin giới thiệu với bạn đọc bản trường ca "Đêm trên cát" của nhà thơ Thanh Thảo, nhân dịp những người yêu sử Việt đang chuẩn bị kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông, để một lần nữa ngưỡng vọng về khí phách của một nhà thơ anh hùng.
Tôi viết trường ca "Đêm trên cát"
Có những tác phẩm được viết ra ngỡ như hết sức tình cờ. Trước cái đêm tôi được hầu rượu nhà thơ Tế Hanh ở nhà anh Nguyễn Trung Hiếu thị xã Quảng Ngãi hình như vào năm 1981, tôi chưa hề nghĩ mình sẽ viết một bài thơ - chứ chưa nói một trường ca - về Cao Bá Quát, dù tôi là người ngưỡng mộ nồng nhiệt Cao Chu Thần.
Cuộc rượi tối hôm ấy, chúng tôi nhắc tới bài thơ "Trà giang thu nguyệt ca" của Cao Bá Quát. Tế Hanh đang hào hứng ca ngợi bài thơ này hết lời, thì bất chợt tôi chen ngang: " Em sẽ viết một trường ca về Cao Bá Quát, chỉ dồn nén trong một đêm của nhà thơ. Sau một đêm thức trắng, mái tóc bạc của Cao Chu Thần bỗng...xanh lại".
Thực lòng, tôi không thể hiểu vì sao lúc đó mình nói như thế, cứ như cái trường ca ấy đã nằm trong đầu mình lâu lắm rồi. Và cả mái tóc bạc chuyển thành...xanh của Cao Chu Thần chỉ sau một đêm suy nghĩ, cứ như tôi đã nghiền ngẫm hình ảnh ấy từ lâu lắm. Thực ra, đó chỉ là câu nói buột thốt, nhưng hình như nhà thơ Tế Hanh - một người rất nhạy cảm - hiểu câu nói ấy như một lời hứa. Ông động viên tôi: " Em phải viết đi. Cái tứ ấy hay lắm!".
Sau lần đi Quảng Ngãi đó, về Qui Nhơn tôi đã lao vào tìm đọc tất cả những gì có được lúc ấy liên quan tới Cao Bá Quát, nhất thơ chữ Hán. Tôi đọc không biết bao nhiêu lần. Đọc cho ngấm, cho ngấu, cho đau, cho uất. Trong thơ Cao Bá Quát có đủ cả hỉ nộ ái ố ai lạc, nhưng vượt lên trên tất cả, là vẻ cương nghị thầm lặng, là cái tình sâu đậm, sự sẻ chia trong hoạn nạn, trong khốn khó của nhà thơ với nhân dân mình, với một người dân, một con người cụ thể, và với quê hương, với cái làng Phú Thị nhỏ bé có cây gạo đầu làng mà người lưu lạc mỗi khi trở lại quê nhà đều nhìn thấy từ rất xa. Đó là thơ của một nội tâm dữ dội, của sự dồn nén ghê gớm, và của sự bùng nổ giữa các dòng chữ.
Hình như, tôi bắt đầu bắt sóng được với khối thơ - thuốc nổ ấy. Dù không thể hình dung mình sẽ viết cái trường ca ấy như thế nào, nhưng tựa đề "Đêm trên cát" với lời đề từ "một đêm của nhà thơ Cao Bá Quát" thì tôi đã nghĩ ra từ trước khi viết dòng thơ đầu tiên. Nó như một tiêu điểm mà bài thơ mình hướng tới. Ngay cả cấu trúc bên trong của bài thơ, tôi cũng mong muốn nó sẽ mang hình thức cấu trúc của một sonata với sự chặt chẽ, đối chọi, dồn nén cao độ và những cao trào bùng nổ. Tôi không học nhạc lý nhưng rất mê nhạc cổ điển, và hồi đó dẫu vất vả nhưng tôi vẫn tìm được cách để thường xuyên nghe nhạc cổ điển.
Sau mấy tháng "tích điện Cao Bá Quát", tôi đã viết được những dòng thơ đầu tiên. Chưa có trường ca nào tôi lại viết được liền mạch như thế, những câu thơ nặng nề, uất ức cứ tuôn ra một cách như dễ dàng, như nhẹ nhàng. Tôi viết từng đoạn trong một cuốn sổ tay, rồi viết lại trong máy chữ.
Có những đêm ngồi ở nhà thầy má tôi tại quê, nhà không có điện, tôi thắp ngọn đèn dầu hiu hắt và... viết. Những lúc ấy, giữa bóng đêm và bóng đèn nhập nhoạng, cứ như Cao Chu Thần hiện về trước trang giấy, lặng lẽ chuyện trò cùng tôi. Đó là những phút giây thật sự hạnh phúc.
Linh hồn Cao Chu Thần đã phù hộ tôi, dắt dẫn tôi trong từng đoạn thơ, hay chính tôi trong trạng thái bất thường như thế đã "bắt sóng" được với thơ Cao Chu Thần - nghĩa là đã bắt sóng được với phần tâm huyết, sâu kín của nhà thơ. Nếu đọc kỹ thơ Cao Bá Quát, ta sẽ không ngạc nhiên về bước đường tư tưởng và hành động của ông, kể cả quyết định dấn thân cuối cùng là trở thành lãnh tụ khởi nghĩa nông dân. Tôi muốn cô đặc cả hành trình dài đầy phức tạp ấy của Cao Bá Quát vào một đêm thức trắng của ông. Một đêm cho cả một đời.
Ở "Đêm trên cát" thì khi viết đoạn kết trường ca, hình ảnh "mái tóc bạc của Cao Bá Quát bỗng xanh cả lại" đã không xuất hiện như hình ảnh chợt đến với tôi ban đầu. Thay vào đó, là hình ảnh một quả cây: " khi quả cây chín được trên cành/ nó không lo bao giờ rụng xuống" - một quyết định nhận đường bình thản. Sự thay đổi đã lặn vào bên trong, không hiện rõ như hình ảnh "tóc bạc-tóc xanh", nhưng cách khẳng quyết về một khả năng sống lại thì đã rõ.
Thanh Thảo
Trường ca "Đêm trên cát"
Một đêm của nhà thơ Cao Bá Quát
những con cá vàng ngủ mê trong điện Thái Hòa
cặp mắt giấu sau bóng tối
tiếng thở dài
bàn tay nơi không thấy bàn tay
phút chốc đốm lửa lóe sáng
người lính canh bên con nghê
bao giờ
ta không định ra đi hay ở lại
hoa gạo trong sương sớm
nung nấu lòng kẻ xa
ta đứng phía mặt trời lên chậm
nửa đường đời cơn gió thoảng qua
đừng nói đừng nhắc
ta thèm nghe tiếng giã gạo
vợ hiền tấm mẳn làm thuê
và dòng sông chảy ta nghe
mùa đông bãi quạnh lạnh tê gió lùa
ta như thể cành bàng khô
cắn răng chịu rét mà chờ lộc non
bao giờ
câu hát thời bé dại
"ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng"...
sẽ tới lúc chăng
con nghê đá người lính canh hóa đá
đêm cứng khô như một bức tường
ai thả rơi từng bước chân
hoang vắng...
áo phong trần tả tơi
ta đã giải trọn kiếp người
với dòng sông dựng ngang trời thanh gươm
với bài ca thuở khốn cùng
hát bên người đói ngập ngừng xin cơm
với tàn nhẫn lời roi song
cháy trên da thịt hãy còn biết đau
đừng nói đừng nhắc
ta đã gượng dậy thế nào
để ném những câu thơ
như khạc từng búng máu
có lúc vào canh ba sợi dây đêm chùng lại
ta lấy chiếu đắp thêm cho chú nhỏ
khêu bấc đèn ngóng đợi
ngỡ vừa nghe tiếng kẹt cửa của hư vô
giận mình chưa học được phép ngủ
mắt trừng trừng mở trước vực sâu
những con chuột nhắt
gặm nhấm tấm vải hy vọng
mà ta canh cửi suốt đời
những con chuột nhắt
bò qua khoảng không chóng mặt
lên tận chín tầng trời
khoảnh khắc ta hụt hẫng
mây dưới chân tan loãng rã rời
hố thẳm
bao năm ròng chới với
lòng mê man vin một chút danh hờ
trên đất nước trận bão đen tàn hại
bầy châu chấu từ đâu về che kín mặt trời
lúa te tướp mặt người xanh xám
dài làm sao những buổi chiều trống rỗng
bụng quắt queo kiến bò
cái đói thật tình xuống hai hàng nước mắt
nào phải chuyện văn thơ
nào phải lối đãi bôi thù tạc
trăng trong chén anh
là giọt rượu cặn cuối cùng
của sông Trà một đêm khói sóng
nhìn mắt bạn thấy bóng mình lẳng lặng
mối hận bỗng trào lên cuộn xoáy con thuyền
dù đi hay ở
chẳng bao giờ ta quên
bàn tay bạn giơ ngang như níu kéo
như buông bắt cái gì tận xa vời
ta chỉ là gã nhà thơ cùng đường quay trở lại
lòng ước ao thoáng hạnh phúc mơ hồ
tóc xõa đầu ngọn gió
rối bời bao tâm sự
ta già rồi chăng
trước mặt bức tường cao thêm mãi
gánh nặng lưng còng trèo non lội suối
xòe bàn tay còn lại đất bùn
mong tài năng nở rộ dưới vầng dương
buồn cười thay
nghe trong miệng vị sương mù nhạt thếch
con chim quyên lỡ vận
lang thang trên mặt đất
tiếng kêu sao nghẹn ngào
ta đã phí hoài quá nhiều sức lực
gót chân mòn những bước không đâu
ở nơi đó dường như tình yêu
lần thứ nhất hoa xoan rơi lấm tấm
mưa giêng hai thấm áo người ơi
ở nơi đó ta nhỡ một nụ cười
ba mươi năm sau nhớ lại còn muốn khóc
nỗi nhớ của người đi trên cát
mỗi bước mỗi lùi về tuổi thơ
những khao khát bỗng thành chõ vỡ
mắt đăm đăm cát trải mịt mờ
thì cứ đi cứ đi và đi mãi
như nước kia chảy không bến không bờ
ta đã ném thơ mình vào thác xiết
một sợi chỉ mành mỏng mảnh treo chuông
một tiếng thét khi đầm lầy dâng ngập cổ
trước mõm chó trước vó ngựa
lần đầu thơ biết đến hiểm nguy
hãy đứng lên ngọn lửa
giữa màn đêm kinh sợ
hãy thắp sáng lời nguyền rủa
trước Ngọ Môn
hãy uống cạn con đường
đầy chông gai cạm bẫy
hãy xuyên thủng bức tường
bằng ngôn ngữ
hãy chế ngự thời gian
bằng lặng lẽ
ta đã vãi tung những hạt giống của mình
vào đất đai tăm tối
bao giờ cho đến tháng ba
trẻ gọi trâu lanh lảnh ngoài đồng lúa đang thì con gái
lũy tre ngà lơ mơ
cái áo khoác thanh bình
tiếng tu hú trôi trong màu đỏ
tháng năm về thức tỉnh những mầm sen
có gì khiến ta bứt rứt
có gì không thực
qua vẻ hiền lành khép nép kia
ta thích hoa phượng
cháy tận cùng ngọn lửa
dù phải thiêu đốt cả mùa hạ
ai thảnh thơi ăn măng trúc mùa thu
gió heo may ta cúi đầu từ biệt
dăm bảy học trò mang rượu tiễn đưa
các con đừng khóc
ta đi đâu
lênh đênh theo đàn chim di trú
ai cắn răng qua cầu mùa đông
cầm cố áo bông đổi vài đấu cám
chợt ấm lòng nghĩ tới người thân
nếu chỉ sống cho riêng mình
cảm sao nổi phút tấm lòng kỳ lạ ấy
đã trộn trong ta hàng ngàn số phận
như bột nhào như vôi vữa
mong một ngày hiện rõ
chất thật mỗi con người
lặng yên trên bề mặt
gào thét dưới chiều sâu
hiểu những giới hạn
và khoảnh khắc
một thành hai thành ba thành vô số
mãi mãi dò tìm
mãi mãi không thể nào chạm đáy
những quả táo non chua chát
ngọt ngay dưới mắt trẻ thơ
cha lẩn thẩn đi học nghề mổ rồng
đâu ngờ các con đói gầy đến thế
như Thiếu Lăng thuở xưa về nhà
ôm mặt khóc đất trời sầm tối
những giọt nước mắt
tắt nhanh trên cát
những giọt nước mắt
chẳng cần hóa ngọc
ném gông dài làm chiếc thang mây
cười dội tới những tầng cao chất ngất
ta sống lại nhờ tiếng cười
lần thứ hai chào đời từ ngục thất
xin bạn đừng kinh ngạc
vì sao chiếc mầm cây nhỏ nhất
bị cả mùa đông nhào vô trấn lột
bị bóng đêm lường gạt
vẫn trần trụi lớn lên
trên cánh đồng ngập ngụa
trên màu lam lũ những ao bèo
ta biết mình sẽ trở lại
với bạn nghèo ăn bữa cơm rau dưa
uống chén rượu thơm nồng không pha phách
cất bằng thứ men truyền giữ đã bao đời
ta sẽ trở lại
dù phải húc đầu vào đá
để mở cửa
sau mùa đông là mùa xuân
sau cái chết một bắt đầu khác nữa
rêu nhuộm thời gian quanh gốc gạo
đàn quạ kêu trên đỉnh tháng tư
chuông chiều buông dòng sông chảy chậm
sao vụt xanh dải ráng chưa mờ
có tiếng gì chừng quen thuộc
đến từ sắc trời phút giây thay đổi
chừng gọi ta từ yên tĩnh không cùng
hỡi người bạn đường mệt mỏi
đâu là nơi dừng tạm bàn chân
đâu con sóng dịu dàng
đưa đẩy vành trăng
đâu lời ru lúc quên lúc nhớ
như mây mù mây tan
gió
cát
quay cuồng
chiếc lá
xốc áo đứng lên
lưu đày
bầy cá nược đua theo thuyền
trăng bầm đỏ
mặt biển bùng cơn ác mộng
con quái vật lừ lừ phun khói
đang bò về phương Đông
ta thét gọi
chỉ mình ta tỉnh thức
tiếng ta chìm như hòn sỏi giữa mênh mông
lặng ngồi cho cạn đêm sương
nâng chén rượu với hư không chuyện trò
một đời trải bấy âu lo
cái vui thiên hạ bao giờ vui chung
bình sinh khoác mảnh chăn đơn
đói no ấm lạnh thói thường khác nhau
nỗi niềm lo trước vui sau
hai con mắt mở chiêm bao mấy lần
bước đi bước ở tần ngần
trống hoang quán trọ trần gian gió lùa
ta sẽ trở lại
con người
dài hơn mọi con đường
giữa hai hàm răng là bóng tối
những người trốn thuế trốn sưu
bóng tối trùm lên cái nhìn hốt hoảng
những người không muốn chết trước lăng vua
như sỏi đá
những người vốn rụt rè ai gọi cũng dạ
suốt đời quẩn quanh chật chội lũy tre làng
vì lẽ chi
họ bỗng đặt vào ta bàn tay lửa
ta có thể đưa tặng họ món ăn gì
ngoài hy vọng?
ta có thể trao cho họ của cải gì
ngoài gánh nặng?
khi ta giương ngọn cờ cay đắng
vì lẽ chi họ hăm hở tụ về?
không ban phát những lời hứa hẹn
ta chỉ vung sự thật như cái vồ bằng đá
giáng xuống những cơn mê
hãy tỉnh dậy
từ giấc ngủ
nhằm đánh lừa
cái bụng đói
nhằm an ủi
vết thương sâu
hãy tỉnh dậy
bóc lá cao
l ời đường mật
vứt toa thuốc
bọn lang băm
chuyện mánh mung
trò bố láo
hãy tỉnh dậy
chớ mộng du
đừng khiếp sợ
sống trên đời
sông có khúc
người có thời
hết buồn khổ
tới mừng vui
hãy tỉnh dậy
nào bạn ơi!
ánh sáng của cây xanh
bóng mát của đất lành
ta nhận ra ngọn suối nơi dòng sông mình ngụp lội
mà tiếng nói
đột nhiên, lấp lánh
ta nghe những cánh rừng quẫy mạnh
trong hoang vu
cây vươn vai ầm ào như bão
có nhẽ ta chưa từng đến đó
chưa dò xuống những bậc thang kỳ lạ
để thám hiểm chính mình
để vớt lên
những cánh hoa cho mùa xuân khác
gương mặt nào quá ư thân thiết
và niềm vui hiếm hoi
như rượu qúi nhiều năm chôn dưới đất
giọng hát sau đền đài đổ nát
cứ lay giật hoài cánh cửa riêng ta
không phải bàn tay cẩm thạch
chuyển đến cái vuốt ve bằng đá
những rú gào xé rách màng tai
khô khốc
một tiếng kêu ngắn
khô khốc
khoảng lặng im đầy âm nhạc
chờ đợi những bước chân
của màu nâu trầm ấm
gió như điên qua mái nhà cũ nát
ta cứ ngồi và trôi trong đêm lễnh loãng
này, bác gió
sao không tung hê bọn ăn trên ngồi trốc
lại đi giật tấm tranh anh em nghèo
này, bác gió
hãy thổi xuyên thân hình ta như ống sáo
khúc nhạc dành cho những chồi non
tính ta ưa chọc cười
với bạn bè hay vui chén rượu
những giấc mơ nào xa lắc
thỉnh thoảng cập về bến cũ ghé thăm
ánh sáng với mù sương
ùa vào cùng một lúc
con đường lầm lội
gió hong khô lớp bùn váng bên ngoài
lẽ "hành tàng" nhiều khi nói mãi
sợ con chào mào trên cây khế rình nghe
ta đứng đây
nương tựa vào chính mình vào mặt đất
nơi đặt bàn chân
những chiếc lá run run bỗng xích lại gần
với cái nhìn dịu dàng
ta sẽ thở
bằng lồng ngực chật căng sau manh áo vá
tiếng nói âm u từ vô vàn mạch máu
chảy nóng rực bầu trời
ta sẽ đẩy tiếp sá cày
trên khoảng đời còn hoang hóa
nếu con người không biết đau khổ
nếu con người đánh đổi
cả cuộc sống cho sự bình yên giả tạo
nếu con người tránh né
những câu hỏi của riêng mình
ra sẽ rung lên hồi chuông
từng tiếng chuông sẽ vỗ vào vai họ
như bàn tay một người bạn chân tình
qua thời gian sấp ngửa
rắn lại, óng ánh
như hổ phách ngân nga trong thầm lặng
những vòm cửa hình cánh cung
đứng sững
những hạt bụi đã bao lần quay đảo
hoa cúc vàng lên ngôi
những mái nhà xám hơn mây xám
trôi chầm chậm qua sông
những cây bàng chợt rùng mình cảm thấy
một khung trời gãy gập của mùa đông
như người thức giấc sau mộng mị
mùa xuân dụi mắt cười ngơ ngác
dòng sông mở mát xanh mời mọc
vươn khỏi cô đơn
hoa bừng tỉnh đón niềm vui ngây ngất
hoa thanh thản chết đi từng khoảnh khắc
hoa nhẹ nhàng báo trước những lo âu
họ dẫn ta về đâu
bị trói chặt giữa vòng dây và bóng tối
giữa thói quen hàng ngày và nỗi sợ
những chữ lạ viết mãi vào không khí
thẩm vấn tra tấn ngục tù
không duyên cớ không tuyên án
tóc bạc trắng chờ lưỡi-dao-chưa-biết-bao-giờ-đến
tại ta không muốn bỏ rơi những gì tốt đẹp
ta mỏng manh như một con người
với tình thương
lấy lưng mình che đỡ những câu thơ non nớt
lấy những câu thơ làm tấm áo che người đang rét
trước ngọn roi gió bấc phũ phàng
dù tất cả sẽ trôi qua
nắm chặt bàn tay
những ngôi sao mọc giữa bùn lầy
sáng trong nước mắt
con đường xuyên đám mây giông bão
chiếc lá xoáy
mưa hút vào thung lũng
nghe giá lạnh tàn phá cơ thể
ta đứng bên bờ sông bông cỏ nở hoa
một giọng nói rất khẽ
những chấm xanh nhỏ nhoi này là tín hiệu của mặt đất
của mặt đất lớn lao thường xuyên bị đẫm đạp
đến với ta như dòng nước mát
như mắt con ta sau chuỗi ngày xa cách
như hàng xoan non rưng rưng tháng giêng
cỏ bồng bềnh câu thơ hoang dại
cánh đu tiên mùa xuân
ta đã bay quá lằn mức đời mình
trên cả dao động và yên tĩnh
bỗng tiếng gà như sóng
vỗ tràn qua không gian
khi người ta thức đến canh tư
con mắt nhìn bóng đêm sẽ khác
bạn ơi, vì sao quyến luyến
trăng gác non đoài trăng chẳng nỡ quay lưng
đời mấy lần gặp gỡ
muốn vươn tay kéo núi về gần
ban mai rồi sẽ tới
như dòng sông lao xuống từ trời
ta vục đầu vào khoảng xanh ngợp ấy
tóc ướt đầm ánh sáng
cơn sấm rền chớp xé tầng mây
lúa phất cờ đứng dậy
những hàng cây bùng cháy
ta chờ đợi
băng ngang trời đàn ngựa trắng
rền vang móng gõ
xanh đỏ tím vàng
lúc hiện lúc tan
tiếng trong tiếng đục
những người chân đất
những người thở dài
những người cúi mặt
chưa biết về đâu
băng ngang trời đàn ngựa trắng
ta vung thanh gươm
theo chiều lá lúa
bạn ơi đừng hỏi
những người chân đất
những người thở dài
những người cúi mặt
rằng họ là ai
băng ngang trời đàn ngựa trắng
những con cá vàng
những con nghê đá
một đốm lửa nhỏ
một giọng nói người
bàn tay bầm dập
tìm nắm bàn tay
bạn ơi đừng hỏi
rằng ta là ai
băng ngang trời đàn ngựa trắng
cấy xuống đồng sâu
đời người - dảnh mạ
phải mùa nắng nỏ
gặp bấc tháng ba
héo quắt xương da
sâu rầy phá hại
tai ương chướng họa
châu chấu tủa về
cắn phăng gié lúa
kêu trời không thấu
lũ tràn vỡ đê
nước mắt dầm dề
nhòa trong mưa xối
bạn ơi đừng hỏi
ăn mày là ai
băng ngang trời đàn ngựa trắng
ta đã thấy những con tàu đồ sộ của một thế giới khác
như hiện từ giấc mơ ma quỷ
nhưng cái gì sẽ đổi thay?
vẫn những người da đen còng lưng kéo xe cho người da trắng
trên sân khấu cuộc đời vẫn bôi mặt vẽ mày nhí nhố gươm đao
mục nát lại chồng lên mục nát
những chiếc ngai sơn son thiếp vàng những võng lọng
đình đám những tiệc tùng thừa mứa
hệt như thời Nguyễn Du đã thấy
và mặt trời cứ lẩn tránh
không rõ vì xót thương hay xấu hổ hay hèn nhát
bỏ mặc dân đen cho lũ sói diều
muốn hỏi cây gạo làng Phú Thị mà hoa đỏ bao lần
ám ảnh tuổi thơ
muốn hỏi chiếc gông dài nặng hơn cả ngàn trang sách
mùa xuân mang rượu lên núi cao
muốn hỏi Ức Trai người anh hùng muôn thuở
cái gì sẽ đổi thay?
kêu một tiếng giữa rỗng không lạnh giá
mù sương
mắt ráo khô
con đường cát lún
vài ánh lửa chập chờn
có lẽ xóm giềng đà trở dậy
thơm thơm mùi khói nùn rơm
hạt móc rơi trên tàu lá chuối
ta đi và tất cả dâng lênZ
gương mặt tiều tụy của đứa con
mái nhà cũ phên tàn dậu đổ
ta đi và tất cả dâng lên
Quê hương
nếu cần phải làm lại
nếu phải làm ngay không trễ nải
ta xin hiến nốt đời mình
chỉ để gióng lên hồi chuông
lớp người sau sẽ đến
những ngọn sóng trong đêm
khởi từ giờ tý
nơi bản lề cánh cửa mở vào ngày mới
ta xin đứng lại
chiến đấu như một người
chặn đường nỗi sợ
và chết như một người
đã vượt lên nỗi sợ
ở những ranh giới mơ hồ
đây là điều sáng rõ
phải trả giá cho mỗi phẩm chất người
dù rất nhỏ
khi quả cây chín được trên cành
nó không lo bao giờ rụng xuống
THANH THẢO
Tuổi trẻ
post by vanchuong @ 05 October, 2008
Đêm trên cát của nhà thơ Thanh Thảo
"Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán", đã hơn 150 năm từ ngày ông hy sinh, (Cao Bá Quát mất năm 1855) thơ ông vẫn tiếp tục "đánh đu" trên cả dao động và yên tĩnh. Ngưỡng mộ Cao Chu Thần, viết được một trường ca 600 câu về một đêm trong cuộc đời ngắn ngủi của ông, là một trong những điều mà nhà thơ Thanh Thảo cho rằng "bằng lòng hơn cả" trong cuộc đời mình...
TTO xin giới thiệu với bạn đọc bản trường ca "Đêm trên cát" của nhà thơ Thanh Thảo, nhân dịp những người yêu sử Việt đang chuẩn bị kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông, để một lần nữa ngưỡng vọng về khí phách của một nhà thơ anh hùng.
Tôi viết trường ca "Đêm trên cát"
Có những tác phẩm được viết ra ngỡ như hết sức tình cờ. Trước cái đêm tôi được hầu rượu nhà thơ Tế Hanh ở nhà anh Nguyễn Trung Hiếu thị xã Quảng Ngãi hình như vào năm 1981, tôi chưa hề nghĩ mình sẽ viết một bài thơ - chứ chưa nói một trường ca - về Cao Bá Quát, dù tôi là người ngưỡng mộ nồng nhiệt Cao Chu Thần.
Cuộc rượi tối hôm ấy, chúng tôi nhắc tới bài thơ "Trà giang thu nguyệt ca" của Cao Bá Quát. Tế Hanh đang hào hứng ca ngợi bài thơ này hết lời, thì bất chợt tôi chen ngang: " Em sẽ viết một trường ca về Cao Bá Quát, chỉ dồn nén trong một đêm của nhà thơ. Sau một đêm thức trắng, mái tóc bạc của Cao Chu Thần bỗng...xanh lại".
Thực lòng, tôi không thể hiểu vì sao lúc đó mình nói như thế, cứ như cái trường ca ấy đã nằm trong đầu mình lâu lắm rồi. Và cả mái tóc bạc chuyển thành...xanh của Cao Chu Thần chỉ sau một đêm suy nghĩ, cứ như tôi đã nghiền ngẫm hình ảnh ấy từ lâu lắm. Thực ra, đó chỉ là câu nói buột thốt, nhưng hình như nhà thơ Tế Hanh - một người rất nhạy cảm - hiểu câu nói ấy như một lời hứa. Ông động viên tôi: " Em phải viết đi. Cái tứ ấy hay lắm!".
Sau lần đi Quảng Ngãi đó, về Qui Nhơn tôi đã lao vào tìm đọc tất cả những gì có được lúc ấy liên quan tới Cao Bá Quát, nhất thơ chữ Hán. Tôi đọc không biết bao nhiêu lần. Đọc cho ngấm, cho ngấu, cho đau, cho uất. Trong thơ Cao Bá Quát có đủ cả hỉ nộ ái ố ai lạc, nhưng vượt lên trên tất cả, là vẻ cương nghị thầm lặng, là cái tình sâu đậm, sự sẻ chia trong hoạn nạn, trong khốn khó của nhà thơ với nhân dân mình, với một người dân, một con người cụ thể, và với quê hương, với cái làng Phú Thị nhỏ bé có cây gạo đầu làng mà người lưu lạc mỗi khi trở lại quê nhà đều nhìn thấy từ rất xa. Đó là thơ của một nội tâm dữ dội, của sự dồn nén ghê gớm, và của sự bùng nổ giữa các dòng chữ.
Hình như, tôi bắt đầu bắt sóng được với khối thơ - thuốc nổ ấy. Dù không thể hình dung mình sẽ viết cái trường ca ấy như thế nào, nhưng tựa đề "Đêm trên cát" với lời đề từ "một đêm của nhà thơ Cao Bá Quát" thì tôi đã nghĩ ra từ trước khi viết dòng thơ đầu tiên. Nó như một tiêu điểm mà bài thơ mình hướng tới. Ngay cả cấu trúc bên trong của bài thơ, tôi cũng mong muốn nó sẽ mang hình thức cấu trúc của một sonata với sự chặt chẽ, đối chọi, dồn nén cao độ và những cao trào bùng nổ. Tôi không học nhạc lý nhưng rất mê nhạc cổ điển, và hồi đó dẫu vất vả nhưng tôi vẫn tìm được cách để thường xuyên nghe nhạc cổ điển.
Sau mấy tháng "tích điện Cao Bá Quát", tôi đã viết được những dòng thơ đầu tiên. Chưa có trường ca nào tôi lại viết được liền mạch như thế, những câu thơ nặng nề, uất ức cứ tuôn ra một cách như dễ dàng, như nhẹ nhàng. Tôi viết từng đoạn trong một cuốn sổ tay, rồi viết lại trong máy chữ.
Có những đêm ngồi ở nhà thầy má tôi tại quê, nhà không có điện, tôi thắp ngọn đèn dầu hiu hắt và... viết. Những lúc ấy, giữa bóng đêm và bóng đèn nhập nhoạng, cứ như Cao Chu Thần hiện về trước trang giấy, lặng lẽ chuyện trò cùng tôi. Đó là những phút giây thật sự hạnh phúc.
Linh hồn Cao Chu Thần đã phù hộ tôi, dắt dẫn tôi trong từng đoạn thơ, hay chính tôi trong trạng thái bất thường như thế đã "bắt sóng" được với thơ Cao Chu Thần - nghĩa là đã bắt sóng được với phần tâm huyết, sâu kín của nhà thơ. Nếu đọc kỹ thơ Cao Bá Quát, ta sẽ không ngạc nhiên về bước đường tư tưởng và hành động của ông, kể cả quyết định dấn thân cuối cùng là trở thành lãnh tụ khởi nghĩa nông dân. Tôi muốn cô đặc cả hành trình dài đầy phức tạp ấy của Cao Bá Quát vào một đêm thức trắng của ông. Một đêm cho cả một đời.
Ở "Đêm trên cát" thì khi viết đoạn kết trường ca, hình ảnh "mái tóc bạc của Cao Bá Quát bỗng xanh cả lại" đã không xuất hiện như hình ảnh chợt đến với tôi ban đầu. Thay vào đó, là hình ảnh một quả cây: " khi quả cây chín được trên cành/ nó không lo bao giờ rụng xuống" - một quyết định nhận đường bình thản. Sự thay đổi đã lặn vào bên trong, không hiện rõ như hình ảnh "tóc bạc-tóc xanh", nhưng cách khẳng quyết về một khả năng sống lại thì đã rõ.
Thanh Thảo
Trường ca "Đêm trên cát"
Một đêm của nhà thơ Cao Bá Quát
những con cá vàng ngủ mê trong điện Thái Hòa
cặp mắt giấu sau bóng tối
tiếng thở dài
bàn tay nơi không thấy bàn tay
phút chốc đốm lửa lóe sáng
người lính canh bên con nghê
bao giờ
ta không định ra đi hay ở lại
hoa gạo trong sương sớm
nung nấu lòng kẻ xa
ta đứng phía mặt trời lên chậm
nửa đường đời cơn gió thoảng qua
đừng nói đừng nhắc
ta thèm nghe tiếng giã gạo
vợ hiền tấm mẳn làm thuê
và dòng sông chảy ta nghe
mùa đông bãi quạnh lạnh tê gió lùa
ta như thể cành bàng khô
cắn răng chịu rét mà chờ lộc non
bao giờ
câu hát thời bé dại
"ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng"...
sẽ tới lúc chăng
con nghê đá người lính canh hóa đá
đêm cứng khô như một bức tường
ai thả rơi từng bước chân
hoang vắng...
áo phong trần tả tơi
ta đã giải trọn kiếp người
với dòng sông dựng ngang trời thanh gươm
với bài ca thuở khốn cùng
hát bên người đói ngập ngừng xin cơm
với tàn nhẫn lời roi song
cháy trên da thịt hãy còn biết đau
đừng nói đừng nhắc
ta đã gượng dậy thế nào
để ném những câu thơ
như khạc từng búng máu
có lúc vào canh ba sợi dây đêm chùng lại
ta lấy chiếu đắp thêm cho chú nhỏ
khêu bấc đèn ngóng đợi
ngỡ vừa nghe tiếng kẹt cửa của hư vô
giận mình chưa học được phép ngủ
mắt trừng trừng mở trước vực sâu
những con chuột nhắt
gặm nhấm tấm vải hy vọng
mà ta canh cửi suốt đời
những con chuột nhắt
bò qua khoảng không chóng mặt
lên tận chín tầng trời
khoảnh khắc ta hụt hẫng
mây dưới chân tan loãng rã rời
hố thẳm
bao năm ròng chới với
lòng mê man vin một chút danh hờ
trên đất nước trận bão đen tàn hại
bầy châu chấu từ đâu về che kín mặt trời
lúa te tướp mặt người xanh xám
dài làm sao những buổi chiều trống rỗng
bụng quắt queo kiến bò
cái đói thật tình xuống hai hàng nước mắt
nào phải chuyện văn thơ
nào phải lối đãi bôi thù tạc
trăng trong chén anh
là giọt rượu cặn cuối cùng
của sông Trà một đêm khói sóng
nhìn mắt bạn thấy bóng mình lẳng lặng
mối hận bỗng trào lên cuộn xoáy con thuyền
dù đi hay ở
chẳng bao giờ ta quên
bàn tay bạn giơ ngang như níu kéo
như buông bắt cái gì tận xa vời
ta chỉ là gã nhà thơ cùng đường quay trở lại
lòng ước ao thoáng hạnh phúc mơ hồ
tóc xõa đầu ngọn gió
rối bời bao tâm sự
ta già rồi chăng
trước mặt bức tường cao thêm mãi
gánh nặng lưng còng trèo non lội suối
xòe bàn tay còn lại đất bùn
mong tài năng nở rộ dưới vầng dương
buồn cười thay
nghe trong miệng vị sương mù nhạt thếch
con chim quyên lỡ vận
lang thang trên mặt đất
tiếng kêu sao nghẹn ngào
ta đã phí hoài quá nhiều sức lực
gót chân mòn những bước không đâu
ở nơi đó dường như tình yêu
lần thứ nhất hoa xoan rơi lấm tấm
mưa giêng hai thấm áo người ơi
ở nơi đó ta nhỡ một nụ cười
ba mươi năm sau nhớ lại còn muốn khóc
nỗi nhớ của người đi trên cát
mỗi bước mỗi lùi về tuổi thơ
những khao khát bỗng thành chõ vỡ
mắt đăm đăm cát trải mịt mờ
thì cứ đi cứ đi và đi mãi
như nước kia chảy không bến không bờ
ta đã ném thơ mình vào thác xiết
một sợi chỉ mành mỏng mảnh treo chuông
một tiếng thét khi đầm lầy dâng ngập cổ
trước mõm chó trước vó ngựa
lần đầu thơ biết đến hiểm nguy
hãy đứng lên ngọn lửa
giữa màn đêm kinh sợ
hãy thắp sáng lời nguyền rủa
trước Ngọ Môn
hãy uống cạn con đường
đầy chông gai cạm bẫy
hãy xuyên thủng bức tường
bằng ngôn ngữ
hãy chế ngự thời gian
bằng lặng lẽ
ta đã vãi tung những hạt giống của mình
vào đất đai tăm tối
bao giờ cho đến tháng ba
trẻ gọi trâu lanh lảnh ngoài đồng lúa đang thì con gái
lũy tre ngà lơ mơ
cái áo khoác thanh bình
tiếng tu hú trôi trong màu đỏ
tháng năm về thức tỉnh những mầm sen
có gì khiến ta bứt rứt
có gì không thực
qua vẻ hiền lành khép nép kia
ta thích hoa phượng
cháy tận cùng ngọn lửa
dù phải thiêu đốt cả mùa hạ
ai thảnh thơi ăn măng trúc mùa thu
gió heo may ta cúi đầu từ biệt
dăm bảy học trò mang rượu tiễn đưa
các con đừng khóc
ta đi đâu
lênh đênh theo đàn chim di trú
ai cắn răng qua cầu mùa đông
cầm cố áo bông đổi vài đấu cám
chợt ấm lòng nghĩ tới người thân
nếu chỉ sống cho riêng mình
cảm sao nổi phút tấm lòng kỳ lạ ấy
đã trộn trong ta hàng ngàn số phận
như bột nhào như vôi vữa
mong một ngày hiện rõ
chất thật mỗi con người
lặng yên trên bề mặt
gào thét dưới chiều sâu
hiểu những giới hạn
và khoảnh khắc
một thành hai thành ba thành vô số
mãi mãi dò tìm
mãi mãi không thể nào chạm đáy
những quả táo non chua chát
ngọt ngay dưới mắt trẻ thơ
cha lẩn thẩn đi học nghề mổ rồng
đâu ngờ các con đói gầy đến thế
như Thiếu Lăng thuở xưa về nhà
ôm mặt khóc đất trời sầm tối
những giọt nước mắt
tắt nhanh trên cát
những giọt nước mắt
chẳng cần hóa ngọc
ném gông dài làm chiếc thang mây
cười dội tới những tầng cao chất ngất
ta sống lại nhờ tiếng cười
lần thứ hai chào đời từ ngục thất
xin bạn đừng kinh ngạc
vì sao chiếc mầm cây nhỏ nhất
bị cả mùa đông nhào vô trấn lột
bị bóng đêm lường gạt
vẫn trần trụi lớn lên
trên cánh đồng ngập ngụa
trên màu lam lũ những ao bèo
ta biết mình sẽ trở lại
với bạn nghèo ăn bữa cơm rau dưa
uống chén rượu thơm nồng không pha phách
cất bằng thứ men truyền giữ đã bao đời
ta sẽ trở lại
dù phải húc đầu vào đá
để mở cửa
sau mùa đông là mùa xuân
sau cái chết một bắt đầu khác nữa
rêu nhuộm thời gian quanh gốc gạo
đàn quạ kêu trên đỉnh tháng tư
chuông chiều buông dòng sông chảy chậm
sao vụt xanh dải ráng chưa mờ
có tiếng gì chừng quen thuộc
đến từ sắc trời phút giây thay đổi
chừng gọi ta từ yên tĩnh không cùng
hỡi người bạn đường mệt mỏi
đâu là nơi dừng tạm bàn chân
đâu con sóng dịu dàng
đưa đẩy vành trăng
đâu lời ru lúc quên lúc nhớ
như mây mù mây tan
gió
cát
quay cuồng
chiếc lá
xốc áo đứng lên
lưu đày
bầy cá nược đua theo thuyền
trăng bầm đỏ
mặt biển bùng cơn ác mộng
con quái vật lừ lừ phun khói
đang bò về phương Đông
ta thét gọi
chỉ mình ta tỉnh thức
tiếng ta chìm như hòn sỏi giữa mênh mông
lặng ngồi cho cạn đêm sương
nâng chén rượu với hư không chuyện trò
một đời trải bấy âu lo
cái vui thiên hạ bao giờ vui chung
bình sinh khoác mảnh chăn đơn
đói no ấm lạnh thói thường khác nhau
nỗi niềm lo trước vui sau
hai con mắt mở chiêm bao mấy lần
bước đi bước ở tần ngần
trống hoang quán trọ trần gian gió lùa
ta sẽ trở lại
con người
dài hơn mọi con đường
giữa hai hàm răng là bóng tối
những người trốn thuế trốn sưu
bóng tối trùm lên cái nhìn hốt hoảng
những người không muốn chết trước lăng vua
như sỏi đá
những người vốn rụt rè ai gọi cũng dạ
suốt đời quẩn quanh chật chội lũy tre làng
vì lẽ chi
họ bỗng đặt vào ta bàn tay lửa
ta có thể đưa tặng họ món ăn gì
ngoài hy vọng?
ta có thể trao cho họ của cải gì
ngoài gánh nặng?
khi ta giương ngọn cờ cay đắng
vì lẽ chi họ hăm hở tụ về?
không ban phát những lời hứa hẹn
ta chỉ vung sự thật như cái vồ bằng đá
giáng xuống những cơn mê
hãy tỉnh dậy
từ giấc ngủ
nhằm đánh lừa
cái bụng đói
nhằm an ủi
vết thương sâu
hãy tỉnh dậy
bóc lá cao
l ời đường mật
vứt toa thuốc
bọn lang băm
chuyện mánh mung
trò bố láo
hãy tỉnh dậy
chớ mộng du
đừng khiếp sợ
sống trên đời
sông có khúc
người có thời
hết buồn khổ
tới mừng vui
hãy tỉnh dậy
nào bạn ơi!
ánh sáng của cây xanh
bóng mát của đất lành
ta nhận ra ngọn suối nơi dòng sông mình ngụp lội
mà tiếng nói
đột nhiên, lấp lánh
ta nghe những cánh rừng quẫy mạnh
trong hoang vu
cây vươn vai ầm ào như bão
có nhẽ ta chưa từng đến đó
chưa dò xuống những bậc thang kỳ lạ
để thám hiểm chính mình
để vớt lên
những cánh hoa cho mùa xuân khác
gương mặt nào quá ư thân thiết
và niềm vui hiếm hoi
như rượu qúi nhiều năm chôn dưới đất
giọng hát sau đền đài đổ nát
cứ lay giật hoài cánh cửa riêng ta
không phải bàn tay cẩm thạch
chuyển đến cái vuốt ve bằng đá
những rú gào xé rách màng tai
khô khốc
một tiếng kêu ngắn
khô khốc
khoảng lặng im đầy âm nhạc
chờ đợi những bước chân
của màu nâu trầm ấm
gió như điên qua mái nhà cũ nát
ta cứ ngồi và trôi trong đêm lễnh loãng
này, bác gió
sao không tung hê bọn ăn trên ngồi trốc
lại đi giật tấm tranh anh em nghèo
này, bác gió
hãy thổi xuyên thân hình ta như ống sáo
khúc nhạc dành cho những chồi non
tính ta ưa chọc cười
với bạn bè hay vui chén rượu
những giấc mơ nào xa lắc
thỉnh thoảng cập về bến cũ ghé thăm
ánh sáng với mù sương
ùa vào cùng một lúc
con đường lầm lội
gió hong khô lớp bùn váng bên ngoài
lẽ "hành tàng" nhiều khi nói mãi
sợ con chào mào trên cây khế rình nghe
ta đứng đây
nương tựa vào chính mình vào mặt đất
nơi đặt bàn chân
những chiếc lá run run bỗng xích lại gần
với cái nhìn dịu dàng
ta sẽ thở
bằng lồng ngực chật căng sau manh áo vá
tiếng nói âm u từ vô vàn mạch máu
chảy nóng rực bầu trời
ta sẽ đẩy tiếp sá cày
trên khoảng đời còn hoang hóa
nếu con người không biết đau khổ
nếu con người đánh đổi
cả cuộc sống cho sự bình yên giả tạo
nếu con người tránh né
những câu hỏi của riêng mình
ra sẽ rung lên hồi chuông
từng tiếng chuông sẽ vỗ vào vai họ
như bàn tay một người bạn chân tình
qua thời gian sấp ngửa
rắn lại, óng ánh
như hổ phách ngân nga trong thầm lặng
những vòm cửa hình cánh cung
đứng sững
những hạt bụi đã bao lần quay đảo
hoa cúc vàng lên ngôi
những mái nhà xám hơn mây xám
trôi chầm chậm qua sông
những cây bàng chợt rùng mình cảm thấy
một khung trời gãy gập của mùa đông
như người thức giấc sau mộng mị
mùa xuân dụi mắt cười ngơ ngác
dòng sông mở mát xanh mời mọc
vươn khỏi cô đơn
hoa bừng tỉnh đón niềm vui ngây ngất
hoa thanh thản chết đi từng khoảnh khắc
hoa nhẹ nhàng báo trước những lo âu
họ dẫn ta về đâu
bị trói chặt giữa vòng dây và bóng tối
giữa thói quen hàng ngày và nỗi sợ
những chữ lạ viết mãi vào không khí
thẩm vấn tra tấn ngục tù
không duyên cớ không tuyên án
tóc bạc trắng chờ lưỡi-dao-chưa-biết-bao-giờ-đến
tại ta không muốn bỏ rơi những gì tốt đẹp
ta mỏng manh như một con người
với tình thương
lấy lưng mình che đỡ những câu thơ non nớt
lấy những câu thơ làm tấm áo che người đang rét
trước ngọn roi gió bấc phũ phàng
dù tất cả sẽ trôi qua
nắm chặt bàn tay
những ngôi sao mọc giữa bùn lầy
sáng trong nước mắt
con đường xuyên đám mây giông bão
chiếc lá xoáy
mưa hút vào thung lũng
nghe giá lạnh tàn phá cơ thể
ta đứng bên bờ sông bông cỏ nở hoa
một giọng nói rất khẽ
những chấm xanh nhỏ nhoi này là tín hiệu của mặt đất
của mặt đất lớn lao thường xuyên bị đẫm đạp
đến với ta như dòng nước mát
như mắt con ta sau chuỗi ngày xa cách
như hàng xoan non rưng rưng tháng giêng
cỏ bồng bềnh câu thơ hoang dại
cánh đu tiên mùa xuân
ta đã bay quá lằn mức đời mình
trên cả dao động và yên tĩnh
bỗng tiếng gà như sóng
vỗ tràn qua không gian
khi người ta thức đến canh tư
con mắt nhìn bóng đêm sẽ khác
bạn ơi, vì sao quyến luyến
trăng gác non đoài trăng chẳng nỡ quay lưng
đời mấy lần gặp gỡ
muốn vươn tay kéo núi về gần
ban mai rồi sẽ tới
như dòng sông lao xuống từ trời
ta vục đầu vào khoảng xanh ngợp ấy
tóc ướt đầm ánh sáng
cơn sấm rền chớp xé tầng mây
lúa phất cờ đứng dậy
những hàng cây bùng cháy
ta chờ đợi
băng ngang trời đàn ngựa trắng
rền vang móng gõ
xanh đỏ tím vàng
lúc hiện lúc tan
tiếng trong tiếng đục
những người chân đất
những người thở dài
những người cúi mặt
chưa biết về đâu
băng ngang trời đàn ngựa trắng
ta vung thanh gươm
theo chiều lá lúa
bạn ơi đừng hỏi
những người chân đất
những người thở dài
những người cúi mặt
rằng họ là ai
băng ngang trời đàn ngựa trắng
những con cá vàng
những con nghê đá
một đốm lửa nhỏ
một giọng nói người
bàn tay bầm dập
tìm nắm bàn tay
bạn ơi đừng hỏi
rằng ta là ai
băng ngang trời đàn ngựa trắng
cấy xuống đồng sâu
đời người - dảnh mạ
phải mùa nắng nỏ
gặp bấc tháng ba
héo quắt xương da
sâu rầy phá hại
tai ương chướng họa
châu chấu tủa về
cắn phăng gié lúa
kêu trời không thấu
lũ tràn vỡ đê
nước mắt dầm dề
nhòa trong mưa xối
bạn ơi đừng hỏi
ăn mày là ai
băng ngang trời đàn ngựa trắng
ta đã thấy những con tàu đồ sộ của một thế giới khác
như hiện từ giấc mơ ma quỷ
nhưng cái gì sẽ đổi thay?
vẫn những người da đen còng lưng kéo xe cho người da trắng
trên sân khấu cuộc đời vẫn bôi mặt vẽ mày nhí nhố gươm đao
mục nát lại chồng lên mục nát
những chiếc ngai sơn son thiếp vàng những võng lọng
đình đám những tiệc tùng thừa mứa
hệt như thời Nguyễn Du đã thấy
và mặt trời cứ lẩn tránh
không rõ vì xót thương hay xấu hổ hay hèn nhát
bỏ mặc dân đen cho lũ sói diều
muốn hỏi cây gạo làng Phú Thị mà hoa đỏ bao lần
ám ảnh tuổi thơ
muốn hỏi chiếc gông dài nặng hơn cả ngàn trang sách
mùa xuân mang rượu lên núi cao
muốn hỏi Ức Trai người anh hùng muôn thuở
cái gì sẽ đổi thay?
kêu một tiếng giữa rỗng không lạnh giá
mù sương
mắt ráo khô
con đường cát lún
vài ánh lửa chập chờn
có lẽ xóm giềng đà trở dậy
thơm thơm mùi khói nùn rơm
hạt móc rơi trên tàu lá chuối
ta đi và tất cả dâng lênZ
gương mặt tiều tụy của đứa con
mái nhà cũ phên tàn dậu đổ
ta đi và tất cả dâng lên
Quê hương
nếu cần phải làm lại
nếu phải làm ngay không trễ nải
ta xin hiến nốt đời mình
chỉ để gióng lên hồi chuông
lớp người sau sẽ đến
những ngọn sóng trong đêm
khởi từ giờ tý
nơi bản lề cánh cửa mở vào ngày mới
ta xin đứng lại
chiến đấu như một người
chặn đường nỗi sợ
và chết như một người
đã vượt lên nỗi sợ
ở những ranh giới mơ hồ
đây là điều sáng rõ
phải trả giá cho mỗi phẩm chất người
dù rất nhỏ
khi quả cây chín được trên cành
nó không lo bao giờ rụng xuống
THANH THẢO
Tuổi trẻ
Ninh Kiều : Cái tát
Cái tát
Cái tát
Ninh Kiều
Anh thấy Chị sáng nay cứ lúi húi đi tìm cái gì đó trên kệ sách mới hỏi “Em kiếm gì vậy” thì nghe trả lời “Cuốn từ điển”, bèn mau mắn “Kiếm chữ gì ?” và vì không nghe vợ trả lời mà thấy vợ đang đưa mắt tìm kiếm trên bàn làm việc của mình nên nằn nì “Chữ gì ? Anh nói cho nghe, khỏi tìm kiếm mất công…” và xì cười nói tiếp “có từ điển sống một bên mà không biết tận dụng”. Tiếng xì cười vừa chìm lỉm để nhường chỗ cho im lặng hơi nặng nề thì nghe tiếng Chị “Nó đây rồi” và thấy Chị thò tay định rút cuốn từ điển nằm dưới chồng giấy má khiến Anh kêu lên “Đừng đụng, mất dấu của anh” và bực mình “muốn tra chữ gì thì nói”. Song không nghe Chị trả lời mà chỉ thấy Chị lặng lẽ bỏ đi ra khiến Anh ném cuốn sách đang cầm trên tay lên bàn làm việc nhưng không làm nghiêng đổ gì cả vì nó nằm chàng hảng trên hai chồng hồ sơ cao nghệu. Buông người ngồi phịch xuống mền gối nhàu nát trên chiếc giường một người, Anh thở ra “Hết hiểu nổi”.
Rồi Chị cũng tra được cái chữ muốn tìm trong từ điển, «cái tát». Có ba danh từ tiếng Pháp mà trong đó chỉ có một danh từ phù hợp với Chị, «la gifle» : « đánh vào gò má bằng bàn tay mở. Nghĩa bóng là sự sỉ nhục ». Chị cũng khám phá ra là có nhiều loại tát, như tát vào phía sau vành tai gọi là tát tai hay tát một gò má bằng lòng bàn tay rồi tiện thể tát gò má kia bằng mu bàn tay. Không ngờ từ ngữ dồi dào đến như vậy, lỡ gặp bàn tay mang nhẫn cộm…, Chị lắc lắc đầu như thể xua đi những ý nghĩ u ám.
«La gifle» phù hợp với Chị hơn cả «cái tát» vì nó có thêm nghĩa bóng trong khi từ điển Việt-Việt chỉ giải nghĩa «tát» là đánh vào gò má bằng bàn tay mở.
Với chữ nầy, cuốn từ điển sống của Chị mà mở ra thì chắc khỏi đóng lại luôn.
Ba cái tát liên tiếp, cái thứ nhất chưa kịp đau, cái thứ nhì thấy rát mặt và đến cái thứ ba thì ù tai. Bàn tay trông thon thả, mảnh dẻ vậy mà tát cái nào cái nấy ra hồn.
Không hề có tiếng động nào sau ba cái tát ngoài những bước chân nhón cho đỡ nặng của ai về phòng nấy vì có con cháu bên Californie ghé Paris chơi đang ngủ trên lầu.
Đợi cho đưa tiễn cháu ra sân bay Roissy, hôn hít từ giã xong xuôi, đến mấy tuần sau Chị mới tra từ điển vì thấy vấn vương trong lòng.
Đây không phải là lần đầu tiên Chị bị tát. Thật vậy, sau khi đẻ đứa đầu, Chị bị mấy cái toé nước mắt nước mũi vì đã trả lời “bộ Anh không đi về trễ sao ?”, rồi sau đó Chị thấy mình ngồi chồm hổm trước siêu thị gần nhà đã đóng cửa, đến khuya, trong bóng tối, xong đứng lên quay về nhà vì ngày mai còn phải đưa con đi nhà trẻ…
Toé nước mắt nước mũi mà mùi soa giấy lại để hết trong áo khoác máng sau cánh cửa ra vào, mà chân còn mang dép, nên bao nhiêu nước trong người hội tụ đủ điều kiện để tuôn ra lỗ mắt, lỗ mũi, thấm ướt hai ống tay áo len rồi luôn hai đầu gối ống quần.
Coi vậy mà Chị cũng dễ quên, nếu không thì làm sao tiếp tục đẻ thêm một đứa nữa. Nhưng cũng phải công nhận là có những tình cảm được khơi dậy trong lòng một cách tự nhiên mà không có lý trí nào can thiệp vào được như thân thể tự nhiên lâu ấm dưới bàn tay vuốt ve, bắp thịt gò má tự nhiên hơi gồng lên như chống đỡ trong khi lẽ ra nó phải mềm mại dưới những cái hôn nồng nàn…
Rồi năm tháng trôi qua, mấy nhỏ càng lớn Chị càng ít nhớ mấy cái tát mà lại hay nhớ truyện Anh kể cho Chị ngay những ngày đầu mới lấy nhau, một truyện đời xưa của Nga “Vợ chồng nọ lấy nhau, một hôm có con chó chạy ngang qua, chồng bảo vợ đó là con chó, vợ bảo không phải, là con mèo. Chồng giận đem vợ trấn nước, rồi kéo đầu lên hỏi con chó hay con mèo, vợ bảo con mèo, chồng nhận đầu vợ xuống nước rồi kéo đầu lên hỏi con chó hay con mèo, vợ trả lời con mèo, chồng nhận đầu vợ xuống nước…”. Lúc ấy Chị còn quá trẻ để chỉ biết đồng tình với Anh là trên đời nầy có những bà vợ rất “cứng đầu”, con chó mà cứ bảo là con mèo, chi cho đến nổi bị trấn nước tới chết…
Mặc dù ít lâu sau không nghe Anh kể nữa song không hiểu sao Chị lại hay nhớ đến câu chuyện nầy, càng ngày càng nhớ đến nó thường hơn, nhớ nó đến trăn trở : con chó hay con mèo ? Và sự cứng đầu của người đàn bà nầy trở thành một ám ảnh.
Diễn biến trong tâm tư Chị tiến hành từng bước một, lúc đầu thì còn rụt rè bằng tự hỏi “Biết đâu con chó có dáng giống con mèo ?” nhưng dần dần Chị đi đến đặt lại vấn đề mang tính chất triết học về con chó và con mèo, có lúc đứng ra bênh vực hẳn hòi bà vợ “cứng đầu” trong truyện, rồi cuối cùng có khi nhập vai bà ấy, cứ uống nước no nê rồi ngóc đầu lên trả lời “con mèo”. Đó là nói xa nói xôi để đi đến giải thích vì sao Chị bị ba cái tát tối hôm ấy, làm mấy sợi tóc, sợi đen sợi bạc rơi phủ trán, án con mắt, phải vén lên. Qua sáng hôm sau, tai đã bớt kêu u u nhưng cứ thấy vướng cái gì trước con mắt, dường như chặp chờn bóng mấy sợi tóc, hiện hình rất rõ khi nhìn chỗ sáng như nhìn bức tường trắng chẳng hạn. Chị hốt hoảng đến độ chạy đến gặp ngay bác sĩ khoa mắt, con trai chị bạn thân, khẩn khoản hỏi “có trường hợp nào bị… là vì bị… bị tát không cháu” khiến cái thằng bảnh trai mà chưa vợ nầy phải phì cười “sao tata* hỏi vậy, mắt người già thường bị đục tinh thể, thấy ruồi, không dính gì đến cái tát… ”.
Anh lo lắng chở Chị đi khám mắt, song đúng là người Việt mình ít khi dùng chữ xin lỗi với người trong nhà, kể cả người Việt xa xứ đã sống lâu ở các nước có nền văn hoá xin lỗi bằng lời. Có nước gần đây đã thu hết can đảm quỳ xuống xin lỗi dùm cho quá khứ kia mà, ấy vậy mà mình thì có người không tài nào rặn ra được “Anh rất tiếc”.
Trong khoảng cách rất dài giữa hai lần bị tát, cũng có đôi lần Chị có dịp mặt đối mặt với chủ đề nầy.
Một lần trong buổi tiệc nhà bạn, nghe một giọng phụ nữ lớn tiếng và đầy tự tin “Chỉ cần một lần thôi, là chấm dứt” lại còn thêm “chỉ đưa bàn tay lên trước mặt tôi thôi, là đủ rồi”. Cử toạ im lặng vài giây, tuy ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa với một người đã nhạy cảm với vấn đề như Chị. Sau khoảnh khắc chưng hửng thì cánh các ông tụ ở một phía bình tĩnh ngay trở lại để tiếp tục sôi nổi chuyện thời sự, quan trọng hơn nhiều, trong khi cánh các bà sẵn trớn bàng quan kể chuyện bất hạnh của… phụ nữ trên thế giới : đốt, bắn, đâm, bầm, chặt, luộc, chọi đá, tạt axit… Tất cả vũ khí dùng cho chiến tranh đều được dùng cho phụ nữ với một ưu thế tầm cỡ, tiến sát được gần địch, thường rất hớ hênh như nằm lăn ra ngủ sau một ngày mệt nhọc kiếm ăn, lo con chẳng hạn. Chiến thắng là cái chắc : axit vô mặt thì trúng ngay hai đôi mắt, tẩm xăng đốt thì cháy từ đầu xuống chân và từ ngoài vô trong, đâm thì trúng các bộ phận quan trọng… Và cũng như chiến tranh, bao giờ cũng có lý do chính đáng đi trước… hầu như vậy. Nhưng trong các vũ khí hay trong các phương cách trừng phạt, không thấy ai nhắc đến cái tát.
Một lần khác thì một bà bạn cuối mặt tâm sự hồi lâu bỗng ngẩng lên hỏi “…bị chưa ? ”, thì Chị lắc đầu, một cái lắc phản xạ như chạm phải lửa và kịp thấy mặt bạn mình buồn thiu, cái buồn thiu của một nạn nhân cô độc.
Rồi gần đây thì có cô bạn cũng trút bầu tâm sự nhưng cô nầy không bị rớt mấy sợi tóc còn rất đen án mắt vì mới bị một cái là cô xô chồng ngồi xuống ghế và nhìn thẳng vào mặt “Bình tĩnh lại đi”, bởi cô đã nhiều lần rút kinh nghiệm. Những lần trước thì cũng gọi điện thoại khắp nơi khóc ào ào, hăm doạ sẽ thực hiện những cái không thực tế và thiếu động cơ mạnh : bàn giao bầy con, bỏ đi biệt tích… với hai bàn tay trắng, vân vân và vân vân. Bởi khi phản ứng nóng thì chỉ nhớ có cái tát để tưởng chừng như có thể vứt bỏ được tất cả song giây qua giây, phút qua phút, ngày qua ngày, tát-vuốt, khổ-sướng, thù-tha, âm-dương, trái-phải, trồi lên, cộng trừ nhân chia, ít thì vài ngày, lâu thì vài tuần, để vô hiệu hoá dần dần mọi động cơ mang tính cách chia rẽ. Rồi có khi cái tát ra đi không bao giờ quay trở lại nữa để chỉ để lại trong lòng người đàn bà một kỷ niệm hễ nhớ tới là buồn. Cũng có khi thỉnh thoảng nó trở lại hoặc thường xuyên trở lại để tăng số lượng cùng chất lượng trong vài trường hợp đặc biệt. Có vậy nhân loại mới càng ngày càng đông chớ !
Và cũng như lần trước, Chị lắc đầu phản xạ “…không bị” đành đoạn để cho cô bạn trẻ hơn mình cả chục tuổi làm nạn nhân cô độc.
Song vì đôi bạn đã qua tuổi sôi nổi nên cũng chịu khó ngồi phân tích cái sự việc mà kẻ bị tát lúc nào cũng khẳng định là “tát vô cớ” để cùng nhận thấy không phải hoàn toàn là như vậy, một cách khách quan. Sự thể từa tựa chiến tranh, kẻ đánh trước không hẳn là kẻ gây chiến. Ngòi chiến tranh thường đã âm ỉ từ lâu, chỉ chờ dịp. Rồi khi chiến tranh bùng nổ thì cứ tưởng vì một cái cớ không đâu. Trong trường hợp cụ thể của cô bạn còn trẻ nầy, chính cô ấy đã dũng cảm đi tìm nguồn gốc chiến tranh để tránh cho những lần tới. Mà càng bới tìm thì càng thấy vô số duyên cớ để chiến tranh bùng bổ, nhiều đến phát sợ, nhiều đến độ cô bạn phải thốt lên “Cúi đầu, câm miệng là xong”. Khổ nổi im lặng cũng là nói, đôi khi còn hùng hồn hơn lời, ngang hàng với khinh bỉ. Song cuối cùng cô bạn cũng tìm ra được cái cớ, đó là “Anh ấy không được khoẻ trong người”, thế là đôi bạn thở phào nhẹ nhõm và bèn múc chè ra ăn.
Riêng về Chị, tới giờ phút nầy vẫn tiếp tục lắc đầu trong thâm tâm để nguyện vẹn làm nạn nhân cô độc song đồng thời cảm nhận là đã quá muộn để thay đổi tư duy về cách gìn giữ hoà bình do ông bà ta để lại, bởi Chị vẫn muôn thuở trăn trở chuyện con chó hay con mèo.
Theo Chị, cái tát lẽ ra phải được liệt kê vào danh sách các tội ác chống nhân loại mới phải vì dường như nó là điểm xuất phát và khởi động của những tội ác có thể xảy ra. Đâu có ông chồng nào đùng một cái mua axit, mua xăng về tạt liền, đốt liền. Cũng phải qua một quá trình lâu dài mà chắc là phải bắt đầu bằng «cái tát». Cũng như trong chiến tranh, ta đánh lúc đầu nhè nhẹ, nhưng địch càng ngoan cố thì ta càng leo thang, cho đến khi ta trải thảm bom napan để mặt đất giống y như gương mặt mù loà của người phụ nữ được đưa lên Télé làm dẫn dụ hôm nọ. Cũng may là người phụ nữ nầy ở một xứ có tục lệ che mặt. Tát cũng giống như đánh chác sơ sơ, nhiều vô kể, giấy mực đâu cho phỉ, ai hơi đâu để ý. Tuy nhiên cũng có vài trường hợp ngoại lệ như anh ca sĩ nọ, tát người mình thương đến hôn mê không tỉnh dậy được để phải tạm ngưng hát vài ba năm và sau đó tiếp tục lại khi mãn hạn tù. Và cũng nhờ vậy mà đã được phương tiện thông tin đại chúng đưa lên hàng đầu như một trận đánh rất khốc liệt mà với vũ khí thô sơ. Chẳng bù với một phụ nữ Ấn Độ, mang tội đốt chồng, mãn tù không chịu ra.
Chuyện nhỏ.
Biết vậy mà Chị vẫn tra từ điển và đóng cửa phòng gọi điện thoại “Papa có bao giờ tát Maman không ?” để nghe im lặng khá lâu phía bên kia đầu dây.
Dĩ nhiên là để đi đến câu hỏi nầy, Chị đã dành thời giờ thăm hỏi người mẹ 88 tuổi nầy, Maman của một cô bạn học người Pháp hồi Chị mới qua Paris mà Chị cũng gọi là Maman để phân biệt với mẹ ruột của Chị.
Maman của Chị lo lắng :
- Có chuyện gì vậy ?
- Con đã bị một, la gifle-cái tát, cả đến nhiều cái !
Chị nghe Bà bực mình :
- Vào tuổi của con ? Nó điên rồi !
- Còn Maman ? Con mạn phép hỏi thật.
Im lặng phía bên kia đầu dây nói rồi giọng Maman của Chị tiu nghỉu :
- Ừ, cũng bị một.
- Lâu chưa ?
- Lâu lắm rồi, hồi hai mươi tuổi.
- …..
- Để Maman kể cho con nghe, một buổi sáng, Papa cạo râu, khăn lau mặt ẩm vì nhà ẩm thế là quay qua tát… Có phải lỗi Maman đâu, nhà ẩm mà, Maman không đáng cái tát ấy.
- Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi, hơn nửa thế kỷ, sao Maman nhớ kỹ vậy ?
- Làm sao mà không nhớ ? Maman không đáng cái tát ấy, khăn ẩm vì nhà ẩm, có phải lỗi Maman đâu !
- Một lần đó thôi hay có lần nào khác ?
Lại im lặng phía bên kia đầu dây nói.
- Có vài lần sau đó nhưng Maman đánh trả…
Rồi Chị nghe Maman của Chị cười trong điện thoại…
- Để Maman kể cho nghe, Papa bảo không ngờ Maman nhỏ người mà mạnh quá.
- Nhưng tại sao đánh nhau ?
- Ôi, chuyện vợ chồng trẻ mà. Để Maman kể cho nghe, sau đó Maman đi mét với Mẹ đỡ đầu của Maman, Bà ấy gọi Papa lại bảo “Mầy mà đụng tới nó thì mầy sẽ nghe tiếng tau”. Và từ đó Papa không dám đụng tới Maman nữa.
Chị bỗng nghe như có tiếng mẹ ruột của Chị nói bên tai “Nó nói con chó thì là con chó, con lại nói con mèo, cãi nó chi cho sinh chuyện…”.
Maman của Chị bên kia dầu dây tiếp tục :
- Con biết không sau nầy có lúc Papa giận đưa nắm tay lên trước mặt Maman rồi đấm vào trong cửa kính, chảy máu tay đầm đìa…
Phút chốc Chị thấy hiện lên trong đầu hình ảnh một ông cụ hiền lành ngồi lọt thủm trong chiếc ghế bành, ăn ĩa tại chỗ trong gần mười năm trước khi mất mà sau mỗi bữa ăn trưa hay cằn nhằn một cách dễ thương “Madeleine, cà phê đâu ?” để được Madeleine âu yếm rầy rà “Đợi một chút có được không ?”.
Vậy mà hình ảnh êm đềm nầy vẫn không làm Chị giảm bớt thắc mắc :
- Maman vừa mới nói đó là những sự việc nhỏ xảy ra khó tránh khỏi trong đời vợ chồng, vậy tại sao khi con hỏi Maman có bị tát không, Maman im lặng rất lâu trước khi trả lời. Tại sao ?
Maman của Chị ngập ngừng :
- Vì… vì rằng đó là một vết thương… rất khó thú nhận.
Chị đeo đuổi :
- Một vết thương ? Đồng ý, nhưng là một vết thương không đáng kể, chẳng là gì so với…
- Có chứ, có chứ. Sao chẳng là gì ! Chính là một sự sỉ nhục. Không thể chấp nhận được. Không thể cho phép, tuyệt đối không. Khăn ẩm vì nhà ẩm. Không thể bỏ qua… không, không và không.
Nếu có ai nghe thì khó có thể tưởng tượng đây là giọng nói của một cụ bà 88 tuổi đã gần như mù loà, đang đề cập đến một sự cố đã xảy ra cách nay 68 năm, một sự cố còn tươi roi rói như thách thức với thời gian và vẫn còn thời sự.
Sau khi tạm biệt Maman của Chị, Chị ngồi im trong phòng một lúc lâu để cảm thấy người càng ngày càng nhẹ như sụt cân và nghĩ đến vẻ mặt của bạn mình không biết sẽ thế nào sau cái gật đầu của Chị. Rồi Chị xoay qua nghĩ đến cái nhìn, chắc là sửng sốt “Ba tát Má thật à, tại sao ?” của con gái mình và rất có thể sau đó sẽ nghe nó phá lên cười “Má đã nói với Ba, theo ý tôi thì là con mèo. Má đã nói tôi, theo ý tôi, thật sao ? Tuyệt vời. Hoan hô Má”. Rồi Chị miên man nhiều chuyện trong đầu đến không nghe cái gì reo ngoài tiếng reo vui nho nhỏ nhưng đủ nghe trong lòng mình để không thấy Anh bước vào phòng quên gõ cửa :
- Điện thoại reo sao em không lấy, thằng nhỏ muốn nói chuyện với em nè.
Chị không nhận cái điện thoại Anh đưa mà lại bấm nút cái đang cầm trong tay :
- Allo, Má đây. Khoan, nghe Má nói đã, nghe cho kỹ. Má dặn trước nghen, mầy mà tát vợ thì mầy sẽ nghe tiếng tau…
Tội nghiệp thằng nhỏ, chẳng hiểu ất giáp gì, chưng hửng trong khi Anh rón rén đi ra, đóng cửa lại sau lưng mình như thể coi trọng chuyện riêng tư của người khác.
Paris ngày 11 tháng 11 năm 2008
NINH KIỀU
* Tata : (ngôn ngữ nhi đồng) cô, dì, thím, mợ, bác gái
Copyright © 2006 by Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
diendan@diendan.org
Cái tát
Ninh Kiều
Anh thấy Chị sáng nay cứ lúi húi đi tìm cái gì đó trên kệ sách mới hỏi “Em kiếm gì vậy” thì nghe trả lời “Cuốn từ điển”, bèn mau mắn “Kiếm chữ gì ?” và vì không nghe vợ trả lời mà thấy vợ đang đưa mắt tìm kiếm trên bàn làm việc của mình nên nằn nì “Chữ gì ? Anh nói cho nghe, khỏi tìm kiếm mất công…” và xì cười nói tiếp “có từ điển sống một bên mà không biết tận dụng”. Tiếng xì cười vừa chìm lỉm để nhường chỗ cho im lặng hơi nặng nề thì nghe tiếng Chị “Nó đây rồi” và thấy Chị thò tay định rút cuốn từ điển nằm dưới chồng giấy má khiến Anh kêu lên “Đừng đụng, mất dấu của anh” và bực mình “muốn tra chữ gì thì nói”. Song không nghe Chị trả lời mà chỉ thấy Chị lặng lẽ bỏ đi ra khiến Anh ném cuốn sách đang cầm trên tay lên bàn làm việc nhưng không làm nghiêng đổ gì cả vì nó nằm chàng hảng trên hai chồng hồ sơ cao nghệu. Buông người ngồi phịch xuống mền gối nhàu nát trên chiếc giường một người, Anh thở ra “Hết hiểu nổi”.
Rồi Chị cũng tra được cái chữ muốn tìm trong từ điển, «cái tát». Có ba danh từ tiếng Pháp mà trong đó chỉ có một danh từ phù hợp với Chị, «la gifle» : « đánh vào gò má bằng bàn tay mở. Nghĩa bóng là sự sỉ nhục ». Chị cũng khám phá ra là có nhiều loại tát, như tát vào phía sau vành tai gọi là tát tai hay tát một gò má bằng lòng bàn tay rồi tiện thể tát gò má kia bằng mu bàn tay. Không ngờ từ ngữ dồi dào đến như vậy, lỡ gặp bàn tay mang nhẫn cộm…, Chị lắc lắc đầu như thể xua đi những ý nghĩ u ám.
«La gifle» phù hợp với Chị hơn cả «cái tát» vì nó có thêm nghĩa bóng trong khi từ điển Việt-Việt chỉ giải nghĩa «tát» là đánh vào gò má bằng bàn tay mở.
Với chữ nầy, cuốn từ điển sống của Chị mà mở ra thì chắc khỏi đóng lại luôn.
Ba cái tát liên tiếp, cái thứ nhất chưa kịp đau, cái thứ nhì thấy rát mặt và đến cái thứ ba thì ù tai. Bàn tay trông thon thả, mảnh dẻ vậy mà tát cái nào cái nấy ra hồn.
Không hề có tiếng động nào sau ba cái tát ngoài những bước chân nhón cho đỡ nặng của ai về phòng nấy vì có con cháu bên Californie ghé Paris chơi đang ngủ trên lầu.
Đợi cho đưa tiễn cháu ra sân bay Roissy, hôn hít từ giã xong xuôi, đến mấy tuần sau Chị mới tra từ điển vì thấy vấn vương trong lòng.
Đây không phải là lần đầu tiên Chị bị tát. Thật vậy, sau khi đẻ đứa đầu, Chị bị mấy cái toé nước mắt nước mũi vì đã trả lời “bộ Anh không đi về trễ sao ?”, rồi sau đó Chị thấy mình ngồi chồm hổm trước siêu thị gần nhà đã đóng cửa, đến khuya, trong bóng tối, xong đứng lên quay về nhà vì ngày mai còn phải đưa con đi nhà trẻ…
Toé nước mắt nước mũi mà mùi soa giấy lại để hết trong áo khoác máng sau cánh cửa ra vào, mà chân còn mang dép, nên bao nhiêu nước trong người hội tụ đủ điều kiện để tuôn ra lỗ mắt, lỗ mũi, thấm ướt hai ống tay áo len rồi luôn hai đầu gối ống quần.
Coi vậy mà Chị cũng dễ quên, nếu không thì làm sao tiếp tục đẻ thêm một đứa nữa. Nhưng cũng phải công nhận là có những tình cảm được khơi dậy trong lòng một cách tự nhiên mà không có lý trí nào can thiệp vào được như thân thể tự nhiên lâu ấm dưới bàn tay vuốt ve, bắp thịt gò má tự nhiên hơi gồng lên như chống đỡ trong khi lẽ ra nó phải mềm mại dưới những cái hôn nồng nàn…
Rồi năm tháng trôi qua, mấy nhỏ càng lớn Chị càng ít nhớ mấy cái tát mà lại hay nhớ truyện Anh kể cho Chị ngay những ngày đầu mới lấy nhau, một truyện đời xưa của Nga “Vợ chồng nọ lấy nhau, một hôm có con chó chạy ngang qua, chồng bảo vợ đó là con chó, vợ bảo không phải, là con mèo. Chồng giận đem vợ trấn nước, rồi kéo đầu lên hỏi con chó hay con mèo, vợ bảo con mèo, chồng nhận đầu vợ xuống nước rồi kéo đầu lên hỏi con chó hay con mèo, vợ trả lời con mèo, chồng nhận đầu vợ xuống nước…”. Lúc ấy Chị còn quá trẻ để chỉ biết đồng tình với Anh là trên đời nầy có những bà vợ rất “cứng đầu”, con chó mà cứ bảo là con mèo, chi cho đến nổi bị trấn nước tới chết…
Mặc dù ít lâu sau không nghe Anh kể nữa song không hiểu sao Chị lại hay nhớ đến câu chuyện nầy, càng ngày càng nhớ đến nó thường hơn, nhớ nó đến trăn trở : con chó hay con mèo ? Và sự cứng đầu của người đàn bà nầy trở thành một ám ảnh.
Diễn biến trong tâm tư Chị tiến hành từng bước một, lúc đầu thì còn rụt rè bằng tự hỏi “Biết đâu con chó có dáng giống con mèo ?” nhưng dần dần Chị đi đến đặt lại vấn đề mang tính chất triết học về con chó và con mèo, có lúc đứng ra bênh vực hẳn hòi bà vợ “cứng đầu” trong truyện, rồi cuối cùng có khi nhập vai bà ấy, cứ uống nước no nê rồi ngóc đầu lên trả lời “con mèo”. Đó là nói xa nói xôi để đi đến giải thích vì sao Chị bị ba cái tát tối hôm ấy, làm mấy sợi tóc, sợi đen sợi bạc rơi phủ trán, án con mắt, phải vén lên. Qua sáng hôm sau, tai đã bớt kêu u u nhưng cứ thấy vướng cái gì trước con mắt, dường như chặp chờn bóng mấy sợi tóc, hiện hình rất rõ khi nhìn chỗ sáng như nhìn bức tường trắng chẳng hạn. Chị hốt hoảng đến độ chạy đến gặp ngay bác sĩ khoa mắt, con trai chị bạn thân, khẩn khoản hỏi “có trường hợp nào bị… là vì bị… bị tát không cháu” khiến cái thằng bảnh trai mà chưa vợ nầy phải phì cười “sao tata* hỏi vậy, mắt người già thường bị đục tinh thể, thấy ruồi, không dính gì đến cái tát… ”.
Anh lo lắng chở Chị đi khám mắt, song đúng là người Việt mình ít khi dùng chữ xin lỗi với người trong nhà, kể cả người Việt xa xứ đã sống lâu ở các nước có nền văn hoá xin lỗi bằng lời. Có nước gần đây đã thu hết can đảm quỳ xuống xin lỗi dùm cho quá khứ kia mà, ấy vậy mà mình thì có người không tài nào rặn ra được “Anh rất tiếc”.
Trong khoảng cách rất dài giữa hai lần bị tát, cũng có đôi lần Chị có dịp mặt đối mặt với chủ đề nầy.
Một lần trong buổi tiệc nhà bạn, nghe một giọng phụ nữ lớn tiếng và đầy tự tin “Chỉ cần một lần thôi, là chấm dứt” lại còn thêm “chỉ đưa bàn tay lên trước mặt tôi thôi, là đủ rồi”. Cử toạ im lặng vài giây, tuy ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa với một người đã nhạy cảm với vấn đề như Chị. Sau khoảnh khắc chưng hửng thì cánh các ông tụ ở một phía bình tĩnh ngay trở lại để tiếp tục sôi nổi chuyện thời sự, quan trọng hơn nhiều, trong khi cánh các bà sẵn trớn bàng quan kể chuyện bất hạnh của… phụ nữ trên thế giới : đốt, bắn, đâm, bầm, chặt, luộc, chọi đá, tạt axit… Tất cả vũ khí dùng cho chiến tranh đều được dùng cho phụ nữ với một ưu thế tầm cỡ, tiến sát được gần địch, thường rất hớ hênh như nằm lăn ra ngủ sau một ngày mệt nhọc kiếm ăn, lo con chẳng hạn. Chiến thắng là cái chắc : axit vô mặt thì trúng ngay hai đôi mắt, tẩm xăng đốt thì cháy từ đầu xuống chân và từ ngoài vô trong, đâm thì trúng các bộ phận quan trọng… Và cũng như chiến tranh, bao giờ cũng có lý do chính đáng đi trước… hầu như vậy. Nhưng trong các vũ khí hay trong các phương cách trừng phạt, không thấy ai nhắc đến cái tát.
Một lần khác thì một bà bạn cuối mặt tâm sự hồi lâu bỗng ngẩng lên hỏi “…bị chưa ? ”, thì Chị lắc đầu, một cái lắc phản xạ như chạm phải lửa và kịp thấy mặt bạn mình buồn thiu, cái buồn thiu của một nạn nhân cô độc.
Rồi gần đây thì có cô bạn cũng trút bầu tâm sự nhưng cô nầy không bị rớt mấy sợi tóc còn rất đen án mắt vì mới bị một cái là cô xô chồng ngồi xuống ghế và nhìn thẳng vào mặt “Bình tĩnh lại đi”, bởi cô đã nhiều lần rút kinh nghiệm. Những lần trước thì cũng gọi điện thoại khắp nơi khóc ào ào, hăm doạ sẽ thực hiện những cái không thực tế và thiếu động cơ mạnh : bàn giao bầy con, bỏ đi biệt tích… với hai bàn tay trắng, vân vân và vân vân. Bởi khi phản ứng nóng thì chỉ nhớ có cái tát để tưởng chừng như có thể vứt bỏ được tất cả song giây qua giây, phút qua phút, ngày qua ngày, tát-vuốt, khổ-sướng, thù-tha, âm-dương, trái-phải, trồi lên, cộng trừ nhân chia, ít thì vài ngày, lâu thì vài tuần, để vô hiệu hoá dần dần mọi động cơ mang tính cách chia rẽ. Rồi có khi cái tát ra đi không bao giờ quay trở lại nữa để chỉ để lại trong lòng người đàn bà một kỷ niệm hễ nhớ tới là buồn. Cũng có khi thỉnh thoảng nó trở lại hoặc thường xuyên trở lại để tăng số lượng cùng chất lượng trong vài trường hợp đặc biệt. Có vậy nhân loại mới càng ngày càng đông chớ !
Và cũng như lần trước, Chị lắc đầu phản xạ “…không bị” đành đoạn để cho cô bạn trẻ hơn mình cả chục tuổi làm nạn nhân cô độc.
Song vì đôi bạn đã qua tuổi sôi nổi nên cũng chịu khó ngồi phân tích cái sự việc mà kẻ bị tát lúc nào cũng khẳng định là “tát vô cớ” để cùng nhận thấy không phải hoàn toàn là như vậy, một cách khách quan. Sự thể từa tựa chiến tranh, kẻ đánh trước không hẳn là kẻ gây chiến. Ngòi chiến tranh thường đã âm ỉ từ lâu, chỉ chờ dịp. Rồi khi chiến tranh bùng nổ thì cứ tưởng vì một cái cớ không đâu. Trong trường hợp cụ thể của cô bạn còn trẻ nầy, chính cô ấy đã dũng cảm đi tìm nguồn gốc chiến tranh để tránh cho những lần tới. Mà càng bới tìm thì càng thấy vô số duyên cớ để chiến tranh bùng bổ, nhiều đến phát sợ, nhiều đến độ cô bạn phải thốt lên “Cúi đầu, câm miệng là xong”. Khổ nổi im lặng cũng là nói, đôi khi còn hùng hồn hơn lời, ngang hàng với khinh bỉ. Song cuối cùng cô bạn cũng tìm ra được cái cớ, đó là “Anh ấy không được khoẻ trong người”, thế là đôi bạn thở phào nhẹ nhõm và bèn múc chè ra ăn.
Riêng về Chị, tới giờ phút nầy vẫn tiếp tục lắc đầu trong thâm tâm để nguyện vẹn làm nạn nhân cô độc song đồng thời cảm nhận là đã quá muộn để thay đổi tư duy về cách gìn giữ hoà bình do ông bà ta để lại, bởi Chị vẫn muôn thuở trăn trở chuyện con chó hay con mèo.
Theo Chị, cái tát lẽ ra phải được liệt kê vào danh sách các tội ác chống nhân loại mới phải vì dường như nó là điểm xuất phát và khởi động của những tội ác có thể xảy ra. Đâu có ông chồng nào đùng một cái mua axit, mua xăng về tạt liền, đốt liền. Cũng phải qua một quá trình lâu dài mà chắc là phải bắt đầu bằng «cái tát». Cũng như trong chiến tranh, ta đánh lúc đầu nhè nhẹ, nhưng địch càng ngoan cố thì ta càng leo thang, cho đến khi ta trải thảm bom napan để mặt đất giống y như gương mặt mù loà của người phụ nữ được đưa lên Télé làm dẫn dụ hôm nọ. Cũng may là người phụ nữ nầy ở một xứ có tục lệ che mặt. Tát cũng giống như đánh chác sơ sơ, nhiều vô kể, giấy mực đâu cho phỉ, ai hơi đâu để ý. Tuy nhiên cũng có vài trường hợp ngoại lệ như anh ca sĩ nọ, tát người mình thương đến hôn mê không tỉnh dậy được để phải tạm ngưng hát vài ba năm và sau đó tiếp tục lại khi mãn hạn tù. Và cũng nhờ vậy mà đã được phương tiện thông tin đại chúng đưa lên hàng đầu như một trận đánh rất khốc liệt mà với vũ khí thô sơ. Chẳng bù với một phụ nữ Ấn Độ, mang tội đốt chồng, mãn tù không chịu ra.
Chuyện nhỏ.
Biết vậy mà Chị vẫn tra từ điển và đóng cửa phòng gọi điện thoại “Papa có bao giờ tát Maman không ?” để nghe im lặng khá lâu phía bên kia đầu dây.
Dĩ nhiên là để đi đến câu hỏi nầy, Chị đã dành thời giờ thăm hỏi người mẹ 88 tuổi nầy, Maman của một cô bạn học người Pháp hồi Chị mới qua Paris mà Chị cũng gọi là Maman để phân biệt với mẹ ruột của Chị.
Maman của Chị lo lắng :
- Có chuyện gì vậy ?
- Con đã bị một, la gifle-cái tát, cả đến nhiều cái !
Chị nghe Bà bực mình :
- Vào tuổi của con ? Nó điên rồi !
- Còn Maman ? Con mạn phép hỏi thật.
Im lặng phía bên kia đầu dây nói rồi giọng Maman của Chị tiu nghỉu :
- Ừ, cũng bị một.
- Lâu chưa ?
- Lâu lắm rồi, hồi hai mươi tuổi.
- …..
- Để Maman kể cho con nghe, một buổi sáng, Papa cạo râu, khăn lau mặt ẩm vì nhà ẩm thế là quay qua tát… Có phải lỗi Maman đâu, nhà ẩm mà, Maman không đáng cái tát ấy.
- Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi, hơn nửa thế kỷ, sao Maman nhớ kỹ vậy ?
- Làm sao mà không nhớ ? Maman không đáng cái tát ấy, khăn ẩm vì nhà ẩm, có phải lỗi Maman đâu !
- Một lần đó thôi hay có lần nào khác ?
Lại im lặng phía bên kia đầu dây nói.
- Có vài lần sau đó nhưng Maman đánh trả…
Rồi Chị nghe Maman của Chị cười trong điện thoại…
- Để Maman kể cho nghe, Papa bảo không ngờ Maman nhỏ người mà mạnh quá.
- Nhưng tại sao đánh nhau ?
- Ôi, chuyện vợ chồng trẻ mà. Để Maman kể cho nghe, sau đó Maman đi mét với Mẹ đỡ đầu của Maman, Bà ấy gọi Papa lại bảo “Mầy mà đụng tới nó thì mầy sẽ nghe tiếng tau”. Và từ đó Papa không dám đụng tới Maman nữa.
Chị bỗng nghe như có tiếng mẹ ruột của Chị nói bên tai “Nó nói con chó thì là con chó, con lại nói con mèo, cãi nó chi cho sinh chuyện…”.
Maman của Chị bên kia dầu dây tiếp tục :
- Con biết không sau nầy có lúc Papa giận đưa nắm tay lên trước mặt Maman rồi đấm vào trong cửa kính, chảy máu tay đầm đìa…
Phút chốc Chị thấy hiện lên trong đầu hình ảnh một ông cụ hiền lành ngồi lọt thủm trong chiếc ghế bành, ăn ĩa tại chỗ trong gần mười năm trước khi mất mà sau mỗi bữa ăn trưa hay cằn nhằn một cách dễ thương “Madeleine, cà phê đâu ?” để được Madeleine âu yếm rầy rà “Đợi một chút có được không ?”.
Vậy mà hình ảnh êm đềm nầy vẫn không làm Chị giảm bớt thắc mắc :
- Maman vừa mới nói đó là những sự việc nhỏ xảy ra khó tránh khỏi trong đời vợ chồng, vậy tại sao khi con hỏi Maman có bị tát không, Maman im lặng rất lâu trước khi trả lời. Tại sao ?
Maman của Chị ngập ngừng :
- Vì… vì rằng đó là một vết thương… rất khó thú nhận.
Chị đeo đuổi :
- Một vết thương ? Đồng ý, nhưng là một vết thương không đáng kể, chẳng là gì so với…
- Có chứ, có chứ. Sao chẳng là gì ! Chính là một sự sỉ nhục. Không thể chấp nhận được. Không thể cho phép, tuyệt đối không. Khăn ẩm vì nhà ẩm. Không thể bỏ qua… không, không và không.
Nếu có ai nghe thì khó có thể tưởng tượng đây là giọng nói của một cụ bà 88 tuổi đã gần như mù loà, đang đề cập đến một sự cố đã xảy ra cách nay 68 năm, một sự cố còn tươi roi rói như thách thức với thời gian và vẫn còn thời sự.
Sau khi tạm biệt Maman của Chị, Chị ngồi im trong phòng một lúc lâu để cảm thấy người càng ngày càng nhẹ như sụt cân và nghĩ đến vẻ mặt của bạn mình không biết sẽ thế nào sau cái gật đầu của Chị. Rồi Chị xoay qua nghĩ đến cái nhìn, chắc là sửng sốt “Ba tát Má thật à, tại sao ?” của con gái mình và rất có thể sau đó sẽ nghe nó phá lên cười “Má đã nói với Ba, theo ý tôi thì là con mèo. Má đã nói tôi, theo ý tôi, thật sao ? Tuyệt vời. Hoan hô Má”. Rồi Chị miên man nhiều chuyện trong đầu đến không nghe cái gì reo ngoài tiếng reo vui nho nhỏ nhưng đủ nghe trong lòng mình để không thấy Anh bước vào phòng quên gõ cửa :
- Điện thoại reo sao em không lấy, thằng nhỏ muốn nói chuyện với em nè.
Chị không nhận cái điện thoại Anh đưa mà lại bấm nút cái đang cầm trong tay :
- Allo, Má đây. Khoan, nghe Má nói đã, nghe cho kỹ. Má dặn trước nghen, mầy mà tát vợ thì mầy sẽ nghe tiếng tau…
Tội nghiệp thằng nhỏ, chẳng hiểu ất giáp gì, chưng hửng trong khi Anh rón rén đi ra, đóng cửa lại sau lưng mình như thể coi trọng chuyện riêng tư của người khác.
Paris ngày 11 tháng 11 năm 2008
NINH KIỀU
* Tata : (ngôn ngữ nhi đồng) cô, dì, thím, mợ, bác gái
Copyright © 2006 by Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
diendan@diendan.org
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)