3.9.2008
Nguyễn Ðức Dương
Sao không dạy tục ngữ cho học sinh tiểu học?
Tục ngữ là pho tập đại thành những tri thức, những kinh nghiệm sống và kinh nghiệm đạo đức mà ông cha ta chắt lọc được trong suốt hàng ngàn năm để truyền lại cho con cháu mai sau. Cái gia tài bề thế và vô giá đó, tiếc thay, hiện vẫn chưa được đem ra giảng dạy cho học sinh tiểu học một cách hệ thống, tuy ai cũng biết mười mươi rằng ít có bài thuyết giảng đạo đức nào, dẫu hay đến mấy, có thể sánh bằng một câu tục ngữ về tác dụng giáo huấn. Ðứng trước thực trạng đáng suy nghĩ đó, những ai từng nặng lòng với con trẻ và tiếng Việt đều không khỏi băn khoăn tự hỏi: cái gì đã trói tay các nhà biên soạn?
Mục đích chính của bài này là thử đi tìm lời giải cho câu hỏi vừa nêu.
Theo chúng tôi, sách giáo khoa tiếng Việt bậc tiểu học sở dĩ đã e ngại với tục ngữ có lẽ vì vấp phải mấy thứ trở ngại chính sau đây: (1) những trở ngại về từ ngữ; (2) những trở ngại về ngữ pháp và (3) những trở ngại về ngữ nghĩa và văn hoá. Dưới đây chúng tôi xin đi vào từng điểm một.
1. Những trở ngại về từ ngữ
Tục ngữ là sản phẩm của quá khứ. Vì vậy, khi dạy tục ngữ, chúng ta tất phải đối mặt với những từ ngữ cổ hết sức xa lạ với học sinh, nhất là học sinh còn ở tuổi thiếu niên. Giới biên soạn sách giáo khoa (SGK) e dè như thế kể cũng phải, vì trong cái gia tài đồ sộ gồm đến hơn năm sáu nghìn câu ấy chúng ta khó lòng có thể né tránh được những từ ngữ “hiểm hóc”, đến độ từng gây lúng túng cho không ít các nhà học giả danh tiếng. Ðể dễ hình dung những gì vừa nêu đó, chúng tôi xin minh họa bằng một vài dẫn chứng.
Dẫn chứng 1. Chắc vì chưa rõ RÀN là gì trong câu Ðại hàn trâu nằm RÀN, người ngồi bếp, các soạn giả Ðại từ điển tiếng Việt (1999) đành chép chữ ấy thành GIÀN, rồi diễn giải: “Trời quá lạnh phải ngừng mọi công việc để tránh rét” (tr. 577). Giá chịu khó tra cứu, chắc họ sẽ thấy RÀN là từ hiện còn thông dụng tại một số địa phương, như Từ điển tiếng Việt (của Viện Ngôn ngữ học) từng chỉ ra, với cái nghĩa tương tự như “chuồng [nhốt trâu bò]”, và chắc hẳn họ cũng sẽ tự thấy phải chia tay ngay với cách diễn giải “nông nổi” vừa nhắc để bằng lòng với lời diễn giải sau (vì nó gần sự thật hơn): “Vào ngày đại hàn giá lạnh thì hãy để trâu nằm lại trong chuồng [chứ đừng lùa nó ra đồng (vì trâu yếu chịu rét)], còn người thì hãy đưa nhau xuống bếp mà ngồi [cho ấm].”
Dẫn chứng 2. Cũng do lầm tưởng THẢ CÁ trong câu Thứ nhất thả cá, thứ nhì gá bạc là “thả cá xuống ao đầm để nuôi”, một nhà giáo tên tuổi đã diễn giải câu này là: "Việc thả cá có lợi là đúng và cần khuyến khích, còn gá bạc thì ngày nay là một tội phạm, vì đó là một việc làm ăn bất chính" (x. Nguyễn Lân. Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989), tr. 277).
Thực ra, THẢ CÁ còn có một nghĩa nữa là “thách cá”, như nhiều từ điển đã ghi nhận. Và theo quy tắc “phù ứng ngữ nghĩa”, cái nghĩa này mới ăn khớp với câu tục ngữ đang bàn. Bởi vậy, cả THẢ CÁ lẫn GÁ BẠC đều là những nghề “bất chính” như nhau, và câu tục ngữ ấy có lẽ nên được diễn giải là: “Thả cá và gá bạc là hai trò đỏ đen chóng sinh lợi bậc nhất [trong xã hội ngày trước].”
Dẫn chứng 3. Xin nêu một dẫn chứng nữa để bạn đọc có thể hình dung dễ dàng hơn về thứ trở ngại đang xét. Cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam vừa dẫn đã chép lộn TRÀNG trong câu Áo cứ TRÀNG; làng cứ xã thành CHÀNG, rồi diễn giải: “Nói tính ỷ lại của người đàn bà, cũng như tính ỷ lại của người dân trong thôn xóm, không thấy được vai trò làm chủ của mình" (tr. 10).
Thực ra, TRÀNG là một từ cổ chỉ cái vạt trước của chiếc áo dài (thời xưa), như Từ điển tiếng Việt (của Viện Ngôn ngữ học) đã thu thập và cắt nghĩa rất phân minh. Bởi thế, đây không phải là lời chê trách thói ỷ lại, mà là lời nhắc nhở người đời sau nên dựa vào cái gì khi định cắt may/bình phẩm về áo quần, cũng như nên dựa vào ai khi cần xét đoán/bình phẩm về dân tình sinh sống trong làng xã.
Tuy nhiên, chỉ cần đọc lướt qua mấy diễn giải vừa nhắc, chắc ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy ngay: trở ngại về từ ngữ quả tình chỉ là thứ trở ngại rất dễ vượt qua: chỉ cần chú giải cẩn thận, như chúng ta từng làm lâu nay khi dạy văn thơ cổ cho học sinh, là mọi “hóc hiểm” sẽ lập tức bị đẩy lùi. Vì vậy, có lẽ chúng ta không nên bàn tiếp chuyện ấy nữa mà nên dành thì giờ và công sức cho những công việc khác ý vị hơn rõ rệt.
2. Những trở ngại về ngữ pháp
Ngữ pháp của một ngôn ngữ, như chúng ta đều biết, là thứ công cụ nhằm giúp người nói truyền đạt dễ dàng và chính xác tới người nghe mọi nội dung ngữ nghĩa mà anh ta cần/muốn chuyển giao. Và sở dĩ không ít bạn đọc hiện chưa hài lòng lắm với công trình diễn giải các đơn vị tục ngữ hiện hành chắc hẳn chỉ vì các soạn giả đã hình dung chưa đúng lắm về cấu trúc cú pháp của các đơn vị tục ngữ. Xin minh hoạ bằng một vài dẫn chứng.
Dẫn chứng 4. Do lầm tưởng RẮN MAI cũng như RẮN HỔ trong câu Rắn mai tại lỗ; rắn hổ về nhà là “chủ ngữ” [CN], còn TẠI LỖ cũng như VỀ NHÀ là “vị ngữ” [VN] của câu và mối quan hệ về nghĩa giữa CN với VN là mối quan hệ giữa “Người hành động” với “Hành động”, cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989) vừa nhắc đã diễn giải câu trên thành: “(Mai là mai gầm, hổ là hổ mang). Nhận xét cho rằng rắn mai gầm thường ở trong hang; còn rắn hổ mang thì thường ra ngoài" (sđd, tr. 244).
Tiếc thay, lời diễn giải ấy lại chẳng hề ăn nhập chút nào với vốn kinh nghiệm sống còn mà dân bắt rắn chuyên nghiệp đã tích luỹ được: “Hễ bị rắn mai [gầm cắn thì nạn nhân có thể chết ngay] tại lỗ [= hang của nó]; hễ bị rắn hổ [mang cắn thì nạn nhân có thể lê] về tới nhà [mới tắt thở].”
Tại sao lại có sự chênh lệch ấy?
Theo Cao Xuân Hạo, có lẽ vì người Việt không hề coi RẮN MAI cũng như RẮN HỔ là CN, mà coi là “đề ngữ” [tức topic], còn TẠI LỖ cũng như VỀ NHÀ chẳng phải là VN mà là “thuyết ngữ” [tức comment], và mối quan hệ về nghĩa giữa hai bộ phận ấy là mối quan hệ giữa “điều kiện” với “hậu quả (do điều kiện ấy mang lại)” [1] .
Nói cách khác, tục ngữ Việt (và chẳng riêng gì tục ngữ!) là những câu không hề được tổ chức theo khuôn “chủ–vị” [C–V] (như ngữ pháp nhà trường (vốn bị quan điểm “dĩ Âu vi trung” chi phối) đang cố dạy cho con em chúng ta!) mà là theo khuôn “Ðề – Thuyết”, như ông cùng nhiều nhà Việt ngữ học tên tuổi ở nước ngoài (L. Thompson, H. Dyvik, v.v.) đã nhận thấy từ rất sớm và đã chứng minh hết sức thuyết phục trong nhiều công tình đã công bố trong hơn mấy chục năm qua. Bằng chứng là nếu diễn giải câu Chó treo; mèo đậy theo khuôn C–V, ta buộc lòng phải cho rằng “Chó đem treo [thức ăn cần cất giữ lên cao]; còn mèo thì cố đậy [kín thức ăn cần cất giữ lại]”, tuy cái nghĩa đích thực của câu ấy lại là: “[Ðể] chó [khỏi ăn vụng] thì [thức ăn cần cất giữ] nên được treo cao lên; [để] mèo [khỏi ăn vụng] thì [thức ăn cần cất giữ] nên đậy kín lại”, vì mối quan hệ về nghĩa giữa CHÓ cũng như MÈO với TREO cũng như ÐẬY là mối quan hệ giữa hai sự thể: sự thể thứ nhất nêu “cái đích cần được nhằm tới“ và sự thể sau nêu cái “hành động (mà chúng ta nên làm để đạt tới đích)”.
Ðến đây, chúng ta có thể đưa ra một nhận xét nhỏ nhưng hết sức hệ trọng: còn quyến luyến với cái khuôn C–V chúng ta còn cản trở con em chúng ta thừa hưởng cái gia tài đồ sộ mà ông cha đã dày công vun đắp nhằm truyền lại cho chính các em.
Tiện thể cũng nên dẫn thêm ra ở đây vài dẫn chứng nữa để bạn đọc có thể dễ hình dung việc vận dụng mô hình C–V cho tục ngữ thường gặt hái được những “thành quả tai hại” như thế nào.
Dẫn chứng 5
1. Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại được diễn giải như là “Có tư tưởng coi trọng đàn ông, coi thường phụ nữ, ví như thà ẵm con của chồng tuy không yêu quý, thích thú gì nhưng dẫu sao vẫn thuộc dòng họ nội [sic!], còn hơn bế con của con gái mình” (Ðại từ điển tiếng Việt 1999, tr. 45) [2] ;
2. Ăn cơm có canh, tu hành có vãi thường được diễn giải như là “Sự ham muốn nhục dục của đôi kẻ trong giới tu hành cũng là chuyện thường tình, ví như ăn cơm thì phải có canh, ở nhà chùa thì ắt có vãi” (sđd., tr. 48) [3] ;
3. Ăn lúc đói, nói lúc say được diễn giải như là “Lúc đói ăn cảm thấy ngon, lúc say thường nói rất hay”(sđd., tr. 52) [4] ;
v.v. và v.v.
3. Những trở ngại về văn hoá
Tục ngữ trực tiếp phản ánh cách thức ông cha ta cảm nhận về thế giới; mà cách cảm nhận thế giới lại là nhân tố không thể không liên quan đến văn hoá, nên tục ngữ có lẽ là một trong những tấm gương phản chiếu trung thành nhất những đặc trưng văn hoá Việt mà chúng ta mong giải mã sớm để gìn giữ được các bản sắc Việt của chúng ta. Ấy thế nhưng không ít tác giả đã chẳng bận tâm mấy tới điều này, và rốt cục, họ đã phải trả giá cho sự khinh suất ấy rất đích đáng. Xin nêu một vài dẫn chứn minh hoạ.
Dẫn chứng 6
Ếch tháng ba, gà tháng bảy là câu chê bai cửa miệng của đông đảo người Việt sành ẩm thực. Vậy mà một giáo trình về văn hoá học Việt Nam phổ biến rộng khắp trong cả nước lại ngang nhiên coi đây là hai món ăn khoái khẩu nhất của đồng bào mình. Chắc tác giả giáo trình ấy đã quên mất một sự thực hết sức đau lòng từng hằn trong tâm trí dân ta, ngay cả giữa thời buổi hiện nay: THÁNG BA và THÁNG BẢY/TÁM là thời kì giáp hạt hằng năm. Vào dịp này, ngay cả con người cũng còn lay lắt vì thiếu đói [5] , huống hồ là GÀ và ẾCH. Nói cách khác, vào thời gian ấy, hai giống vật vốn cho thịt rất ngon kia chỉ còn da với xương thì làm sao lại có thể là những món ăn khoái khẩu được? [6]
Dẫn chứng 7
Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại là một câu đậm chất nhân bản và hay dùng để phàn nàn về thói ăn ở bạc bẽo của đám cháu ngoại đối với ông bà mình. Vậy mà Ðại từ điển tiếng Việt (1999) lại coi đây là lời chê trách “tư tưởng coi trọng đàn ông, coi thường phụ nữ”. Giá chú ý hơn chút đỉnh tới các đặc trưng văn hoá lồng trong ấy, chắc hẳn các nhà biên soạn đã nhận thấy ngay đây không phải là câu đề cập tới thói “trọng nam khinh nữ”, mà là một gợi ý cho các cô gái trẻ sớm bị goá chồng nên ứng xử ra sao khi còn chưa sinh được con trai để nối dõi giống dòng. Nói cách khác, nội dung của câu Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại có lẽ nên được diễn giải như là: “Thà [lấy một kẻ goá vợ làm chồng và] chăm bẵm cho lũ con thơ côi cút của anh ta [để có nơi nương tựa khi về già] còn hơn là [cứ ở vậy cùng con gái và] chăm bẵm cho lũ con của nó [những kẻ vốn chẳng hề ngó ngàng gì tới mồ mả của bà ngoại, như tục ngữ từng ghi nhận [7] ]”.
Dẫn chứng 8
Chết đuối đọi đèn chỉ là một “trích đoạn” chưa từng thấy một người Việt bình thường nào sử dụng trong giao tiếp. Vậy mà Ðại từ điển tiếng Việt (1999, tr. 345) vẫn thu thập và diễn giải: “Thất bại hoặc chết vì những hoàn cảnh, lý do, duyên cớ tầm thường, không đáng phải chịu chết thiệt”.
Trong khi câu đầy đủ của nó là Chết sông, chết suối, chẳng ai chết đuối đọi đèn lại được các soạn giả diễn giải như là: "Thà phải đương đầu với khó khăn lớn lao, chứ không chịu thất bại trước một đối tượng tầm thường" (tr. 347).
Ðọc những lời cắt nghĩa kiểu "vọng văn sinh nghĩa" vừa nhắc, chắc ai cũng phải lấy làm tiếc: chẳng hiểu sao các soạn giả lại không chú ý đến"tập quán thề nguyền" của người Việt ngày trước? Giá chú ý chút đỉnh, chắc họ sẽ lập tức nhận thấy ngay hồi xưa, mỗi khi thề nguyền, ông bà chúng ta thường thốt ra một câu thề độc (chẳng hạn, “sẽ chết ngay tức khắc nếu đơn sai”...), rồi lấy các vật thể trường tồn trong vũ trụ (như sông biển, núi non, v.v.), các nguồn sáng (như mặt trời, mặt trăng, các vì sao, đèn nến, v.v.) hoặc các lực lượng siêu nhiên (như thần linh, ma quỉ, v.v.) ra làm các "đấng" chứng giám cho lời thề. Ngoài ra, thế nào họ cũng còn nhận thấy thêm: thời chưa có đèn dầu hoả hoặc đèn điện, ông bà ta thường phải lấy một cái đĩa hoặc bát [tiếng địa phương gọi là ”đọi”], cho dầu lạc [= đậu phụng] và một ngọn bấc [= tim] vào để làm vật thắp sáng đêm đêm.
Dựa vào các tri thức văn hoá ấy, chúng ta có thể dễ dàng đưa ra cho câu tục ngữ đang xét một lời diễn giải gần với sự thật hơn như sau: “[Người ta chỉ có thể] chết đuối ngoài sông ngoài suối, chứ chưa thấy lại có thể chết đuối trong bát dầu lạc vốn được dùng làm đèn [và thường được đưa ra để chứng giám cho những lời thề]. Hay dùng để khuyên người đời chớ có vội tin vào những lời thề thốt, ngay cả những lời thề độc, vì nó chưa từng được ai coi là thứ chứng cứ xác đáng cả”.
Những tri thức văn hoá kiểu ấy chẳng lẽ lại không đáng để truyền giảng lại cho học sinh tiểu học?
4. Vài lời kết luận
Từ những gì vừa trình bày, chúng ta có thể đi đến kết luận: hãy sớm giã từ khung ngữ pháp C–V (vì câu của tiếng Việt không hề có CN ngữ pháp, như nhà thơ Ðoàn Phú Tứ từng nhận thấy từ rất sớm khi đi tìm CN trong Truyện Kiều), để đến với cái khuôn “Ðề – Thuyết” từng được nhà ngữ học Cao Xuân Hạo tâm đắc vì đó là phương sách hiệu quả nhất nhằm giúp cho học sinh tiểu học chúng ta thừa kế được cả một gia tài đồ sộ với bao tri thức, bao kinh nghiệm sống và kinh nghiệm đạo đức vô giá mà ông cha ta đã chắt lọc được trong suốt hàng ngàn năm qua.
Tháng Chạp năm 2006
[1]Về điểm này, xin xem thêm Cao Xuân Hạo. Tiếng Việt. Sơ thảo ngữ pháp chức năng. Bản in lần thứ hai, 2004, nhất là các trang 137-170.
[2]Trong khi nghĩa đích thực của câu này khác hẳn, xem Dẫn chứng 7.
[3]Trong khi nghĩa đích thực của câu này là: “Ăn cơm thì cần có canh [cho dễ nuốt]; tu hành thì cần có vãi [để đỡ bị phân tâm vào chuyện cơm nước khi đang phải dồn hết tâm trí cho việc tu hành]”.
[4]Trong khi nghĩa đích thực của câu này là: “Ăn là việc mà ai cũng hay làm lúc đang đói; nói là việc mà ai cũng hay làm lúc đang ngà ngà say [rượu]”.
[5]Như dân gian từng phản ánh trong nhiều câu tục ngữ đáng kinh sợ, chẳng hạn, Tháng tám đói qua; tháng ba đói chết.
[6]Ðối chiếu thêm câu Ếch tháng mười, người tháng giêng, một câu có nghĩa hoàn toàn trái ngược với câu đang phân tích.
[7]Tục ngữ ta có câu: Cháu ngoại chẳng đoái đến mồ [ông bà mình].
Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ tháng 4.2008
27/11/08
Hà Văn Thùy : Cao Xuân Hạo – chàng Don Quijote độc hành
26.10.2005
Hà Văn Thùy
Cao Xuân Hạo – chàng Don Quijote độc hành
Dường như thế hệ bọn tôi có cái may là được học Văn trong buổi giáp ranh tranh tối tranh sáng sau hòa bình 1954. Khi đó người ta chưa kịp tạo dựng một thiết chế dạy và học môn Văn chặt chẽ đến ngặt nghèo. Khi đó người thày còn có thể dạy một cách hứng khởi theo hiểu biết của mình và nhiều thầy dạy Văn của tôi là những nhà giáo lưu dung (lạy Phật, sao lại có cái danh xưng xúc phạm con người đến vậy?!) kiến thức thâm hậu. Ngày ấy chúng tôi học tiếng Việt theo lời ăn tiếng nói của dân gian, ngữ pháp tiếng Việt chưa phải là phong ba bão táp hành hạ học trò. Học Văn với chúng tôi là niềm vui lớn của sự tự do bộc lộ hiểu biết, bộc lộ năng khiếu thẩm văn thẩm thơ của chính mình. Chúng tôi chưa kịp biến hình thành vẹt hay loài nhai lại.
Nhiều năm sau này, mỗi dịp tiếp xúc với sách giáo khoa Văn học khi dạy con, khi giảng cho cô giáo văn của tôi những mắc mớ về ngữ pháp, tôi lại một lần sởn da gà. Tôi trộm nghĩ, nếu như bây giờ phải quay lại làm học trò học chương trình Tiếng Việt, mình sẽ ra sao? Chắc hẳn sẽ rơi vào một trong hai tình trạng như sau: Hoặc sẽ dốt nát chẳng biết gì về tiếng Việt, hoặc sẽ thành kẻ khởi loạn dẫn đầu những con chữ tấn công vào nhà ngục Bastille giáo trình ngữ pháp, giải phóng cho tiếng mẹ đẻ khỏi gông cùm! Dù cách nào rồi cũng là bi kịch! May mà điều đó không xảy ra. Tôi đã qua cầu thoát nạn. Nhưng các con tôi, rồi bây giờ là cháu tôi, truyền đời bị hành hạ! Quả là đáng thương cho con dân Việt!
Ðang trong nỗi bức xúc không có đường ra khiến tôi hoang mang nghi ngờ tiếng Việt thì may sao tôi gặp những ý tưởng của giáo sư Cao Xuân Hạo, dù chỉ qua vài ba bài báo. Ðiều đáng nể là ông dũng cảm khẳng định nhiều giáo trình ngữ pháp đã giảng sai tiếng Việt. Tiếp đó, ông chỉ ra một cách thuyết phục cái cơ chế, cái công nghệ, cái quy trình dẫn đến những lầm lẫn ấy. Ðó là người ta đã không hiểu tiếng Việt, đã nặng đầu óc nô lệ và biếng lười cóp nhặt ngữ pháp tiếng nước ngoài, mà trước hết là tiếng Pháp, đem áp đặt lên tiếng Việt. Tư tưởng táo bạo của ông đến với tôi như một sự giải thoát. Từ phân vân hoang mang lo lắng, tôi lấy lại được niềm tin là ngữ pháp tiếng Việt không quái đản như những gì người ta viết trong sách giáo khoa. Và tôi tin rằng, từ chỗ biết sự sai, sẽ có ngày tìm ra cách sửa.
Trước tết năm Rồng (2000), tôi nhận được của ông bài viết thú vị nhưng hơi dài và có những kiến thức quá chuyên sâu so với yêu cầu của bạn đọc báo Văn Nghệ. Bỏ đi thì tiếc, tôi đành mạn phép ông làm cái việc gọi là biên tập, tức cái sự lược bớt, chắp nối để thể hiện nổi bật tư tưởng của tác giả. Bài viết được in ra với nhan đề “Sợ hơn bão táp”. Nhiều bạn đọc hoan nghênh nhưng bài báo vấp phải sự phản ứng bão táp của một số cây đa cây đề ở ngành Giáo dục. Ông cười hóm hỉnh bảo: “Cố nhiên thôi, tôi đập bể niêu cơm của họ mà!” Không chỉ đơn thuần là niêu cơm, tôi nghĩ. Ông chính là cái máy xúc, cái xe ủi, ủi đi những “công trình” những “sự nghiệp” vàng mã của khối người! Họ được đào tạo rất bài bản về ngôn ngữ, nhưng không phải ngôn ngữ Việt. Rồi khi về nước, vừa khiếp nhược trước khoa học ngữ pháp chính xác chuẩn mực của nước ngoài, vừa dốt tiếng mẹ đẻ, họ đem cái khuôn mẫu vừa học được, tức đem cái giày ngoại quốc về, vừa đẽo vừa cưa vừa kéo bàn chân Việt sao cho vừa giày... Bằng những việc làm vừa giả vừa phản khoa học ấy, họ đã ngụy tạo nên những “công trình”, những “sự nghiệp” đủ cho họ vênh vang danh lợi một đời! Ông là ai mà dám hiện ra lừng lững như cái xe ủi trước những lâu đài dinh thự vàng son hàng mã ấy?
Trước Tết năm Rắn (2001), tôi gọi điện xin bài. Ông vui vẻ: “Tôi đang viết. Tôi định lấy tên là ‘Hồn tiếng Việt’”. Rồi ông say sưa kể câu chuyện: trên đường ra Hà Nội với nhà Việt học người Hung, ông đố bạn thế nào là chó treo mèo đậy? Nhà Việt học châu Âu cho rằng: đem chó treo lên, lấy rổ lấy nơm úp (đậy) con mèo lại! Ông kết luận, chỉ có người Việt mới hiểu được cái hồn của chữ Việt! Tôi thật mừng, như sự phát hiện, hồn chữ: cái chữ có hồn! Lâu nay người ta quên mất phần hồn mà chỉ dạy phần xác. Vì vậy lớp lớp học trò không biết đến hồn vía tiếng Việt, chữ nghĩa họ dùng chỉ là xác chữ. Chân lý thường đơn giản. Chỉ với bốn chữ quen thuộc chó treo mèo đậy mà làm rối trí một nhà Việt học! Chỉ chúng ta mới cảm nhận được hồn tiếng Việt.
Dường như Cao Xuân Hạo không hòa hợp lắm với đồng nghiệp mình. Người ta coi ông như kẻ hay kiếm chuyện không để cho ai yên. Hình như trong cuộc đời ông cũng chịu không ít bầm dập. Nhưng tôi cho là may mà đời có ông. Ông chân thực vô tư mà minh triết như chú bé trong ngụ ngôn Andersen đã nói huỵch toẹt: hoàng đế cởi truồng!
Không hiểu sao tôi có liên tưởng ngộ nghĩnh: một chiều gió bấc, một con đường mòn xa tít hun hút tới chân trời. Trên đó chàng kỵ sĩ gầy, mái đầu muối tiêu, nách cắp cây thương, cưỡi trên con ngẽo cà khổ. Ðó là ông, Cao Xuân Hạo, chàng kỹ sĩ độc hành. Trong chiều tà, ngọn bút của ông được phản quang phóng to thành cây thương. Một người một ngựa, ông trơ trọi đi trong chiều vắng. Trước mắt, những hồn ma bóng quế chập chờn. Nhưng ông vui vì tin rằng một ngày mai những con chữ Việt sẽ tưng bừng trong cuộc hoan ca chào đón ông - người giải phóng.
Cái ngày đó chưa đến, nhưng đã một thời ông là thần tượng của lớp trẻ chúng tôi bởi những bản dịch mà ông chuyển ngữ văn xuôi Nga thành thứ tiếng Việt tuyệt vời, chính xác mà uyển chuyển. Ông đã truyền cho chúng tôi lòng yêu tiếng Việt chính bởi ông là người yêu tiếng mẹ đẻ đến tận cùng!
© 2005 talawas
Hà Văn Thùy
Cao Xuân Hạo – chàng Don Quijote độc hành
Dường như thế hệ bọn tôi có cái may là được học Văn trong buổi giáp ranh tranh tối tranh sáng sau hòa bình 1954. Khi đó người ta chưa kịp tạo dựng một thiết chế dạy và học môn Văn chặt chẽ đến ngặt nghèo. Khi đó người thày còn có thể dạy một cách hứng khởi theo hiểu biết của mình và nhiều thầy dạy Văn của tôi là những nhà giáo lưu dung (lạy Phật, sao lại có cái danh xưng xúc phạm con người đến vậy?!) kiến thức thâm hậu. Ngày ấy chúng tôi học tiếng Việt theo lời ăn tiếng nói của dân gian, ngữ pháp tiếng Việt chưa phải là phong ba bão táp hành hạ học trò. Học Văn với chúng tôi là niềm vui lớn của sự tự do bộc lộ hiểu biết, bộc lộ năng khiếu thẩm văn thẩm thơ của chính mình. Chúng tôi chưa kịp biến hình thành vẹt hay loài nhai lại.
Nhiều năm sau này, mỗi dịp tiếp xúc với sách giáo khoa Văn học khi dạy con, khi giảng cho cô giáo văn của tôi những mắc mớ về ngữ pháp, tôi lại một lần sởn da gà. Tôi trộm nghĩ, nếu như bây giờ phải quay lại làm học trò học chương trình Tiếng Việt, mình sẽ ra sao? Chắc hẳn sẽ rơi vào một trong hai tình trạng như sau: Hoặc sẽ dốt nát chẳng biết gì về tiếng Việt, hoặc sẽ thành kẻ khởi loạn dẫn đầu những con chữ tấn công vào nhà ngục Bastille giáo trình ngữ pháp, giải phóng cho tiếng mẹ đẻ khỏi gông cùm! Dù cách nào rồi cũng là bi kịch! May mà điều đó không xảy ra. Tôi đã qua cầu thoát nạn. Nhưng các con tôi, rồi bây giờ là cháu tôi, truyền đời bị hành hạ! Quả là đáng thương cho con dân Việt!
Ðang trong nỗi bức xúc không có đường ra khiến tôi hoang mang nghi ngờ tiếng Việt thì may sao tôi gặp những ý tưởng của giáo sư Cao Xuân Hạo, dù chỉ qua vài ba bài báo. Ðiều đáng nể là ông dũng cảm khẳng định nhiều giáo trình ngữ pháp đã giảng sai tiếng Việt. Tiếp đó, ông chỉ ra một cách thuyết phục cái cơ chế, cái công nghệ, cái quy trình dẫn đến những lầm lẫn ấy. Ðó là người ta đã không hiểu tiếng Việt, đã nặng đầu óc nô lệ và biếng lười cóp nhặt ngữ pháp tiếng nước ngoài, mà trước hết là tiếng Pháp, đem áp đặt lên tiếng Việt. Tư tưởng táo bạo của ông đến với tôi như một sự giải thoát. Từ phân vân hoang mang lo lắng, tôi lấy lại được niềm tin là ngữ pháp tiếng Việt không quái đản như những gì người ta viết trong sách giáo khoa. Và tôi tin rằng, từ chỗ biết sự sai, sẽ có ngày tìm ra cách sửa.
Trước tết năm Rồng (2000), tôi nhận được của ông bài viết thú vị nhưng hơi dài và có những kiến thức quá chuyên sâu so với yêu cầu của bạn đọc báo Văn Nghệ. Bỏ đi thì tiếc, tôi đành mạn phép ông làm cái việc gọi là biên tập, tức cái sự lược bớt, chắp nối để thể hiện nổi bật tư tưởng của tác giả. Bài viết được in ra với nhan đề “Sợ hơn bão táp”. Nhiều bạn đọc hoan nghênh nhưng bài báo vấp phải sự phản ứng bão táp của một số cây đa cây đề ở ngành Giáo dục. Ông cười hóm hỉnh bảo: “Cố nhiên thôi, tôi đập bể niêu cơm của họ mà!” Không chỉ đơn thuần là niêu cơm, tôi nghĩ. Ông chính là cái máy xúc, cái xe ủi, ủi đi những “công trình” những “sự nghiệp” vàng mã của khối người! Họ được đào tạo rất bài bản về ngôn ngữ, nhưng không phải ngôn ngữ Việt. Rồi khi về nước, vừa khiếp nhược trước khoa học ngữ pháp chính xác chuẩn mực của nước ngoài, vừa dốt tiếng mẹ đẻ, họ đem cái khuôn mẫu vừa học được, tức đem cái giày ngoại quốc về, vừa đẽo vừa cưa vừa kéo bàn chân Việt sao cho vừa giày... Bằng những việc làm vừa giả vừa phản khoa học ấy, họ đã ngụy tạo nên những “công trình”, những “sự nghiệp” đủ cho họ vênh vang danh lợi một đời! Ông là ai mà dám hiện ra lừng lững như cái xe ủi trước những lâu đài dinh thự vàng son hàng mã ấy?
Trước Tết năm Rắn (2001), tôi gọi điện xin bài. Ông vui vẻ: “Tôi đang viết. Tôi định lấy tên là ‘Hồn tiếng Việt’”. Rồi ông say sưa kể câu chuyện: trên đường ra Hà Nội với nhà Việt học người Hung, ông đố bạn thế nào là chó treo mèo đậy? Nhà Việt học châu Âu cho rằng: đem chó treo lên, lấy rổ lấy nơm úp (đậy) con mèo lại! Ông kết luận, chỉ có người Việt mới hiểu được cái hồn của chữ Việt! Tôi thật mừng, như sự phát hiện, hồn chữ: cái chữ có hồn! Lâu nay người ta quên mất phần hồn mà chỉ dạy phần xác. Vì vậy lớp lớp học trò không biết đến hồn vía tiếng Việt, chữ nghĩa họ dùng chỉ là xác chữ. Chân lý thường đơn giản. Chỉ với bốn chữ quen thuộc chó treo mèo đậy mà làm rối trí một nhà Việt học! Chỉ chúng ta mới cảm nhận được hồn tiếng Việt.
Dường như Cao Xuân Hạo không hòa hợp lắm với đồng nghiệp mình. Người ta coi ông như kẻ hay kiếm chuyện không để cho ai yên. Hình như trong cuộc đời ông cũng chịu không ít bầm dập. Nhưng tôi cho là may mà đời có ông. Ông chân thực vô tư mà minh triết như chú bé trong ngụ ngôn Andersen đã nói huỵch toẹt: hoàng đế cởi truồng!
Không hiểu sao tôi có liên tưởng ngộ nghĩnh: một chiều gió bấc, một con đường mòn xa tít hun hút tới chân trời. Trên đó chàng kỵ sĩ gầy, mái đầu muối tiêu, nách cắp cây thương, cưỡi trên con ngẽo cà khổ. Ðó là ông, Cao Xuân Hạo, chàng kỹ sĩ độc hành. Trong chiều tà, ngọn bút của ông được phản quang phóng to thành cây thương. Một người một ngựa, ông trơ trọi đi trong chiều vắng. Trước mắt, những hồn ma bóng quế chập chờn. Nhưng ông vui vì tin rằng một ngày mai những con chữ Việt sẽ tưng bừng trong cuộc hoan ca chào đón ông - người giải phóng.
Cái ngày đó chưa đến, nhưng đã một thời ông là thần tượng của lớp trẻ chúng tôi bởi những bản dịch mà ông chuyển ngữ văn xuôi Nga thành thứ tiếng Việt tuyệt vời, chính xác mà uyển chuyển. Ông đã truyền cho chúng tôi lòng yêu tiếng Việt chính bởi ông là người yêu tiếng mẹ đẻ đến tận cùng!
© 2005 talawas
Nguyễn Tường Tâm : Cao Xuân Hạo và ngữ pháp tiếng Việt
Nguyễn Tường Tâm
Cao Xuân Hạo và ngữ pháp tiếng Việt
Tôi chưa đọc ông Cao Xuân Hạo bao giờ. Lý do là tôi trưởng thành và làm việc trong môi trường hoàn toàn khác với ông. Mặc dù vậy tôi thấy tên ông quen thuộc lắm. Tôi cứ nghĩ đó là một cán bộ văn hoá có quyền thế chăm lo kiểm soát các sách báo văn hoá phẩm. Xin lỗi ông, tôi dửng dưng với tin ông mất như dửng dưng với tin một cán bộ Đảng hay nhà nước qua đời. Nhưng tin ông mất gây âm vang trong giới truyền thông trong nước khiến tôi đọc những bài viết về ông vì tò mò. Và rồi bài của ông Hà Văn Thùy khiến tôi giật mình ngạc nhiên, giúp tôi trút bỏ nỗi bực bội lâu nay về môn ngữ pháp tiếng Việt bởi vì theo Hà Văn Thùy, ông Cao Xuân Hạo là người đầu tiên và duy nhất “dũng cảm khẳng định nhiều giáo trình ngữ pháp đã giảng sai tiếng Việt.” [1]
Năm 1985, sau gần 10 năm xa nhà trở về, bốn đứa con tôi đã lớn, ba đứa đã học cấp 2. Ðứa nào cũng được bảng học sinh tiên tiến nhưng sao tôi thấy nản quá. Chúng không ở trình độ thông thường như tôi nghĩ. Ðặc biệt là sao chúng dốt môn ngữ pháp thế, đồng thời tôi tự hỏi tại sao cấp II (tức trung học đệ nhất cấp ngày trước ở trong Nam) học sinh lại còn phải học cái môn trước kia chỉ dành cho trẻ con là ngữ pháp? Tò mò tôi mở vở ngữ pháp (văn phạm) của chúng ra xem. Tôi chẳng hiểu họ dạy gì. Cái môn văn phạm (ngữ pháp) tiếng Việt trước năm 1954 và sau này ở miền Nam chỉ được dạy ở bậc tiểu học. Lên lớp 6 (đệ thất) là thuộc trung học đệ nhất cấp, học sinh không còn phải học văn phạm tiếng Việt nữa. Tới lớp 9 ở miền Nam, học sinh đã học bình thơ Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ, Truyện Kiều, học các tư tưởng xuất thế của Lão Trang, nhập thế của Khổng Tử qua văn chương. Làm gì còn cái trò học ngữ pháp ở lớp 9 để thi tốt nghiệp cấp 2 như bây giờ. Cuối cùng tôi phải nhờ thầy dạy văn của các cháu kèm thêm. Thú thực với ông thầy là tôi không hiểu sách ngữ pháp của trường nên xin được ngồi coi ông thầy giảng môn văn và ngữ pháp lớp 9 cho con mình. Nhìn vào tập vở của cháu, tôi thấy ông thầy gạch dưới và kẻ những mũi tên vào các phần của một câu để phân tích câu văn cho cháu. Ông thầy càng phân tích, tôi thấy cháu càng đăm chiêu. Rõ ràng cháu không hiểu. Cháu đang căng thẳng. Tôi cũng không hiểu luôn. Nhìn mặt ông thầy lúc đó, tôi không biết chính ông ấy có hiểu những điều ông ấy đang giảng hay không. Tôi tự hỏi, “Người ta đã giảng dạy loại ‘ngữ pháp quái đản’ này (chữ của Hà Văn Thùy) bao lâu rồi? Từ đâu người ta nghĩ ra loại ‘ngữ pháp quái đản’ này mà ở trong Nam trước 1975 không có? Tại sao cả nước chẳng có ai lên tiếng về loại ngữ pháp này? Chẳng lẽ cả nước có thể hiểu loại ngữ pháp này mà bản thân tôi, một người cũng đã tốt nghiệp đại học trong Nam từ cái thời mỗi năm một phân khoa đại học nhiều lắm chỉ cho ra trường chưa tới 100 cử nhân lại không thể hiểu hay sao?”
Khi dạy toán cho các cháu, tôi lại khám phá thêm một điều lạ lùng nữa là sách giáo khoa toán được viết bởi một thứ ngôn ngữ có những kết cấu “ngữ pháp quái đản” tới độ học trò không thể nào hiểu được. Tôi nghĩ lý do các sách toán, sách khoa học đều trở nên khó hiểu là vì các tác giả của chúng thời còn là học trò đều bị nhồi nhét thứ “ngữ pháp quái đản” đó, đến khi trở lại làm thầy thì làm sao họ viết câu thành cú được chứ đừng nói là viết một bài văn rõ ràng, mạch lạc. Tôi phải bỏ cuốn sách toán của trường, chỉ dựa vào chương trình để tự soạn bài giảng theo trí nhớ về những gì tôi học gần 30 năm trước đó (thập niên 1960) ở trường trung học trong Nam. Ðiều buồn cười là đối với các bài toán các cháu không làm được, tôi không cần giảng toán mà chỉ cần viết lại câu văn (rewording) là các cháu hiểu ngay và giải được liền. Cháu không dốt toán. Cháu chỉ không hiểu câu văn.
Tôi “ngộ” ra được điều đơn giản, “Hàng ngày nói, viết tiếng mẹ đẻ tự nhiên như hít thở, ít ai để ý tới tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc phát triển khoa học kỹ thuật”. Người ta, nhất là ở những nước chậm phát triển như Việt Nam, thường có thói quen đánh giá cao khoa học kỹ thuật. Học trò ban văn chương dễ bị coi thường. Thời đi học tôi cũng từng có ý nghĩ như vậy. Nhưng lúc đó (1985), lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy tầm quan trọng của môn văn và nghiệm ra rằng khi ngôn ngữ của một dân tộc bị làm hỏng, có nghĩa là văn chẳng ra văn, câu chẳng ra câu, thì giao tiếp bị gián đoạn: người nhận thông tin không hiểu ý người truyền đạt thông tin, trò không hiểu thầy, độc giả không hiểu sách, báo, thính giả không hiểu diễn giả v.v. Và như thế sẽ cản trở luôn sự phát triển ở tất cả các bộ môn khác.
Tình trạng viết câu không thành cú đã hiện diện trong nhiều bài nhật tụng về chính trị Mác-Lênin một thời suốt cả ngày toàn dân ai cũng phải học (mà không hiểu!) đã được nhà văn Thế Uyên trích dẫn trong một tác phẩm của ông viết về văn hoá xã hội chủ nghĩa [2] . Trước một thực tế như thế, ở vào trường hợp tôi ai mà chẳng bực mình. Tôi ước mong tìm được một cuốn ngữ pháp của Viện Ngôn ngữ để xem họ viết về vấn đề này ra sao. Thời buổi đó thật khó tìm sách, ngoại trừ các bộ toàn tập của các lãnh tụ. Tôi lại ở một thị trấn nhỏ xa xôi, ra khỏi tỉnh là phải xin phép, phương tiện đi lại cũng thật khó khăn. Ðặc biệt cả hai vợ chồng tôi đều thuộc diện những người quen làm cán bộ nhà nước, ngay cả các thầy cô giáo, cũng không được tiếp xúc. (Ðã có một người bạn lâu năm làm hiệu trưởng trường trung học cấp hai trong cùng phường bị kiểm điểm vì ghé thăm gia đình tôi.) Thế là tôi ôm nỗi bực mình đó trong cô đơn. Một hôm tình cờ thấy trong góc một kệ sách đóng bụi ở một cửa hàng sách quốc doanh nhỏ trước cửa chợ Ðông Hà (Quảng Trị) một cuốn không dày viết về ngữ pháp của Viện Ngôn ngữ Hà Nội (tên chính xác thì tôi quên rồi). Nôn nóng mua về, thế nhưng, đọc cuốn sách tôi lại cảm thấy ngỡ ngàng hơn. Xin lỗi những ai đã viết ra hay đã đóng góp vào việc hình thành cuốn ngữ pháp đó, tôi cố gắng đọc mà chẳng hiểu các tác giả muốn nói gì. Tôi lật đi lật lại bìa sách, Viện Ngôn ngữ đàng hoàng (chi tiết về danh xưng có thể không chính xác). Những người làm việc trong cái viện này chắc chắn phải được đào tạo chuyên môn cao; chắc chắn phải có học vị ít ra là cử nhân, nếu không là tiến sĩ ngôn ngữ. Họ phải xứng đáng với danh hiệu học giả chứ! Họ viết ra, sáng chế ra ngữ pháp để cả nước phải theo khi nói, khi viết tiếng Việt cơ mà! Nhưng càng đọc tôi càng thấy rối mù. Chịu! Không thể nào hiểu được các “học giả” trong cái viện đó muốn nói gì. Tôi không hiểu vì sao ngữ pháp tiếng Việt, một bộ môn đang từ hết sức dễ dàng và chỉ được dạy tới lớp nhất (lớp 5) bậc tiểu học trước kia (không gì dễ bằng học ngữ pháp - thời của tôi - trước 1975 tại miền Nam Việt Nam) lại trở nên quá phức tạp như vậy. Ðọc cuốn sách, cho tới giờ này tôi chỉ nhớ (với một sự kinh hoàng) vài chữ hay nhóm chữ được lặp đi lặp lại như: “người bản ngữ”, và những quỉ quái gì nữa! Trời đất ơi, kinh hoàng thế này ư? Tôi gào thét trong tâm mà không biết chia sẻ cùng ai. Các con tôi, cũng như các bạn học trò khác của các cháu, dĩ nhiên cũng không hiểu, nhưng hàng ngày vẫn phải cố nuốt những thứ kinh hoàng đó. Chúng vật lộn với ngữ pháp. Chúng tưởng chúng dốt. Nhưng thực ra chúng (học trò) không ngờ rằng chúng không dốt, mà chính các ông thầy, các ông “đại sư phụ” từ cái Viện ở Trung ương đó dốt. Những từ, nhóm từ (pharses), những câu, và thậm chí toàn bộ những đoạn văn trong cuốn ngữ pháp đó khó hiểu như những câu thần chú bí hiểm.
Khi không hiểu thì người ra diễn tả một cách khó khăn, biến những điều đơn giản trở nên khó hiểu. Khi loè bịp thiên hạ, người ta cũng viết khó hiểu như vậy. Tôi không biết các “nhà nghiên cứu” ở Viện Ngôn Ngữ thời đó thuộc diện nào (không biết thời này có khá hơn không?). Thật đau khổ khi biết là đất nước đang trải qua một nỗi kinh hoàng sẽ mang lại một hậu quả lâu dài trải qua hàng thế hệ, có khi cả trăm năm sau, nếu không được thay đổi, mà mình không làm gì được. Tôi nghĩ có cố gắng lắm viết được một bài báo cũng chẳng cảnh tỉnh được ai; cũng chưa chắc có ai biểu đồng tình. Mà có viết cũng chẳng ai đăng (Tất cả các báo đều là của nhà nước.) Nếu có được đăng thì cũng bị người ta cho là ngạo mạn, kiêu căng. Có lẽ Cao Xuân Hạo cũng bị ở trong tình huống đó nên mới bị cho là “chàng Don Quixote độc hành”. Sau khi gọi Cao Xuân Hạo là “chàng Don Quixote độc hành”, ông Hà Văn Thùy viết tiếp, “Dường như Cao Xuân Hạo không hoà hợp lắm với đồng nghiệp của mình. Người ta coi ông như kẻ hay kiếm chuyện không để cho ai yên”. Tôi ôm nỗi bực bội đó tới nay đã 22 năm (1985-2007). Thỉnh thoảng nghĩ tới tôi vẫn thấy chán nản, bi quan cho đất nước và ngạc nhiên sao cả nước không ai nhận ra vấn đề.
Nhưng rồi thật là bất ngờ. Sự ra đi của ông Cao Xuân Hạo đã tình cờ giúp tôi giải toả được phần nào niềm u uẩn. Nói cho rõ hơn, hai bài báo của hai đồng nghiệp và học trò của ông viết để ngợi ca người đã khuất đã cho thấy hóa ra bấy lâu, trong ngành văn chương và giáo dục cũng có ít ra ba người có thực tài có cùng sự bực bội như tôi. Cũng như tôi, họ không làm gì được, không lên tiếng được, hay lên tiếng cũng chẳng ai nghe. Ông Hà Văn Thùy đã thú nhận, chính ông trong nhiều năm đã có những “bức xúc không có đường ra...” và ông viết tiếp, “Ngữ pháp tiếng Việt không quái đản như những gì người ta viết trong sách giáo khoa”. Rồi lại thêm ông Trần Tiễn Cao Ðăng cũng xác nhận như ông Thùy rằng ông Cao Xuân Hạo đã dũng cảm khẳng định nhiều giáo trình ngữ pháp trong nhà trường nước ta đã giảng sai tiếng Việt. [3]
Những đồng cảm này không những giải toả bớt cho tôi niềm u uẩn, mà còn mang lại cho tôi niềm hy vọng rằng có lẽ cũng còn nhiều người trong nước (rất hi vọng là tất cả mọi người, trừ các ông “học giả” trong Viện Ngôn ngữ Hà Nội, cha đẻ của môn ngữ pháp tiếng Việt cách nay mấy chục năm) có cùng niềm u uẩn đó và mong có thay đổi. Ðây không là chính trị. Ðây là văn hoá. Ðây là tương lai của dân tộc. Một khi đại đa số học sinh, sinh viên, và phụ huynh cùng giáo chức và các nhà văn có cùng một ý nghĩ, một ước muốn như Hà Văn Thùy, như Trần Tiễn Cao Ðăng, như Cao Xuân Hạo, thì thực tế phải sớm có thay đổi, phải sớm có những học giả thứ thiệt ngồi vào các chức vụ đủ quyền uy trong ngành giáo dục để thay đổi nội dung môn ngữ pháp sao cho trở lại đơn giản như trước kia để học sinh chỉ còn phải học ngữ pháp tới hết lớp 5 bậc tiểu học là đủ rồi. Có như vậy “tiếng nước tôi” mới trở thành đòn bẩy làm phát triển tất cả mọi ngành khoa học kỹ thuật khác và đưa đất nước đi lên trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.
[1]Hà Văn Thuỳ: "Cao Xuân Hạo - Chàng Don Quijote độc hành" talawas 19/10/07
[2]Thế Uyên, Con đường qua mùa đông, nhà xuất bản Xuân Thu, 1990 (trang 102: “Muốn xây dựng xã hội... biện chứng với nhau.”
[3]Trần Tiễn Cao Ðăng: "Cao Xuân Hạo, thầy của tôi", talawas 20/10/07
Cao Xuân Hạo và ngữ pháp tiếng Việt
Tôi chưa đọc ông Cao Xuân Hạo bao giờ. Lý do là tôi trưởng thành và làm việc trong môi trường hoàn toàn khác với ông. Mặc dù vậy tôi thấy tên ông quen thuộc lắm. Tôi cứ nghĩ đó là một cán bộ văn hoá có quyền thế chăm lo kiểm soát các sách báo văn hoá phẩm. Xin lỗi ông, tôi dửng dưng với tin ông mất như dửng dưng với tin một cán bộ Đảng hay nhà nước qua đời. Nhưng tin ông mất gây âm vang trong giới truyền thông trong nước khiến tôi đọc những bài viết về ông vì tò mò. Và rồi bài của ông Hà Văn Thùy khiến tôi giật mình ngạc nhiên, giúp tôi trút bỏ nỗi bực bội lâu nay về môn ngữ pháp tiếng Việt bởi vì theo Hà Văn Thùy, ông Cao Xuân Hạo là người đầu tiên và duy nhất “dũng cảm khẳng định nhiều giáo trình ngữ pháp đã giảng sai tiếng Việt.” [1]
Năm 1985, sau gần 10 năm xa nhà trở về, bốn đứa con tôi đã lớn, ba đứa đã học cấp 2. Ðứa nào cũng được bảng học sinh tiên tiến nhưng sao tôi thấy nản quá. Chúng không ở trình độ thông thường như tôi nghĩ. Ðặc biệt là sao chúng dốt môn ngữ pháp thế, đồng thời tôi tự hỏi tại sao cấp II (tức trung học đệ nhất cấp ngày trước ở trong Nam) học sinh lại còn phải học cái môn trước kia chỉ dành cho trẻ con là ngữ pháp? Tò mò tôi mở vở ngữ pháp (văn phạm) của chúng ra xem. Tôi chẳng hiểu họ dạy gì. Cái môn văn phạm (ngữ pháp) tiếng Việt trước năm 1954 và sau này ở miền Nam chỉ được dạy ở bậc tiểu học. Lên lớp 6 (đệ thất) là thuộc trung học đệ nhất cấp, học sinh không còn phải học văn phạm tiếng Việt nữa. Tới lớp 9 ở miền Nam, học sinh đã học bình thơ Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ, Truyện Kiều, học các tư tưởng xuất thế của Lão Trang, nhập thế của Khổng Tử qua văn chương. Làm gì còn cái trò học ngữ pháp ở lớp 9 để thi tốt nghiệp cấp 2 như bây giờ. Cuối cùng tôi phải nhờ thầy dạy văn của các cháu kèm thêm. Thú thực với ông thầy là tôi không hiểu sách ngữ pháp của trường nên xin được ngồi coi ông thầy giảng môn văn và ngữ pháp lớp 9 cho con mình. Nhìn vào tập vở của cháu, tôi thấy ông thầy gạch dưới và kẻ những mũi tên vào các phần của một câu để phân tích câu văn cho cháu. Ông thầy càng phân tích, tôi thấy cháu càng đăm chiêu. Rõ ràng cháu không hiểu. Cháu đang căng thẳng. Tôi cũng không hiểu luôn. Nhìn mặt ông thầy lúc đó, tôi không biết chính ông ấy có hiểu những điều ông ấy đang giảng hay không. Tôi tự hỏi, “Người ta đã giảng dạy loại ‘ngữ pháp quái đản’ này (chữ của Hà Văn Thùy) bao lâu rồi? Từ đâu người ta nghĩ ra loại ‘ngữ pháp quái đản’ này mà ở trong Nam trước 1975 không có? Tại sao cả nước chẳng có ai lên tiếng về loại ngữ pháp này? Chẳng lẽ cả nước có thể hiểu loại ngữ pháp này mà bản thân tôi, một người cũng đã tốt nghiệp đại học trong Nam từ cái thời mỗi năm một phân khoa đại học nhiều lắm chỉ cho ra trường chưa tới 100 cử nhân lại không thể hiểu hay sao?”
Khi dạy toán cho các cháu, tôi lại khám phá thêm một điều lạ lùng nữa là sách giáo khoa toán được viết bởi một thứ ngôn ngữ có những kết cấu “ngữ pháp quái đản” tới độ học trò không thể nào hiểu được. Tôi nghĩ lý do các sách toán, sách khoa học đều trở nên khó hiểu là vì các tác giả của chúng thời còn là học trò đều bị nhồi nhét thứ “ngữ pháp quái đản” đó, đến khi trở lại làm thầy thì làm sao họ viết câu thành cú được chứ đừng nói là viết một bài văn rõ ràng, mạch lạc. Tôi phải bỏ cuốn sách toán của trường, chỉ dựa vào chương trình để tự soạn bài giảng theo trí nhớ về những gì tôi học gần 30 năm trước đó (thập niên 1960) ở trường trung học trong Nam. Ðiều buồn cười là đối với các bài toán các cháu không làm được, tôi không cần giảng toán mà chỉ cần viết lại câu văn (rewording) là các cháu hiểu ngay và giải được liền. Cháu không dốt toán. Cháu chỉ không hiểu câu văn.
Tôi “ngộ” ra được điều đơn giản, “Hàng ngày nói, viết tiếng mẹ đẻ tự nhiên như hít thở, ít ai để ý tới tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc phát triển khoa học kỹ thuật”. Người ta, nhất là ở những nước chậm phát triển như Việt Nam, thường có thói quen đánh giá cao khoa học kỹ thuật. Học trò ban văn chương dễ bị coi thường. Thời đi học tôi cũng từng có ý nghĩ như vậy. Nhưng lúc đó (1985), lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy tầm quan trọng của môn văn và nghiệm ra rằng khi ngôn ngữ của một dân tộc bị làm hỏng, có nghĩa là văn chẳng ra văn, câu chẳng ra câu, thì giao tiếp bị gián đoạn: người nhận thông tin không hiểu ý người truyền đạt thông tin, trò không hiểu thầy, độc giả không hiểu sách, báo, thính giả không hiểu diễn giả v.v. Và như thế sẽ cản trở luôn sự phát triển ở tất cả các bộ môn khác.
Tình trạng viết câu không thành cú đã hiện diện trong nhiều bài nhật tụng về chính trị Mác-Lênin một thời suốt cả ngày toàn dân ai cũng phải học (mà không hiểu!) đã được nhà văn Thế Uyên trích dẫn trong một tác phẩm của ông viết về văn hoá xã hội chủ nghĩa [2] . Trước một thực tế như thế, ở vào trường hợp tôi ai mà chẳng bực mình. Tôi ước mong tìm được một cuốn ngữ pháp của Viện Ngôn ngữ để xem họ viết về vấn đề này ra sao. Thời buổi đó thật khó tìm sách, ngoại trừ các bộ toàn tập của các lãnh tụ. Tôi lại ở một thị trấn nhỏ xa xôi, ra khỏi tỉnh là phải xin phép, phương tiện đi lại cũng thật khó khăn. Ðặc biệt cả hai vợ chồng tôi đều thuộc diện những người quen làm cán bộ nhà nước, ngay cả các thầy cô giáo, cũng không được tiếp xúc. (Ðã có một người bạn lâu năm làm hiệu trưởng trường trung học cấp hai trong cùng phường bị kiểm điểm vì ghé thăm gia đình tôi.) Thế là tôi ôm nỗi bực mình đó trong cô đơn. Một hôm tình cờ thấy trong góc một kệ sách đóng bụi ở một cửa hàng sách quốc doanh nhỏ trước cửa chợ Ðông Hà (Quảng Trị) một cuốn không dày viết về ngữ pháp của Viện Ngôn ngữ Hà Nội (tên chính xác thì tôi quên rồi). Nôn nóng mua về, thế nhưng, đọc cuốn sách tôi lại cảm thấy ngỡ ngàng hơn. Xin lỗi những ai đã viết ra hay đã đóng góp vào việc hình thành cuốn ngữ pháp đó, tôi cố gắng đọc mà chẳng hiểu các tác giả muốn nói gì. Tôi lật đi lật lại bìa sách, Viện Ngôn ngữ đàng hoàng (chi tiết về danh xưng có thể không chính xác). Những người làm việc trong cái viện này chắc chắn phải được đào tạo chuyên môn cao; chắc chắn phải có học vị ít ra là cử nhân, nếu không là tiến sĩ ngôn ngữ. Họ phải xứng đáng với danh hiệu học giả chứ! Họ viết ra, sáng chế ra ngữ pháp để cả nước phải theo khi nói, khi viết tiếng Việt cơ mà! Nhưng càng đọc tôi càng thấy rối mù. Chịu! Không thể nào hiểu được các “học giả” trong cái viện đó muốn nói gì. Tôi không hiểu vì sao ngữ pháp tiếng Việt, một bộ môn đang từ hết sức dễ dàng và chỉ được dạy tới lớp nhất (lớp 5) bậc tiểu học trước kia (không gì dễ bằng học ngữ pháp - thời của tôi - trước 1975 tại miền Nam Việt Nam) lại trở nên quá phức tạp như vậy. Ðọc cuốn sách, cho tới giờ này tôi chỉ nhớ (với một sự kinh hoàng) vài chữ hay nhóm chữ được lặp đi lặp lại như: “người bản ngữ”, và những quỉ quái gì nữa! Trời đất ơi, kinh hoàng thế này ư? Tôi gào thét trong tâm mà không biết chia sẻ cùng ai. Các con tôi, cũng như các bạn học trò khác của các cháu, dĩ nhiên cũng không hiểu, nhưng hàng ngày vẫn phải cố nuốt những thứ kinh hoàng đó. Chúng vật lộn với ngữ pháp. Chúng tưởng chúng dốt. Nhưng thực ra chúng (học trò) không ngờ rằng chúng không dốt, mà chính các ông thầy, các ông “đại sư phụ” từ cái Viện ở Trung ương đó dốt. Những từ, nhóm từ (pharses), những câu, và thậm chí toàn bộ những đoạn văn trong cuốn ngữ pháp đó khó hiểu như những câu thần chú bí hiểm.
Khi không hiểu thì người ra diễn tả một cách khó khăn, biến những điều đơn giản trở nên khó hiểu. Khi loè bịp thiên hạ, người ta cũng viết khó hiểu như vậy. Tôi không biết các “nhà nghiên cứu” ở Viện Ngôn Ngữ thời đó thuộc diện nào (không biết thời này có khá hơn không?). Thật đau khổ khi biết là đất nước đang trải qua một nỗi kinh hoàng sẽ mang lại một hậu quả lâu dài trải qua hàng thế hệ, có khi cả trăm năm sau, nếu không được thay đổi, mà mình không làm gì được. Tôi nghĩ có cố gắng lắm viết được một bài báo cũng chẳng cảnh tỉnh được ai; cũng chưa chắc có ai biểu đồng tình. Mà có viết cũng chẳng ai đăng (Tất cả các báo đều là của nhà nước.) Nếu có được đăng thì cũng bị người ta cho là ngạo mạn, kiêu căng. Có lẽ Cao Xuân Hạo cũng bị ở trong tình huống đó nên mới bị cho là “chàng Don Quixote độc hành”. Sau khi gọi Cao Xuân Hạo là “chàng Don Quixote độc hành”, ông Hà Văn Thùy viết tiếp, “Dường như Cao Xuân Hạo không hoà hợp lắm với đồng nghiệp của mình. Người ta coi ông như kẻ hay kiếm chuyện không để cho ai yên”. Tôi ôm nỗi bực bội đó tới nay đã 22 năm (1985-2007). Thỉnh thoảng nghĩ tới tôi vẫn thấy chán nản, bi quan cho đất nước và ngạc nhiên sao cả nước không ai nhận ra vấn đề.
Nhưng rồi thật là bất ngờ. Sự ra đi của ông Cao Xuân Hạo đã tình cờ giúp tôi giải toả được phần nào niềm u uẩn. Nói cho rõ hơn, hai bài báo của hai đồng nghiệp và học trò của ông viết để ngợi ca người đã khuất đã cho thấy hóa ra bấy lâu, trong ngành văn chương và giáo dục cũng có ít ra ba người có thực tài có cùng sự bực bội như tôi. Cũng như tôi, họ không làm gì được, không lên tiếng được, hay lên tiếng cũng chẳng ai nghe. Ông Hà Văn Thùy đã thú nhận, chính ông trong nhiều năm đã có những “bức xúc không có đường ra...” và ông viết tiếp, “Ngữ pháp tiếng Việt không quái đản như những gì người ta viết trong sách giáo khoa”. Rồi lại thêm ông Trần Tiễn Cao Ðăng cũng xác nhận như ông Thùy rằng ông Cao Xuân Hạo đã dũng cảm khẳng định nhiều giáo trình ngữ pháp trong nhà trường nước ta đã giảng sai tiếng Việt. [3]
Những đồng cảm này không những giải toả bớt cho tôi niềm u uẩn, mà còn mang lại cho tôi niềm hy vọng rằng có lẽ cũng còn nhiều người trong nước (rất hi vọng là tất cả mọi người, trừ các ông “học giả” trong Viện Ngôn ngữ Hà Nội, cha đẻ của môn ngữ pháp tiếng Việt cách nay mấy chục năm) có cùng niềm u uẩn đó và mong có thay đổi. Ðây không là chính trị. Ðây là văn hoá. Ðây là tương lai của dân tộc. Một khi đại đa số học sinh, sinh viên, và phụ huynh cùng giáo chức và các nhà văn có cùng một ý nghĩ, một ước muốn như Hà Văn Thùy, như Trần Tiễn Cao Ðăng, như Cao Xuân Hạo, thì thực tế phải sớm có thay đổi, phải sớm có những học giả thứ thiệt ngồi vào các chức vụ đủ quyền uy trong ngành giáo dục để thay đổi nội dung môn ngữ pháp sao cho trở lại đơn giản như trước kia để học sinh chỉ còn phải học ngữ pháp tới hết lớp 5 bậc tiểu học là đủ rồi. Có như vậy “tiếng nước tôi” mới trở thành đòn bẩy làm phát triển tất cả mọi ngành khoa học kỹ thuật khác và đưa đất nước đi lên trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.
[1]Hà Văn Thuỳ: "Cao Xuân Hạo - Chàng Don Quijote độc hành" talawas 19/10/07
[2]Thế Uyên, Con đường qua mùa đông, nhà xuất bản Xuân Thu, 1990 (trang 102: “Muốn xây dựng xã hội... biện chứng với nhau.”
[3]Trần Tiễn Cao Ðăng: "Cao Xuân Hạo, thầy của tôi", talawas 20/10/07
Nam Dao : Cao Xuân Hạo, những nỗi niềm và trăn trở…
23.10.2007
Nam Dao
Cao Xuân Hạo, những nỗi niềm và trăn trở…
Tôi gặp anh lần đầu khi cùng Trịnh Công Sơn đến thăm anh ở Phú Nhuận. Trưa hôm đó, con gái anh và chị Thanh đang còn tuổi ô mai, đòi chú Sơn hát "Ở trọ" cho nghe. Anh ngồi, gật gù, cười nửa miệng với phong cách nho nhã ngày càng ít thấy. Sơn hát xong, anh ôm đàn, đáp lễ. Anh cũng hát, một bài thời anh tham gia kháng chiến, giọng trong và khoẻ, ngân nga luyến láy như ai. Hình như đó là bài có những câu như "chiều nay trên chiến khu trong rừng chiều, bên đèo tiếng suối reo… đạn bay vèo". Năm đó, năm 1982. Trên tập Về Kinh Bắc chỉ được in chính thức năm 94 tặng tôi, tức là 12 năm sau, anh Hoàng Cầm ghi: để nhớ một năm đầy hạnh phúc và oan nghiệt. Hạnh phúc, tôi yêu, rồi tôi quýnh quáng lấy vợ, quà tặng của anh Cầm là tập Về Kinh Bắc anh nắn nót chép tay cho tôi. Oan nghiệt, khi ra phi trường Tân Sơn Nhất, người ta cộp tôi lại, rà soát xem tôi có mang văn hoá phản động ra ngoài không? Tập thơ anh Cầm tặng, tôi gửi lại một người bạn. Bạn tôi gửi lại một người bạn khác. Và cuối cùng, chính Cao Xuân Hạo là người giữ để sau này trả về cho nhà thơ, người bị tù chẳng phải vì tuồn tập thơ ra hải ngoại mà vì cái tội bán rượu lậu (?!). Chuyện xưa, xưa như Diễm. Nhắc lại, vì nhớ Hạo, và cái không khí nặng nề của những năm tháng ngột ngạt thời cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên… "thiên đường mù", tên một cuốn tiểu thuyết vào những năm đổi mới sau này.
Đổi mới, tôi thôi bị (được?) cấm cửa, về Hà Nội năm 88. Lại có dịp gặp Hạo từ Sài Gòn ra, và lê la với Dương Tường, Phan Ngọc. Thời đó, báo chí hô khẩu hiệu thời thượng "đậm đà bản sắc dân tộc". Tôi không nhớ Hạo hay Phan Ngọc dí dỏm dịch qua tiếng Pháp là "imbus du caractère national!". Với Hạo, tôi có dịp gặp nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, khi đó chưa tiếng tăm. Hẹn nhau, tôi đến nơi Hạo ở tạm thì đã có TM, một người bạn của anh. Lát sau, Thiệp và một anh bạn vào. Chuyện trò với TM, tôi không để ý lắm đến người mặt mũi khắc khổ sần sùi thì thào to nhỏ với Hạo. Khi anh ta và bạn về, Hạo bảo: "… Đặc biệt đấy! Viết rất hay!". Thì ra nhà văn đến trao đổi với Hạo về dăm ba tác phẩm chưa in. Tôi hỏi, Hạo cho mượn bản thảo (trí nhớ tôi nay tồi, nhưng có thể là "Thương nhớ đồng quê" và "Ngọn gió Hua Tát"?). Đọc và dăm ngày sau tôi đi tìm Thiệp ở một cơ quan phát hành sách gần nhà Dương Tường ngõ Phan Huy Chú, sau tôi còn rủ rê nhà văn đi "rượu chè" ở tư gia đạo diễn Thanh Tú nhân dịp chị làm lễ cúng sao giải hạn. Ngày ấy, nhà văn còn rất dễ mến, hồn nhiên thủ thỉ: "Anh lôi tôi, tôi mới đi chứ tôi ít giao du!", chứ ai ngờ ít lâu sau "người" trở thành chủ quán nhậu Hoa Ban danh trấn giang hồ.
Phải bốn năm sau tôi mới gặp lại Hạo, lần này ở Paris. Oan nghiệp thế nào mà tôi đã tưởng "mút mùa" khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, nên gặp nhau, mừng mừng tủi tủi những chuyện xưa, chuyện nay, chuyện người, chuyện ngợm. Collège de France mời, anh đi và bảo đây là lần đầu được qua một xứ Tây Âu, có lẽ vì cuốn Phonologie et linéarité. Réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine (1985) anh in bên Pháp đã có tiếng vang. Trong những ngày nghỉ, chúng tôi lang thang, khi trên bờ sông Seine khu Quartier Latin, khi thì Monmartre, gần một cái appartement cô em Hạo để Hạo trú ngụ. Thời đó, Hạo rất năng động, viết lách khá nhiều, hăng hái làm việc với Tiểu ban Việt học Đại học Tổng hợp TPHCM, hào hứng thúc đẩy và xây dựng Hội Nghiên cứu Ngôn ngữ… Tâm sự, anh bảo nay chỉ mong ước một chuyện, là tiếp tục nghiên cứu và góp phần đào tạo một số anh em quan tâm đến tiếng Việt. Và như mọi lần, anh lại than tiếng Việt bây giờ ngọng nghịu bởi viết với ngữ pháp tiếng Tây. Anh cho rằng chữ Quốc ngữ ABC giữ được âm nhưng làm mất nghĩa, học thì lợi là nhanh nhưng hại ở chỗ mù mờ khiến kiến thức thường dàn trải mà không sâu. Anh lan man qua những vấn đề chuyên môn, cho rằng âm vị học khai triển ở phương Tây không thể dùng để phân tích những ngôn ngữ như tiếng Việt ta, vốn đơn âm, và cứ mỗi âm tiết (tiếng) là một đơn vị ngôn ngữ, không thể phân tích ra thành những âm tố, rồi nhiều âm vị, trong một cấu trúc ngữ pháp châu Âu mà mỗi tiếng có thể gồm nhiều yếu tố có ý nghĩa khu biệt. Trước niềm say mê của anh, tôi nghe. Dĩ nhiên như vịt nghe sấm, nhưng chẳng sao, cái anh truyền đạt được cho những người nghe anh nói là sự trân quí tiếng mẹ đẻ và tấm lòng trung trinh với văn hoá. Học thầy không tầy học bạn. Học giá trị sống, học cách làm người, lòng đam mê. Học những niềm hy vọng. Và cả những nỗi trăn trở.
Cuối 98 đầu 99, tôi lại hồi hương thời mình thôi bị "cấm vận". Gặp Hạo, vẫn trẻ măng, vẫn phong nhã, vẫn cứ một niềm say mê. Kể chuyện vui: sau giờ lên lớp của Hạo, chúng tôi ngồi uống bia ở một cái quán trong khuôn viên Đại học Tổng hợp TPHCM. Cô tiếp viên quen mặt Hạo, gọi bằng thầy, đi qua đi lại "phục vụ" khá chu đáo, cứ như "khách hàng là Thượng đế", ngay cho đám thầy trò nghèo rớt chỉ biết thưởng thức bia hơi và đậu phọng. Đợi Hạo vào toa-lét, cô đến gần hỏi: "Anh công tác ở Hà Nội?". Tôi gật, đá lông nheo, cái thói cứ có dịp là đùa nghịch. "Anh dzô luôn hay đi công tác ngắn hạn?" Tôi đáp: "Dzô luôn, sống ngoải cực lắm!". Thấy tôi bắt chước tiếng Sài Gòn, cô cười: "Chắc ngày trước ông bà già đi tập kết hả?" Tôi lại gật. Khi đó, Hạo ra và cô tiếp viên lui về đứng tựa quầy hàng. Cô liếc tôi, cứ tần ngần, lát sau mang ra mấy điếu ba số, lúng túng: "Em mời thầy, mời anh, hút cho vui!". Hạo ngạc nhiên. Đợi cô tiếp viên đi, Hạo cười tinh quái, bảo cô ta nhẵn mặt thầy mà nay mới mời thuốc, chắc chẳng phải vì thầy mà vì anh. Nhìn tôi dò hỏi, thấy tôi lắc đầu: "Nghịch ngợm ấy mà, kiểu anh hùng thấy chuyện… qua đường… chẳng tha, nhưng chỉ thế thôi!", Hạo hỏi: "Ông có đọc Zorba the Greek chưa?". Cười ha hả, Hạo tiếp: "Zorba nói, khi một người đàn bà đến anh dâng hiến tình yêu mà anh quay lưng, thì anh có biết thế là anh báng bổ thần linh không?". Ôi chao, nhưng tôi biết làm chi đây? Nhìn lên, ảnh Bác vẫn đó, Bác sống mãi trong sự nghiệp chúng ta. Nhìn xuống, cái thân mình Việt kiều bước đi một bước giây giây lại dừng và… nhìn về đàng sau, tôi ngậm ngùi lẩy Kiều: "Zorba thì mặc Zorba. Quan trên trông xuống, người ta trông vào… Thôi ông ạ, ta đi…"
Hoà hợp trong-ngoài tuỳ giá máy bay về nước, thời gian thoát được chuyện áo cơm, lại phụ thuộc vào độ phập phồng mở ra đóng vào trong "hoàn cảnh" đối ngoại nên năm năm sau tôi mới gặp anh. Lần này, Công ty Văn hoá Phương Nam đã mua lại tác quyền toàn bộ tác phẩm của anh, hẳn đời anh "tươi" hơn ít nhiều. Anh không còn ở đường Huỳnh Văn Bánh quận Phú Nhuận mà dọn đến phố Phạm Văn Chiêu ở Gò Vấp. "Lạ thật, ông Bánh rồi ông Chiêu lấy làm tên đường, nhưng ông có biết họ là ai không?", tôi hỏi. Hạo lắc đầu, đăm chiêu "… Chuyện lạ thì đất nước này nhiều lắm!". Anh mang ra cuốn Tiếng Việt, văn Việt, người Việt (Nxb Trẻ, 2003), giở trang 333, bài nói về tính hiếu học…, đọc một đoạn cho tôi nghe: mục Viết nhịu trong tạp chí Ngôn ngữ & đời sống của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam kê ra vài trăm lỗi viết về tri thức cơ bản thường thấy. Trong các sách giáo khoa đại học, có thể tìm ra 2000 câu lỗi như thế, và trên căn cứ có kiểm kê, khoảng 72% sách đại học đều chứng tỏ người viết không biết đến những tri thức ngôn ngữ sơ đẳng. Cuốn Nhập môn ngôn ngữ học được mang giảng dạy ngang nhiên phủ nhận tất cả thành tựu của ngành ngôn ngữ học của toàn nhân loại, và lấy tư cách Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Khoa học Xã hội tại TPHCM, năm 1997, Hạo gửi thư cho ông Giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn cùng ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo một thư dài kèm 200 trang tư liệu minh chứng, để kiểm tra và kết luận về tác hại của cuốn sách đó. Nhưng đến nay, tức 7 năm sau, vẫn chẳng có hồi âm, kể cả công văn báo đã nhận thư cũng không có!
Hôm đó là ngày mồng hai Tết. Đáng lẽ phải vui xuân, chúng tôi lại lẩn thẩn nói những chuyện cực lòng. Ngay cả đối với những giáo sư ngôn ngữ, chẳng lẽ họ lại coi thường tiếng mẹ đến thế sao? Họ chắc phải biết ngôn ngữ là lớp trầm tích sâu nhất của văn hoá, khai quật thì có thể soi rọi cách sống, từ tư duy, cảm nhận đến những quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân và cộng đồng… Lơ là để cho ngôn ngữ thành một thứ tạp nham dị dạng vô hồn, có thể nào, tôi nói liều, cả dân tộc này mắc chứng trầm cảm tập thể, giải quyết bệnh tâm thần bằng cách xô nhau làm giầu ăn xổi để khỏi suy nghĩ, hệt như trong một xã hội tiêu thụ vinh danh khách hàng như Thượng đế, tha hoá biến chính mình thành một món hàng không hơn không kém?
Trong tương quan giữa ngôn ngữ và văn hoá, tôi đặc biệt quan tâm đến những đại từ nhân xưng, trao đổi với Hạo dịp đó, và hứa sẽ đào sâu sau này. Ở ngôi thứ nhất dạng đơn, ngoài tôi, ta, tao, tớ, mỗ có tính hồi chỉ chính danh thì có lẽ đến 90% chúng ta dùng ngôi vị thân tộc và tuổi tác (con, cháu, anh, em…) để xưng hô. Ở dạng phức, ta ghép thêm từ chúng vào ta, tôi, tao. Ở ngôi thứ hai, ngoài từ mày, mi, bay xưng hô phần lớn tuỳ tuổi tác (cụ, ông, cha, mẹ, anh, em), chức năng hoặc cương vị (bác sĩ, giáo sư, ngài…), thường ở dạng đơn, thêm những hoặc các hoặc tụi hoặc bọn để chỉ dạng phức (nhưng xin lưu ý các anh, chứ chúng anh lại chỉ ngôi thứ nhất). Với hai ngôi này, rất ít đại từ có tính trung hoà được dùng trong đời sống, khác hẳn với những ngôn ngữ phương Tây (je, moi, tu, toi, nous, vous trong tiếng Pháp, I, you trong tiếng Anh) hoặc trong tiếng Trung Quốc (ngổ, nỉ… áp dụng một cách phổ biến ngay trong quan hệ gia đình giữa bố mẹ anh em). Nếu mày, tao được sử dụng giữa bè bạn thì chúng (tụi, bọn) bay, chúng (tụi, bọn) mày, chúng (tụi, bọn) tao (ta) thường chỉ những quan hệ những nhóm có ít nhiều đối kháng cành cựa với nhau. Đặc biệt hơn hết là nhân xưng trên cơ sở tuổi tác, địa vị, và liên hệ trên-dưới có tính thân tộc vừa miêu tả tạo ra một tương quan bất bình đẳng giữa những con người. Tác động tốt của nhân xưng thân tộc (cha mẹ cô chú anh em) một cách đại trà như thể mọi người cùng thuộc một gia đình là tạo ra liên kết tình cảm, nhưng mặt tích cực đó có thể bị triệt tiêu vì hai yếu tố. Thứ nhất, cái liên kết trên ảo; nó thể hiện một sự mong đợi trông chờ chứ không phải một hiện thực, và đẩy đến một cực nào đó, nó là sự giả trá chấp nhận như một qui ước. Thứ nhì, nhân xưng ở ngôi thứ nhất tự thân bị những ràng buộc trên-dưới, ảo-thực… nên khó có thể phát huy trọn vẹn cái tôi cá thể bị kiềm toả trong ngôn từ xưng hô phản ánh trật tự (thậm chí, đạo đức) của xã hội dựa trên nền tảng gia đình thị tộc [1] . Cái nền tảng đó do truyền giống nên tự nhiên và bất biến, hệ luận là từ cách xưng hô đó, cái trật tự kia cũng vậy, và con người sử dụng nó vô hình chung bị vi khuẩn "bảo thủ" ngấm vào đến tiềm thức, ứng xử thụ động trước mọi quyền lực ngoại tại.
Nhưng đáng chú ý là những đại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba. Tôi rất khó chịu khi phải sử dụng nàng và chàng, nghe nó cứ như "làm sao ấy", hơi "sên sến", lắm khi dùng không khéo thì phá tan nát cái không khí văn chương. "Thiếu gì từ khác", Hạo đáp. Hết thời gian nên tôi phải chia tay, hứa sẽ "lạm" bàn với Hạo lần gặp sau.
Ở ngôi thứ ba, ngôn ngữ ta quả không thiếu gì đại từ nhân xưng ở dạng đơn: giống đực: y, hắn; giống cái: ả, thị; trung tính: nó, va(?), nghỉ… chẳng hạn. Từ va và nghỉ hoặc là tiếng địa phương, hoặc là tiếng cổ, nay không còn thông dụng. Ở dạng phức, chỉ còn chúng (bọn, tụi) nó. Nhưng mỗi đại từ trên đều mang một nghĩa hàm ẩn, thường là nghĩa xấu. Thị, ta liên tưởng đến tôi đòi, quê kệch. Ả, tất ả giang hồ, đám xướng ca. Y, có vẻ gì như hiểm hóc, tối tăm. Còn hắn, đỡ hơn, nhưng chắc chắn xa lạ. Tóm lại, với những đại từ nhân xưng ngôi thứ ba vừa nêu lên, tính cách và thậm chí bản chất khác với chủ thể hiển ngôn ở ngôi thứ nhất. Nó thường hàm ẩn sự đánh giá, từ khinh miệt đến xa lánh, vì chuẩn mực "đạo đức" gắn vào danh xưng tưởng như trung hoà nhưng chính ra không phải vậy. Tưởng tượng một cuộc thoại giữa tôi với anh về một đệ tam nhân ở ngôi thứ ba. Danh xưng không thôi cũng có khả năng chia rẽ: gọi là y, là hắn, là nó… đều hàm chứa đánh giá đối tượng này. Bây giờ, giả thử có ba người và những cuộc đối thoại song phương về một người thứ ba. Đánh giá hàm ẩn qua đại từ nhân xưng gấp lên ba lần, tỉ lệ thuận với khả năng chia rẽ. Và có phải chính vì thế mà cứ có một người Việt thì công việc chạy hơn với hai người người ngoại quốc (người Nhật chẳng hạn), trong khi có ba người Việt thì lại không bằng chỉ với một người (như người Nhật chẳng hạn) như trong chuyện tiếu lâm tân thời. Ngôi thứ ba dạng phức cũng vậy. Chúng (bọn, tụi) nó có cái gì đó không thiện cảm chút nào, chẳng những xa lạ mà còn như đe doạ. Và chính vì vậy mà chúng ta lúc nào cũng phải đối phó với chúng nó, khi thì lao vào chiến tranh, lúc hoà bình thì ta dùng mẹo trong ngoại giao, trước sau bất tất cứ phải như một. Ở ngoài nước, tình trạng phân chia phe nhóm chúng ta hầu như có trong tất cả mọi cộng đồng rải rác khắp nơi. Chỉ khi chúng nó là một đe doạ thực sự thì chúng ta mới đoàn kết được.
Tôi vừa đưa ra giả thiết rằng tính chất của đại từ nhân xưng ngôi thứ ba có thể là một (một thôi, xin nhấn mạnh) trong những yếu tố giải minh tính chia rẽ giữa người Việt với nhau. Giả thiết này không đề đạt một hệ luận nhân-quả, thuần là một giả thiết về tương quan giữa ngôn ngữ với văn hoá và xã hội mà thôi. Trong tham luận "Ngôn ngữ học có thể đóng góp gì vào việc tìm hiểu tư duy và văn hoá Việt Nam?" đọc tại Hội nghị Quốc tế về các giá trị văn hoá phương Đông ở Hà Nội năm 1999 [2] , Cao Xuân Hạo đề nghị bảy vấn đề, hoặc hệ vấn đề, mà khi được giải quyết thích đáng sẽ dẫn đến những tìm tòi xa hơn. Anh viết: 1… 2… nhưng tôi xin chỉ kể:
7. Tại sao, và tự bao giờ, các thuật ngữ chỉ quan hệ thân thuộc được dùng thay cho các đại từ nhân xưng, các đại từ nhân xưng hồi chỉ chính danh trở thành vô lễ, và rốt cuộc trong tiếng Việt không còn có đại từ nào (kể cả đại từ hồi chỉ) có tính trung hoà… nữa? Hệ thống đại từ này có ảnh hưởng như thế nào đối với các quan hệ giữa người với người trong xã hội Việt Nam?
Là người "ngoại đạo" ngành ngôn ngữ, tôi vẫn đánh liều thử "lạm" bàn, lẽ ra là chỉ với Hạo lúc sinh thời, nhưng nay quá muộn nên đành viết ra để thay một nén hương thắp lên cho bạn. Đó là cách cá nhân tôi trả nợ, nhưng điều này nhỏ, tôi chỉ hy vọng làm xúc tác cho một cuộc tìm tòi nghiêm túc và có hệ thống.
Chuyện lớn hơn, tôi nay xin thưa. Tháng 8 năm ngoái, năm 2006, tôi lại gặp Hạo. Lần này, rõ là anh hơi tiều tuỵ, trầm ngâm hơn, nhưng lúc chuyện trò, anh vẫn giữ được chất lửa khi nói về những nỗi niềm và trăn trở. Trăn trở, anh lo chuyện lạm phát phi mã những mảnh bằng tiến sĩ, phó tiến sĩ. Những chức danh giáo sư, phó giáo sư. Anh sợ định luật Graham, như với tiền giấy hồi thế kỷ thứ 17 bên châu Âu, "la mauvaise monnaie chasse la bonne" [3] . Anh than vãn, báo chí tự thân có trách vụ văn hoá và giáo dục, nhất là với ngôn ngữ vì phần lớn người ta có đọc là đọc báo. Nhưng khốn thay, đội ngũ làm báo tắc trách, đáng lẽ nâng lên thì lại làm ngôn ngữ xuống cấp, mất ngữ nghĩa, mất trong sáng… mà tôi lấy một thí dụ điển hình trong phụ lục dưới đây.
Còn về nỗi niềm của anh, tôi xin chỉ kể ra đây một. Hỏi Hạo về khả năng nhóm cộng sự và môn sinh tiếp tục đào sâu những vấn đề học thuật anh chưa giải quyết được, anh trầm ngâm rất lâu, lát sau nói: "Mình cũng kỳ vọng ở họ rất nhiều, nhưng khả năng đâu chỉ tuỳ thuộc họ, nhất là ở cái buổi ‘hội nhập’ này, anh em làm khoa học đâu mang rao bán được cái gì trong kinh tế thị trường!". Mắt sáng lên, anh nói về một bộ những cuốn sách giáo khoa anh đã cùng họ soạn thảo với hy vọng thay thế những cuốn sách quái dị kiểu Nhập môn Ngôn ngữ học đã kể ở trên, hy vọng đem tiếng Việt thuần khiết chứ không sao chép ngữ pháp châu Âu trả về cho người Việt. Theo một bài phỏng vấn Cao Xuân Hạo trong báo Xuân Lao Động năm 2003 [4] thì:
Hỏi: Thời hội nhập, tiếng Việt có cần tuân theo những quy tắc truyền thống quá cứng nhắc nữa không; hay cần đơn giản hoá, thưa ông?
Đáp: Làm sao tiếng Việt chấp nhận những kiểu nói của tiếng châu Âu? Tôi không hẹp hòi, nhưng rõ ràng có một điều kiện tiên quyết và quyết định là đừng làm mâu thuẫn những quy tắc ngữ pháp cơ bản của tiếng Việt. Duy nhất trước đây có Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đặt vấn đề về một trong những quy tắc mà ngay chính các nhà ngôn ngữ học cũng không giải thích được, chỉ dùng theo bản năng. Nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học là hiển ngôn hoá những gì mà em bé năm tuổi chưa hiển ngôn được. Tôi đã viết gần xong 300 quy tắc như thế cho riêng tiếng Việt.
Tôi không biết các anh đã soạn xong bộ sách chưa, và nếu xong, những cơ quan có chức trách khu xử thế nào. Riêng mình, tôi cầu mong cho nó đến được tay những sinh viên, học sinh, những nhà văn nhà thơ, những biên tập viên, những nhà báo, ngài Chủ tịch Nước, ngài Thủ tướng, và vân vân.
Chia tay Hạo năm ngoái, tôi leo lên ngồi sau Honda của một người bạn, quay lại vẫy. Anh đứng trên lề đường, nhìn theo, và cười, vẫn cái cười phong nhã. Hẹn hò gặp nhau nay khép lại, vĩnh viễn. Mở cuốn sách anh đề tặng, … để nhớ những lần gặp nhau (về rất nhiều phương diện), tôi không khỏi bùi ngùi. Nhưng Hạo ạ, sống ở thác về. Sống thế nào, anh đã sống toàn vẹn. Còn thác, thì chuyện dĩ nhiên ấy mà. Và nơi về với một con người đã sống toàn vẹn là lòng những người ở lại.
Quebec 21-10-2007
Phụ lục
Nhặt cỏ dại trong một bài báo trên web của BBC tiếng Việt ngày 19-10-2007
Theo truyền thống nhặt cỏ dại, còn gọi là bắt sâu, trong báo chí, tôi xin làm công việc này với một bài báo (có thể đây chỉ là một trường hợp đơn lẻ). Những chữ hoặc câu in đậm là để lưu ý, phần trong ngoặc là cách tôi hiểu và đề nghị thay thế, hoặc giản dị là tôi không hiểu! Không phải có hậu ý phê phán BBC mà tôi đã được đọc những bài viết công phu và có chất lượng, tôi làm cái việc nhổ cỏ dại này chỉ nhằm thể hiện nỗi lo âu của những người thấy "tiếng Việt xuống cấp tới mức trầm trọng", trong đó có Giáo sư Cao Xuân Hạo, người đã lên tiếng đánh động nhiều lần.
Người tiên phong DNA bị đình chỉ
Tiên phong cho cái gì? Phải chăng: người tiên phong trong nghiên cứu về DNA?
Đình chỉ gì? Công sự, hợp tác? Đọc tựa, tôi không thể đoán ra nội dung. Đọc cả bài báo, tôi hiểu thế này:
Đình chỉ cộng sự của người tiên phong trong nghiên cứu về DNA
Cái tựa đề thêm 7 chữ, nhưng rõ nghĩa và tóm lược được nội dung bài báo.
Ông Watson nhận được những lời chỉ trích gay gắt vì những nhận xét của mình trên một tờ báo của (có cần không?) Anh vào cuối tuần trước.
Trong bài phỏng vấn, ông được trích dẫn đã nói rằng người Châu Phi kém thông minh hơn người Châu Âu.
Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor đã cho biết họ không có liên quan gì những lời nhận xét của ông, nhưng hội đồng quản trị đã đình chỉ ông.
(Đình chỉ một sự việc nào đó, chứ đình chỉ một người thì là gì? Bắt, giam, thải…? Có thể là: đình chỉ sự cộng tác với ông?)
Hoàn toàn xin lỗi
Ông Watson theo lịch sẽ có một bài diễn thuyết tại bảo tàng Khoa học ở Luân Đôn hôm thứ Sáu trong tour lưu diễn (lần ra mắt?) sách của ông. Nhưng bảo tàng này đã huỷ bỏ hoạt động này và (vì?) cho rằng nhà khoa học đã đi quá xa trong cuộc tranh cãi.
Liên hoan Ý tưởng tại Bristol cũng huỷ bỏ sự có mặt của ông Watson.
Ông Watson cũng nhận được lời chỉ trích gay gắt từ phía giáo sư Craig Venter, một nhà khoa học và cũng là một doanh nhân đã có những nỗ lực cá nhân trong việc giải mã gen (gien, chuyển âm cho đúng với tiếng Việt) và cũng tình cờ tới thăm Anh để quảng bá một cuốn sách. (Trong 1 câu mà 3 lần cũng!)
Ông Venter nói: “Màu da đại diện cho chủng tộc là một khái niệm xã hội, không phải khoa hoc”.. “Không có cơ sở khoa học nào về việc gen quy định màu da ở người ảnh hưởng tới trí tuệ.”
Trong bài phỏng vấn với tờ Sunday Times, giáo sư Watson giữ nỗi ảm đạm cố hữu về triển vọng của Châu Phi vì “tất cả những chính sách xã hội đều dựa vào việc họ có chung trí tuệ với chúng ta – trong khi các thí nghiệm không cho thấy điều đó”. (ảm đạm là một tĩnh từ, và tôi hiểu thế này: giáo sư Watson giữ sự bi quan cố hữu về…)
Ông còn cho biết thêm ông hi vọng mọi người đều bình đẳng nhưng “có lẽ những người phải đối phó (đối phó cái gì?) với những nhân viên da đen thì đã không tìm thấy điều này”.
Kể từ đó (?, sau đó?) nhà khoa học đã nói “Tôi có thể hiểu được tại sao những người đọc những lời lẽ đó lại phản ứng như vậy”.
“Gửi tới tất cả những người đã hiểu rằng Châu Phi, với tư cách là một châu lục, có phần thấp kém hơn về mặt di truyền, tôi hoàn toàn xin lỗi”.
“Tôi không có ý như vậy. Quan điểm của tôi là, không có cư (cơ?) sở khoa học nào cho việc tin tưởng (như) vậy”.
Nỗ lực khoa học
Trong các lời phát biểu trên tờ The Independent hôm thứ Sáu, giáo sư Watson cố gắng làm trong sạch tình thế (ông ta đi tắm? Chắc không phải thế, có thể là ông ta cố gắng làm minh bạch ý kiến) của mình.
“Chúng ta chưa hiểu rõ cách thức các môi trường khác nhau lựa chọn gen quyết định năng lực làm việc của chúng ta”. (môi trường không thể lựa chọn! Tôi ngầm hiểu rằng thiên nhiên lựa chọn, và câu trên có thể viết như sau: Chúng ta chưa hiểu phương thức lựa chọn gien, điều quyết định năng lực làm việc, trong những môi trường khác nhau.)
“Đây không phải là những thảo luận về việc hơn hay kém mà là để hiểu nguyên nhân của sự khác biệt, rằng tại sao một số người trở thành các nhạc sĩ tài ba trong khi số khác lại trở thành những kỹ sư giỏi”.
Giáo sư Watson là người đã cùng (với ai?) giành giải Nobel năm 1962 vì khám phá cấu trúc DNA.
Gần 40 năm sau, các nhà khoa học đã có thể đọc được tất cả DNA trong tế bào của chúng ta và cho thấy không có cơ sở khoa học nào cho khái niệm chủng tộc.
Con người từ những nhóm chủng tộc khác nhau có thể giống nhau hơn về mặt gen so với những người trong cùng chủng tộc. Các nghiên cứu về gen cũng cho thấy có nhiều đa dạng trong gen của Châu Phi hơn bên ngoài. (… cho thấy gien ở châu Phi đa dạng hơn ở những châu lục khác.)
© 2007 talawas
[1]Tham khảo bài “Mấy vấn đề về văn hoá trong cách xưng hô” trong Tiếng Việt, văn Việt, người Việt của Cao Xuân Hạo (Nxb Trẻ, 2003), trang 315-322, trong đó tác giả chỉ ra cái sắc thái khiêm tốn cùa đại từ nhân xưng tôi, do nghĩa gốc "tôi tớ", nhưng nay đã khá phai mờ. Cũng ở đây, xin trích (trang 320): (Xưng hô kiểu "gia tộc chủ nghĩa")… "đưa đến một không khí gia tộc hoàn toàn nhân tạo trong môi trường không cần đến không khí gia tộc. Thậm chí không thể chấp nhận thứ không khí này, vì nó quá thuận lợi cho chủ nghĩa con cháu (nepotism) và cho những thái độ kẻ cả của người này và thái độ khúm núm nịnh bợ của người kia."
[2]Sách đã dẫn, trang 305-313.
[3]Tiền xấu (giả, rách) đuổi tiền tốt (thật, lành)
[4]"Tiếng Việt: xuống cấp hay hội nhập?", Lao Động, 27-01-2003
Nam Dao
Cao Xuân Hạo, những nỗi niềm và trăn trở…
Tôi gặp anh lần đầu khi cùng Trịnh Công Sơn đến thăm anh ở Phú Nhuận. Trưa hôm đó, con gái anh và chị Thanh đang còn tuổi ô mai, đòi chú Sơn hát "Ở trọ" cho nghe. Anh ngồi, gật gù, cười nửa miệng với phong cách nho nhã ngày càng ít thấy. Sơn hát xong, anh ôm đàn, đáp lễ. Anh cũng hát, một bài thời anh tham gia kháng chiến, giọng trong và khoẻ, ngân nga luyến láy như ai. Hình như đó là bài có những câu như "chiều nay trên chiến khu trong rừng chiều, bên đèo tiếng suối reo… đạn bay vèo". Năm đó, năm 1982. Trên tập Về Kinh Bắc chỉ được in chính thức năm 94 tặng tôi, tức là 12 năm sau, anh Hoàng Cầm ghi: để nhớ một năm đầy hạnh phúc và oan nghiệt. Hạnh phúc, tôi yêu, rồi tôi quýnh quáng lấy vợ, quà tặng của anh Cầm là tập Về Kinh Bắc anh nắn nót chép tay cho tôi. Oan nghiệt, khi ra phi trường Tân Sơn Nhất, người ta cộp tôi lại, rà soát xem tôi có mang văn hoá phản động ra ngoài không? Tập thơ anh Cầm tặng, tôi gửi lại một người bạn. Bạn tôi gửi lại một người bạn khác. Và cuối cùng, chính Cao Xuân Hạo là người giữ để sau này trả về cho nhà thơ, người bị tù chẳng phải vì tuồn tập thơ ra hải ngoại mà vì cái tội bán rượu lậu (?!). Chuyện xưa, xưa như Diễm. Nhắc lại, vì nhớ Hạo, và cái không khí nặng nề của những năm tháng ngột ngạt thời cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên… "thiên đường mù", tên một cuốn tiểu thuyết vào những năm đổi mới sau này.
Đổi mới, tôi thôi bị (được?) cấm cửa, về Hà Nội năm 88. Lại có dịp gặp Hạo từ Sài Gòn ra, và lê la với Dương Tường, Phan Ngọc. Thời đó, báo chí hô khẩu hiệu thời thượng "đậm đà bản sắc dân tộc". Tôi không nhớ Hạo hay Phan Ngọc dí dỏm dịch qua tiếng Pháp là "imbus du caractère national!". Với Hạo, tôi có dịp gặp nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, khi đó chưa tiếng tăm. Hẹn nhau, tôi đến nơi Hạo ở tạm thì đã có TM, một người bạn của anh. Lát sau, Thiệp và một anh bạn vào. Chuyện trò với TM, tôi không để ý lắm đến người mặt mũi khắc khổ sần sùi thì thào to nhỏ với Hạo. Khi anh ta và bạn về, Hạo bảo: "… Đặc biệt đấy! Viết rất hay!". Thì ra nhà văn đến trao đổi với Hạo về dăm ba tác phẩm chưa in. Tôi hỏi, Hạo cho mượn bản thảo (trí nhớ tôi nay tồi, nhưng có thể là "Thương nhớ đồng quê" và "Ngọn gió Hua Tát"?). Đọc và dăm ngày sau tôi đi tìm Thiệp ở một cơ quan phát hành sách gần nhà Dương Tường ngõ Phan Huy Chú, sau tôi còn rủ rê nhà văn đi "rượu chè" ở tư gia đạo diễn Thanh Tú nhân dịp chị làm lễ cúng sao giải hạn. Ngày ấy, nhà văn còn rất dễ mến, hồn nhiên thủ thỉ: "Anh lôi tôi, tôi mới đi chứ tôi ít giao du!", chứ ai ngờ ít lâu sau "người" trở thành chủ quán nhậu Hoa Ban danh trấn giang hồ.
Phải bốn năm sau tôi mới gặp lại Hạo, lần này ở Paris. Oan nghiệp thế nào mà tôi đã tưởng "mút mùa" khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, nên gặp nhau, mừng mừng tủi tủi những chuyện xưa, chuyện nay, chuyện người, chuyện ngợm. Collège de France mời, anh đi và bảo đây là lần đầu được qua một xứ Tây Âu, có lẽ vì cuốn Phonologie et linéarité. Réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine (1985) anh in bên Pháp đã có tiếng vang. Trong những ngày nghỉ, chúng tôi lang thang, khi trên bờ sông Seine khu Quartier Latin, khi thì Monmartre, gần một cái appartement cô em Hạo để Hạo trú ngụ. Thời đó, Hạo rất năng động, viết lách khá nhiều, hăng hái làm việc với Tiểu ban Việt học Đại học Tổng hợp TPHCM, hào hứng thúc đẩy và xây dựng Hội Nghiên cứu Ngôn ngữ… Tâm sự, anh bảo nay chỉ mong ước một chuyện, là tiếp tục nghiên cứu và góp phần đào tạo một số anh em quan tâm đến tiếng Việt. Và như mọi lần, anh lại than tiếng Việt bây giờ ngọng nghịu bởi viết với ngữ pháp tiếng Tây. Anh cho rằng chữ Quốc ngữ ABC giữ được âm nhưng làm mất nghĩa, học thì lợi là nhanh nhưng hại ở chỗ mù mờ khiến kiến thức thường dàn trải mà không sâu. Anh lan man qua những vấn đề chuyên môn, cho rằng âm vị học khai triển ở phương Tây không thể dùng để phân tích những ngôn ngữ như tiếng Việt ta, vốn đơn âm, và cứ mỗi âm tiết (tiếng) là một đơn vị ngôn ngữ, không thể phân tích ra thành những âm tố, rồi nhiều âm vị, trong một cấu trúc ngữ pháp châu Âu mà mỗi tiếng có thể gồm nhiều yếu tố có ý nghĩa khu biệt. Trước niềm say mê của anh, tôi nghe. Dĩ nhiên như vịt nghe sấm, nhưng chẳng sao, cái anh truyền đạt được cho những người nghe anh nói là sự trân quí tiếng mẹ đẻ và tấm lòng trung trinh với văn hoá. Học thầy không tầy học bạn. Học giá trị sống, học cách làm người, lòng đam mê. Học những niềm hy vọng. Và cả những nỗi trăn trở.
Cuối 98 đầu 99, tôi lại hồi hương thời mình thôi bị "cấm vận". Gặp Hạo, vẫn trẻ măng, vẫn phong nhã, vẫn cứ một niềm say mê. Kể chuyện vui: sau giờ lên lớp của Hạo, chúng tôi ngồi uống bia ở một cái quán trong khuôn viên Đại học Tổng hợp TPHCM. Cô tiếp viên quen mặt Hạo, gọi bằng thầy, đi qua đi lại "phục vụ" khá chu đáo, cứ như "khách hàng là Thượng đế", ngay cho đám thầy trò nghèo rớt chỉ biết thưởng thức bia hơi và đậu phọng. Đợi Hạo vào toa-lét, cô đến gần hỏi: "Anh công tác ở Hà Nội?". Tôi gật, đá lông nheo, cái thói cứ có dịp là đùa nghịch. "Anh dzô luôn hay đi công tác ngắn hạn?" Tôi đáp: "Dzô luôn, sống ngoải cực lắm!". Thấy tôi bắt chước tiếng Sài Gòn, cô cười: "Chắc ngày trước ông bà già đi tập kết hả?" Tôi lại gật. Khi đó, Hạo ra và cô tiếp viên lui về đứng tựa quầy hàng. Cô liếc tôi, cứ tần ngần, lát sau mang ra mấy điếu ba số, lúng túng: "Em mời thầy, mời anh, hút cho vui!". Hạo ngạc nhiên. Đợi cô tiếp viên đi, Hạo cười tinh quái, bảo cô ta nhẵn mặt thầy mà nay mới mời thuốc, chắc chẳng phải vì thầy mà vì anh. Nhìn tôi dò hỏi, thấy tôi lắc đầu: "Nghịch ngợm ấy mà, kiểu anh hùng thấy chuyện… qua đường… chẳng tha, nhưng chỉ thế thôi!", Hạo hỏi: "Ông có đọc Zorba the Greek chưa?". Cười ha hả, Hạo tiếp: "Zorba nói, khi một người đàn bà đến anh dâng hiến tình yêu mà anh quay lưng, thì anh có biết thế là anh báng bổ thần linh không?". Ôi chao, nhưng tôi biết làm chi đây? Nhìn lên, ảnh Bác vẫn đó, Bác sống mãi trong sự nghiệp chúng ta. Nhìn xuống, cái thân mình Việt kiều bước đi một bước giây giây lại dừng và… nhìn về đàng sau, tôi ngậm ngùi lẩy Kiều: "Zorba thì mặc Zorba. Quan trên trông xuống, người ta trông vào… Thôi ông ạ, ta đi…"
Hoà hợp trong-ngoài tuỳ giá máy bay về nước, thời gian thoát được chuyện áo cơm, lại phụ thuộc vào độ phập phồng mở ra đóng vào trong "hoàn cảnh" đối ngoại nên năm năm sau tôi mới gặp anh. Lần này, Công ty Văn hoá Phương Nam đã mua lại tác quyền toàn bộ tác phẩm của anh, hẳn đời anh "tươi" hơn ít nhiều. Anh không còn ở đường Huỳnh Văn Bánh quận Phú Nhuận mà dọn đến phố Phạm Văn Chiêu ở Gò Vấp. "Lạ thật, ông Bánh rồi ông Chiêu lấy làm tên đường, nhưng ông có biết họ là ai không?", tôi hỏi. Hạo lắc đầu, đăm chiêu "… Chuyện lạ thì đất nước này nhiều lắm!". Anh mang ra cuốn Tiếng Việt, văn Việt, người Việt (Nxb Trẻ, 2003), giở trang 333, bài nói về tính hiếu học…, đọc một đoạn cho tôi nghe: mục Viết nhịu trong tạp chí Ngôn ngữ & đời sống của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam kê ra vài trăm lỗi viết về tri thức cơ bản thường thấy. Trong các sách giáo khoa đại học, có thể tìm ra 2000 câu lỗi như thế, và trên căn cứ có kiểm kê, khoảng 72% sách đại học đều chứng tỏ người viết không biết đến những tri thức ngôn ngữ sơ đẳng. Cuốn Nhập môn ngôn ngữ học được mang giảng dạy ngang nhiên phủ nhận tất cả thành tựu của ngành ngôn ngữ học của toàn nhân loại, và lấy tư cách Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Khoa học Xã hội tại TPHCM, năm 1997, Hạo gửi thư cho ông Giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn cùng ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo một thư dài kèm 200 trang tư liệu minh chứng, để kiểm tra và kết luận về tác hại của cuốn sách đó. Nhưng đến nay, tức 7 năm sau, vẫn chẳng có hồi âm, kể cả công văn báo đã nhận thư cũng không có!
Hôm đó là ngày mồng hai Tết. Đáng lẽ phải vui xuân, chúng tôi lại lẩn thẩn nói những chuyện cực lòng. Ngay cả đối với những giáo sư ngôn ngữ, chẳng lẽ họ lại coi thường tiếng mẹ đến thế sao? Họ chắc phải biết ngôn ngữ là lớp trầm tích sâu nhất của văn hoá, khai quật thì có thể soi rọi cách sống, từ tư duy, cảm nhận đến những quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân và cộng đồng… Lơ là để cho ngôn ngữ thành một thứ tạp nham dị dạng vô hồn, có thể nào, tôi nói liều, cả dân tộc này mắc chứng trầm cảm tập thể, giải quyết bệnh tâm thần bằng cách xô nhau làm giầu ăn xổi để khỏi suy nghĩ, hệt như trong một xã hội tiêu thụ vinh danh khách hàng như Thượng đế, tha hoá biến chính mình thành một món hàng không hơn không kém?
Trong tương quan giữa ngôn ngữ và văn hoá, tôi đặc biệt quan tâm đến những đại từ nhân xưng, trao đổi với Hạo dịp đó, và hứa sẽ đào sâu sau này. Ở ngôi thứ nhất dạng đơn, ngoài tôi, ta, tao, tớ, mỗ có tính hồi chỉ chính danh thì có lẽ đến 90% chúng ta dùng ngôi vị thân tộc và tuổi tác (con, cháu, anh, em…) để xưng hô. Ở dạng phức, ta ghép thêm từ chúng vào ta, tôi, tao. Ở ngôi thứ hai, ngoài từ mày, mi, bay xưng hô phần lớn tuỳ tuổi tác (cụ, ông, cha, mẹ, anh, em), chức năng hoặc cương vị (bác sĩ, giáo sư, ngài…), thường ở dạng đơn, thêm những hoặc các hoặc tụi hoặc bọn để chỉ dạng phức (nhưng xin lưu ý các anh, chứ chúng anh lại chỉ ngôi thứ nhất). Với hai ngôi này, rất ít đại từ có tính trung hoà được dùng trong đời sống, khác hẳn với những ngôn ngữ phương Tây (je, moi, tu, toi, nous, vous trong tiếng Pháp, I, you trong tiếng Anh) hoặc trong tiếng Trung Quốc (ngổ, nỉ… áp dụng một cách phổ biến ngay trong quan hệ gia đình giữa bố mẹ anh em). Nếu mày, tao được sử dụng giữa bè bạn thì chúng (tụi, bọn) bay, chúng (tụi, bọn) mày, chúng (tụi, bọn) tao (ta) thường chỉ những quan hệ những nhóm có ít nhiều đối kháng cành cựa với nhau. Đặc biệt hơn hết là nhân xưng trên cơ sở tuổi tác, địa vị, và liên hệ trên-dưới có tính thân tộc vừa miêu tả tạo ra một tương quan bất bình đẳng giữa những con người. Tác động tốt của nhân xưng thân tộc (cha mẹ cô chú anh em) một cách đại trà như thể mọi người cùng thuộc một gia đình là tạo ra liên kết tình cảm, nhưng mặt tích cực đó có thể bị triệt tiêu vì hai yếu tố. Thứ nhất, cái liên kết trên ảo; nó thể hiện một sự mong đợi trông chờ chứ không phải một hiện thực, và đẩy đến một cực nào đó, nó là sự giả trá chấp nhận như một qui ước. Thứ nhì, nhân xưng ở ngôi thứ nhất tự thân bị những ràng buộc trên-dưới, ảo-thực… nên khó có thể phát huy trọn vẹn cái tôi cá thể bị kiềm toả trong ngôn từ xưng hô phản ánh trật tự (thậm chí, đạo đức) của xã hội dựa trên nền tảng gia đình thị tộc [1] . Cái nền tảng đó do truyền giống nên tự nhiên và bất biến, hệ luận là từ cách xưng hô đó, cái trật tự kia cũng vậy, và con người sử dụng nó vô hình chung bị vi khuẩn "bảo thủ" ngấm vào đến tiềm thức, ứng xử thụ động trước mọi quyền lực ngoại tại.
Nhưng đáng chú ý là những đại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba. Tôi rất khó chịu khi phải sử dụng nàng và chàng, nghe nó cứ như "làm sao ấy", hơi "sên sến", lắm khi dùng không khéo thì phá tan nát cái không khí văn chương. "Thiếu gì từ khác", Hạo đáp. Hết thời gian nên tôi phải chia tay, hứa sẽ "lạm" bàn với Hạo lần gặp sau.
Ở ngôi thứ ba, ngôn ngữ ta quả không thiếu gì đại từ nhân xưng ở dạng đơn: giống đực: y, hắn; giống cái: ả, thị; trung tính: nó, va(?), nghỉ… chẳng hạn. Từ va và nghỉ hoặc là tiếng địa phương, hoặc là tiếng cổ, nay không còn thông dụng. Ở dạng phức, chỉ còn chúng (bọn, tụi) nó. Nhưng mỗi đại từ trên đều mang một nghĩa hàm ẩn, thường là nghĩa xấu. Thị, ta liên tưởng đến tôi đòi, quê kệch. Ả, tất ả giang hồ, đám xướng ca. Y, có vẻ gì như hiểm hóc, tối tăm. Còn hắn, đỡ hơn, nhưng chắc chắn xa lạ. Tóm lại, với những đại từ nhân xưng ngôi thứ ba vừa nêu lên, tính cách và thậm chí bản chất khác với chủ thể hiển ngôn ở ngôi thứ nhất. Nó thường hàm ẩn sự đánh giá, từ khinh miệt đến xa lánh, vì chuẩn mực "đạo đức" gắn vào danh xưng tưởng như trung hoà nhưng chính ra không phải vậy. Tưởng tượng một cuộc thoại giữa tôi với anh về một đệ tam nhân ở ngôi thứ ba. Danh xưng không thôi cũng có khả năng chia rẽ: gọi là y, là hắn, là nó… đều hàm chứa đánh giá đối tượng này. Bây giờ, giả thử có ba người và những cuộc đối thoại song phương về một người thứ ba. Đánh giá hàm ẩn qua đại từ nhân xưng gấp lên ba lần, tỉ lệ thuận với khả năng chia rẽ. Và có phải chính vì thế mà cứ có một người Việt thì công việc chạy hơn với hai người người ngoại quốc (người Nhật chẳng hạn), trong khi có ba người Việt thì lại không bằng chỉ với một người (như người Nhật chẳng hạn) như trong chuyện tiếu lâm tân thời. Ngôi thứ ba dạng phức cũng vậy. Chúng (bọn, tụi) nó có cái gì đó không thiện cảm chút nào, chẳng những xa lạ mà còn như đe doạ. Và chính vì vậy mà chúng ta lúc nào cũng phải đối phó với chúng nó, khi thì lao vào chiến tranh, lúc hoà bình thì ta dùng mẹo trong ngoại giao, trước sau bất tất cứ phải như một. Ở ngoài nước, tình trạng phân chia phe nhóm chúng ta hầu như có trong tất cả mọi cộng đồng rải rác khắp nơi. Chỉ khi chúng nó là một đe doạ thực sự thì chúng ta mới đoàn kết được.
Tôi vừa đưa ra giả thiết rằng tính chất của đại từ nhân xưng ngôi thứ ba có thể là một (một thôi, xin nhấn mạnh) trong những yếu tố giải minh tính chia rẽ giữa người Việt với nhau. Giả thiết này không đề đạt một hệ luận nhân-quả, thuần là một giả thiết về tương quan giữa ngôn ngữ với văn hoá và xã hội mà thôi. Trong tham luận "Ngôn ngữ học có thể đóng góp gì vào việc tìm hiểu tư duy và văn hoá Việt Nam?" đọc tại Hội nghị Quốc tế về các giá trị văn hoá phương Đông ở Hà Nội năm 1999 [2] , Cao Xuân Hạo đề nghị bảy vấn đề, hoặc hệ vấn đề, mà khi được giải quyết thích đáng sẽ dẫn đến những tìm tòi xa hơn. Anh viết: 1… 2… nhưng tôi xin chỉ kể:
7. Tại sao, và tự bao giờ, các thuật ngữ chỉ quan hệ thân thuộc được dùng thay cho các đại từ nhân xưng, các đại từ nhân xưng hồi chỉ chính danh trở thành vô lễ, và rốt cuộc trong tiếng Việt không còn có đại từ nào (kể cả đại từ hồi chỉ) có tính trung hoà… nữa? Hệ thống đại từ này có ảnh hưởng như thế nào đối với các quan hệ giữa người với người trong xã hội Việt Nam?
Là người "ngoại đạo" ngành ngôn ngữ, tôi vẫn đánh liều thử "lạm" bàn, lẽ ra là chỉ với Hạo lúc sinh thời, nhưng nay quá muộn nên đành viết ra để thay một nén hương thắp lên cho bạn. Đó là cách cá nhân tôi trả nợ, nhưng điều này nhỏ, tôi chỉ hy vọng làm xúc tác cho một cuộc tìm tòi nghiêm túc và có hệ thống.
Chuyện lớn hơn, tôi nay xin thưa. Tháng 8 năm ngoái, năm 2006, tôi lại gặp Hạo. Lần này, rõ là anh hơi tiều tuỵ, trầm ngâm hơn, nhưng lúc chuyện trò, anh vẫn giữ được chất lửa khi nói về những nỗi niềm và trăn trở. Trăn trở, anh lo chuyện lạm phát phi mã những mảnh bằng tiến sĩ, phó tiến sĩ. Những chức danh giáo sư, phó giáo sư. Anh sợ định luật Graham, như với tiền giấy hồi thế kỷ thứ 17 bên châu Âu, "la mauvaise monnaie chasse la bonne" [3] . Anh than vãn, báo chí tự thân có trách vụ văn hoá và giáo dục, nhất là với ngôn ngữ vì phần lớn người ta có đọc là đọc báo. Nhưng khốn thay, đội ngũ làm báo tắc trách, đáng lẽ nâng lên thì lại làm ngôn ngữ xuống cấp, mất ngữ nghĩa, mất trong sáng… mà tôi lấy một thí dụ điển hình trong phụ lục dưới đây.
Còn về nỗi niềm của anh, tôi xin chỉ kể ra đây một. Hỏi Hạo về khả năng nhóm cộng sự và môn sinh tiếp tục đào sâu những vấn đề học thuật anh chưa giải quyết được, anh trầm ngâm rất lâu, lát sau nói: "Mình cũng kỳ vọng ở họ rất nhiều, nhưng khả năng đâu chỉ tuỳ thuộc họ, nhất là ở cái buổi ‘hội nhập’ này, anh em làm khoa học đâu mang rao bán được cái gì trong kinh tế thị trường!". Mắt sáng lên, anh nói về một bộ những cuốn sách giáo khoa anh đã cùng họ soạn thảo với hy vọng thay thế những cuốn sách quái dị kiểu Nhập môn Ngôn ngữ học đã kể ở trên, hy vọng đem tiếng Việt thuần khiết chứ không sao chép ngữ pháp châu Âu trả về cho người Việt. Theo một bài phỏng vấn Cao Xuân Hạo trong báo Xuân Lao Động năm 2003 [4] thì:
Hỏi: Thời hội nhập, tiếng Việt có cần tuân theo những quy tắc truyền thống quá cứng nhắc nữa không; hay cần đơn giản hoá, thưa ông?
Đáp: Làm sao tiếng Việt chấp nhận những kiểu nói của tiếng châu Âu? Tôi không hẹp hòi, nhưng rõ ràng có một điều kiện tiên quyết và quyết định là đừng làm mâu thuẫn những quy tắc ngữ pháp cơ bản của tiếng Việt. Duy nhất trước đây có Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đặt vấn đề về một trong những quy tắc mà ngay chính các nhà ngôn ngữ học cũng không giải thích được, chỉ dùng theo bản năng. Nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học là hiển ngôn hoá những gì mà em bé năm tuổi chưa hiển ngôn được. Tôi đã viết gần xong 300 quy tắc như thế cho riêng tiếng Việt.
Tôi không biết các anh đã soạn xong bộ sách chưa, và nếu xong, những cơ quan có chức trách khu xử thế nào. Riêng mình, tôi cầu mong cho nó đến được tay những sinh viên, học sinh, những nhà văn nhà thơ, những biên tập viên, những nhà báo, ngài Chủ tịch Nước, ngài Thủ tướng, và vân vân.
Chia tay Hạo năm ngoái, tôi leo lên ngồi sau Honda của một người bạn, quay lại vẫy. Anh đứng trên lề đường, nhìn theo, và cười, vẫn cái cười phong nhã. Hẹn hò gặp nhau nay khép lại, vĩnh viễn. Mở cuốn sách anh đề tặng, … để nhớ những lần gặp nhau (về rất nhiều phương diện), tôi không khỏi bùi ngùi. Nhưng Hạo ạ, sống ở thác về. Sống thế nào, anh đã sống toàn vẹn. Còn thác, thì chuyện dĩ nhiên ấy mà. Và nơi về với một con người đã sống toàn vẹn là lòng những người ở lại.
Quebec 21-10-2007
Phụ lục
Nhặt cỏ dại trong một bài báo trên web của BBC tiếng Việt ngày 19-10-2007
Theo truyền thống nhặt cỏ dại, còn gọi là bắt sâu, trong báo chí, tôi xin làm công việc này với một bài báo (có thể đây chỉ là một trường hợp đơn lẻ). Những chữ hoặc câu in đậm là để lưu ý, phần trong ngoặc là cách tôi hiểu và đề nghị thay thế, hoặc giản dị là tôi không hiểu! Không phải có hậu ý phê phán BBC mà tôi đã được đọc những bài viết công phu và có chất lượng, tôi làm cái việc nhổ cỏ dại này chỉ nhằm thể hiện nỗi lo âu của những người thấy "tiếng Việt xuống cấp tới mức trầm trọng", trong đó có Giáo sư Cao Xuân Hạo, người đã lên tiếng đánh động nhiều lần.
Người tiên phong DNA bị đình chỉ
Tiên phong cho cái gì? Phải chăng: người tiên phong trong nghiên cứu về DNA?
Đình chỉ gì? Công sự, hợp tác? Đọc tựa, tôi không thể đoán ra nội dung. Đọc cả bài báo, tôi hiểu thế này:
Đình chỉ cộng sự của người tiên phong trong nghiên cứu về DNA
Cái tựa đề thêm 7 chữ, nhưng rõ nghĩa và tóm lược được nội dung bài báo.
Ông Watson nhận được những lời chỉ trích gay gắt vì những nhận xét của mình trên một tờ báo của (có cần không?) Anh vào cuối tuần trước.
Trong bài phỏng vấn, ông được trích dẫn đã nói rằng người Châu Phi kém thông minh hơn người Châu Âu.
Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor đã cho biết họ không có liên quan gì những lời nhận xét của ông, nhưng hội đồng quản trị đã đình chỉ ông.
(Đình chỉ một sự việc nào đó, chứ đình chỉ một người thì là gì? Bắt, giam, thải…? Có thể là: đình chỉ sự cộng tác với ông?)
Hoàn toàn xin lỗi
Ông Watson theo lịch sẽ có một bài diễn thuyết tại bảo tàng Khoa học ở Luân Đôn hôm thứ Sáu trong tour lưu diễn (lần ra mắt?) sách của ông. Nhưng bảo tàng này đã huỷ bỏ hoạt động này và (vì?) cho rằng nhà khoa học đã đi quá xa trong cuộc tranh cãi.
Liên hoan Ý tưởng tại Bristol cũng huỷ bỏ sự có mặt của ông Watson.
Ông Watson cũng nhận được lời chỉ trích gay gắt từ phía giáo sư Craig Venter, một nhà khoa học và cũng là một doanh nhân đã có những nỗ lực cá nhân trong việc giải mã gen (gien, chuyển âm cho đúng với tiếng Việt) và cũng tình cờ tới thăm Anh để quảng bá một cuốn sách. (Trong 1 câu mà 3 lần cũng!)
Ông Venter nói: “Màu da đại diện cho chủng tộc là một khái niệm xã hội, không phải khoa hoc”.. “Không có cơ sở khoa học nào về việc gen quy định màu da ở người ảnh hưởng tới trí tuệ.”
Trong bài phỏng vấn với tờ Sunday Times, giáo sư Watson giữ nỗi ảm đạm cố hữu về triển vọng của Châu Phi vì “tất cả những chính sách xã hội đều dựa vào việc họ có chung trí tuệ với chúng ta – trong khi các thí nghiệm không cho thấy điều đó”. (ảm đạm là một tĩnh từ, và tôi hiểu thế này: giáo sư Watson giữ sự bi quan cố hữu về…)
Ông còn cho biết thêm ông hi vọng mọi người đều bình đẳng nhưng “có lẽ những người phải đối phó (đối phó cái gì?) với những nhân viên da đen thì đã không tìm thấy điều này”.
Kể từ đó (?, sau đó?) nhà khoa học đã nói “Tôi có thể hiểu được tại sao những người đọc những lời lẽ đó lại phản ứng như vậy”.
“Gửi tới tất cả những người đã hiểu rằng Châu Phi, với tư cách là một châu lục, có phần thấp kém hơn về mặt di truyền, tôi hoàn toàn xin lỗi”.
“Tôi không có ý như vậy. Quan điểm của tôi là, không có cư (cơ?) sở khoa học nào cho việc tin tưởng (như) vậy”.
Nỗ lực khoa học
Trong các lời phát biểu trên tờ The Independent hôm thứ Sáu, giáo sư Watson cố gắng làm trong sạch tình thế (ông ta đi tắm? Chắc không phải thế, có thể là ông ta cố gắng làm minh bạch ý kiến) của mình.
“Chúng ta chưa hiểu rõ cách thức các môi trường khác nhau lựa chọn gen quyết định năng lực làm việc của chúng ta”. (môi trường không thể lựa chọn! Tôi ngầm hiểu rằng thiên nhiên lựa chọn, và câu trên có thể viết như sau: Chúng ta chưa hiểu phương thức lựa chọn gien, điều quyết định năng lực làm việc, trong những môi trường khác nhau.)
“Đây không phải là những thảo luận về việc hơn hay kém mà là để hiểu nguyên nhân của sự khác biệt, rằng tại sao một số người trở thành các nhạc sĩ tài ba trong khi số khác lại trở thành những kỹ sư giỏi”.
Giáo sư Watson là người đã cùng (với ai?) giành giải Nobel năm 1962 vì khám phá cấu trúc DNA.
Gần 40 năm sau, các nhà khoa học đã có thể đọc được tất cả DNA trong tế bào của chúng ta và cho thấy không có cơ sở khoa học nào cho khái niệm chủng tộc.
Con người từ những nhóm chủng tộc khác nhau có thể giống nhau hơn về mặt gen so với những người trong cùng chủng tộc. Các nghiên cứu về gen cũng cho thấy có nhiều đa dạng trong gen của Châu Phi hơn bên ngoài. (… cho thấy gien ở châu Phi đa dạng hơn ở những châu lục khác.)
© 2007 talawas
[1]Tham khảo bài “Mấy vấn đề về văn hoá trong cách xưng hô” trong Tiếng Việt, văn Việt, người Việt của Cao Xuân Hạo (Nxb Trẻ, 2003), trang 315-322, trong đó tác giả chỉ ra cái sắc thái khiêm tốn cùa đại từ nhân xưng tôi, do nghĩa gốc "tôi tớ", nhưng nay đã khá phai mờ. Cũng ở đây, xin trích (trang 320): (Xưng hô kiểu "gia tộc chủ nghĩa")… "đưa đến một không khí gia tộc hoàn toàn nhân tạo trong môi trường không cần đến không khí gia tộc. Thậm chí không thể chấp nhận thứ không khí này, vì nó quá thuận lợi cho chủ nghĩa con cháu (nepotism) và cho những thái độ kẻ cả của người này và thái độ khúm núm nịnh bợ của người kia."
[2]Sách đã dẫn, trang 305-313.
[3]Tiền xấu (giả, rách) đuổi tiền tốt (thật, lành)
[4]"Tiếng Việt: xuống cấp hay hội nhập?", Lao Động, 27-01-2003
Phan Ngọc Một vài suy nghĩ về nhà ngữ âm học lớn nhất Việt Nam
Phan Ngọc
Một vài suy nghĩ về nhà ngữ âm học lớn nhất Việt Nam
Cách đây hai tuần tôi nghe tin anh Cao Xuân Hạo đã vào nhà thương vì mắc bệnh nhũn não mà bàng hoàng. Tôi và anh Hạo quen thân nhau từ năm 1940, khi anh còn là cậu học sinh lớp 6 của trường trung học Công giáo Thiên Hựu ở Huế, bạn cùng lớp với cậu em con ông chú của tôi là Phan Thiều, và cho đến nay, vào năm 2007, tức là đã 67 năm. Tuy hoàn cảnh cuộc đời mỗi người có nhiều thay đổi, nhưng tình bạn của tôi đối với anh không thay đổi. Trong thời gian sau giai đoạn “Nhân văn - Giai phẩm”, sau khi cả hai đều mất công việc giảng dạy, chỉ còn làm phiên dịch, hai người thường đi chung với nhau. Người nào nhắc đến Phan Ngọc thì cũng nhắc đến Cao Xuân Hạo, và ngược lại cũng thế. Kể ra, điều này không phải là vô lý, vì tôi và anh Hạo có nhiều điểm chung, khiến chúng tôi khác nhiều người.
Tôi xin nói trước đến một vài điểm giống nhau.
Ai cũng nhận thấy anh Hạo thạo nhiều ngoại ngữ. Theo kinh nghiệm của tôi, điều này là dựa vào việc học tiếng Latinh. Người nào đã học tiếng Latinh cũng đều nhận thấy trong ngôn ngữ này, hệ thống biến hóa hình thái là vô cùng phức tạp. Hầu như mọi quan hệ hình thái có thể có trong các ngôn ngữ phương Tây, thì đều có sẵn trong tiếng Latinh, cho nên đã học tiếng Latinh thì việc nắm các quan hệ ngữ pháp của các ngôn ngữ châu Âu là hết sức dễ dàng, gần như không cần phải học. Còn về vốn từ, thì tối đại đa số các chính tố trong các tiếng châu Âu đều đã có sẵn trong tiếng Latinh, cho nên việc nhớ không phải vất vả. Đã thế, một câu tiếng Latinh trung bình có từ 200 đến 300 chữ. Khi dịch ra tiếng Pháp bắt buộc phải dịch thành 4-5 câu, vì tiếng Pháp là ngôn ngữ phân tích tính. Do đó mà học được cách ngắt câu và cách viết sao cho các câu tách rời này vẫn tạo thành một thể thống nhất chặt chẽ là điều hết sức cần thiết. Những điều này đều hết sức có lợi giúp người học biết phân tích, tổng hợp, hay biết cách dùng các từ đệm sao cho cả một loạt câu thành một thể thống nhất. Không phải ngẫu nhiên mà anh Hạo, cũng như Trương Vĩnh Ký đều rất giỏi ngoại ngữ. Anh Hạo còn hơn tôi về điểm anh rất thạo âm nhạc, đã từng là một nhạc công và một nhạc sĩ. Cho nên anh có tai rất tốt, và rất thạo cách bắt chước sao cho đúng với ngôn ngữ nước ngoài. Có thể nói anh là nhà ngôn ngữ học bẩm sinh, và đời tôi chưa gặp một người thứ hai có năng khiếu này như anh. Phần lớn các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, kể cả tôi và anh Nguyễn Tài Cẩn, đều do say mê ngôn ngữ học mà học suốt ngày nên có đôi chút thành tựu, chứ không phải là những nhà ngôn ngữ học bẩm sinh.
Anh Hạo cũng không bị kỷ luật làm nản chí, trái lại, càng lo làm việc tích cực hơn. Công việc cũng là dịch và làm khoa học. Anh đi vào âm vị học, tôi đi vào tín hiệu học để tìm hiểu tiếng Việt và văn hóa Việt. Hai ngành này đều cùng một gốc, theo cái xu hướng ngôn ngữ học mới ra đời sau những năm 30 của thế kỷ 20. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà hai người gắn bó với nhau và thường tâm sự với nhau. Chính tôi đã đưa anh vào trường đại học tổng hợp và sư phạm để làm giảng viên ngữ âm học, vì thực tế lúc bấy giờ chưa có ai thạo ngữ âm học. Còn tôi thì biết năng khiếu của anh về ngữ âm học từ những buổi trò chuyện ở trường trung học Nguyễn Xuân Ôn phủ Diễn Châu (Nghệ An), vào những năm 1947-1949, khi thầy Cao Xuân Huy còn làm hiệu trưởng.
Anh Hạo cũng như tôi đều đi con đường thức nhận. Khi đi con đường này, người làm khoa học không bó hẹp vào cách nhìn của mình để đưa ngay ra kết luận về một hiện tượng. Trái lại, anh ta đối lập cách nhìn của mình về một vấn đề nào đó với mọi cách nhìn có thể có cũng về vấn đề này. Bài viết toàn là đối lập và đối lập, và người viết cố gắng giải thích mọi kiến giải khác nhau để cuối cùng đưa ra kiến giải của mình mà anh ta cho là hợp thực tế. Rất tiếc là tôi và anh tuy có cộng tác với nhau trong việc dịch một vài tác phẩm, nhưng chưa hề có dịp cộng tác với nhau về văn hóa học hay ngôn ngữ học. Việc khen chê đúng sai là thuộc thực tế sau này, tôi không dám bàn đến.
Bây giờ nói đến chỗ khác nhau.
Chỗ khác nhau chủ yếu là ở lối sống. Tôi là nhà nho Việt Nam, về chuyện tình yêu tôi bó hẹp vào chuyện vợ chồng chung thủy. Tôi lại được đặc biệt may mắn có bà vợ hiền lo lắng cho tôi về mọi việc trong gia đình, cho nên tôi có điều kiện làm việc suốt ngày. Còn anh rất khổ sở về chuyện gia đình. Tôi xin phép chỉ nói đến giai đoạn trước năm 1975, khi hai người còn ở gần nhau, chủ yếu là ở Hà Nội. Còn giai đoạn sau khi đất nước thống nhất, hai người ở xa nhau, tôi ở Hà Nội, anh ở Thành phố Hồ Chí Minh, cho nên tôi không có ý kiến.
Trong thời gian trước 1975, anh không gặp may về chuyện lập gia đình, hầu như phải một mình gà trống nuôi con, lo cho hai cháu là Cao Xuân Minh và Cao Liễu Thanh mọi việc từ ăn uống đến sinh hoạt, nhất là trong thời gian đi sơ tán, cuộc sống cực kỳ vất vả.
Điểm khác nhau thứ hai là lối sống nhà nho của tôi rất khác lối sống nghệ sĩ của anh. Anh là người đẹp trai, hát hay, đàn giỏi nên có nhiều tình duyên. Tôi đã có lần xung đột với anh về chuyện này, có một thời gian anh giận tôi gần như cắt đứt quan hệ với tôi. Cách làm việc của anh cũng khác tôi. Anh có thể thức 3-4 đêm liền không ngủ để hoàn tất một công việc. Nhưng rồi sau đó lại đi lông bông cả tuần. Còn tôi thì sáng 6 giờ dậy, tối 11 giờ ngủ, ngày nào cũng như ngày nào, suốt cả cuộc đời như vậy.
Có câu tục ngữ Latinh nói: “Những lời nói bay đi, nhưng chữ viết thì còn lại”. Những lời nói của anh không khỏi gây rắc rối cho anh. Nhưng những bài viết của anh sẽ còn. Những công trình của anh về âm vị học sẽ tồn tại như những đóng góp có một không hai trong ngôn ngữ học Việt Nam. Tôi hy vọng các bài ấy sẽ được tập hợp và xuất bản để nêu bật giá trị của một nhà ngôn ngữ học Việt Nam có tầm cỡ quốc tế.
Công trình âm vị học lớn nhất của anh là tác phẩm Âm vị học tuyến tính, suy nghĩ về những định đề của âm vị học đương đại (Nxb Quốc gia - Hà Nội - 2001). Công trình này anh dịch từ tác phẩm của anh viết bằng tiếng Pháp Phonologie et Linéarité réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine (SELAF - Paris - 1985). Về trình độ tiếng Pháp của anh, đây là nhận xét của hai giáo sư A. G. Haudricourt và C. Hagège [1] :
“Trước hết, cần nói rằng tác giả là một nhà ngôn ngữ học Việt Nam chưa từng sống ở Pháp, nhưng đã viết cuốn sách dày 273 trang bằng một thứ Pháp văn tuyệt hảo.”
“Điểm thứ nhất mà một độc giả biết được bằng cách tiếp thu được trong sách là không làm gì có một môn học gọi là ngữ âm học” (phonétique); đó chẳng qua là một thứ “liên âm vị học” (interphonologie). Tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến này, nhưng tôi chưa bao giờ thuyết phục được các nhà ngữ âm học nghiệp dư (và các nhà ngữ âm học chuyên nghiệp nữa) hiểu được điều này”.
J. P. Chambon của trường đại học Nam Illinnois [2] đã nhận xét về bài viết của anh “Vấn đề âm vị trong tiếng Việt” như sau:
“Thế nhưng bài báo của Cao đã chứng minh một cách hoàn toàn chính xác rằng có những ngôn ngữ trong đó nguyên âm và phụ âm cũng chẳng có tính chiết đoạn gì hơn các thanh điệu.”
“Công trình của Cao chứa chất những hệ quả trọng đại.”
Chúng tôi thấy có nói cũng thừa, không bằng chính lời của J. P. Chambon đã nói. Tôi chỉ nhắc đến câu kết luận:
“Sự thật là có lẽ phải nhìn về cái hướng mà Cao Xuân Hạo đã chỉ ra, chứ không phải về cái hướng của ngữ pháp tạo sinh cải biến, để tìm kiếm một cuộc cách mạng Copernic trong ngôn ngữ học hiện đại. Chẳng phải là một sự kiện có tính quy luật đó sao, khi lời chất vấn khẩn thiết này đến với chúng ta từ một nước xã hội chủ nghĩa thuộc Thế giới Thứ ba?” (Tôi nhấn mạnh).
Theo tôi, Cao Xuân Hạo là người Việt Nam đầu tiên đã góp được một tiếng nói quan trọng vào lý luận ngôn ngữ học của thế giới. Đây là mơ ước lớn nhất của một người làm khoa học. Trong bài này, tôi cố tình không nhắc đến chức vụ và tên từng tác phẩm của anh, và tôi gọi “anh Cao Xuân Hạo” với tư cách người anh cả của ngành âm vị học. Tôi tin chắc uy tín của anh sẽ còn và sẽ lớn lên với thời gian. Cái chết là chung cho mọi người, nhưng việc sống sau khi chết lại là rất hiếm. Trong những người ấy sẽ có anh Cao Xuân Hạo.
[1]Tập san của Hội Ngôn ngữ học, tập XI, 1986, trang 37-41.
[2]J. P. Chambon, Tạp chí các ngôn ngữ La Mã, Trung tâm nghiên cứu khoa học, tập LXXIII, tháng 11-1978, tập 1.
Một vài suy nghĩ về nhà ngữ âm học lớn nhất Việt Nam
Cách đây hai tuần tôi nghe tin anh Cao Xuân Hạo đã vào nhà thương vì mắc bệnh nhũn não mà bàng hoàng. Tôi và anh Hạo quen thân nhau từ năm 1940, khi anh còn là cậu học sinh lớp 6 của trường trung học Công giáo Thiên Hựu ở Huế, bạn cùng lớp với cậu em con ông chú của tôi là Phan Thiều, và cho đến nay, vào năm 2007, tức là đã 67 năm. Tuy hoàn cảnh cuộc đời mỗi người có nhiều thay đổi, nhưng tình bạn của tôi đối với anh không thay đổi. Trong thời gian sau giai đoạn “Nhân văn - Giai phẩm”, sau khi cả hai đều mất công việc giảng dạy, chỉ còn làm phiên dịch, hai người thường đi chung với nhau. Người nào nhắc đến Phan Ngọc thì cũng nhắc đến Cao Xuân Hạo, và ngược lại cũng thế. Kể ra, điều này không phải là vô lý, vì tôi và anh Hạo có nhiều điểm chung, khiến chúng tôi khác nhiều người.
Tôi xin nói trước đến một vài điểm giống nhau.
Ai cũng nhận thấy anh Hạo thạo nhiều ngoại ngữ. Theo kinh nghiệm của tôi, điều này là dựa vào việc học tiếng Latinh. Người nào đã học tiếng Latinh cũng đều nhận thấy trong ngôn ngữ này, hệ thống biến hóa hình thái là vô cùng phức tạp. Hầu như mọi quan hệ hình thái có thể có trong các ngôn ngữ phương Tây, thì đều có sẵn trong tiếng Latinh, cho nên đã học tiếng Latinh thì việc nắm các quan hệ ngữ pháp của các ngôn ngữ châu Âu là hết sức dễ dàng, gần như không cần phải học. Còn về vốn từ, thì tối đại đa số các chính tố trong các tiếng châu Âu đều đã có sẵn trong tiếng Latinh, cho nên việc nhớ không phải vất vả. Đã thế, một câu tiếng Latinh trung bình có từ 200 đến 300 chữ. Khi dịch ra tiếng Pháp bắt buộc phải dịch thành 4-5 câu, vì tiếng Pháp là ngôn ngữ phân tích tính. Do đó mà học được cách ngắt câu và cách viết sao cho các câu tách rời này vẫn tạo thành một thể thống nhất chặt chẽ là điều hết sức cần thiết. Những điều này đều hết sức có lợi giúp người học biết phân tích, tổng hợp, hay biết cách dùng các từ đệm sao cho cả một loạt câu thành một thể thống nhất. Không phải ngẫu nhiên mà anh Hạo, cũng như Trương Vĩnh Ký đều rất giỏi ngoại ngữ. Anh Hạo còn hơn tôi về điểm anh rất thạo âm nhạc, đã từng là một nhạc công và một nhạc sĩ. Cho nên anh có tai rất tốt, và rất thạo cách bắt chước sao cho đúng với ngôn ngữ nước ngoài. Có thể nói anh là nhà ngôn ngữ học bẩm sinh, và đời tôi chưa gặp một người thứ hai có năng khiếu này như anh. Phần lớn các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, kể cả tôi và anh Nguyễn Tài Cẩn, đều do say mê ngôn ngữ học mà học suốt ngày nên có đôi chút thành tựu, chứ không phải là những nhà ngôn ngữ học bẩm sinh.
Anh Hạo cũng không bị kỷ luật làm nản chí, trái lại, càng lo làm việc tích cực hơn. Công việc cũng là dịch và làm khoa học. Anh đi vào âm vị học, tôi đi vào tín hiệu học để tìm hiểu tiếng Việt và văn hóa Việt. Hai ngành này đều cùng một gốc, theo cái xu hướng ngôn ngữ học mới ra đời sau những năm 30 của thế kỷ 20. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà hai người gắn bó với nhau và thường tâm sự với nhau. Chính tôi đã đưa anh vào trường đại học tổng hợp và sư phạm để làm giảng viên ngữ âm học, vì thực tế lúc bấy giờ chưa có ai thạo ngữ âm học. Còn tôi thì biết năng khiếu của anh về ngữ âm học từ những buổi trò chuyện ở trường trung học Nguyễn Xuân Ôn phủ Diễn Châu (Nghệ An), vào những năm 1947-1949, khi thầy Cao Xuân Huy còn làm hiệu trưởng.
Anh Hạo cũng như tôi đều đi con đường thức nhận. Khi đi con đường này, người làm khoa học không bó hẹp vào cách nhìn của mình để đưa ngay ra kết luận về một hiện tượng. Trái lại, anh ta đối lập cách nhìn của mình về một vấn đề nào đó với mọi cách nhìn có thể có cũng về vấn đề này. Bài viết toàn là đối lập và đối lập, và người viết cố gắng giải thích mọi kiến giải khác nhau để cuối cùng đưa ra kiến giải của mình mà anh ta cho là hợp thực tế. Rất tiếc là tôi và anh tuy có cộng tác với nhau trong việc dịch một vài tác phẩm, nhưng chưa hề có dịp cộng tác với nhau về văn hóa học hay ngôn ngữ học. Việc khen chê đúng sai là thuộc thực tế sau này, tôi không dám bàn đến.
Bây giờ nói đến chỗ khác nhau.
Chỗ khác nhau chủ yếu là ở lối sống. Tôi là nhà nho Việt Nam, về chuyện tình yêu tôi bó hẹp vào chuyện vợ chồng chung thủy. Tôi lại được đặc biệt may mắn có bà vợ hiền lo lắng cho tôi về mọi việc trong gia đình, cho nên tôi có điều kiện làm việc suốt ngày. Còn anh rất khổ sở về chuyện gia đình. Tôi xin phép chỉ nói đến giai đoạn trước năm 1975, khi hai người còn ở gần nhau, chủ yếu là ở Hà Nội. Còn giai đoạn sau khi đất nước thống nhất, hai người ở xa nhau, tôi ở Hà Nội, anh ở Thành phố Hồ Chí Minh, cho nên tôi không có ý kiến.
Trong thời gian trước 1975, anh không gặp may về chuyện lập gia đình, hầu như phải một mình gà trống nuôi con, lo cho hai cháu là Cao Xuân Minh và Cao Liễu Thanh mọi việc từ ăn uống đến sinh hoạt, nhất là trong thời gian đi sơ tán, cuộc sống cực kỳ vất vả.
Điểm khác nhau thứ hai là lối sống nhà nho của tôi rất khác lối sống nghệ sĩ của anh. Anh là người đẹp trai, hát hay, đàn giỏi nên có nhiều tình duyên. Tôi đã có lần xung đột với anh về chuyện này, có một thời gian anh giận tôi gần như cắt đứt quan hệ với tôi. Cách làm việc của anh cũng khác tôi. Anh có thể thức 3-4 đêm liền không ngủ để hoàn tất một công việc. Nhưng rồi sau đó lại đi lông bông cả tuần. Còn tôi thì sáng 6 giờ dậy, tối 11 giờ ngủ, ngày nào cũng như ngày nào, suốt cả cuộc đời như vậy.
Có câu tục ngữ Latinh nói: “Những lời nói bay đi, nhưng chữ viết thì còn lại”. Những lời nói của anh không khỏi gây rắc rối cho anh. Nhưng những bài viết của anh sẽ còn. Những công trình của anh về âm vị học sẽ tồn tại như những đóng góp có một không hai trong ngôn ngữ học Việt Nam. Tôi hy vọng các bài ấy sẽ được tập hợp và xuất bản để nêu bật giá trị của một nhà ngôn ngữ học Việt Nam có tầm cỡ quốc tế.
Công trình âm vị học lớn nhất của anh là tác phẩm Âm vị học tuyến tính, suy nghĩ về những định đề của âm vị học đương đại (Nxb Quốc gia - Hà Nội - 2001). Công trình này anh dịch từ tác phẩm của anh viết bằng tiếng Pháp Phonologie et Linéarité réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine (SELAF - Paris - 1985). Về trình độ tiếng Pháp của anh, đây là nhận xét của hai giáo sư A. G. Haudricourt và C. Hagège [1] :
“Trước hết, cần nói rằng tác giả là một nhà ngôn ngữ học Việt Nam chưa từng sống ở Pháp, nhưng đã viết cuốn sách dày 273 trang bằng một thứ Pháp văn tuyệt hảo.”
“Điểm thứ nhất mà một độc giả biết được bằng cách tiếp thu được trong sách là không làm gì có một môn học gọi là ngữ âm học” (phonétique); đó chẳng qua là một thứ “liên âm vị học” (interphonologie). Tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến này, nhưng tôi chưa bao giờ thuyết phục được các nhà ngữ âm học nghiệp dư (và các nhà ngữ âm học chuyên nghiệp nữa) hiểu được điều này”.
J. P. Chambon của trường đại học Nam Illinnois [2] đã nhận xét về bài viết của anh “Vấn đề âm vị trong tiếng Việt” như sau:
“Thế nhưng bài báo của Cao đã chứng minh một cách hoàn toàn chính xác rằng có những ngôn ngữ trong đó nguyên âm và phụ âm cũng chẳng có tính chiết đoạn gì hơn các thanh điệu.”
“Công trình của Cao chứa chất những hệ quả trọng đại.”
Chúng tôi thấy có nói cũng thừa, không bằng chính lời của J. P. Chambon đã nói. Tôi chỉ nhắc đến câu kết luận:
“Sự thật là có lẽ phải nhìn về cái hướng mà Cao Xuân Hạo đã chỉ ra, chứ không phải về cái hướng của ngữ pháp tạo sinh cải biến, để tìm kiếm một cuộc cách mạng Copernic trong ngôn ngữ học hiện đại. Chẳng phải là một sự kiện có tính quy luật đó sao, khi lời chất vấn khẩn thiết này đến với chúng ta từ một nước xã hội chủ nghĩa thuộc Thế giới Thứ ba?” (Tôi nhấn mạnh).
Theo tôi, Cao Xuân Hạo là người Việt Nam đầu tiên đã góp được một tiếng nói quan trọng vào lý luận ngôn ngữ học của thế giới. Đây là mơ ước lớn nhất của một người làm khoa học. Trong bài này, tôi cố tình không nhắc đến chức vụ và tên từng tác phẩm của anh, và tôi gọi “anh Cao Xuân Hạo” với tư cách người anh cả của ngành âm vị học. Tôi tin chắc uy tín của anh sẽ còn và sẽ lớn lên với thời gian. Cái chết là chung cho mọi người, nhưng việc sống sau khi chết lại là rất hiếm. Trong những người ấy sẽ có anh Cao Xuân Hạo.
[1]Tập san của Hội Ngôn ngữ học, tập XI, 1986, trang 37-41.
[2]J. P. Chambon, Tạp chí các ngôn ngữ La Mã, Trung tâm nghiên cứu khoa học, tập LXXIII, tháng 11-1978, tập 1.
Bùi Kỷ : Ngôn ngữ và văn chương Việt Nam
Bùi Kỷ
Ngôn ngữ và văn chương Việt Nam
(Kỉ niệm 120 năm sinh Bùi Kỷ 05.01.1888 - 05.01.2008)
Lời người sưu tầm
Vào dịp kỷ niệm 120 năm sinh Bùi Kỷ (1888-2008), định tìm một văn bản nào đó để hậu thế được dịp nghe lại lời văn một nhà nghiên cứu tiên khu về ngữ văn Việt Nam, nhưng trong sưu tập Thơ văn Bùi Kỷ do nhà nghiên cứu quá cố Nguyễn Văn Huyền thực hiện (Hà Nội, 1994: Nxb. KHXH) lại chỉ có một số thơ văn chứ hầu như không có bài nghiên cứu nào của cụ Ưu Thiên. Đang toan rút lấy một vài chương đoạn trong sách Quốc văn cụ thể của cụ thì chợt nhớ trên Phụ trương văn chương của nhật báo Trung lập ở Sài Gòn hồi 1931 có đăng nhiều kỳ một bài của Phó bảng Bùi Kỷ. Tôi trở lại tìm và lấy được bài đó, xin trân trọng dùng làm của tin của người xưa gửi lại cho người nay.
Xin nhắc lại rằng cụ Bùi Kỷ (1888-1960, tự Ưu Thiên, hiệu Tử Chương) xuất thân trong một gia đình Hán học, nhà ở Châu Cầu, Phủ Lý; cha là Tiến sĩ Bùi Thức (1859-1915); ông nội là Phó bảng Bùi Văn Quế (1837-1913); bản thân Bùi Kỷ đỗ Cử nhân 1909, đỗ Phó bảng 1910, khi mới 24 tuổi, được bổ làm Huấn đạo nhưng từ chối, lấy cớ ở nhà phụng dưỡng cha già, và tự tìm đọc “tân thư”, học chữ Quốc ngữ và Pháp văn. Năm 1912 Bùi Kỷ được nhà nước Bảo hộ đưa sang học trường thuộc địa ở Paris, ở đấy từng xúc tiếp với Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc; hai năm sau về nước không chịu ra làm quan, chỉ chuyên dạy học, viết sách. Cụ là một trong những người cộng tác tích cực với Trần Trọng Kim và một số học giả khác như Trần Văn Giáp, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Quang Oánh, v.v… trong việc soạn thảo các cuốn sách giáo khoa về tiếng Việt và văn chương Việt Nam dùng trong hệ thống nhà trường Pháp - Việt đương thời. Cụ là soạn giả đóng vai trò chủ yếu trong việc soạn thảo Việt Nam tự điển của hội Khai trí Tiến đức. Cụ là giảng viên người Việt đầu tiên về các môn Hán văn và Việt văn ở trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương mà học trò khoá đầu là những Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, v.v…; cụ cũng là đồng nghiệp hồi những năm 1930 của các nhà giáo ở trường tư thục Thăng Long (Hà Nội) như Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, v.v…
Trong hồi ức của nhiều học trò và đồng nghiệp, Bùi Kỷ thường được nhắc nhở như một nhà khoa bảng đỗ đạt cao nhưng khinh thường hoạn lộ, và khi nghiên cứu thường khảo thẳng vào để gắng đọc ra những đặc tính cần biết của đối tượng. Những nét của phương pháp Âu Tây đã hiện diện trong tư duy của nhà nghiên cứu trong khi cảm thức Á Đông vẫn hầu như còn nguyên trong tâm cảm nhà nho người Việt này. Đó có lẽ là những nét nên nhớ về một con người, một trí thức, đối với các thế hệ hậu thế, hơn là lặp lại những lời ca ngợi tuy to tát nhưng sáo rỗng.
Xin giới thiệu bài nghiên cứu này với bạn đọc.
Lại Nguyên Ân
*
… Mỗi một quốc âm là hồn của một dân tộc, từ tính tình, tư cách, tập tục, cho đến trình độ tiến hoá của một dân tộc, đều có thể xét ở quốc âm mà biết được. Cứ như ý riêng tôi nghĩ thì phàm thứ tiếng nào đã hay mà làm được văn chương, thì tiếng ấy không phải là tiếng tầm thường, phàm nước nào đã có tiếng làm được văn chương hay, thì nước ấy không phải là nước tầm thường (cái ý kiến này đã nói ở trong bài bia kỷ niệm cụ Tiên Điền).
Vậy nay ta thử xét kỹ xem, tiếng ta nên để vào hạng nào, có phải là hạng tầm thường không?
Tiếng ta thuộc về một loài tiếng đan âm. Chữ cổ thế nào, nay chưa xét ra hoặc không có, hoặc có mà chưa thành lập, rồi mất đi, đến nay không có bằng chứng rõ ràng để tra khảo, cho nên vẫn còn là một vấn đề khuyết nghi. Song cứ lấy ngay tiếng mà xét, thì thấy cái cách kết cấu và dung hợp thật là thần diệu và tinh vi. Tiếng có tiếng bằng tiếng trắc, bằng chia làm hai thanh, trắc chia làm bốn thanh. Trừ những tiếng nguyên là tiếng trắc thì chỉ có hai thanh, còn hết thảy tiếng bằng đều có đủ cả sáu thanh. Ví như “Việt Nam”, Việt nguyên là tiếng trắc, thì chỉ có hai thanh “viết” và “việt”; Nam là tiếng bằng thì có đủ cả sáu thanh: “nam”, “nàm”, “nám”, “nảm”, “nãm”, “nạm”. Vì tiếng có nhiều thanh thì mỗi một thanh có thể thành một nghĩa, thì gọi là tiếng đơn; khi nào phải dùng đến hai thanh mới thành một nghĩa, thì gọi là tiếng đôi và tiếng ghép.
Nay tôi xin kể qua mấy thứ tiếng làm thí dụ:
1. Hoán-âm là tiếng thuộc về tiếng đơn, vốn cùng gốc bởi một nghĩa, mà đọc làm thanh khác để đặt thêm một nghĩa, hoặc hơi khác nhau, hoặc khác nhau hẳn, như tiếng miệng với miếng, lững với lưng, ủng với ung, ứ với ừ.
2. Điệp-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng đôi, một tiếng đọc lắp lại hai lần, làm cho kém nghĩa đi, như con con, to to, xanh xanh, vàng vàng… Trừ khi nào hai thanh trắc đi luôn với nhau, thì thanh đầu đọc làm bằng cho dễ đọc như đo đỏ, lơn lớn.
3. Hình-dung-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng đôi; ta không có chữ, cho nên không có chữ tượng hình, hài thanh, hội ý như chữ Tàu, song nhờ có tiếng hình dung, dẫu cái gì khó mô tả đến đâu, cũng mô tả ra được, như đủng đỉnh, lững thững, thánh thót, lác đác, long đong, bông lông, nếu chia đôi hai thanh mà tìm nghĩa, thì chẳng có nghĩa gì, song hợp hai thanh lại mà đọc lên, tự khắc tưởng tượng ra hình như mắt đã trông thấy cái thái trạng gì, tai đã nghe thấy cái xoang điệu gì, hay trong ý đã hiểu thấu cái cảnh huống gì.
4. Chính-phụ-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng đôi, tiếng trên có nghĩa gọi là chính, tiếng dưới không có nghĩa gọi là phụ, song tiếng chính nào có riêng tiếng phụ ấy, khi tiếng phụ đi với tiếng chính, lại làm cho rõ thêm nghĩa tiếng chính ra, như tiếng lẽo đi với lạnh, tiếng tênh đi với buồn, tiếng xoá đi với trắng, tiếng xì đi với đen.
5. Thấu-hợp-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng ghép, nguyên hai tiếng vốn có nghĩa riêng, khi ghép vào làm một, lại thành ra một nghĩa khác, như bản lề, cửa võng, v.v…
6. Phân-loại-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng đơn, nguyên là tiếng danh hô, rồi dùng làm tiếng phân loại. Tiếng ta không có chia giống đực giống cái, song nhờ có tiếng phân loại, dùng để đề chỉ cái gì cũng rõ. Tiếng con tiếng cái là tiếng phân loại chung, còn khi nào tiếng con tiếng cái không dùng được, thì hết thảy những tiếng danh hô đều dùng làm tiếng phân loại, ví như cuộc vui, đám hội, tiếng cuộc tiếng đám là tiếng phân loại, dùng theo nghĩa chính; quả núi, cây bông, cánh tay, tiếng quả, cây, cánh là tiếng phân loại, dùng theo nghĩa rộng hay nghĩa mượn. Còn như tiếng nào không thể phân loại được hay không cần phải phân loại như trời, đất, nước, lửa, bố, mẹ, anh, chị, không dùng đến tiếng phân loại bao giờ. Xem thế thì thấy cách dùng tuy giản dị song thật là tinh vi và hợp lý.
Tôi kể qua mấy thứ tiếng như trên này, không phải là định cắt nghĩa về mẹo luật tiếng ta, cốt là để bày tỏ cái hay của tiếng ta, tiếng chưa có chữ mà hay, thì cái hay cũng lạ lùng thật.
Tiếng ta nguyên có cái tư cách đủ thành lập làm một thứ tiếng của một nước, cho nên tuy không có chữ viết, tiếng ta vẫn thông dụng trong nước, không những thế, dẫu có cái thế lực của văn tự nước ngoài đưa đến, tiếng ta cũng không hề suy giảm đi chút nào.
Nước ta từ thời kỳ nội thuộc, chữ Tàu đã tràn sang ta, đến thời kỳ độc lập, trong nước dùng toàn chữ Tàu, thứ nhất tự nhà Trần trở về sau, Hán học cực thịnh, tiếng ta không những không thấy suy kém đi, mà lại càng giàu thêm mãi lên, - lấy bề ngoài mà xét thì cái thế lực chữ Tàu muốn thần phục cả tiếng ta, như tự Bắc Trung Hoa nuốt cả Nam Trung Hoa, song lấy bề trong mà xét thì chính là cái thế lực của tiếng ta đủ đối địch lại nổi chữ Tàu, lại thâu thái được hết thảy cái hay của Tàu làm cái hay của tiếng ta, cho nên chữ Tàu thịnh hành bao nhiêu thì cái kho tiếng ta sung túc bấy nhiêu.
Một thứ tiếng bỏ vơ bỏ vất trong hơn hai ngàn năm, học hiệu không giảng đến, khoa cử không dùng đến, vua quan ít khi công nhận đến, sĩ phu ít khi luyện tập đến, nằm ở dưới cái áp lực thật mạnh mẽ thật nặng nề của chữ Hán, là một thứ chữ cực tinh vi tường bị ở Á Đông, mà vẫn sinh tồn phồn tư được mãi mãi, lại càng ngày càng nở ra như hoa, thêu ra như gấm, thì thật quả không phải là một thứ tiếng tầm thường, mà cái hay cũng không phải là cái hay tầm thường.
Tiếng đã hay như thế cho nên không những chỉ dùng làm tiếng nói thông thường, mà khi dùng để tả cảnh vật hay cảm hoài hay thế thái nhân tình vẫn dồi dào mà không thiếu.
Xem ngay những ca dao ngạn ngữ từ xưa lưu truyền đến nay như những câu:
1. Ai làm lở biển rung ngàn
Cho ổ cá vỡ cho đàn chim bay?
2. Con sông nước chảy đôi dòng
Đèn khêu đôi ngọn em trông ngọn nào?
3. Ta về ta tắm ao ta
Dầu trong dầu đục vẫn là ao quen
4. Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Những câu này tuy ngắn ngủi mộc mạc mà thật là uyển chuyển du dương, đủ làm chứng rằng: tiếng ta tuy không có chữ viết, song đã đủ gây nên một áng văn chương ở cõi Giao Chỉ cửu quận rồi.
*
Ai cũng biết rằng nước ta tự xưa vẫn dùng chữ Hán làm thứ chữ công ở trong nước, song vì ở bên cạnh thứ văn viết bằng chữ Hán vẫn có một thứ văn, ngâm nga phúng vịnh bởi cái thiên lai tự nhiên lưu lộ ra bằng tiếng ta, tả rõ được cái thiên chân cực lan man, cái tư tưởng cực thuần phác, cái chí thú cực hoà nhã và thanh tao, thứ văn ấy là cái hồn thiêng liêng của cõi Cổ Việt, không tài nào tiêu ma mai một đi được, cho nên bên cạnh chữ Hán mới đặt ra chữ Nôm để biên chép những thứ văn viết bằng tiếng ta.
Các tiên nho truyền lại, cho chữ Nôm có từ đời Trần, cách đặt chữ theo y như phép lục thư của Tàu: tượng hình, hội ý, hài thanh, chỉ sự, chuyển chú, giả tá. Nay xét trong chữ Nôm có thể tìm ra được mấy phép như sau này:
1. Chữ phút (chữ Nôm): tượng hình
2. Chữ trời (chữ Nôm): hội ý
3. Chữ đất (chữ Nôm): giả tá
4. Chữ xanh (chữ Nôm), chữ đỏ (chữ Nôm): một nửa là hội ý, một nửa là hài thanh
5. Còn những chữ nào thêm dấu “nhấp nháy” ở bên cạnh là chuyển chú.
Xem thế thì so với phép lục thư của Tàu, chữ Nôm thiếu một phép chỉ sự. Cách đặt thật là cẩu giản, chưa lấy gì làm tường bị, song xem như quyển Kiều, ngoại ba ngàn câu dùng đến ngoại hai vạn tiếng, chữ Nôm cũng đủ để chép, trong ngần ấy tiếng, trừ những tiếng viết hẳn bằng chữ Hán, hay những chữ trùng nhau, còn đến mấy ngàn tiếng viết bằng chữ Nôm, thì chữ Nôm đặt cũng gần đủ rồi. Giá phỏng từ trước, ta công nhận ngay chữ Nôm làm thứ chữ công, nhân cái phương pháp sẵn mà chỉnh đốn tu bổ lại, thì chữ Nôm thật là một thứ chữ tiện lợi và thích hợp với tiếng ta, vì tiếng ta quá nửa gốc ở chữ Tàu, mà chữ Nôm lại là một thứ chữ mượn ở chữ Tàu, thì trong khi ta đọc, càng nhận được cái nguyên hình của nó, mà ta học cũng dễ.
Song tiếc thay! Tiếng ta, ta đã không nhìn nhận đến, chữ đặt ra, ta cũng không đoái hoài đến, như có nhà không giữ, phải đi ở nhờ, có ruộng không cày, phải đi làm mướn, để đến nỗi thứ chữ có thể dùng mà không thành lập được, thì ta còn đổ lỗi cho ai!
Nay nhờ có chữ Quốc ngữ dùng hai mươi ba chữ cái, đặt tiếng nguyên âm, tiếng phát âm, lại có năm dấu để đánh vần ra các tiếng, rất là giản dị và dễ học, ta có thể dùng làm một thứ chữ viết để thay vào chữ Nôm, song hiềm vì còn có vài điều hơi bất tiện cho ta:
1. Chữ Quốc ngữ chỉ nhờ ở phù hiệu để đánh vần chứ kỳ thật thì không có hình chữ, ta thử nói ngay tính danh của chúng ta như Trần-Chung, Nguyễn-Chính, Lê-Bảo, Phạm-Trân, mà một bên viết bằng chữ Quốc ngữ một bên viết bằng chữ ta, thì bên nào trông có ý nghĩa hơn?
2. Quốc ngữ chưa phân biệt được tiếng đồng âm, như năm là năm tháng, năm là năm sáu, minh là sáng, minh là tối, minh là thề, minh là kêu, minh là khắc, không tài nào viết cho khác nhau.
3. Chữ đánh dấu cả ở dưới ở trên, viết hay nhầm mà coi không đẹp. Theo thiển kiến của tôi thì chữ Quốc ngữ còn có mấy cái khuyết điểm như đã kể ở trên này, song ta cũng không lấy làm phàn nàn, vì không có cái gì mới sáng tạo ra mà đã mỹ mãn ngay, nếu ta lưu tâm dụng công mà tìm được những cách ổn thiện để sửa đổi lại, lo gì sau này chữ Quốc ngữ không phải là một thứ chữ cực hoàn toàn của nước ta.
*
Tiếng và chữ của ta tôi nói đại khái như thế tưởng cũng đủ rồi, nay tôi xin nói qua về các lối văn. Văn ta có hai nguồn gốc: một là bởi cái âm hưởng tự nhiên của chúng ta mà thành ra những thể tài riêng, gọi là Việt-Hán văn; hai là bắt chước lối văn của Tàu mà đặt bằng tiếng ta gọi là Việt văn. Vì có hai nguồn gốc ấy cho nên sinh ra nhiều lối văn, song tóm cả lại, có thể chia làm bốn lối:
1. Có vần mà không đối nhau, như lục bát (Việt văn), thơ cổ phong, từ khúc (Hán-Việt văn)
2. Có vần mà đối nhau, như song thất (Việt văn), thơ luật, phú (Hán-Việt văn)
3. Đối nhau mà không có vần, như tứ lục: hịch, trướng, chiếu, biểu cận thể (Hán-Việt văn)
Tôi xin bày tỏ mấy lẽ để xét thử hai cái nguồn gốc văn chương ấy thành ra bao nhiêu chi phái và cách liên lạc với nhau là thế nào.
Văn nước nào cũng phát nguyên trước tiên bằng văn vần. Văn ta phát nguyên lối lục bát, văn Tàu phát nguyên bằng lối thơ, hai lối đều là lối văn vần song đặt lục bát vần ở chữ thứ sáu và thứ tám; trong câu bát có hai vần: chữ thứ sáu dùng để nối vần với chữ thứ sáu câu trên, còn chữ thứ tám để khởi vần cho câu lục nối theo câu ấy, vì ở trong một câu bát, chữ thứ sáu và chữ thứ tám dùng để gieo hai vần bằng, cho nên hai chữ không được đi cùng một thanh, nghĩa là một tiếng đoản bình thanh (tiếng không có dấu huyền) đi với tiếng trung bình thanh (tiếng có dấu huyền). Còn lối thơ cổ thì gieo cả vần bằng và vần trắc mà vần ở cuối cùng câu. Nay thử lấy bốn câu lục bát:
Núi chìm hang nổi lần lần,
Trơ trơ trong cõi hồng trần một ta.
Năm năm xuân trẻ thu già,
Cây xanh mây trắng xa xa lại gần.
so với bốn câu thơ cổ phong:
Gió chiều lá lác đác,
Chim hôm bay xào xạc.
Gánh củi lững thững về,
Đường quen không sợ lạc.
thì thấy trong bốn câu lục bát: hai câu trên có hai vần, câu thứ hai, thứ ba, thứ tư ba vần; còn bài thơ thì bốn vần ở cuối cùng câu. Xem thế thì lối lục bát chỉ gieo được đến ba câu là cùng, còn lối thơ muốn gieo bao nhiêu vần cũng được.
Song thất khác với lục bát là gieo cả vần trắc: câu thất trên vần ở cuối cùng, câu thất dưới vần ở chữ thứ năm và thứ bảy, nếu câu thất trên, chữ cuối cùng là tiếng trắc thì câu thất dưới chữ thứ năm nối vần với tiếng trắc, mà chữ thứ bảy nhất định phải là tiếng bằng; nếu câu thất trên chữ cuối cùng là tiếng bằng thì câu thất dưới chữ thứ năm nối với vần bằng, mà chữ thứ bảy nhất định là tiếng trắc. Lối song thất lại còn một điều khác với lối lục bát, là hai câu có khi đặt đối nhau. Thí dụ mấy câu như sau này:
Lò dung chú không than vẫn cháy,
Khoá tuần hoàn chẳng máy mà xoay.
Dại làm sao dại ngáp mắc may,
Khôn như thế khôn hay gặp rủi
Xem như trong bốn câu thơ này thì thấy hai câu trên và hai câu dưới đối nhau, còn cách gieo vần thì cứ chữ thứ năm câu thất dưới nối với chữ cuối cùng câu trên, câu thứ nhất, thứ nhì có hai vần trắc; câu thứ nhì, thứ ba, thứ tư có ba vần bằng, gieo vần cũng chỉ được đến ba vần là cùng, như lối lục bát vậy. Song lối đối nhau và lối gieo vần ở chữ thứ năm, không phải là một luật bó buộc, xem như mấy câu này:
Mắt danh lợi thế thôi là thế,
Mặt trần ai ai đã biết ai
Gieo vần khác nhau. Lục bát chỉ dùng vần bằng. Câu lục vần ở cuối cùng. Câu:
Tội chi kệ nệ cái hình hài,
Đeo thêm nặng chữ tài cho mệt
Xét trong bốn câu này: hai câu trên đối nhau mà không có vần, hai câu dưới không đối nhau mà có vần, thì biết rằng lối đối nhau và lối gieo vần ở chữ thứ năm, không phải là một lệ nhất định.
Nói tóm lại, Việt văn chỉ có hai lối là lục bát và song thất rồi thành ra các biến thể, như hát xẩm là biến thể của lục bát, hát nói (ả đào) là biến thể của song thất; khi nào dung hợp cả hai lối như Tần cung oán, Chinh phụ ngâm thì gọi là song thất lục bát.
Còn lối văn Tàu thì phát nguyên từ cổ thi, rồi thêm lối Đường luật; phàm bao nhiêu từ khúc ca hành đều là biến thể của cổ thi cả; phú cũng là biến thể của thơ, phú lại biến ra tứ lục (biền ngẫu) cho đến kinh nghĩa, văn sách, đều gốc ở lối phú cả.
Trong thời kỳ ta học Hán tự, dùng hết thảy lối Hán văn, để dạy và thi học trò, lâu ngày thông dụng cả nước, các nhà văn sĩ bắt chước lối văn ấy, viết bằng tiếng ta mà thứ nhất là thơ, phú, tứ lục, thành hẳn như là lối văn của ta vậy. Nay xem như tập thơ Bạch Vân am, bài phú Tây hồ, bài văn Tế trận vong tướng sĩ, bài hịch dụ Bắc thành trung nghĩa của ông Lê Huy Đao, lối văn mượn của Tàu, văn viết bằng tiếng ta, mà đặc sắc, cái tuyệt diệu có thể bá trọng với văn Tàu, thật đủ làm vẻ vang cho cái giá trị của tiếng ta vậy.
Nay ta xét xem hai cái nguồn gốc văn chương tại làm sao mà có thể hoà hợp với nhau được.
1. Tiếng ta cùng tiếng Tàu đều thuộc về loài đơn âm, cho nên ta có thể thâu thái chữ Tàu làm văn liệu của ta.
2. Lối lục bát giống cổ thi của Tàu. Thí dụ:
Khối tình lăn lóc cổ câm
Cõi trần được một tri âm cũng nhiều
Vườn đào gió sớm mưa chiều
Lấy ai mà giải mọi điều não can?
Bốn câu này là bốn câu lục bát, song giá phỏng lấy nguyên câu thứ nhì, thứ ba, và câu thứ tư bỏ đi hai chữ cuối cùng, thì thấy có ba câu cổ thi hay là ba câu ca hành ở trong.
Cõi trần được một tri âm cũng nhiều
Vườn đào gió sớm mưa chiều
Lấy ai mà giải mọi điều
Lối song thất giống lối tứ lục. Thí dụ:
Bụi vơ vẩn, bóng câu vì vụt
Mây tần ngần trận nhạn loi thoi
Năm tháng ngày dừng lại mũi thoi
Sống lâu mãi mà coi cho thích
Bốn câu này tức là bốn câu song quan của lối tứ lục, chỉ khác nhau một chút, là lối song thất đặt nối vần.
Vì lối văn ta và văn Tàu có cái liên lạc với nhau như thế, tự nhiên có thể hoà hợp với nhau, mà không bao giờ mâu thuẫn, cho nên không những ta đã dùng được những chính thể ở trong lối văn Tàu, mà ta lại đặt ra được nhiều lối tạp thể, dùng lẫn cả lối văn Tàu ta vào trong một bài văn, như hát tỳ bà là bài thơ đi với một khúc song thất lục bát, hát thiên thai là bài thơ đi với bốn câu lục bát mà thứ nhất là lối hát chèo tuồng, là lối hợp dụng cả bốn lối văn như vừa kể trên kia.
Chèo tuồng là những lối văn có thể cảm động được nhân tâm, bổ ích cho phong hoá, chính là một vấn đề mà ngày nay ta cần phải kê cứu đến, tiếc thay tôi không phải là một nhà chuyên môn, chỉ biết được ngạnh khái mà thôi.
Bộ Vũ trung tuỳ bút chép rằng: đời Lý có bọn đạo sĩ nhà Tống sang ta, dạy lối phấn hý, tức là lối hát chèo; bộ Kiến văn tiểu lục lại chép rằng: đởi Trần lúc đánh Toa-Đô, bắt được bọn ưu nhân là Lý Nguyên Cát, đặt ra những lối truyện ký, như Tây vương mẫu hiến đào, v.v… tức là lối hát tuồng.
Lối chèo câu hát đặt như câu nói chuyện, thỉnh thoảng đặt chêm lẫn lối thơ, lối biền ngẫu (câu song quan), giọng hát có ví, than, ngâm, giọng phổ thông nhất là giọng đường trường, sa lệch, mà cái đặc sắc của chèo là những câu khôi hài. Lối tuồng câu hát đặt phần nhiều theo lối song thất hay biền ngẫu, thỉnh thoảng chêm lẫn lối lục bát, giọng hát có giáo đầu, xướng, vãn, loạn nam bắc, tẩu mã, v.v… Lối hát tự Trần về trước thất lạc không lưu truyền lại; đến đời Lê Hồng Đức, vua Thánh Tông sai các văn thần là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh định lại các lối hát, chia làm hai bộ: Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ Đồng văn chuyên về âm luật, bộ Nhã nhạc chuyên về bài hát, giọng hát, có đặt ra làm tám lối hát: hoang chung, cung nam, cung bắc cung, đại thực, dương kiều, âm kiều, hà nam, hà bắc, gọi là “bát đoan cẩm”. Hai bộ ấy dùng làm bộ hát của triều đình, còn ở dân gian thì đặt ra giáo phường để trông coi các lối hát cho có thể thống.
Đến cuối Lê, bộ Đồng văn và Nhã nhạc chẳng qua chỉ là chiếu lệ, kỳ thực nhạc chế và ca bản đã sai ngoa gần hết, còn chủ giáo phường chỉ trông coi về đào kép mà thôi; những lối bát đoan cẩm nào còn lại, lẫn vào với lối hát cửa đình, hát ả đào, song hoàng cung gọi sai làm cung huỳnh, đại thực làm đại thạch, dương kiều làm kiều dương, hà nam làm sà nam, ngay tên khúc hát đã nói sai, thì khúc bản chắc cũng mất mát gần hết. Ấy là lối hát chèo hát bội của ta đã suy ngay từ cuối đời Lê rồi.
Song xét trong những bản nảo [1] cũ, có nhiều câu đọc lên khoái trí lắm, thành ra một lối văn riêng, nay xin trích mấy câu:
1. Chèo Trương Viên (hề hát):
Phú tê tê, ông sao Hôm, phú lý chừng hồ mọc, ông sao Mai. Phú lý chừng hồ lặn, hỡi cô nhiễu chúa múa kia, đứng dậy mà về, kẻo sương pha lác đác, lác đác lạnh lùng.
2. Chèo Lưu Bình (hề nói):
Dạ lạy bác bác gọi tôi là thằng sơ,
Dạ lạy bác, sơ còn có tích,
Con nhớ ngày xưa con đi học, sách “Tam tự kinh”có câu “nhân chi sơ”
Đến sau con nên chín nên mười,
Làm thơ như đổ son vào,
Cũng có ông sơ ông phúc.
Trong Chu lễ cũng có sơ xuân, sơ hạ, sơ thu, sơ đông.
Bốn mùa ấy cũng phải lấy sơ làm thủ.
Vậy có thơ rằng:
Thiên thượng cửu trùng ban hạ chính
Nhân gian vạn lý phó xuân sơ.
3. Tuồng Sơn hậu (hồi bà Nguyệt Tam cung chị Tạ Thiên Lăng đi tu):
Một cây sinh năm bảy cành hoa,
Hưởng phú quý cũng là hậu quả.
Xin tuyệt nẻo sinh sinh hoá hoá,
Được khỏi vòng khứ khứ lai lai.
4. Tuồng Ngũ hổ quá quan (hồi Địch mẫu than con):
Gánh hào kiệt để trong vũ trụ,
Nợ anh hùng phụ với giang san,
Sinh con ra khám nám hơn vàng
(Ai ngờ con) làm cho mẹ luống bơ vơ đầu bạc.
5. Tuồng Tam nữ (hồi Phương Cơ qua sông):
Quân nói:
Bóng câu bay bổng qua sông
Hỏi thăm em đã có chồng hay chưa?
Có chồng năm ngoái năm xưa,
Năm nay chồng để như chưa có chồng
Phương Cơ nói:
Khen ai miệng mặt khéo chìu,
Cắt lìa trung nghĩa như mài lưỡi gươm.
Thương ai công nghiệp nửa chừng,
Cây rung khi gió lửa bừng khi mưa.
Thương ai ai đã bõ chưa?
Trăm năm đái lệ, một giờ tang thương.
Những câu này, tuy chỉ là một cánh ở trong cây bông hoa, một sợi ở trong cả tấm, song đọc lên hay nghe thấy, ta không nên vội chê cười bọn mặt mày lấc xấc như thù nho, áo mũ lăng nhăng như ưu mãnh mà bảo rằng không có cái đặc sắc văn chương.
Lối chèo tuồng cũ không phải là dở cả, song sở dĩ càng ngày càng suy đồi đi, là vì các văn gia không mấy khi lưu tâm đến, bản mới hiếm có bản hay, bản cũ ít có người sưu tập; hãy nói ngay như tấn tuồng “Bách bảo” là tấn tuồng rất có giá trị, mượn các vị thuốc để ví một cái cảnh triều đình, mới có năm sáu năm mươi nay mà đã tam sao thất bản, khó lòng tìm được cả nguyên văn, đủ biết ta tự xưa đối với nghề chèo tuồng vẫn hay giữ một cái thái độ lãnh đạm, mà lại có khi khinh rẻ, cho là những nghề hèn thấp, không thèm ngó nhìn đến.
Ít lâu nay, nhân có cái phong trào mới, cả nước cổ vũ về quốc văn, ta bắt đầu để ý đến nghề diễn hý. Lối chèo tuồng đã thấy sửa đổi ít nhiều, lại thêm một lối hát mới đặt bằng văn xuôi là kịch bản; xét chữ kịch không có nghĩa riêng, có thể dùng để gọi chung cả lối chèo lối tuồng, song công chúng đã công nhận cho chữ kịch có một nghĩa, khác với chèo tuồng, thì chữ kịch tự nhiên thành một nghĩa riêng, vậy lối kịch và lối chèo tuồng cộng cả lại, là trong hý viện của ta ngày nay có ba lối hát.
Theo về phương diện cải lương, thì lối kịch so với hai lối kia, có phần tiện lợi hơn: phần thì không phải hát hò hét, không có kèn trống om sòm, phần thì bày cảnh, chia tấn cũng dễ, làm cho công chúng hiểu ngay. Song theo về phương diện văn chương thì mỗi lối có một cái hay, có một cái khó, không nên thiên khinh thiên trọng lối nào.
Lối chèo thuộc về văn trào phúng, đặt câu cần phải thoát sáo mà có lý thú, hý hước mà không thô tục; lối tuồng thuộc về văn trang nhã, điển cố, chỗ nên tả ra cực hùng tráng, chỗ nên tả ra cực đường chánh, chỗ nên tả ra cực lâm ly, và lại đặt câu theo lối song thất hay lối tứ lục, thì cú pháp lại phải tề chỉnh lắm; lối kịch thuộc về văn trân tự cũng như đoản thiên tiểu thuyết cốt nhất ở cách phô diễn có từng thứ khúc triết lý và minh bạch, và mỗi một vai ra phải có một khẩu văn riêng, nghĩa là hạng người nào có giọng nói của hạng người ấy. Đại khái cái hay và cái khó của ba lối là thế.
Song lại còn một điều rất quan thiết mà các nhà làm văn cần phải cứu đến, là cách hoà hợp của âm và thanh. Âm là tiếng nói ở trong miệng ra, có thần âm, xỉ âm, thiệt âm, hầu âm, tỵ âm, ngạc thương âm; thanh là cùng một âm mà đọc ra giọng lên giọng xuống khác nhau. Tiếng ta trừ âm trắc chỉ có hai thanh, còn âm bằng thì có đủ sáu thanh như tôi đã nói ở trên. Song ta thường thấy có khi viết một câu văn mà đọc lên khó đọc, nghe ra khó nghe, là tại làm sao? Là có khi mấy âm đi với nhau không thuận, mấy thanh đi với nhau không kêu, thí dụ âm há to miệng đi luôn ngay với âm ngậm miệng như bá với bóp, chụp với cá; ba thanh trắc đồng thanh đi luôn với nhau, như cá-lá-sá, dục-lục-tục, thế là phạm vào luật khổ độc vậy.
Vậy cách hoà hợp của âm và thanh tuy thuộc về một phần hình chất, song có quan hệ đến xoang điệu tiết tấu ở trong bài văn, các văn gia không nên khinh thường mà không lý hội đến.
Mong rằng các nhà có nhiệt thành có hứng thú về quốc văn, nhân tiếng ta sẵn là một thứ tiếng hay, trước đã có cái nguồn gốc cũ là Hán văn, nay lại thêm cái nguồn gốc mới là Âu văn, mà kê cứu một ngày một thâm, luyện tập một ngày một tinh, để cho những cuốn kiệt tác thuộc về cả lối văn một ngày một phát hiện ra nhiều, thì vẻ vang cho tiếng ta biết là chừng nào, cho nước ta biết là chừng nào!
[1]nảo (hay não?) có nghĩa là bản nháp, bản thảo (viết tay). Từ này không thấy có trong các từ điển từ Việt cổ. Ở đây căn cứ vào một số bài trên báo Trung lập ở Sài Gòn, chẳng hạn Bùi Thế Mỹ ở Phụ trương văn chương số 23 (Trung lập, 3/10/1931) có bài nhan đề: “Làm văn có nảo không?”, trong đó tác giả nói rõ nghĩa của “nảo” là “bổn nháp, bổn thảo”… “theo tiếng Sài Gòn, tôi để nảo (brouillon)” (LNA)
Nguồn: Trung lập, Sài Gòn, số 6469 (Phụ trương văn chương số 8, thứ bảy 20 Juin 1931); số 6475 (PTVC số 9, thứ bảy 27 Juin 1931); số 6481 (PTVC số 10, thứ bảy 4 Juillet 1931); số 6487 (PTVC số 11, thứ bảy 11 Juillet 1931); số 6497 (PTVC số 13, thứ bảy 25 Juillet 1931)
Ngôn ngữ và văn chương Việt Nam
(Kỉ niệm 120 năm sinh Bùi Kỷ 05.01.1888 - 05.01.2008)
Lời người sưu tầm
Vào dịp kỷ niệm 120 năm sinh Bùi Kỷ (1888-2008), định tìm một văn bản nào đó để hậu thế được dịp nghe lại lời văn một nhà nghiên cứu tiên khu về ngữ văn Việt Nam, nhưng trong sưu tập Thơ văn Bùi Kỷ do nhà nghiên cứu quá cố Nguyễn Văn Huyền thực hiện (Hà Nội, 1994: Nxb. KHXH) lại chỉ có một số thơ văn chứ hầu như không có bài nghiên cứu nào của cụ Ưu Thiên. Đang toan rút lấy một vài chương đoạn trong sách Quốc văn cụ thể của cụ thì chợt nhớ trên Phụ trương văn chương của nhật báo Trung lập ở Sài Gòn hồi 1931 có đăng nhiều kỳ một bài của Phó bảng Bùi Kỷ. Tôi trở lại tìm và lấy được bài đó, xin trân trọng dùng làm của tin của người xưa gửi lại cho người nay.
Xin nhắc lại rằng cụ Bùi Kỷ (1888-1960, tự Ưu Thiên, hiệu Tử Chương) xuất thân trong một gia đình Hán học, nhà ở Châu Cầu, Phủ Lý; cha là Tiến sĩ Bùi Thức (1859-1915); ông nội là Phó bảng Bùi Văn Quế (1837-1913); bản thân Bùi Kỷ đỗ Cử nhân 1909, đỗ Phó bảng 1910, khi mới 24 tuổi, được bổ làm Huấn đạo nhưng từ chối, lấy cớ ở nhà phụng dưỡng cha già, và tự tìm đọc “tân thư”, học chữ Quốc ngữ và Pháp văn. Năm 1912 Bùi Kỷ được nhà nước Bảo hộ đưa sang học trường thuộc địa ở Paris, ở đấy từng xúc tiếp với Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc; hai năm sau về nước không chịu ra làm quan, chỉ chuyên dạy học, viết sách. Cụ là một trong những người cộng tác tích cực với Trần Trọng Kim và một số học giả khác như Trần Văn Giáp, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Quang Oánh, v.v… trong việc soạn thảo các cuốn sách giáo khoa về tiếng Việt và văn chương Việt Nam dùng trong hệ thống nhà trường Pháp - Việt đương thời. Cụ là soạn giả đóng vai trò chủ yếu trong việc soạn thảo Việt Nam tự điển của hội Khai trí Tiến đức. Cụ là giảng viên người Việt đầu tiên về các môn Hán văn và Việt văn ở trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương mà học trò khoá đầu là những Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, v.v…; cụ cũng là đồng nghiệp hồi những năm 1930 của các nhà giáo ở trường tư thục Thăng Long (Hà Nội) như Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, v.v…
Trong hồi ức của nhiều học trò và đồng nghiệp, Bùi Kỷ thường được nhắc nhở như một nhà khoa bảng đỗ đạt cao nhưng khinh thường hoạn lộ, và khi nghiên cứu thường khảo thẳng vào để gắng đọc ra những đặc tính cần biết của đối tượng. Những nét của phương pháp Âu Tây đã hiện diện trong tư duy của nhà nghiên cứu trong khi cảm thức Á Đông vẫn hầu như còn nguyên trong tâm cảm nhà nho người Việt này. Đó có lẽ là những nét nên nhớ về một con người, một trí thức, đối với các thế hệ hậu thế, hơn là lặp lại những lời ca ngợi tuy to tát nhưng sáo rỗng.
Xin giới thiệu bài nghiên cứu này với bạn đọc.
Lại Nguyên Ân
*
… Mỗi một quốc âm là hồn của một dân tộc, từ tính tình, tư cách, tập tục, cho đến trình độ tiến hoá của một dân tộc, đều có thể xét ở quốc âm mà biết được. Cứ như ý riêng tôi nghĩ thì phàm thứ tiếng nào đã hay mà làm được văn chương, thì tiếng ấy không phải là tiếng tầm thường, phàm nước nào đã có tiếng làm được văn chương hay, thì nước ấy không phải là nước tầm thường (cái ý kiến này đã nói ở trong bài bia kỷ niệm cụ Tiên Điền).
Vậy nay ta thử xét kỹ xem, tiếng ta nên để vào hạng nào, có phải là hạng tầm thường không?
Tiếng ta thuộc về một loài tiếng đan âm. Chữ cổ thế nào, nay chưa xét ra hoặc không có, hoặc có mà chưa thành lập, rồi mất đi, đến nay không có bằng chứng rõ ràng để tra khảo, cho nên vẫn còn là một vấn đề khuyết nghi. Song cứ lấy ngay tiếng mà xét, thì thấy cái cách kết cấu và dung hợp thật là thần diệu và tinh vi. Tiếng có tiếng bằng tiếng trắc, bằng chia làm hai thanh, trắc chia làm bốn thanh. Trừ những tiếng nguyên là tiếng trắc thì chỉ có hai thanh, còn hết thảy tiếng bằng đều có đủ cả sáu thanh. Ví như “Việt Nam”, Việt nguyên là tiếng trắc, thì chỉ có hai thanh “viết” và “việt”; Nam là tiếng bằng thì có đủ cả sáu thanh: “nam”, “nàm”, “nám”, “nảm”, “nãm”, “nạm”. Vì tiếng có nhiều thanh thì mỗi một thanh có thể thành một nghĩa, thì gọi là tiếng đơn; khi nào phải dùng đến hai thanh mới thành một nghĩa, thì gọi là tiếng đôi và tiếng ghép.
Nay tôi xin kể qua mấy thứ tiếng làm thí dụ:
1. Hoán-âm là tiếng thuộc về tiếng đơn, vốn cùng gốc bởi một nghĩa, mà đọc làm thanh khác để đặt thêm một nghĩa, hoặc hơi khác nhau, hoặc khác nhau hẳn, như tiếng miệng với miếng, lững với lưng, ủng với ung, ứ với ừ.
2. Điệp-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng đôi, một tiếng đọc lắp lại hai lần, làm cho kém nghĩa đi, như con con, to to, xanh xanh, vàng vàng… Trừ khi nào hai thanh trắc đi luôn với nhau, thì thanh đầu đọc làm bằng cho dễ đọc như đo đỏ, lơn lớn.
3. Hình-dung-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng đôi; ta không có chữ, cho nên không có chữ tượng hình, hài thanh, hội ý như chữ Tàu, song nhờ có tiếng hình dung, dẫu cái gì khó mô tả đến đâu, cũng mô tả ra được, như đủng đỉnh, lững thững, thánh thót, lác đác, long đong, bông lông, nếu chia đôi hai thanh mà tìm nghĩa, thì chẳng có nghĩa gì, song hợp hai thanh lại mà đọc lên, tự khắc tưởng tượng ra hình như mắt đã trông thấy cái thái trạng gì, tai đã nghe thấy cái xoang điệu gì, hay trong ý đã hiểu thấu cái cảnh huống gì.
4. Chính-phụ-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng đôi, tiếng trên có nghĩa gọi là chính, tiếng dưới không có nghĩa gọi là phụ, song tiếng chính nào có riêng tiếng phụ ấy, khi tiếng phụ đi với tiếng chính, lại làm cho rõ thêm nghĩa tiếng chính ra, như tiếng lẽo đi với lạnh, tiếng tênh đi với buồn, tiếng xoá đi với trắng, tiếng xì đi với đen.
5. Thấu-hợp-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng ghép, nguyên hai tiếng vốn có nghĩa riêng, khi ghép vào làm một, lại thành ra một nghĩa khác, như bản lề, cửa võng, v.v…
6. Phân-loại-âm là thứ tiếng thuộc về tiếng đơn, nguyên là tiếng danh hô, rồi dùng làm tiếng phân loại. Tiếng ta không có chia giống đực giống cái, song nhờ có tiếng phân loại, dùng để đề chỉ cái gì cũng rõ. Tiếng con tiếng cái là tiếng phân loại chung, còn khi nào tiếng con tiếng cái không dùng được, thì hết thảy những tiếng danh hô đều dùng làm tiếng phân loại, ví như cuộc vui, đám hội, tiếng cuộc tiếng đám là tiếng phân loại, dùng theo nghĩa chính; quả núi, cây bông, cánh tay, tiếng quả, cây, cánh là tiếng phân loại, dùng theo nghĩa rộng hay nghĩa mượn. Còn như tiếng nào không thể phân loại được hay không cần phải phân loại như trời, đất, nước, lửa, bố, mẹ, anh, chị, không dùng đến tiếng phân loại bao giờ. Xem thế thì thấy cách dùng tuy giản dị song thật là tinh vi và hợp lý.
Tôi kể qua mấy thứ tiếng như trên này, không phải là định cắt nghĩa về mẹo luật tiếng ta, cốt là để bày tỏ cái hay của tiếng ta, tiếng chưa có chữ mà hay, thì cái hay cũng lạ lùng thật.
Tiếng ta nguyên có cái tư cách đủ thành lập làm một thứ tiếng của một nước, cho nên tuy không có chữ viết, tiếng ta vẫn thông dụng trong nước, không những thế, dẫu có cái thế lực của văn tự nước ngoài đưa đến, tiếng ta cũng không hề suy giảm đi chút nào.
Nước ta từ thời kỳ nội thuộc, chữ Tàu đã tràn sang ta, đến thời kỳ độc lập, trong nước dùng toàn chữ Tàu, thứ nhất tự nhà Trần trở về sau, Hán học cực thịnh, tiếng ta không những không thấy suy kém đi, mà lại càng giàu thêm mãi lên, - lấy bề ngoài mà xét thì cái thế lực chữ Tàu muốn thần phục cả tiếng ta, như tự Bắc Trung Hoa nuốt cả Nam Trung Hoa, song lấy bề trong mà xét thì chính là cái thế lực của tiếng ta đủ đối địch lại nổi chữ Tàu, lại thâu thái được hết thảy cái hay của Tàu làm cái hay của tiếng ta, cho nên chữ Tàu thịnh hành bao nhiêu thì cái kho tiếng ta sung túc bấy nhiêu.
Một thứ tiếng bỏ vơ bỏ vất trong hơn hai ngàn năm, học hiệu không giảng đến, khoa cử không dùng đến, vua quan ít khi công nhận đến, sĩ phu ít khi luyện tập đến, nằm ở dưới cái áp lực thật mạnh mẽ thật nặng nề của chữ Hán, là một thứ chữ cực tinh vi tường bị ở Á Đông, mà vẫn sinh tồn phồn tư được mãi mãi, lại càng ngày càng nở ra như hoa, thêu ra như gấm, thì thật quả không phải là một thứ tiếng tầm thường, mà cái hay cũng không phải là cái hay tầm thường.
Tiếng đã hay như thế cho nên không những chỉ dùng làm tiếng nói thông thường, mà khi dùng để tả cảnh vật hay cảm hoài hay thế thái nhân tình vẫn dồi dào mà không thiếu.
Xem ngay những ca dao ngạn ngữ từ xưa lưu truyền đến nay như những câu:
1. Ai làm lở biển rung ngàn
Cho ổ cá vỡ cho đàn chim bay?
2. Con sông nước chảy đôi dòng
Đèn khêu đôi ngọn em trông ngọn nào?
3. Ta về ta tắm ao ta
Dầu trong dầu đục vẫn là ao quen
4. Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Những câu này tuy ngắn ngủi mộc mạc mà thật là uyển chuyển du dương, đủ làm chứng rằng: tiếng ta tuy không có chữ viết, song đã đủ gây nên một áng văn chương ở cõi Giao Chỉ cửu quận rồi.
*
Ai cũng biết rằng nước ta tự xưa vẫn dùng chữ Hán làm thứ chữ công ở trong nước, song vì ở bên cạnh thứ văn viết bằng chữ Hán vẫn có một thứ văn, ngâm nga phúng vịnh bởi cái thiên lai tự nhiên lưu lộ ra bằng tiếng ta, tả rõ được cái thiên chân cực lan man, cái tư tưởng cực thuần phác, cái chí thú cực hoà nhã và thanh tao, thứ văn ấy là cái hồn thiêng liêng của cõi Cổ Việt, không tài nào tiêu ma mai một đi được, cho nên bên cạnh chữ Hán mới đặt ra chữ Nôm để biên chép những thứ văn viết bằng tiếng ta.
Các tiên nho truyền lại, cho chữ Nôm có từ đời Trần, cách đặt chữ theo y như phép lục thư của Tàu: tượng hình, hội ý, hài thanh, chỉ sự, chuyển chú, giả tá. Nay xét trong chữ Nôm có thể tìm ra được mấy phép như sau này:
1. Chữ phút (chữ Nôm): tượng hình
2. Chữ trời (chữ Nôm): hội ý
3. Chữ đất (chữ Nôm): giả tá
4. Chữ xanh (chữ Nôm), chữ đỏ (chữ Nôm): một nửa là hội ý, một nửa là hài thanh
5. Còn những chữ nào thêm dấu “nhấp nháy” ở bên cạnh là chuyển chú.
Xem thế thì so với phép lục thư của Tàu, chữ Nôm thiếu một phép chỉ sự. Cách đặt thật là cẩu giản, chưa lấy gì làm tường bị, song xem như quyển Kiều, ngoại ba ngàn câu dùng đến ngoại hai vạn tiếng, chữ Nôm cũng đủ để chép, trong ngần ấy tiếng, trừ những tiếng viết hẳn bằng chữ Hán, hay những chữ trùng nhau, còn đến mấy ngàn tiếng viết bằng chữ Nôm, thì chữ Nôm đặt cũng gần đủ rồi. Giá phỏng từ trước, ta công nhận ngay chữ Nôm làm thứ chữ công, nhân cái phương pháp sẵn mà chỉnh đốn tu bổ lại, thì chữ Nôm thật là một thứ chữ tiện lợi và thích hợp với tiếng ta, vì tiếng ta quá nửa gốc ở chữ Tàu, mà chữ Nôm lại là một thứ chữ mượn ở chữ Tàu, thì trong khi ta đọc, càng nhận được cái nguyên hình của nó, mà ta học cũng dễ.
Song tiếc thay! Tiếng ta, ta đã không nhìn nhận đến, chữ đặt ra, ta cũng không đoái hoài đến, như có nhà không giữ, phải đi ở nhờ, có ruộng không cày, phải đi làm mướn, để đến nỗi thứ chữ có thể dùng mà không thành lập được, thì ta còn đổ lỗi cho ai!
Nay nhờ có chữ Quốc ngữ dùng hai mươi ba chữ cái, đặt tiếng nguyên âm, tiếng phát âm, lại có năm dấu để đánh vần ra các tiếng, rất là giản dị và dễ học, ta có thể dùng làm một thứ chữ viết để thay vào chữ Nôm, song hiềm vì còn có vài điều hơi bất tiện cho ta:
1. Chữ Quốc ngữ chỉ nhờ ở phù hiệu để đánh vần chứ kỳ thật thì không có hình chữ, ta thử nói ngay tính danh của chúng ta như Trần-Chung, Nguyễn-Chính, Lê-Bảo, Phạm-Trân, mà một bên viết bằng chữ Quốc ngữ một bên viết bằng chữ ta, thì bên nào trông có ý nghĩa hơn?
2. Quốc ngữ chưa phân biệt được tiếng đồng âm, như năm là năm tháng, năm là năm sáu, minh là sáng, minh là tối, minh là thề, minh là kêu, minh là khắc, không tài nào viết cho khác nhau.
3. Chữ đánh dấu cả ở dưới ở trên, viết hay nhầm mà coi không đẹp. Theo thiển kiến của tôi thì chữ Quốc ngữ còn có mấy cái khuyết điểm như đã kể ở trên này, song ta cũng không lấy làm phàn nàn, vì không có cái gì mới sáng tạo ra mà đã mỹ mãn ngay, nếu ta lưu tâm dụng công mà tìm được những cách ổn thiện để sửa đổi lại, lo gì sau này chữ Quốc ngữ không phải là một thứ chữ cực hoàn toàn của nước ta.
*
Tiếng và chữ của ta tôi nói đại khái như thế tưởng cũng đủ rồi, nay tôi xin nói qua về các lối văn. Văn ta có hai nguồn gốc: một là bởi cái âm hưởng tự nhiên của chúng ta mà thành ra những thể tài riêng, gọi là Việt-Hán văn; hai là bắt chước lối văn của Tàu mà đặt bằng tiếng ta gọi là Việt văn. Vì có hai nguồn gốc ấy cho nên sinh ra nhiều lối văn, song tóm cả lại, có thể chia làm bốn lối:
1. Có vần mà không đối nhau, như lục bát (Việt văn), thơ cổ phong, từ khúc (Hán-Việt văn)
2. Có vần mà đối nhau, như song thất (Việt văn), thơ luật, phú (Hán-Việt văn)
3. Đối nhau mà không có vần, như tứ lục: hịch, trướng, chiếu, biểu cận thể (Hán-Việt văn)
Tôi xin bày tỏ mấy lẽ để xét thử hai cái nguồn gốc văn chương ấy thành ra bao nhiêu chi phái và cách liên lạc với nhau là thế nào.
Văn nước nào cũng phát nguyên trước tiên bằng văn vần. Văn ta phát nguyên lối lục bát, văn Tàu phát nguyên bằng lối thơ, hai lối đều là lối văn vần song đặt lục bát vần ở chữ thứ sáu và thứ tám; trong câu bát có hai vần: chữ thứ sáu dùng để nối vần với chữ thứ sáu câu trên, còn chữ thứ tám để khởi vần cho câu lục nối theo câu ấy, vì ở trong một câu bát, chữ thứ sáu và chữ thứ tám dùng để gieo hai vần bằng, cho nên hai chữ không được đi cùng một thanh, nghĩa là một tiếng đoản bình thanh (tiếng không có dấu huyền) đi với tiếng trung bình thanh (tiếng có dấu huyền). Còn lối thơ cổ thì gieo cả vần bằng và vần trắc mà vần ở cuối cùng câu. Nay thử lấy bốn câu lục bát:
Núi chìm hang nổi lần lần,
Trơ trơ trong cõi hồng trần một ta.
Năm năm xuân trẻ thu già,
Cây xanh mây trắng xa xa lại gần.
so với bốn câu thơ cổ phong:
Gió chiều lá lác đác,
Chim hôm bay xào xạc.
Gánh củi lững thững về,
Đường quen không sợ lạc.
thì thấy trong bốn câu lục bát: hai câu trên có hai vần, câu thứ hai, thứ ba, thứ tư ba vần; còn bài thơ thì bốn vần ở cuối cùng câu. Xem thế thì lối lục bát chỉ gieo được đến ba câu là cùng, còn lối thơ muốn gieo bao nhiêu vần cũng được.
Song thất khác với lục bát là gieo cả vần trắc: câu thất trên vần ở cuối cùng, câu thất dưới vần ở chữ thứ năm và thứ bảy, nếu câu thất trên, chữ cuối cùng là tiếng trắc thì câu thất dưới chữ thứ năm nối vần với tiếng trắc, mà chữ thứ bảy nhất định phải là tiếng bằng; nếu câu thất trên chữ cuối cùng là tiếng bằng thì câu thất dưới chữ thứ năm nối với vần bằng, mà chữ thứ bảy nhất định là tiếng trắc. Lối song thất lại còn một điều khác với lối lục bát, là hai câu có khi đặt đối nhau. Thí dụ mấy câu như sau này:
Lò dung chú không than vẫn cháy,
Khoá tuần hoàn chẳng máy mà xoay.
Dại làm sao dại ngáp mắc may,
Khôn như thế khôn hay gặp rủi
Xem như trong bốn câu thơ này thì thấy hai câu trên và hai câu dưới đối nhau, còn cách gieo vần thì cứ chữ thứ năm câu thất dưới nối với chữ cuối cùng câu trên, câu thứ nhất, thứ nhì có hai vần trắc; câu thứ nhì, thứ ba, thứ tư có ba vần bằng, gieo vần cũng chỉ được đến ba vần là cùng, như lối lục bát vậy. Song lối đối nhau và lối gieo vần ở chữ thứ năm, không phải là một luật bó buộc, xem như mấy câu này:
Mắt danh lợi thế thôi là thế,
Mặt trần ai ai đã biết ai
Gieo vần khác nhau. Lục bát chỉ dùng vần bằng. Câu lục vần ở cuối cùng. Câu:
Tội chi kệ nệ cái hình hài,
Đeo thêm nặng chữ tài cho mệt
Xét trong bốn câu này: hai câu trên đối nhau mà không có vần, hai câu dưới không đối nhau mà có vần, thì biết rằng lối đối nhau và lối gieo vần ở chữ thứ năm, không phải là một lệ nhất định.
Nói tóm lại, Việt văn chỉ có hai lối là lục bát và song thất rồi thành ra các biến thể, như hát xẩm là biến thể của lục bát, hát nói (ả đào) là biến thể của song thất; khi nào dung hợp cả hai lối như Tần cung oán, Chinh phụ ngâm thì gọi là song thất lục bát.
Còn lối văn Tàu thì phát nguyên từ cổ thi, rồi thêm lối Đường luật; phàm bao nhiêu từ khúc ca hành đều là biến thể của cổ thi cả; phú cũng là biến thể của thơ, phú lại biến ra tứ lục (biền ngẫu) cho đến kinh nghĩa, văn sách, đều gốc ở lối phú cả.
Trong thời kỳ ta học Hán tự, dùng hết thảy lối Hán văn, để dạy và thi học trò, lâu ngày thông dụng cả nước, các nhà văn sĩ bắt chước lối văn ấy, viết bằng tiếng ta mà thứ nhất là thơ, phú, tứ lục, thành hẳn như là lối văn của ta vậy. Nay xem như tập thơ Bạch Vân am, bài phú Tây hồ, bài văn Tế trận vong tướng sĩ, bài hịch dụ Bắc thành trung nghĩa của ông Lê Huy Đao, lối văn mượn của Tàu, văn viết bằng tiếng ta, mà đặc sắc, cái tuyệt diệu có thể bá trọng với văn Tàu, thật đủ làm vẻ vang cho cái giá trị của tiếng ta vậy.
Nay ta xét xem hai cái nguồn gốc văn chương tại làm sao mà có thể hoà hợp với nhau được.
1. Tiếng ta cùng tiếng Tàu đều thuộc về loài đơn âm, cho nên ta có thể thâu thái chữ Tàu làm văn liệu của ta.
2. Lối lục bát giống cổ thi của Tàu. Thí dụ:
Khối tình lăn lóc cổ câm
Cõi trần được một tri âm cũng nhiều
Vườn đào gió sớm mưa chiều
Lấy ai mà giải mọi điều não can?
Bốn câu này là bốn câu lục bát, song giá phỏng lấy nguyên câu thứ nhì, thứ ba, và câu thứ tư bỏ đi hai chữ cuối cùng, thì thấy có ba câu cổ thi hay là ba câu ca hành ở trong.
Cõi trần được một tri âm cũng nhiều
Vườn đào gió sớm mưa chiều
Lấy ai mà giải mọi điều
Lối song thất giống lối tứ lục. Thí dụ:
Bụi vơ vẩn, bóng câu vì vụt
Mây tần ngần trận nhạn loi thoi
Năm tháng ngày dừng lại mũi thoi
Sống lâu mãi mà coi cho thích
Bốn câu này tức là bốn câu song quan của lối tứ lục, chỉ khác nhau một chút, là lối song thất đặt nối vần.
Vì lối văn ta và văn Tàu có cái liên lạc với nhau như thế, tự nhiên có thể hoà hợp với nhau, mà không bao giờ mâu thuẫn, cho nên không những ta đã dùng được những chính thể ở trong lối văn Tàu, mà ta lại đặt ra được nhiều lối tạp thể, dùng lẫn cả lối văn Tàu ta vào trong một bài văn, như hát tỳ bà là bài thơ đi với một khúc song thất lục bát, hát thiên thai là bài thơ đi với bốn câu lục bát mà thứ nhất là lối hát chèo tuồng, là lối hợp dụng cả bốn lối văn như vừa kể trên kia.
Chèo tuồng là những lối văn có thể cảm động được nhân tâm, bổ ích cho phong hoá, chính là một vấn đề mà ngày nay ta cần phải kê cứu đến, tiếc thay tôi không phải là một nhà chuyên môn, chỉ biết được ngạnh khái mà thôi.
Bộ Vũ trung tuỳ bút chép rằng: đời Lý có bọn đạo sĩ nhà Tống sang ta, dạy lối phấn hý, tức là lối hát chèo; bộ Kiến văn tiểu lục lại chép rằng: đởi Trần lúc đánh Toa-Đô, bắt được bọn ưu nhân là Lý Nguyên Cát, đặt ra những lối truyện ký, như Tây vương mẫu hiến đào, v.v… tức là lối hát tuồng.
Lối chèo câu hát đặt như câu nói chuyện, thỉnh thoảng đặt chêm lẫn lối thơ, lối biền ngẫu (câu song quan), giọng hát có ví, than, ngâm, giọng phổ thông nhất là giọng đường trường, sa lệch, mà cái đặc sắc của chèo là những câu khôi hài. Lối tuồng câu hát đặt phần nhiều theo lối song thất hay biền ngẫu, thỉnh thoảng chêm lẫn lối lục bát, giọng hát có giáo đầu, xướng, vãn, loạn nam bắc, tẩu mã, v.v… Lối hát tự Trần về trước thất lạc không lưu truyền lại; đến đời Lê Hồng Đức, vua Thánh Tông sai các văn thần là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh định lại các lối hát, chia làm hai bộ: Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ Đồng văn chuyên về âm luật, bộ Nhã nhạc chuyên về bài hát, giọng hát, có đặt ra làm tám lối hát: hoang chung, cung nam, cung bắc cung, đại thực, dương kiều, âm kiều, hà nam, hà bắc, gọi là “bát đoan cẩm”. Hai bộ ấy dùng làm bộ hát của triều đình, còn ở dân gian thì đặt ra giáo phường để trông coi các lối hát cho có thể thống.
Đến cuối Lê, bộ Đồng văn và Nhã nhạc chẳng qua chỉ là chiếu lệ, kỳ thực nhạc chế và ca bản đã sai ngoa gần hết, còn chủ giáo phường chỉ trông coi về đào kép mà thôi; những lối bát đoan cẩm nào còn lại, lẫn vào với lối hát cửa đình, hát ả đào, song hoàng cung gọi sai làm cung huỳnh, đại thực làm đại thạch, dương kiều làm kiều dương, hà nam làm sà nam, ngay tên khúc hát đã nói sai, thì khúc bản chắc cũng mất mát gần hết. Ấy là lối hát chèo hát bội của ta đã suy ngay từ cuối đời Lê rồi.
Song xét trong những bản nảo [1] cũ, có nhiều câu đọc lên khoái trí lắm, thành ra một lối văn riêng, nay xin trích mấy câu:
1. Chèo Trương Viên (hề hát):
Phú tê tê, ông sao Hôm, phú lý chừng hồ mọc, ông sao Mai. Phú lý chừng hồ lặn, hỡi cô nhiễu chúa múa kia, đứng dậy mà về, kẻo sương pha lác đác, lác đác lạnh lùng.
2. Chèo Lưu Bình (hề nói):
Dạ lạy bác bác gọi tôi là thằng sơ,
Dạ lạy bác, sơ còn có tích,
Con nhớ ngày xưa con đi học, sách “Tam tự kinh”có câu “nhân chi sơ”
Đến sau con nên chín nên mười,
Làm thơ như đổ son vào,
Cũng có ông sơ ông phúc.
Trong Chu lễ cũng có sơ xuân, sơ hạ, sơ thu, sơ đông.
Bốn mùa ấy cũng phải lấy sơ làm thủ.
Vậy có thơ rằng:
Thiên thượng cửu trùng ban hạ chính
Nhân gian vạn lý phó xuân sơ.
3. Tuồng Sơn hậu (hồi bà Nguyệt Tam cung chị Tạ Thiên Lăng đi tu):
Một cây sinh năm bảy cành hoa,
Hưởng phú quý cũng là hậu quả.
Xin tuyệt nẻo sinh sinh hoá hoá,
Được khỏi vòng khứ khứ lai lai.
4. Tuồng Ngũ hổ quá quan (hồi Địch mẫu than con):
Gánh hào kiệt để trong vũ trụ,
Nợ anh hùng phụ với giang san,
Sinh con ra khám nám hơn vàng
(Ai ngờ con) làm cho mẹ luống bơ vơ đầu bạc.
5. Tuồng Tam nữ (hồi Phương Cơ qua sông):
Quân nói:
Bóng câu bay bổng qua sông
Hỏi thăm em đã có chồng hay chưa?
Có chồng năm ngoái năm xưa,
Năm nay chồng để như chưa có chồng
Phương Cơ nói:
Khen ai miệng mặt khéo chìu,
Cắt lìa trung nghĩa như mài lưỡi gươm.
Thương ai công nghiệp nửa chừng,
Cây rung khi gió lửa bừng khi mưa.
Thương ai ai đã bõ chưa?
Trăm năm đái lệ, một giờ tang thương.
Những câu này, tuy chỉ là một cánh ở trong cây bông hoa, một sợi ở trong cả tấm, song đọc lên hay nghe thấy, ta không nên vội chê cười bọn mặt mày lấc xấc như thù nho, áo mũ lăng nhăng như ưu mãnh mà bảo rằng không có cái đặc sắc văn chương.
Lối chèo tuồng cũ không phải là dở cả, song sở dĩ càng ngày càng suy đồi đi, là vì các văn gia không mấy khi lưu tâm đến, bản mới hiếm có bản hay, bản cũ ít có người sưu tập; hãy nói ngay như tấn tuồng “Bách bảo” là tấn tuồng rất có giá trị, mượn các vị thuốc để ví một cái cảnh triều đình, mới có năm sáu năm mươi nay mà đã tam sao thất bản, khó lòng tìm được cả nguyên văn, đủ biết ta tự xưa đối với nghề chèo tuồng vẫn hay giữ một cái thái độ lãnh đạm, mà lại có khi khinh rẻ, cho là những nghề hèn thấp, không thèm ngó nhìn đến.
Ít lâu nay, nhân có cái phong trào mới, cả nước cổ vũ về quốc văn, ta bắt đầu để ý đến nghề diễn hý. Lối chèo tuồng đã thấy sửa đổi ít nhiều, lại thêm một lối hát mới đặt bằng văn xuôi là kịch bản; xét chữ kịch không có nghĩa riêng, có thể dùng để gọi chung cả lối chèo lối tuồng, song công chúng đã công nhận cho chữ kịch có một nghĩa, khác với chèo tuồng, thì chữ kịch tự nhiên thành một nghĩa riêng, vậy lối kịch và lối chèo tuồng cộng cả lại, là trong hý viện của ta ngày nay có ba lối hát.
Theo về phương diện cải lương, thì lối kịch so với hai lối kia, có phần tiện lợi hơn: phần thì không phải hát hò hét, không có kèn trống om sòm, phần thì bày cảnh, chia tấn cũng dễ, làm cho công chúng hiểu ngay. Song theo về phương diện văn chương thì mỗi lối có một cái hay, có một cái khó, không nên thiên khinh thiên trọng lối nào.
Lối chèo thuộc về văn trào phúng, đặt câu cần phải thoát sáo mà có lý thú, hý hước mà không thô tục; lối tuồng thuộc về văn trang nhã, điển cố, chỗ nên tả ra cực hùng tráng, chỗ nên tả ra cực đường chánh, chỗ nên tả ra cực lâm ly, và lại đặt câu theo lối song thất hay lối tứ lục, thì cú pháp lại phải tề chỉnh lắm; lối kịch thuộc về văn trân tự cũng như đoản thiên tiểu thuyết cốt nhất ở cách phô diễn có từng thứ khúc triết lý và minh bạch, và mỗi một vai ra phải có một khẩu văn riêng, nghĩa là hạng người nào có giọng nói của hạng người ấy. Đại khái cái hay và cái khó của ba lối là thế.
Song lại còn một điều rất quan thiết mà các nhà làm văn cần phải cứu đến, là cách hoà hợp của âm và thanh. Âm là tiếng nói ở trong miệng ra, có thần âm, xỉ âm, thiệt âm, hầu âm, tỵ âm, ngạc thương âm; thanh là cùng một âm mà đọc ra giọng lên giọng xuống khác nhau. Tiếng ta trừ âm trắc chỉ có hai thanh, còn âm bằng thì có đủ sáu thanh như tôi đã nói ở trên. Song ta thường thấy có khi viết một câu văn mà đọc lên khó đọc, nghe ra khó nghe, là tại làm sao? Là có khi mấy âm đi với nhau không thuận, mấy thanh đi với nhau không kêu, thí dụ âm há to miệng đi luôn ngay với âm ngậm miệng như bá với bóp, chụp với cá; ba thanh trắc đồng thanh đi luôn với nhau, như cá-lá-sá, dục-lục-tục, thế là phạm vào luật khổ độc vậy.
Vậy cách hoà hợp của âm và thanh tuy thuộc về một phần hình chất, song có quan hệ đến xoang điệu tiết tấu ở trong bài văn, các văn gia không nên khinh thường mà không lý hội đến.
Mong rằng các nhà có nhiệt thành có hứng thú về quốc văn, nhân tiếng ta sẵn là một thứ tiếng hay, trước đã có cái nguồn gốc cũ là Hán văn, nay lại thêm cái nguồn gốc mới là Âu văn, mà kê cứu một ngày một thâm, luyện tập một ngày một tinh, để cho những cuốn kiệt tác thuộc về cả lối văn một ngày một phát hiện ra nhiều, thì vẻ vang cho tiếng ta biết là chừng nào, cho nước ta biết là chừng nào!
[1]nảo (hay não?) có nghĩa là bản nháp, bản thảo (viết tay). Từ này không thấy có trong các từ điển từ Việt cổ. Ở đây căn cứ vào một số bài trên báo Trung lập ở Sài Gòn, chẳng hạn Bùi Thế Mỹ ở Phụ trương văn chương số 23 (Trung lập, 3/10/1931) có bài nhan đề: “Làm văn có nảo không?”, trong đó tác giả nói rõ nghĩa của “nảo” là “bổn nháp, bổn thảo”… “theo tiếng Sài Gòn, tôi để nảo (brouillon)” (LNA)
Nguồn: Trung lập, Sài Gòn, số 6469 (Phụ trương văn chương số 8, thứ bảy 20 Juin 1931); số 6475 (PTVC số 9, thứ bảy 27 Juin 1931); số 6481 (PTVC số 10, thứ bảy 4 Juillet 1931); số 6487 (PTVC số 11, thứ bảy 11 Juillet 1931); số 6497 (PTVC số 13, thứ bảy 25 Juillet 1931)
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)