10/9/09

Trần Chung Ngọc :BA MƯƠI THÁNG TƯ VÀ TÔI...

BA MƯƠI THÁNG TƯ VÀ TÔI
TỪ KIẾN THỨC ĐẾN LẬP TRƯỜNG

Trần Chung Ngọc

“Nếu một người vẫn không thể quên thù hận, há chẳng ngu xuẩn lắm sao?”
[Cổ Long: Câu kết của truyện kiếm hiệp “Cửu Nguyệt Ưng Phi”]


Từ Kiến Thức:

Cho đến năm 2009, chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 34 năm rồi, chiều dài của hơn một thế hệ. Tôi đồng ý với ông Cổ Long rằng đến bây giờ mà chúng ta không thể quên được thù hận thì quả thật là ngu xuẩn. Ở đây tôi muốn nói đến mối thù hận bất kể từ phía nào. Không thể quên thù hận đã là ngu xuẩn lắm rồi, nhưng ngu xuẩn hơn nữa nếu chúng ta lại truyền lại sự thù hận cho thế hệ sau để chúng tiếp nối sự thù hận mà chúng ta không thể quên được. Tôi cảm thấy tội nghiệp cho bậc cha mẹ của một em bé, nhân danh “Người Việt tỵ nạn”, cầm tấm bảng chống “ca nhạc Trịnh Công Sơn”. Tại sao họ có thể làm ô nhiễm đầu óc con cái của mình đến độ như vậy?


Trước hết tôi cần phải nói chút ít về tôi, dù cái tôi thật đáng ghét. Cá nhân tôi là một sĩ quan, xuất thân từ Khóa I Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, đã phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong hơn 8 năm, đã cầm súng chống Cộng ở tiền tuyến, từ Quảng Bình (Tiểu đoàn 12) trước 1954, đến Qui Nhơn (Sư đoàn 22) và Kontum (Biệt khu 24) sau 1954. Và sau khi giải ngũ tôi cũng đã phục vụ trong ngành giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa cho đến ngày chót. Vậy vào những thời đó, tất nhiên không ít thì nhiều tôi cũng đã chống Cộng, nhất là tôi đã đọc về những tội ác của Cộng sản đối với người dân, về cuộc cải cách ruộng đất, về Tết Mậu Thân v..v…trong những tài liệu của miền Nam và của Mỹ. Và tôi đã chạy trốn Cộng sản sang Mỹ vào cuối tháng Tư năm 1975. Nhưng kết cục của cuộc chiến đã đưa đến cho tôi một thắc mắc và ấm ức. Thắc mắc và ấm ức đó là:

“Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay chiến đấu, về B52 để trải thảm bom từ trên thượng tầng không khí, xe tăng, tàu chiến, trọng pháo, truyền tin và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, rồi “tháo chạy” [từ của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng], và cuối cùng, Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” [từ của báo chí chống Cọng hải ngoại] được miền Nam? Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến? Phải chăng phe Quốc Gia của chúng ta có vấn đề về chính nghĩa, về chủ quyền? Phải chăng quân dân miền Nam không tích cực chống Cộng? Hay phải chăng yếu tố quyết định là truyền thống yêu nước của người dân Việt Nam? Thực ra thì Quốc Gia và Cộng sản bên nào có Chính Nghĩa? Bên nào hợp lòng dân và được dân ủng hộ? Ý chí và khả năng chiến đấu của binh sĩ hai bên ra sao? Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo? Và còn những gì gì nữa?”

Tại sao chúng ta lại thua, đó là niềm ấm ức đã ám ảnh đầu óc tôi trong vài năm đầu sống ở Mỹ sau 1975. Trong thời gian này, vì phải bắt đầu lại cuộc sống từ số không nên không có thì giờ tìm hiểu, tôi vẫn không giải đáp được thắc mắc trên. Nhưng thắc mắc trên cứ ám ảnh đầu óc tôi, cho nên khi đời sống kinh tế gia đình đã ổn định, tôi đã để thì giờ tìm hiểu và đọc rất nhiều sách và tài liệu viết về cuộc chiến ở Việt Nam, phần lớn là sách Mỹ, sách Pháp, và vài ba cuốn sách Việt, thí dụ như “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” của Đỗ Mậu; “9 Năm Máu Lửa Dưới Chính Quyền Ngô Đình Diệm” của Nguyệt Đam và Thần Phong; “Đảng Cần Lao” của Chu Bằng Lĩnh”; Luận Án Tiến Sĩ “Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914)” [Christianisme et Colonialisme au Viet Nam, 1857-1914], Đại Học Paris, 1969, của Cao Huy Thuần; “Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” của Hồ Sĩ Khuê v…v… Bài “Đầu Hàng” của Vân Xưa trong cuốn của Hồ Sĩ Khuê là bài tôi thích nhất. Xin đừng hiểu lầm tôi thích là vì VNCH “đầu hàng”, mà vì bài viết phân tích tình hình khá hay và đầy tình người. Lẽ dĩ nhiên tôi cũng có những kinh nghiệm bản thân về Cộng sản cũng như Quốc Gia trong thời chiến, vì tôi là Sĩ Quan “Tác Động Tinh Thần”, sau đổi thành “Chiến Tranh Tâm Lý”, của Tiểu Đoàn 12. Tôi cũng đã chứng kiến cuộc đảo chính hụt của Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông v..v… cũng như cuộc oanh tạc Dinh Độc Lập của hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử. Và sau cùng là cuộc đảo chánh năm 1963 của Dương Văn Minh v… v… Tôi cũng đã nhìn thấy những khuôn mặt sáng sủa, trẻ trung, đầy tương lai trong các lớp học tôi dạy, từ Trung Học đến Đại Học, nhưng khó mà có thể có tương lai vì trước sau gì các em cũng bị lôi cuốn vào cuộc chiến tương tàn.

Ngày nay, lịch sử đã rõ ràng. Với những kiến thức mới về cuộc chiến thì chúng ta đã rõ, cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng, xâm lăng của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của đế quốc Mỹ. Ngày 14 tháng 8, 1945, Tổng Thống Pháp De Gaulle bổ nhiệm Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ Huy lực lượng ở Đông Dương và chỉ định Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy để cắm lại lá cờ tam tài của chúng ta ở đó (pour y replanter notre drapeau). Và Mỹ đã giúp hơn 80% chiến phí cho Pháp trong mục đích thực dân này. Còn cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ. Đây là kết luận của các học giả Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái.

Thật vậy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Walter Bedell Smith xác định trong bản Tuyên Ngôn tại Washington D.C. về Hiệp Định Geneva như sau:


“Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn, chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh” và “Hoa Kỳ sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp”
(In the case of nations divided against their will, we shall continue to seek to achieve unity through free elections, supervised by the United Nations to ensure that they are conducted fairly... The US will refrain from the threat or the use of force to disturb them)
Xác định như vậy nhưng Mỹ đã nuốt lời hứa và dùng võ lực để can thiệp ngay vào nội bộ Việt Nam.., dùng tay sai Ngô Đình Diệm để phá sự thống nhất của đất nước qua bầu cử tự do, rồi chỉ đạo cuộc chiến và phạm rất nhiều tội ác ở Việt Nam. Trong cuốn The United States In Vietnam: An Analysis In Depth Of The History Of America’s Involvement In Vietnam, hai Giáo sư đại học Cornell, George McTurnan Kahin và John W. Lewis, viết ở trang 59:
“Tuy Hoa Kỳ nói rằng “sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp” nhưng điều hiển nhiên chúng ta thấy ngay sau đó là Hoa Kỳ đã sửa soạn dùng mọi phương cách khác để ủng hộ chế độ Saigon [do Mỹ dựng lên] trong việc không tôn trọng những điều khoản trong Thỏa Hiệp”
(Though the US said it would “refrain from the threat or the use of force to disturb” the agreements, it soon become evident that it was prepared to use every other means to back up the Saigon regime in its departure from their central provisions).
Sự kiện là, Mỹ đã toa rập với Vatican đưa tam đại Việt gian Công giáo Ngô Đình Diệm về để chống Cộng cho Mỹ ở Nam Việt Nam, và đơn phương từ chối không thi hành khoản tổng tuyển cử tự do trên toàn đất nước vào năm 1956 trong Hiệp Định. Tại sao? Vì Tổng Thống Eisenhower của Mỹ đã nhận định, nếu có một cuộc tổng tuyển cử tự do vào năm 1956 thì ông Hồ Chí Minh sẽ được ít nhất là 80% số phiếu. Vào thời đó, với uy tín của ông Hồ và Việt Minh sau trận Điện Biên Phủ, Việt Minh không cần phải tổ chức một cuộc bầu cử gian lận như Ngô Đình Diệm đã làm ở miền Nam với số phiếu ở Saigon nhiều hơn số cử tri.
Tưởng chúng ta không nên quên là ngay từ sau Hiệp Định đình chiến 1954, Mỹ đã gửi Lansdale ra ngoài Bắc để phá hoại, tuyên truyền, và cổ võ giáo dân Công giáo di cư vào Nam với những khẩu hiệu như “Chúa đã vào Nam” và “Đức Mẹ đã di cư vào Nam” v..v.. để dụ đám linh mục và giáo dân thấp kém. Vì vậy khoảng 700 ngàn Giáo dân Công giáo đã cùng với các “Chúa thứ hai” của họ ào ào kéo vào Nam, không buồn để ý đến chuyện những khẩu hiệu lố bịch trên đã chứng tỏ là Ông Mác đã đuổi hai mẹ con Chúa chạy từ Bắc vào Nam, tuy rằng Chúa và Mẹ Chúa đều là những bậc toàn năng, toàn trí, quyền phép vô cùng, làm gì cũng được, cùng lúc chứng minh trình độ và ý thức tôn giáo của giáo dân Công giáo Việt Nam. Thật là quá tội nghiệp cho đầu óc của họ đi.
Còn nữa, trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), hai Giáo sư ở đại học Iowa, John Carlos Rowe và Rick Berg, viết, trang 28-29:

Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam. Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức dấn thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70,000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm. Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.” Mỹ chưa bao giờ coi những chính phủ tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương.
(It is worth recalling a few facts. The US was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam. The death toll was about half a million. When France withdrew, the US dedicated itself at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the south a terrorist regime that killed perhaps 70000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that the US had undermined. In 1961-1962, President Kennedy launched a direct attack against rural South Vietnam with large-scale bombing and defoliation as part of a program designed to drive millions of people to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed wire from the guerillas whom, the US conceded, they were willinggly supporting. The US maintained that it was invited in, but as the London Economist accurately observed, “an invader is an invader unless invited in by a government with a claim to legitimacy.” The US never regarded the clients it installed as having any such claim, and in fact it regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient enthusiam for the American attack or sought to implement the neutralist settlement that was advocated on all sides and was considered the prime danger by the aggressors, since it would undermine the basis for their war against South Vietnam. In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt, vậy mà 27 năm sau, Daniel Ellsberg còn viết trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

“Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ”.
(In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.)

Năm 2006, Bác Sĩ Allen Hassan, một Bác sĩ đã phục vụ tại Việt Nam, đã viết cuốn “Failure To Atone” mà bản dịch tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Trẻ dịch là “Không Thể Chuộc Lỗi” (Đúng ra, dịch đúng nghĩa phải là “tội”, tội ác, chứ không phải “lỗi”, lỗi lầm) nói về những tội ác của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Sau đây là vài lời giới thiệu trong bản tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Trẻ mà tôi mua được ở Việt Nam nhân chuyến cùng con cháu về thăm quê hương năm 2007:

Tại hội trường 8 Hội chợ sách Quốc tế Frankfurt ở Đức năm 2006, giữa các khu vự trưng bày sách rộng lờn và không khí giao dịch bản quyền náo nhiệt của các tập đoàn xuất bản hàng đầu thế giới là một gian hàng nhỏ với một điểm đặc biệt có một không hai: Gian hàng chỉ trưng bày và giao dịch bản quyền duy nhất một cuốn sách có tựa đề Failure To Atone – Không Thể Chuộc Lỗi (Tội) – với một poster lớn: “Nước Mỹ không thể chuộc lỗi về những gì đã gây ra trong cuộc chiến tranh Việt Nam! Sự thật chưa từng được tiết lộ của một bác sĩ tình nguyện người Mỹ tại Việt Nam”…
Khi chúng tôi hỏi tại sao lại lấy tên là Không Thể Chuộc Lỗi đặt cho cuốn sách, đại diện bản quyền của bác sĩ Allen Hassan trả lời:
“Mục đích của bác sĩ Allen Hassan khi viết cuốn sách này là muốn những người lính đã từng tham chiến tại Việt Nam và chính quyền Mỹ thật sự hiểu rõ những gì mà nước Mỹ đã gây ra cho người dân Việt Nam và lớn hơn rất nhiều những gì mà người Mỹ từng nghĩ. Nước Mỹ nhớ rất kỹ những gì người khác gây cho họ nhưng lại quên rất nhanh những gì họ đã gây ra cho những người khác. Người chết không thể sống dậy, người tàn tật mãi mãi tàn tật, và nỗi đau mãi mãi là nỗi đau….Khi đọc xong cuốn sách này, mọi người sẽ hiểu bây giờ bất cứ làm việc gì, nước Mỹ cũng không thể chuộc lại lỗi của mình đối với người dân Việt Nam.”

Trong cuốn Không Thể Chuộc Lỗi, bác sĩ Hassan đã đề cập đến chất độc da cam, nhưng đặc biệt, trong ấn bản Việt ngữ, ông đã viết thêm một chương về những hậu quả và di chứng nặng nề của chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã sử dụng tại Việt Nam. Mỹ đã sử dụng bao nhiêu chất độc da cam ở Việt Nam? Thượng Nghị Sĩ Mỹ Gaylor Nelson đã phát biều:

Nước Mỹ đã trút xuống Nam Việt Nam một lương hóa chất độc hại tương đương với mức trung bình cho mỗi đầu người, kể cả phụ nữ và trẻ em, là 6 pound (gần 3 kg).
(The US dropped down South Vietnam with a volume of toxic chemicals equivalent to average level up to 6 pound (nearly 3 kgs) per head, including the women and the children)

Di hại to lớn của chất độc da cam ở Việt Nam là điều hiển nhiên, không ai có thể chối cãi. Nhưng nước Mỹ đã muối mặt phủ nhận trách nhiệm. Đáng lẽ sau cuộc chiến, Việt Nam phải đưa Mỹ ra Tòa Án Quốc tế Xử Các Tội Phạm Chiến Tranh nhưng có lẽ tự biết thân phận của một nước nhỏ, có kiện cũng chỉ là “con kiến đi kiện củ khoai”.

Chúng ta hãy đọc thêm vài đoạn trong bài “ Chủ Nghĩa Khủng Bố Và Diệt Chủng Dân Tộc Việt Nam Của Mỹ 1945-1975” (American Terrorism and Genocide of the Vietnamese People, 1945-1974) http://www.intellnet.org/resources/american_terrorism/Vietnamesevictims.html. Bài này đã được đăng trên trang nhà Sách Hiếm: http://www.sachhiem.net/TCNts/TCNts25.php với nguyên bản bằng tiếng Anh.

Những tội phạm chiến tranh thuộc Thủy, Lục, Không quân Hoa Kỳ đã tàn sát 3 triệu người ở Việt Nam, trong rất nhiều nơi như Mỹ Lai. Hầu hết các nạn nhân là đàn bà và trẻ con.
CIA có ngay cả một chương trình khủng bố chính thức của quốc gia Mỹ ở Việt Nam, được biết là “Chiến Dịch Phụng Hoàng” hay “Kế Hoạch Phụng Hoàng”. [Kế hoạch Phụng Hoàng còn được biết dưới tên “Kế Hoạch Ám Sát” (Douglas Valentine, The Phoenix Program, p. 191: “Phoenix was labeled an Assassination Program”).] Qua Kế Hoạch Phụng Hoàng, nhiều trăm ngàn người đã bị tra tấn đến chết trong những “trung tâm thẩm vấn” trên khắp Nam Việt Nam. Những trung tâm tra tấn này được dựng lên bởi Mỹ rõ ràng cho mục đích đó. Phụ nữ luôn luôn bị hãm hiếp như là một phần của tra tấn trước khi bị giết. Khủng bố, hãm hiếp và giết người hàng loạt một cách đại qui mô trên khắp miền quê là chính sách của tập thể Lục Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Thủy Quân Hoa Kỳ. Cuộc tàn sát ở Mỹ Lai là một chiến dịch trong Kế Hoạch Phụng Hoàng.
Chính sách diệt chủng dân Việt Nam của Mỹ có nguồn gốc từ ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến.
Mỹ đã ủng hộ Pháp trong toan tính lấy lại quyền cai trị đẫm máu của thực dân Pháp ở Đông Nam Á.
John Kerry, Trung Úy Thủy Quân, lãnh tụ của những cựu quân nhân Mỹ ở Việt Nam chống chiến tranh, làm chứng trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện năm 1971: “Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á. Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đã hãm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Thành Cát Tư Hãn, bắn trâu bò, chó, làm trò chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước này.”
Quá nhiều “con em của chúng ta” đã phạm phải những tội ác cuồng dâm chống nhân loại. Lính Mỹ tra tấn tù binh. Lính Mỹ hiếp người qua đường hậu môn, hãm hiếp và bạo sát đàn bà và con gái. Lính Mỹ tàn sát toàn thể đàn ông, đàn bà, trẻ con trong nhiều làng – kể cả con nít - ở nhiều, nhiều nơi như Mỹ Lai và Thanh Phong.
[Thanh Phong là tên ngôi làng mà nguyên Thượng Nghị Sĩ Robert Kerrey (không phải là John Kerry) đã chỉ huy một toán SEALS 7 người vào tàn sát 21 người đàn ông, đàn bà và trẻ con trong làng vào tháng 2, 1969. Vào căn nhà lá đầu tiên, toán này đã cắt cổ một ông lão, vợ ông ta và 3 đứa cháu. ("Former US Senator Robert Kerrey, newly inaugurated as the president of the New School University, one of the most prestigious positions in American academia, has admitted participating in a death squad attack on a Vietnamese village [Thanh Phong] 32 years ago, in which he and six soldiers under his command killed 21 women, children and elderly men. "In the course of the nighttime assault, the American raiders [U.S. Navy SEALS] killed every Vietnamese they encountered — men, women, children. They used every weapon in their arsenal, from knives to rifles and grenades to light anti-tank weapons, expending more than 1,200 rounds of ammunition on a village where only a few dozen people lived. "...the SEALS slit the throats of an elderly man, his wife and three grandchildren in the first hut they encountered when they entered the village. The graves of these five victims, marked with a common date of death, can be seen in the village today." TCN]
Lực Lượng Đặc Biệt dạy binh sĩ của mình thi hành nhiệm vụ ở Việt Nam phải dùng tra tấn như thế nào là một phần trong sự thẩm vấn.
Chiến dịch Phụng Hoàng nổi tiếng, do CIA dựng lên để quét sạch hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, đã tra tấn những người bị tình nghi như sau:
o Quay điện vào các bộ phận sinh dục của nam và nữ.
o Cắm vào tai một cái đũa gỗ dài 15 cm rồi đập dần đũa vào óc cho đến khi nạn nhân chết.
o Những người bị tình nghi cũng bị ném từ trên trực thăng xuống để làm gương cho những người tình nghi quan trọng khác phải khai, tuy đây có thể coi như là sát nhân đối với nạn nhân bị ném, nhưng cũng là một hình thức tra tấn đối với những người khác.
o Vi phạm Quy Ước Geneva, Mỹ trao tù binh cho đồng minh Nam Việt Nam của họ biết rõ rằng nhưng người này sẽ bị tra tấn, viên chức Mỹ thường có mặt trong cuộc tra tấn.
Cương quyết thi hành dịch vụ diệt chủng, Không Quân Mỹ phát động chiến dịch “Rolling Thunder” tấn công dân Việt Nam năm 1964. Riêng cuộc tấn công này đã thả xuống đất nước nhỏ bé nhiều bom hơn là toàn thể số bom dùng trong Đệ Nhị Thế Chiến.
Trong 5 năm tiếp theo, nhiều trăm ngàn người dân Việt Nam, đàn ông, đàn bà, trẻ con bị nghiền nát và thiêu sống bởi những phi hành đoàn của Không Quân Mỹ. Đất nước Việt Nam phải chịu đựng 22 tấn thuốc nổ cho mỗi 1.6 km vuông. Nghĩa là 660 kg chất nổ mạnh cho mỗi người, đàn ông, đàn bà và trẻ con.
Trong 13 năm chiến tranh ác ôn của Mỹ chống dân tộc Việt Nam, tổng cộng là 8 triệu tấn bom (bom Napalm và bom chùm) và chất độc khai quang màu Cam đã thả trên đất nước – và ít ra là 3 triệu người đã bị tàn sát.
Cùng với lò nướng thịt thổ dân Mỹ, lò nướng thịt người Việt Nam của Mỹ đã xếp Mỹ xuống đáy của địa ngục – cùng với những công ty nổi tiếng như Nazi của Đức, chính quyền Công Giáo Ustashi ở Croatia, quân lực Nhật Bản, quân lực Thổ Nhĩ Kỳ, những đoàn quân bạo dâm chiến thắng của Tây Ban Nha, những đoàn quân Mông Cổ, La Mã và những con quỷ diệt chủng như trên.
Trong khi đó thì những người Mỹ ái quốc, kỳ thị chủng tộc tiếp tục sống cái gọi là đời sống “bình thường”, hoàn toàn lãnh đạm với cuộc tàn sát đẫm máu được thi hành nhân danh họ, ăn nhậu trên những miếng thịt bò tái và xem TV, chơi “golf” và đi dự những “parties” trong khi những đứa trẻ Việt Nam bị thiêu sống trong làng mạc của chúng bởi những tên phi công trời đánh của chúng ta, và vô số phụ nữ thường dân Việt Nam bị hãm hiếp tàn bạo và toàn thể các gia đình bị bắn chết bằng súng liên thanh bởi những binh sĩ trời đánh của chúng ta.
Không chỉ những con quỷ Nazi Đức mới phạm tội diệt chủng. Chính quyền ác ôn và quân lực Mỹ của chúng ta cũng phạm tội diệt chủng. Hằng triệu người. Và tuyệt đại đa số nạn nhân là người dân thường không có ai bảo vệ. [Vậy mà có những người chống Cộng hải ngoại đòi đưa Cộng Sản ra Tòa Án Mỹ hay Quốc tế Xử Tội Phạm Chiến Tranh vì vụ Tết Mậu Thân ở Huế]
Hãy coi câu chuyện ở Mỹ Lai như là một thí dụ về người lính Mỹ anh hùng của chúng ta khi hành sự - tàn sát trẻ con và hãm hiếp con gái Việt Nam để làm cho thế giới yên ổn cho những công ty như Coca Cola và hãng dầu Standard.
Nhờ có sự kỳ thị chủng tộc kiêu căng, tự cho là công chính và không quan tâm của Mỹ mà người Việt Nam tiếp tục bị đau khổ. Năm 1985 người ta ước tính là một phần ba đất đai [Nam] Việt Nam bị nhiễm độc, vì Không Quân Mỹ đã dùng thuốc khai quang như Chất Độc Màu Cam. Điều này đã khiến cho Việt Nam nghèo nàn, đất đai bị ô nhiễm nặng và có đầy những trái bom chùm chưa nổ - và người dân bị khủng khoảng tâm lý. 30 năm chiến tranh diệt chủng được nối tiếp bởi gần 20 năm cấm vận của Mỹ. [Giáo sư Noam Chomsky cũng đã châm biếm, cho rằng Mỹ đã thắng một phần ở Việt Nam (A partial victory) vì đã thành công để lại cho Việt Nam một di sản tan hoang đất nước, khó có cơ hội phục hồi về xã hội và kinh tế… (Nhưng CS VN đã phục hồi được về xã hội và kinh tế, và còn tiến xa hơn trước)]
Trong những năm từ khi những binh sĩ Mỹ giết người, hãm hiếp, lực lượng SEALS [Sea, Air and Land Forces], của Thủy Quân bị đá ra khỏi Việt Nam một cách ô nhục, cái di sản ác ôn của Mỹ để lại vẫn tiếp tục có ảnh hưởng đến người dân. Chất độc Da Cam đã đưa đến nhiều vụ khuyết tật bẩm sinh trong những thế hệ người dân Việt Nam và nhiều trăm ngàn trường hợp chết về ung thư đã xẩy ra trong những người sống trong những vùng bị trải thuốc khai quang..
Những trái bom chùm chưa nổ đã tạo ra những bãi mìn không có họa đồ, làm cho mọi người sợ hãi không dám canh tác trong những cánh đồng có thể trồng trọt được và ruộng lúa. Những trái bom đó của Mỹ vẫn tiếp tục giết hại, làm chân tay tàn phế và bị tàn tật suốt đời cho nhiều ngàn trẻ con và người lớn Việt Nam.
“Thượng Nghị Sĩ Wayne Morse, (Đảng dân Chủ - Oregon), 1967: Theo sự phán xét của tôi, chúng ta sẽ trở thành kẻ có tội vì là sự đe dọa lớn nhất cho nền hòa bình thế giới. Đó là một sự thực xấu xa, và người Mỹ chúng ta không thích đối diện với nó. Tôi thật không muốn nghĩ rằng một trang sử của Mỹ sẽ được viết ra liên quan đến chính sách vô pháp của chúng ta ở Đông Nam Á.”
Nhưng tại sao Mỹ, với những tội ác rất nghiêm trọng phạm ở Việt Nam, lại không có cả một lời xin lỗi. Chúng ta có thể đọc những ý kiến sau đây của cựu Tổng Thống Bill Clinton trên Internet.
25 năm sau chiến tranh chấm dứt, khi được hỏi ông ta có nghĩ rằng Mỹ nợ Việt Nam một lời xin lỗi, ông Clinton đã trả lời, đơn giản là, “Không, tôi không nghĩ như vậy” [Tại sao?], Vì:
• Xin lỗi về những tội ác chống dân Việt Nam có nghĩa là thừa nhận những điều chúng ta nói với nhau về cách ứng xử của chúng ta trong thế giới – khi đó cũng như bây giờ - là điều nói láo.
• Xin lỗi là thừa nhận rằng trong khi chúng ta tuyên bố là bảo vệ dân chủ, chúng ta lại đi trật ra ngoài dân chủ. Trong khi chúng ta tuyên bố rằng chúng ta đang bảo vệ Nam Việt Nam, thì chúng ta lại tấn công người dân Nam Việt Nam.
• Chúng ta đã thả 6 triệu rưỡi tấn bom và 400 ngàn tấn Napalm trên dân tộc ở Đông Nam Á. Bỏ bom tràn trề những vùng dân sự, những chương trình chống khủng bố và ám sát chính trị, thường xuyên giết người dân thường và dùng gần 45 triệu lít chất độc da cam để phá hủy mùa màng và mầu mỡ đất đai – tất cả đều là một phần của cuộc chiến tranh khủng bố của Mỹ ở Việt Nam, cũng như ở Lào và Cambod.
[When asked if he thought the United States owed the people of Vietnam an apology, 25 years after the end of the war, Clinton said, simply, "No, I don't."
• [...] To apologize for crimes against the people of Vietnam would be to admit that the stories we tell ourselves about our conduct in the world -- then and now -- are a lie.
• […] To apologize would be to acknowledge that while we claimed to be defending democracy, we were derailing democracy. While we claimed to be defending South Vietnam, we were attacking the people of South Vietnam.
• [...] we dropped 6.5 million tons of bombs and 400,000 tons of napalm on the people of Southeast Asia. Saturation bombing of civilian areas, counterterrorism programs and political assassination, routine killings of civilians and 11.2 million gallons of Agent Orange to destroy crops and ground cover -- all were part of the U.S. terror war in Vietnam, as well as Laos and Cambodia.[/quote])]
Những tài liệu trên, cũng như hàng trăm tài liệu hiện hữu khác về chiến tranh Việt Nam của chính người Mỹ mà tác giả gồm các tướng lãnh, chính trị gia, giáo sư đại học v..v…, đã nói lên những sự thật về chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến đã chấm dứt cách đây hơn 34 năm rồi. Và ngày nay, dù những sự thật đó có mang lại nhiều cay đắng cho người Việt Quốc Gia chúng ta, với tất cả sự lương thiện trí thức, chúng ta phải chấp nhận chúng, vì đơn giản chúng chỉ là sự thật. Và từ đó, hi vọng mỗi người trong chúng ta, nếu còn nghĩ đến quê hương đất nước, sẽ tìm ra được một con đường hợp lý hơn để góp phần xây dựng đất nước. Nhưng có vẻ như một số người Việt ở hải ngoại, có đầu mà không có óc, vẫn dựa vào vài cái nghị quyết ruồi bu của Hạ Viện Mỹ, bám vào vài dân biểu cắc ké như Sanchez, Smith v..v.., những kẻ không biết ngượng trước những tội ác của chính quốc gia Mỹ của mình, để chống Cộng mà thực ra là chống quốc gia, theo kiểu Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống.
Như chúng ta đã biết, cuộc can thiệp của Mỹ, hay nói đúng hơn là cuộc xâm lăng của Mỹ, vào Việt Nam, đã gây nên một cuộc chiến tàn khốc trên khắp đất nước, phạm nhiều tội ác ở Việt Nam và di hại cho người dân Việt Nam không ít, thực chất là một sự sai lầm căn bản và phi luân. Một số nhỏ người Mỹ, và đa số người Việt thuộc chế độ cũ, vẫn cho rằng sự can thiệp của Mỹ bắt nguồn từ một ý định tốt. Nhưng tất cả những tài liệu mà chúng ta biết ngày nay, tài liệu của Ngũ Giác Đài cũng như của các bậc trí thức, các học giả, các bậc lãnh đạo tôn giáo có uy tín trên nước Mỹ đã chứng minh là điều này không thực. Ngay cả cựu bộ trưởng Quốc Phòng Robert McNamara cũng phải thừa nhận cuộc chiến Việt Nam là một sự sai lầm của Mỹ (một sự sai lầm cố ý, dựa trên bản chất đế quốc của Mỹ)..
Gần đến ngày 30 tháng Tư, ở hải ngoại chúng ta lại sắp sửa nghe những bài ca quen thuộc về những cái gọi là “CS cưỡng chiếm miền Nam” (sic), hay “ngày mất nước” (sic), hay “tháng Tư đen”, hay “ngày quốc hận” [sic] v.. v… phản ánh một sự hiểu biết rất sai lạc về cuộc chiến ở Việt Nam. Sự thật lịch sử là như thế nào? Không ai có thể phủ nhận ngày 30/4/1975 là một biến cố lịch sử có ảnh hưởng không ít không những chỉ trên khối người Việt lưu vong mà còn trên cả dân tộc Việt Nam. Và cũng không ai có thể phủ nhận ngày 30/4/75 là ngày Việt Nam lấy lại hoàn toàn nền độc lập và thống nhất của nước nhà sau gần một thế kỷ bị người Pháp đô hộ, và sau một cuộc chiến tranh bất đắc dĩ đầy bi thảm mà nguyên nhân chính là sự can thiệp dựa trên “cường quyền thắng công lý” của ngoại bang: sự liên kết giữa Vatican và Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về để chống Cộng, xóa bỏ hiệp định Genève trong đó có điều khoản qui định một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, Đây cũng là những sự kiện lịch sử bất khả phủ bác. Nhưng hiển nhiên vì cảm tính cá nhân, không phải tất cả mọi người dân Việt đều có cùng một quan điểm về ngày 30/4/75.

Đến Lập Trường.
Từ những hiểu biết mới và sâu rộng hơn về lịch sử, về cuộc chiến ở Việt Nam, sự thay đổi quan niệm, suy tư của tôi là điều rất tự nhiên đối với con người, nó tỷ lệ thuận với trình độ hiểu biết. Với sự hiểu biết mới về cuộc chiến ở Việt Nam qua những tài liệu bất khả phủ bác trong những tác phẩm của giới học giả trí thức Âu Mỹ, nhiều tác phẩm thuộc loại phân tích nghiên cứu viết sau 1975, suy tư của tôi đã thay đổi và tôi không có cách nào còn có thể lên án cuộc chiến ở Việt Nam là do Cộng Sản theo lệnh của Nga, Tầu để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản được. Tại sao? Vì có nhiều bằng chứng chứng tỏ ông Hồ là người có tinh thần quốc gia và mục tiêu duy nhất của ông ta là đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại chủ quyền cho Việt Nam. Chúng ta hãy đọc vài tài liệu của các trí thức Âu Mỹ, những người không liên hệ gì đến sự đối nghịch Quốc-Cộng và không có lý do gì để tự hạ uy tín của mình để đưa ra những khảo cứu không nghiêm túc trong giới khoa bảng. Nhất là những công cuộc khảo cứu này đều viết sau 1975 và sau ngay cả khi chủ nghĩa Cộng sản đã cáo chung vào năm 1989.

Trong tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme” có bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học Denis-Diderot, Paris-VII. Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin tưởng ông Hồ Chí Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist). Giáo sư Brocheux viết, trang 33:
Đối với Quốc (Nguyễn Ái Quốc), chủ thuyết Mác Lênin đã đưa lên những phương tiện hành động, như là ông ta đã giảng giải nhiều năm sau: “Chúng ta phải hiểu rằng giật độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn mà người ta không thể hoàn thành mà không có một sự ngoại viện, không cần thiết phải là một sự viện trợ vũ khí mà dưới dạng cố vấn và tiếp xúc. Chúng ta không lấy lại được độc lập bằng cách ném bom hay bằng những hành động tương tự. Đó là sự sai lầm của những nhà cách mạng lúc đầu đã phạm phải [Có lẽ ông Hồ muốn nói đến cuộc ám sát thất bại của Phạm Hồng Thái đối với Toàn Quyền Merlin]. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Mác-Lênin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này.” (Pour Quoc, le marxisme-léninisme offre des moyens d’action, comme il l’a expliqué des années plus tard: “Vous devez comprendre qu’arracher l’indépendance à une puissance comme la France est une tâche formidable qu’on ne peut accomplir sans une aide extérieure et pas nécessairement une aide en armes mais sous la forme de conseils et de contacts. On ne gagne pas l’indépendance en jetant des bombes et par des actes de ce type. Ce fut l’erreur que les premiers révolutinaires commirent. On gagne l’indépendance en s’organisant et en se diciplinant. On a aussi besoin d’une foi, d’un évangile, d’une analyse pratique, on peut même parler d’une bible. Le marxisme-léninisme m’a fourni cette panoplie.)
Thực ra thì có lẽ ông Hồ muốn nói đến Những Luận Đề Về Những Vấn Đề Quốc Gia Và Thuộc Địa (Theses on The National and The Colonial Questions) của Lê-nin đưa lên trong Đại Hội II Cộng Sản Quốc Tế (Second Congress of the Communist International) vào năm 1920 để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế. Chúng ta đã biết, chính ông Hồ Chí Minh đã thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ý tưởng chính trị khó khăn trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thấm và hiểu rõ, và ý thức được là những đề án này đã giúp cho ông ta thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân. Và ông Hồ đã thành công.
Chúng ta hãy đọc tiếp vài đoạn khác của Giáo sư Brocheux. Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Nga Sô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:
“Năm 1934, Ông Hồ trở lại Moscou. Stalin đã củng cố quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937. Có vẻ như con người Hồ Chí Minh tương lai là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông ta không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ta ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng vô sản quốc tế.” (En 1934, il est de retour à Moscou. Staline raffermit son pouvoir, les grandes purges vont débuter en 1937. Il apparait avec certitude que le futur Ho Chi Minh faillit en être victime car, depuis son retour, il ne s’est vu confier aucune responsabilité. Sans doute lui reproche-t’on de préférer le nationalisme qui sous-tend le combat anti-colonial à l’internationalisme de la révolution prolatérienne.)
“Về vấn đề này, ông Hồ đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924. Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi Tây phương, tuy nhiên Quốc đã nhìn theo đặc tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông phương không giống như ở Tây phương. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử. Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử Âu Châu. Nhưng Âu Châu là gì? Không phải là tất cả nhân loại.” (À ce sujet, il a expliqué son point de vue dès 1924… Éduqué par l’Occident à la révolution et au marxisme, Quoc est pourtant persuadé, de la spécifícité de l’Orient: “La lutte de classes ne se manifeste pas en Indochine comme en Occident.” ; Marx a bâti sa doctrine sur une certaine philosophie de l’histoire. Mais quelle histoire? Celle de l’Europe. Mais qu’est ce que l’Europe? Ce n’est pas toute l’humanité).
“Hồ Chí Minh có thực sự là mgười Mác-xít không? Hay ông ta chỉ là người Quốc Gia sau lớp sơn đỏ? như một thành viên Cộng Sản Quốc Tế, ông M. N. Roy, người Ấn Độ, đã nói. Vấn đề này đáng được đặt ra.. Nếu chắc chắn là ông ta đã đọc bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản, nếu đã nhiều lần ông ta nói là chịu ảnh hưởng trí thức và chính trị của Lê-nin, thì sự gắn bó của ông với chủ nghĩa Mác không bao giờ có tính cách giáo điều.“ (Ho Chi Minh était-il vraiment marxiste? Ou n’était-il qu’un “nationaliste peint en rouge”, comme l’a dit un membre du Komintern, l’Indien M.N. Roy? La question mérite d’être posée… S’il a certainement lu le Manifeste du Parti Communiste, s’il dit maintes reprises sa dette intellectuelle et politique envers Lénine, son adhésion au Marxisme ne fut, pour autant, jamais dogmatique.)
“Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với ông Hồ Chí Minh vào năm 1960. Ông Hồ đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã trả lời ông ta: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn đề đạo đức. Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng .” (Rien n’illustre mieux le contraste entre Ho Chi Minh et d’autres dirigeants communistes que les propos que Mao Zedong et Liu Shaoqi tinrent à Ho Chi Minh en 1960. Ho avait déclaré qu’il n’était pas moral de tuer même ses adversaires; Mao lui répliqua: “Chiang Kaishek tue, je tue, ce n’est pas une question de morale.” Et Liu Shaoqi de renchérir qu’il n’était pas pertinent d’invoquer la morale lorsqu’on avait affaire aux contre-révolutionnaires capitalistes.)
Ngoài ra, trong cuốn “The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble Books, NY, 2005”, trang 493, cũng có viết:
“Ông Hồ ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết CS, không như Mao và Lê-nin; thiên tài của ông ta là về hành động chính trị, và lý tưởng của ông ta có thể khá co dãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông ta: nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.” (Ho was less concerned with niceties of doctrine than Mao and Lenin; his genius was for political action, and his ideology was capable of considerable stretching as long as it tended toward the purpose that obsessed him: the independence and unification of Vietnam.)
Trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, Paul Joseph, Giáo sư xã hội học, đại học Tufts, viết, trang 83:
“Dù rằng thiếu bằng chứng, Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự hứng khởi và chỉ đạo từ Liên Bang Sô Viết. Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ Tướng (Pháp) Ramadier, đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà “triết lý và tổ chức chính trị đều phát khởi từ và bị kiểm soát bởi điện Kremlin. Tuy vậy, tình báo Mỹ đã cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh. Một công điện của Bộ ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết “Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa ông Hồ và Moscou nhưng cứ cho rằng có.”
(Despite a lack of evidence,Washington continued to perceive the anti-French struggle (in Vietnam) as something inspired and directed from the Soviet Union. For example, in the cable to Premier Ramadier cited above, the American embassador falsely maintained that the Vietminh was a movement whose “philosophy and political organization emanated from and was controlled by the Kremlin.” Yet American intelligence had tried, and failed, to substantiate the existence of controlling ties between Moscou and Ho Chi Minh. A State Department cable to the US Ambassador in China read “the Department has no evidence of a direct link between Ho and Moscou but assumes it exists…)
Và Marilyn B. Young, trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990, HarperPerennial, New York, 1991, viết, trang 4:
“Trong vài năm tới, những văn bản Hồ Chí Minh viết bị tố cáo vì những “mùi hôi quốc gia” trong đó, và sự ủng hộ của ông Hồ về một liên minh rộng rãi bao gồm cả các địa chủ cỡ nhỏ và trung bình, miễn là họ yêu nước, bị đả kích là kẻ xét lại và là kẻ hợp tác (với kẻ thù). Phải mười năm sau sự tranh luận đắng cay về mối liên hệ giữa cách mạng quốc gia và cách mạng xã hội mới được giải quyết, theo đường lối lúc đầu đưa ra bởi ông Hồ, sự thành lập Việt Minh (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.”
(Over the next few years, Ho Chi Minh’s writings were denounced for their “nationalist stench”, and his support for a broad alliance that could include even small and medium landowners, provided they were patriotic, was attacked as reformist and collaborationist. A decade would pass before this bitter debate on the relationship between national and social revolution was resolved, along the lines initially by Ho, in the formation of the Viet Minh.)
Đó là đại khái những gì mà chúng ta biết về ông Hồ qua những nghiên cứu của một số học giả Âu Mỹ. Chắc chắn là những người này có bằng cấp, địa vị, uy tín và hiểu biết trong giới khoa bảng Âu Mỹ, và địa vị của họ không cho phép họ viết bậy bạ, xuyên tạc sự thật. Vậy không hiểu là tôi nên tin vào khả năng chuyên môn của họ hay nên tin vào những kẻ chống Cộng vô tên tuổi như Minh Võ, Nhữ Văn Úy, Chu Tất Tiến v..v.. và tập đoàn những người “duy chống Cộng thị nghiệp” nhưng chẳng có mấy đầu óc và hiểu biết, chuyên dựng đứng những chuyện bịa đặt về lịch sử và cá nhân theo cảm tính cá nhân, và dùng những danh từ rất hạ cấp để mạ lị cá nhân trong những bài viết chẳng có mấy giá trị của mình, điều mà những người trí thức và hiểu biết không ai đi làm như vậy cả.
Chúng ta không nên quên là giữa Nga và Tàu đã có cuộc tranh chấp ở biên giới Nga-Hoa. Chúng ta cũng không nên quên là Việt Nam đã dẹp chế độ Cộng sản cực đoan của Pol Pot ở bên Cambod và đã kháng chiến chống Tàu năm 1979 ở biên giới phía Bắc. Những người Công giáo cuồng tín ở hải ngoại thường đưa ra luận điệu ngụy tạo cho rằng ông Hồ là tay sai, theo lệnh Nga Tàu để gây chiến ở Việt Nam. Nhưng những tài liệu trích dẫn ở trên đã chứng tỏ ngược lại. Họ quên rằng chính Công giáo mới là tổ chức tuyệt đối theo lệnh ngoại bang. Khi xưa Công giáo đã làm tay sai và lập công lớn với Pháp để đưa nước nhà vào vòng đô hộ của thực dân Pháp. Và gần đây, trong vụ Tòa Khâm Sứ, ông TGM “Ngô Quang Kiệt nhục nhã” đã líu ríu nghe lệnh của Hồng Y Bertone ở Vatican, cuốn gói cờ quạt, thánh giá, tượng Maria trở về nhà thờ, chấm dứt cuộc làm loạn bất chấp luật pháp quốc gia. Đây mới là sự nhục nhã thực sự của ông Ngô Quang Kiệt và con chiên, chứ không phải là sự nhục nhã mang hộ chiếu Việt Nam.
Tôi cũng không thể nào chấp nhận luận điệu cho rằng Cộng sản đã gây chiến ở Việt Nam, tiền Geneva hay hậu Geneva, những luận điệu phản ánh những cái đầu mà không có óc, hay của những con bò mộng Tây Ban Nha, chỉ thấy màu đỏ là húc càn. Làm sao có thể cho là Cộng sản gây chiến khi mà hai cuộc chiến ở Việt Nam đều có nguyên nhân là sự ngoại xâm của của thực dân Pháp và của đế quốc Mỹ mà những tài liệu của chính người Mỹ, người Pháp đã viết lên rất rõ ràng như tôi đã trích dẫn ở phần trên. Mặt khác, nghiên cứu kỹ về cuộc chiến ở Việt Nam tôi cảm thấy kéo dài chống Cộng với tâm cảnh Quốc-Cộng khi xưa là điều hết sức vô lý, và sự thù hận Cộng sản là sự thù hận một chiều và có nhiều phần phi lý. Nói như vậy không có nghĩa là tôi ủng hộ tình trạng tham nhũng, nền giáo dục xuống cấp, cơn sốt kinh tế, đặt tiền tài vật chất lên trên hết, kéo theo nhiều tệ đoan trong xã hội hiện nay ở Việt Nam. Những vấn nạn xã hội này cần phải giải quyết với sự đóng góp của toàn dân, với thiện chí và thức tỉnh trong tinh thần phục vụ người dân của chính quyền.
Đối với một thiểu số, phần lớn thuộc thế lực đen, những người như Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ thì ngày 30/4/75 là ngày “Quốc hận” trong khi từ chính xác nhất phải là ngày “Công giáo hận.” Tại sao? Vì Công Giáo đã mất đi quyền tự tung tự tác như dưới thời Diệm, Thiệu, và quyền làm Việt gian như trong quá khứ. Lẽ dĩ nhiên “Quốc” và “Công giáo” là hai từ hoàn toàn khác nhau, nếu không muốn nói là bất khả tương hợp nếu xét trên những sự kiện lịch sử từ ngày các thừa sai Công giáo đầu tiên đặt chân trên đất Việt và qua cuộc xâm lăng và đô hộ của thực dân Pháp cho đến các chính quyền Diệm, Thiệu, nhất là Diệm.. “Quốc” của Công giáo là ở trên trời, nơi Giê-su “ngồi lên trên” tay phải của Cha ông ta (sit on the right hand of God), nhưng thực ra là Vatican. Những người không có mấy đầu óc thường lấy cái hận của mình hay của tôn giáo mình làm cái hận của cả một quốc gia, không buồn để ý là nói như vậy chỉ tỏ rõ trình độ thấp kém của mình. Bày tỏ ý kiến cá nhân là quyền căn bản của con người, miễn là những ý kiến bày tỏ không thuộc loại khích động sự thù hận mà nước Mỹ quy vào một loại tội ác “hate crime”, nhưng không ai có quyền lấy ý kiến của mình làm ý kiến của cả cộng đồng, của cả dân tộc. Cho nên từ “Quốc hận” là một từ của những kẻ vô trí cưỡng đặt trên cả một quốc gia mối hận của những cá nhân hay tôn giáo họ.
Đối với một thiểu số khác thì ngày 30/4/1975 là ngày mà họ không ngớt lời lên án “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” làm như “miền Nam” là một nước của riêng những người sống ở miền Nam, mà không cần để ý đến miền Nam cũng là một phần đất của nước Việt Nam. Họ cũng quên đi tất cả những nguyên nhân, yếu tố nào đã đưa đến sự hình thành một miền Nam mà thực chất không nằm trong tay người miền Nam, nói khác đi, một miền Nam không có căn cước của một quốc gia độc lập, có đầy đủ chủ quyền..., vì hoàn toàn lệ thuộc Mỹ và bất lực, không hề có phản ứng trước những chính sách và hành động tàn bạo của người Mỹ đối với người dân miền Nam của mình nói riêng, người dân Việt Nam trên toàn quốc nói chung, như những tài liệu nêu trên của chính người Mỹ đã viết rõ. Nhưng tại sao Việt Cộng có thể “cưỡng chiếm” được miền Nam, nếu đồng minh không quá chán chê với cái miền Nam nên đành “tháo chạy”, nếu quân dân miền Nam không chán chường vì chiến tranh với tâm cảnh “cũng thế thôi” [Xin đọc bài “Đầu Hàng” của Vân Xưa, alias Hồ Sĩ Khuê].
Điều hiển nhiên là những quan điểm như “mất nước”, “Quốc hận”, “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” chỉ là những quan điểm cá nhân của một thiểu số được đưa lên những diễn đàn truyền thông hải ngoại làm như đó là những quan điểm của cả cộng đồng người Việt di cư gồm hơn 2 triệu người. Chỉ có điều những quan điểm như vậy phản ánh một trình độ rất thấp kém, vì không hiểu ngay cả những từ đơn giản như thế nào là “nước”, là “Quốc”, và “cưỡng chiếm”. Những quan điểm cá nhân thiển cận này thường chỉ là những “thùng rỗng kêu to”, hoàn toàn vô nghĩa và vô giá trị trước những quyền lợi lớn lao của cả toàn dân tộc.
Và bây giờ tôi xin sang đến phần bày tỏ quan niệm cá nhân của tôi. Chỉ có một điều khác biệt, quan niệm của tôi không dựa trên cảm tính cá nhân mà dựa trên trên lịch sử dân tộc Việt Nam, trên những mặt tích cực của đất nước.
Lẽ dĩ nhiên, từ những hiểu biết mới, quan niệm của tôi về ngày 30 tháng Tư năm 1975, cũng thay đổi. Nó không còn là “ngày mất nước”. Nước vẫn còn đó và càng ngày càng phát triển; nó không còn là “tháng tư đen” mà là tháng tư đánh dấu thêm một trang oai hùng trong chiều dài lịch sử chống xâm lăng của Việt Nam. Nó cũng không còn là ngày “quốc hận”, một từ mà người Công giáo dùng để thay cho “Công giáo hận”. Tại sao?

Chẳng có ai phủ nhận là CS Việt Nam trong quá khứ đã có những sai lầm về chính sách, về những biện pháp độc tài khắc nghiệt không phù hợp với truyền thống văn hóa của người Việt Nam. Chính sách Cải Cách Ruộng Đất không sai nhưng khi thi hành đã vấp phải những sai lầm không kiểm soát được. Điều đáng nói là chính quyền đã thẳng thắn công nhận sự sai lầm trước quốc dân và có những hành động đền bù. Tết Mậu Thân xẩy ra trong cuộc chiến và sự tàn bạo không chỉ ở một phía. Ngày nay có nhiều tài liệu có thể làm sáng tỏ phần nào về vụ Tết Mậu Thân ở Huế. [Xin đọc một số tài liệu về Tết Mậu Thân trên dongduongthoibao.net hoặc nhandanvietnam.org] Nói như vậy không có nghĩa là bênh vực hay biện hộ cho những hành động của CS trong các vụ trên là chính đáng, nhưng chúng ta khi viết về những biến cố trên không thể chỉ đưa ra luận điệu một chiều, nhiều khi chỉ có mục đích tuyên truyền qua những con số ngụy tạo, phóng đại của một phía mà phải có những nhận định tổng hợp từ mọi phía. Nhưng dù sao thì đa số người dân Việt Nam, Quốc cũng như Cộng, cũng không thể phủ nhận được những đóng góp to lớn của CSVN cho đất nước. To lớn như thế nào, điều này đã được David G. Marr viết trong Phần Dẫn Nhập của cuốn “Vietnamese Tradition On Trial 1920-1945”, trang 1. David G. Marr là Giáo sư nghiên cứu về Thái Bình Dương ở Đại Học Quốc Gia Úc.

Năm 1938, ít nhất là 18 triệu người Việt nằm trong vòng kiềm tỏa của chỉ có 27000 binh lính thuộc địa. Tuy vậy mà chỉ 16 năm sau, lực lượng thuộc địa tới 450,000 quân mà không thể tránh khỏi cuộc thảm bại về chiến thuật ở Điện Biên Phủ và bắt buộc phải di tản chiến lược xuống miền Nam vĩ tuyến 17. Sau cùng, trong những năm 1965-1975, nhiều tổ hợp của Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, Nam Hàn, và các lực lượng quân sự đồng minh khác, tổng số lên tới 1.2 triệu người cũng bị thảm bại, và cuối cùng cũng bị đánh bại bởi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.
(In 1938 at least eighteen million Vietnamese were being kept in check by a mere 27,000 colonial troops. Yet a scant sixteen years later, colonial forces totalling 450,000 were unable to avoid tactical disaster at Dien Bien Phu and compulsory strategic evacuation south of the seventeenth parallel. Finally, in the years 1965-1975, various combinations of American, Republic of Vietnam, South Korean, and other allied armed forces totalling up to 1.2 million men were outfoxed, stalemated, and eventually vanquished by the National Liberation Front and the People’s Army of Vietnam.)

Đó có phải là một đóng góp to lớn cho dân tộc Việt Nam hay không bất kể là sau đó, CS đã suy thoái về lý tưởng ban đầu: giải phóng dân tộc, gồm có giải phóng đất nước và giải phóng người dân. Nếu chúng ta lại biết rằng, ngày 22-12-1944, ông Võ Nguyên Giáp mới bắt thành lập một Trung đội 34 người, và từ đội quân nhỏ nhoi này đã phát triển thành Quân Đội Nhân Dân Việt Nam trong vòng chưa đầy 10 năm để đưa đến thành tích chiến thắng ở Điện Biên Phủ, và sau đó với thành tích chiến thắng một đối phương có ưu thế tuyệt đối về quân sự và kinh tế, để đi đến thống nhất đất nước, thì đó có phải là điều đáng để cho chúng ta suy nghĩ và nhìn CS Việt Nam ngoài cái lăng kính nhỏ hẹp của hội chứng Quốc – Cộng không? Có bao giờ chúng ta đặt một câu hỏi cho chính chúng ta, những người quốc gia, là nếu những điều chúng ta viết ở hải ngoại trong những chiến dịch “tố Cộng” là đúng, thì làm sao CS có thể thắng trong cả hai cuộc chiến? Lẽ dĩ nhiên những thành tích trên là của toàn dân, nhưng nếu không có sự tổ chức và lãnh đạo của những người CS VN thì làm sao tự thân nhân dân có thể đạt được những thành tích như vậy.

Chúng ta nên nhớ là từ ngày Pháp lập nền đô hộ ở Việt Nam với công lớn của người Công giáo Việt Nam, đã có nhiều nhà ái quốc và tổ chức chính trị nổi lên để chống Pháp. Nhưng chỉ có Việt Minh là thành công. Những người chống Cộng đã đưa ra nhiều lý do nhưng chẳng có lý do nào có giá trị lịch sử, tất cả chỉ là những cảm tính cá nhân và cuồng tín tôn giáo. Tại sao chúng ta không thể đặt lên cán cân những sai lầm đáng tiếc của CS đối lại với những gì CS đã cống hiến cho đất nước Việt Nam? Có một số người khùng đến độ gọi Cộng Sản Việt Nam là “Việt Gian” và gọi những người ở hải ngoại mà họ cho là “thân Cộng” chỉ vì không hợp ý họ cũng là Việt gian. Cộng sản hay không, một lực lượng đã thành công đánh đuổi được thực dân, mang lại độc lập và thống nhất cho đất nước mà là “Việt Gian”, vậy thì tổ chức tôn giáo của những người Việt hoàn toàn lệ thuộc ngoại bang, đi làm tay sai cho thực dân Pháp để đưa nước nhà vào vòng nô lệ thì gọi là gì ? Là những người “yêu nước” hay sao? Điều đáng nói là trên một số diễn đàn truyền thông chống Cộng ở hải ngoại không thiếu gì những người khùng như vậy, và những người này phần lớn lại nằm trong một tập đoàn Việt gian như lịch sử đã ghi.

Với những sự hiểu biết mới và suy tư như trên, sau đây là những nhận định mới của tôi về ngày 30 tháng Tư.

Ngày 30/4/1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể là họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào. Tại sao, vì đó là ngày đánh dấu thêm một trang sử chống xâm lăng oai hùng của nhân dân Việt Nam. Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một người Việt Nam, một người Việt Nam không Quốc Gia không Cộng Sản, không Nam không Bắc, một người Việt Nam không từ bỏ gốc gác tổ tiên, không từ bỏ lịch sử khi vinh khi nhục của quốc gia, và lẽ dĩ nhiên rất hãnh diện với lịch sử chống xâm lăng của dân tộc.

Ngày 30/4/1975 cũng là ngày hòa bình đã đến đất nước Việt Nam, không còn chiến tranh bom đạn chết chóc phi lý và một thế hệ mới đã có thể bắt tay vào việc xây dựng đất nước. Bất kể những hô hào chống đối của một thế lực đã nổi tiếng là phi dân tộc cũng như của một số người đã sống với những “hào quang” của quá khứ ở miền Nam, tình người Việt Nam đã tỏ rõ trong sự kiện hàng năm có nhiều trăm ngàn người Việt tha hương về thăm quê hương. Nhiều chuyên gia trong giới trẻ cũng đã góp phần xây dựng đất nước qua những kiến thức chuyên môn của mình, và không ai có thể phủ nhận là đất nước càng ngày càng phát triển, vượt xa chế độ miền Nam trước đây về đủ mọi mặt, kể cả về phương diện tự do và dân chủ tuy rằng còn có ít nhiều giới hạn để đối phó với những người lợi dụng tôn giáo hay dựa thế ngoại bang trong mưu toan làm loạn quốc gia, và đối phó với một số chính trị gia ấu trĩ vọng ngoại.
Ngày 30/4/1975 mở đầu cho một cuộc di dân vĩ đại chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Hơn hai triệu người, đi chính thức cũng như vượt biên, hiện đang sống ở nước ngoài. Ở ngoại quốc, người Việt Nam nổi tiếng là cần cù, chịu khó, con em học hành rất thành đạt và có thể nói là vượt trội nhiều sắc dân khác đã định cư ở hải ngoại lâu đời. Điều này không có nghĩa là con em Việt Nam ở ngoại quốc giỏi hơn hay thông minh hơn con em người dân ỡ trong nước. Và trong cộng đồng người Việt hải ngoại không phải là không có những băng đảng cướp của, giết người, tống tiền v..v.., hậu quả của sự đua đòi vật chất nhưng lại không có khả năng chuyên môn để kiếm sống; những sự gian lận của một số trí thức vô liêm sỉ trong các giới bác sĩ, luật sư; những hành động phi dân chủ, tự do nhân danh chính dân chủ và tự do của một số người thuộc loại chống Cộng chết bỏ, trong số này có cả một số tu sĩ Công giáo cũng như Phật Giáo, những kẻ đầu cơ chính trị v..v.. Ở đâu cũng vậy, đồng tiền và hư danh đã làm cho con người không còn lương tri, không còn liêm sỉ, không còn đạo đức, chỉ vơ vào bản thân bằng bất cứ phương tiện nào.

Riêng đối với cá nhân tôi, ngày 30/4/1975 là ngày tôi quyết định ly hương trước đó mấy ngày và cho đến bây giờ tôi vẫn không hối tiếc gì về quyết định này. Không được sống trên quê hương đất tổ, nhưng cả thế giới đã mở ra trước mắt tôi. Không gian như thu hẹp lại, và tôi có thể đi khắp thế giới, đến bất cứ nơi nào tôi muốn, để mở rộng tầm mắt. Thật vậy, nhờ “hồng ân thiên chúa” nên tôi đã có dịp đi tham quan, ngoài gần khắp nước Mỹ, khá nhiều nơi trên thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Tây Âu, Đông Âu, Bắc Âu, Hi Lạp v..v… Vì sau ngày 30 tháng Tư 75 nước vẫn còn đó, không có mất đi đâu, nên ngày nay, tôi muốn về thăm quê hương khi nào cũng được. Và tôi đã thực hiện ba chuyến về thăm quê hương trong các năm 1996, 1998 và 2007. Tôi cũng còn dự định về xem lễ hội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vào năm tới, 2010.
Kể từ ngày tôi “tự cưỡng bách di tản” khỏi Saigon vào mấy ngày cuối tháng 4 năm 1975, nay đã hơn 34 năm sống trên đất Mỹ. Cuộc chiến Việt Nam đã đưa đẩy nhiều người đến những số phận không ai muốn (trừ những người “tị nạn” nhưng thật ra vì lý do kinh tế). Nhưng dù muốn hay không, với bản năng sinh tồn, con người vẫn phải tiếp tục sống. Đối với những mất mát về tinh thần và vật chất khi phải xa quê hương, nói rằng không có sự luyến tiếc chỉ là tự dối lòng. Nhưng điều bù đắp hơn hết là tôi có cơ hội đọc rất nhiều sách về chiến tranh Việt Nam, về Ki Tô Giáo cũng như về Phật Giáo. Điều này đã khiến tư duy của tôi thay đổi trên nhiều phương diện. Đối với tôi, sự mất mát trong một giai đoạn đã được đền bù bằng những món ăn tinh thần mà trước đây tôi không bao giờ nghĩ tới. Từ 1975, định cư ở Mỹ, tôi mới có cơ hội và phương tiện để tìm hiểu về Phật Giáo. Tôi cho đó là một hồng phúc của tổ tiên để lại. Ngoài ra, tôi cũng còn có cơ hội để tìm hiểu thực chất về các tôn giáo khác, đặc biệt là về Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo Rô Ma (Roman Catholicism) nói riêng, cũng như về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam mà tôi tin rằng nếu ở lại Việt Nam tôi không thể nào có phương tiện và cơ hội để có được những sự hiểu biết này. Qua những kiến thức mới thu thập được này, tôi đã từ một người “Quốc gia” trở thành một người “của Quốc Gia”, Quốc gia Việt Nam.
Về chiến tranh Việt Nam, chúng ta đã thua, và một thiểu số muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống Cộng ở hải ngoại, chống Cộng vì những mất mát cá nhân về quyền thế, về tôn giáo, hay tài sản, hay người thân v..v.., nói chung, với lý do chúng ta là “nạn nhân của Cộng Sản”. Nhưng trong chúng ta, có ai đặt câu hỏi: “Thế nạn nhân của Mỹ và của phía Quốc Gia thì sao?” Ai có can đảm trả lời trung thực câu hỏi này. Nên nhớ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã giết khoảng 300,000 người vô tội trong chính sách “tố Cộng”, cộng với những thảm bom trải từ B52, vùng oanh kích tự do, Bến Tre, chiến dịch Phụng Hoàng, Agent Orange, Mỹ Lai v..v.. Và sự thật là, trong cuộc chiến, số người chết, bị thương của miền Bắc gấp mấy lần của miền Nam. Khoan nói đến những sự tàn khốc của chiến tranh, những người chết và thân nhân gia đình họ ở phía bên kia có phải là người không, và những người còn sống có đau khổ trước những sự mất mát to lớn đã đến với họ không? Họ có quyền thù hận chúng ta không?
Vậy nếu họ cũng kéo dài thù hận như chúng ta, thì sự thù hận này bao giờ mới chấm dứt, oan oan tương báo. Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía những người quốc gia ở hải ngoại. Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người bên phía CS không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè thân thuộc v..v.. nên những mất mát tổn thất của họ không đáng kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận. Những người chống Cộng chỉ đưa ra những luận điệu một chiều để chứng minh chỉ có CS là ác, còn QG hay Mỹ thì không. Họ cố tình lờ đi và không bao giờ nhắc đến những hành động đối với dân, với kẻ thù, của người lính Quốc Gia cũng như của người lính Mỹ mà CS cũng phải chào thua, như những tài liệu của chính người Mỹ như đã trình bày ở trên. Nhưng cũng may là sự thù hận này phần lớn chỉ có một chiều, tập trung trong một thiểu số ở hải ngoại mà đa số trong đó thuộc thế lực đen, một thế lực đã nổi tiếng trong dân gian, mà lịch sử đã ghi rõ, là “mất gốc”, là “tay sai ngoại bang” và “hễ đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc”, đang nắm những phương tiện truyền thông ở hải ngoại.
Ngày nay, thế giới Tây phương và tay sai tập trung vào chiến dịch hướng dẫn dư luận, thật ra là lạc dẫn [mislead] dư luận qua những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, thổi phồng tội ác của Cộng Sản, nhằm mục đích xóa tên Cộng sản trên chính trường thế giới để chạy tội cho chính mình. Sách lược chung của họ là chỉ đưa ra, và thường là thổi phồng, xuyên tạc mặt xấu của Cộng Sản mà không bao giờ nói đến cái lịch sử ô nhục của Tây phương về tôn giáo, về thực dân, cũng như không bao giờ nói đến những thành quả của Cộng Sản trên thế giới, kể cả ở Âu Châu. Riêng về Việt Nam, những người chống Cộng cực đoan hay chống Cộng cho Chúa thường quên đi hay xuyên tạc, hạ thấp những chiến công lừng lẫy của Cộng Sản trong công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp, cất bỏ được ách đô hộ của thực dân trên toàn thể dân tộc, và là tiền phong trong những cuộc cách mạng chống thực dân trên thế giới, và sau cùng thống nhất đất nước. Họ chỉ quan tâm đến vài con số ngụy tạo trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở Việt Nam. Trong cuộc chiến với Mỹ ở miền Nam, họ chỉ nhắc đến Tết Mậu Thân theo luận điệu tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ, mà quên đi bom đạn Mỹ và VNCH đã tàn phá Huế và Bến Tre như thế nào, đã làm bao nhiêu thường dân vô tội chết. Một tài liệu cho biết, cho tới cuối năm 1966, theo ước tính của CIA thì bom của Mỹ thả ở ngoài Bắc đã làm chết trên 35,000 người mà 80% là thường dân [Ronald H. Specter, After Tet, The Free Press, New York, 1993, p. 12: The bombing’s economic and military damage to North Vietnam was estimated by the CIA at about $130 million by the end of 1966, and more than 35000 North Vietnamese, 80 percent of them civilians, had been killed]. Họ cũng không bao giờ nhắc đến Mỹ Lai, chiến dịch Phụng Hoàng, vùng oanh kích tự do, thuốc khai quang, và những chính sách tàn bạo gấp bội, giết nhiều người gấp bội của Mỹ và tay sai, nhất là của chính quyền tôn giáo trị, gia đình trị của Ngô Đình Diệm với chính sách “tố Cộng” bừa bãi, với đoàn mật vụ miền Trung, với khu 9 hầm của Ngô Đình Cẩn v.v... Nhưng tài liệu về cuộc chiến ở Việt Nam ngày nay không thiếu, cho nên những luận điệu “tố Cộng” một chiều theo thiên kiến không còn giá trị thuyết phục, ít ra là đối với lớp người có đôi chút hiểu biết về lịch sử.
Có một điều khó ai có thể phủ nhận là cuộc cách mạng 1789 của Pháp, và sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản trong thế kỷ 20, đã phần nào làm sụp đổ ý thức hệ và quyền lực của Công giáo Rô-ma Âu Châu, hậu quả là tình trạng suy thoái thê thảm của Ki Tô Giáo ở Âu Châu ngày nay. Có thể nói, chủ nghĩa Cộng Sản là một toa thuốc đã thành công chữa vài căn bệnh thời đại đã giáng lên đầu nhân loại: bệnh nghiện thuốc phiện Thiên Chúa của Âu Châu mà người dân Âu Châu ngày nay đã cai từ từ, bệnh tư bản bóc lột giai cấp vô sản của cuộc cách mạng kỹ nghệ mà các xí nghiệp đã phải cho tổ chức những nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của công nhân, và bệnh thực dân bóc lột trà đạp những nước nhược tiểu, đã cáo chung sau chiến thắng Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Việt Nam nên hãnh diện vì đã đi tiên phong trong sứ mạng giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp, một ách nô lệ mà lịch sử đã ghi rõ, thực dân Pháp không thể áp đặt lên dân tộc Việt Nam nếu không có những sự hỗ trợ, hành động tay sai của tổ chức Công Giáo Rô-ma ở Việt Nam, như chính giám mục Puginier đã thú nhận. Cộng Sản Việt Nam đã mở đường chôn vùi chế độ thực dân trên thế giới, đồng thời đưa thế lực đen đã nổi tiếng là “hễ phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc” về nguyên vị là một thiểu số lệ thuộc ngoại bang trên đất nước, và mất đi những quyền lợi chỉ có thể có được nhờ thực dân và 2 chính quyền Công giáo ở miền Nam.. Đây là những sự kiện lịch sử không ai có thể phủ bác bất cứ dưới lý luận méo mó thiển cận nào, thí dụ như, cứ để yên rồi Pháp sẽ trả lại độc lập cho cũng như Mỹ đã trả lại độc lập cho Phi Luật Tân mà không biết rằng bao nhiêu ngàn người Phi Luật Tân đã chết vì chống Mỹ. Nhưng sau khi đánh đuổi được thực dân và thống nhất đất nước, chủ nghĩa Cộng Sản đã không còn thích hợp, vì vậy mà sớm hơn cuộc “cách mạng nhung 1989” tại Đông Âu, từ 1986, Việt Nam đã kịp thời chuyển hướng, từng bước tự mình đổi mới để vượt qua những khó khăn lúc đầu của tình trạng kiệt quệ sau cuộc chiến, vượt qua sự cấm vận trong 19 năm của Mỹ, và đưa quốc gia đến tình trạng phát triển về mọi mặt ngày nay. Chỉ có những con bò mộng Tây Ban Nha, đeo thêm cặp kính màu hồng, nhìn đâu cũng thấy màu đỏ và cắm đầu húc càn, mới không biết đến những điều này.
Tôi biết bài này sẽ làm cho một số người phát dị ứng, nhất là những người thuộc thế lực đen quốc tế [Từ của Linh mục Joseph McCabe: The Black International]. Nhưng trong lãnh vực học thuật thì đó là sự thật, chỉ là sự thật, không gì ngoài sự thật (the truth, the only truth, nothing but the truth). Ai cũng biết là từ trước tới nay lập trường của tôi là “không chống Cộng“, ít ra là không chống Cộng như những người chống Cộng ở hải ngoại, thí dụ như chống một nghị quyết, chống một ông thầy tu đi giảng đạo nước ngoài, chống một bức tranh, chống một bản nhạc, chống một cái bắt tay giữa ông Nguyễn Xuân Vinh và bà Madison Nguyễn, chống những người không đồng ý với mình và cho họ là Cộng sản v..v..... Hay chống Cộng như ông linh mục Đinh Xuân Minh, đòi chống Cộng theo gương David, mà theo chính Kinh Thánh thì là một tướng cướp sau lên làm Vua thì hoang dâm vô độ, mưu đồ giết thuộc hạ để cướp vợ của thuộc hạ v..v... Nhưng lý do chính đối với tôi rất đơn giản, Cộng ở đâu mà chống? Theo như những lời huênh hoang của Công giáo Mít thì “Đức thánh cha“ John Paul II của họ cùng với Gorbachev và Tổng thống Reagan đã dẹp tiệm Cộng sản từ năm 1989, vậy nếu bây giờ tôi cứ hùng hổ chống Cộng thì chẳng hóa ra là tôi ngu, đi chống một hồn ma hay sao. Trên diễn đàn hải ngoại, và có cả ông thầy tu trong nước, đòi “giải thể chủ nghĩa CS“ trong khi thực sự chẳng biết chủ nghĩa CS là cái gì, và hiện nay ở Việt Nam còn ai áp dụng chủ nghĩa CS hay không, chủ nghĩa như thế nào và áp dụng như thế nào. Đầu óc tôi tương đối vẫn chưa đến độ ngu như vậy, vẫn là đầu óc của con người, không phải là đầu óc của con chiên.
Có người chất vấn tôi: tại sao ông không chống Cộng mà lại đi chống Công giáo? Đây là một câu hỏi hàm ý muốn áp đặt khuynh hướng chính trị của mình lên người khác. Chống Cộng hay không và chống Công giáo hay không là quyền của tôi, không ai có quyền xía vào lập trường cá nhân của tôi. Tuy nhiên, tôi cũng có một câu trả lời rất đơn giản: “Việt Nam, qua dòng lịch sử, rất trân quý nền độc lập và chủ quyền của nước nhà, và không ngại hi sinh để gìn giữ đất nước như lịch sử đã chứng minh. Nhưng lịch sử cho thấy, Công giáo “có công“ đưa nước nhà vào vòng nô lệ của thực dân Pháp và đào tạo được nhiều Việt gian như Trần Bá Lộc, Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Ký, Nguyễn Thân, Nguyễn Bá Tòng, Trần Lục, Lê Hữu Từ, Hoàng Quỳnh, dòng họ Ngô Đình v..v...., còn Cộng sản thì có công đánh đuổi được thực dân Pháp và thống nhất đất nước. Hai cái “công“ này rất khác nhau, một là công đối với tổ tiên, đất nước; còn một là công đối với ngoại bang để xâm chiếm đất nước của tổ tiên, phản bôi dân tộc. Vậy thì, chúng ta nên chống Cộng hay chống Công giáo?“
Nhưng xét cho cùng thì tôi cũng chẳng phải là chống Công giáo, vì trước sự tiến bộ trí thức của thế giới, Công giáo tự nó phải suy thoái chứ có gì đáng đâu mà phải chống. Chính Công giáo đã chống Công giáo hơn ai hết chứ chẳng phải Cộng sản hay người ngoại đạo đã chống Công giáo. Chính vụ Giáo hoàng John Paul II cùng một số Hồng Y, Tổng Giám Mục xưng thú 7 núi tội ác của Công giáo trước thế giới đã chống Công giáo. Chính lịch sử các Giáo hoàng loạn luân, loạn dâm, sát nhân tàn bạo đã chống Công giáo. Chính sự phá sản tâm linh và đạo đức của giới chăn chiên qua những vụ như hơn 5000 linh mục bị truy tố về tội loạn dâm với trẻ phụ tế và nữ tín đồ, hay cưỡng bách tình dục các Sơ, chị em tâm linh của họ, trong 24 quốc gia đã chống Công giáo. Chính sự tàn nhẫn của một số Sơ đối với các trẻ mồ côi trong các viện mồ côi và một số cơ sở “từ thiện“ của Công giáo đã chống Công giáo. Chính lịch sử Công giáo Việt Nam làm tay sai cho thực dân Pháp để đưa nước nhà vào vòng nô lệ Pháp, như Giám Mục Puginier đã khẳng định, đã chống Công giáo hơn gì hết. Chính sự nô lệ Vatican của Công giáo Việt Nam đã chống Công giáo. Còn nhiều nữa nhưng tôi tưởng chừng đó cũng đủ để thấy rằng chính Công giáo đã chống Công giáo hơn ai hết. Tôi viết như trên không có nghĩa là tôi chống những người dân theo Công giáo, họ là nạn nhân của những sự mê hoặc tôn giáo. Cái mà tôi chống là cấu trúc tự tạo quyền lực của Công giáo để nhốt đầu óc tín đồ vào một ngục tù tâm linh bằng những điều huyễn hoặc hoang đường đã không còn giá trị trên thế giới ngày nay. Điều đáng trách là chính Giáo hội cũng đã biết như vậy, nhưng giới chăn chiên, để duy trì quyền lực vật chất cũng như tinh thần trước đám dân thấp kém, vẫn không có sự lương thiện trí thức để khai sáng đầu óc tín đồ.
Những người Công giáo lên án tôi là “chống Công giáo“ hãy dùng đầu óc để suy nghĩ xem những điều tôi viết về Công giáo có phải là những sự thật hay không, hay đó chỉ là những sự bịa đặt của ... Cộng sản (!) mà tôi dùng để “chống Công giáo“? Tôi chỉ đưa ra những sự thật về Công giáo, qua những tài liệu bất khả phủ bác của giới học giả Âu Mỹ, trong đó đa số lại là học giả Thiên Chúa giáo, với hi vọng giúp được phần nào tăng sự hiểu biết đúng đắn của người dân Việt Nam về bộ mặt thật của Công giáo. Có lý do gì để người dân Việt Nam không được quyền biết những sự thật này. Những tín đồ Công giáo có quyền tin những lời dạy của các bề trên, rằng Công giáo của họ là một “hội thánh, thiên khải, duy nhất, tông truyền“, quán quân về tinh thần bác ái v...v... Nhưng họ phải biết rằng, bất kể Giáo hội Công giáo dạy tín đồ của họ như thế nào, đối với những người hiểu biết ở ngoài đạo như tôi thì, trước hàng núi tài liệu khả tín về Công giáo của hàng trăm học giả ở trong cũng như ở ngoài giáo hội viết về Công giáo, Công giáo chẳng qua chỉ là một tổ chức thế tục ngụy trang đàng sau bộ mặt tôn giáo, có nhiều sắc thái của Mafia, Mafia tâm linh cũng như Mafia vật chất. Tôi không có viết chơi, một trong những cuốn sách viết về những sắc thái này là cuốn “The Vatican Mafia” của Đức Ông Tiến sĩ Rafael Rodriguez Guillen trong Giáo hội Công giáo. Đức ông Rafael Rodriguez Guillen chưa hề bị tuyệt thông và vẫn còn hành nghề hợp pháp [the person saying it is a Monsegñor and Vaticanist priest who has not been excommunicated and still has his Canonical licenses.] Đây là một tác phẩm kết quả của nhiều năm nghiên cứu khoa học về lịch sử, triết lý, thần học và thánh kinh [This is a work of many years of philosophical, biblical theological, scientifically and historical investigation]
Cuốn The Vatican Mafia gồm có 40 chương, trong đó chúng ta có thể đọc được những chương điển hình như sau:
3. Personages of the Sacred Mafia of the Vatican
4. The Vatican's Mafia in the Catholic Churches
5. The Gangsters or the Vatican's Sacrilegious Mafia
6. The connection of the Vatican in the Counterfeiting of Billions of Dollars
7. The Vatican and her Connections With the Crime Syndicate
8. The Archbishop Marcinkus and the Vatican's Mafia
9. The Vatican's murderous Mafia
11. The Vatican's Alliances with the International Mafia
12. The Holy Mafia
13. The Intellectual, Political and Sacred.....Mafia
14. The Sacred Mafia in the USA, Spain and Latin America
15. The Terrorist Mafia of the Vatican
16. The Vatican and her Roman Legions Connected with the Mafia
17. The Vatican Mafia's Efforts to Destroy Protestants
18. The Lie of the Catholic Ecumenical Movement Organized by the Vatican's Mafia
20. The Holy Mafia or the Opus Dei
21. Writers and Historians who Prove the Vatican's Mafia
22. Richard Hammer's Book "The Vatican Connection with the Mafia"
23. Vaticanist Historians not compromised with the Vatican's Mafia
31. The Vaticanist Author Rapporport Documents the Vatican's Mafia
34. The Mafia of the Vatican is Directed by the Antichrist 666
35. The Great Conflict between Christ and Antichrist or the Vatican's Mafia
38. Satanic Practices of the Mafia
Tôi đã trở thành một công dân Mỹ gốc Việt 29 năm nay rồi. Nhân danh là một công dân Mỹ, những gì tôi viết về Mỹ, chẳng phải là để chống Mỹ, mà chỉ là những sự thật về Mỹ, từ những tài liệu của chính người Mỹ. Cũng vậy, những gì tôi viết về Công giáo chẳng phải là tôi chống Công giáo, mà chỉ là những sự thật về Công giáo, từ những tài liệu nghiên cứu về Công giáo của các học giả Âu Mỹ, ở trong cũng như ở ngoài Công giáo. Không ở trong lãnh vực học thuật trí thức thì khó mà có thể hiểu được những điều này.
Kiến thức thu thập được từ những tài liệu có giá trị về cuộc chiến, về tôn giáo, tôi cho đây chính là sự đền bù lớn lao đối với tôi, về phương diện tri thức, để bù đắp lại sự mất mát do quyết định của tôi, tự bắt buộc phải rời quê hương mấy ngày trước ngày 30 tháng Tư, 1975.


Trần Chung Ngọc
4/2009

TRẦN CHUNG NGỌC : CHARLES DARWIN và THUYẾT TIẾN HÓA

CHARLES DARWIN và THUYẾT TIẾN HÓA

nguồn: http://www.giaodiem.com/doithoaiIII/09_tcn_darwin.htm

Trần Chung Ngọc



25 tháng 8, 2007




T uy đầu đề bài viết này là “Charles Darwin & Thuyết Tiến Hóa” nhưng đây không phải là bài viết về thuyết Tiến Hóa. Tôi sẽ trình bày thuyết Tiến Hóa trong một bài khác. Trong bài này, tôi chỉ muốn trình bày chỗ đứng của Darwin, và do đó, thuyết Tiến Hóa, trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay, dù Darwin và thuyết Tiến Hóa đã phải đối diện với nhiều chống đối từ phía các tôn giáo thờ thần. Thật vậy, Darwin và thuyết Tiến Hóa đã thường xuyên bị chống đối từ phía các “Độc Thần” Giáo như Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo. Hung hăng nhất là vài hệ phái bảo thủ Tin Lành.

Sự chống đối phần lớn là từ những tín đồ Tin Lành cuồng tín, đầu óc thiếu chất oxy nên trở thành oxymoron, cho nên ngày nay mà vẫn còn tin vào sự hiện hữu của một Thần Cha (God the Father) “sáng tạo” ra vũ trụ trong 6 ngày, cách đây khoảng 6000 năm, thấy tác phẩm sáng tạo của mình toàn hảo (very good), nghĩa là không có gì cần phải thay đổi nữa, rồi xoa tay ngồi chơi sơi nước ngày thứ bảy; và tin vào một Thần Con (God the Son) Do Thái, tự leo lên cây thập giá, “tình nguyện” được đóng đinh để chuộc cái gọi là “tội tổ tông” không hề có của nhân loại, và cũng chẳng có ai nhờ vả ông ta, và có khả năng “phán xét” trong ngày “tận thế” mà đáng lẽ ra đã xảy ra cách đây gần 2000 năm, theo như những lời phán không thể sai lầm của chính ông ta, Thần Con (Giê-su) trong Tân Ước, bất kể là  nhân loại, khoảng trên 5 tỷ người, phần lớn chẳng cần biết ông ta là ai, chẳng coi ông ta ra gì, và riêng đối với tôi thì tôi không cho phép ông ta phán xét tôi, dù ông ta có xin phép thì tôi cũng từ chối (permission to judge denied). Những tín đồ thuộc loại này cũng còn tiếp tục tin rằng ông ta sẽ phù phép làm cho sống lại những người đã chết, bất kể là họ chết từ bao giờ và như thế nào, chết yên lành trên giường hay tan xác pháo ngoài mặt trận, bất kể là xương thịt của họ đã rũa nát hay chưa, để cho những người chết này, vì chỉ cần tin ông ta mà được hưởng một cuộc sống đời đời trên thiên đường (mù) cùng ông ta. Những đầu óc thuộc loại này thì miễn bàn, không thể đối thoại, không có cách nào có thể mở mang thêm, ít ra là về vấn đề tôn giáo.

Khoa học và “dức tin” khó mà có thể đi cùng trên một lộ trình của kiến thức và trí tuệ. Tại sao? Vì khoa học là tương đối, là thay đổi để tiến bộ trí thức, trong khi “đức tin”, nhất lại là thuộc loại “đức tin” Ca Tô không cần biết, không cần hiểu [Xin đọc Đỗ Mạnh Tri trong Ngón Tay và Mặt Trăng], hoặc “đức tin” Tin Lành, tin vào sự không thể sai lầm (sic) của cái gọi là “Holy Bible” (sic), thì cố định, tuyệt đối, không bao giờ thay đổi, không cho phép chấp nhận bất cứ cái gì trái ngược với những loại “đức tin” đó, bất kể sự hiện hữu của những bằng chứng khoa học không ai có thể phủ bác. Loại đức tin này như nước trong một vũng nước tù, lâu ngày trở nên ô nhiễm, sinh ra nhiều độc tố, gây hại cho nhân loại. Trong xã hội, nó như một tế bào ung thư, dần dần lan rộng nếu không tìm cách ngăn chận. Lịch sử Ki Tô Giáo trong 2000 năm nay đã chứng minh như vậy [Xin đọc Những Lời Xưng Thú 7 Núi Tội Lỗi của Giáo Hoàng John Paul II trước nhân loại, hay đọc cuốn Theo Đúng Như Sách Viết: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Gây Ra Bởi Quyền Năng Thánh Kinh (Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority) của Mục sư Ernie Bringas]. Cho nên, những người vẫn còn tự nguyện hạ mình xuống hàng con cừu (con chiên), giới chăn chiên bảo sao nghe vậy, giắt đi đâu đi theo đó (Ca Tô), hay tự nguyện làm đầy tớ xiêng năng hầu hạ việc Chúa (Tin Lành), không hề sử dụng đến đầu óc, tất nhiên không thể đi trên cùng một xa lộ tinh thần với những con người đúng nghĩa là một con người, có đầu óc để suy tư, và có lý trí để phán đoán.. Con người không thể đối thoại với con cừu, và một người làm chủ chính mình thì không nên đối thoại với những người đã mất đi nhân cách, chỉ có thể làm những việc hầu hạ của đầy tớ, vì họ đã được Thánh Kinh dạy kỹ: Đầy tớ không hơn được chủ.

Qua những tài liệu trong bài này, quý độc giả có thể thấy rõ một vấn nạn trong những xã hội Ki Tô Giáo, một vấn nạn gây ra bởi những người Ki Tô cuồng tín, nhất là Tin Lành, những người vẫn tiếp tục lên tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa vì cho rằng thuyết Tiến Hóa đã chống lại “Độc Thần” hay ông “Thần Độc” của họ, tuy rằng thuyết Tiến Hóa, cũng như mọi thuyết khoa học khác, chỉ là sản phẩm trí thức của con người trong sự tìm hiểu và giải thích những qui luật trong vũ trụ và nhân sinh. Nếu trong những giải thích có những điểm trái ngược với đức tin của Ki Tô Giáo thì đó không phải là chủ ý “chống tôn giáo” của những khoa học gia, bởi vì những sự kiện khoa học thì không thiên vị, phi tôn giáo, và phổ quát. Sự chống đối trên thậm vô lý vì khoa học chỉ trình bày những sự kiện khoa học như chúng là như vậy (as they really are).

Trong tinh thần khoa học, không ai bắt buộc ai phải tin vào thuyết Tiến Hóa tuy chúng ta có thể nói, chưa có một đóng góp nào cho nhân loại rộng lớn như thuyết Tiến Hóa, vì ngày nay, thuyết Tiến Hóa đã trở thành một sự kiện, và đi vào mọi bộ môn của khoa học như vũ trụ học, sinh học, sinh hóa học, cổ sinh vật học, nhân chủng học v..v... Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận là, tư tưởng chính đàng sau thuyết Tiến Hóa: con người sinh ra không phải là do Thần Cha (God) “sáng tạo” mà tiến hóa từ những dạng sống thấp hơn, đã giúp con người ra khỏi vòng mê tín của thuyết Sáng Tạo, bác bỏ vai trò sáng tạo của Thần Cha (God) trong Ki Tô Giáo, biến những chuyện như “tội tổ tông”, “chuộc tội”, “cứu rỗi” v..v.. trong Ki Tô Giáo thành những chuyện hoang đường không thể chấp nhận trong thế giới ngày nay, ít ra là đối với giới hiểu biết ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô. [Xin đọc những bài Huyền Thoại Cứu Rỗi của Linh mục James Kavanaugh, Giê-su Là Đấng Cứu Thế: Một Vai Trò Cần Phải Dẹp Bỏ của Giám mục John Shelby Spong, và Những Lời Châu Ngọc Về Ki Tô Giáo của Robert G. Ingersoll trên trang nhà Giao Điểm. TCN].

Hiển nhiên là Ki Tô Giáo không đội trời chung với Charles Darwin vì Ki Tô Giáo muốn con người phải tin vào những điều viển vông, hoang đường, phản khoa học, phi lý trí, không thể kiểm chứng được, nếu không muốn nói là làm ô nhiễm đầu óc con người trong thời đại ngày nay. Cũng vì vậy, ngay từ khi thuyết Tiến Hóa ra đời, Ki Tô Giáo đã ra công tích cực chống đối thuyết Tiến Hóa, chống đối vì cần tiếp tục nhốt tín đồ trong những ngục tù tư tưởng, trói chặt tín đồ bằng những xiềng xích trí tuệ, và nuôi dưỡng sự mê tín trong đám tín đồ thấp kém, từ đó mới có thể duy trì được quyền lực tinh thần tự tạo của giới chăn chiên trên đám tín đồ, và tiếp tục hưởng thụ vật chất trên sự nghèo khổ của đa số tín đồ nghèo khó. Điều lạ là sự chống đối đó vẫn còn tiếp tục cho tới ngày nay từ một vài ốc đảo Ki Tô với sự phụ họa của một số tân tòng Tin Lành Việt Nam qua những luận cứ rất ấu trĩ và hoang đường như sẽ được dẫn chứng trong một đoạn sau.

Trước khi đi vào phần trình bày chỗ đứng của Darwin và thuyết Tiến Hóa trong thế giới ngày nay, tôi nghĩ chúng ta cũng nên nói sơ qua về căn bản của thuyết Tiến Hóa và những chống đối cuồng nhiệt từ phía Ki Tô Giáo, của những đầu óc tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh, nguồn gốc của nhiều thảm họa đã tới với nhân loại trong 2000 năm nay.

Năm 1859, Charles Darwin cho ra đời cuốn Về Nguồn Gốc Các Chủng Loại Do Chọn Lọc Tự Nhiên (On the Origin of Species By Means of Natural Selection). Then chốt của thuyết này là ở phần cuối tên cuốn sách: “Chọn Lọc Tự Nhiên”. Nói ngắn gọn, khi các chủng loại truyền giống, bao giờ cũng có những sự biến thiên (variations), tuy rất nhỏ, từ thế hệ này sang thế hệ khác, biến thiên trên kích thước, sức mạnh, hình dạng, sự thông minh, sự chịu đựng v..v.. Sự tiến hóa bao giờ cũng từ thấp tới cao, từ những dạng sống thấp của các sinh vật lên những dạng sống cao hơn dần, cho tới loài người, và tiến trình này xảy ra trong một thời gian rất lâu dài, có thể tới hàng triệu hay hàng tỷ năm. Do đó, các sinh vật tồn tại hoặc tuyệt chủng là do khả năng tự thích nghi với môi trường xung quanh, và mọi sinh vật, trong đó có con người, đều liên hệ với nhau vì cùng tiến hóa từ những mầm sống xa xưa. Thuyết này là kết luận khoa học của sự quan sát lâu dài của Darwin về sự biến thiên của một số sinh vật. Và trong 150 năm nay, kể từ khi cuốn sách trên ra đời, dựa vào ý kiến trong thuyết Tiến Hóa trên, nhiều tiến bộ rất ngoạn mục đã đạt được trong nhiều bộ môn khoa học, những tiến bộ đã làm cho thuyết Tiến Hóa chính xác về chi tiết hơn và vững vàng hơn. Ngày nay, các chuyên gia về sinh học và trong nhiều ngành khoa học khác đã chấp nhận Tiến Hóa là một sự kiện (fact), không còn gì để bàn cãi nữa. Tuy nhiên, các khoa học gia vẫn còn tranh luận về một số chi tiết về vấn đề mầm sống nguyên thủy từ đâu mà ra, và cơ chế tiến hóa hay sự vận hành của tiến hóa (mechanism of evolution) như thế nào (how). Và đây chính là đặc tính của khoa học, tìm hiểu cặn kẽ, rốt ráo để đi tới sự thật.

Khi thuyết Tiến Hóa của Darwin ra đời, nhiều khoa học gia đã tích cực ủng hộ thuyết này: Thomas Henry Huxley ở Anh, Ernst Haeckel ở Đức, Asa Gray ở Mỹ, William Dawson LeSueur ở Gia Nã Đại, Marquis Gastonde Saporta và Albert Gaudry Quenot ở Pháp, Cesare Lombroso ở Ý, Bozidar Knezevic’ ở Nam Tư, Vladimir O. Kovalevskii ở Nga, và nhiều nhân vật khác.

Tuy nhiên, trong thế giới Tây phương vào giữa thế kỷ 19, một thế giới ngự trị bởi Ki Tô Giáo trong hơn 1000 năm, một thế giới mà Ki Tô Giáo tự cho là mình nắm chân lý trong tay, một thế giới mà tuyệt đại đa số người dân, dưới sự cai trị độc tài của Thần quyền và thế quyền Ki Tô, bắt buộc phải tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh Ki Tô Giáo, thuyết Tiến Hóa đã trở thành một cái gai đâm vào tim óc của các nhà thần học Ki Tô Giáo. Vì thuyết Tiến Hóa, tuy không chống bất cứ niềm tin nào, nhưng hiển nhiên những ý tưởng khoa học trong đó đã làm cho mọi điều trong Thánh Kinh, nhất là thuyết Sáng Tạo của Ki Tô Giáo, trở thành vô giá trị. Do đó, Ki Tô Giáo, Ca Tô cũng như Tin Lành, vô cùng hoảng sợ, và đã hợp sức chống đối thuyết Tiến Hóa. Chúng ta hãy lược duyệt vài “lý luận” chống đối Darwin và thuyết Tiến Hóa của Ki Tô Giáo ngoài những sách lược hèn hạ cố hữu như bôi bẩn, mạ lỵ cá nhân, chế giễu, ngụy biện, xuyên tạc, vu khống v..v.. đối với cá nhân Darwin, khi Ki Tô Giáo đã suy thoái, mất đi quyền hành, không còn khả năng giết hay thiêu sống con người.

Charles Darwin là người Anh nên sự chống đối bắt đầu từ bên Anh với giám mục Samuel Wilberforce ở Oxford. Giám mục Wilberforce lên án Darwin phạm tội “có khuynh hướng giới hạn sự vinh quang của Thần Cha (God) trong sự sáng tạo” (Guilty of “a tendency to limit God’s glory in creation”); rằng “nguyên lý chọn lọc tự nhiên thì tuyệt đối không tương hợp với lời của Thần Cha” (the principle of natural selection is absolutely incompatible with the word of God); rằng nguyên lý này “đối ngược với sự mạc khải về những mối liên hệ giữa sự sáng tạo và đấng sáng tạo” (contradicts the revealed relations of creation to its Creator); rằng thuyết này “không phù hợp với sự tràn đầy vinh quang của Thần Cha” (inconsistent with the fullness of His glory); rằng có một “giải thích đơn giản hơn về sự hiện diện của những dạng kỳ lạ trong những tác phẩm của Thần Cha – sự giải thích đó là “sự sa ngã của Adam”” (a simpler explanation of the presence of these strange forms among the works of God – that explanation being “the fall of Adam”). Rõ ràng là đầu óc của ông giám mục này, và có lẽ của đa số các giám mục khác trong thời đó, cũng như đầu óc của những tín đồ hạ căn cuồng tín ngày nay, không chứa được cái gì khác ngoài những điều tin nhảm tin nhí vào Thánh Kinh, cho rằng tất cả những lời “mạc khải” của Thần Cha, do con người trong thời bán khai viết trong Thánh Kinh, tất nhiên phải là những chân lý.

Có một câu đối thoại rất thú vị giữa giám mục Wilberforce và Thomas Henry Huxley, một khoa học gia thời đó ủng hộ thuyết Tiến Hóa của Darwin. Sau một bài nói trước công chúng để phê bình thuyết Tiến Hóa của Darwin, trong đó giám mục Wilberforce tự khen mình là không phải là dòng dõi của một con khỉ, rồi ông quay sang Huxley và hỏi một cách giễu cợt là “theo phía ông nội hay bà nội mà Huxley là dòng dõi của một con khỉ?” (whether it was on his grandfather’s or grandmother’s side that Huxley descended from an ape?). Huxley đứng lên trả lời là tất cả những gì Wilberforce vừa phê bình không có gì mới lạ, trừ câu hỏi về dòng dõi của Huxley. Và về câu hỏi này Huxley đã trả lời như sau: “Nếu hỏi là tôi thà có một con khỉ khốn khổ làm ông nội hay là một người có nhiều khả năng thiên nhiên và có nhiều phương tiện và ảnh hưởng nhưng chỉ sử dụng những khả năng và ảnh hưởng đó với mục đích đem sự chế giễu vào trong một cuộc thảo luận khoa học nghiêm chỉnh thì tôi không do dự mà khẳng định là tôi sẽ chọn con khỉ” (If then, the question is put to me would I rather have a miserable ape for a grandfather or a man highly endowed by nature and possessed of great means and influence and yet who employs these faculties and that influence for the mere purpose of introducing ridicule into a grave scientific discussion I unhesitatingly affirm my preference for the ape).

Cả cử tọa phá ra cười, và câu trả lời này đã vang dội khắp nước Anh và lẽ dĩ nhiên, lan sang nhiều nước khác. (The audience broke out in laughter, and this shot reverberated through England, and indeed through other countries).

Rồi đến hồng y Manning lên tiếng tuyên bố “căm thù quan điểm mới về thiên nhiên” (declared his abhorrence of the new view of Nature), và mô tả quan điểm này là “một triết lý thô bạo – nghĩa là, không làm gì có Thần Cha, và con khỉ là Adam của chúng ta” (a brutal philosophy – to wit, there is no God, and the ape is our Adam).

Một mục sư Tin Lành, phó giám đốc viện “chống khoa học “nguy hiểm”” (institute to combat “dangerous” science), tuyên bố là lý thuyết của Darwin là “một toan tính truất ngôi Thần Cha” (an attempt to dethrone God).

Nhiều vị lãnh đạo Ki Tô Giáo khác đã lên án Darwin là chủ trương “Thần Cha đã chết” (God is dead); “Nếu thuyết của Darwin đúng thì chuyện sáng thế là láo khoét, toàn thể cuốn sách về sự sống tan ra từng mảnh, và sự mạc khải của Thần Cha cho con người, mà người Ki Tô chúng ta biết, là một ảo tưởng và một cái bẫy” (If the Darwinian theory is true, Genesis is a lie, the whole framework of the book of life falls to pieces, and the revelation of God to man, as we Christians know it, is a delusion and a snare).

Giới giáo sĩ Ki Tô Giáo ở khắp nơi tiếp tục lên tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa trong nhiều năm liền, và sự chống đối này lan sang nhiều nước Ki Tô khác ở Âu Châu như Pháp, Đức, Ý v..v..và lan sang cả Mỹ và Úc. Chúng ta có thể đọc những lời chống đối tương tự ở các quốc gia trên, thí dụ như: “lên án Darwin là không tin vào Thần Cha” (Infidelity); là “vô thần” (atheist); hoặc “Nếu giả thuyết này đúng thì Thánh Kinh chỉ là một chuyện giả tưởng không thể dung thứ được.. như vậy trong gần 2000 năm nay các tín đồ Ki Tô đã bị lừa dối bởi một lời nói láo vĩ đại..Darwin đòi hỏi chúng ta không nên tin vào lời đầy quyền năng của Đấng Sáng Tạo” (If this hypothesis be true, then is the Bible an unbearable fiction..then have Christians for nearly two thousand years been duped by a monstrous lie..Darwin requires us to disbelieve the authorative word of the Creator); “Thuyết Tiến Hóa trái ngược với những điều rõ ràng trong Tân Ước cũng như Cựu Ướ飺 Nếu tất cả chúng ta, người và khỉ, sò và chim ưmg, đều phát triển từ một mầm gốc, thì lời tuyên bố vĩ đại của Thánh Paul: “Không phải mọi sinh vật đều có cùng một loại xương thịt, có một loại cho người, một loại khác cho thú vật, một loại khác cho cá, và một loại khác cho chim” – là sai bét” (The evolution theory is as contrary to the explicit declarations of the New Testament as to those of the Old – If we have all, men and monkeys, oysters and eagles, developed from an original germ, then is St. Paul’s grand deliverance – “All flesh is not the same flesh; there is one kind of flesh of men, another of beasts, another for fishes, and another for birds” – untrue); “Tạo trong những độc giả một sự không tin vào Thánh Kinh” (to produce in their readers a disbelief of the Bible); “một bức tranh chế giễu sự sáng tạo” (a caricature of creation); “đuổi đấng Sáng Tạo ra khỏi cửa” (turned the Creator out of doors); “quyết tâm săn Thần Cha ra khỏi thế giới” (resolved to hunt God out of the world); “hoàn toàn không phù hợp với Thánh Kinh” (utterly inconsistent with the Scriptures); “không biết đến sự thiết kế trong việc sáng tạo của Thần Cha là truất ngôi Thần Cha” (to ignore design as manifested in God’s creation is to dethrone God); “một Thần Cha vắng mặt, không làm gì cả, đối với chúng ta là không có Thần Cha” (an absent God, who does nothing, is to us no God); “thuyết tiến hóa và thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh về nguồn gốc con người không thể nào hòa hợp với nhau được” (evolutionism and the scriptural account of the origin of man are irreconciable); “không biết đến Thần Cha và không tuân theo phúc âm của con ông ta (nghĩa là Thần Con = Giê-su)” (know not God and obey not the gospel of his Son); “nếu thuyết của Darwin đúng thì không có chỗ nào cho Thần Cha” (if the Darwinian view is true, there is no place for God) v..v..

Trước những sự chống đối thuyết Tiến Hóa của Ki Tô Giáo dựa trên niềm tin tuyệt đối vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh, Herbert Spencer, một khoa học gia cùng thời với Darwin, đã đưa ra một lời phê bình sắc bén:

“Những người dũng cảm như hiệp sĩ bác bỏ thuyết Tiến Hóa vì thuyết này không có đầy đủ sự kiện chứng minh có vẻ như quên rằng thuyết Sáng Tạo của họ không được chứng minh bởi bất cứ một sự kiện nào ﮦ#148; (Those who cavalierly reject the Theory of Evolution, as not adaquately supported by facts, seem quite to forget that their own theory of creation is supported by no facts at all)

Năm 1871, Darwin cho ra đời tiếp cuốn Dòng Dõi Con Người (The Descent of Man) trong đó ông khẳng định hai mục đích: thứ nhất, chứng tỏ rằng các chủng loại không được tạo ra một cách riêng rẽ [bởi Thần Cha như được viết trong Cựu Ước. TCN], và thứ nhì, sự chọn lọc tự nhiên là yếu tố chính làm thay đổi.. (giữa các chủng loại). (firstly, to show that species had not been separately created, and secondly, that natural selection had been the chief agent of change..)

Trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, trước sự kiện tư tưởng tiến hóa của Darwin càng ngày càng được giới khoa học và trí thức kiểm chứng và chấp nhận, những tiếng chống đối từ phía Ki Tô Giáo phai nhạt dần. Andrew D. White, tác giả cuốn sách đồ sộ dày gần 900 trang, Một Lịch Sử về Cuộc Chiến Giữa Khoa Học và Thần Học trong Ki Tô Giáo (A History of the Warfare of Science with Theology in Christendom), đã đưa ra kết luận như sau về những chống đối của Ki Tô Giáo đối với thuyết Tiến Hóa của Darwin trong hậu bán thế kỷ 19 :

“Mọi chống đối đều không đi tới đâu; tác phẩm của Darwin và danh tiếng của ông ta được bảo đảm. Khi chúng ta nhìn lại cuộc sống tốt đẹp của ông ta – giản dị, lươong thiện, khoan nhượng, từ ái – và nghĩ đến những công cuộc vĩ đại của ông ta trong việc tìm kiếm sự thật, mọi sự tấn công đều phai nhạt vào hư vô.”

(All opposition had availed nothing; Darwin’s work and fame were secure. As men looked back over his beautiful life – simple, honest, tolerant, kindly – and thought upon his great labours in the search for truth, all the attacks faded into nothingness.)

Sau đây, chúng ta hãy xét đến chỗ đứng của Darwin và thuyết Tiến Hóa trong thế giới ngày nay.

Trước hết, chúng ta nên biết nước Mỹ có 85% theo Ki Tô Giáo (Ca Tô, gần 300 hệ phái Tin Lành, Chính Thống, Mormon v..v..) nhưng năm 1984, trước phong trào của một số địa phương Ki Tô Giáo đòi hỏi phải dạy song song thuyết Tiến Hóa và thuyết Sáng Tạo trong các trường học, Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ đã khẳng định trong bài Khoa Học và Chủ Thuyết Sáng Tạo: Một Quan Điểm Của Hàn Lâm Viện Quốc Gia Khoa Học (Science and Creationism: A View From the National Academy of Sciences) như sau:

“Thật là quan trọng phải làm sáng tỏ bản chất của khoa học và giải thích tại sao chủ thuyết sáng tạo không thể được coi như là một bộ môn khoa học. Đòi hỏi phải dạy cả hai (thuyết tiến hóa và thuyết sáng tạo) đồng đều trong cùng một lớp học phản ánh sự hiểu lầm về thế nào là khoa học và khoa học đã được theo đuổi như thế nào. Những nhà nghiên cứu khoa học tìm hiểu các hiện tượng thiên nhiên bằng quan sát trực tiếp và thực nghiệm. Những diễn giải về những sự kiện khoa học luôn luôn chỉ có tính cách tạm thời và phải được kiểm chứng. Những lời phán quyết từ bất cứ một quyền lực nào, lời mạc khải nào, hay viện đến đấng siêu nhiên đều không thích hợp với quá trình khoa học này vì không có bằng chứng để chứng minh. Tuy nhiên, trong thuyết sáng tạo, cả hai, quyền lực cũng như mạc khải, được đặt trên những bằng chứng. Những kết luận của những người theo thuyết sáng tạo không hề thay đổi, cũng không thể coi là đúng khi đặt trong sự kiểm chứng của những phương pháp khoa học. Do đó, có một sự khác biệt sâu đậm giữa niếm tin tôn giáo vào sự sáng tạo đặc biệt và những giải thích khoa học trong thuyết Tiến Hóa. Sự trình bày cả hai chủ thuyết trên đồng đều trong lớp học chỉ mang đến kết quả là sự hoang mang, không có ích lợi gì.”

(It is important to clarify the nature of science and to explain why creationism cannot be regarded as a scientific pursuit. The claim that equity demands balanced treatment of the two in the same classroom reflects misunderstanding of what science is and how it is conducted. Scientific investigators seek to understand natural phenomena by direct observation and experimentation. Scientific interpretations of facts are always provisional and must be testable. Statements made by any authority, revelation, or appeal to the supernatural are not germane to this process in the absence of supporting evidence. In creationism, however, both authority and revelation take precedence over evidence. The conclusions of creationism do not change, nor can they be validated when subjected to test by the methods of science. Thus, there are profound differences between the religious belief in special creation and the scientific explanations embodied in evolutionary theory. Neither benefits from the confusion that results when the two are presented as equivalent approaches in the same classroom.

Và năm 1998, trong một cuốn sách hướng dẫn cho các thầy giáo, phụ huynh học sinh, nhà trường, và các nhà đưa ra chính sách giáo dục, Hàn Lâm Viện Quốc Gia Khoa Học (Hoa Kỳ) đã viết :

“Trong cộng đồng khoa học, không còn có sự tranh luận về sự tiến hóa có xảy ra hay không, và không có bằng chứng nào chứng tỏ là sự tiến hóa đã không xảy ra.”

(“There is no debate within the scientific community over whether evolution has occured, and there is no evidence that evolution has not occured”, the National Academy of Sciences said in a guidebook intended for teachers, parents, school administrators and policymakers.)

Sự kiện này cho thấy, ở Mỹ, tôn giáo, dù là Ki Tô Giáo, tôn giáo của đa số người dân, chỉ là vấn đề tín ngưỡng riêng tư, và những kẻ trong Ki Tô Giáo, thường là Tin Lành, vẫn tiếp tục cất lên tiếng nói chống thuyết Tiến Hóa, chẳng qua chỉ là những kẻ cuồng tín, đi ngược thời gian. Những tiếng chống đối này không bao giờ có thể có chỗ đứng trong thế giới tiến bộ của nhân loại ngày nay. Tuy Pháp Viện Tối Cao Hoa Kỳ đã phán quyết là các trường công không thể dạy là Thần Cha tạo ra vũ trụ (The Supreme Court ruled that public schools cannot teach that God created the universe.), tại một vài tiểu bang mà Ki Tô Giáo mạnh, Tin Lành vẫn còn cố gắng vận động để thuyết sáng tạo được dạy song song với thuyết tiến hóa. Họ vẫn tiếp tục chống đối thuyết tiến hóa và cùng lúc, đưa thuyết sáng tạo lên như một bộ môn khoa học, không phải là tôn giáo, để tránh né điều khoản trong Hiến Pháp Hoa Kỳ: tách rời nhà nước và tôn giáo. Có vài nơi, các nhà bảo thủ Ki Tô Giáo (fundamentalists) còn vận động đưa ra đạo luật để bỏ danh từ “tiến hóa” (evolution) trong những sách giáo khoa, thay thế vào đó bằng từ “thay đổi với thời gian” (change with time). Nhưng ở khắp nơi: Arizona 1996, Illinois 1997, và Kansas 1999, Ki Tô Giáo đã thất bại trong mưu toan này.

Chúng ta đã thấy rõ sự nguy hại của những người cuồng tín Ki Tô Giáo trong sách lược nắm giữ đầu óc của dân chúng để ép dân chúng phải tin vào cái ông Thần Do Thái mà họ thờ phụng. Nếu họ ở vị thế cầm quyền như Ngô Đình Diệm ngày trước ở Nam Việt Nam thì nền giáo dục quốc gia sẽ trở thành nền giáo dục Ki Tô Giáo, một nền giáo dục mà trong thế giới Tây phương tiến bộ ngày nay, chỉ còn sót lại trong một số ốc đảo Ki Tô Giáo bảo thủ, tuyệt đối không có chỗ đứng trong nền giáo dục công cộng. Người Việt Nam chúng ta không bao giờ nên quên chính sách bạo tàn của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với các tôn giáo khác, một chính sách bắt nguồn từ sự cuồng tín vào Ca Tô Giáo Rô Ma của ông ta và gia đình. Chúng ta cũng không bao giờ nên quên vai trò thực dân, gián điệp của những giáo sĩ Ca Tô đến Việt Nam để vừa cướp nước vừa đầu độc đầu óc những người dân Việt Nam nghèo khổ ít học, khiến cho họ trở thành những kẻ phản bội quê hương. Chúng ta cũng không bao giờ nên quên vai trò của Ca Tô Giáo Rô Ma ở Việt Nam trong cuộc xâm lăng của Pháp vào hậu bán thế kỷ 19, trong cuộc kháng chiến chống toan tính tái lập chế độ thực dân ở Việt Nam của Pháp, với sự hỗ trợ của Anh, Mỹ, và trong cuộc chiến Quốc Cộng kéo dài 20 năm do Mỹ khởi xướng. Chúng ta có thể tha thứ cho những đồng bào lầm đường lạc lối có tội với dân tộc này, và trên thực tế chúng ta đã tha thứ. Nhưng chúng ta không có quyền quên đi lịch sử vì quên đi lịch sử thì lịch sử lại có cơ hội tái diễn. Vấn đề cấp thiết ngày nay là chúng ta phải dấn thân mở mang dân trí làm sao để cho cái lịch sử bạo tàn, cuồng tín, mang đau thương đến cho dân tộc Việt Nam không thể tái diễn.

Ngoài Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia trên, nếu chúng ta theo dõi báo chí hàng ngày thì chúng ta sẽ thấy, hầu như toàn thể báo chí, ngay cả những tờ báo có ảnh hưởng nhất trên nước Mỹ như Wall Street Journal, Newsweek, Time v..v.. , đều đưa lên những thông tin mới nhất về những bằng chứng khoa học chứng tỏ thuyết Tiến Hóa là đúng. Sau đây là một thí dụ điển hình. Trong tờ Chicago Tribune Sep. 22, 2002, Katrin Schultheiss trong một bài về đề tài Tiến Hóa, đã viết :

Trong vòm trời của những người có uy tín về khoa học, ít có ngôi sao nào sáng như Charles Darwin. Chúng ta có thể biện luận rằng, Darwin và Copernicus, và có thể là Pasteur và Freud, là những người duy nhất đã khởi sự các cuộc cách mạng. Và không phải chỉ là cách mạng khoa học, mà còn là cách mạng trí thức và văn hóa.

(In the firmament of scientific luminaries, few stars shine as brightly as Charles Darwin. He and Copernicus, and possibly Pasteur and Freud, are arguably the only scientists who started revolutions. And not merely scientific revolutions, but intellectual and cultural revolutions as well.

Tưởng chúng ta cũng nên biết, cách đây hơn một thế kỷ, Robert G. Ingersoll đã viết về Charles Darwin một cách chính xác như sau :

“Thế kỷ này (TK 19) sẽ được gọi là thế kỷ của Darwin. Ông ta là một trong những vĩ nhân trên trái đất. Ông ta đã giải thích rõ ràng những hiện tượng về sự sống hơn là tất cả những ông thầy dạy của Ki Tô Giáo. Một bên, viết tên của Charles Darwin, và bên kia viết tên của mọi nhà thần học từ trước tới nay, và từ tên của Darwin đã tỏa ra nhiều ánh sáng hơn là ánh sáng của tất cả các nhà thần học gộp chung lại. Thuyết Tiến Hóa, thuyết sống còn thích ứng nhất với hoàn cảnh xung quanh, thuyết nguồn gốc các chủng loại của ông ta đã cất bỏ cái vết tích cuối cùng của Ki Tô Giáo ra khỏi những người có đầu óc. Ông ta không chỉ nói lên mà còn chứng minh là những người được Thần linh khải cho viết Thánh Kinh không biết gì về thế giới này, về nguồn gốc con người, về địa chất học, về thiên văn học, về thiên nhiên; rằng Thánh Kinh được viết do sự ngu si – với sự dọa dẫm để làm cho sợ hãi. Hãy nghĩ đến những người đã trả lời (phê bình) ông ta. Càng ngu bao nhiêu thì họ càng hồ hởi làm công việc này. Darwin bị chế giễu, khinh khi và coi thường bởi thế giới của Ki Tô Giáo, tuy vậy mà khi ông ta chết, Anh Quốc đã hãnh diện chôn ông ta cùng với những nhân vật cao quý nhất và vĩ đại nhất của nước Anh. [Darwin được chôn ngay gần Isaac Newton trong điện Westminster (Westminster Abbey). Trước sự kiện này, Mục sư Laing đã phê bình “đây là một bằng chứng chứng minh nước Anh không còn là một quốc gia theo Ki Tô Giáo nữa” (a proof that England is no longer a Christian country). TCN] Charles Darwin đã chinh phục thế giới trí thức, và những lý thuyết của ông ta ngày nay đã được chấp nhận như là những sự kiện.

Giáo hội Ki Tô dạy rằng con người đã được sáng tạo ra thật là hoàn hảo, và trong 6 ngàn năm qua con người đã thoái hóa. Darwin đã chứng minh sự sai lầm của cái tín lý này. Ông ta chứng minh rằng con người, trong nhiều ngàn thời đại, đã không ngừng tiến bộ; rằng cái Vườn Eden là huyền thoại của kẻ ngu; rằng giáo lý về tội tổ tông không có nền tảng dựa trên sự kiện; rằng chuộc tội là một sự vô nghĩa; rằng con rắn không có quyến rũ con người ham muốn, và con người không có “sa ngã”.

Charles Darwin đã phá sập Ki Tô Giáo. Chẳng có gì khác còn lại ngoài một đức tin vào cái mà chúng ta biết không thể xảy ra và đã không hề xảy ra. Ki Tô Giáo và khoa học là kẻ thù của nhau. Một bên là mê tín, bên kia là một sự kiện. Một bên đặt nền tảng trên sự sai lầm, một bên trên sự chân thật. Một bên là kết quả của sự sợ hãi và đức tin, bên kia là sự tìm tòi để hiểu biết và lý trí.

Chúng ta hãy lương thiện. Tất cả những linh mục ở Rô Ma gộp lại có gia tăng sự phong phú của tâm linh như là Bruno không? Tất cả những linh mục ở Pháp gộp lại có góp phần lớn lao nào vào nền văn minh của thế giới như là Diderot và Voltaire không? Tất cả các mục sư ở Scotland gộp lại có gia thêm vào kiến thức của nhân loại như là David Hume không? Những người trong giới chăn chiên, mục sư, linh mục, giám mục, hồng y và giáo hoàng, từ ngày Giê-su thăng thiên đến cuộc bầu phiếu cuối cùng, có góp phần vào sự tự do của con người như là Thomas Paine không? – góp phần vào khoa học như là Charles Darwin không?

Thế giới đã trở thành cái gì nếu không có những người không tin vào Ki Tô Giáo?

(This century will be called Darwin’s century. He was one of the greatest men who ever touched this globe. He has explained more of the phenomena of life than all of the Christian religious teachers. Write the name of Charles Darwin on the one hand and the name of every theologian who ever lived on the other, and from that name has come more light to the world than from all those. His theory of evolution, his theory of the survival of the fittest, his theory of the origin of species, has removed in every thinking mind the last vestige of Christianity. He has not only stated, but he has demonstrated, that the inspired writer knew nothing of this world, nothing of the origin of man, nothing of geology, nothing of astronomy, nothing of nature; that the Bible is a book written by ignorance – at the instigation of fear. Think of the men who replied to him. The more ignorant he was the more cheerfully he undertook the task. He was held up to the ridicule, the scorn and contempt of the Christian world, and yet when he died, England was proud to put his dust with that of her noblest and her grandest. Charles Darwin conquered the intellectual world, and his theories are now accepted facts.

The Christian church teaches that man was created perfect, and that for six thousand years he has degenerated. Darwin demonstrated the falsify of this dogma. He shows that man has for thousands of ages steadily advanced; that the Garden of Eden is an ignorant myth; that the doctrine of original sin has no foundation in fact; that the atonement is an absurdity; that the serpent did not tempt, and that man did not “fall”.

Charls Darwin destroyed the foundation of Christianity. There is nothing left but faith in what we know could not and did not happen. The Christian religion and science are enemies. One is a superstition; the other is a fact. One rests upon the false, the other upon the true. One is the result of fear and faith, the other of investigation and reason.

Let us be honest. Did all the priests of Rome increase the mental wealth of man as much as Bruno? Did all the priests of France do as great a work for the civilization as Diderot and Voltaire? Did all the ministers of Scotland add as much to the sum of human knowledge as David Hume? Have all the clergymen, friars, ministers, priests, bishops, cardinals and popes, from the day of Pentecost to the last election, done as much for human liberty as Thomas Paine? – as much for science as Charles Darwin?

What would the world be if infidels had never been?)

Chúng ta nên để ý, Ingersoll viết bài trên vào cuối thế kỷ 19, khi mà Thuyết Tiến Hóa bị Ki Tô Giáo chống đối dữ dội, dựa trên một số chi tiết trong thuyết Tiến Hóa chưa thể kiểm chứng được. Với thời gian qua, càng ngày những kết quả nghiên cứu của các khoa học gia càng chứng tỏ là thuyết Tiến Hóa có một căn bản vững chắc và có thể giải thích được rất nhiều điều trong nhiều bộ môn khoa học, nhất là trong Sinh Học. Sau đây, tôi sẽ đưa ra nhận định điển hình về thuyết Tiến Hóa, trước hết của một số khoa học gia và học giả, sau đến của các nhà lãnh đạo tinh thần Ki Tô Giáo, và sau cùng của vài “trí thức” tân tòng Tin Lành Việt Nam.

James Birx trong cuốn Diễn Giải Sự Tiến Hóa (Interpreting Evolution) đã viết như sau :

“Tiến Hóa là một sự kiện vững chắc đã được cả khoa học và lý trí xác nhận; nhân loại chúng ta thì nối kết với sự sống, lịch sử của trái đất, thiên hà này (giải ngân hà mà thái dương hệ, trong đó có trái đất, nằm trong đó), và cả vũ trụ.

Có một nền thần học hiện đại nào mà chấp nhận cả hai quan điểm về vũ trụ và thuyết Tiến Hóa trong một cách nhìn khoáng đạt và không có huyền thoại về thế giới? Cuối cùng thì tín lý mù quáng của đức tin tôn giáo với những câu chuyện đã lỗi thời và những giá trị cận thị thực sự không còn mấy giá trị nữa; đó chỉ là sự mơ ước từ đó đặt niềm tin vào sự bất diệt của con người và vào một vũ trụ tâm linh.”

(Evolution is an established fact supported by both science and reason; our own species is linked to life, earth history, this galaxy, and the universe itself.

Is there a modern theology that embraces both a cosmic perspective and the evolutionary framework within an openended and myth-free worldview? Eventually, the blind dogma of religious faith with its outmoded stories and myopic values wears very thin, indeed; it is simply wishful thinking to believe in human immortality and a spiritual cosmos.)

Stephen Jay Gould, trong phần Dẫn Nhập của cuốn “Tiến Hóa: Sự Chiến thắng Của Một Ý Tưởng” (Evolution: The Triumph of an Idea), tác giả là Carl Zimmer, một cuốn sách đi kèm với chương trình dài 8 tiếng đồng hồ của đài truyền hình PBS về thuyết Tiến Hóa (a companion to the PBS 8-hour television series on Evolution), viết :

“Khoa học, như các chuyên gia chúng tôi thường vạch rõ, không thể thiết lập sự thật tuyệt đối; do đó, những kết luận của chúng tôi luôn luôn là có tính cách không dứt khoát. Nhưng sự hoài nghi lành mạnh này không cần phải đưa nó đến độ hư vô, và chúng tôi có thể chắc chắn nói rằng, một số sự kiện đã được kiểm chứng với đủ mức tin cậy cho nên chúng tôi có thể coi những sự kiện này là đúng sự thật trong bất cứ nền văn hóa địa phương nào trên thế giới.(tính phổ quát (universality) của các sự kiện khoa học. TCN

Có lẽ tôi không thể tuyệt đối chắc chắn là quả đất thì tròn thay vì phẳng, nhưng dạng hình cầu của hành tinh của chúng ta đã được kiểm chứng đủ để cho tôi không cho phép “cái xã hội của những người tin trái đất phẳng” được hưởng đồng đều thời gian để dạy thuyết của họ, hay hưởng bất cứ khoảng thời gian nào, trong lớp dạy về khoa học của tôi.

Tiến Hóa, quan niệm căn bản của mọi khoa học về sinh học, đã được kiểm chứng rất kỹ, và do đó có thể coi như là đúng với sự thật.”

(Science, as we professionals always point out, cannot establish absolute truth; thus, our conclusions must always remain tentative. But this healthy skepticism need not be extended to the point of nihilism, and we may surely state that some facts has been ascertained with sufficient confidence that we may designate them as “true” in any legitimate, vernacular meaning of the world.

Perhaps I cannot be absolutely certain that the earth is round rather than flat, but the roughly spherical shape of our planet has been sufficiently well verified that I need not grant the “flat earth society” a platform of equal time, or even any time at all, in my science class.

Evolution, the basic organizing concept of all the biological sciences, has been validated to an equally high degree, and may therefore be designated as true or factual.)

Và trong Lời Nói Đầu của cuốn sách trên, Richard Hutton , nhà đạo diễn chương trình truyền hình Tiến Hóa trên đài PBS, đã viết :

“Triết gia Daniel Dennett đã có lần viết về thuyết Tiến Hóa: “Nếu tôi được trao một giải thưởng cho một ý tưởng (về khoa học. TCN) duy nhất và hay nhất từ xưa tới nay, tôi phải trao nó cho Darwin, trước cả Newton và Einstein và mọi người khác. Chỉ trong một sáng kiến, ý tưởng về tiến hóa do chọn lọc tự nhiên đã kết hợp cảnh giới của sự sống, ý nghĩa, và mục đích của sự sống với cảnh giới của không gian và thời gian, nhân và quả, cơ chế vận hành và luật vật lý. Nhưng nó không chỉ là một ý tưởng kỳ diệu. Đó là một ý tưởng nguy hiểm.”

(Philosopher Daniel Dennett once wrote of the theory of evolution: “If I were to give an award for the single best idea anyone has ever had, I’d give it to Darwin, ahead of Newton and Einstein and everyone else. In a single stroke, the idea of evolution by natural selection unifies the realm of life, meaning, and purpose with the realm of space and time, cause and effect, mechanism and physical law. But it is not just a wonderful idea. It is a dangerous idea.)

Tại sao lại nguy hiểm? Richard Hutton giải thích :

“Nguy hiểm vì, đối với những người tin những gì viết trong Thánh Kinh, ý tưởng này đe dọa những niềm tin tôn giáo mà họ trân quý về một quá trình sáng tạo (ra vũ trụ) trong 6 ngày.”

(Dangerous because, for people who interpret the Bible literally, it threatens dearly held religious beliefs about a six-day process of creation.)

Trong cuốn Tiến Hóa Là Gì? (What Evolution Is?), mới xuất bản gần đây, Ernst Mayr, Giáo sư danh dự đại học Harvard, đã viết :

Tiến Hóa không chỉ đơn thuần là một ý tưởng, một lý thuyết, hay một quan niệm, mà là tên của một quá trình trong thiên nhiên. Sự xảy ra của quá trình này có thể chứng minh bằng tài liệu của hàng núi bằng chứng mà không ai có thể phủ bác được. Ngày nay, xét đến số lượng to lớn những bằng chứng đã được khám phá ra trong 140 năm nay để chứng minh sự hiện hữu của tiến hóa, thật là lạc dẫn khi ta coi Tiến Hóa như là một thuyết. Tiến Hóa không còn là một thuyết, nó đơn giản là một sự kiện.

(Evolution is not merely an idea, a theory, or a concept, but is the name of a process in nature, the occurrence of which can be documented by mountains of evidence that nobody has been able to refute...It is now actually misleading to refer to evolution as a theory, considering the massive evidence that has been discovered over the last 140 years documenting its existence. Evolution is no longer a theory, it is simply a fact.)

Trên đây là vài nhận định về Charles Darwin và Thuyết Tiến Hóa của một số nhân vật, khoa học gia cũng như trí thức, có tên tuổi trên nước Mỹ. Trước những bằng chứng bất khả phủ bác về thuyết Tiến Hóa, một vài giới lãnh đạo Ki Tô Giáo đã cảnh tỉnh và chấp nhận chỗ đứng của Thuyết Tiến Hóa trên thế giới ngày nay. Sau đây là vài nhận định điển hình từ phía Ki Tô Giáo, Ca Tô cũng như Tin Lành.

Trước hết là Giáo Hoàng John Paul II, vị chủ chăn của Ca Tô Giáo Rô Ma. JPII phát biểu năm 1996 như sau :

“Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần...Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.”

(The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution...Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).

Nhưng trước đó, Linh mục dòng Tên Teillard de Chardin đã đưa ra nhận định sau đây trong cuốn Hiện Tượng Về Con Người (The Phenomenon of Man) :

“Tiến Hóa là một thuyết, một hệ thống, hay một giả thuyết? Nó còn nhiều hơn nữa: nó là một điều kiện tổng quát mà mọi thuyết, mọi giả thuyết, mọi hệ thống phải cúi đầu trước nó và phải phù hợp với nó nếu chúng muốn được nghĩ tới và đúng.. Tiến Hóa là một ánh sáng soi sáng mọi sự kiện, một đường cong mà mọi đường thẳng phải theo nó...”

(Is evolution a theory, a system or a hypothesis? It is much more: it is a general condition to which all theories, all hypotheses, all systems must bow and which they must satisfy henceforth if they are to be thinkable and true. Evolution is a light illuminating all facts, a curve that all lines must follow...)

Mục sư Ernie Bringas, trong cuốn Theo Đúng Như Sách Viết: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Gây Ra Bởi Quyền Năng Thánh Kinh (Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), đã nhận định về thuyết Tiến Hóa như sau :

“Thuyết Tiến Hóa là một trong những cấu trúc tuyệt vời và thành công nhất của tư tưởng con người. Mọi ngành khoa học đều tiếp tục ủng hộ và kiểm chứng quan niệm về sự tiến hóa. Thuyết Tiến Hóa , giống như Thuyết Tương Đối, không còn là một "thuyết" theo nghĩa thông thường nữa, mà là một nguyên lý khoa học đặt căn bản trên rất nhiều bằng chứng không còn phải bàn cãi nữa”.

(The theory of evolution is among the most elegant and fruitful structures of human thought... All scientific disciplines continue to support and verify the concept of evolution. The theory of evolution, like the theory of relativity, is no longer a "theory" in the popular sense, but a scientific principle based on considerable, indisputable evidence.)

Và Giám Mục John Shelby Spong, trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Tịch (Why Christianity Must Change or Die), cũng đã viết :

“Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật theo truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ gì cho tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn còn những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này. Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công. Nhân loại rõ ràng là tiến hóa theo một quá trình trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại (nghĩa là không làm gì có tội tổ tông. TCN). Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đã bị một đòn khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đã bắt đầu chao đảo.”

(The theory of evolution made Adam and Eve legendary at best. Evolution was not easy for the religious establishment to accept, and still voices are raised today in remote areas of the world to resit it. Those voices will never succeed. Human life clearly evolved over a four-and-a-half-to-five-billion-year process. There were no first parents, and so the primeval act of disobedience on the part of first parents could not possibly have affected the whole human race. The myth was thus dealt a blow, and the monolithic story of salvation built by Christian apologists over the age began to totter.)

Trên đây là vài nhận định về thuyết Tiến Hóa của một số nhân vật lãnh đạo trong Ki Tô Giáo. Hiển nhiên là những người này, hoặc đối diện với sự thật nên bắt buộc phải chấp nhận thuyết Tiến Hóa như Giáo Hoàng John Paul II, hoặc vì sự lương thiện trí thức nên không thể không thấy rõ chỗ đứng của thuyết Tiến Hóa trong thế giới ngày nay như linh mục Teillard de Chardin, mục sư Ernie Bringas, và giám mục John Shelby Spong.

Đa số những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo ngày nay đã chấp nhận thuyết Tiến Hóa và tìm cách giải thích Thánh Kinh khác đi cho phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại. Tuy nhiên, trong giới bảo thủ Ki Tô vẫn còn những tiếng chống đối cất lên từ những ốc đảo ngoài sa mạc. Giám mục Spong đã nhận định: Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công.

Thật ra thì những sự chống đối thuyết Tiến Hóa, ngày nay hầu hết thuộc hệ phái Tin Lành trong Ki Tô Giáo, không phải vì trong thuyết Tiến Hóa có những vấn nạn chưa giải quyết được thỏa đáng, một đặc tính của khoa học, mà vì thuyết Tiến Hóa đã phá vỡ nền tảng của đức tin trong Ki Tô Giáo. Ca Tô Giáo không có mấy chống đối thuyết tiến hóa, nhất là trong vài thập niên gần đây, vì Ca Tô Giáo đã thành công xây dựng được một định chế trong đó tín đồ tuyệt đối tuân phục những lời giáo hội dạy, bất kể là những giáo điều này trái với sự thật khoa học. Trái lại, Tin Lành bảo thủ, tuyệt đối tin rằng Thánh Kinh Ki Tô Giáo là những lời mạc khải của Thiên Chúa nên không thể nào sai lầm, do đó vẫn tiếp tục chống đối thuyết Tiến Hóa, dựa trên những hiểu biết ấu trĩ và nông cạn của họ về khoa học. Những người Tin Lành lên tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa thường không hiểu thuyết Tiến Hóa là gì. Cho nên, khi họ cố gắng đưa ra một vài điều “nguỵ biện” để bác thuyết Tiến Hóa thì những điều ngụy biện đó trở thành ngớ ngẩn, vì thực chất chỉ phản ánh niềm tin đã lỗi thời của họ qua một khẳng định vô trách nhiệm. Một “lý luận” quen thuộc của họ là, mỗi khi đọc đến những phân tích Thánh Kinh của một tác giả nào đó trái ngược với những lời dạy của “hội thánh” Tin Lành, thì họ lập tức lên tiếng phê bình tác giả đó là đọc Thánh Kinh mà không hiểu, nhưng không bao giờ nói rõ không hiểu ở chỗ nào, và không bao giờ trình bày cái hiểu của họ về Thánh Kinh để phủ bác. Một “lý luận” khác của họ đối với những tác giả này là chụp lên đầu những tác giả này những cái mũ “satan” và “CS vô thần”. Họ đần độn đến độ không hiểu rằng “satan” chính là một tạo vật của Thần của họ, và “vô thần” là “thói xấu của một số người thông minh” như Voiltaire đã nhận định, và vô thần và CS là hai thực thể khác nhau. Và “lý luận” ngớ ngẩn nhất của họ là: “nếu trong sự Tiến Hóa của sự sống có một điểm nào đó chưa giải thích được thỏa đáng thì tất nhiên thuyết Sáng Tạo trong Ki Tô Giáo phải đúng.” Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua vài luận cứ Tin Lành dùng để bác thuyết Tiến Hóa (Rubin Alves, Protestantism and Repression, p. 65) :

Thánh Kinh hoàn toàn không đồng ý với thuyết này. Cái gọi là thuyết Tiến Hóa, ủng hộ bởi Darwin, Huxley và nhiều người khác, ngày nay là một chủ đề đã chết vì đã bị bác bỏ một cách khoa học.

(The Bible disagrees completely with this theory. The so called theory of evolution, espoused by Darwin, Huxley, and others, is today a dead issue that has been scientifically discredited)

Lẽ dĩ nhiên, Tin Lành không bao giờ nói rõ là lý luận khoa học nào đã bác bỏ thuyết Tiến Hóa, và cứ tiếp tục giơ Thánh Kinh ra làm như tất cả những điều viết trong Thánh Kinh đều không thể sai lầm, một cách nhìn Thánh Kinh trái ngược hẳn với những kết luận nghiên cứu về Thánh Kinh trong vòng mấy trăm năm nay: “Thánh Kinh có đầy những sai lầm về khoa học cũng như thần học”. Ngày nay chỉ có những ngườ詠một là đần độn, hai là cuồng tín, mới thường trích dẫn lạc lõng những câu vụn vặt trong Thánh Kinh, coi đó là những lời của Thần Cha (God) nên không thể sai lầm. Họ thường thích trích dẫn câu đại khái là “Kẻ ngu không tin có Thiên Chúa”, hàm ý người nào không tin Thiên Chúa của họ là người ngu. Nhưng họ không biết rằng trong thế giới tiến bộ trí thức, khoa học ngày nay, chỉ có kẻ đầu óc đần độn mới có thể tin vào Thiên Chúa như được viết trong Thánh Kinh. Chứng minh?

Nếu không đần độn thì làm sao có thể tin vào một Thiên Chúa “sáng tạo” ra cả vũ trụ trong 6 ngày, cách đây khoảng 6000 năm, không biết cả quả đất (một tạo vật chính mình tạo ra) có hình cầu, và có một tính tình đồng bóng, bất công, ác ôn, khát máu, giết người như ngóe? Họ đã đọc Cựu Ước chưa, và có thấy những hành động này của Thiên Chúa viết rõ ràng trong đó chưa? Nếu họ đã đọc thì họ phải biết Thiên Chúa của họ đã đòi hỏi và thừa nhận sự hi sinh tế thần (Leviticus 27. 28-29; Judges 11. 29-40; 2 Samuel 21. 1-9); đã giết tất cả những đứa con đầu lòng trong các gia đình người Ai Cập (Exodus 12. 29); thừa nhận chế độ nô lệ (Exodus 21. 2-6; Leviticus 25. 44-46) và bán con gái của mình (Exodus 21.7); ra lệnh giết phù thủy (Exodus 22. 18); xử chết những người lạc đạo (heresy) (Exodus 22.20); xử chết những người không theo luật sabbath (nghỉ làm việc ngày thứ Bảy) (Exodus 31. 14-15); xử chết những kẻ ngoại tình (Leviticus 20.10); xử chết những kẻ phỉ báng (Leviticus 24. 16); ném đá chết những người không giữ được trinh bạch cho tới khi kết hôn, luật này chỉ áp dụng cho phái nữ (Deuteronomy 22. 20-21); giết một lúc 70000 người vì David làm cuộc kiểm tra Israel (2 Samuel 24); sai hai con gấu cắn xé nát 42 đứa trẻ vì chúng chế giễu tiên tri Elisha (2 Kings 2. 23-24)..., và đây chỉ là một số nhỏ điển hình trong số hàng trăm những hành động tương tự khác của Thiên Chúa. Nếu không đần độn thì làm sao có thể tin một người Do Thái bị đóng đinh trên thập tự giá cùng với hai tên ăn trộm cách đây 2000 năm mà lại có thể sống lại và làm “Chúa Cứu Thế” (sic) của cả nhân loại trong khi kiến thức của ông ta về khoa học và vũ trụ không hơn gì mức hiểu biết trung bình của một người dân sống vào thời đó, và chính ông ta tự xưng là xuống trần chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi.

Chúng ta hãy tự hỏi, những người có đầu óc lành mạnh, sáng suốt, có thể tin được một ông Thần Cha (God) như vậy không? Đừng có nói là Thần Con (Giê-su) khá hơn, vì trong Tân ước ông ta đã khẳng định là xuống trần (sic) để thi hành luật cho người Do Thái của Cha ông ta, và dạy không được bỏ bất cứ luật nào của Cha ông ta. Hơn nữa, như Ingersoll đã nhận định trong bài Những Lời Châu Ngọc Về Ki Tô Giáo, cái giáo lý của Giê-su đọa đầy vĩnh viễn xuống hỏa ngục những người không tin ông ta còn ác ôn gấp bội tất cả những hành động ác ôn của Thần Cha trong Cựu Ước. Vậy mà người ta vẫn cứ tiếp tục đưa ra những luận điệu lố bịch, hoàn toàn sai sự thực như: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian..” và quảng cáo đầy đường “Giê-su Yêu Bạn” (Jesus loves you) v..v.. Những lời nói láo giả dối này, hoàn toàn trái ngược với Thánh Kinh, chỉ có thể thuyết phục được những đầu óc kém mở mang, cả tin, và thực chất chỉ là những lời chiêu dụ đám người đầu óc thấp kém để tạo quyền lực thế tục cho giới giáo sĩ chăn chiên mà thôi.

Lại nữa, một “lý luận” khác chống thuyết Tiến Hóa như sau :

Thuyết Tiến Hóa được phát minh ra để loại bỏ dứt khoát ý tưởng về sự hiện hữu của Thần Cha (God)... Thuyết này, trước hết và chính yếu, là một sự tấn công vào nguồn cảm hứng của Thánh Kinh.

(The theory of evolution was invented to completely rule out the idea of God’s existence..It is, first and foremost, an attack on the inspiration of the Scriptures)

Đây chính là những luận điệu hoang tưởng của Tin Lành đưa ra để cho đám tín đồ cuồng tín kém hiểu biết, tin tất cả vào Thánh Kinh, chống thuyết Tiến Hóa. Cho nên chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy một vài tân tòng Tin Lành Việt Nam dập theo khuôn Tin Lành bảo thủ để chống đối thuyết Tiến Hóa như trong vài thí dụ sau đây :

Trước hết là ông "Tiến Sĩ" Tin Lành Lê Anh Huy ở Mỹ, trong bài "Nguồn Gốc Con Người: Học Thuyết & Đức Tin", Bách Hợp số 3, 9-1999 :

“Một lý thuyết khoa học phải được thực tế kiểm chứng và phải có tính tiên đoán cao. Học thuyết Darwin thiếu cả hai lãnh vực trên và do đó chỉ xứng đáng là một giả thuyết thay vì lý thuyết như các nhà vô thần vẫn đề cao.

Rồi đến một ông tự xưng là Nguyễn Em-ma-nu-en Khuất Minh, cựu đảng viên CS, nay theo Tin Lành, viết một “Tâm Thư ngỏ” gửi cho tờ An Ninh Thế Giới, mở đầu bằng câu: “Tạ ơn Đức Chúa Trời, nhân danh một công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ, tôi trân trọng gửi lời chào đến quý ông...”, trong đó ông ta viết :

“Thuyết “nguồn gốc các loài” (hay còn gọi là thuyết tiến hóa) của Đác Uyn là ngụy thuyết, đã bị nhiều người nhạo báng và bị nhiều nhà khoa học phản bác. Gần 150 năm qua, thuyết này được những người vô thần theo học thuyết duy vật lịch sử cho in thành sách giáo khoa phổ thông, coi nó như là chân lý khoa học, liệu đấy có phải là động cơ chính trị không?”

Những luận điệu chống thuyết Tiến Hóa trên chứng tỏ là các ông Lê Anh Huy và Khuất Minh không hiểu thuyết Tiến Hóa là gì, không biết rằng Darwin là người rất sùng đạo, và không biết rằng “vô thần” là cha đẻ của những sáng kiến khoa học ngoạn mục nhất của loài người, và “hữu thần” chỉ là một ngục tù tư tưởng, không hơn không kém. Mấy người này thường kết hợp “vô thần” với Cộng Sản mà không biết rằng “vô thần” đã có từ mấy ngàn năm nay, và theo Voltaire thì “vô thần là thói xấu của một số ít người thông minh”. Và ngày nay, đối với những người “vô thần” Âu Mỹ thì những người “hữu thần” chỉ là những người thuộc loại hạ căn, mù lòa tin bướng tin càn. Nhưng sách lược của những con vẹt “hữu thần” là nói lấy được và không bao giờ cần chứng minh, không bao giờ cần biết đến những tiến bộ khoa học trong chính những chủ đề mà họ nói tới.

Và sau cùng là ông tân tòng Tin Lành Phan Như Ngọc, một người tự xưng là “khoa học gia”, đưa ra nhận định sau đây về thuyết Tiến Hóa :

“Vũ trụ học, cũng giống như Thuyết Tiến Hóa, không phải là những khoa học vì không kiểm chứng được.”

Chúng ta thấy, ngày nay, trừ những đầu óc thuộc loại khuyết tật hay có một điểm mù tôn giáo như của Lê Anh Huy, Khuất Minh, Phan Như Ngọc v..v.., hay của những tín đồ thông thường của Ki-tô giáo, Ca-tô cũng như Tin Lành, chỉ biết nhắc lại như con vẹt những luận điệu chống thuyết Tiến Hóa rất ấu trĩ của Ki Tô Giáo, hầu hết các khoa học gia và giới trí thức có hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô, đều đồng thuận ở điểm: Thuyết Tiến Hóa đã trở thành một sự kiện (fact). Những tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa cất lên từ những ốc đảo si ngây mê tín đã trở thành lạc lõng trong thế giới loài người. Nhưng chúng vẩn tiếp tục cất lên vì trong thế giới loài người ngày nay, không ít người, kể cả những người được gọi là trí thức, vì một đức tin không cần biết, không cần hiểu, nên vẫn sống trong bóng tối và nhắm mắt đi theo một quá trình giật lùi, đồng nghĩa với thoái hóa. Thật vậy, trong khi phần lớn thế giới đã ra khỏi vòng mê tín thì một số lại quay đầu đi trở về những mê tín phi lý trí, phi lô-gic, phản khoa học của thời Trung Cổ. Tệ hơn nữa, họ còn tìm đủ mọi cách để kéo những người khác đi vào vòng tăm tối như họ. Như Giám mục Spong đã nhận định ở trên, những tiếng nói này không bao giờ có thể thành công, vì nhân loại không đi giật lùi, và những kẻ đi giật lùi trước sau gì cũng bị đào thải.. Ngoài ra, có một vấn nạn mà người Ki Tô không sao tháo gở ra được, đó là: “Tại sao một tôn giáo tự nhận là thiên khải, thánh thiện, duy nhất v..v.. và những giáo hội tự nhận là “hội thánh”, tôn thờ một “Thiên Chúa Quá Thương Yêu Thế Gian..”, một “Giê-su Yêu Bạn” v..v.. lại chính là tôn giáo duy nhất trên thế gian có một lịch sử ô nhục, đẫm máu, gây nên nhiều thảm họa nhất cho nhân loại, với khoảng 200 triệu sinh mạng vô tội trên bờ vai [Xin nhắc là cả Ca Tô lẫn Tin Lành đều đã lên tiếng thú tội và xin lỗi ở nhiều nơi trên thế giới], trong khi các tôn giáo thấp kém hay “tà đạo” (sic) khác lại không hề dính một vết máu nhơ? Vậy cái gì mới thực sư là chính, cái gì mới thực sự là tà ở đây? Trả lời làm sao đây và có thể thuyết phục được ai đây, ngoài những người thuộc loại Lê Anh Huy, Huệ Nhật, Phan Như Ngọc, Khuất Minh v..v..?

Qua sự trình bày về Charles Darwin và Thuyết Tiến Hóa ở trên, chúng ta rút tỉa được những gì?

Thứ nhất, trong suốt dòng lịch sử, Ki Tô Giáo đã cố sức ngăn chận sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đã cố sức giam hãm đầu óc của tín đồ vào một niềm tin không cần biết, không cần hiểu. Và cái nguy hại chính của Ki Tô Giáo là ở nơi nào mà Ki Tô Giáo nắm được vị thế có quyền lực, ở nơi đó sự trở lại thời man rợ và đen tối trí thức (the age of barbarism and intellectual darkness) không phải là không thể xảy ra. Đối với lớp người tự nhận là công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ và luôn luôn cảm thấy hãnh diện tự nguyện làm đầy tớ, xiêng năng hầu việc Chúa, thì không làm gì có quốc gia và dân tộc, không làm gì còn nền văn hóa, truyền thống quốc gia và dân tộc. Đây là một mối nguy hại có thực nếu chúng ta áp dụng thái độ của con đà điểu, rúc đầu vào cát, không nhìn thấy gì hết, và cho đó là yên, sẽ không có chuyện gì xảy ra.

Thứ nhì, tại sao chỉ có những tôn giáo “Độc Thần” như Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, và Hồi Giáo là phát dị ứng đối với thuyết Tiến Hóa, trong khi các tôn giáo Đông Phương như Thích, Nho, Lão, và ngay cả Ấn Độ Giáo, đều không có một lời chống đối? Phải chăng sự chống đối của Ki Tô Giáo bắt nguồn từ một tâm cảnh thiếu tự tin và hoảng sợ trước những sự thật khoa học có tác dụng loại bỏ những điều mê tín hoang đường trong Ki Tô Giáo? Phải chăng Ki Tô Giáo đã được xây dựng trên một căn bản thần học đã bị bật gốc rễ trước những sự kiện khoa học, và do đó không còn thích hợp với sự tiến bộ trí thức ngày nay? Phải chăng sự chống đối chỉ có mục đích duy trì thần quyền và thế quyền tự nhận của các giáo hội Ki Tô?

Thứ ba, điểm đặc biệt nhất ở đây là chính những luận cứ của Ki Tô Giáo chống đối thuyết Tiến Hóa đã quật ngược lại họ một cách không thể cứu vãn, do đó cái đường thẳng “tin Chúa” của Ki Tô Giáo chỉ còn có thể cúi đầu khuất phục đi theo cái đường cong Tiến Hóa như linh mục dòng Tên Teillard de Chardin nhận định. Thật vậy, như trên chúng ta đã biết, những luận cứ chống đối như :

“Nếu thuyết của Darwin đúng thì chuyện sáng thế là láo khoét, toàn thể cuốn sách về sự sống (cuốn Thánh Kinh) tan ra từng mảnh, và sự mạc khải của Thần Cha cho con người, mà người Ki Tô chúng ta biết, là một ảo tưởng và một cái bẫy”;

“Nếu giả thuyết này đúng thì Thánh Kinh chỉ là một chuyện giả tưởng không thể dung thứ được.. như vậy trong gần 2000 năm nay các tín đồ Ki Tô đã bị lừa dối bởi một lời nói láo vĩ đại.. Darwin đòi hỏi chúng ta không nên tin vào lời đầy quyền năng của Đấng Sáng Tạo”;

“Nếu thuyết của Darwin đúng thì không có chỗ nào cho Thần Cha (God)”

“Thuyết Tiến Hóa trái ngược với những điều rõ ràng trong Tân Ước cũng như Cựu Ước"

Ngày nay, nhân loại đã có câu trả lời thích đáng: “Thuyết Tiến Hóa đúng, là một quá trình thiên nhiên, là một sự kiện (fact) không ai có thể phủ bác, và không còn cần phải bàn cãi nữa.” Và lẽ dĩ nhiên, câu trả lời này kéo theo những sự kiện (facts) khác, kết luận từ những luận điệu chống đối nêu trên :

“Chuyện sáng thế là láo khoét, toàn thể cuốn sách về sự sống (cuốn Thánh Kinh) đã tan ra từng mảnh, và sự mạc khải của Thần Cha cho con người, mà người Ki Tô biết, là một ảo tưởng và một cái bẫy”

“Thánh Kinh chỉ là một chuyện giả tưởng không thể dung thứ được.. và trong gần 2000 năm nay, các tín đồ Ki Tô đã bị lừa dối bởi một lời nói láo vĩ đại..”

“Không có chỗ nào cho Thần Cha (God)” [ở trong thế giới của chúng ta ngày nay. TCN]

“Thuyết Tiến Hóa đúng, vậy Thánh Kinh (Cựu Ước & Tân Ước) phải sai.”

Hi vọng những tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành, nhận thức được những sự thật trên và từ bỏ hi vọng viển vông làm công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ, cái Thiên Đàng đã bị Giáo Hoàng John Paul II sổ toẹt, và Giám Mục John Shelby Spong coi như là một sự mê tìn tiền-Darwin và một sự vô nghĩa hậu-Darwin, trở về làm “công dân yêu nước” của nước Việt Nam, đất nước đã sinh ra và nuôi dưỡng từ tổ tiên, ông cha, cho đến mình, và rồi đến con cháu mình. Được như vậy thì sự hòa hợp tôn giáo và đoàn kết dân tộc tự nhiên sẽ đến, không cần phải phải che dấu sự thật, không cần phải ngăn chận thông tin, như Giáo hội Ca Tô thường làm. Bởi vì, thuyết “chọn lọc tự nhiên” (natural selection) hay “thích ứng nhất với môi trường xung quanh” (best fit) để tồn tại và phát triển là một qui luật thiên nhiên. Nếu cứ cố giữ bản chất lạc hậu trong sự tiến bộ trí thức của nhân loại, thu mình trong những ốc đảo xa lạ với nền văn hóa, xã hội xung quanh, cứ cố giữ bản chất phi quốc gia dân tộc trong một dân tộc có truyền thống yêu nước cao độ v..v.. thì trước sau gì cũng bị suy tàn. Hiện tượng này đã rõ rệt ở phương trời Âu Mỹ. Then chốt của vấn đề chính là ở điểm này.

Vài Lời Kết.- Khi nói đến thuyết Tiến Hóa, người ta thường nghĩ đến Charles Darwin. Thật ra thì Darwin không phải là người đầu, mà cũng không phải là người cuối, làm cho thuyết Tiến Hóa trở thành một sự kiện khoa học như hầu hết các khoa học gia và giới trí thức đã công nhận ngày nay. Nhiều tư tưởng về tiến hóa đã có trước Darwin. Ngay từ trước thời đại thông thường ngày nay (B.C.E = Before Common Era), ở Đông phương chúng ta có thể thấy tư tưởng tiến hóa trong Áo Nghĩa Thư (800 B.C.E) của Ấn Độ, trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử và sau được phát triển bởi Trang Tử, và trong Kinh Dịch. Ở Tây phương, chúng ta có thể kể Thales, Anaximander (học trò của Thales), Xenophanes, Anaxagoras, Empedocles, Aristotle, Lucretius. Trong thời đại thông thường ngày nay (C.E = Common Era) có Plotinus (205-270 C.E.), Avicenna (980-1037), Leonardo da Vinci (1452-1519). Nhưng đặc biệt nhất là nhiều tư tưởng trong Phật Giáo, nhất là thuyết Duyên Sinh hay Duyên Khởi, đã đi trước và rất phù hợp với thuyết Tiến Hóa,. Ngay cả những phương pháp tu tập trong Phật Giáo cũng là những quá trình tiến hóa. Nhưng những chủ đề này không thuộc bài viết này. Tôi sẽ trình bày những chủ đề này rõ ràng hơn với nhiều chi tiết khi tôi viết về Nguồn Gốc Con Người: Thuyết Tiến Hóa trong một bài khác.

Nhưng xin đừng ngộ nhận, những bài tôi viết về Phật Giáo và Khoa Học chỉ có mục đích chứng tỏ là nhiều tư tưởng của Phật Giáo đã đi trước khoa học, kể cả thuyết Tiến Hóa, khá xa, tuyệt đối không phải là dựa vào khoa học để chứng minh Phật Giáo. Cho nên, chỗ đứng của Phật Giáo trong nhân loại thật ra đã vững chắc trong suốt hơn 2500 năm nay, không cần phải diễn giải đi, diễn giải lại, như nền thần học Ki Tô Giáo, để tìm cách tương hợp với khoa học. Những ai muốn mượn khoa học để “chứng minh” (sic) Phật Giáo thực sự đã không hiểu rõ về Phật Giáo cũng như về khoa học.



--------------------------------------------------------------------------------

Mời đọc thêm đề tài về Darwin:

Tiến Hóa Hay Sáng Tạo? (Trần Chung Ngọc)

Nguồn Gốc Con Người - Thuyết Tiến Hóa (Trần Chung Ngọc)

Charles Darwin và Thuyết Tiến Hóa (Trần Chung Ngọc)

Các Nước Trên Thế Giới Nghĩ Gì Về Thuyết Tiến Hóa Của Darwin (Sưu Tầm Liên Mạng)


--------------------------------------------------------------------------------




Các bài về khoa học cùng tác giả:


Trang Trần Chung Ngọc

Trần Chung Ngọc : Lại Chuyện Ruồi Bu của Trần Trung Đạo

Lại Chuyện Ruồi Bu của Trần Trung Đạo

Trần Chung Ngọc


30 tháng 9, 2008


Từ “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi” thổi qua Tòa Khâm sứ, tôi không còn đọc Talawas nữa. Nhưng có nhiều bạn, biết tôi không bao giờ phiền hà trước bất cứ chuyện gì, nên thường cứ gửi cho tôi những bài mà thật tình tôi không muốn đọc. Tuy nhiên, tôi phải thú thực rằng, phần lớn chỉ đọc qua cái tựa là tôi delete ngay, nhưng cũng có những bài tôi cũng để mắt đọc qua xem nó ra làm sao.

Gần đây có một vị nhờ Sách Hiếm gửi cho tôi bài “Ai Phỉ Báng Dân Tộc” của ông Trần Trung Đạo, lấy từ trang nhà Talawas. Tên Trần Trung Đạo khá quen thuộc, hình như trước đây tôi đã phê bình bài “Con sông Gianh chảy giữa lòng Hà Nội” của ông Trần Trung Đạo như sau:

“Ông Trần Trung Đạo đã vận dụng tối đa “Con sông Bến Hải đang chảy cuồn cuộn giữa lòng Trần Trung Đạo” để viết bài “Con sông Gianh chảy giữa lòng Hà Nội”, phê bình bài “Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật” của ông Nguyễn Hòa. Gọi là phê bình cho nó vui chứ thực ra đây chỉ là một bài “tố Cộng” thuộc loại rẻ tiền. Thay vì phân tích, thảo luận những điểm trong bài của ông Nguyễn Hòa, thì với mỗi điểm ông Trần Trung Đạo lại mở một màn kể tội Cộng Sản, nhìn Việt Nam qua một cặp kính đen: cái gì ở Việt Nam cũng xấu, tất cả chỉ là phên dậu bên ngoài, có tính cách vá víu “câu giờ”, không phải để đưa nước nhà ra khỏi quỹ đạo lạc hậu v..v.. Những lý luận chống Cộng của ông thuộc loại nói lấy được, nói mà không biết mình nói cái gì, kiểu cả vú lấp miệng em. Tưởng ông chống Cộng thế nào chứ ngoài việc kể xấu Việt Nam, những chuyện mà ai cũng biết và tùy theo mức độ, không nước nào là không có, ông không có một luận cứ nào ra hồn, toàn là những luận điệu đao to búa lớn của giới CCCĐ hay CCCB ở hải ngoại, phần lớn là xuyên tạc sai sự thực.”

Nay ông Đạo viết bài “Ai Phỉ Báng Dân Tộc” để bênh vực ông Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và chống Cộng thì cũng chẳng lấy gì làm lạ, vì từ thuở ông ấy đi “Theo bước chân người linh mục” [Đầu đề một bài viết của Trần trung Đạo] thì ông ấy cũng phải vậy thôi [Xin bấm vào hàng này để đọc bài của Hoài Vy về Trần Trung Đạo trên trang nhà Giao Điểm, tháng 8 & 9, năm 2005]. Ông Đạo nguyên là sinh viên Viện Đại Học Vạn Hạnh trước đây. Không hiểu ông ấy có biết đến motto của Viện Đại Học Vạn Hạnh là “Duy Tuệ Thị Nghiệp” hay không, mà nay ông ấy lại thực hành “Duy chống Cộng thị nghiệp”, và lẽ dĩ nhiên là chống Cộng vì cảm tính riêng tư chứ không phải thuộc loại chống Cộng có trí tuệ.

Trong bài “Ai Phỉ Báng Dân Tộc”, tôi bỏ qua phần đầu ông ấy viết rất lạc đề, lấy vài chuyện trong phương trời Âu Á, bỏ qua chuyện ông Bush đã nói “láo to” [big lie] (từ của ông Đạo) để xâm chiếm Iraq vì dầu, để đi đến quy kết là tố khổ Cộng Sản nói láo trong vụ ông Ngô Quang Kiệt. Chúng ta hãy thử xem lý luận bênh vực ông Ngô Quang Kiệt của ông Trần Trung Đạo ra sao.

Trần Trung Đạo: Và mới đây, những viên đạn tuyên truyền lại nhắm vào đức Tổng Giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt sau bài phát biểu của ngài tại Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội hôm 20 tháng 9 năm 2008.

Các cơ quan truyền thông, từ các báo phát hành với số lượng lớn như Lao Động, Thanh Niên, các đài phát thanh, truyền hình, cho đến trang web của các bộ, các ban ngành nhà nước, theo chỉ thị của Đảng, đồng loạt tố cáo đức Tổng Giám mục đã “phỉ báng dân tộc” vì ngài “cảm thấy nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”. Đảng đã dịch chữ “hộ chiếu” thành “dân tộc”. Và một lần nữa chiêu bài “bảo vệ dân tộc” lại được treo lên, những tiếng kèn thúc quân quen thuộc một thời đã đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc vào cuộc chiến tranh chém giết biết bao người miền Nam vô tội lại được thổi to lên và những khẩu hiệu đã từng dẫn đường cho bao nhiêu thế hệ Việt Nam như những con thiêu thân lao vào lò lửa tham vọng bá quyền của Trung Quốc và Liên Xô được giương cao trên đường phố.

Trần Chung Ngọc: Thứ nhất, không phải chỉ có các báo hay đài phát thanh, truyền hình ở trong nước mới phê bình lên án ông Ngô Quang Kiệt là “phỉ báng dân tộc”, mà dư luận của người Việt trên khắp thế giới, trừ các con chiên thuộc các “xóm đạo cờ vàng”, đều lên án ông Kiệt như vậy cả.

Thứ nhì, ông mang hộ chiếu của một quốc gia, theo đúng nghĩa, ông là một đại diện nho nhỏ của quốc gia đó [người Mỹ vẫn nhắc nhở dân của họ ra nước ngoài làm việc phải tự coi mình như một đại sứ (ambassador), đừng làm gì nhục đến quốc thể], và mọi công dân của một quốc gia khi xuất ngoại đều có bổn phận giữ gìn, không làm điều gì xấu để cho quốc gia của mình phải mang tiếng hay can thiệp. Như vậy, dù muốn dù không thì cái “hộ chiếu” cũng đã dính liền với dân tộc rồi. Khi ông TGM Ngô Quang Kiệt phát biểu là “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên.” Thì đây chính là lời phát biểu bừa bãi, vô trách nhiệm. Tại sao? Vì những khó khăn về “bị soi xét” có thể chỉ xẩy ra cho cá nhân ông Kiệt chứ không có chuyện xảy ra cho tất cả mọi người Việt Nam xuất ngoại. Tôi có nhiều bạn bè và người quen gần đây được nhập cảnh Mỹ với hộ chiếu của Việt Nam nhưng không có ai than phiền là bị đặc biệt soi xét như ông Kiệt cả.

Vậy thì chúng ta có có thể kết luận là: Một là ông Kiệt là một người ngu, không biết mình đã nói bậy; Hai là, ông Kiệt tự cho mình là dân Chúa, nhất lại là một Tổng Giám Mục của Vatican, nên muốn nói sao cũng được, dù có miệt thị cả nước cũng không ai làm gì được ông ấy. Thật vậy, vì đâu có phải chỉ có mình ông Kiệt là cầm cái hộ chiếu Việt Nam khi xuất ngoại, cái hộ chiếu Việt Nam là của mọi công dân Việt Nam được cầm khi xuất ngoại.

Ông Trần Trung Đạo viết bậy là “Đảng đã dịch chữ “hộ chiếu” thành “dân tộc”” . Nhưng ông không biết là Tiến Sĩ Nguyễn Phúc Liên đã cho rằng “hộ chiếu” không phải là “quốc tịch” cho nên ông Tổng Kiệt không phải là người phản quốc hay mất gốc. Nhưng ông Tiến Sĩ Kinh Tế đần đến độ không hiểu rằng cái hộ chiếu Việt Nam thì dính liền với người dân và quốc tịch Việt Nam. Không phải công dân Việt Nam, không có quốc tịch Việt Nam thì không thể mang trên người hộ chiếu Việt Nam. Như vậy, hộ chiếu đã gắn liền với người dân và đương nhiên cũng gắn liền với dân tộc.

Không ai có thể ngu đến độ nói là: tôi mang hộ chiếu Việt Nam nhưng chẳng liên quan gì đến quốc tịch Việt Nam hay dân tộc Việt Nam, trừ những con chiên của Chúa, đặt quốc tịch của nước trời, đúng ra là quốc tịch của Vatican, lên trên quốc tịch của quốc gia mình, của tổ tiên mình, và của đất nước đã nuôi dưỡng mình. Cũng không ai có thể đần độn đến độ nói rằng: Tôi mang hộ chiếu Việt Nam này nhưng đó là hộ chiếu của CSVN, mà CSVN không phải là nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, như ông Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên đã viết. Do đó, theo ông Liên, ông Tổng Kiệt chỉ nuốn nói là ông cảm thấy nhục nhã khi mang hộ chiếu của CSVN. Nhưng ông quên mất một điều là CSVN không tự nhiên cấp hộ chiếu Việt Nam cho bất cứ ai, mà đương sự phải có đơn xin và cơ quan phụ trách của guồng máy chính quyền xét thấy hợp lệ và đủ điều kiện thì mới cấp. Vậy, tôi cho rằng chính quyền hãy thu hồi hộ chiếu đã cấp cho ông Ngô Quang Kiệt để ông chỉ còn có thể đi làm mục vụ xin tiền ở trong nước mà thôi.

Trần Trung Đạo: Tôi không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo và cũng không theo dõi một cách chi tiết từ đầu cuộc tranh chấp Thái Hà nhưng sau khi đọc các bài viết trên báo chí và những ý kiến mang nặng đầu óc Vệ binh Đỏ trên các trang web trong nước so với toàn văn bài phát biểu của đức cha Ngô Quang Kiệt, tôi cảm thấy vô cùng bất nhẫn. Nguyên văn câu nói của đức Tổng Giám mục Hà Nội như thế này: “Do đó, chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi rất mong muốn xây dựng một khối đại đoàn kết dân tộc. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng.”

Trần Chung Ngọc: Câu nói của ông Ngô Quang Kiệt thuộc loại tổng quát hóa vấn đề một cách vô trách nhiệm. Ông Kiệt đi ra nước ngoài rất nhiều và ông tự thú là đã gặp nhiều khó khăn, bị soi xét, không được kính trọng, do đó ông cảm thấy nhục nhã. Nhưng đó chỉ là kinh nghiệm của cá nhân ông ta chứ không phải là kinh nghiệm của mọi người Việt Nam xuất ngoại cầm cái hộ chiếu của Việt Nam. Ông Kiệt cũng chỉ nói trên đầu môi chót lưỡi, chứ những hành động của ông ta đã phản lại những lời ông ta nói, không có một chút nào là đoàn kết dân tộc, thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp. Ông ta huy động giáo dân, kể các bà lão Công giáo nhà quê và con nít, vác búa, kìm, và xà beng đi cầu nguyện ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, phá tường rào, đem cây thập ác và tượng bà Mary của Công giáo cắm và đặt bậy vào những nơi không phải để thờ phụng của Công giáo, chiếm giữ đường phố là đất công cộng, ngăn trở giao thông công cộng, dùng loa phóng thanh công xuất cao làm ồn đường phố, đánh chuông nhà thờ bừa bãi [ở Mỹ, nhà thờ tuyệt đối không được đánh chuông làm phiền người dân, nhất là trong giờ nghỉ trong đêm tối], làm mất sự yên tĩnh của đồng bào trong vùng, bất kể đến sự ta thán của người dân quanh vùng, bất kể đến sự khuyên giải của chính quyền, vậy thì có chỗ nào là đoàn kết dân tộc, thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp ở đây. Và trường hợp mấy anh Nhật Bản hay anh Cao Ly mà ông ta nói đến cũng chỉ là những trường hợp lẻ tẻ mà ông ta thấy chứ ông ta không thể tổng quát hóa sự việc. Ông Kiệt mong đất nước lớn mạnh và làm sao thật sự đoàn kết nhưng những hành động cụ thể của ông ta rõ ràng là quấy phá đất nước, chia rẽ dân tình, có nghĩa là ông ta nói lên những lời đãi bôi, chỉ quyến rũ được những người chủ trương “duy chống Cộng thị nghiệp” như ông Trần Trung Đạo, chứ trên thực tế thì ông ta chỉ nói một đàng , làm một nẻo. Tôi xin bỏ qua phần tiếp theo của ông Trần Trung Đạo ca tụng “lòng yêu nước sâu đậm” [sic] với búa, kìm, và xà beng của ông Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. Tôi xin sang một phần khác để cho chúng ta thấy ông Đạo chống Cộng như thế nào.

Trần trung Đạo: ..Hãy chỉ cho tôi một niềm tự hào dân tộc, Tự hào đã đánh thắng đế quốc Mỹ ư?. Có lẽ đó là chuyện mà những người có ý thức không ai còn muốn nhắc hay đem ra tranh cãi. Không phải vì thời gian đã trôi qua hay muốn quên đi quá khứ mà vì ngày nay sách vở viết về mưu đồ của Trung Quốc và Liên Xô trong cuộc chiến Việt Nam không còn hiếm hoi như trước. Sự thật về cuộc chiến đã phơi bày một cách chi tiết về con số bao nhiêu ngàn quân Trung Quốc đã tham chiến tại Việt Nam cũng như bao nhiêu vũ khí mà các đế quốc cộng sản đã đổ xuống Việt Nam. Nếu có một thống kê chính xác, tôi tin số người dân Việt Nam vô tội bị giết bằng súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc còn vượt xa số người chết do bom đạn Mỹ gây ra, bởi vì chiến trường diễn ra ở miền Nam chứ không phải miền Bắc. Thế thì ai mới đáng gọi là quân xâm lược đây? Nói như thế để so sánh chứ không có nghĩa là binh vực Mỹ.

Trần Chung Ngọc: Tôi có thể nói ngay rằng, sự hiểu biết của ông Trần Trung Đạo về cuộc chiến ở Việt Nam là một con số không vĩ đại. Ông Đạo không có niềm tự hào dân tộc vì Việt Nam đã đánh thắng đế quốc Mỹ, đó là quyền của ông. Nhưng cả thế giới đã phải ngả mũ trước cuộc chiến thắng của người dân Việt Nam, tôi nói là người dân Việt Nam đấy. Ông đưa ra vài luận cứ để xuyên tạc và hạ thấp cuộc chiến thắng này nhưng không đưa ra bất cứ một tài liệu có giá trị nào, tác giả là ai, để biện chính cho những luận cứ của ông ta. Người Mỹ tham gia chiến tranh, nhưng không có một cuốn sách nào của các học giả Mỹ viết trong cuộc chiến cũng như sau cuộc chiến nói đến con số bao nhiêu ngàn quân Trung Quốc đã tham chiến tại Việt Nam, mà chỉ nói đế số nhỏ cố vấn Trung Quốc. Bao nhiêu vũ khí mà các đế quốc CS đã đổ xuống Việt Nam? Thế ông có so sánh với bao nhiêu vũ khí mà các đế quốc Pháp rồi Mỹ đã đổ xuống Việt Nam không? Viết bậy như vậy mà cũng viết được thì thật là tài. Ông Đạo hi vọng trước những vũ khí tối tân nhất, cộng với tàu chiến, xe tăng, thiết giáp v… v… của Mỹ, Việt Nam nên chỉ lấy gậy tầm vông mà kháng chiến?

Về vấn đề này, Giáo sư Mortimer T. Cohen, trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, đã viết, p. 260:

Nhưng Mỹ làu bàu về cái nỗi gì? Bắc Việt tiếp tế cho VC? Thế thì Mỹ cho Quân Đội Nam Việt Nam cái gì? Súng hỏa mai?? Từ 1949 về sau những người Âu Châu ở Việt Nam than vãn và phàn nàn vì kẻ thù đã được tiếp tế vũ khí có cùng phẩm chất như của họ. Tây phương mơ tưởng đến những ngày huy hoàng xưa kia khi dân bản xứ chống lại họ với cung tên và bị họ bắn tan hoang bởi những súng của hải quân, pháo binh, và súng máy. “Gậy ông đập lưng ông” chỉ là chuyện công bằng.

(But what was the US growling about? The North was supplying the VC? And what were the American giving the ARVN -–muzzle loaders? From 1949 on the Europeans in Vietnam whined and complained because their enemies were supplied with the same quality armament as they. The West was dreaming of the good old days when the natives fought with bows and arrows and they were shattered them with naval guns, artillery, and automatic weapons. “Turn about” is fair play.)


Giáo sư Cohen cũng còn viết về sự phàn nàn của Ngoại Trưởng Dulles về chuyện Trung Quốc viện trợ vũ khí cho Việt Minh trong thời kháng chiến chống Pháp, Ibid., trang 257:


Thái độ của Dulles có vẻ như là Mỹ viện trợ cho Pháp nhiều tỷ đô-la về quân phí thì được, nhưng những quốc gia Cộng sản viện trợ cho Việt Minh chỉ có một phần nhỏ (so với viện trợ của Mỹ cho Pháp) thì đó là một tội ác và là hành động xâm lăng.

(Dulles’ attitude seemed to be that it was all right for the US to hand the French billions in military aid, but a crime and an aggression when the communist nations supplied a fraction of that to the Viet Minh.)

Thống kê chính xác thì không thể nào có, nhưng những con số gần đúng và đáng tin cậy thì đã có nhiều rồi. Ông Trần Trung Đạo không chịu đọc sách thành ra không biết đó thôi. Khi xưa ở Vạn Hạnh, không biết ông Trần Trung Đạo có học những “cua” “Thống Kê Căn Bản” hay “Cơ Học Cổ Điển” của tôi không, nhưng ngày nay tôi muốn dạy ông miễn phí một chút về sử để từ nay về sau ông đừng có vì cái nghề nghiệp chống Cộng của ông mà viết láo lếu nữa.

Theo tài liệu trong cuốn The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble, Inc., New York, 2005, trang 358, số tổn thất về nhân mạng được ước tính như sau:

- Mỹ: Chết 57702; bị thương 313616, cộng với hơn 1000 chết không phải do chiến trận.

- Nam Việt Nam: Chết 185528; bị thương 499026.

- Bắc Việt: Chết 924048; số bị thương ước tính ít nhất gấp đôi.

- Cả hai miền: 415000 thường dân chết; 936000 bị thương.

- Nam Hàn: Chết 1107.

- Thái Lan: Chết 350.

- Úc và New Zealand: Chết 475.

- 8 triệu tấn bom đã thả xuống Việt Nam, Cambod, và Lào (vào khoảng gấp hơn 2 lần tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)

- Viện trợ của Nga Sô Viết và Trung Cộng cho Bắc Việt ước tính khoảng 3 tỷ Mỹ Kim.

- Mỹ đã tiêu ở Việt Nam khoảng 300 tỷ Mỹ Kim (viện trợ và quân phí).

Vậy thì ông Trần Trung Đạo cho rằng số người chết ở miền Nam phần lớn là do vũ khí của Trung Quốc và Liên Sô, chứ không phải của Mỹ. Ông nên trở lại trường học, bỏ môn Kinh Tế và Luật đi, để học lại sử. Nếu ông muốn biết rõ vũ khí của ai giết nhiều người Việt Nam nhất thì hãy chịu khó đọc bài:

American Terrorism and Genocide of the Vietnamese People, 1945-1974
http://www.intellnet.org/resources/american_terrorism/Vietnamesevictims.html


Bản dịch tiếng Việt: Chủ Nghĩa Khủng Bố Và Diệt Chủng Dân Tộc Việt Nam Của Mỹ 1945-1974, có trên http://sachhiem.net/TCNts/TCNts25.php



۞



Viết bậy xong rồi, ông Trần Trung Đạo đặt câu hỏi: Thế thì ai mới đáng gọi là quân xâm lược đây? Tôi có ngay câu trả lời qua vài tài liệu:

Daniel Ellsberg viết trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.

Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến.

Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn giản chỉ là che dấu một sự thực đau lòng hơn, và cũng chỉ là một huyền thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.

Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ.

[In practical terms, on one side, it had been an American war almost from its beginning: at first French-American, eventually wholly American. In both cases it was a struggle of Vietnamese – not all of them but enough to persist – against American policy and American financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and pilots.

It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during the US-supported French at colonial reconquest. A war in which one side was entirely equipped and paid by a foreign power – which dictated the nature of the local regime in its own interest – was not a civil war. To say that we had “interfered” in what is “really a civil war”, as most American writers and even liberal critics of the war do to this day, simply screened a more painful reality and was as much a myth as the earlier official one of “agression from the North”. In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.]

Tại sao Daniel Ellsberg lại có thể viết như vậy. Vì Ellsberg là viên chức trong chính quyền Mỹ, đã từng đọc được những tài liệu mật nhất của Mỹ và biết rõ nhất về thực chất cuộc chiến ở Việt Nam. Chính ông là người đã tiết lộ Tài Liệu Ngũ Giác Đài. Và ông viết đoạn trên năm 2002 chứ không phải là trong thời kỳ “phản chiến” sôi nổi trên đất Mỹ. Nếu chúng ta đã đọc một số những sách viết về cuộc chiến Việt Nam, viết sau 1975, của các học giả và cựu quân nhân Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy rằng đa số đồng ý với Daniel Ellsberg về điểm này.

Còn nữa, trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), Các Giáo sư John Carlos Rowe và Rick Berg viết, trang 28-29:

Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”

Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam. Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm. Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.” Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương.

(As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”..

It is worth recalling a few facts. The US was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam. The death toll was about half a million. When France withdrew, the US dedicated itself at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the south a terrorist regime that killed perhaps 70000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that the US had undermined. In 1961-1962, President Kennedy launched a direct attack against rural South Vietnam with large-scale bombing and defoliation as part of a program designed to drive millions of people to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed wire from the guerillas whom, the US conceded, they were willinggly supporting. The US maintained that it was invited in, but as the London Economist accurately observed, “an invader is an invader unless invited in by a government with a claim to legitimacy.” The US never regarded the clients it installed as having any such claim, and in fact it regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient enthusiam for the American attack or sought to implement the neutralist settlement that was advocated on all sides and was considered the prime danger by the aggressors, since it would undermine the basis for their war against South Vietnam. In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Vậy thì bây giờ hẳn là ông Trần Trung Đạo đã biết “ai mới đáng gọi là quân xâm lược đây?”, nếu còn chưa biết thì nên học thêm, đọc thêm để mà biết.

Từ chuyện ông Tổng Kiệt, ông Trần Trung Đạo viết lang bang sang những vấn đề chính trị, chiến tranh quốc tế, chẳng ăn nhập gì đến chuyện nhục nhã của ông Tổng Kiệt, nhưng càng viết càng tỏ rõ cái kiến thức không thể gọi là kiến thức của ông ta. Tất cả chỉ là những luận điệu một chiều theo thiên kiến, phi lịch sử, cho nên tôi nghĩ không cần phải phê bình thêm làm gì. Thật vậy, chỉ qua phần phê bình vài điểm trên, chúng ta đã có thể thấy rõ tư cách và kiến thức của ông Trần Trung Đạo thuộc trình độ nào rồi. Quý độc giả có thể đọc bài của ông ta trên Talawas và tự đánh giá lấy bài viết này của ông ta



TRẦN CHUNG NGỌC


-----------

Source : www.sachhiem.net

Posted by : TRAN HO DUNG /FOR REFERENCE & STUDY PURPOSE ONLY.

Trần Chung Ngọc :PHẬT VÀ GIÊSU

...... ... . . . . . PHẬT VÀ GIÊSU

Trần Chung Ngọc
-oOo-

Giêsu: Chào Đại Ca. Đại Ca vẫn mạnh?

Phật: Chào Chú. Cám ơn Chú. Chú dùng gì?

Giêsu: Anh cho Em ly rượu.

Phật: Rượu có tác dụng làm đầu óc con người kém minh mẫn. Anh đã không uống rượu từ khi Anh xuất gia. Chú uống tạm ly nước lã. Tuy nhiên, nếu Chú muốn, Chú có thể biến nó thành rượu như khi xưa chú đã biến 600 lít nước lã trong 6 cái chum thành rượu (John: 2), Anh không phản đối.

Giêsu: Anh nhắc chuyện nhỏ đó làm gì. Đó chỉ là phép lạ đầu tiên chứng tỏ quyền năng siêu nhiên của Em để cho các môn đồ tin Em là Chúa Cứu Thế (John: 2: 11).

Phật: Chú nói đó là phép lạ đầu tiên? Vậy Chú còn nhiều phép lạ nữa hay sao?

Giêsu: Có chứ! Em có thể đi trên sóng. (Matthew: 14: 25)

Phật: Em muốn sang sông thì cứ việc bỏ ra vài đồng tiền, lái đò sẽ chở Em qua, tội gì mà phải vất vả như vậy?

Giêsu: Em có thể đuổi quỷ từ trong người bị quỷ ám cho chúng nhập vào 2000 con heo rồi bắt đàn heo rông xuống biển chết đuối hết. (Matthew: 8: 32).

Phật: Mô Phật! Tội lỗi! Tội lỗi! Thế là cả đàn heo 2000 con chết oan uổng. (Thở dài) Pờ-liz công-ti-niu "Please continue."

Giêsu: Anh nói gì, Em không hiểu.

Phật: À, không có gì. Anh buột mồm nói tiếng Mỹ. Chú kể tiếp đi.

Giêsu: Em chỉ rủa một tiếng là cây sung phải chết héo queo. Số là hôm đó Em đang đói, nhìn đàng xa thấy một cây sung, nhưng tới gần chẳng thấy có quả nào, Em nổi sùng rủa một tiếng, thế là cây sung chết héo queo, không bao giờ có thể ra trái nữa. (Matthew: 21: 18,19)

Phật: Chú có biết lúc đó trái mùa nên cây sung không thể có trái không?

Giêsu: Em biết chứ.

Phật: Vậy thì mục đích Chú làm cho cây sung chết héo queo ngay chắc là để dọa mấy môn đồ của Chú: "Hãy coi chừng. Kẻ nào dám phật ý Ta. Hãy xem gương cây sung đó."

Giêsu: Chịu anh thôi. Anh có "Tha Tâm Thông" nên biết rõ bụng dạ em.

Phật: Hình như sau đó Chú còn bảo các môn đồ nếu có đức tin thì không những cũng có thể rủa cho cây chết héo queo được như Chú mà còn có thể ra lệnh cho núi tự động bò xuống biển? (Matthew: 21: 21).

Giêsu: Đúng vậy. Thánh Kinh đã viết như vậy thì làm sao còn sai lầm được.

Phật: Thế trong 2000 năm nay, Chú có thấy tín đồ nào của Chú làm được như vậy không?

Giêsu: Đó là bí quyết chiêu dụ môn đồ của Em. Họ tin lời hứa hẹn của Em nhưng họ làm không được, vì họ không biết rằng đó chỉ là một khẳng định bỏ ngỏ, vô trách nhiệm (affirmatiom gratuite). Nếu ai làm không được đến chất vấn, Em chỉ cần trả lời: tại ngươi chưa đủ đức tin. Thế là Em hết trách nhiệm. Không ai có thể kết án Em là Em nói láo. Cũng như trong Tám Mối Phúc Thật, Em nói "Phúc cho các con đang đói, rồi các con sẽ no," "Phúc cho các con đang than khóc, rồi các con sẽ vui cười" (Matthew 6: 21), nhưng Em có xác định là bao giờ họ sẽ no, hay bao giờ họ sẽ vui cười đâu? Anh biết không? Ngày nay các tôi tớ của Em đều theo cách hứa hẹn bỏ ngỏ này để truyền đạo và họ rất thành công.

Phật: Chú khôn thật. Chú có biết tại sao người ta đóng đinh Chú trên thập giá không?

Giêsu: Tại vì họ không tin em là Vua của dân Do Thái, là Con Một của Thượng Đế, là Đấng Cứu Thế của dân Do Thái, thuộc giòng dõi Vua David, mà họ từng mong đợi.

Phật: Không phải đâu. Vì nghiệp của Chú nặng quá. Anh thương Chú lắm nhưng Anh cũng chịu, nghiệp của Chú chỉ có Chú mới giải được.

Giêsu: Làm sao giải nghiệp, Anh chỉ cho Em đi.

Phật: Đơn giản thôi. Đừng làm các việc ác. Hãy làm mọi việc thiện. Giữ tâm cho thanh tịnh. Anh dạy chỉ có thế. (Kinh Pháp Cú: Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật giáo).

Giêsu: Chỉ có vậy thôi à?

Phật: Chỉ có vậy. Thôi, để Anh mách Chú vài bí quyết để chuyển đổi tôn giáo "cứu rỗi" của Chú thành một tôn giáo "giác ngộ."

Giêsu: Tại sao Em lại phải đổi tôn giáo của Em thành một tôn giáo giác ngộ.

Phật: Chú quên rồi sao. Vị đại diện của Chú ở trên trần, Giáo Hoàng Gion Pôn Hai, vừa tuyên bố: "chẳng làm gì có thiên đường ở trên các tầng mây, mà cũng chẳng làm gì có hỏa ngục ở trong lòng đất, tất cả đều do tâm mà ra." Như vậy là Giáo Hoàng đã cho Chú nghỉ dài hạn không lương, Chú cần phải đổi gióp (job) "cứu rỗi" thành gióp "giác ngộ" cho nó hợp với đà tiến bộ của nhân loại. Anh chỉ muốn giúp Chú thôi.

Giêsu: Cám ơn Anh nhiều. Nhưng làm sao đổi được.

Phật: Đơn giản thôi. Chú chỉ việc nghe theo Thiền Sư Nhất Hạnh, biến Cha Chú, Thượng Đế, thành Phật Tánh, đổi danh hiệu "Đấng Cứu Thế" của Chú thành "Đại Sư," đồng hóa Thánh Linh với Tỉnh Thức hay Niết Bàn, thế là xong.

Giêsu: Dạ vâng. Nhưng khó quá Anh ơi. Vì bản chất những thứ trên hoàn toàn khác biệt.

Phật: Chú "phép tắc vô cùng," làm gì chẳng được.

Giêsu: Ờ nhỉ. Em quên khuấy đi mất.

Phật: Thế thì Chú yên tâm rồi nhé. Thôi, để khi khác chúng mình nói chuyện tiếp. Anh phải đi Tọa Thiền.

Giêsu: Chào Anh. Em cũng phải về ngồi cạnh Cha Em ở trên Thiên đường, à quên, ở trong Tâm của Em.

Trần Chung Ngọc
Phật Lịch 2544
Thường Lịch 2000

Source : http://www.buddhismtoday.com/viet/truyen/001-phatgiesu.htm





--------------------------------------------------------------------------------

Cập nhật: 1-5-2000 Trở về thư mục "Truyện và Kịch Phật giáo"
Đầu trang