24/11/08

Tphê bình văn học: Cũng chuyện vay mượn

phê bình văn học

2.10.2008
Trần Đình Hoà
Cũng chuyện vay mượn

Tôi mới đọc ý kiến của Bùi Bụi về việc nhà thơ Inrasara vay mượn một vài ý tưởng của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn. Thốt nhiên, tôi nhớ là cách đây khá lâu, khi đọc bài viết lý luận văn học của một cây bút nổi danh, tôi cảm thấy ngờ ngợ, sau đó, vì tò mò, tôi đọc lại một số bài viết về văn học. Nhờ Google, công việc ấy tương đối dễ dàng. Chính Google đã giúp tôi tìm ra lời giải đáp: nhà văn nổi danh nọ đã vay mượn khá nhiều ý tưởng của Nguyễn Hưng Quốc, nhưng có lẽ vì lơ đễnh, ông không hề ghi xuất xứ.

Nhà văn nổi danh tôi muốn nhắc ở đây là Đỗ Lai Thuý. Bài viết “Phê bình văn học là gì?” của ông được đăng liên tiếp 5 kỳ trên tờ báo mạng eVan với lời giới thiệu trang trọng của Ban biên tập:

“Phê bình văn học là gì?" là tiểu luận mới nhất và tâm đắc của Đỗ Lai Thuý. Tác giả đã âm thầm viết nó trong năm 2003, khi mà trên báo chí liên tiếp xảy ra các cuộc bút chiến xung quanh một số tác phẩm cụ thể - nhất là các bài thơ. Đỗ Lai Thuý rất không vừa ý với các cuộc phê bình này, đúng hơn, ông không vừa ý với "cách người ta phê bình" chúng. Theo ông, những cuộc tranh cãi ầm ĩ và vô bổ đó là minh chứng cho sự thiếu vắng một cái nhìn học thuật về phê bình văn học.

Trong “Phê bình văn học là gì?”, Đỗ Lai Thuý trình bày những luận điểm cốt yếu nhất của ông về phê bình, những luận điểm mà ông tự đúc rút từ những kinh nghiệm cá nhân và “kinh nghiệm gián tiếp” qua việc nghiên cứu các học giả thế giới. Còn với riêng mình, như Đỗ Lai Thuý tâm sự, “Phê bình văn học là gì?” trước hết là sự tự nhận thức về chính bản thân ông với tư cách nhà nghiên cứu văn học.”

Bài viết của Đỗ Lai Thuý khá dài. Tôi chỉ đủ sức để đọc và tìm xuất xứ giùm 2 kỳ đầu mà thôi.

Sau đây là một số điều tôi tìm thấy được.


A. Trong bài “Phê bình văn học là gì? – Kì 1”
(http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/nghien-cuu/2003/12/3B9AD39C/)

Đỗ Lai Thuý: Tư tưởng dân chủ là nền tảng tinh thần của phê bình văn học. Nó thừa nhận mọi công dân đều có quyền phê bình, tức quyền có ý kiến riêng của mình. Trước đây chỉ một thiểu số nào đó mới có cái quyền ấy, còn đa số chỉ có quyền được / chịu sự phê bình. Điều này đã hình thành một tâm thế, một khuôn mẫu suy nghĩ. Chả thế, ở Việt Nam, mãi đến tận năm 1941, khi phê bình văn học (theo nghĩa hẹp, dĩ nhiên) đã rất phát triển, mà Hoài Thanh, một nhà phê bình nổi tiếng, vẫn chưa rũ bỏ được tâm thế đó, còn rất ngỡ ngàng với cái quyền vừa giành được của mình, nên ở cuối Thi nhân Việt Nam, ông còn Nhỏ to tâm sự: “Quyển sách này ra đời, cái điều tôi ngại nhất là sẽ mang tên nhà phê bình. Hai chữ phê bình sao nghe nó khó chịu quá! Nó khệnh khạng như một ông giáo gàn. Bình thì cũng còn được. Nhưng phê? Sao lại phê?”.

Nguyễn Hưng Quốc: Trong tiếng Việt, ngày xưa, người ta chỉ thường dùng chữ "bình", bình thơ và bình văn. "Bình" phần nhiều có nghĩa là tán, thiên về việc khen ngợi nhiều hơn là chê bai hay đả kích. "Phê", ngược lại, thường chỉ dùng trong những trường hợp như vua quan phê vào đơn từ của dân chúng, thầy giáo phê vào bài làm của học trò, bao giờ cũng là một hành động quyền uy của người trên đối với người dưới. Chính ám ảnh về quyền uy này của chữ "phê" đã khiến Hoài Thanh, khi viết cuốn Thi nhân Việt Nam vào đầu thập niên 40, đâm ra e dè không dám nhận mình là nhà phê bình: "Bình thì cũng còn được. Nhưng phê? Sao lại phê?"

Thực ra, Hoài Thanh không thấy hết ý nghĩa cách mạng của việc sử dụng chữ phê bình trong sinh hoạt văn học: nó là sự giành giật quyền uy của người dưới đối với người trên. Xưa, chỉ có người trên mới có quyền phê bình người dưới; làm ngược lại là bất kính và phạm thượng. Nay, bất cứ ai cũng có quyền phê bình; không phải chỉ phê bình người khác mà còn phê bình cả hệ thống mỹ học gắn liền với ý thức hệ đang thống trị trong xã hội. Chính vì thế, trong hành động phê bình có hai khía cạnh nổi bật vừa đối nghịch vừa bổ sung cho nhau. Thứ nhất, bản thân nó, phê bình, vừa là điều kiện vừa là kết quả của một tiến trình dân chủ hoá. Phê bình chỉ có thể tồn tại khi người ta chấp nhận sự đối thoại, chấp nhận quyền đối thoại của người khác và quan trọng hơn cả, chấp nhận được/bị phán đoán theo một tiêu chuẩn riêng của văn học, xuất phát từ đặc trưng cơ bản của văn học. [...] Thứ hai, thực chất của phê bình không phải chỉ là chuyện chữ nghĩa mà là một thứ quan hệ quyền lực.
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=513)


Đỗ Lai Thuý: Nhà phê bình phát ngôn không nhân danh bản thân anh ta, mà nhân danh một ý thức thẩm mỹ nào đó mà anh ta là đại diện. Người đối thoại với anh ta cũng vì một ý thức thẩm mỹ khác mà tranh luận lại. Phê bình văn học, vì thế, không còn là chuyện cá nhân, không có vấn đề “ai thắng ai” muôn thuở, mà là một cuộc đối thoại thẩm mỹ theo đúng thuần phong mỹ tục để thúc đẩy văn chương dấn thân vào những cuộc phiêu lưu tìm những giá trị thẩm mỹ mới.

Nguyễn Hưng Quốc: Khi một nhà phê bình lên tiếng khen hay chê một tác phẩm nào đó, hắn không nhân danh cá nhân hắn mà, nghĩ cho cùng, nhân danh một quan điểm thẩm mỹ nào đó. [...] Từ việc nhân danh một quan điểm thẩm mỹ, phê bình trở thành một cách bày tỏ một thái độ thẩm mỹ.

[...] thực chất của phê bình không phải chỉ là chuyện chữ nghĩa mà là một thứ quan hệ quyền lực. [...] trong phê bình, đó là quan hệ quyền lực giữa ý thức thẩm mỹ này và một hay nhiều ý thức thẩm mỹ khác và mục đích chính là để kích thích sự vận động của văn học và của cả văn hoá nữa.
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=513)


B. Trong bài “Phê bình văn học là gì? – Kì 2”
(http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/nghien-cuu/2003/12/3B9AD39D/)

Đỗ Lai Thuý: Phê bình văn học, theo tôi, có thể tạm chia thành hai loại: phê bình báo chí và phê bình học thuật. [...] Phê bình học thuật, theo tôi, hiện nay có hai dạng: phê bình thực hành và phê bình lý thuyết.

Nguyễn Hưng Quốc: [...] phê bình không phải chỉ là điểm sách. Từ đầu thế kỷ 20, [...] phê bình thành một ngành học thuật vững mạnh với những kiến thức riêng và những phương pháp luận riêng, [... ] Hiện nay, ngoài hình thức điểm sách, phê bình còn có ba hình thức khác nữa: thứ nhất, phê bình học thuật [...] Thứ hai, phê bình thực hành, [...] Cuối cùng là phê bình lý thuyết: đối tượng phê bình ở đây không phải là một tác giả hay một tác phẩm cụ thể mà là bản thân công việc phê bình hay công việc viết lách nói chung, là những quy ước ngôn ngữ và văn hoá bên trong tác phẩm văn học, những yếu tố làm cho tác phẩm văn học trở thành có ý nghĩa và có giá trị.
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1034)


Đỗ Lai Thuý: Chọn sự phân chia phê bình thành phê bình báo chí và phê bình học thuật, tôi muốn chuyển trọng tâm khảo sát sang bản thân phê bình. Sự phân loại này dựa trên chính sự phân chia chức năng của phê bình: phát hiện cái đẹp và xây dựng hệ giá trị thẩm mỹ.

Nguyễn Hưng Quốc: Từ hai sự ghi nhận vừa nêu, theo tôi, phê bình có hai chức năng chính: phát hiện và quy phạm hoá những cái đẹp.
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1)


Đỗ Lai Thuý: Trong những thời kỳ văn hóa - xã hội ổn định, “những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt” (Chế Lan Viên), các giá trị thẩm mỹ còn là mẫu mực, thì phê bình báo chí dễ phát huy hết các điểm mạnh của mình. Các phán đoán thẩm mỹ của nó dễ đúng và trúng bởi được bảo hộ bằng một hệ giá trị chuẩn. Đồng thời, hệ giá trị này còn giám sát trở lại nhà phê bình, vừa đo tầm vóc của anh ta, vừa ngăn anh ta không để dính vào sự chi phối của những yếu tố phi thẩm mỹ. Nhưng trong các thời kỳ bất ổn, bảng giá trị bị đảo lộn, hệ quy chiếu biến mất, nhà phê bình lúc này chỉ còn biết tựa vào chính bản thân anh ta hoặc lấy ý kiến số đông làm ý kiến của mình, tuỳ vào bản lĩnh của mỗi người. Các phán đoán thẩm mỹ, vì thế, dễ trở nên lung tung, nhầm lẫn. Khi đó, một người phê bình kém bản lĩnh sẽ không còn là người hướng dẫn dư luận nữa (bởi, anh ta cũng đang cần được hướng dẫn!), sẽ bị đám đông nuốt chửng, dìm chết hoặc thả nổi theo những con sóng dư luận lên xuống dập dềnh. Đây là lúc hơn hơn lúc nào hết, trên báo chí, trong đời sống văn học, cần đến tiếng nói của một kiểu phê bình khác, phê bình học thuật.

Nguyễn Hưng Quốc: Dưới sự nâng đỡ của giới sáng tác, sinh hoạt phê bình đã thực hiện nhiệm vụ cổ vũ và biểu dương của nó khá tốt. Nó trở thành một thứ trung gian giữa tác giả và độc giả, góp phần đắc lực trong việc phổ cập một số tác phẩm văn học vào đại chúng. Các nhà phê bình hài lòng với công việc của mình. Giới sáng tác, nếu không hài lòng thì cũng chẳng lấy gì làm phiền hà về sự hiện diện khiêm tốn của họ. Mối quan hệ ấy thường khá êm thắm cho đến khi chính giới sáng tác cảm thấy bị hoang mang trước công việc sáng tác của mình.

Cảm giác hoang mang ấy thường xuất hiện ở một số thời điểm nhất định khi quan điểm văn học cũ bắt đầu lung lay mà quan điểm mới chưa được hình dung rõ ràng.

Đó là lúc, ở trong nước, văn học bắt đầu rục rịch đổi mới. Đường lối sáng tác cũ đã bị xem là lạc hậu, đã bị đọc lời "ai điếu", nhưng mọi người đều ngơ ngác chưa biết sẽ đi về đâu. Những cây bút có tài mỗi người đâm về một hướng như những thử nghiệm đầy phiêu lưu. Lúc ấy, về phía giới sáng tác, người ta cảm thấy sự tồn tại của giới phê bình chuyên vỗ tay và phe phẩy những chiếc quạt trần sau lưng mình là vô dụng và vô duyên. Về phía độc giả, bị bối rối trước tình trạng lộn xộn trong sáng tác, tha thiết chờ đợi sự phân tích của giới phê bình, nhưng cuối cùng, họ đã thất vọng ê chề: những kẻ nói leo ấy hoặc biến mất hoặc chỉ lặp lại những điều cũ mèm. Chúng ta hiểu vì sao khoảng hơn mười năm nay, ở trong nước lâu lâu lại vang lên một câu hỏi thống thiết: đâu rồi những Hoài Thanh và những Vũ Ngọc Phan của thời đại mới?
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1034)


Đỗ Lai Thuý: Hiện nay, phê bình lý thuyết rất được coi trọng. Hợp tuyển các công trình phê bình nổi tiếng thế giới đều không thể vắng mặt những tên tuổi như R. Jakobson, M. Bakhtin, R. Barthes, J. Derrida, M.Foucault, T. Adorno, H. R. Jauss, W. Iser...

Nguyễn Hưng Quốc: Không phải ngẫu nhiên mà trong các tuyển tập phê bình về nền phê bình văn học thế kỷ 20, phần lớn các phần mục được sắp xếp theo tên của các trường phái và hầu hết những người được vinh danh trong đó là những nhà lý thuyết hoặc những người có đóng góp lớn về phương diện lý thuyết, những kẻ góp phần phát hiện hoặc hình thành một số quy phạm lớn trong văn học.
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1)



Đỗ Lai Thuý: Có điều đáng lưu ý là loại phê bình này không nhất thiết phải viết về những tác giả đương đại, mà chủ yếu là những tác giả đã được khẳng định, kể cả những nhà văn tưởng như đã “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, như Bakhtin về Dostoievski và Rabelais, Barthes về Sarrasine của Balzac, không phải để “ăn mày dĩ vãng” mà cốt để làm rõ hiệu quả của phương pháp mới trên một tác phẩm cũ tưởng đã cạn kiệt thông tin.

Nguyễn Hưng Quốc: Ở phương diện này, chúng ta không thể không chú ý đến một sự kiện đặc biệt: một số những công trình phê bình có ý nghĩa rất lớn và giàu tính sáng tạo lại không viết về những tác giả đương đại mà là những tác phẩm thuộc về quá khứ, có khi là quá khứ khá xa. Tác phẩm được đánh giá cao nhất của Roland Barthes, chẳng hạn, không phải là tác phẩm viết về Alain Robbe-Grillet, người cùng thời với ông, mà là cuốn S/Z, một công trình phân tích một thiên truyện vừa của Balzac, ra đời cả hơn một trăm năm về trước, truyện "Sarrasine", ở đó, ông đưa ra nhiều phát hiện lý thú, giúp người đọc, qua thiên truyện ấy, hiểu sâu sắc hơn về những cơ chế nội tại của tác phẩm văn học nói chung. Trường hợp của M.M. Bakhtin cũng tương tự. Ðược xem là một trong vài nhà phê bình lớn nhất thế giới trong thế kỷ 20, Bakhtin hiếm khi viết về bất cứ một tác giả nào thuộc thế kỷ ông đang sống. Hai tác giả "hiện đại" nhất được ông đề cập đến là Leo Tolstoy và Fyodor Dostoievsky chủ yếu là hai nhà văn lớn của thế kỷ 19. Hơn nữa, ngay cả khi viết về Tolstoy và Dostoievsky, điều làm Bakhtin quan tâm nhất không hề là khía cạnh thẩm mỹ trong nghệ thuật của họ mà là những khía cạnh thuộc về thi pháp thể loại, những mối quan hệ tương tác giữa các loại diễn ngôn hoặc giữa văn bản và bối cảnh văn hoá của thời đại. Cũng giống như Barthes, những sự phân tích của Bakhtin giúp mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về tiểu thuyết và về văn học, từ đó, tự nhiên chúng ta cảm thấy dễ cảm nhận và cũng dễ chấp nhận hơn những thử nghiệm mới mẻ và táo bạo theo hướng đa thanh hoá (polyphony) tiểu thuyết của các tác giả hiện đại và hậu hiện đại, từ James Joyce và Gertrude Stein cho đến Donald Barthelme và Pat Barker.
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1)


Đỗ Lai Thuý: Phê bình học thuật, như vậy, đã thực hiện chức năng xây dựng hệ giá trị thẩm mỹ. Đồng thời, nó luôn tìm kiếm, xây dựng, mở rộng, nâng cao và hoàn thiện các quy phạm này. Cùng với thời gian, hệ giá trị thẩm mỹ càng trở nên ổn định, vững chắc và chuẩn mực. Đến một lúc nào đó, nó trở thành khuôn vàng thước ngọc, thành chân lý độc tôn, bó trói một thực tiễn văn học sống động, luôn tiến về phía trước. Thế là hệ giá trị thẩm mỹ mới mẻ ngày nào nay đã khô cứng, cũ kỹ và lâm vào khủng hoảng. Lúc này, phê bình văn học phải chuyển đổi hệ chuẩn (paradigme), phủ định những quy phạm cũ, để lại xây dựng những quy phạm mới, bảng giá trị thẩm mỹ mới.

Nguyễn Hưng Quốc: Tôi muốn xem công việc phủ định các quy phạm ấy là chức năng thứ ba của phê bình văn học. Nói cách khác, sau khi phát hiện cái đẹp và quy phạm hoá cái đẹp, điều phê bình cần làm nhất là phủ định các quy phạm đã có và nếu được, cố gắng xây dựng những quy phạm mới dựa trên những điều kiện mới và những khám phá mới của văn học và mỹ học. Nếu chỉ có chức năng thứ nhất, phê bình sẽ mãi mãi ở trong tình trạng phôi thai, nghiệp dư và đầy cảm tính. Nếu chỉ dừng lại ở chức năng thứ hai, phê bình cũng không thể phát triển: trong một thế giới văn học đầy những quy phạm vững chắc, người ta không cần phê bình; người ta chỉ cần những nhân viên kiểm duyệt mà thôi.
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1)


Đỗ Lai Thuý: Ở đây, có lẽ cần phải nói rõ thêm một điều là phủ định trong phê bình văn học không phải là bảo nó sai, tiêu diệt nó, mà chỉ là xác định rằng hiện nay nó không còn đủ lực để giữ vai trò chủ đạo nữa, hoặc trước đây tưởng nó là chân lý phổ quát thì nay chỉ là cái đúng trường hợp. Bởi vậy, có thể nói, lịch sử phê bình văn học là lịch sử của những khẳng định và phủ định các quy phạm thẩm mỹ.

Nguyễn Hưng Quốc: [...] Một quy phạm bị phủ định trong văn học sẽ không mất đi đâu cả. Cái bị phủ định không phải là sự tồn tại của quy phạm mà là cái uy thế tuyệt đối và đồng thời, cái vị thế tiên phong của nó.

[...] Sức sống của văn học nằm ở nhịp hình thành và phủ định, lại hình thành và lại phủ định của các quy phạm. [...]
(http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1)


Tôi chỉ xin nêu một số điểm tương đồng về ý tưởng và xin nhường quyền kết luận cho các bạn đọc khác.

Những Pygmalion Việt Nam thuở nào - Bùi Trọng Liễu

Những Pygmalion Việt Nam thuở nào

Bùi Trọng Liễu



Trước hết, xin nhắc lại Pygmalion là ai trong thần thoại Hy-lạp. Theo một truyền thuyết, Pygmalion là vua xứ Chypre, đồng thời là một nhà điêu khắc tài ba. (Ở đây, tôi không nói tới Pygmalion, vua xứ Tyr, liên quan đến câu chuyện nữ hoàng Didon và Carthage) (1). Pygmalion này là người “ghét phụ nữ” – tiếng Pháp là misogyne, hình như tiếng Anh là misogynist hay là woman-hater – cho nên chàng ở vậy, không lấy vợ. Có nguồn cho rằng không phải bẩm tính trời sinh chàng ta như vậy, mà là vì phụ nữ xứ này không đoan trang nên chàng ghét. Chàng ta chỉ chăm chú tạc tượng, và pho tượng mà chàng ta say sưa tạc là một tượng phụ nữ bằng ngà, mà chàng ta đặt tên là Galatée. Tượng đẹp vô cùng, làm cho Aphrodite, nữ thần Ái tình, bực mình, chơi khăm, phù phép làm cho chàng ta đâm ra mê pho tượng, đến mức ngẩn ngơ mê ngày mê đêm. Chàng ta van xin cầu khẩn, nên nữ thần Aphrodite siêu lòng, phù phép cho pho tượng trở thành người. Và chính nữ thần làm chủ hôn đám cưới cặp này. Tôi không kể nối chuyện họ sinh con đẻ cái, vì không phải là cốt lõi câu chuyện mà tôi muốn nói.

Chuyện Pygmalion gợi hứng cho nhiều tác gia như Rameau, nhà soạn nhạc Pháp, viết vở kịch múa ballet Pigmalion (Rameau viết với chữ “i” thay vì chữ “y”) năm 1748, được coi như là vở nhạc kịch nổi tiếng nhất của Rameau. Nhưng tác gia gây chú ý ở thế kỉ 20, có lẽ là nhà văn Ái-nhĩ-lan George Bernard Shaw, với vở kịch Pygmalion, diễn lần đầu tiên năm 1914, và sau đó được chiếu thành phim lần đầu vào năm 1938. Sau đó là cuốn phim (Mỹ) My Fair Lady (1964) của George Cukor, rất ăn khách với hai diễn viên Rex Harrison và Audrey Hepburn, chuyển từ vở musical theatre (2) của Alan Jay Lerner et Frederick Loewe. Tất nhiên, không phải là chuyện Pygmalion trong thần thoại, mà là chuyện Pygmalion được “phù hợp hóa” trong xã hội Anh cuối thể kỉ 19 đầu thế kỉ 20.

Chuyện đại khái tóm gọn như sau:

Một nhà ngôn ngữ học trung niên, Henry Higgins, đánh cuộc với với một người quen, rằng có thể “biến cải ” một nàng bán hoa nghèo Eliza Doolittle ăn nói quê mùa thô lỗ, thành một thiếu nữ có giọng nói và ngôn ngữ của người quí phái. Và muốn đạt được kết quả, chàng chỉ cần dạy nàng học nói một số giờ. Kết quả vượt sự dự đoán, Eliza nhanh chóng học nói được trôi chảy, và do một sự dàn dựng đùa vui, bà mẹ Henry hóa trang và dẫn Eliza tới dự buổi dạ hội khiêu vũ của giới quyền quí, ai ai cũng lầm tưởng nàng là một thiếu nữ giòng quí phái. Một chàng trai trẻ quí phái Freddy Eynsford-Hill mê nàng và muốn cưới nàng làm vợ. Eliza do dự, nhưng trước thái độ “có vẻ” lãnh đạm của Henry, mặc dù nàng đã cố thử làm lung lay sự thản nhiên của nhà ngôn ngữ học này, nàng giận. Câu hỏi: là Henry -“Pygmalion” yêu thầm Eliza-“Galatée” mà không tỏ tình? Eliza-“Galatée”, do dự vì thực sự không yêu Henry-“Pygmalion” mà chỉ biết ơn chàng đã “tạo” nên mình?

Bản kịch của George Bernard Shaw kết thúc bằng màn kịch : Eliza nhận lấy Freddy, và mọi người dắt nhau đi dự đám cưới, chỉ còn trơ một mình Henry “cười gằn”.

Cuốn phim My Fair Lady “có hậu” hơn, tuy lấp lửng : Eliza không lấy Freddy, mà quay trở lại tìm Henry.
Tất nhiên, bản kịch của George Bernard Shaw chỉ giữ 2 điểm của tích Pygmalion thần thoại Hy-lạp: chàng trai tuổi sồn sồn “ghét phụ nữ” trở thành mê say đắm nhân vật của mình tạo nên.

Người ta đã “phù hợp hóa” được tích Pygmalion nguyên thủy, vậy thì tôi cũng chẳng ngại mà dám “phù hợp hóa” tích này để diễn tả vài ý tưởng của tôi:

Sau nhiều năm loạn li, xã hội Việt Nam thế kỉ 19 bước vào giai đoạn suy đồi, nhà cầm quyền ngu dốt, để đến nỗi mất nước. Nửa đầu thế kỉ 20, và nhất là vào Cách mạng mùa Thu 1945, biết bao nhiêu người Việt Nam, già trẻ trai gái – những Pygmalion không phân biệt tuổi tác, không phân biệt giới tính – ước mơ góp phần mình để xây dựng nên một nước Việt Nam mới, độc lập, với một xã hội dân chủ, công bằng, phồn vinh với những người công dân được tự do, bình quyền, có học vấn, có lòng yêu thương nhau, vv. - một thứ “Galatée lý tưởng”. Nhiều thế hệ Pygmalion Việt Nam đó đam mê, nên đã từ bỏ cả giàu sang, hạnh phúc riêng tư, để góp phần tạc “Galatée lý tưởng” ấy và đã vĩnh viễn nằm xuống, mà chưa kịp thấy được hình dáng cái mình ước mơ kia ra sao. Nhưng vì những lý do bên ngoài và bên trong, “Galatée lý tưởng” kia đã trở nên nham nhở, phần thì thành công đẹp đẽ, phần thì xấu xa vô cùng, phần trí tuệ thì hiển nhiên có vấn đề. Lại chẳng có một nữ thần Aphrodite phù phép trợ giúp. Những Pygmalion Việt Nam ngày nay còn đang đam mê, liệu rốt cục sẽ “cười gằn”, hay là còn đang trong tình trạng của một cái hậu “lấp lửng” ?

Chú thích :

(1) Một số chi tiết đã được trình bày trong mấy cuốn sách của tôi đã xuất bản trong nước hay còn bỏ ngỏ thường xuyên cập nhật, xin mời bạn đọc mở xem trong trang mạng : http://www.buitronglieu.net

(2) Tiếng Pháp là comédie musicale. Comédie thật ra nguyên thuỷ không có nghĩa hài hước như có người lầm tưởng, mà chỉ có nghĩa là một vở kịch nhằm mô tả ( thường là để chỉ trích một nét xấu nào đó) xã hội đương thời hay cận đại. Tôi không thấy tiếng Việt trong từ điển, và thấy rất khó dịch vì người Việt Nam ta phần đông không quen với loại này. Comédie musicale là một vở kịch có nhạc, ca, múa , phần nào nó là kế thừa của những ballet, opéra, opéra-bouffe, opérette… Hình thức comédie musicale này một thời rất thịnh hành ở Mỹ, đặc biệt là ở những rạp hát ở Broadway (New York). Cám ơn các anh chị Đ.T.K., H.D.T , H.VT., … đã có lời giải thích và gợi ý là nên dịch là « ca nhạc kịch » hay gọn hơn, là « nhạc kịch ». Tôi băn khoăn, không dám lựa chọn, xin để lửng lơ, và tạm dùng tiếng nước ngoài.

Sphinx và văn hóa Việt Nam thời toàn cầu hóa

Lời mào đầu : Về truyện chàng Œdipe, con Sphinx, phức cảm « hài tử đối dị tính phụ mẫu nhất phương đính luyến tình kết », và cái chân thứ bốn trong thần thoại Việt Nam.


Sphinx và văn hóa Việt Nam thời toàn cầu hóa

Bùi Trọng Liễu


Trước hết, tôi xin nhắc lại Sphinx là cái quái gì : Sphinx, một thú thần thoại, mình sư tử đầu người trong thần thoại Ai-cập – tượng trưng cho thần mặt trời Hamarkhis được « thể hiện » qua tượng đá khổng lồ gần Kim tự tháp của vua Ai-cập (pharaon) Khephren ; có thuyết cho rằng mặt của tượng Sphinx của mặt của chính vua Khephren. (Trong thần thoại Ai-cập còn nhiều loại sphinx khác, thí dụ như ở các đền Karnak, Louqsor, có những sphinx mình sư tử đầu cừu đực sừng cong, vv.). Tôi dùng từ sư tử theo nghĩa tiếng Việt ngày nay, nghĩa là con thú bốn chân (lion), chứ không theo nghĩa thời Lý, có lẽ chỉ con cá sấu (theo bác Hoàng Xuân Hãn trong cuốn « Lý Thường Kiệt »). Tôi không muốn dài dòng thêm.

Sphinx nhập vào văn hóa Hy-lạp, được chế biến thành con quái thần thoại đầu phụ nữ mình thú, là một quái vật phá hoại mùa màng và thích ăn thịt người, ngồi trên tảng đá cao, chất vấn khách qua đường bằng câu đố :
Vật gì sáng bốn chân đi,
Trưa hai chân đứng, chiều thì lại ba.
Ai không trả lời được thì bị ăn thịt. Cho đến một ngày, chàng Œdipe đi qua, bị hỏi câu đó, chàng trả lời : « Đó là con người : lúc còn nhỏ, chỉ biết bò nên dùng bốn chân tay ; lúc nhớn lên, đi bằng hai chân ; lúc già yếu phải chống gậy nên có ba chân ». Con quái nữ Sphinx tức giận vì có người trả lời được câu đố của mình, mới nhảy từ trên cao xuống đất tự tử chết. [Nhưng có thuyết cho rằng Sphinx còn hỏi Œdipe thêm một câu nữa : « Có hai chị em, nối tiếp sinh ra nhau. Ai vậy ? ». Œdipe trả lời : « Ngày và đêm ». Lúc ấy con quái mới nổi giận, nhảy từ trên cao xuống tự tử chết].

Chuyện câu đố này tôi có học trong sách giáo khoa ta thuở nhỏ, hình như lớp « đồng ấu », vào khoảng năm 1942; cứ tưởng là chuyện Việt Nam, lúc ấy còn thuộc Pháp, chưa có chuyện toàn cầu hóa. Sau này mới biết là chuyện thần thoại Hy-lạp !

Nhân nói đến chàng Œdipe, cũng xin kể tiếp thêm một chút : Vua xứ Thèbes chậm có con nối, mới đi cầu xin lời sấm (oracle) của thánh thần nơi Delphes. Lời sấm phán rằng sẽ có con trai, nhưng nó sẽ giết cha và lấy mẹ. Khi đứa con trai đẻ ra, hoàng hậu Jocaste sợ lời sấm, nhưng không nỡ giết con, mới đem bỏ đứa bé vào trong núi. Mấy người chăn cừu nhặt được, cứu đứa bé và dâng cho vua xứ Corinthe. Vua này và hoàng hậu không có con, nuôi Œdipe như con đẻ của mình. Lớn lên, Œdipe mới biết có lời sấm đó, chàng sợ hãi và vẫn tưởng rằng vua và hoàng hậu Corinthe là cha mẹ đẻ của mình, vội vã bỏ đi. Dọc đường, tình cờ gặp vua Thèbes, nhưng không biết là bố đẻ của mình ; do có sự gây gổ lục đục, Œdipe giết ông này, rồi đi tiếp. Rồi gặp con quái nữ Sphinx, như đã kể trên, và diệt được nó. Dân xứ Thèbes cảm ơn chàng đã trừ được con quái, mới tôn chàng làm vua, và chàng lấy hoàng hậu Jocaste mà không biết là mẹ đẻ của mình, và đẻ ra mấy con. Vài năm sau, bệnh dịch phát ra, một lời sấm khác phán rằng phải đuổi kẻ giết vua trước đi ; một thày bói mới tiết lộ sự thật trước đây. Hoàng hậu Jocaste tự treo cổ chết, Œdipe tự đâm mù hai mắt, bỏ đi và chết nơi khác. Ngày nay, trong ngành phân tích tâm lý (psychanalyse), có cụm từ « complexe d’Œdipe » [« phức cảm » Œdipe, do Sigmund Freud tạo ra năm 1910 để chỉ một giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ em : sự gắn bó tình cảm mật thiết của nó đối với người cha/mẹ khác giới (sexe opposé) của nó. Nhân dịp cũng xin cám ơn anh bác sỹ V.Q. mách cho biết là Trung quốc có người dịch là « hài tử đối dị tính phụ mẫu nhất phương đính luyến tình kết ». Hy vọng là tôi không chép nhầm].

Mới đây, có bài « Đáp lời Sphinx hay cội nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu » của nhà nghiên cứu văn học Đỗ Lai Thúy đăng trên báo mạng http://vietnamnet.vn/vanhoa/2007/10/747345/ , mục Văn hóa, tôi thấy trong phần mở đầu có dẫn câu đố của Sphinx như sau : « Con gì sáng bốn chân, trưa hai chân, tối bốn chân ? ». Sao tối lại lòi ra cái chân thứ « bốn » thế này ? Chân chứ không phải đuôi đâu nhé. Tôi không hiểu, hay chưa hiểu. Nhập vào thần thoại Việt Nam thời toàn cầu hóa, được cải tiến thêm một cái chân ; kỹ thuật tiên tiến nên chống hai nạng, chứ không phải chống gậy như thuở còn nghèo ? Hay là nhầm, in nhầm ? Tôi không biết nên đành đoán mò như vậy, vì vào thời hội nhập toàn cầu, thiếu gì thứ nhập. Nhầm một chút cũng chẳng sao, sai thì sửa. Thiếu gì thứ sai rồi sửa, càng sửa lại càng sai. Còn đây là chuyện vui văn hóa, có gì quan trọng lắm đâu.

Quy chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học: Giới nghiên cứu khoa học không sợ bị quy chụp

Quy chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học:
Giới nghiên cứu khoa học không sợ bị quy chụp

- "Đối với trí thức, vấn đề nhận thức chỉ có thể hình thành thông qua cùng trao đổi bình đẳng, chứ không thể áp đặt. Bất cứ đảng cầm quyền nào cũng cần sử dụng những tư duy vượt trước của trí thức để thúc đẩy xã hội và cộng đồng đi lên".

Đây là ý kiến của Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Ngọc Hoàng xung quanh Qui chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học được Viện Khoa học Xã hội Việt Nam soạn thảo và đang chờ Thủ tướng ký ban hành.

Không phải lúc nào cũng thực hiện tốt mục tiêu dân chủ

Ông quan niệm thế nào là dân chủ trong nghiên cứu khoa học?

Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Ngọc Hoàng: "Tư duy của con người chủ yếu sẽ phát triển hơn lên khi nó được tiếp cận, cọ xát với những ý kiến mới, khác với mình".
Theo tôi hiểu, không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, mà cả trong đời sống cộng đồng, rất cần sự phát huy dân chủ, cũng có nghĩa là cần trí tuệ tập thể, có thông tin tiếp cận nhiều chiều, tiếp cận được nhiều chân lý tương đối, có nhiều phương án để so sánh lựa chọn.

Điều quan trọng thứ nhất đối với sự phát triển của một cộng đồng là sự phát triển của tư duy. Phát huy dân chủ, phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động khoa học thì sẽ và mới phát triển được tư duy. Xét cho cùng thì tư duy của con người chủ yếu sẽ phát triển hơn lên khi nó được tiếp cận, cọ xát với những ý kiến mới, khác với mình, ở mình chưa có.

Điều quan trọng thứ hai là thông tin nhiều chiều, nếu biết lựa chọn đúng sẽ giúp hoàn thiện con người về mặt văn hóa, bởi con người lúc sinh ra thì mới là một sản phẩm của tự nhiên, họ trở thành con người nhờ tác động qua lại của cộng đồng, với cộng đồng.

Đối với sự phát triển tư duy của giới nghiên cứu khoa học, hay trí thức nói chung, điều đó càng quan trọng. Thực ra, ở Việt Nam từ trước đến nay tôi chưa nghe thấy ai bảo rằng trí thức không được tự do tư tưởng (hay là hạn chế tự do tư tưởng) trong hoạt động khoa học.

Tuy nhiên, tâm lý chung của mọi người vẫn ngại đụng đến những vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội mà nhạy cảm, liên quan đến chính trị. Họ sợ nói không chuẩn, từ đó bị phê phán và có khi bị quy chụp. Không phải chỉ có cấp dưới sợ cấp trên quy chụp, mà ngay cả cấp dưới cũng không ít trường hợp quy chụp ngược lại đối với cấp trên.

TIN LIÊN QUAN

* "Tôn trọng ý kiến khác biệt": Khai mở sự sáng tạo
* Dân chủ - chìa khoá để khoa học phát triển

Từ khi thành lập Đảng Cộng sản và thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là CHXHCN Việt Nam), Đảng và nhà nước ta đã nhiều lần nêu mục tiêu tự do và dân chủ, và trên thực tế cũng luôn phấn đấu cho mục tiêu ấy, chứ đó không phải là chuyện mới lạ, càng không phải là chuyện xa lạ.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã từng đi tiên phong để cùng với nhân dân giành lại tự do và dân chủ cho cả một dân tộc trước đó đã bị mất nước phải chịu nô lệ, tiếp đó là những cuộc kháng chiến để giữ độc lập tự do, rồi giải phóng con người khỏi các tàn dư phong kiến. Tuy nhiên, cũng có một thực tế rằng, không phải lúc nào và ở đâu cũng làm tốt, chúng ta đang còn không ít những điều chưa tốt về thực hiện mục tiêu tự do, dân chủ.

Người thiệt thòi nhất là người chỉ nói mà không nghe

Nhưng mặt khác, tự do và dân chủ vẫn luôn có những giới hạn vốn có của chính nó, vì không phải là tự do của một cá thể giữa trời, không liên quan gì đến ai cả. Quan điểm của ông?

Đúng là như vậy. Anh tự do nhưng anh không được động đến tự do của người khác, anh vẫn phải sống trong mối quan hệ với cộng đồng, không được gây hại cho cộng đồng, phù hợp với văn hóa và trình độ phát triển chung… Tức là cái tự do của anh phải đi kèm với lợi ích của cộng đồng, vì một đất nước ổn định và phát triển.


Trí thức rất cần có một đảng lãnh đạo sáng suốt, có tổ chức chặt chẽ, thống nhất được ý chí và hành động, để họ có thể nhân lên những tư duy đúng của mình, phát huy những trí tuệ đơn lẻ thành một khối sức mạnh tổng hợp phục vụ cho đất nước và xã hội


Mục đích của nghiên cứu khoa học là để áp dụng trong thực tế, và sự thống nhất thông qua, sau khi đã có tranh luận và phản biện khoa học, mới là sự thống nhất thật sự, thống nhất có căn cứ, cũng như sẽ vững chắc và có giá trị thực tiễn cao.

Ông Einstein có lần đã viết một đoạn dài nói về tự do tư tưởng, mà tôi có thể khái quát lại như sau: Nhờ có phản biện nhiều chiều, mà anh nghe được nhiều chân lý tương đối để từ đó anh tìm ra một chân lý sát hơn, gần hơn, tiếp cận với lẽ đúng nhiều hơn.

Còn khi anh chỉ nói và không được nghe, người khác chỉ nghe và không nói, anh sẽ là người thiệt thòi nhất bởi trong tư duy của anh chỉ có độc nhất mỗi ý kiến của mình, không có sự bổ sung đa dạng từ ý kiến của người khác, cuối cùng thì tư duy của anh sẽ chậm phát triển hơn người ta.

Khi bàn về Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Hội nghị Trung ương 7 vừa qua đã đề cập đến vấn đề phát huy dân chủ, phát huy tự do tư tưởng trong nghiên cứu và hoạt động khoa học, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Theo tôi, đó là điều rất cần thiết, tốt cho mục tiêu phát triển chung, và tốt cho việc xây dựng đội ngũ trí thức.

Ông có tham dự hội thảo về nhà Nguyễn được tổ chức cách đây hơn 1 tháng ở Thanh Hóa. Ông nhận xét gì về sự dân chủ trong nghiên cứu khoa học thông qua hội thảo này?

Tôi thấy không khí của hội thảo là dân chủ và tự do tư tưởng. Người nói ngược, người nói xuôi, ngay trong ý kiến của những người cùng quan điểm cũng có cả cái giống và cái khác nhau. Qua đó, mỗi người cũng thu nhặt được những thông tin bổ ích để bổ sung và điều chỉnh tư duy, tiếp tục suy nghĩ sâu hơn, đầy đủ hơn ở những hội thảo khoa học sau.

Chỉ có điều là, từ kết quả hoạt động khoa học ấy, tìm ra những những kết luận khách quan, công bằng, trung thực; nhưng để tuyên truyền phổ biến ra cho cả cộng đồng thì cần tiếp tục xử lý tốt các mối quan hệ, tức là giữa vấn đề đó với các vấn đề khác liên quan, sao cho có lợi nhất trên nhiều mặt.

Tôi muốn nhấn mạnh đến những mối quan hệ rất phức tạp do sự đan xen giữa những công lao và sai lầm, mối quan hệ giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, sự tiếp biến và hội nhập giữa văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh, Óc-Eo, mối quan hệ giữa Đại Việt và Chămpa, Phù Nam, và giữa việc tuyên truyền hôm nay (trong hoàn cảnh đã có độc lập) với trước đây (trong hoàn cảnh phải chiến đấu để giành độc lập và chống phong kiến)…

Tóm lại, bây giờ khi nói về vấn đề nhà Nguyễn, đòi hỏi phải có cái nhìn toàn diện nhiều mặt và cách nghĩ có trách nhiệm cao với lịch sử và đất nước.

Quan trọng là khả năng tự đề kháng

Theo như ông vừa nói, đã không ai cấm phát huy dân chủ trong nghiên cứu khoa học. Đã có luật qui định chuyện này, không làm trái luật là được. Vậy cần cái qui chế này làm gì nữa? Liệu đây có phải là một bước lùi không?


Tự do tư tưởng chẳng những không phải là cái bên ngoài, xa lạ đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, như ai đó có dụng ý không tốt muốn xuyên tạc, hoặc hiểu sai vấn đề này, mà còn là cái khởi nguồn, cái vốn có từ đầu, nguồn sinh lực bên trong của Đảng, đồng thời cũng là phương pháp lãnh đạo

Tôi chưa được biết nội dung cụ thể của dự thảo qui chế. Nhưng tôi nghĩ về nguyên tắc, một bản quy chế cụ thể thì có thể rất cần và có thể không cần. Không cần nếu nó chẳng những không phát huy mà còn làm hạn chế tự do dân chủ, hoặc làm rối thêm vì loạn ngôn, ai muốn nói thế nào cũng được, xúc phạm ai cũng được...

Nhưng nếu nó là hành lang pháp lý để bảo vệ cho các nhà khoa học không phải sợ bị quy chụp, tích cực tham gia được nhiều ý kiến có giá trị trên tinh thần xây dựng thì lại rất cần. Tôi hy vọng chúng ta sẽ có một bản qui chế tốt. Với tinh thần ấy, tôi tán thành và ủng hộ có một quy chế tiến bộ.

Tuy nhiên, về lâu dài, xét cho cùng, khả năng tự đề kháng (như một chất kháng thể tự nhiên) của những người tham gia hoạt động khoa học vẫn là quan trọng nhất. Tức là nếu họ có tinh thần khoa học nghiêm túc, tinh thần xây dựng, tâm huyết với sự nghiệp chung của đất nước và dân tộc thì đó là sức mạnh vững vàng nhất; còn qui chế chỉ là hổ trợ thêm, mặc dù cũng rất cần.

Được biết, tại Hội nghị Trung ương 7, khi bàn về trí thức, ông đã có phát biểu về mối quan hệ hữu cơ giữa trí thức và đảng cầm quyền. Xin ông cho biết cụ thể hơn về mối quan hệ này theo quan điểm của ông.

Theo tôi, trong các đặc điểm của trí thức, có vấn đề tư duy độc lập và một phần tư duy vượt trước, so với tư duy chung phổ biến trong xã hội. Nhờ có tư duy độc lập mà có tư duy vượt trước, và nhờ có vượt trước mà có sự độc lập hơn.

Do đó đối với trí thức, vấn đề nhận thức chỉ có thể hình thành thông qua cùng trao đổi bình đẳng, chứ không thể áp đặt. Bất cứ đảng cầm quyền nào cũng cần sử dụng những tư duy vượt trước của trí thức để thúc đẩy xã hội và cộng đồng đi lên. Nếu trí thức không có chính kiến riêng, không có tư duy độc lập, sáng tạo, vượt trước, tất nhiên là theo nghĩa cái đúng, thì không hiểu xã hội cần ở họ cái gì.

Tôi hiểu một cách đơn giản, cái vượt trước cũng chính là cái chưa có, hay nói cách khác, là cái mới so với những gì đang hiện có. Cùng với tự do tư tưởng, chủ nghĩa Marx đã xuất hiện hàng trăm năm trước mà tới nay người ta vẫn còn tìm thấy và thừa nhận những giá trị bền lâu, mặc dù cần tiếp tục bổ sung và phát triển các tư tưởng ấy do điều kiện lịch sử đã có những yếu tố mà ở thời của Marx chưa có.

Cùng với tự do tư tưởng, Hồ Chí Minh vĩ đại đã xuất hiện và để lại cho chúng ta di sản vô cùng quý báu là tư tưởng của người. Marx, Hồ Chí Minh là những trí thức lớn của thời đại, đồng thời là những người mang tư tưởng giai cấp công nhân.

Cùng với tự do tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời để chiến đấu cho sự tiến bộ xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đã có những lần khi phong trào gặp khó khăn, Đảng đã kêu gọi phát huy dân chủ, “nói thật, nói thẳng” và từ đó, Đảng đã ra những nghị quyết đổi mới, đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên.

Tôi nói những điều trên đây để một lần nữa muốn khẳng định rằng, tự do tư tưởng chẳng những không phải là cái bên ngoài, xa lạ đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, như ai đó có dụng ý không tốt muốn xuyên tạc, hoặc hiểu sai vấn đề này, mà còn là cái khởi nguồn, cái vốn có từ đầu, nguồn sinh lực bên trong của Đảng, đồng thời cũng là phương pháp lãnh đạo.

Các sự kiện, như chủ nghĩa Marx, tư tưởng Hồ Chí Minh hay sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong lịch sử phát triển đều do tư duy vượt trước của những nhà cách mạng rất tâm huyết mà hình thành.

Trí thức là những người rất tự do, tư duy độc lập, mỗi người mỗi kiểu. Đặc điểm này vừa là mặt mạnh, vừa là mặt yếu. Có những trí thức làm công tác nghiên cứu có ý kiến khác nhau, tranh luận hàng chục năm trời vẫn không thống nhất được, chưa ai chịu ai, và mỗi người vẫn hành động theo cách nghĩ của riêng mình.

Với đặc điểm như vậy, trí thức khó có thể tự mình trở thành một đảng cách mạng có tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động được. Do đó, trí thức rất cần có một đảng lãnh đạo sáng suốt, có tổ chức chặt chẽ, thống nhất được ý chí và hành động, để họ có thể nhân lên những tư duy đúng của mình, phát huy những trí tuệ đơn lẻ thành một khối sức mạnh tổng hợp phục vụ cho đất nước và xã hội.

Đảng có bản chất của giai cấp công nhân, đồng thời là của nhân dân lao động và dân tộc nữa, có tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động (ý tôi muốn nói đến Đảng Cộng sản Việt Nam) là đảng lãnh đạo mà trí thức cần. Còn Đảng thì cần ở trí thức những tư duy mới, vượt trước, tất nhiên là tư duy đúng, để Đảng bổ sung vào và làm giàu thêm tư duy của mình, để lãnh đạo và phục vụ nhân dân tốt hơn.

Đồng thời Đảng cũng cần trí thức như những người cộng tác tâm huyết và xây dựng, gắn bó với nhau, như tấm gương phản chiếu để Đảng thường xuyên tự kiểm tra lại mình. Nếu Đảng đúng thì tất nhiên sẽ thuyết phục được trí thức, và qua họ là cộng đồng, còn nếu Đảng có việc gì chưa đúng, chưa sát với tinh hình thì nhờ những ý kiến chân thành xây dựng của trí thức, và của nhân dân nói chung, mà sớm phát hiện, bổ sung, điều chỉnh, và qua đó Đảng lại tiếp tục trưởng thành hơn, chắc chắn hơn.

Tôi nghĩ, Đảng và trí thức bao giờ cũng cần có nhau, như một tất yếu khách quan, như không thể thiếu được, vì nhân dân và đất nước.

*

Huỳnh Phan - Thiên Lam thực hiện



[In trang]
Bài báo trên VIET NAM NET:
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/11/815257/
Xuất bản lúc: 10:44 25/11/2008

@ VietNamNet

Vô cảm Bùi Trọng Liễu

Vô cảm

Bùi Trọng Liễu

Không thấy từ « vô cảm » trong một số từ điển tiếng Việt. Nhưng tôi không có từ nào khác để tả trạng thái thản nhiên của một « người » trước những đau khổ của kẻ khác, dù là sự đau khổ đó do chính « người đó » gây ra hay không. Tôi muốn nêu một số tình huống để tả sự « vô cảm » này:

Trong bài « Thú rừng khóc than ở phố (Hà thành) » đăng trên báo Hà Nội Mới ngày 13/1/2008 trên mạng http://www.hanoimoi.com.vn/vn/35/156239/ , tác giả Bùi Lương Việt (VTCNews) viết (tôi trích): Có lẽ, kinh hãi nhất đối với tôi ở cái quán thịt thú rừng này là khi chứng kiến cảnh giết thịt con cu li (có nơi gọi là con lười- một loài vật thuộc họ hàng nhà khỉ). Nó được đưa tới chiếc bàn nhậu bằng một chiếc lồng sắt được thiết kế khá đặc biệt, ôm gọn lấy con vật, đến nỗi nó chỉ còn thò đúng hai tay hai chân ra bên ngoài. Con vật đưa ánh mắt sợ sệt thò tay quềnh quào như van xin. Mặc, đám thực khách vây quanh đưa ánh mắt vô cảm chờ đợi. Tiếng một ai đó trong bàn hô bắt đầu, con vật bị hai thanh sắt như chiếc kìm từ từ nâng lên, một đoạn đầu nhô ra khỏi lồng. Chai rượu trong tay gã đầu bếp đổ tràn trề trên đầu con vật. Phập, một lưỡi dao sáng loáng lướt qua, con cu li giãy rụa. Mảnh hộp sọ được lật ra, rượu tiếp tục đổ, đĩa chanh để sẵn trên bàn được đám thực khách vắt vào đầu con vật, rồi rượu nâng lên. Từng người tay cầm thìa, múc từng thìa óc con vật bỏ vào miệng như chẳng có chuyện gì xảy ra.
Việc nhậu thú rừng, là một điều phạm pháp. Nhưng không chỉ có vậy…
Có một số việc bạo hành xảy ra trong xã hội, có khi kéo dài cả chục năm, mà không có sự can thiệp của lân cận và các cơ quan hữu trách, như việc một cô bé bị chủ hành hạ, và chỉ được phát giác và đưa ra tòa khi có một bà hảo tâm giúp cho cô bé trốn đi khỏi nhà chủ, (xem http://www.tintuconline.vietnamnet.vn/vn/xahoi/182394/ ). Có những việc bạo hành xảy ra ở nhà trường, nhà giáo bạo hành với học sinh, học sinh bạo hành với nhà giáo, (xem
http://vietnamnet.vn/bandocviet/2007/05/699162/ ), mà không được xã hội chú ý đúng mức. Nhưng đó là những hiện tượng quá hiển nhiên của sự « vô cảm ».

Còn có những hiện tượng của « vô cảm », tiềm ẩn và tế nhị hơn nhiều. Thí dụ như vẫn trong lĩnh vực giáo dục đào tạo : để cho những bất cập (bệnh thành tích, việc học giả bằng thật, việc mạo danh tiếm xưng, việc buôn bán giáo dục, việc mở tràn lan những đại học trong khi không có đủ đội ngũ nhà giáo tương xứng, …) hoành hành mà không ngăn chặn, dù biết trước là hậu quả tàn phá ghê gớm như thế nào. Hoặc như việc bảo tồn di sản một cách « không công bằng » : bảo tồn được phủ Toàn quyền cũ (phủ Chủ tịch ngày nay), trường trung học Albert Sarraut, vv. là những công trình xây dựng thời Pháp thuộc, nhưng lại phá dỡ Hội trường Ba Đình, nơi đã diễn ra những sự kiện lịch sử thời đấu tranh giành độc lập…

Một thời, có lời đồn đại (thực hay hư ?) rằng một nhà đại cách mạng, say mê trong chiến thắng, có phát biểu rằng cụ Hồ chỉ nặng khuyên nhủ nên trọng « Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín », chứ không quan tâm bằng ông tới tinh thần « tiến công cách mạng ». Tôi không phải là kẻ sùng bái mù quáng Nho giáo đến nỗi cái gì người ta gán cho ông Khổng tử và môn đệ của ông cũng coi là hay. Nhưng « Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín » – mà tôi bàn ở đây theo cách hiểu thông thường của mọi người, chứ không phải là theo lý luận hàn lâm của Tống Nho – thì cũng là giềng mối của mọi xã hội lành mạnh ; ở Đông hay ở Tây, cũng đều có. Về chữ « Nhân », ở một số nước, « hành động dã man » (acte de barbarie), được luật pháp coi như phạm pháp. « Nghĩa », ngoài cái vế hợp lẽ phải, làm khuôn phép cho cách xử thế của con người trong xã hội, còn có cái vế biết giữ tình cảm thủy chung, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. « Lễ » cũng là nền cơ bản cho con người chung sống hoà hợp trong một xã hội : người trẻ biết « kính » người già, người già biết « trọng » người trẻ, ăn nói với nhau không chỉ là văng tục chửi thề ; đối xử với nhau không chỉ là đe dọa nạt nộ, gây ra sự căng thẳng. Không có « Trí », thì không có khả năng nhận thức, suy luận, phán đoán, vậy không có « Trí » thì đưa đến những quyết định ngớ ngẩn. Có « Tín » thì con người mới biết tin nhau, mới trọng lời hứa, trọng lời cam kết cá nhân hay tập thể, người dân tin cậy sự trung thực ở giới cầm quyền.

Phải chăng, mất năm cái đó, thì sự hiện diện của « vô cảm » cũng là sự tất nhiên ?

Khối Lượng và Phương Trình E = γmc2 của thế kỷ - Phạm Xuân Yêm

Trong cách diễn đạt hiện đại của thuyết Tương Đối, chỉ có một khối lượng, đó là khối lượng theo nghĩa của Newton không thay đổi với vận tốc. Tiếc thay trong khá nhiều sách giáo khoa về thuyết tương đối hẹp ở Âu, Mỹ, Á ngày nay, nhiều thuật ngữ thiếu thuần lý và ký hiệu nhầm lẫn hãy còn xuất hiện, mặc dầu Einstein đã cảnh báo năm 1948.


Khối Lượng và Phương Trình
E = γmc2 của thế kỷ


Phạm Xuân Yêm


Trong cách diễn đạt hiện đại của thuyết Tương Đối, chỉ có một khối lượng, đó là khối lượng theo nghĩa của Newton không thay đổi với vận tốc. Tiếc thay trong khá nhiều sách giáo khoa về thuyết tương đối hẹp ở Âu, Mỹ, Á ngày nay, nhiều thuật ngữ thiếu thuần lý và ký hiệu nhầm lẫn hãy còn xuất hiện, mặc dầu Einstein đã cảnh báo năm 1948.

1-Vài điều sơ đẳng

1a- Khối lượng của vật chất là một khái niệm quan trọng trong khoa học mà nhân loại đã ý thức ít nhiều về nó có lẽ ngay từ thuở các nền văn hiến ngàn xưa thời Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy Lạp, Trung Quốc, Ấn Độ. Một cách định tính, ta hãy khởi đầu với cơ học cổ điển của Galilei và Newton theo đó khối lượng m của một vật được hiểu như bản tính nội tại của nó, m gói ghém “số lượng của vật chất” kết tụ trong đó.

Sau nữa, phương trình căn bản của cơ học cổ điển F = ma = mdv/dt bảo cho ta khối lượng diễn tả quán tính của vật thể. Thực thế bất kỳ một lực F nào (trọng lực, lực điện-từ, lực hạt nhân, lực cơ bắp hay máy móc) khi áp đặt lên một vật A mang khối lượng m, vật đó sẽ chuyển động với gia tốc a. Cũng một lực F ấy khi tác động lên một vật B khác mang khối lượng ba lần lớn hơn A thì dĩ nhiên gia tốc của B so với A giảm đi ba lần, nó chuyển động chậm chạp hơn A hay có quán tính lớn gấp ba lần A. Vậy khối lượng biểu lộ khả năng quán tính của vật thể chống lại sự di động. Nếu không có một lực F nào áp đặt lên một vật thì nếu ban đầu đã chuyển động với một vận tốc v nào đó thì nó cứ tiếp tục di chuyển với vận tốc ấy, hoặc nếu đứng yên thì cứ mãi đứng yên. Tóm lại vì gia tốc a = 0 (do F = 0) nên vận tốc v cố định, không thay đổi với thời gian.

1b- Còn năng lượng? Dưới dạng sức nóng - mà ta gọi là nhiệt năng - có lẽ con người đã cảm nhận ra khái niệm năng lượng ngay từ thuở họ phát minh ra lửa cách đây khoảng 500000 năm, và không phải ngẫu nhiên mà ngôn từ calorie đã được dùng để chỉ định đơn vị năng lượng. Nó là căn nguyên tác động lên vạn vật để làm chúng biến đổi dưới mọi hình thái hoặc làm chúng di chuyển. Như vậy năng lượng chẳng thể tách rời khỏi lực và để diễn tả chính xác bằng ngôn từ toán học, năng lượng được định nghĩa như tích số của vectơ lực F nhân với vectơ chiều dài x mà vật di chuyển do tác động của F áp đặt lên nó. Thực vậy, tích số F. x trước hết gọi là công làm ra bởi lực F tác động lên vật. Đó là một định nghĩa hợp lý và dễ hiểu vì nó chỉ định cái công sức mà lực phải bỏ ra để làm cho vật di chuyển một đoạn chiều dài x với vận tốc v = dx/dt . Khi ta mang cho vật cái công sức của F thì vật đó phải biến đổi bởi vì nó thu nhận một năng lượng E, và ta định nghĩa năng lượng mà vật thu được này chính là công của lực F mang cho nó. Vậy E = F. x, và dưới dạng vi phân dE = F.dx, ta suy ra là sự biến đổi theo thời gian t của năng lượng dE /dt chính là tích số F.v, dE/ dt = F.v mà ta sẽ dùng sau này để tìm ra phương trình của thế kỷ.

Trong cơ học có hai loại năng lượng thường được nhắc đến: thế năng và động năng. Thí dụ thứ nhất là trọng lực Fg = mg (với g = ‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌|g| ≈ 9.81m/s2 chỉ định gia tốc tạo nên bởi trọng trường của trái đất). Sức hút Fg kéo khối lượng m rơi từ trên một độ cao h = ‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌|x| xuống mặt đất. Vì Fg và x song song và c‌‌ùng hướng về trung tâm trái đất nên Fg.x = mgh. Đại lượng mgh gọi là thế năng (potential energy) của vật đặt ở độ cao h so với mặt đất. Ở bất kỳ một điểm cao h nào đó, vật mang sẵn một năng lượng mgh tiềm tàng, một thế năng. Thí dụ thứ hai là với bất cứ một lực F nào, ta cũng có dE = F.dx, khi thay dx = vdt và F = mdv/dt, ta có dE = mv.dv, làm tích phân ta được E = (½)mv2, với v = ‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌|v|. Ta gọi năng lượng (½)mv2 là động năng (kinetic energy). Một vật khối lượng m chuyển động với vận tốc v mang động năng (½) mv2. Một vật đứng yên (vận tốc = 0) rơi từ một độ cao h, khi chạm đất nó có vận tốc v = (2gh)½, thế năng mgh chuyển sang động năng (½) mv2, minh họa luật bảo toàn năng lượng.

Sau hết, ta định nghĩa vectơ xung lượng p = mv và phương trình cơ bản F = mdv/dt nay viết dưới dạng F = dp/dt.


2- Vài nét về thuyết Tương Đối Hẹp

Ai trong chúng ta khi đi máy bay cửa sổ đóng kín và không gặp bão lay động mà có thể cảm thấy mình di chuyển với vận tốc khoảng ngàn cây số trong một giờ ? Khoảng bốn trăm năm trước đây, Galileo Galilei (1564-1642) cũng đưa ra một thí dụ tương tự, mở đầu cho nguyên lý tương đối mang tên ông: trong hầm kín mít không giao tiếp gì với thế giới bên ngoài của một chiếc tàu thủy di chuyển đều đặn, ta hãy quan sát những con bướm bay khắp phía và những giọt nước tí tách rơi. Nay để tàu đứng yên, ta thấy bướm vẫn bay và nước vẫn rơi hệt như trước, chẳng có gì thay đổi. Rồi tàu lại di chuyển đều đặn, nhưng với vận tốc và chiều hướng khác, bướm vẫn bay và nước vẫn rơi như khi tàu dừng ở bến. Nói một cách khác: những định luật miêu tả các hiện tượng thiên nhiên (bướm bay, nước rơi) không chút thay đổi trên tàu di chuyển đều đặn (bất kỳ vận tốc và chiều hướng nào) kể cả tàu dừng ở bến (v = 0). Người ở trong tàu nếu chỉ quan sát đo lường những hiện tượng động hay tĩnh trong tàu mà không tiếp xúc với bên ngoài để so sánh thì chẳng sao biết là tàu đứng hay đi, và đi với vận tốc nào, chiều hướng nào. Nói khác đi tĩnh hay di động đều đặn chỉ là chuyện tương đối, chẳng có lý gì để khẳng định bến hay tàu cái nào đứng, cái nào đi.

Nguyên lý tương đối mà Galilei tóm tắt trong một câu ngắn gọn ‘’di chuyển đều đặn cũng như không’’, hàm ý rằng trong hai hệ quy chiếu, một cái bất động K (tọa độ x,y,z,t), một cái K’ di động (tọa độ x’,y’,z’,t’) với vận tốc v cố định, các định luật miêu tả thiên nhiên đều giống hệt nhau, hay f(x,y,z,t) = f(x’,y’,z’,t’) hàm số f tượng trưng cho một định luật vật lý nào đó. Khi nguyên lý này áp dụng cho điện-từ để diễn tả vận tốc ánh sáng c không thay đổi trong tất cả các hệ quy chiếu thì hàm số f chính là f(x,y,z,t) ≡ (ct)² – (x² + y² + z²).

Einstein khởi đầu bằng chấp nhận nguyên lý tương đối áp dụng cho điện-từ như một tiền đề - theo đó vận tốc ánh sáng bao giờ cũng cố định và bằng c, không thay đổi trong bất kỳ các hệ quy chiếu quán tính nào - mà Michelson và Morley đã chứng tỏ bằng thực nghiệm. Vận tốc ánh sáng không thay đổi trong hai hệ quy chiếu được diễn tả bằng ngôn ngữ toán học là bình phương khoảng cách s² của ánh sáng truyền đi trong hai hệ quy chiếu K và K’ phải như nhau hay bất biến1: s² ≡ (ct)² – (x² + y² + z²) = (ct’)² – (x’² + y’² + z’²). Với thời gian phổ quát duy nhất của Newton (t = t’) thì s² không sao bất biến được và đã làm đau đầu bao nhà khoa học2. Dùng nguyên lý tương đối để áp dụng cho sự vận hành của ánh sáng, các vị Lorentz, Poincaré, Einstein mỗi người một cách đã phát kiến ra hệ số γ = 1 ⁄ √(1− v² ⁄c²) ≥ 1 chìa khoá mở đường vô cùng quan trọng cho cơ học tương đối tính3. Einstein suy từ đó ra nhiều hệ quả kiểm chứng được bằng thực nghiệm, trước hết là phương trình E = γmc² của thế kỷ, liên kết năng lượng E khổng lồ với khối lượng m nhỏ bé4, tuyệt vời và đại chúng.

Thông điệp thứ hai, sâu sắc và kỳ lạ, là chẳng có một thời gian tuyệt đối và phổ quát trong một không gian biệt lập với thời gian. Có muôn ức thời gian (t’ và t dẫu khác nhau nhưng cả hai đều chỉ định thời gian trong hai hệ quy chiếu) nhanh chậm không đồng đều, thời gian của mỗi hệ quy chiếu tùy thuộc vào vận tốc chuyển động của hệ ấy. Mỗi thời-điểm phải gắn quyện với mỗi không-điểm trong một thực tại bốn chiều gọi là thế giới Minkowski để diễn tả một sự kiện. Khoảng cách thời gian của bạn khác của tôi, ở mỗi điểm không gian lại gắn liền một đồng hồ đo thời gian với nhịp điệu tích tắc khác nhau5. Sở dĩ bạn và tôi tưởng rằng chúng ta chia sẻ một thời gian phổ quát, chỉ vì cộng nghiệp con người trong cái không gian quá nhỏ bé của trái đất so với vũ trụ, bạn và tôi đâu có xa nhau gì, vận tốc tương đối giữa chúng ta thấm gì so với vận tốc ánh sáng (v²⁄c² « 1, γ ≈ 1). Không có mũi tên thời gian lạnh lùng trôi của trực giác mà cơ học cổ điển Newton thừa nhận, cũng không có khái niệm hiện tại, cái bây giờ chẳng thể xác định và giữ vai trò ưu tiên đặc thù nào hết vì cái lúc nào phải đi với cái ở đâu. Hơn nữa, không gian và vật chất, cái vỏ chứa và cái nội dung chứa đựng trong vỏ, lại như hình với bóng trong vũ trụ co dãn (thuyết tương đối rộng). Đã không có hiện tại thì nói chi đến quá khứ và tương lai, đó là nội dung triết học quá ư kinh ngạc của thuyết tương đối hẹp và rộng trong nhận thức về thời gian, nó không phải là mũi tên trôi một chiều từ quá khứ đến tương lai mà chỉ là một trong bốn thành phần của một thực tại mang tên gọi không-thời gian chẳng cứng nhắc mà đàn hồi. Diễn tả hàm súc nhất về nhận thức này có lẽ nằm trong bức thư Einstein gửi cho con trai của Besso6 khi nghe tin bạn mất. Bức thư viết: ‘’Vậy bạn đã trước tôi một chút giã từ cái thế gian lạ lùng này. Nhưng cái đó chẳng nghĩa lý gì. Đối với chúng ta, những nhà vật lý có xác tín, sự chia cách quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là một ảo tưởng, dẫu nó dai dẳng đến thế nào’’.

Điều cơ bản cần nhấn mạnh là không gian và thời gian chẳng còn biệt lập nhưng mật thiết liên đới trong một thực thể bốn chiều không-thời gian của Minkowski.

3- Ba con đường đến E = γmc2

Tại sao ba con đường? Nhà vật lý kỳ tài Richard Feynman từng khuyến khích là nếu có thể thì nên suy diễn, trình bày hay chứng minh một kết quả khoa học nào đó theo nhiều phương pháp khác nhau để rọi sáng vấn đề.

Trước hết cần minh định là chỉ có phương trình E0= mc2 hay E = γmc2 mới thực sự phản ánh ý nghĩa của thuyết tương đối, E thay đổi theo vận tốc của vật, động năng (½) mv2 là thí dụ cụ thể nhất, còn E0 là năng lượng khi vật đứng yên. Phương trình E0 = mc2 và ΔE0 = (Δm)c2 chính Einstein đã viết ra7. Trong các sách sư phạm nghiêm túc về cơ học tương đối tính (hay thuyết tương đối hẹp), theo Einstein8 để tránh sự mơ hồ, thậm chí nhầm lẫn về khái niệm khối lượng, ta không nên đưa ra hai ký hiệu: m(v) ≡ γm và m0 ≡ m(v = 0) của một vật, theo đó m0 là khối lượng khi vật bất động và m(v) = m0/√(1− v²⁄c²) là ‘khối lượng tương đối tính’ khi vật chuyển động với vận tốc v.

Chỉ có một khối lượng m trong các định luật vật lý, không có khối lượng m0 của một vật bất động hay khối lượng ‘tương đối tính’ m(v) thay đổi với vận tốc v của mỗi hệ quy chiếu. Trong nhiều sách đại chúng, E = mc2 vẫn thấy, cũng như nhan nhản trên các tấm quảng cáo siêu thị để nói đến vĩ nhân Einstein lè lưỡi, thậm chí phương trình còn được dùng để đùa cợt như ký hiệu mc6 của một đài truyền hình. Nhưng đó lại là một chuyện khác, không khoa học.

3a- Henri Poincaré, nhà toán học vạn năng Pháp, năm 1900 (trước năm thần kỳ 1905) đã viết ra9 E = mc2, nhưng phải nói ngay là phương pháp của ông để tìm ra nó không được nhất quán, chính vì vậy mà tác giả đã quên hẳn đi đến nỗi năm 1908, ba năm sau khi Einstein khám phá ra E0 = mc2 , Poincaré - khi so sánh một vật phát xạ ánh sáng với một khẩu đại bác bắn ra một viên đạn - đã viết trong La dynamique de l’électron, Science et Méthode (1908) mấy câu sau đây: ‘’ Khẩu đại bác giật lùi vì viên đạn bị bắn ra đã tác động trở lại. Trường hợp vật phóng quang lại là chuyện khác, ánh sáng phát ra không phải là vật chất, đó là năng lượng, mà năng lượng thì không có khối lượng’’. Qua câu trên, rõ ràng Poincaré dẫu có viết ra E = mc2 thì ông đã quên nó rồi. Poincaré tìm ra E = mc2 bằng cách nào? Trước hết, ông xem xét một đoàn sóng ánh sáng có năng lượng E và xung lượng p. Như ta biết, điện từ trường E, H mang một năng lượng tỷ lệ với (‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌|E|2 + ‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌|H|2) còn xung lượng thì tỷ lệ với vectơ E × H. Theo định lý Poynting trong điện từ thì p ≡ |p| = E/c, điều chính xác đối với photon không có khối lượng. Cái lầm của Poincaré là dùng phương trình cơ học cổ điển p = mv (với v = c) để áp dụng cho đoàn ánh sáng. Đó là một nghịch lý như ta biết ngày nay, vì cơ học cổ điển chỉ áp dụng cho vật di động chậm, v « c. Khi kết hợp hai cái ‘không nên kết hợp’ p = E/c với p = mc, ông thấy E = mc2 và kết luận là ánh sáng với năng lượng E có khối lượng m = E/c2 ≠ 0. Điều kỳ quái là ngày nay hãy còn vài tác giả Pháp bảo hoàng hơn vua khẳng định rằng Poincaré là tác giả phương trình của thế kỷ10.


3b- Hệ số γ, một giai đoạn trung gian cần thiết. Trong thuyết tương đối hẹp, mỗi không-điểm x phải gắn một thời-điểm t trong một thực tại không-thời gian bốn chiều Minkowski. Một tứ-vectơ không-thời gian là tập hợp mang bốn thành phần với ký hiệu xμ (x0 = ct, x), vectơ vận tốc v = dx/dt, gia tốc a = dv/dt. Nét đặc trưng của phép hoán chuyển Lorentz là có một khoảng cách thời gian dτ bất biến trong mọi hệ quy chiếu, τ là thời gian riêng định nghĩa bởi cdt2 – (dx2 + dy2 + dz2) = cdτ2 (phụ chú 3). Vì v2 = (dx2 + dy2 + dz2)/dt2, ta suy ra γdτ = dt, với γ = 1/√(1− v² ⁄c²). Khoảng cách thời gian riêng của mỗi không-điểm được liên kết với những khoảng cách thời gian riêng khác bởi τ = t/γ. Ta tính được một đẳng thức quan trọng:

dγ/dt = γ3(v.a)/c2 (1)

Từ tứ-vectơ không-thời gian xμ (x0 = ct, x), ta lập một tứ-vectơ xung lượng pμ = mdxμ/dτ, và tính ra bốn thành phần của pμ (p0 = γmc, p = γmv). Phương trình F = dp/dt = md(γv)/dt cho ta F = [mγ3(v.a)/c2] v + mγa thay thế phương trình F = ma, cũng như p = mγv thay thế p = mv của cơ học cổ điển, nó là giới hạn khi c → ∞ của cơ học tương đối tính.

3c- Cách thứ nhất để chứng minh E = γmc2 là dựa vào dE/dt = F.v đề cập ở đoạn 1b. Dùng đẳng thức F =[mγ3(v.a)/c2] v + mγa vừa thiết lập ở trên, ta tìm ra F.v = mγ3(v.a), khi kết hợp nó với (1), ta có F.v = mc2 dγ/dt = dE/dt và như vậy E = γmc2.

Cách thứ hai là liên kết thành phần p0 = γmc (của tứ-vectơ xung lượng pμ) với năng lượng E, và xin chú tâm đến thứ nguyên ML2/T2 của năng lượng (ba đại lượng cơ bản, khối lượng M, chiều dài không gian L, thời gian T).Vậy phép phân tích thứ nguyên bảo ta p0 = E chia cho một vận tốc nào đó. Ta chỉ có hai lựa chọn, đó là v hay c, nhưng v không thích hợp vì nó có thể bằng 0 và đưa p0 đến một giới hạn vô tận, vậy p0 = E/c. Với p0 = γmc, ta có E = γmc2. Lựa chọn p0 = E/c còn phù hợp với trường hợp v « c, vì khi ta khai triển hệ số γm thành chuỗi (v/c)n thì ta có γm ~ m + (½)m(v2/c2) + ..., ta nhận ra γmc2 chứa đựng động năng (½)mv2 quen thuộc của cơ học. Đó cũng là phương pháp mà Einstein đã dùng để tìm ra phương trình của thế kỷ.

Cách thứ ba hơi dò dẫm, như một thử nghiệm (educated guess) đôi khi được sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Ta nhận thấy mặc dầu bốn thành phần của tứ-vectơ pμ, vì phụ thuộc vào hệ số γ nên chúng đều thay đổi theo v, nhưng độ dài bình phương của tứ-vectơ (p0)2 – |p|2 không phụ thuộc vào v nữa, nó bất biến: (p0)2 – |p|2 = m2c2. Cũng vậy, năng lượng E = γmc2 và xung lượng p = γmv đều thay đổi theo các hệ quy chiếu nhưng E2 – |p|2c2 không phụ thuộc vào v, nó bất biến trong mọi hệ quy chiếu: E2 – |p|2c2 = m2c4. Tính chất bất biến là điều kiện tiên quyết mà thuyết tương đối đòi hỏi. Nếu E ≠ γmc2 (thí dụ E = γmcv), ta không có một bất biến nào. Từ đó ta viết ra hai phương trình cơ bản của thuyết tương đối hẹp:

E2 – |p|2c2 = m2c4 (2)

p = v (E/c2) (3)

Hai phương trình trên áp dụng cho vạn vật với khối lượng m bằng hay khác 0. Với photon (hay neutrino m ≈ 0), phương trình (2) cho ta E = pc. Hơn nữa photon vì có khối lượng m = 0, nó chẳng bao giờ bất động, vận tốc lúc nào cũng bằng c, do đó tích số γm của photon mang dạng 0/0, nó có thể là bất cứ một con số nào. Năng lượng E = γmc2 như thế rất có thể khác 0 và thực vậy. Ta đi vào lãnh vực của lượng tử với Planck và Einstein: E = hν = pc. Năng lượng của photon không xác định được trong thuyết tương đối mà lại đến bằng con đường lượng tử với Planck và Einstein: E = hν. Tuy khối lượng bằng 0, photon có năng lượng tỷ lệ với tần số dao động ν của nó và h = 6.63 x10–34 Js là hằng số Planck. Tuy h cực kỳ nhỏ nhưng tần số ν của sóng điện từ rất lớn (hàng tỷ lần tỷ trong một giây đồng hồ) nên năng lượng E = hν không nhỏ.

Tóm lược

Khối lượng m mang tính chất nội tại của một vật, nó không phụ thuộc vào bất kỳ hệ quy chiếu nào. Khối lượng m phải là một bất biến (như vận tốc ánh sáng c, hay điện tích e của electron), trong bất kỳ hệ quy chiếu nào nó phải như nhau. Không có khối lượng của vật chuyển động m(v) hay khối lượng của vật đứng yên m0 = m(v = 0), nó không thay đổi với vận tốc, chỉ có một khối lượng duy nhất m = √(E2–|p|2c2)/c2.

Tích số của γ với m trong thuyết tương đối hẹp không nên hiểu và truyền bá trong sách giáo khoa11 theo nghĩa “khối lượng là một hàm số của vận tốc’’ và viết γm dưới dạng m(v) = m0/√(1 –v2 /c2). Hệ số γ là kết quả tuyệt vời của phép hoán chuyển Lorentz, là chìa khóa mở đường cho thuyết tương đối với biết bao hậu quả kinh ngạc mà E = γmc2 là dấu ấn ai cũng nghe biết đến. Thuở ban đầu của thuyết tương đối cách đây trăm năm, những ký hiệu như m(v) = m0/√(1 –v2 /c2) và m0 thường được dùng cho khối lượng, nhưng ngày nay ta chỉ nên coi chúng như một giai đoạn đã qua và nên nhớ rằng khối lượng bất biến với hoán chuyển Lorentz mới có ý nghĩa vật lý. Dùng thuật ngữ chính xác và thuần lý rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức cho học sinh, sinh viên và những nhà khoa học khác ngành để cùng chia sẻ, nắm bắt và nhận thức sâu sắc cái đẹp của thuyết tương đối.

Phạm Xuân Yêm

(10/11/2008)


Chú thích

1
Thực thế, c = r/t = r’/t’ (với r² = x² + y² + z², r’2 = x’2 + y‘2 + z’2). Sự bất biến của s² diễn tả hiện tượng vật lý theo đó vận tốc ánh sáng c ~ 300000 km/s đo lường trên hai hệ quy chiếu (một đứng yên mà ta gọi là trên bến, một di chuyển với bất kỳ vận tốc v nào mà ta gọi là dưới tàu) đều bằng nhau và là c cả. Hiện tượng này do Michelson và Morley phát hiện năm 1887, nó trái ngược với trực giác và định kiến của mọi người trước năm thần kỳ 1905 vì họ tưởng (nhầm) rằng nếu vận tốc ánh sáng đo trên bến là c thì đối với người trên bến vận tốc ánh sáng đo trên tàu phải là c ± v (tùy theo ánh sáng chạy song song cùng chiều hay ngược chiều với tàu). Cũng vậy, người trên tàu khi đo vận tốc ánh sáng sẽ thấy vận tốc đó phải khác với vận tốc ánh sáng truyền đi trên bến, sự khác biệt đó cho ta v. Nay ta hãy thay bến bằng ether (một chất liệu giả tưởng trải rộng khắp hoàn vũ bao la nhờ đó sóng điện từ nói chung và ánh sáng nói riêng truyền đi, như vậy ether được coi như một hệ quy chiếu hoàn toàn bất động), và thay tàu bằng trái đất di động. Michelson và Morley khi so sánh vận tốc ánh sáng phát ra theo hai chiều đối ngược nhau trên trái đất nghĩ sẽ đo được vận tốc v của làn gió ether thổi so với trái đất coi như đứng yên. Nhưng hai ông sau bao lần đo lường thấy vận tốc ánh sáng lúc nào cũng vẫn bằng nhau, và như vậy không sao phát hiện nổi sự hiện hữu của ether. Đó là nghịch lý của cơ học cổ điển Galilei-Newton với định kiến chỉ có một thời gian phổ quát (t’ = t) và một không gian tuyệt đối chẳng mảy may liên hệ với thời gian.

2
Thực thế - trường hợp vận tốc v cùng chiều với trục Ox - cơ học cổ điển cho ta t’ = t, x’ = x – vt, y’ = y, z’ = z như vậy thì s² không sao bất biến được. Ta tìm phép hoán chuyển để sao cho (ct)2 – x2 = (ct’)2 – x’2. Nếu như (ct)2 + x2 = (ct’)2 + x’2 thì hoán chuyển là nhóm quay (ct’)= (ct) cosθ + x sinθ, x’ = – (ct) sinθ + x cosθ khá quen thuộc. Với (ct)2 – x2 = (ct’)2 – x’2, ta thay θ bằng iφ và có (ct’) = (ct) coshφ – x sinhφ, x’ = – (ct) sinhφ + x coshφ. Ta xét tâm O‘(x’ = 0) của hệ quy chiếu K’chuyển động đối với hệ K: với x’ = 0, ta có x/ct = v/c = tanhφ. Ta định nghĩa β ≡ v/c= tanhφ. Vậy coshφ = 1/√(1−β2) ≡ γ, sinhφ = γβ. Tóm lại ct’ = γ(ct – βx), x’= γ(x – βct), y’ = y, z’ = z làm cho s² bất biến. Phép hoán chuyển đó gọi là nhóm Lorentz, theo nghĩa nhóm của toán học. Nếu w là vận tốc của vật chuyển động trên tàu, thì - đối với người đứng trên bến - luật cộng trừ vận tốc w ± v (cơ học cổ điển) chỉ là dạng xấp xỉ và được thay thế bởi (w ± v)/(1 ± w v/c²). Khi w = c, công thức (w ± v)/(1 ± w v/c²) không còn tùy thuộc vào v nữa mà lúc nào cũng bằng c, minh hoạ thực nghiệm của Michelson và Morley.

3
Mà ta cũng có thể tính được γ qua s²: s² = (ct)² – r² = (ct’)² – r’². Thực thế thời gian t’ chỉ định bởi đồng hồ di động đặt ở vị trí x’, y’, z’ (r’ = 0), cho ta ct’– 0 = (ct)√(1 – r²/t²c²) = (ct)√(1– v²/c²), do đó t = γt’. Từ nay ta gọi chung tất cả các t’ là τ, thời gian riêng của hệ quy chiếu chuyển động với vận tốc v. Nét đặc trưng của phép hoán chuyển Lorentz là khoảng cách thời gian dτ bất biến trong mọi hệ quy chiếu. Ðồng hồ trong tàu di động chỉ một giây, người ở ngoài thấy dài hơn một giây, đồng hồ ở trong tàu như chạy chậm lại.

4
Một gam khối lượng tuy nhỏ nhưng tiềm ẩn một năng lượng khổng lồ tương đương với nhu cầu dinh dưỡng của vài chục ngàn người trong vài năm ! Từ hệ số γ = 1 ⁄ √(1− v² ⁄c²) công thức của thế kỷ E = γmc² ra đời. Ý nghĩa vật lý của công thức : khối lượng m (của bất kỳ một vật chất nào) chỉ là sự tích tụ năng lượng E (chia cho c²) của vật đó (khi nó không di động, γ = 1). Phương trình E = mc²/√(1− v² ⁄c²) quả là một thay đổi cách mạng trong sự hiểu biết và nhận thức về vật chất : năng lượng và khối lượng cùng chung một bản thể. Ðặc biệt ánh sáng thuần tuý (năng lượng) có thể tạo ra vật chất ! Ngoài ra Einstein còn đề xuất cách kiểm chứng E = γmc² bằng thực nghiệm, một vật - chẳng hạn hạt nhân radium phóng xạ tự nhiên - khi mất đi một chút năng lượng ΔE thì khối lượng nó giảm đi ΔE/c².

5
Thuyết tương đối hẹp bảo cho ta trên các hệ quy chiếu di chuyển với vận tốc v, khoảng cách thời gian dãn nở ra với hệ số γ, hay là nhịp độ tích tắc đồng hồ đập chậm đi γ lần trong một đơn vị thời gian. Trên vệ tinh của Hệ thống Định vị Toàn cầu (Global Positioning System, GPS) trang bị các phương tiện vận tải, sự chính xác cực kỳ của nhịp độ đồng hồ là điều kiện tối quan trọng cho GPS thành công. Ở các vệ tinh GPS, thuyết tương đối rộng cho ta hệ quả ngược với thuyết tương đối hẹp, khoảng cách thời gian co cụm lại (đồng hồ tích tắc nhanh hơn) vì cường độ trọng lực trên đó giảm đi so với mặt đất. Sự co dãn thời gian (nhịp độ đồng hồ) của các vật chuyển động khác nhau đã được thực nghiệm kiểm chứng nhiều lần với độ chính xác cực kỳ .

6
Người bạn thân thiết nhất từ thủa hàn vi, người duy nhất ông cảm ơn trong công trình để đời đăng trên Annalen der Physik về thuyết tương đối hẹp trong lúc hai người dạo chơi bàn luận ngày chủ nhật tháng Năm năm 1905, trong bài đó ông không hề trích dẫn một tài liệu tham khảo nào mặc dầu lúc ấy chẳng ai biết đến ông, đủ thấy cá tính con người siêu việt này. Chữ gläubige trong bức thư không nên hiểu theo nghĩa tín ngưỡng tôn giáo, mà hàm ý xác tín vào lý trí. Bức thư gửi chưa đến một tháng thì Einstein cũng vào cõi vĩnh hằng.

7
Về phương trình E0 = mc2, A. Einstein, The meaning of Relativity : Four Lectures delivered at Princeton University, May 1921, fifth ed. E.P. Adams translator, Princeton U.P. (1970). Về phương trình ΔE0 = (Δm)c2 , A. Einstein, Ann. Phys. 18, 639 (1905).

8
Thư của A. Einstein cho Lincoln Barnett, ngày 19 tháng 6 năm 1948 (Hebrew University of Jerusalem, Israel).

9
H. Poincaré, Arch. Neerland. 5, 252 (1900).

10
Jean-Paul Auffray, Einstein et Poincaré, éditions Le Pommier (1999). Jules Leveugle, La Relativité, Poincaré et Einstein, Planck, Hilbert, l’Harmattan (2004). Jean Hladik, Comment le jeune et ambitieux Einstein s’est approprié la Relativité restreinte de Poincaré, Ellipses (2004).

11
Xem bài của Lev. B Okun, Physics Today June 1989, page 31-36 và phụ chú 8.

Copyright © 2006 by Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
diendan@diendan.org