24/11/08

Trịnh Cung : Bi Kịch Trịnh Công Sơn

Bi Kịch Trịnh Công Sơn

Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng tâm hồn thi ca, và bởi vì lúc đó tôi chưa hề là họa sĩ.

Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài "Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi" còn nhẹ nhàng, và còn có gì đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.

Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa của Sơn mới là mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.

Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn mất lúc anh đang học ở Chasseloup Laubat - một trường dạy chương trình Pháp - và đang chuẩn bị thi bac thì Sơn phải bỏ học để về chịu tang ba.

Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo và Boxing. Trong một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà - anh đã bị một cú choàng vai, và bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư ... chớ không phải là một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Tôi cho biến cố đó đã đặt Trịnh Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng. Sơn tập chơi guitare, tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó viết ca khúc "Ướt Mi", "Nhìn Những Mùa Thu Ði".

Khi tôi gặp Sơn, thì anh đã bình phục - Sơn không có điều kiện trở lại Sài Gòn để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia đình anh bị phá sản,

Sau đó - để tránh cho Sơn khỏi phải đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn.

Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường sư phạm Quy Nhơn – trong thời gian này. Và nhân vật để Sơn viết bài Biển Nhớ là một người bạn gái có tên là Khê, nên có cái câu "Ngày mai nối bước Sơn Khê."

Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng giáo của một trường Thượng có hai lớp, cách nhà trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn phải đạp xe vào làng để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn raÐà Lạt để chơi cuối tuần - một căn phòng trọ với bốn bức vách đầy chim và bao thuốc lá Bastos - ở đó Sơn đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của anh với những bài nhưÐàn Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ Yên, như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian anh viết những ca khúc về thân phận, và những tình khúc.Ðó chính là thời điểm tôi và Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ở Ðà Lạt.

Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh Công Sơn và làm cho công chúng yêu nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công Sơn viết bài Thương Một Người để tặng cho chị với câu: "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi vai..."

Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái con đò âm nhạc của TCS trên dòng sông của đất nước chính là Khánh Ly kể từ khi Diễm Xưa ra đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ trông rất là nhếch nhác ở Ðà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi tìm một người ca sĩ trẻ - hoàn toàn vô danh và Sơn bắt đầu từ giọng hát của người ấy với sự tập luyện của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh nghĩ dễ hơn là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh Ly lúc đó. Ánh sáng của định mệnh đã chỉ cho Sơn đến với Khánh Ly - và từ đó Khánh Ly đã tìm được nơi nương tựa và nơi phát triển tiếng hát của mình lên đỉnh cao.

Chúng tôi khuyến khích Sơn về Sài Gòn, bỏ dạy học - một cái nghề không thích hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từ Ðà Lạt về và đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng đó ở gần chợ Trương Minh Giảng, bên kia đường là nhà của Bùi Giáng - cũng trong một cái xóm nghèo. Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của TCS khi anh về Sài Gòn. Chính họa sĩ Ðinh Cường một trong những người bạn rất thân với Sơn - cũng thường ghé đến đó.Ðôi khi ba chúng tôi ngủ chung trong một chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền dạy học của tôi.

Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Anh bắt đầu xuất hiện tại sân trường Ðại Học Văn Khoa ở đường Lê Thánh Tôn nơi có trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS nơi mà Ðỗ Ngọc Yến, TrầnÐại Lộc, Hà Tường Cát... đã hoạt động chương trình mùa hè ở đó.

Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu Khánh Ly và chị đã đi chân trần và hát cho Sinh Viên nghe. Rất nhanh họ trở thành thần tượng của tuổi trẻ Sàigòn, do tính chất mới mẻ và trẻ trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng âm nhạc ngay lúc đó.

Phong trào du ca, của anh Nguyễn Ðức Quang,... đã ra đời cùng thời điểm đó. Tôi cho đó là một thời điểm lịch sử - thật sự bùng nổ về văn nghệ của giới trẻ trong đó có chúng tôi - hội họa sĩ trẻ Việt Nam.

Chính thời đại đã sản sinh ra những hiện tượng như vậy và TCS và Khánh Ly đã là những khuôn mặt nổi bật trong giới trẻ bấy giờ.

Trịnh Công Sơn - nối tiếp cao trào đo ù- đã dấn thân thêm nhiều bước trong lãnh vực âm nhạc của mình gần gũi với xã hội, và thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi đến Kinh Việt Nam ra đời trong giai đoạn này. .

Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc - là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát hơn.

Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu , cho sự đoàn kết, cho sự thương yêu ... và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào Ðại Học ... nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị - cho nên sự hồn nhiên đó phải trả giá.

Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng tay lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội 20 năm xa vẫn còn xa ...Ðể làm gì? Ðể ước mơ đất nước hòa bình thống nhất - để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư đã viết về "Hà Nội ơi ta nhớ...", thì rõ ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân ... thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch sau đó .

Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi chấp nhận đi Thủ Ðức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền đó có thối nát, có gì đi nữa - tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính. Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của mình.

Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.

Đến ngày 30 tháng Tư thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó, Ðỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng mà Ðỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.

Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.

Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ mình; nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình - mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe - Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?

Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.

Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.

Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không được phổ biến âm nhạc lúc đó - hiển nhiên âm nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đã về đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.

Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi cũng kẹt ở lại - tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được cho Sơn - để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì ... vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng nề - như bài "Em ra đi nơi này vẫn thế ..." ở bên này cũng kết án bài đó - ở bên kia lại kết án là "Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn còn nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!

Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của TCS sau ngày mất nước. Sơn đã viết "Đường chúng ta đi, đi không bao giờ tới ..." Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình.Ðó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.

Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai năm - chỉ vì câu - chỉ vì câu gì các bạn biết không? Mùa Thu - chữ Mùa Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu - thì TCS đã viết "Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta ... đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi Người ..."

Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về ... Với sự suy diễn như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?

Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi lấy mình - khoan kết án người khác sai hay đúng - bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối ! Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa dối về chính trị - thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với con người.

Tôi xin kết thúc ở đây - để dành thời gian cho các bạn khác - tôi là một người bạn - là một nhân chứng sống trong nhiêu năm với TCS. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông tin về bạn bè - rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa giấy ... nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám , để nhìn vài cánh én ... Rồi Ði Về.

Sơn thèm đi ra phố - Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ cho nên "Chiều một mình qua phố ..." hay "Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu ..."Ðó là đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn - hôm nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đã chết vì cơn bịnh này.

Trịnh Cung

Trịnh Công Sơn - Những Định Mệnh Kỳ Lạ

Những Định Mệnh Kỳ Lạ
Lên đường, đối với chúng tôi là một tiếng nói định mệnh.

Hầu như chưa có một dân tộc nào mà lịch sử được chứng nghiệm một hành trình dài lâu đến thế. Dài lâu trong đêm tối máu xương.

Không phải chỉ cần một đôi chân rắn chắc, bền bỉ và một ý chí không hề mỏi mệt, mòn lụt mà một cái gì khác hơn, trên tất cả những thứ đó: Định mệnh.

Không phải từ những ngàn năm trước, mỗi một người dân nơi đây đã nhận lãnh “định mệnh đi lên” từ một bàn tay quyền uy nào đó như bây giờ những người lính trẻ nhận tấm thẻ bài và vũ khí để ra chiến trận. Định mệnh đó không biết từ một phép mầu quỷ quái và hiểm độc nào, đã hòa tan trong dòng sữa của những bà mẹ đầu tiên. Đã làm nên máu huyết và mỗi dòng máu chảy ngược về tim là từng nhát búa đánh mạnh vào chiếc cồng làm vang lên những bình minh rực rỡ.

Và như thế họ đã ra đi cùng với giấc mơ.

Bàn chân cha mẹ làm thành bàn chân con cháu. Núi cao thành đồng bằng. Đồng bằng thành nhà cửa, ruộng nương phố xá. Đất của mãnh thú thu gọn lại trong những biên giới khiêm nhường hơn. Những giống chân yếu đuối biến mất.

Hành trình đã được làm bằng máu xương và nước mắt. Bằng vinh quang và tuyệt vọng. Bằng hăm hở và hối hận. Tất cả những kinh nghiệm đã vót nhọn những cơ năng của con người. Và trong mớ tên sắc bén đó, mũi tên quí giá nhất: ý thức đi lên.

Đi lên! Không còn là một lời kêu gọi nữa mà chính mỗi chúng tôi là sự đi lên đó.

Cả một dân tộc lên đường rất hồn nhiên. Như những đứa con của sứ mệnh gian truân và cao cả.

Tôi đã từng qua nhiều nơi trên quê hương sau những trận đánh lớn. Không thể kể hết những tang thương của từng thành phố, từng quận lỵ, từng xóm làng, thôn ấp. Những gì là hình ảnh của đời sống đều biến dạng, rũ tan. Thoạt nhìn, không ai tin nổi về quá khứ của một nơi định cư phồn thịnh, huyên náo. Tất cả đã trở thành sa mạc gạch hồng cao nguyên tro than. Vốn liếng của một đời người tan ra thành tiếng khóc vắng lặng. Một vài nơi gần như không còn một cái gì được tha thức dưới sự tàn bạo khắc nghiệt của chiến tranh. Con người chỉ là trò chơi của một định mệnh rẻ rúng. Chỉ là những mẩu tàn của một người hút thuốc cuồng nhiệt, được vứt bỏ nhẹ nhàng, nhanh chóng.

Cái chết tự nó dĩ nhiên không biết thở than. Nhưng mọi sự rồi cũng qua đi rất nhanh. Một thời gian ngắn, trên những đổ nát kia đã mọc lên nhà cửa, trường học, bệnh viện. Trên đường đã khua vang những bước chân họp chợ. Tiếng cười nói tung vào đời sống như những thách thức không ngừng với định mệnh. Hồi sinh nhanh chóng. Những con người nhỏ bé, nghèo nàn kia đã thức dậy rất sớm từ cơn đau. Họ không tàn trữ lời thở than. Không cất giữ những xót xa. Họ là những nhà ảo thuật tài tử và tài tình. Họ đã biến những vết tích chiến tranh thành những phần hữu dụng của đời sống. Những hố bom sau cơn mưa là hồ nuôi vịt, cá. Những hố lớn hơn làm hồ tắm cho trẻ con. Những vỏ đạn làm đèn, thành lò bếp. Cuộc sống cứ như thế mà tiếp tục.

Dường như chúng tôi thoáng biết rằng còn có một cõi hạnh phúc ngoài những bất hạnh mỗi ngày phải biết sống cùng. Phải đi tới mãi và chờ đợi. Nhẫn nại và tiến lên không ngừng. Hai mươi ba năm. Ba mươi năm. Hơn thế nữa và hơn mãi thế nữa. Cho mỗi thế hệ. Đi, đi, đi. Trên mọi ngõ ngách, trên mọi làng mạc, đô thị, người dân chúng tôi, mỗi giờ phút, mang định mệnh trên vai và bước tới. Không quay nhìn lại bao giờ nữa. Đã từ lâu không muốn nhớ những bước chân đã bỏ lại. Phải đi lên. Nhìn về phía trước. Mỗi ngày đã ra đi. Ra đi và nuôi dưỡng hy vọng. Chúng tôi đã đi mấy ngàn năm. Và chưa biết sẽ còn đi đến bao giờ. Chúng tôi không là người thất vọng. Dù mỗi phút trong đời người là những con số mang tên thất vọng nhảy đều trên một chiếc máy. Chiếc máy thảm khốc của thời gian. Nó không ngừng làm chúng tôi hoảng hốt. Mỗi ngày trôi qua là một lời thúc giục. Những bình minh những hoàng hôn chớp nhanh như ảo ảnh bên cạnh những đổ nát và thây người càng ngày càng gia tăng. Mức độ hủy diệt to lớn quá đã gây nên khủng hoảng trầm trọng trên lương tâm chúng tôi. Dù ý lực được phân bón và chăm sóc từng giây, chúng tôi cũng không che giấu nổi sự phiền não hiện ra trong đôi mắt. Những đứa bé đã già đi quá sớm. Những nụ cười chúng tôi kém tươi.

Sau mỗi giai đoạn nguy nan và chết chóc, mỗi đứa bé là một kinh nghiệm đau thương. Chúng nó biết về địa ngục và vực thẳm như những đứa trẻ Tây phương biết về hạnh phúc. Sự khôn ngoan của chúng đôi khi làm xót xa những nhà hiền triết. Chúng đã sống tận cùng sự sợ hãi. Và cũng đã sống tận cùng cái chết của những người thân. Từ đó chúng tôi biết rằng chúng tôi sinh ra từ vựng thẳm. Và nếu không muốn bị hủy diệt, chỉ có con đường duy nhất là: Đi lên!

Hy vọng của chúng tôi thường nẩy mần sau mỗi cuộc tang thương. Chúng tôi chỉ có hai mùa để sống. Màu bão tố phải chống đỡ, vượt qua. Và mùa xuân, chúng tôi thổi lửa vào những gốc cây ẩm ướt để làm hồi sinh từng thớ gỗ. Bắt cây phải đâm chồi. Đó là mùa phục sinh của bao nhiêu tâm hồn tan nát. Chúng tôi không ngừng vá lại những rách nát, khâu lại từng vết thương. Và nhờ ơn trời, tất cả đều lành lặn và được bồi dưỡng kịp thời.

Sau mỗi giai đoạn bình phục chúng tôi lại lên đường. Tuy nhiên, mỗi khởi hành mới lại bớt đi một chút hăm hở. Chúng tôi ít nói về hạnh phúc trong những câu chuyện. Chân những đứa bé đã biết dè dặt hơn trên cách đồng chè, trên những ruộng mía. Những con trâu trên đồng lúa cũng được lèo lái thận trọng trên những vùng đất không đủ an toàn. Thận trọng cũng là một danh từ học được trong hành trình đi lên.

Có bao nhiêu lục địa trên trái đất này, con người thế giới không đi tới trong thể điệu của chúng tôi. Trên con đường đi tới tiến bộ, họ được chuyên chở trên những chuyến tàu êm ái, không nhọc mệt. Định mệnh họ là “hãy ngồi xuống thật thoải mái” và mệnh lệnh đi tới được chuyển qua đầu máy và động cơ của con tàu. Trong chuyến tàu mọi thứ đều được chuyên chở cùng một lúc. Người, thú vật, và thiên nhiên. Dĩ nhiên tôn giáo hay một cái gì tương tự như lòng sùng bái, đạo lý cũng được mang theo cùng với hành trang của họ. Mọi thứ đó đều có một bộ mặt sáng sủa và mới mẻ như nhau. Mỗi thứ đều được bảo vệ bởi một loại luật pháp riêng tư. Có cả sự bình đẳng và danh dự cho từng loại súc vật. Người ta cũng không quên sáng tạo ra cách cư xử tế nhị đối với chúng.

Ở đây, trên mặt đất khô héo này, chúng tôi tự chuyên chở đi tới bằng hai chân và bằng ý chí của chính mình. Đó là sự đi lên đầy khổ nhọc, cam go. Sự đi lên ngược chiều với dòng hủy diệt. Dòng hủy diệt chảy xiết như từ một bờ đê vỡ. Tàn phá, đánh chìm. Định mệnh của những con người nhỏ bé nơi đây là đi thẳng vào dòng hủy diệt để vượt qua bên kia đêm tối. “Phải sống còn” là mệnh lệnh tối yếu.

Có những kẻ may mắn sống còn để tiếp tục hành trình, có những kẻ bất hạnh đã bị cuốn đi. Nhưng tựu trung tất cả đã tranh đấu bằng ý chí siêu nhân. Và sự sống còn không phải là niềm kiêu hãnh mà là bổn phận phải hoàn thành một con đường đến nơi đến chốn do những kẻ chết tiếp sức qua kỷ niệm.

Đôi khi, bên những thảm cảnh xảy ra hàng ngày, chúng tôi có những phút giây đắm mình trong tuyệt vọng. Chúng tôi tự hỏi về nơi chốn cuối cùng của hành trình. Có thật một biên giới để dừng chân hay không?

Chúng tôi không còn thì giờ để mơ ước thiên đường hay niết bàn nữa. Đối với tôi đó là sự xa xỉ của những kẻ nhàn hạ vô tư. Mỗi giờ phút là một cuộc chạy đua cam go giành lấy sự sống. Cái chết nơi đây không có hạn kỳ. Tử thần không mang lưỡi hái tao nhã. Nó vồ chụp chúng tôi từ mọi phía, mọi giờ giấc, không bao giờ nương tay. Đó là một cuộc chiến đấu gian nan mà chúng tôi phải tìm đủ mọi cách để tự vệ.

Chúng tôi phải luôn luôn thay đổi những khuôn mặt. Sáng chế những nơi trú ẩn an toàn. Ngay cả trong giấc ngủ chúng tôi cũng không được nghỉ ngơi. Bóng dáng ác thú vồ chụp tâm não mỗi đêm. Và cuộc chiếc đấu bên trong này thường làm chúng tôi ngã bệnh một thời gian. Những sợi thần kinh dãn ra tệ hại như những sợi thừng tuyệt vọng. Với những lần có tình trạng khốn đốn đó, chúng tôi tự chế ngự và chữa lành bằng rượu. Rượu chính là một kinh nghiệm rất tốt để làm kích thích lại những giác quan tê liệt và cho giấc ngủ. Đó cũng là cơ hội để bằng hữu quay quần với nhau. Bên một dòng sông hay trong những quán vắng. Với rượu, chúng tôi được khôi phục dễ dàng trong chốc lát. Và trong ánh mắt đỏ rực buổi chiều, tiếng nước đá chạm vào ly thủy tinh luôn luôn tạo nên những âm thanh nhã nhặn.

Cũng không nên bỏ qua những ngày có thời tiết đẹp đẽ. Chúng tôi lợi dụng thiên nhiên tốt lành để làm những cuộc du ngoạn ngắn. Bên cạnh thực tế phũ phàng chúng tôi cần đôi phút thơ mộng. Tạo một chút ảo tưởng bình an và cứ cho là cuộc đời chưa đến nỗi nào. Hẳn nhiên đó không phải là một cuộc chiến chạy trốn thực tại. Chỉ là cách thế để làm trẻ lại tinh thần đấu tranh và để cho sự chịu đựng đừng bị mài nhẵn quá.

Có những giây phút, hốt nhiên thoái ra ngoài cảnh tượng đời sống chung, chúng tôi không khỏi bàng hoàng và kinh ngạc về chính mình và về những kẻ chung quanh. Phép mầu nào đã cho chúng tôi sự chịu đựng bền bỉ thế?

Chưa bao giờ chúng tôi từ khước sự hủy hoại. Không hề lẩn tránh. Lầm lì nhận chịu và nuốt cạn đắng cay, tủi nhục vào bên trong. Sự tàn phá của chiến tranh và của thiên nhiên chỉ đủ tạo nên một số ít người mất trí. Họ là những kẻ duy nhất đứng lại giữa hành trình. Hình ảnh họ thỉnh thoảng gợi lại trong chúng tôi về một giống nòi gian khổ. Họ là tiếng khóc của ngày đã qua. Cũng là lời than thở của những giọt máu để rơi lại sau những chuyến lên đường. Không đủ làm nhụt chí nhưng cũng là những vết buồn trên trang sử. Những ngày mùa đông rét mướt họ thường biến mất. Đến những mùa ấm áp hơn lại hiện ra với một khuôn mặt hoàn toàn biến đổi. Có kẻ đã móc mất đôi mắt của mình. Có kẻ vì sự hãi và thiếu ăn, đã mang hẳn khuôn mặt thú. Ở nơi khác, người điên có thể làm trò cười giải khuây thiên hạ. Nơi đây, thấy họ, không ai giấu nổi lòng ái ngại.

Chúng tôi đã học được những bài học lớn lao về trò dâu bể. Bao nhiêu triều đại đã qua đi. Bao nhiêu đền đài đã sụp đổ. Bao nhiêu mùa màng đã tan nát. Có lẻ nhờ thế dân tộc chúng tôi có những binh đoàn quá đông đảo về thi sĩ. Họ là những binh sĩ của một anh hùng ca dài bất tận. Có cả những thi sĩ trữ tình. Bởi lẽ bên những mộ phần thường có những bông hoa. Học đường chẳng dạy dỗ chúng tôi được bao nhiêu. Chỉ có cuộc đời đã giáo huấn chúng tôi về tất cả. Chúng tôi không tìm hiểu sự phi lý trong những cuốn sách. Chúng tôi sống chính sự phi lý đó. Không hiểu có cần phải bày tỏ sự khôn ngoan của chúng tôi hay không. Tuy nhiên khi đã thấm nhuần được cuộc biển dâu của đời người, chúng tôi đã vượt qua bên kia mọi triết lý.

Trên con đường đi tới, hành trang của chúng tôi đã nhẹ nhàng hơn thêm mỗi ngày. Không phải vì sự khôn ngoan của một chiến sĩ ở trên sa mạc mà vì sự khôn ngoan của định mệnh đã tước đoạt mất của chúng tôi. Tuổi thanh xuân của chúng tôi bị tát cạn. Ước mơ của chúng tôi bị cắt lìa. Chúng tôi phải đi lên bằng sự già dặn của những kẻ leo núi cao. Vào mùa xuân khi những tàng lá đã đổi màu, chúng tôi có cảm thấy hân hoan đôi chút nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy sự liên quan mật thiết nào giữa tuổi thơ và màu xanh non của lá. Vẻ đẹp của thiên nhiên một phần nào đã được cất ra khỏi chúng tôi những so sách đồng hóa với vẻ già cỗi của tâm hồn chúng tôi. Chúng cũng gian truân không kém. Tôi muốn nói về những cánh rừng tật nguyền, lở loét. Những đồng ruộng tràn đầy cỏ dại và sắt vụn. Mầu mỡ phì nhiêu của đất đai, nhiều nơi hỡi ơi chỉ để nuôi lớn hoang tàn. Điều này cũng xảy ra trên đời sống tinh thần chúng tôi. Những người dân quê dũng cảm hơn họ trung thành sắt son với chính họ. Không có gì lay chuyển nổi. Họ giữ được lòng trung tín với cuộc lên đường như một lời thề nguyền khắc ghi bằng máu. Riêng đám thị dân yếu đuối và hèn nhát hơn. Họ buông mình theo những chọn lựa dễ dàng mới để thủ lợi. Vì thế chúng tôi bắt đầu sợ hãi chọn lựa. Bởi vì mỗi chọn lựa mới thường là một cái bẫy đáng ngại đánh bật chúng ta ra khỏi con đường. Trong hành trình những ai ra khỏi con đường đương nhiên bị loại. Chúng tôi không coi họ là kẻ phản bội mà chỉ dành cho họ lòng thương xót.

Đã có nhiều biến đổi trong hành trình. Những bước chân của chúng tôi dần dà đã không còn thuộc về con đường nữa. Mỗi chúng tôi chính là con đường. Con đường cưu mang ý hướng đi lên. Trong mỗi người dù ý thức hay vô thức, đang thành tựu một con dốc cheo leo và hiểm nghèo. Con dốc nối liền vực thẳm và côi cao. Có thể đó là quê hương. Nơi chúng tôi phải trở về. Mọi người chúng tôi đang cần ngơi nghỉ.

Có lẽ chúng tôi sẽ không tìm thấy được gì ngoài chính mình. Nơi một quê hương sẽ có tên gọi. Cái tên đích thực của một giống dân đã soi tỏ được nguồn cội và đã hoàn thành sứ mệnh về nguồn.

Riêng tôi có lẽ sẽ không đến được. Sẽ không bao giờ giáp mặt được quê hương. Nơi đỉnh cao chờ mong kia, đứa con gian truân không trở về. Bởi một điều quá giản dị: tôi không còn thì giờ nữa.

Xin chúc phúc cho những kẻ còn đi.
Vendredi 13.1973
Trịnh Công Sơn
(Trích: Bửu Ý - Trịnh Công Sơn Một Nhạc Sĩ Thiên Tài - 2003)

Trịnh Công Sơn với cao nguyên bụi đỏ sương mù

Trịnh Công Sơn với cao nguyên bụi đỏ
sương mù

Lân đầu tiên những người yêu thích âm nhạc Việt Nam chúng ta đón mùa Xuân về mà không có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đây là một sự hụt hẫng mà có người bảo rằng "phải tập làm quen trong nhiều mùa xuân nữa mới quen được". Nhưng đối với tôi - một người bạn chưa bao giờ ở với Sơn ngày nào nên tôi vẫn cảm thấy Sơn đang sống ở đâu đó. Tôi không gặp Sơn như lúc tôi đến nhà 47C Phạm Ngọc Thạch mà Sơn ngủ chưa dậy. Tôi đành quay xe và tự hẹn với mình lần sau vào Thành phố Hồ Chí Minh sẽ lại đến.

Cho đến nay, Trịnh Công Sơn vẫn chưa - như gia đình tôi hay dùng- exit (thoát) khỏi đời sống của tôi. Bởi vì, tôi là một người luôn luôn thích khám phá bí ẩn nhưng có nhiều giai đoạn trong cuộc đời của bạn tôi, tôi chưa công bố. Tôi vẫn còn nợ giai đoạn Trịnh Công Sơn dạy học và bắt đầu làm nhạc phản chiến ở Blao-Lâm Đồng. Đây là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời Sơn nhưng Sơn rất ít viết, ít đề cập đến và tất nhiên bạn be ẵ-những người yêu thích âm nhạc Sơn, cũng ít biết. Để chuẩn bị cho việc "trả nợ nầy", tôi đã làm một cuộc hành hương trở lại vùng cao nguyên bụi đỏ sương mù Blao để làm sống dậy những điều mà Trịnh Công Sơn đã chôn chặt nơi đây.

Người cung cấp những thông tin đầu tiên về những năm tháng Trịnh Công Sơn dạy học và sáng tác ở Blao cho tôi là chị Lê Thị Ngọc Trinh - bạn học Sư phạm khóa I (1962-1964) với Sơn ở Qui Nhơn và đồng nghiệp của Sơn ở Blao. Người dẫn đường là thầy giáo Lê Quang Kết ở Blao. Những người hiểu rõ những năm tháng Trịnh Công Sơn ờ Blao là cụ Lê Cao Lợi - nguyên trưởng ty Tiểu học, lãnh đạo của thầy giáo Trịnh Công Sơn lúc ấy và cụ Phạm Trung Thành, nhân viên cũ của Ty Tiểu học (từ năm 1964) - người chơi đàn violon, hay trao đổi về âm nhạc với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở Blao. Tư liệu bổ sung do hai ông bạn họa sĩ Đinh Cường và Trịnh Cung giúp.

Trịnh Công Sơn - trưởng giáo trường sơ học Bảo An

Như chúng ta đã biết, Trịnh Công Sơn học khóa I thường xuyên trường Sư phạm Qui Nhơn (1962-1964). Năm 1964 mãn khóa được bổ lên Blao cùng một số bạn cùng quê, cùng khóa, trong đó có Lê Thị Ngọc Trinh - người trong ban đồng ca của trường Sư phạm Qui Nhơn đã từng lĩnh xướng trường ca Dã Tràng của Sơn. Lê Thị Ngọc Trinh được bổ về trường Nữ Bảo Lộc ở ngay trung tâm Thị xã, Trịnh Công Sơn bổ đi xa hơn một chút là trường sơ học Bảo An cách Tỉnh đường và Ty Tiểu học Lâm Đồng gần một cây số. Trường Bảo An có ba lớp 1,2,3, sĩ số mỗi lớp chừng vài mươi em, đa số học sinh là người dân tộc ít người, chỉ có dăm ba em là người Kinh. Cơ sở của trường có hai phòng đứng cho vơ trên một bãi đất trơ trụi, mái lợp tranh, vách nứa; học sinh mặt mày lem luốt, mũi dãi lò thò, áo quần rách rưới, nhuộm bụi đỏ trông rất thê thảm. Bảo An thuộc loại trường sơ cấp, không có chức Hiệu trưởng. Người phụ trách trường có cái tên cổ cổ là trưởng giáo giống như ông Ngô Đình Khả lúc mới được bổ nhiệm làm trưởng giáo trường Quốc Học hồi cuối thế kỷ XIX vậy (1896). Trịnh Công Sơn được "đào tạo chính qui" nên làm trưởng giáo và đứng dạy lớp ba vào buổi sáng, ông giáo Tạ Văn Thống sắp về hưu dạy hai lớp 1 và 2 vào buổi chiều. Hằng ngày ông trưởng giáo họ Trịnh đi về dạy học phải cuốc bộ trên con đường dốc mà vào mùa nắng thì bụi đó mịt mù, vào mùa mưa bùn lầy nhoe nhoét rất khó bước. Tuy đi về hơi vất vả một chút nhưng chuyện soạn bài và đứng lớp rất thoải mái. Học trò miền núi dễ bảo. Vào mùa hái chè các em ở nhà giúp cha mẹ, đến lớp chỉ có mươi mười lăm em. Phòng học không có cửa, nhiều hôm mây mù bay tràn vào lớp làm cho thầy giáo và học trò cũng lảng đảng theo mây. Nhiều ý nhạc khởi dậy trong lòng ông trưởng giáo Trịnh:

"Bụi về với mây. Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất nầy" (Phúc Âm Buồn, 1965).

"Qua khoảng trời trống trơn của lớp học Sơn đã vẽ nhiều ký họa đẹp và sinh động những người dân tộc trên nương rẫy, dưới bóng suối mát". (Đinh Cường kể).

Dạy học ở vùng thượng du thế ấy. Không vui. Nhưng dù sao với chỉ số lương (indique) 320 cộng thêm phụ cấp đắc đỏ vùng cao, mỗi tháng Trịnh Công Sơn cũng lĩnh được 5.200$. So với vật giá lúc ấy: Cà-phê loại ngon 1$/ly, phở 3$/tô, cơm 600$/ tháng, vàng 2.000$/ lượng. . . lương như thế là cao, có của ăn, của để.

Nhà trọ của Trịnh Công Sơn tại Blao là một ngôi nhà kiểu biệt thự mới xây trên khu đất khoáng đạt ở gần Ty Công chính Lâm Đồng. Chủ ngôi nhà là cô Phi - trưởng phòng kế toán Ty Công chính. Trịnh Công Sơn thuê nhà cùng với ba đồng nghiệp họ Nguyễn là Thanh Ty (Nha Trang), Hảo Tâm và Văn Ba (Sư phạm Sài Gòn). Mỗi người phải trả tiền nhà 300$/tháng. Bà chủ nhà có dáng người mảnh dẻ, hơn ba mươi tuổi, cùng với đứa con gái ở chung trong nhà. Nhờ thế các thầy giáo trẻ sống xa nhà đỡ bớt khô khan.

Những khi lễ lược, Blao có tổ chức văn nghệ, Trịnh Công Sơn được mời sinh hoạt với các đồng nghiệp. Ngoài Trịnh Công Sơn, những cây văn nghệ lúc đó mà đến nay dân Blao còn nhớ là Hoàng Thị Ni Na, Lê Thị Ngọc Trinh, Đỗ Thị Nghiễm. Lúc ấy dân địa phương Blao ít có người chơi nhạc. Mỗi khi muốn nói chuyện âm nhạc Trịnh Công Sơn hay đến 24 đường Tiên Dung gặp ông Nguyễn Trung Thành làm việc ở Ty Tiểu học. Ông Thành được đào tạo đễ chơi đàn violon trong ban nhạc lễ của nhà thờ Bảo Lộc. Ông không thích nhạc của Sơn nhưng ông phải công nhận với Sơn rằng :" Ca từ (parole) của Trịnh Công Sơn rất tuyệt vời. Sau nầy anh có được người đời biết tiếng chính là nhờ cái phần ca từ". Đến nay thì ông Thành xin nói lại với tôi :" Ca khúc của Trịnh Công Sơn, ca từ hay mà nhạc cũng rất hay !".

Sinh hoạt văn nghệ thường xuyên của Trịnh Công Sơn lúc nầy là hát cho học sinh nghe và dạy cho học sinh hát. Từ hồi còn học Sư phạm, Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhiều bài hát cho thiếu nhi. Lúc lên dạy học ở Blao, anh lại sáng tác thêm nhiều bài nữa. Ngày nay nhiều người còn thuộc bài Ông Tiên Vui. Cô giáo Lê Thị Ngọc Trinh vừa kể chuyện cũ ở Blao vừa hát cho tôi nghe:

Ông Tiên vui ông có cái râu dài
Đêm ông thường ngủ yên trên đỉnh mây
Ông tiên vui ông thường hay nhắc đến
Chốn Thiên đình chẳng còn tháng ngày trôi
Ông tiên vui ông có cái căn nhà
Trên ngọn đồi hằng đêm ông ghé qua
Hôm em lên ông chợt đi đâu vắng
Lúc em về em buồn đến ngẩn ngơ"

Từ "Tuổi đá buồn" đến "Ca khúc da vàng"

Buổi chiều nghỉ dạy, sau giấc ngủ trưa, Trịnh Công Sơn sửa lại chiếc áo ka-ki vàng, bỏ vô quần tẹc-gan nghiêm chỉnh rồi xỏ chân vào đôi giày Batar rảo bước ra quán Cà-phê bi-Da Ngọc Trang. Anh chơi ở đó cho đến tối. Cũng có hôm, anh cùng với vài người bạn dạo quanh hồ Bảo Lộc hoặc đi dọc theo quốc lộ Sài Gòn Đà Lạt chạy qua Thị xã nói chuyện phiếm. Nhiều hôm thiếu bạn, anh dạo phố một mình với nỗi buồn da diết mà anh đã thể hiện trong bài Chiều Một Mình Qua Phố hồi còn học ở Sư phạm Qui Nhơn (1963). Lúc đầu thanh niên Blao nhìn mái tóc thưa mềm, chạy dài xuống gảy và hàng râu mép hung hung nâu của Sơn, họ lấy làm lạ. Về sau có dịp đến gần và biết Trịnh Công Sơn vừa là thầy giáo vừa là nhạc sĩ hiền hậu hồn nhiên họ đâm ra cảm mến và rất hân hạnh được gần anh. Những chiều không thấy anh dạo phố hay khom mình trên bàn bi-da Ngọc Trang họ cảm thấy vằng vẽ và có ý chờ trông.

Vào dịp nghỉ lễ hay nghỉ cuối tuần, Sơn hay lên xe đò về Sài Gòn chơi với Đinh Cường hoặc Trịnh Cung, chiều Chủ nhật trở lại Blao để sáng thứ hai lên lớp. Anh về Sài Gòn còn có mục đích xuất bản tập nhạc đầu tay của anh. Nhiều lần Trịnh Công Sơn không lên kịp vào đầu tuần, ông giáo Thống đã giúp dạy hộ cho anh. Sự vắng mặt không xin phép của một giáo viên là phạm kỷ luật, may mắn sao ông Lê Cao Lợi - trưởng ty Tiểu học, là người biết mến mộ nghệ sĩ nên dù Trịnh Công Sơn vắng mặt nhiều lần (có lần đến ba tuần) ông vẫn không khiển trách. Từ sau ngày Nguyễn Văn Ba - người bạn đồng nghiệp và cùng thuê chung nhà, chết vì trúng mìn trên đường Blao-Sài Gòn, Trịnh Công Sơn phải tiêu phí những ngày nghỉ ở Blao. Một mình "nằm trong căn gác điều hiu", nghe gió lướt thước kéo qua rừng lau dưới những cơn mưa không dứt, Sơn nghĩ về đời mình, nghĩ về cái chết của Nguyễn Văn Ba, nghĩ về tiếng chuông nhà thờ Bảo Lộc ở phía bên kia đường sáng sáng chiều chiều dội vào sự cô đơn của anh. Và, chính trong những ngày bó gồi ở nhà ấy, anh phát hiện có một người đẹp hằng ngày đi Nhà thờ bằng con đường qua trước cửa phòng anh. Trịnh Công Sơn hơi ân hận. Lâu nay anh bù khú với bọn bạn trai nên không để ý đến người hàng xóm gái ấy. Người có tên là Ngà. Ngà không sắc sảo, không quý phái như các cô gái Huế đã "hờp hồn" anh như Ph. Th., Bích Diễm, nhưng với cái dáng mảnh mai, tóc thề chấm vai, khuôn mặt thánh thiện như mặt Đức Mẹ Đồng Trinh của cô cũng đã làm cho Trịnh Công Sơn mất ngủ. Sự phát hiện trong cõi cô đơn ở Blao có Ngà như một cái nhấn làm bật dậy những dồn nén cô đơn mang tính tâm linh trong Sơn lâu nay. Anh viết bài Tuổi đá buồn.

"Trời còn làm mưa mưa rơi mênh mang. Từng ngón tay buồn em mang em mang, đi vào giáo đường, ngày chủ nhật buồn còn ai còn ai. Đóa hoa hồng cài trên tóc mây, ôi đường phố dài, lời ru miệt mài ngàn năm ngàn năm, ru em nồng nàn, ru em nồng nàn"

Bản in lần đầu Ca khúc Trịnh Công Sơn (Nxb An Tiêm, SG 1967), bài Tuổi Đá Buồn được soạn với nhịp 4/4, đoạn mở đầu với 30 nhịp rưỡi mới có một dấu lặng, phần ca từ suốt 55 từ không hề có một cái chấm phẩy nào. Hình ảnh cô Ngà mang ngày chủ nhật buồn (Sombre dimanche) đến nhà thờ, con đường quốc lộ Sài Gòn - Đà Lạt dài hun hút đi qua Thị xã. . . . nối tiếp nhau. Đoạn nhạc dài lê thế ấy diễn tả những cơn mưa không dứt của Bõ lao trong tâm hồn Sơn. Sự cô đơn của Trịnh Công Sơn không phải của người trần thế, của con người với con người, của xác thịt với xác thịt mà chính là của thân phận làm người. Sự cô đơn hư vô nhuốm một chút siêu hình:

" Trời còn làm mưa rơi mưa rơi, từng phiến băng dài trên hai tay xuôi. Tuổi buồn em mang đi trong hư vô ngày qua hững hờ".

Sự cô đơn "hư vô" của thân phận làm người nên bao giờ còn "làm kiếp con người" thì còn cô đơn. Vì thế những ý tưởng ấy cứ ẩn hiện không ngừng trong cảm xúc của Sơn.

. . ." Trời còn làm mưa mưa rơi thênh thang. Từng gót chân trần em quên em quên. Ôi miền giáo đường ngày chủ nhật buồn còn ai còn ai"

(Ca khúc Trịnh Công Sơn, Nxb An Tiêm, SG 1967)

Nếu không có những ngày chủ nhật buồn ở Blao có lẽ Trịnh Công Sơn không có những ca khúc buồn đến thế. "Người nằm co" trong Phúc Âm Buồn chính là hình ảnh Trịnh Công Sơn trong những ngày ấy.

" Người nằm co như loài thú khi mùa đông về
Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình"

Muốn tránh xa mọi người, một người nằm yên nhưng không thể nằm yên được.

"Từng tiếng người nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm"

Trịnh Công Sơn viết bài Phúc Âm Buồn vào năm 1965 - Đấy là năm quân Mỹ đổ bộ ồ ạt lên bến phá Toà Khâm Huế, nhiều bạn bè của anh xuống đường đấu tranh chống chiến tranh, chống lại việc dùng tuổi trẻ như một thứ củi đốt cho chiến tranh của Mỹ. Cũng có một số bạn của Trịnh Công Sơn bị động viên, bị bắt đi quân trường (nhà thơ Ngô Kha), hay đang trốn lính. Ngày 20.7.1965, Uỷ ban Thanh niên Sinh viên của Nguyễn Cao Kỳ mời sinh viên miền Nam về Sài Gòn hội thảo "chuẩn bị giải phóng miền Bắc". Trong hội thảo nầy bà Ngô Bá Thành, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân đã công khai chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình. Ở Huế Thái Luân cho ra đời tập thơ phản chiến Vùng Tủi Nhục lên án chiến tranh do Mỹ đạo diễn được sinh viên học sinh chuyền tay nhau đọc. Tận bên Mỹ Bob Dylan, Joan Baez ôm đàn du ca hát phản chiến. . . . Qua thư từ, Trịnh Công Sơn hiểu rõ hết tính hình chiến tranh và đấu tranh kêu gọi hòa bình ấy. Những người bị mời dự hội thảo của Nguyễn Cao Kỳ chống chiến tranh vì tinh thần dân tộc. Trịnh Công Sơn là một người hiền hòa nhân hậu, rất sợ chuyện chém giết. Năm 1963, lúc còn theo học Sư phạm ở Qui Nhơn, đọc Mythe de Sysiphe của Albert Camus (1942) Trịnh Công Sơn đã thấy sự hiện hữu của con người là phi lý (absurde) giống như anh chàng Sisyphe bị khổ sai bằng việc hằng ngày phải lăn một tảng đá lên núi rồi thả tay cho đá lăn xuống núi không tạo ra một tác dụng nào cả :

" Người chợt nhớ mình như đá . Đá lăn vết lăn buồn".
(Vết Lăn Trầm, 1963)

Đến năm 1965, chiến tranh làm bi thảm hơn sự phi lý của thân phận con người. Đúng như tình hình anh đã thấy trước đó một năm:

"Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương"

(Xin Mặt Trời Ngủ Yên, 1964)

Với một ý thức dân tộc chung chung, Trịnh Công Sơn không còn thụ động được nữa, anh phải dấn thân. Suốt cả mùa hè năm 1965, Trịnh Công Sơn nằm lại Bõ lao, đóng cửa soạn những ca khúc chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình như các bài Gia Tài Của Mẹ, Ca Dao Mẹ, Người hát Bài Quê Hương, Du Mục, Lại gần Với Nhau, Người Già Em bé, Người Con Gái Việt Nam Da Vàng . . . . Lúc ấy hai chữ "hòa bình" bị cấm kỵ. Nói hòa bình là "Cộng sản". Cho nên những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn soạn xong phải giữ kín và chỉ hát trong giới bạn bè thân thiết thôi. Những bạn bè thân thiết đó ở Đơn Dương, Sài Gòn, Huế, và đặc biệt là Đa Lạt. Bạn bè nghe nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn rất thích, tác giả cất lên tiếng nói bất lực trước cuộc chiến tranh và thể hiện khát vọng hòa bình hộ cho nhiều người thế hệ anh. Nhưng cũng có nhiều người không thích. Những ca khúc phản chiến "nguy hiểm" đến như thế thì có ca sĩ nào dám hát ? May sao, trong những chuyến lên về Đà Lạt, Trịnh Công Sơn đã gặp được một cô "bé quê" trong một phòng trà và cô bé đã lột xác hóa thân thành ca sĩ Khánh Ly hát nhạc phản chiến bắt đầu từ Quán Văn Đại học Văn khoa Sài Gòn (1965-1966). Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn gắn liền với giọng ca Khánh Ly. Gặp gỡ Khánh Ly là một bước ngoặt mang tính định mệnh của Trịnh Công Sơn. Không có những tháng năm dạy ở Blao để tiện đường lên về Đa Lạt thì làm sao Sơn có thể gặp được Khánh Ly ?

Đến năm 1967, không chỉ có bạn bè anh mới bị "chinh chiến mang đi", mà các đồng nghiệp của anh ở Blao và chính anh bị gọi nhập ngũ . Trịnh Công Sơn không chấp nhận cuộc chiến tranh của Mỹ nên anh trốn lính. Trốn lính từ Blao. Trốn lính và chấp nhận cuộc sống bất hợp pháp, điều đó có nghĩa là anh phải giả từ cuộc đời làm thầy giáo ngắn ngủi của anh. Trịnh Công Sơn không tự ý bỏ nghề thầy mà vì chính quyền miền Nam lúc ấy đã buột anh phải nghỉ dạy học để đi lính. Anh trốn lính để có thể đi đến cùng sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, cho quyền tự quyết dân tộc.

Trịnh Công Sơn ăn lương dạy học tại Blao chỉ có ba năm (1964 đến 1967). Thời gian ấy ngắn so với cuộc đời sáu mươi ba tuổi của anh (1939-2001). Nhưng không ai có thể viết tiểu sử nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một cách trung thực khi chưa rõ giai đoạn "bụi đỏ sương mù" của anh ở Blao. Bởi vì chính trong giai đoạn nầy anh đi làm thầy giáo rồi buột phải thôi dạy, anh cho xuất bản những tập nhạc đầu tiên của anh, anh soạn loạt bài phản chiến mang tên Ca Khúc Da Vàng, anh gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly và khẳng định sự nghiệp làm nhạc sĩ cho đến cuối đời anh.

Gác Thọ Lộc, một ngày Đông, 2001.

Nguyễn Đắc Xuân

Kiệt Tấn - Buồn nôn, Sartre thơ thẩn trước cổng chùa

Kiệt Tấn
Buồn nôn, Sartre thơ thẩn trước cổng chùa

Bài 3

“Je comprenais la Nausée, je la possédais”
J.P. Sartre

“Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng”
Bát nhã Tâm kinh

La nausée là quyển tiểu thuyết triết lý mà JP. Sartre viết về kinh nghiệm Buồn nôn của mình khi thình lình phát hiện ra sự hiện hữu của sự vật trong một công viên. Từ kinh nghiệm “buồn nôn” này, Sartre nghiền ngẫm về hiện hữu và viết ra quyển đại luận (essai) L’Etre et le Néant, đặt nền tảng cho Thuyết Hiện sinh (Existentialisme).

Tiểu luận này bàn về các ý niệm chính trong tư tưởng của Sartre. Tiểu luận chia làm ba bài, mỗi bài đề cập một đề tài riêng biệt:

Bài 1: Lý do hiện hữu – Ý nghĩa – Phi lý / Vọng chấp – Hý luận

Bài 2: Ngẫu nhiên – Tất định / Nhân duyên – Nhân quả

Bài 3: “Être en soi” – “Être pour soi” – Ý thức / Sắc và Không – “Tướng không” – “Tánh không”

BA: “Être en soi” – “Être pour soi” – Ý thức / Sắc Không – Tướng không – Tánh không

L’Existentialisme, Thuyết Hiện sinh của Sartre bắt nguồn từ kinh nghiệm Buồn nôn. Kinh nghiệm đó được diễn đạt bằng ngôn ngữ triết học qua L’Être et le Néant (Hữu thể và Hư vô). Tác phẩm này đặt nền tảng trên hai ý niệm căn bản là “être en soi” (hữu thể tự ngã) và “être pour soi” (hữu thể quy ngã), có thể hiểu tổng quát là phần vật chất và phần ý thức trong hữu thể (xem bài viết của JV trong Bài 1). Vì dịch ra tiếng Việt có thể làm sai nghĩa của Sartre nên người viết để nguyên các từ ngữ “en soi” và “pour soi” trong bài viết này. Để cho việc góp ý kiến và lập luận được cụ thể và minh bạch, người viết xin phiên dịch bản văn sau đây của Jean Vioulac (JV). Bài viết của JV nhằm mục đích giải thích các ý niệm căn bản của Sartre trong tác phẩm "L’Être et le Néant", vốn được viết bằng lối văn bí hiểm và kín mít đặc thù của triết gia lớn này. (C’est barbant! Nói theo kiểu Tây Phú lang sa). Kèm theo bài viết của JV là một trích đoạn của “L’Être et le Néant” để minh chứng cho điều mình diễn giải. Nhưng người viết tự lượng sức mình nên “không dám” dịch ra tiếng Việt sợ làm sai ý của triết gia. Chẳng hạn như câu Sartre viết như sau: “Cela signifie que, par un double mouvement de néantisation, il néantise le questionné par rapport à lui, en le plaçant dans un état neutre, entre l’être et le non-être – et qu’il se néantise lui-même par rapport au questionné en s’arrachant à l’être pour pouvoir sortir de soi la possibilité d’un non-être.” Sartre giải thích như thế này là quá rõ (Nghe rõ, trả lời!). Riêng mình, người viết xin quăng khăn lên đài chịu thua. Có cảm tưởng như mình đang coi phim Hitchcock đoạn mở đầu, và ra về trước khi phim kết thúc. Vị nào liệu mình có đủ nội lực thâm hậu và có đủ khả năng phiên dịch thì xin mời. Please! S’il vous plait. Merci “bổ cu”.

Ý THỨC NHƯ LÀ “HƯ VÔ HÓA”

Chân không (vide) trong hữu thể

"(…) Nếu hữu thể được định nghĩa như là “être en soi”, nghĩa là một tổng thể chặt cứng và kín mít, một hệ thống đan khít của những tiền định và nhân quả thì nó sẽ không thể nào là hữu thể tự do được. Hữu thể là cái nó đang là, và nó không thể là cái gì khác hơn: nó không có một khoảng du di điều động nào so với cái nó đang là. Một tảng đá tự nó là như vậy: nó được ban cho một căn cước, và tất cả những gì có thể xảy đến cho nó được định trước bởi cái bản chất “đá” của nó. Để cho tự do có thể hiện hữu, cần phải có một khoảng cách biệt (écart) so với hữu thể, một hành động vượt khoảng cho phép (nó) tự rút ra và tự giải thoát khỏi cái mạng lưới của tiền định. Và ý thức chính là khoảng cách biệt đó, chính một mình nó tạo ra một vùng của hữu thể độc đáo, khác biệt hẳn với “en soi”: Sartre gọi nó là “pour soi” cái cách thức hiện hữu riêng biệt này của ý thức.

Cái tên gọi khác của tự do

Bằng cách đó, ý thức hành xử (se comporter) ngay trong lòng hữu thể: nó thoát ra khỏi vũng lầy ù lì (opacité) và nặng khối (massivité) của hữu thể bằng cách tạo ra một khoảng trống (espace vide) xung quanh mình, khoảng trống này cho phép nó giữ khoảng cách đối với các sự vật và nhờ đó mà ý thức được chúng. Thế nhưng, đưa chân không (vide) vào hữu thể là đưa vào đó hư vô (néant). Với tư cách là quyền năng đưa chân không vào hữu thể, ý thức là một quyền năng dọn trống (évidement), với tư cách là quyền năng đưa hư vô (vào hữu thể), ý thức là một quyền năng hư vô hoá (néantisation). Do đó, hư vô hoá chính là yếu tính của ý thức.

Và như thế, Sartre bắt đầu tác phẩm L’Être et le Néant (Hữu thể và Hư vô) của mình, bằng cách chỉ cho thấy rằng, để cho con người có thể đặt vấn đề hữu thể, cần phải giả định trước một sự cách biệt so với hữu thể, và vì vậy, cần phải có một “liều” hư vô (dose de néant) nào đó. Bằng cách rời xa hữu thể, ý thức tự giải phóng mình ra khỏi hữu thể, và theo Sartre, hư vô chính là cái tên gọi khác của tự do (…)

L’Être et le Néant hoàn toàn đặt nền tảng trên sự phân biệt giữa hai vùng của hữu thể triệt để đối nghịch nhau, vùng của “être pour soi” nghĩa là vùng của ý thức, và vùng “être en soi” vốn là cái chất bột ù lì và phi lý mà ta chỉ có thể chứng kiến sự hiện diện của nó". Jean Vioulac Một ngòi bút khác nữa diễn giải các ý niệm của Sartre là Michel Contat (MC), một chuyên gia về Sartre, phụ trách việc ấn hành các tác phẩm của triết gia này trong bộ “Bibliothèque de la Pléiade”. Trích đoạn sau đây của bài viết “Lire Sartre aujourd’hui” của MC sẽ làm sáng tỏ thêm (?) quan niệm của Sartre về tự do và hư vô hoá:

"(…) Tôi hiện hữu tại vì thế giới hiện hữu, và tại vì tôi ý thức về điều đó, nhưng tôi cũng ý thức rằng tôi không phải là nó, tôi có một quyền lực mà nó không có, quyền lực tưởng tượng những gì không hiện hữu. Quyền lực đó, Sartre gọi nó là sự hư vô hoá: con người là hữu thể xuyên qua nó hư vô đến với thế giới. “Tôi tìm Pierre, bạn tôi, tại quán Café de Flore, nhưng hắn ta không có đó, tôi hư vô hoá cả tiệm café để được thấy hắn xuất hiện, hắn ta, Pierre; tôi chỉ thấy sự vắng mặt của hắn: tôi tưởng tượng hắn đang ở một nơi khác, cái trò phù thủy này (sorcellerie) chính nó là tự do của tôi". Michel Contat

KHAI TRIỂN QUAN NIỆM CỦA SARTRE

Coi chừng bị hư-vô-hoá

Trước khi luận bàn, hãy thử động não cho tợn lên và tưởng tượng… tưởng tượng… để theo cho kịp Sartre: “Tôi đi tìm Pierre, bạn tôi, trên hè phố. Tôi chỉ thấy sự vắng mặt của hắn. Để được thấy hắn xuất hiện, tôi hư vô hoá tất cả đường phố. Cái trò phù thủy này, chính nó là tự do của tôi: cái tự do… cụng đầu vào cột đèn (vốn đã bị tôi hư vô hoá)! Và gã phù thủy gà mờ té ngửa trên vỉa hè! Khóc thét! Cái đỉnh cao trí tuệ u lên liền một cục lớn. Và cũng quê (rất) lớn một cục!” Dĩ nhiên, cái câu chuyện “tìm Pierre trên hè phố” chỉ là chuyện (khoa học) giả tưởng. Nhưng cái chuyện này là có thiệt: nửa thế kỷ sau cái thời điểm lịch sử “Sartre hư vô hoá” tiệm Café de Flore, tuần qua người viết có dịp dạo chơi ở khu Saint-Germain-des-Prés. May quá! Thấy cái tiệm café khét tiếng này vẫn hãy còn nguyên vẹn đó (hú hồn!). Tuy nhiên, rất tiếc là nhà triết gia nhớn không còn ngồi đó nhâm nhi café và hút ống vố nữa (có lẽ đã bị ông chủ tiệm café hư vô hoá để trả thù rồi chăng?) Thêm một điều “théc méc” khác nữa: Trong cái hoạt động “hư vô hoá” có tính cách tiểu công nghệ của mình, Sartre lấy cái “hư vô” từ đâu, hay được ai cung cấp? Thượng đế chăng? Hay là cái hư vô ex nihilo? Thứ đến, Sartre cứ nói “hư vô hoá” mà không nói rõ là hư vô hoá cái gì? Và sau khi bị hư vô hoá thì cái gì đó nó có bị sứt mẻ gì không?

Cung cách “hiu hiu” của Sartre cũng là cái cung cách điển hình của triết học Tây phương: Tôn vinh cái đỉnh cao trí tuệ, tôn vinh cái “Cogito ergo sum!” Coi trí tuệ như là một thứ Thượng Đế toàn năng không bao giờ có thể sai lầm, rất đáng tin cậy. Từ sự thờ phượng trí tuệ đó mà đẻ ra biết bao là lý thuyết, biết bao là chủ nghĩa đưa đến xung đột địa phương và chiến tranh toàn cầu làm điên đảo thế giới. Vẫn chưa tởn! Vẫn hiu hiu cái “ngã mạn” (bự xộn), cái “volonté de puissance” kiểu Nietzsche (đã chết trong nhà thương điên). Và cũng đã có biết bao triết gia Tây phương đã từng bị cái “đỉnh cao trí tuệ” nó hành tới mức phải tự tử chết trong điên loạn. Trước khi tự tử còn vọt tít lên tận trời cao để thích khách Thượng Đế, xong la toáng lên rầm trời “Thượng Đế đã chết!” Rồi đây, sẽ có một đấng triết gia bự xộn le lói khác nữa đột nhiên nổi xung kéo 3 sư đoàn thuỷ quân lục chiến đùng đùng lên đánh Trời (như Tôn Ngộ Không hồi nẫm). Rồi bắt cóc Thượng Đế trói ké đem về giải giao trại tù Guantanamo cho Bush Con khai thác để lấy khẩu cung nhẹ nhàng bằng phương pháp “phân tâm học” của tổ sư Freud. Bravo! Bravo! Thiệt tình!

Thiệt ra thì cái ý niệm “en soi” và “pour soi” của Sartre cũng chẳng mới mẻ gì cho lắm so với cặp bài trùng “vật chất” và “tinh thần” muôn thuở của cái gút thắt không thể nào tháo gỡ nổi của loài người (mặc dù rất là thông minh nổi tiếng cầm đồ). Có khác chăng là ở chỗ Sartre đặt cho nó một cái tên là lạ “en soi” và “pour soi” (cho nó có vẻ mô đẹc?) (Tiếng Tây đã có chữ anchois (mắm cá cơm), nhưng chưa có từ ngữ “en soi”). Và lạ lùng hơn hết là ở chỗ Sartre đã dùng ý thức của mình để giải phẫu hữu thể và nhét cái hư vô vào đó, và gọi nó là tự do (!) “Hư vô” tự nó có nghĩa là “không có gì hết”. “Tự do” là cái “không có gì hết”! Cũng tiện. Đỡ phải vất vả để mang nó theo người, và vất vả để bảo trì nó cho hoàn hảo. Nó cũng không ăn bánh mì, không ăn gạo, không ăn bắp, không uống nước, không uống rượu, không biết khóc không biết la. Do đó, cái “tự do” theo kiểu “hư vô” lúc nào cũng nín khe cho ta hoàn toàn yên ổn để được tự do mà tha hồ “quậy” cho tới bến. Kể ra cái “mẹo vặt” này của Sartre cũng khá đắc dụng.

Hơn nữa, cái ý thức của Sartre nó rất là toàn năng, đủ hết mọi thứ quyền lực. Nó ban ý nghĩa (cho cái rễ cây), nó ban phi lý (cho cuộc đời). Nó hư vô hoá tiệm café, nó hư vô hoá cột đèn (cái nầy thì có hơi bất tiện). Nó chiếu dọi, nó buồn nôn, nó phán xét (cuối cùng!). Nó tuyên bố “Hữu thể không có lý do hiện hữu”. Nó dẹp tiệm hiện hữu, nó dẹp tiệm café ngay từ đầu (chưa kịp mở cửa). Cái ý thức toàn năng (hay là Sartre?) nó cũng giống như đứa nhỏ gái chơi trò búp bê. Em nhỏ ban phát vai trò cho bốn năm con búp bê của mình rồi dựng kịch. Các nhân vật búp bê đều “có quyền” và có “tự do” phát biểu ý kiến y chang như em nhỏ tự ý viết ra trong vở kịch. Và em nhỏ là phát ngôn viên chính thức và có thẩm quyền của toàn ban. Em nhỏ biểu đẹp thì đẹp, biểu xấu thì xấu, biểu trung thành thì trung thành, biểu gian ác thì gian ác. Và trên hết: Em nhỏ ban cho búp bê ý nghĩa thì búp bê có ý nghĩa, ban cho phi lý thì búp bê phi lý, biểu sống thì sống, biểu chết thì chết. Em nhỏ rất là toàn năng. Và em nhỏ rất là hài lòng! Búp bê nào lạng quạng cãi lời thì sẽ bị cái “ý thức búp bê” nó hư vô hoá (ráng chịu). Sartre thừa biết đó là trò phù thủy (sorcellerie), chữ dùng của Sartre để ám chỉ trò chơi “hư vô hoá” của mình. Nhưng cũng đâu có sao. Sartre dựng lâu đài Existentialisme (Thuyết Hiện sinh) trên các ý niệm cột trụ “être en soi” và “être pour soi”. Từ Buồn Nôn đi tới “L’Être et le Néant” tuy có hơi vất vả, nhưng Sartre làm được. Có vất vả chăng là vất vả cho người đọc: “La conscience est un être pour lequel il est dans son être question de son être en tant que cet être implique un être autre que lui” (Ouf!). Đã hiểu rõ cái “conscience”, đã hiểu rõ cái “ý thức” là cái gì chưa?
Con người có bộ não khiến cho nó hiu hiu với cái “ý thức” nuốt hết vũ trụ, với cái “đỉnh cao trí tuệ” chúa tể muôn loài giống như Tề Thiên có “thất thập nhị huyền công” biến hoá khôn lường, vác thiết bảng phom phom lên đánh Trời. Cái bộ não này cho phép con người vượt trội hơn muôn thú là do ở khả năng bày ra trong đầu óc mình những “trình diễn trí tuệ” (représentations mentales), nôm na là tưởng tượng, nhờ đó mà thiết lập kế hoạch và dự phóng rất xa trong tương lai. Hầu hết các loài thú khác đều chỉ sống trong hiện tại: đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì nghỉ, rảnh thì giỡn, vui thì hót, buồn thì đi chỗ khác chơi. Nhưng “sống trong hiện tại” chính là cái mà các thiền sư khổ công tu luyện để đạt tới, và gọi đó là “ngộ” . Muông thú thì đã “ngộ” ngay từ đầu, khỏi cần phải ngồi toạ thiền cho ê đít mỏi lưng gì hết ráo. Sống trong hiện tại, không thấp thỏm lo âu cho tương lai, con thú hoàn toàn tuỳ thuận vào thiên nhiên. Sống trong hiện tại nên con thú không tích trữ đầu cơ, làm giàu, sở hữu để tài sản, để ngôi báu lại cho con, không gây chiến tranh qui mô để giành giựt. Nói tóm, vì chỉ sống trong hiện tại, nên con thú không tham lam, cái căn bịnh đứng đầu sổ của con người.

Cái ưu điểm “đỉnh cao” của con người cũng đồng thời là một tai hoạ: Con người không bao giờ sống trong hiện tại. Con người luôn luôn rượt đuổi theo một cái gì đó: một chuyến bus, một giờ hẹn đào nhí, bồ bịch, ông chủ, lương bổng, sự nghiệp, bảo hiểm, học hành, cái mả đá, lăng tẩm, kim tự tháp, vân vân… Nhưng không sống trong hiện tại thì là sống với cái đã có hoặc sẽ có (chắc không?), sống với những cái mà mình không thể hưởng được liền tức khắc, nghĩa là sống trong hoang tưởng. Chính cái bộ não, chính cái “đỉnh cao” nó khiến cho con người sống thường trực trong hoang tưởng: Văn hoá và văn minh của con người đặt nền tảng trên hoang tưởng. Nó chỉ để lại điêu tàn, hoang địa, ô nhiễm, những đống gạch vụn giữa sa mạc, những cái xác ướp.

Bị đày phải tự do

Xuyên qua quyền lực phù thủy “hư vô hoá”, Sartre đã thực hiện được một phép mầu: “Con người là hữu thể xuyên qua nó hư vô đến với thế giới” (nhẹ nhàng, ướt át và lãng mạn như em đến thăm anh một chiều mưa). Sartre mang đến cho thế giới một gói quà sinh nhựt độc đáo. Mở ra (ô! Surprise!): “Hư vô!” Hổng có gì hết! (Làm cho em nhỏ thất dzọng wá chời!) Ấy! Coi vậy chớ hư vô là quý lắm đó nghe: Hư vô là cái tên gọi khác của tự do. Vì vậy, không có “hư vô” là con người kể như bó tay. Bất ly cục cựa! Nhờ có cái “tự do hư vô” đó mà con người mới có quyền chọn lựa, và chọn lựa để mà dấn thân (s’engager). Tuy nhiên, có một điều quả thiệt là lạ lùng và vô cùng khó hiểu đối với một người bình thường, có cái logique rất là bình thường (sát mặt đất): Sartre đã khổ công tận dụng phẫu thuật tinh và ly kỳ để nhét “hư vô” vào thế giới, và nhờ đó mà nhọc nhằn lôi ra được cái tự do vô cùng quý giá. “Mừng húm?” Nhưng không! Vì kế đó Sartre lại than thở và kêu trời như bộng: “Chúng ta bị đày phải tự do!” (“Nous sommes condamnés à être libres”) Nghĩ kỹ lại, sao khi không lại đi kiếm “chuyện khó” mà làm? Mệt cầm canh! Mệt dài dài. Như Sisyphe bị đày phải lăn cục đá (mắc dịch!) lên đỉnh núi Hy mã Lạp sơn. Lên tới đỉnh núi, cục đá (mắc dịch) lại đùng đùng rơi xuống. Lại lăn lên… lại rớt xuống… lại lăn lên… Thiệt là bị Trời hành! “Mệt bỏ mẹ!” Rồi bây giờ bỗng nhiên khi không Sartre trổ phép thần thông “hư vô hoá” rồi đày cả thế giới phải lăn cục đá tự do (mắc dịch). Nhưng vốn là “cục đá-hư vô” nên chắc là nó nhẹ hều, chỉ cần lấy một ngón tay mà khều nó cũng lăn cù… mệt nghỉ!

Nhưng giờ đây thử cố gắng nghiêm chỉnh và đặt một câu hỏi rất là thường tình: “Trước khi Sartre mang cái tự do/ hư vô đến cho thế giới, con người có tự do hay không?” Trước đó, con người có cái tự do để chọn lựa, có cái tự do để dấn thân hay không? Con người có bị bó tay bó cẳng, bị bịt miệng, bịt mũi, bị áp đặt hoàn toàn từ đầu đến cuối hay không? Cũng có, phần nào. Bởi lẽ con người không thể sử dụng được hoàn toàn 100% cái tự do lý thuyết: như tự do mua xe Mercedes, tự do lái du thuyền, tự do mua sắm hột xoàn, tự do mời Marylin lên giường để nói chuyện triết lý một cách nghiêm chỉnh, hoặc tự do thương lượng để mua cái Tháp Eiffel, tự do ứng cử tổng thống, vân vân… Nhưng trong đời sống hàng ngày, trước khi được Sartre ban cho cái “tự do hư vô”, con người vẫn sử dụng được ít nhiều cái tự do thực tiễn của mình: như tự do ăn uống (vừa túi tiền), tự do nhậu nhẹt (lade rượu đế ở Xè Gòn), tự do đấu láo (nhứt là ở Hà Lội), tự do dòm lén ngực đàn bà, tự do đi đứng (ngoại trừ người ngồi xe lăn), tự do tới lui (nhà thổ), tự do tụ họp (chợ trời), tự do bầu cử (gian lận)… tuỳ theo bản tánh, tuỳ theo phương tiện, tuỳ theo xứ sở, tuỳ theo chế độ.

Còn dấn thân thì ôi thôi! Nó là một tai hoạ của con người! Chẳng hạn dấn thân để đổ máu cho bộ lạc mình, dấn thân để tàn sát sạch bách kẻ thù của quê hương ta. Dấn thân cho đại ca, dấn thân cho Đảng Ta, liều mình cho Hitler, hy sinh cho Pol Pot, phơi thây cho Mao Trạch Đông. Dấn thân để tử vì đạo cho Thượng Đế, dấn thân để sạt nghiệp vì Nình Bà, dấn thân để đốt tiền cho Las Vegas. Dấn thân để trèo lên tuyệt đỉnh Hy mã Lạp sơn, chờ có cơ hội sút tay té xuống chưn núi cho lòi bảng họng, để được chết có mề đai và ngậm cười dài dài nơi Chín Suối. Ối thôi! Kể làm sao cho hết được những kiểu “zấn thân” ly kỳ của con người! Còn trong lãnh vực chính trị, Sartre đã dấn thân cả đời cho đảng cộng sản Nga, bất chấp chế độ toàn trị chuyên chế, độc tài đẫm máu của Staline. Như vậy là dấn thân một cách “triết lý”? Hay chỉ nôm na là chọn đảng, là theo phe, là xả thân mù quáng, là liều mạng điên khùng, là “phóng lao phải theo lao”? Là cuồng tín, nói cho gọn. Là cuồng tín, bởi lẽ không có từ ngữ nào khác đúng hơn. Là cuồng tín, bởi lẽ nó đích thực là cuồng tín! Có vặn vẹo chữ nghĩa, có bóp méo ý niệm, có tung ra cái “mẹo vặt”, có uốn ba tấc lưỡi cũng chỉ là ngụy biện mà thôi. Ý thức! Ôi cái “ý thức xa lông”! Cái ý thức trí thức… trí ngủ!

Hư vô đẻ ra ý thức

Nhưng thử bình tĩnh để tìm hiểu vì lẽ gì mà Sartre tôn vinh cái ý thức tới mức gần như là bái vật (fétichisme). Vì lẽ gì mà Sartre coi nó như một ngọn đèn pha thiêng liêng, thông minh sáng suốt tột bực, tới mức gần như nó không bao giờ có thể lầm lẫn được – hay ít ra, đó là cái ý thức của Sartre. Đọc lại cái ý niệm của Sartre về ý thức (theo JV):

“Để cho tự do có thể hiện hữu, cần phải có một khoảng cách biệt (écart) so với hữu thể, một hành động vượt khoảng cho phép nó tự rút ra và tự giải thoát khỏi cái mạng lưới của tiền định. Và ý thức chính là khoảng cách biệt đó, chính một mình nó tạo ra một vùng của hữu thể độc đáo, khác biệt hẳn với “en soi”: Sartre gọi nó là “pour soi”, cái cách thức hiện hữu riêng biệt này của ý thức”.

Ý chính: Hữu thể có 2 phần: phần “en soi” (hiểu là vật chất), và một khoảng “cách biệt” (écart) gọi là “pour soi” và chính nó là ý thức (có nên hiểu là tinh thần?)

Đọc tiếp: “Bằng cách đó, ý thức hành xử ngay trong lòng hữu thể: nó thoát ra khỏi vùng lầy ù lì và nặng khối của hữu thể bằng cách tạo ra một khoảng trống (espace vide) xung quanh mình… Thế nhưng, đưa chân không (vide) vào hữu thể là đưa vào đó hư vô (néant)… Với tư cách là một quyền năng đưa hư vô (vào hữu thể), ý thức là một quyền năng (puissance) hư vô hoá (néantisation). Do đó hư vô hoá chính là yếu tính (essence) của ý thức. Và theo Sartre, hư vô chính là cái tên gọi khác của tự do”.

Ý chính: Ý thức tạo ra một khoảng trống (hiểu là chân không). Đưa vào hữu thể, chân không trở thành hư vô (còn gọi là tự do). Và trên hết: ý thức là một quyền năng hư vô hoá (hư vô hoá cái gì thì không thấy nói rõ ở đây).

Phân tích kỹ, ta mới thấy rõ được cái “thủ thuật phù thuỷ” (Càn Khôn Nã Đại Di) của cao thủ võ lâm JP. Sartre: Khởi đầu ý thức tự mình chỉ là một khoảng cách biệt (kể như không có gì hết). Rồi không biết bằng cách nào, ý thức đã đưa chân không vào hữu thể. Rồi sau đó, cũng không biết bằng cách nào, chân không chợt (rùng mình) biến thành hư vô (nghĩa là tuyệt đối không có gì hết!) Tóm tắt: Khởi từ cái “không có gì hết”, ý thức đã trổ nghề “hư vô hoá” chuyên nghiệp của mình để đi tới cái… “tuyệt đối không có gì hết”! Hư vô Terminus! Như vậy, ý thức đã đi đúng đường lối cách mạng Mác-Lê và thực hiện được một cuộc cách mạng vô sản đích thực: Trước cách mạng, ta “ở trần”. Sau cách mạng, ta vẫn “ở trần”, nhưng hơn thế nữa, ta được thêm phép “ở truồng”… cưỡng bách. Cho nó mát. Kể cũng tiện.

Mới biết: “Lao động chưa chắc gì lúc nào cũng vinh quang!” Chỉ có “phù thuỷ” JP. Sartre mới tự nguyện làm nổi cái chuyện “dã tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!” Nhưng tự mình vốn đã là “không có gì hết” mà ý thức lại có quyền năng “hư vô hoá” sự vật thì phải tin là phép mầu có thiệt: “Le miracle existe! Si si. Il esiste, vraiment il existe!” Tuy nhiên, nghĩ cho cùng thì cái phép mầu này chỉ có trong đầu của Sartre. Cái khả năng “hư vô hoá” của ý thức chỉ có trong đầu của Sartre. Cái chuyện hư vô hoá tiệm Café de Flore chỉ có trong đầu của Sartre. Từ cái chuyện tưởng tượng trong đầu, Sartre đồn riết ra thành một cái ý niệm (ý thức/hư vô) tưởng như có thiệt! Bravo! Cái chuyện này, tâm lý học gọi là “bịnh hoang tưởng”.

Theo Sartre ý niệm, ý thức chính là cái “pour soi”. Như đã thấy, vẫn theo Sartre, ý thức tự nó “tuyệt đối là không có gì hết”, thì cái “pour soi” (có lẽ?) cũng tuyệt đối là không có gì hết cho đúng với cái logique cartésienne.

Dựa trên nền tảng “en soi” và “pour soi” (vốn tuyệt đối là không có gì hết), mà Sartre xây dựng lâu đài L’Être et le Néant và lập thuyết “Existentialisme” thì liệu cái lâu đài đó và cái thuyết đó có bị đe dọa sụp đổ ngay từ đầu? Hay là rốt cuộc, sẽ không còn “Être” nữa mà chỉ còn lại “Néant”. Sẽ không còn Hữu thể nữa, mà chỉ còn lại Hư vô. Hữu Thể đã bỏ Sartre mà ra đi.

Bonjour tristesse! “Buồn ơi! Ta xin chào mi… khi người yêu đã bỏ ta đi…” Ô voa! Ô voa Bế Bì! Bái bai! Bái bai darling! “You say you love me, and then you say good bye!” Buồn năm phút. Nhận định về Sartre và Thuyết Hiện Sinh, nhà nhân chủng học kiêm triết gia Claude Lévi-Strauss đã phát triển: “Hiện sinh là một công trình tự chiêm ngưỡng, trong đó, với ít nhiều ngốc nghếch, con người hiện đại tự giam mình đối diện với chính mình và rồi đâm ra tột khoái (orgasme) với chính mình.” Cũng đâu có xa lạ gì cái tuồng ruột Sartre tự biểu diễn và mê mẩn với cái trò phù thuỷ “hư vô hoá” tiệm café quanh quẩn trong cái “đỉnh cao trí tuệ” của chính mình. Nhưng nhìn kỹ thì thiên hạ vẫn tiếp tục uống expresso xì xụp và ăn croissants ào ào tỉnh bơ trong tiệm Café de Flore (trên nguyên tắc đã bị triết gia phù thủy “hư vô hoá”). “Hư vô hoá” có nghĩa là làm cho “biến mất”, chớ không có cái kiểu nguỵ biện mở ngoặc đóng ngoặc, “mettre le monde entre parenthèses” gì hết ráo. Nếu “hư vô hoá” chỉ là “khép thế giới trong ngoặc đơn” thì tới thằng con nít ke cũng làm được, đợi gì tới phải rước phù thuỷ triết gia! Nói chuyện gì mà thiệt là như giả ngộ! Hết làm phù thuỷ thì đổi sang nghề “Thượng đế” cho nó sướng: Tột khoái (đến xuất tinh?) trong vai kép độc tự biên tự diễn vai trò “Thượng Đế bỏ túi” hiu hiu trên ngôi cao, ban phát ý nghĩa cho muôn loài, cả người chóa loà hào quang ngũ sắc và Ánh sáng Phúc Âm! Và nhứt là rất tự hài lòng, dĩ nhiên “Không có TA thì cả thế giới này sẽ (có chửa) buồn nôn và phi lý (rong rêu sỏi đá) hết... là cái chắc!” Ấy vậy mà khi hay tin sư phụ mình buồn nôn ở bên Tây, phe trí thức (?) trẻ Xè Gòn ta cũng vụt cấn thai ngang xương và kéo nhau ra ngồi cú rũ ở Quán Cái Chùa mà ói mửa cho tới mật xanh!

Khi khảo sát cái ý niệm“ý thức” của Sartre, ta thấy “hư vô” gần như là một ám ảnh không rời của Sartre. Nó cũng giống như một người bị ám ảnh tình dục. Phải giải quyết cho bằng được, kể cả hiếp dâm. Có cảm tưởng Sartre rất kinh sợ cái khối “chất bột” ù lì của “en soi”, coi nó như là một vũng keo lầy có thể nhận chìm ý thức. Vì vậy, Sartre đã cố gắng trổ hết tài mọn của mình và dùng phẫu thuật để “nhét” hư vô vào khối bột đó như là một cái “air bag” chắn ngang giữa “en soi” ù lì và “pour soi” thanh khiết để làm trái độn, hầu ngăn chặn vũng keo “en soi” tràn qua vùng “pour soi” của ý thức: Sartre đã dùng “tiểu xảo-phù thuỷ” để giải quyết nỗi ám ảnh về “hư vô” của mình. Đây chỉ là một giả thuyết. Nó có thể đúng, cũng có thể sai. Nhưng điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là: “Ta có thể tách rời tinh thần ra khỏi vật chất, tách rời ý thức ra khỏi thân xác (như Sartre đã tưởng tượng ra trong đầu) được không?”

Tên phù thủy và cái “air bag”

Trừ phi ta học được 72 phép thần thông biến hoá khôn lường như Tôn Ngộ Không, hoặc luyện được phép “xuất hồn” của ông Đạo Tám (bỏ đi Tám!), ta không thể nào bứt rời ý thức ra khỏi phần vật chất (en soi), vốn là chỗ trụ (support) của nó. Con chim có thể đậu trên cành cây mà hót. Và cũng có thể bay lên khỏi cành cây mà hót. Nhưng ý thức không phải là con chim. Chưa hề thấy một ý thức nào đó rời khỏi chỗ trụ của mình là não óc để được tha hồ mà ngao du sơn thuỷ. Cũng chưa hề thấy một ý thức nào, không cần thân xác, mà đi dạo khơi khơi dọc theo bờ sông Seine, rồi đến ngồi trên băng gỗ để chiêm ngưỡng Nhà thờ Đức Bà. Xong thả bộ tà tà xuống khu Saint-Germain-des-Prés, rồi chui vào tiệm Café de Flore nhâm nhi cái expresso, hút cái ống vố, và bóp trán (?) động não để tìm cách nhét cho bằng được cái hư vô vào trong hữu thể, mặc tình cho em nhỏ rên đau tỉ tê và khóc thét lâm ly “Em chả! Em chả!” Chưa hề thấy một cái ý thức nào khơi khơi như vậy và cũng chưa hề có cái chuyện như vậy trên đời. Nếu có thì đó không phải là ý thức: mà đó là một cô hồn. Mà cô hồn thì không thuộc về cõi người, xin miễn bàn.

Một giai thoại về cô hồn và về linh hồn: Sau khi Christophe Colomb khám phá ra Châu Mỹ, các conquistadors Tây Ban Nha đã đổ bộ thuyền bè súng ống, chở theo các linh mục để ban phép lành cho các conquistadors được yên tâm mà chém giết thổ dân tưng bừng để thôn tính Nam Mỹ. Chém giết thả giàn vì Toà Thánh Vatican đã tuyên bố công khai là thổ dân Nam Mỹ không có linh hồn. Cũng giống như là mèo chuột nên có giết thì cũng giống như là giết mèo chuột vậy thôi. Hoàn toàn vô tội. Dĩ nhiên là thổ dân Nam Mỹ kháng cự kịch liệt với giáo mác thô sơ của mình. Có lần bắt được một linh mục, thổ dân mang cái vị khả kính này xuống sông trấn nước. Và ngồi chờ. Chờ gì? Chờ xem cái linh hồn của linh mục thoát ra khỏi thân xác và bay bổng về trời đoàn tụ với Thượng Đế! Chờ hoài không thấy. Ngâm tiếp vài ngày. Thấy thân xác linh mục cũng rã bèng và thúi tha y chang như là xác của thổ dân. Mới biết, trong thực tế, không có một linh hồn nào có thể tách rời khỏi thân xác một cách hiên ngang không sợ chết. Nếu có, thì điều đó thuộc về tín ngưỡng và tôn giáo.

Thay vì linh hồn, thì ý thức cũng y chang vậy thôi. Có đem trấn nước hữu thể cũng sẽ không thấy cái ý thức nó bay bổng về trời. Có chêm cái “air bag-hư vô” vào cũng không đem tới được một kết quả thiết thực nào hết, trừ phi là trong hoang tưởng. Cái air bag-hư vô không thể nào tách rời “pour soi” ra khỏi “en soi”. Ý thức “hư vô hoá” chỉ là chuyện hoàn toàn hoang tưởng!

Sartre cũng ý thức mình là một tay phù thuỷ. Không phải là phù thuỷ theo cái nghĩa làm ra phép lạ, mà là phù thuỷ ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để trổ phép thần thông. Sartre rất nhiều lần “đại ngôn”, và tin rằng mình chỉ cần đọc lên “thần chú” ngôn ngữ là mọi việc sẽ xảy ra y chang như vậy. Như khấn thần chú “Hữu thể phi lý” thì hữu thể sẽ bắt buộc phải phi lý, khấn thần chú “hư vô hoá” thì tiệm café sẽ biến mất – ít ra là trong tâm trí của Sartre, vân vân… Cái bệnh “phù thuỷ ngôn ngữ” này rất thường thấy trong triết học và văn chương cường điệu, cái kiểu “đâm nổ mặt trời”, “thét vỡ không gian”, “thách thức thần linh”… Con người thường bị ngôn ngữ mê hoặc, bỏ bùa, và tin ở sự mầu nhiệm của ngôn ngữ. Thực ra thì ngôn ngữ (và kể cả ý niệm) chỉ là những qui ước để trao đổi ý kiến, suy tưởng và ngôn ngữ chỉ diễn tả sự vật như là nó xuất hiện trong tri thức của mình.Ngôn ngữ chỉ diễn giải, mô tả sự vật. Như ảnh chụp. Chẳng đúng cũng chẳng sai. Nhưng nó không trung thực là cái chắc. Sự vật “thực sự” là gì và như thế nào, điều đó vĩnh viễn nằm bên ngoài tri giác. Nói thực sự, nhưng định nghĩa thế nào là thực sự. Có lần, một nhà báo yêu cầu Einstein, cha đẻ của Thuyết Tương Đối giải thích được mọi hiện tượng trong Trời Đất, mô tả ngắn gọn vũ trụ là gì. Einstein cầm cục phấn trắng viết trên bảng đen một phương trình dài ngoằn cả thước tây, có đủ thứ ký hiệu toán học phức tạp kỳ bí, và nói “Vũ trụ là như vầy đây!” Nhà báo lại kỳ kèo Einstein giải thích thêm đôi lời cho mọi người dễ hiểu. Einstein: “Tôi không thể nói thêm được gì hết!”

Mới biết, khi đi vào bản thể đích thực của sự vật thì ngôn ngữ không còn thích hợp nữa. Mà ngay cả bản thể, bản chất, bản tánh… cũng chỉ là những ý niệm do con người bày đặt ra, chớ chưa chắc gì sự vật tự nó đã có những thứ lỉnh kỉnh đó. Ngay cả đưa ra cái định nghĩa của bất cứ một sự vật nào đó cũng chưa xong, còn nói gì xa hơn nữa cho mất công. Kinh Phật dạy: “Mọi pháp có tánh không” nghĩa là “hổng có tánh gì hết”, đố ai biết nó là cái gì? Vào khoảng cuối đời mình, Sartre cũng đã nhận thức mình là nạn nhân của chữ nghĩa, của ngôn ngữ trong quyển “Les Mots”. Thay ngôn ngữ bằng biểu tượng hoặc ký hiệu, như mẫu tự braille của người mù, các nốt viết của âm nhạc, đèn chớp tắt của hải quân cũng không thể đi xa hơn được. Cũng chỉ là qui ước. Tương tợ như là lấy mắt mà nhìn thì thấy dáng dấp bên ngoài của người đẹp. Chiếu tia X thì thấy xương tim gan ruột của mỹ nhơn. Chiếu IRM, chiếu scanner thì thấy các vùng não óc, những đoạn cắt ngang của nhũ hoa nàng. Tất cả cũng chỉ là một cách nhìn ngó vậy thôi, chớ chẳng có cách nhìn nào đúng hơn cách nhìn nào. Muốn tìm hiểu người đẹp thiệt sự là “như thế nào” thì chỉ còn một cách duy nhất: Muốn biết viên kẹo nó ngọt như thế nào thì chỉ có nước bỏ nó vô miệng mà ngậm, rồi gật gù… và nín khe. “Ngọt hết cỡ nói!”

Một điều hiển nhiên khác nữa: Nếu không được nối liền với năm giác quan và không được năm giác quan cung cấp cho tin tức và dữ kiện của thế giới bên ngoài, ý thức sẽ bị thui chột, và sẽ không thể nào ý thức được về một cái gì hết ráo. May mắn thay, cái “hư vô” của Sartre nó đã không cắt lìa được “pour soi” ra khỏi “en soi” của triết gia. Bằng không thì ta đã không có được cái luận thuyết (essai) “L’Être et le Néant” để đọc. Và đọc để mà nhức đầu! Cần phải có người diễn giải và nắm tay dắt đi cắt nghĩa từng chút may ra mới hiểu được chút đỉnh (mà cũng chưa chắc!)

Ý THỨC TRONG KHOA HỌC

Khoa thần kinh nói gì về “ý thức?”

Các mối liên hệ giữa ý thức và não óc đã được khoa thần kinh học (neurosciences) nghiên cứu, trắc nghiệm, phân tích, tìm hiểu và nhận định. Trong khoa này, có hai phe đối nghịch nhau. Phe “toàn diện” (holisme) chủ trương rằng sự vận hành của não óc phải được tìm hiểu như là một tổng thể, không thể nào chia cắt được. Phe “định vùng” (localisationnisme) thì tìm cách xác định những vùng não cần thiết cho việc thực hiện một chức năng. Theo quan điểm người viết thì cho dù có định được các “vùng não” thật là chính xác dành cho một chức năng đi nữa, nhưng nếu không có toàn bộ não óc thì các “vùng não” đó trụ ở đâu? Có cái “vùng não” bên trán trái nào đó bay phất phơ trong không gian và điều khiển cho ta phát ngôn (bừa bãi)? Hoặc cái “vùng não” nào đó nằm sâu trong óc của ta, tự nhiên bị ai đó “hư vô hoá”, bèn bay bổng lên trần nhà, rồi từ cao điểm chiến lược nầy mà ra lịnh cho “thằng bé của ta có ý kiến”? Cứ tha hồ mà “thét roi cầu Vỵ ào ào gió thu”: No is no! Abosutely no! Thứ đến, các vùng não đó cũng phải được nối liền với các vùng khác, với các giác quan khác mới nhận được tin tức và dữ kiện để mà điều hành chức năng do mình phụ trách một cách tốt đẹp. Ví dụ: nếu hữu thể bị bịt mắt bắt dê thì cho dù “vùng-não-thấy” có tinh vi và nhạy cảm tới mức nào đi nữa, thì hữu thể cũng sẽ cụng đầu vào cột đèn (bất chấp cái cột đèn đã bị ý thức của ai đó hư vô hoá). Sẽ u đầu một cục lớn… là cái chắc! Không tin cứ tự bịt mắt rồi bước ra vỉa hè mà thử đi, ắt biết liền.
Qua các thí dụ trên đây, ta có thể nói rằng nếu không có “en soi”, và nếu không có cái thế giới bên ngoài, thì cái “pour soi”, cái ý thức sẽ không có cách gì mà hiện hữu cho được. Nói như Husserl: “Ý thức là ý thức về một cái gì đó.” Nếu suy diễn ngược lại, câu này cũng có thể hiểu là nếu không có một cái gì đó để làm đối tượng thì ý thức không thể nào có (hoặc hoạt động) được. Chính cái rễ cây, chính cái “chất bột” ù lì đã ban cho ý thức lý do để hiện hữu. Không có đối tượng, sẽ không có ý thức. Chính cái rễ cây, chính cái “chất bột” ù lì có khả năng hư vô hoá ý thức, trên lý thuyết. Chớ không phải nhân câu nói này của Husserl mà tấn phong cho ý thức một quyền lực toàn năng, và truyền cho sự vật (cái rễ cây, cái cột đèn…) phải đứng xếp hàng làm “cơ” đợi đấng Ý Thức chiếu dọi và ban cho một ý nghĩa mới có được lý do để hiện hữu. Cho dù không có đấng Ý Thức toàn năng (của Sartre?) ban cho lý do hiện hữu (!) thì sự vật cũng vẫn tỉnh bơ mà hiện hữu như thường. Nếu con người không xuất hiện vào phút chót trên địa cầu thì mọi vật, mọi loài vẫn có đó, và có đó từ khuya. “Làm sao biết được?” Điều này vốn nó hiển nhiên: Nếu trái đất, nếu núi sông, nếu thảo mộc, nếu muôn loài, nếu giống homo đã không xuất hiện và không hiện hữu thì liệu có cái thằng homo sapiens sapiens cà chớn với cái “đỉnh cao trí tuệ” hiu hiu chường mặt ra đó như bây giờ hay không? Và liệu có cái đấng triết gia nhớn ra ngồi ở Café de Flore mà “cogito” cho toé khói để rồi cuối cùng tuyên bố: “Hữu thể là phi lý!” (kể cả Sartre) hay không? Thử hỏi ai mới thiệt sự là phi lý đây?

Tuyên bố: “Mọi vật chỉ hiện hữu xuyên qua (nhờ ở) ý thức” (Tout n’existe que par la conscience) chỉ là một cách nói “hoa mỹ” cho nó có vẻ “triết”. Giống như diễn tả “màu mè” một cách hiu hiu rằng: “Mọi vật chỉ hiện hữu nhờ ở ý thức của tôi” (phải hiểu là hiện hữu đối với tôi, dĩ nhiên). Cái gì không lọt được vào “ý thức” hiu hiu của tôi là kể như hổng có! (vẫn đối với tôi, dĩ nhiên). Thì chẳng thà nói phứt mẹ nó là: “Vì tôi dốt nên có rất nhiều thứ tôi không biết”. Chẳng hạn như anh nông dân ở Trèm Trẹm “không ý thức” có cái Tháp Eiffel ở bên Tây. Hoặc giả như anh dân ngu khu đen ở Roumanie “không ý thức” có vụ nổ lò nguyên tử Tchernobyl bên Nga. Dù không biết (ý thức) nhưng rốt cuộc cũng vẫn bị ung thư cuống họng mà chết thẳng cẳng. “Tôi không ý thức” hoặc “tôi không biết” là một lẽ. Còn “Nó vẫn có” là một lẽ khác hẳn. Không thể từ “tôi không biết” hoặc “tôi dốt” mà suy ra là “nó không có” được. Bởi lẽ đó, thay vì nói “tôi không ý thức” thì nói phứt mẹ là “tôi dốt” đi cho nó đỡ mất thời giờ! Mắc cở gì nữa hả triết gia nhớn?

Cái ý thức có toàn năng?

Chẳng những ý thức nó không toàn năng, nó không phù phép hư vô hoá, mà nó cũng chẳng phải là “inoxydable”, nghĩa là đấng “Ý Thức” ngự trên ngôi cao ngất ngưởng, bất biến, không ai rớ tới Ngài được hết. Cái sự thể đấng Ý Thức bị xâm thực và rỉ sét nó nhan nhản trong đời thường: Khi ta quá “xỉn”, khi ta chích choác ma tuý thì cái ý thức của ta bị biến đổi khủng khiếp, có khi đi đến giết người hoặc tự sát. Cái ý thức của ta cũng bị biến dạng hoàn toàn trong những hoàn cảnh cùng cực: Khi ta bị khủng bố, bị đánh đập, bị tra tấn, bị tẩy não, bị rửa óc, bị tai nạn, bị tàn tật, bị thương tích sọ não, bị sốc tâm lý dữ dội.

Nói gần cho dễ hiểu: Ta bị “giựt dây” tâm lý đều đều hằng ngày bởi quảng cáo trên TV. Mà tâm lý và ý thức lại vốn liên hệ với nhau vô cùng mật thiết. Cũng bởi lẽ đó mà cái ý thức của ta về giá trị của sự vật, của hàng hoá được quảng cáo đề cao cũng bị “giựt dây” và nhồi sọ theo. Kết quả: ta ùn ùn chạy đi mua những món hàng được quảng cáo bốc thơm! Đó là nguy hiểm của việc áp dụng các khám phá của khoa thần kinh học vào quảng cáo, tiếp thị và thương mại. Ta có thể “nổi loạn” và phản đối. Thì ta cứ “nổi loạn” tự nhiên, và cứ phản đối tự nhiên. Nhưng sự thể là như thế đó. Hơn nữa, cũng không có luật lệ nào cấm đoán việc áp dụng khoa học thần kinh vào các hoạt động quảng cáo “láo” và kiếm tiền “thấp hèn” đó hết. Cho dù cái ý thức của ta có phép thần thông “hư vô hoá”, nó cũng không dẹp bỏ được cái hoạt động quảng cáo “nhồi sọ” trên TV, hoặc dẹp bỏ được các bảng quảng cáo “ngộp thở” nhan nhản trong thành phố. Hơn thế nữa, cái ý thức bị xâm nhập, bóp méo và tiêm nhiễm của ta nó cũng tự quảng cáo lấy một mình với ta ngay cả trong giấc ngủ. Và cũng có thể là ngay từ lúc ta còn nằm nôi không chừng. Có mà chạy đằng zời! Cho dù ta có chêm được cái “air bag hư vô” vào hữu thể cũng không chận được cú sốc của “bàn tay sắt bọc nhung” của các tay cao thủ võ lâm thuộc môn phái “quảng cáo”. Cái bộ mặt toàn năng của “ý thức hư vô hoá” phen này e cũng phải sặc máu mũi… là cái chắc! Nếu bây giờ Giáo Chủ ta có đây và trổ tuyệt chiêu “Hư Vô-Càn Khôn Đại Nã Di” danh bất hư truyền của chánh phái Hiện Sinh ra để mà hoá giải cái đòn hèn của bọn ma giáo “Quảng Cáo” thì sẽ đỡ khổ cho dân lành biết mấy!

Thôi, giờ đây hãy tạm giã từ các môn phái võ lâm và trở về với lãnh vực khoa học. Như đã nói, các khoa thần kinh gần đây đã thực hiện được nhiều tiến bộ đáng kể. Trí tuệ, ý thức, và tâm linh không còn là lãnh vực chuyên biệt của triết lý và các khoa xã hội học nữa. Nhưng một khi đã đi vào lãnh vực khoa học thì đối tượng khảo cứu nhất định phải cụ thể. Phải có trắc nghiệm cụ thể, đo lường cụ thể, và kết luận cụ thể. Không thể có đòn phép phù thuỷ nhiệm mầu và hư vô hoá phiêu lưu ở đây. Muốn nói gì thì cũng phải có bằng chứng. Bởi lẽ đó, trên nguyên tắc, khoa thần kinh không thể nào trắc nghiệm và đo lường cái ý thức vô hình cho được. Vì vậy, nó đành phải nghiên cứu “chỗ trụ” (support) của ý thức là não bộ. Đành rằng ý thức không phải chỉ là một tổng hợp của các tế bào thần kinh (neurones), nhưng không có tế bào thần kinh thì không thể có ý thức. Cũng giống như cái TV. Cái TV không phải chỉ là một tổng hợp của các mạch điện. Nhưng không có các mạch điện thì không có TV. Điểm khác biệt: các mạch điện tự nó không có tính chất “phát hình”. Nhưng cái TV thì có.

Khi các bộ phận khác nhau được kết hợp đúng theo một mô thức đặc biệt nào đó thì khi đó, sẽ có một tính chất mới xuất hiện từ kết hợp này: khoa học gọi đó là “tính đột hiện” (émergence). Não bộ là một mô thức sinh học đặc biệt của các tế bào não. Khi các tế bào não được kết hợp đúng mô thức thì từ não bộ sẽ nảy sinh một tính chất “đột hiện” hoàn toàn mới lạ: ý thức. Ý thức của con người thuộc hàng ý thức thượng đẳng (conscience supérieure). Nó khác biệt với ý thức của con thú ở chỗ con người ý thức rằng mình có ý thức. Còn con thú thì không biết mình có ý thức, và không phải loại thú nào cũng có ý thức về bản thân mình. Chỉ một số ít loài có ý thức về mình như khỉ, voi, cá nược, két… Sau nhiều cuộc khảo sát và trắc nghiệm công phu, khoa thần kinh đã đi tới những nhận định chính yếu như sau về ý thức:

Trước hết, ý thức được kinh nghiệm hình thành dần dà theo thời gian. Kế đến, ý thức không trụ ở một vùng não nhứt định nào hết, chính sự tác động liên vùng mới là trọng yếu. Thêm một quan niệm và cách nhìn đứng đắn khác nữa về ý thức: Phải suy gẫm và kết luận ý thức như là tiến trình của biện chứng tam giác “não bộ-thân thể-môi sinh” không thể tách rời. Vì thế, ý thức không phải là một vật thể độc lập mà là một tiến trình (processus) chặt chẽ và liên tục. Bởi lẽ đó, ý thức cũng tiến hoá trong dòng thời gian như là đời sống. Qua các nhận định của khoa học thần kinh, nhứt là ở điểm cuối, ta bắt gặp lại thuyết “Vạn vật tương tuỳ” của Phật giáo. Và ta cũng sẽ thấy ở phần sau cái tiến trình biện chứng tam giác của khoa học cũng phù hợp với quan niệm về “ý thức” của Phật giáo (xem mục “Pháp trần”).

Nhắc lại: Sartre ý niệm ý thức như là một vùng “pour soi” (tinh thần) tách biệt với vùng “en soi” (vật chất) trong hữu thể, và ý thức có quyền năng “hư vô hoá”. Đem ý niệm này đối chiếu với những nhận định như vừa nói của khoa học về ý thức thì khó lòng mà chỉ ra được những điểm tương đồng. Trái lại, còn đối nghịch nhau ở chỗ Sartre tách rời ý thức ra khỏi phần vật chất, còn khoa học thì gắn liền ý thức với bộ ba “não bộ-thân thể-môi sinh”.

(Còn 1 kì)
Nguồn: Tạp chí Tân Văn, số 15, tháng 9/2008

Kiệt Tấn - Buồn nôn, Sartre thơ thẩn trước cổng chùa

Tư tưởngTriết học
Kiệt Tấn
Buồn nôn, Sartre thơ thẩn trước cổng chùa

"Je comprenais la Nausée, je la possédais"
Sartre

"Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng"
Bát nhã Tâm kinh

Dẫn nhập

Trước khi khai triển bài 2, tưởng cần nhắc lại hai điểm chính đã được phân tích và lý luận ở bài 1/ Phần một:

Thứ nhứt: Theo Sartre: "Hữu thể là sự hiện diện thuần tuý, không nguyên do và không lý do." Theo quan điểm người viết: "Khi sự vật có đó thì nó là một điều hiển nhiên: nó có nguyên do và lý do để có đó. Tuyên bố nó không có nguyên do và lý do để hiện hữu là hàm hồ và độc đoán."

Thứ hai: Theo Sartre: "Ngay từ trong yếu tính của mình, hữu thể là phi lý." Theo quan điểm người viết: "Ý nghĩa và phi lý là hai ý niệm do con người nguỵ tạo ra. Trong Trời Đất, vạn pháp vốn nó như vậy, không có nghĩa, cũng chẳng vô nghĩa."

HAI: Ngẫu nhiên - Tất định / Nhân duyên - Nhân quả

Trước hết, xin nhắc lại trích đoạn của Jean Vioulac (JV) diễn giải các quan niệm của Sartre: "Hữu thể là sự hiện diện thuần tuý (...), không nguyên do và không lý do. Sartre định nghĩa cái tính chất căn bản đó của hữu thể là "ngẫu nhiên" (...) đối chọi với ý niệm "tất định": Ngẫu nhiên là tất cả những gì cũng có thể khác hơn cái nó đang là, tất cả những gì có thể không hiện hữu, và cũng không có lý do gì để hiện hữu. Như vậy, ngay từ trong yếu tính của mình, hữu thể là phi lý."


1. Khoa học nói gì về ngẫu nhiên?

Những cuộc tranh cãi về "ngẫu nhiên" và "tất định" chẳng phải là mới mẻ gì trong nhiều lãnh vực khác nhau: khoa học, triết lý, tâm lý, đạo đức, thần học... Để mở đầu, xin bàn luận trong lãnh vực cụ thể, lãnh vực khoa học, cho nó dễ hiểu. Chẳng hạn các quy luật vật lý, nó có tính cách tất định: nguyên do nầy thì kết quả nầy, nguyên do kia thì kết quả kia, không có gì phải bàn cãi. Rờ điện thì điện giựt. Nếu muốn cãi thì cứ rờ thử đi, ắt biết. Tuy nhiên, một kết quả hay một hiện tượng thường có nhiều nguyên do khác nhau phát xuất từ nhiều nguồn gốc khác nhau, bởi vậy cho nên mới rắc rối cuộc đời. Bàn rộng ra thì nó vô cùng. Vì vậy chỉ xin tóm tắt các quan niệm khoa học gần đây nhứt.

Mở đầu trong toán học, có quan niệm về "xác xuất" (probabilités), đại khái là tính trong bao nhiêu lần thì một hiện tượng có cơ hội xảy ra. Chẳng hạn như lái xe chạy được 100.000 km thì có một tai nạn giao thông. Cho tới một bữa đẹp trời nọ, tai nạn bất thần xảy ra. Vì vậy ta có cảm tưởng là nó ngẫu nhiên. Nhưng theo toán học thì nó tất định - tất định theo cái nghĩa "xác xuất".

Chưa hết. Có khi ngẫu nhiên và tất định trộn lộn lẫn nhau nên không thể dứt khoát được. Chẳng hạn, một chuyến xe lửa thường nhựt chạy từ Sài Gòn ra Hà Nội. Điểm phát xuất và điểm đến là tất định. Đường rầy là tất định. Nếu vẫn là chiếc xe lửa đó thì nó tất định. Thế nhưng, hành khách trên xe thì không tất định: nó ngẫu nhiên. Hàng hoá chuyên chở cũng ngẫu nhiên. Nếu xảy ra tai nạn thì tai nạn đó là ngẫu nhiên (nhưng nếu tính theo xác xuất thì nó tất định). Vì vậy, thường khi tiến trình (processus) thì tất định, còn điều kiện thì lại ngẫu nhiên. Tương tự, thai nhi phát triển trong bụng mẹ cũng vậy. Tiến trình phát triển của thai nhi từ một tế bào cho tới đứa trẻ sơ sinh thì tất định. Nhưng điều kiện phát triển của thai nhi trong tử cung thì ngẫu nhiên.


2. Còn tất định thì sao?

Sự phê phán và xếp loại "ngẫu nhiên" hoặc "tất định" tuỳ thuộc vào phương pháp khảo sát và cách diễn giải các dữ kiện. Phương pháp khảo sát có thể là chi tiết hay tổng thể, nhìn xa hay nhìn gần, nhìn cỡ lớn hay nhìn cỡ nhỏ, dụng cụ khảo sát, đo lường, áp dụng khảo sát ngay trong đời thực hay trong phòng thí nghiệm... Việc diễn giải các dữ kiện thường khi lại tuỳ thuộc vào nhãn quan của tác giả: chủ quan hay khách quan, vô tư hay có thành kiến... Lắm lúc trong đầu ta muốn tìm cái gì thì ta sẽ thấy ngay cái đó trong đám dữ kiện loạn xà ngầu. Chẳng hạn như sự sáng tạo của vũ trụ và trái đất: Phe khoa học thì giải thích bằng "Big Bang" và Thuyết tiến hoá (Evolutionnisme), nghĩa là "ngẫu nhiên". Phe Thiên Chúa thì giải thích bằng Thuyết Sáng Tạo (Créationnisme), chủ trương mọi thứ đều do Đấng Sáng Tạo quyết định và tạo tác hết cả. Nó có tính cách "tất định". Mỗi phe đều có lối giải thích và chứng minh riêng của mình. Vì vậy chuyện tranh cãi giữa hai phe "ngẫu nhiên" và "tất định" nó lê thê như là chuyện dài "Nhân Dân Tự Vệ". Đôi lúc nó trở thành hý luận, "chả za nàm thao" cả! Thì thôi, "Bất khả tư nghì", không thể nghĩ bàn được vậy.

Tuy nhiên, nói chung, theo sự quan sát, hiểu biết và tính toán của mình thì hiện nay các khoa học gia nhận thấy rằng chính "ngẫu nhiên" đã chỉ đạo đời sống trên trái đất này và chi phối sự tiến hoá của nó. Một thí dụ: sự chào đời của đứa nhỏ. Trước hết, thí dụ như trong đời sống lứa đôi, cứ 5 năm thì có một đứa nhỏ chào đời. Tính ra có khoảng 60 cái trứng của mẹ và khoảng 100 đến 500 triệu con tinh trùng của cha (tùy theo trên bảo mà dưới nó có nghe hay không) được cung cấp trong thời gian 5 năm này. Cái xác xuất (cơ may) để cho con tinh trùng đó gặp gỡ cái trứng đó để tạo ra đứa nhỏ đó thì nó rất là... phiêu lưu (văn nghệ)! Bởi lẽ đó mà sự thụ thai có tính cách ngẫu nhiên, ngay cả trong trường hợp có sự can thiệp để chọn lựa của con người.


3. Homo "phe ta"

Còn như sự xuất hiện trên địa cầu của giống người hiện đại, homo sapiens, nó cũng có tính cách ngẫu nhiên. Những biến cố xảy ra trên trái đất (động đất, núi lửa, băng tuyết...), điều kiện thời tiết (hạn hán, giông bão...), số lượng thực phẩm kiếm được (rau củ, hoa quả, thú mồi...). Tất cả đều không được định trước, nghĩa là không tất định (trừ phi là theo tín ngưỡng tôn giáo). Nói tóm, thay vì giống homo sapiens, trong những hoàn cảnh khác và điều kiện khác, có thể là giống homo sẽ không bao giờ xuất hiện. Hoặc nếu có đi nữa, thì sẽ là giống homo xyz nào đó sẽ chiếm ưu thế chớ chẳng phải "phe ta". Chẳng hạn như giống homo néandertalensis, cũng một thời nhưng thông minh hơn "phe ta". Thế nhưng, không rõ vì lý do nào đó mà đã tuyệt chủng. Nhường chỗ cho phe ta thừa thắng xông lên và trở thành bạo chúa. Rồi tha hồ mà "quậy" và làm ô nhiễm trái đất như hiện nay. Than ôi! Nếu có một cái giống "homo biết điều" nào đó thắng thế thì dân lành sẽ đỡ khổ biết mấy!

Cho đến sự xuất hiện của muôn loài cũng có tính cách ngẫu nhiên. Đời sống trên trái đất tiến hoá theo hai mô thức: tiệm tiến (từ từ), và đột biến (mutations). Nếu giữ nguyên di sản ADN thì giống nào sinh ra y chang giống nấy. Nhưng đôi khi trong lúc di truyền, ADN bị sao chép sai - giống như làm photocopy mà không được giống hịch như bản chánh. Vì ADN bị sao chép sai nên một giống khác xuất hiện. Và cứ thế... cứ thế... cuối cùng đưa tới tình trạng đa dạng (biodiversité) của đời sống (cho nó đỡ buồn!) như hiện nay. Cái sự kiện "sao chép sai" có tính cách ngẫu nhiên. Khoa học chưa giải thích được minh bạch vì sao. Đại khái, khoa học quan niệm: "Ngẫu nhiên là những gì không thể định trước được". Tuy nhiên, có một điều mà khoa khảo cổ biết chắc là giống primates, tổ tiên chung của giống khỉ và giống người homo đã xuất hiện trên trái đất cách đây khoảng 10 triệu năm. Loài primates sinh ra giống khỉ trước. Sau đó, cách đây khoảng 5 triệu năm, khi sao chép ADN của mình, một loài khỉ vụng về (chimpanzé?) đã lơ đễnh không sao y bản chánh, bởi vậy nên giống người homo mới xuất hiện: ADN của con khỉ chimpanzé và "con khỉ homo" giống nhau tới mức 98%, khoa di truyền đã phân tích kỹ và xác nhận như vậy. Khi biết được điều nầy, con khỉ có "đỉnh cao trí tuệ" (như Hitler chẳng hạn) chắc sẽ giận run cả người. Có biết đâu giống khỉ chimpanzé cũng đang hối hận ngày đêm vì đang bị con cháu mình săn đuổi và diệt chủng khắp nơi trên trái đất. Một gương báo hiếu kỳ lạ, không có trong bộ "Nhị thập tứ hiếu" của Ba Tàu. Đức Khổng Tử mà biết được chắc sẽ buồn năm phút. Ngài sẽ ngửng mặt lên trời khóc ba tiếng cười ba tiếng mà than rằng: "Di hầu nan! Di hầu nan!" "Làm khỉ khó lắm thay! Làm khỉ khó lắm thay!" Tới Hầu VươngTề Thiên đã từng đánh Trời cũng phải khỏ thiết bảng lên đầu mà khóc thét! Mới biết "ham vui một phút, để hận muôn đời!".


4. Khi triết học định nghĩa ngẫu nhiên

Trở lại cái quan niệm của Sartre về hiện hữu và "ngẫu nhiên". Theo Sartre, "Sự hiện diện của hữu thể có tính cách ngẫu nhiên: Hữu thể không có nguyên do, và cũng không có lý do gì để hiện hữu. Hữu thể là phi lý". (Xem trích đoạn dẫn đầu của Bài 1). Nhắc lại cái ý niệm của triết học về "ngẫu nhiên" (theo JV): "Ngẫu nhiên là tất cả những gì cũng có thể khác hơn cái nó đang là, tất cả những gì có thể không hiện hữu, và cũng không có lý do gì để hiện hữu." (Bắt đầu rắc rối cuộc đời! Lần sau xin đại ca làm ơn làm phước "thuyết pháp" giùm cho thiệt là "bình thường... sát mặt đất" cho đàn em nó nhờ. Một cách bình dân: "Muốn nói gì thì nói phứt mẹ nó đi! Bộ hổng được sao? Ở đó mà tả chân tả cẳng hoa lá cành! Ở đó mà "xuyên lá cành trăng lên lều vải"..."

Ý niệm triết học về "ngẫu nhiên" gồm 3 mệnh đề. Thử tìm hiểu từng mệnh đề một cho nó dễ nuốt. Trước hết, sở dĩ có cái vấn đề "ngẫu nhiên" và "phi lý" là do bởi anh chàng Roquentin, một buổi sáng nọ, lần xần bước vô công viên, ngồi lên cái băng ghế (phải gió), và dùng ý thức chiếu rọi cái rễ cây (mắc dịch). Rồi buồn nôn! Vì vậy, nên khảo sát cái trường hợp này (case study!) cho nó cụ thể và dễ thấm nhập (triết học).


5. Rắc rối cuộc đời

Mệnh đề một: "Ngẫu nhiên là tất cả những gì cũng có thể khác hơn cái nó đang là". Hai chữ "có thể" hàm ngụ một giả thuyết, nghĩa là có thể xảy ra hoặc không xảy ra. Một cách cụ thể, "khác hơn cái nó đang là" có thể diễn đạt như sau: "Thay vì là cái rễ cây, cũng có thể là một cái gì khác hơn là cái rễ cây, một cục đá chẳng hạn". (Nhưng chỉ là có thể thôi chớ cũng chưa chắc, quả thiệt là rắc rối hết cỡ nói!). Tuy nhiên, nói "có thể" là nói cái chuyện trước đó, trước khi cái rễ cây xuất hiện. Một khi nó có đó rồi, một khi nó đang là cái rễ cây, thì không còn có thể nào là một cái gì khác hơn được nữa. Khác hơn làm sao được mà khác? Chẳng lẽ cái rễ cây rùng mình biến thành cục đá (như Tôn Ngộ Không?) Cái ý niệm triết học về "ngẫu nhiên" chỗ nầy có hơi khó hiểu. Hay là ý muốn nói: "Không thể tiên đoán được cái vật sẽ xuất hiện ngay tại chỗ đó là cái rễ cây"? Như vậy, cũng có thể hiểu: "Ngẫu nhiên là tất cả những gì không thể tiên đoán trước được". Chẳng hạn như lúc mở một gói quà sinh nhựt (Ô! Surprise!): Món quà có thể là cái rễ cây, nhưng cũng có thể là cục đá! Tuy nhiên, cho dù là cục đá, hay là cái rễ cây, hoặc là "rong rêu sỏi đá" gì đi chăng nữa thì cũng đều là rất là đáng ngạc nhiên trong một bữa sinh nhựt. "Chơi cái kiểu gì mà kỳ dzậy đại ca? Làm cho em nhỏ thất dzọng wá chời!"


6. Ô surprise!

Mệnh đề thứ hai: "Ngẫu nhiên là tất cả những gì có thể không hiện hữu". Cái nầy thì hơi khó đa! Vì hiện hữu thì còn biết được nó là cái gì (là cái rễ cây chẳng hạn), chớ "tất cả những cái có thể không hiện hữu" thì nó minh mông thiên địa, rộng dài mút chỉ cà tha, biết nói làm sao được mà nói (giống như nói tràng giang đại hải về những cái chuyện "không hiện hữu" như sừng thỏ lông rùa, cẳng xoài chưn rắn, cánh khỉ vảy heo, rễ mù cây điếc...) Nói cho tới sáng, nói từ năm này sang năm khác cũng không hết được những chuyện "không hiện hữu". Hơn nữa, chẳng những "không hiện hữu" mà lại còn là "có thể". (Có hiện hữu hay không hiện hữu thì nói phứt mẹ nó đi cho người ta nhờ!) Lại phải tả chưn tả cẳng một cách cụ thể: Mở gói quà sinh nhựt ra (Ô! Surprise!). Thay vì còn có được cái rễ cây (an ủi), đằng này (có thể) không có một cái gì hết ráo! Ngay tới một cục đá (chọi chim) cũng không có. Surprise totale! Ngạc nhiên toàn diện! Bật ngửa! ("Làm sao em biết cục đá không đau?" "Đau bỏ mẹ chớ ở đó mà không đau!").


7. Cũng tại cái định nghĩa

Mệnh đề thứ ba: "Ngẫu nhiên là (cũng) không có lý do gì để hiện hữu"! Xin nhấn mạnh đây chỉ là một định nghĩa. Thường khi định nghĩa phát xuất từ chủ quan, không có giải thích. Vì vậy định nghĩa nào cũng có tính cách giản lược và độc đoán. Định nghĩa như vừa nói đương nhiên tước đoạt quyền hiện hữu của sự vật. Ở đây, Sartre đã dùng định nghĩa của mình như một cái tiểu xảo (astuce) trong lập luận nhằm đi tới cái điều mà mình muốn chứng minh, mà mình muốn kết luận: "Hữu thể là phi lý, ngay từ trong yếu tính của nó".

Thoạt tiên, theo Sartre, đặc tính căn bản của hữu thể là "ngẫu nhiên". Kế đến, dựa trên cái định nghĩa của mình ("ngẫu nhiên" là không có lý do gì để hiện hữu), Sartre suy ra: "Hữu thể không có ý nghĩa, hữu thể vô nghĩa" (vì lẽ nó "ngẫu nhiên" nên nó không có lý do gì để có đó. Nó có đó là vô nghĩa! Lô gíc?). Rồi từ cái vòng "vô nghĩa" này mà đi tới cái kết luận "phi lý" chỉ có một bước. "Tự biên tự diễn" một cách ngoạn mục. Lô gíc không chê vào đâu được. Lẽ ra không cần phải kết luận như vậy. Nó quá thừa!

Tuy nhiên, nếu phản bác và chỉ cho thấy cái định nghĩa "Ngẫu nhiên là không có lý do hiện hữu" tự nó quả thiệt là ngớ ngẩn và sai bét thì cái kết luận "Hữu thể là phi lý" nó cũng ngớ ngẩn và sai bét như vậy thôi.

Sự vật có đó. Nhưng Sartre tuyên bố: "Nó có đó một cách ngẫu nhiên. Do đó nó không có lý do để hiện hữu. Vậy nó phi lý". Giả thử như sau khi ta tuyên bố nó "không có lý do để hiện hữu", bỗng nhiên sự vật xét lại và đâm ra hổ thẹn, bèn bẽn lẽn rón rén rút lui rồi biến mất, không thèm hiện hữu nữa. Một cách nào đó: hiện hữu là phi lý, không hiện hữu là có lý (có ý nghĩa). Cái rễ cây hiện hữu là phi lý. Cái rễ cây không hiện hữu là có ý nghĩa. Nhưng "cái gì" có ý nghĩa? Cái rễ cây biến mất rồi, làm sao "nó" nhận cái ý nghĩa cho được? Nhưng mà bàn chơi cho vui vậy thôi. Vì nếu tất cả mọi hữu thể đều không có "lý do hiện hữu", và nếu theo đúng cái logique đó, tất cả mọi hữu thể đều không hiện hữu, kể cả Sartre, thì đâu còn có gì, và cũng đâu còn có ai để mà nói mà bàn cái khỉ mốc gì nữa. Và bàn để ai nghe? Chẳng lẽ nói chuyện với "đầu gối"? Mà khi đó cũng chẳng còn cái "đầu gối" để mà trò chuyện, vân vân… Xin thỉnh ý các bậc cao kiến. Thôi thôi! Đừng có hý luận nữa. Nhảm!

Cái vấn đề "không có lý do hiện hữu" đã được bàn cãi sâu rộng trong bài 1/ Phần Một. Vấn đề này và ý niệm "ngẫu nhiên" cũng đã được phân tích và lý luận nhân cuộc thám hiểm của Christophe Colomb đi tìm Ấn Độ, mà kết quả lại là khám phá ra Châu Mỹ.

Theo Sartre, "ngẫu nhiên" (contingence) là một đặc tánh (caractéristique) căn bản của hữu thể, cái đặc tánh "không có lý do để hiện hữu". Cái đặc tánh này thuộc về bản chất (nature) của hữu thể. Trong khi đó, theo cách giải thích và cách hiểu của khoa học thì "ngẫu nhiên" chỉ là "cách thức" vận hành (mode opératoire) của sự việc đưa tới một kết quả: "Hữu thể có đó. Nó hiện hữu". Hỏi: "Nó có đó như thế nào?" Đáp: "Nó có đó một cách ngẫu nhiên, không thể đoán trước được". Nhưng "không thể đoán trước được" không có nghĩa là "không có nguyên do và không có lý do".


8. Chàng và nàng: “Love story”

Trở lại các ví dụ ban đầu về “ngẫu nhiên” và “tất định”. Chẳng hạn sự kết thai của hài nhi. Một cách cụ thể, cái nguyên do: chàng và nàng (hoặc theo Lão Tử: âm và dương). Lý do: có thể hôm đó, nhân dịp sinh nhựt hôn lễ, chàng tặng cho nàng một chiếc nhẫn ngọc thạch. Nàng cảm động nên “thưởng” công cho chàng đã lặn suối trèo non, vất vả làm overtime để gom được món tiền lớn mua chiếc nhẫn quý. Rồi lần đó, trong bóng đêm, con tinh trùng đó đã đột nhập cái trứng đó, kết thai thành đứa nhỏ đó. Sự kiện này, theo khoa học, nó có tính cách “ngẫu nhiên”, không thể đoán trước được. Tuy ngẫu nhiên, nhưng mà nó có nguyên do và lý do của nó như đã phân tích. Có điều là ta không thể đoán trước được, thế thôi. Theo Sartre, sự kết thai đã đưa tới sự hiện hữu của đứa nhỏ. Nhưng sự hiện hữu của đứa nhỏ tự bản chất nó là “ngẫu nhiên”, vì thế nó không có lý do gì để hiện hữu (theo định nghĩa). Tuy nhiên, một điều rất hiển nhiên, không thể nào phủ nhận được (ngoại trừ dùng ngụy biện hay “tiểu xảo”): Đứa nhỏ có đó. Nhưng Sartre nhứt định là nó không có lý do để có đó. Sartre từ chối, Sartre tước đoạt quyền hiện hữu của nó. Tại sao? Tại cái “định nghĩa”. Như vậy, quan niệm và định nghĩa của Sartre về “ngẫu nhiên” như vừa nói có hợp lý lắm chăng? Hay là nó có tính cách hàm hồ và độc đoán, mang nặng cảm tính. Hoặc nói xa hơn nữa, nó có dụng ý: đi tới kết luận “Hữu thể là phi lý”. Như vậy, ngẫu nhiên, và hệ quả của nó là phi lý, đã sai lầm ngay từ trong định nghĩa. Như ta thấy, mặc dù đều là “ngẫu nhiên”, nhưng khoa học và triết học đã đi tới hai cách diễn giải và hai cách nhận định hoàn toàn khác biệt nhau, nếu không muốn nói là đối nghịch. Theo khoa học: ngẫu nhiên là không đoán trước được, nhưng nó có nguyên do và có lý do để xảy ra, nó có lý do để có đó, nó có lý do để hiện hữu. Theo triết học/ Sartre: ngẫu nhiên là không có lý do để hiện hữu, tại vì đó là cái định nghĩa. Tuy nhiên, chớ nên quên rằng phủ nhận hiện hữu cũng mặc nhiên là đã công nhận hiện hữu: Hiện hữu phải có đó rồi thì sau đó mới có thể phủ nhận nó được. Bởi lẽ đó, “phủ nhận hiện hữu” là một việc làm hết sức lẩm cẩm, cũng giống như “con kiến mà kiện củ khoai”!


9. Một thuở bạo chúa lên ngôi

Tương tự, thử phân tích sự “lên ngôi” của homo sapiens, thay vì homo néandertalensis. Một trong những giả thuyết: Góc lệch so với trục quay đã khiến cho trái đất vận chuyển khác hơn khi trước so với mặt trời. Vì lẽ đó, đột nhiên vùng cư ngụ của homo néandertalensis nhận ánh sáng mặt trời ít hơn, trở thành lạnh hơn, và do đó thực phẩm trở nên khan hiếm hơn. Trong khi đó, vùng cư ngụ của homo sapiens trở nên ấm áp hơn vì nhận được nhiều ánh sáng mặt trời hơn. Do đó cây cỏ mọc lên nhiều hơn, rừng rú trở nên rộng lớn hơn, thú mồi sinh sản nhiều hơn, homo sapiens chiếm được ưu thế. Thêm nữa, homo néandertalensis có “văn hoá” và hiền lành hơn. Trong khi đó, homo sapiens thô lậu hơn và hiếu chiến hơn (chằn hơn). Cũng bởi những lý do đó mà homo sapiens đã tiêu diệt homo néandertalensis và “lên ngôi” (Than ôi! để tha hồ mà “quậy”!).

Xin lập lại lý luận cho trường hợp của homo sapiens. Theo khoa học, sự xuất hiện và lên ngôi của homo sapiens có tính cách ngẫu nhiên, không đoán trước được, nhưng nó có nguyên do và lý do để xảy ra như vậy: nó có lý do để có đó, nó có lý do để hiện hữu. Nếu ông cứ nhứt định đặt câu hỏi nhớn: “Nó có đó để làm gì?” thì đó là vấn đề của ông. Thứ đến, phải để cho nó hiện hữu và sống cuộc đời của nó. Phải để cho nó thực hiện những gì mà nó dự tính, thì sau đó mới biết được nó có đó để làm gì, mới biết được cái lý do hiện hữu của nó. Khi đặt câu hỏi nhớn là ông đã đặt cái cày trước con trâu. Và khi tuyên bố ngay từ đầu: “Nó không có lý do để hiện hữu” là ông đã tước đoạt cái quyền sống của nó, ông đã ngăn cản ngay từ đầu, không cho nó chứng minh cái lý do hiện hữu của nó trên đời. Một cách ngớ ngẩn và độc đoán! Theo Sartre thì sự xuất hiện và lên ngôi của homo sapiens cũng có tính cách ngẫu nhiên, nhưng lại không có lý do để hiện hữu, bởi tại cái định nghĩa của “ngẫu nhiên” là “không có lý do để hiện hữu”. Homo sapiens không có lý do gì để hiện hữu. Nó phi lý! Homo sapiens không có lý do gì để lên ngôi. Lên ngôi là phi lý! Homo sapiens hiện hữu “ẩu”! Homo sapiens lên ngôi “ẩu”! Một cách nào đó, là tuyên bố: “Homo sapiens có đó là trái phép (phép gì? ai cho?). Homo sapiens không có quyền lên ngôi (quyền gì? ai cho?)”. Tất cả đều là “ẩu tả”. “Khi không” thằng homo sapiens nó hiện hữu. “Khi không” thằng homo sapiens nó lên ngôi, không có nguyên do, không có lý do gì hết ráo! Đả đảo! Đả đảo! Mời bạo chúa xuống ngôi và biến mất lập tức! Hoan hô cách mạng hiện sinh! Đảng phi lý muôn năm!


10. Rồi gió lạnh gặp hơi nước...

Quan niệm về ngẫu nhiên và tất định của khoa học và triết học (Sartre) đã đưa tới hai cách giải thích và nhận định rất khác biệt nhau về sự xuất hiện và sự hiện hữu của sự vật. Nhưng giáo lý đạo Phật quan niệm về vấn đề này ra sao?

Đại để, đạo Phật có hai thuyết Nhân Duyên và Nhân Quả để giải thích các hiện tượng trong Trời Đất. Nó có tính cách định luật, như những định luật vật lý chẳng hạn. Nhân như là nguyên nhân. Duyên như là cơ duyên. Quả như là hệ quả (hoặc kết quả). Sự diễn giải của người viết về đạo Phật có tính cách thô thiển, nhằm chuyển đạt một cách giản dị các ý chính tới những độc giả “bình thường”, chưa có dịp làm quen với Phật học. Vì vậy sẽ có những sơ hở không tránh được.

Để cho lập luận được dễ hiểu, không gì bằng những ẩn dụ cụ thể. Giả dụ như hơi nước là nhân, khí lạnh là duyên. Nhân gặp duyên kết thành mưa, là quả: hiện tượng mưa xuất hiện. Rồi nhân mưa gặp duyên cực lạnh khiến cho hiện tượng tuyết (quả) xuất hiện. Nếu khi đó có duyên gió lớn thổi tới, sẽ làm xuất hiện quả bão tuyết. Đại khái là như vậy. Nó có vẻ “tất định”. Nhưng Phật giáo không dùng từ ngữ “tất định”, và cũng không dùng “ngẫu nhiên” để mô tả sự vận hành của vạn pháp. Mà chỉ dùng Nhân Duyên và Nhân Quả.

Như vậy, đối với nhãn quan của Phật giáo, không có pháp nào là không có nguyên nhân (nhân), và không có lý do (duyên) của nó. Pháp nào cũng có lý do để có đó. Không có pháp nào là phi lý. Đồng quan niệm với khoa học, nhưng đối nghịch với triết học Sartre, vốn quan niệm “ngẫu nhiên” và “phi lý” về sự hiện hữu của sự vật. Nhưng luật Nhân Quả không chỉ áp dụng trong lãnh vực vật chất. Nó áp dụng cho cả đời sống vật chất lẫn tinh thần, nói chung. Nó được thể hiện qua các câu ngạn ngữ như: “Gieo gió thì gặt bão”, “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, vân vân... Khi ta làm một hành động tốt thì ta tạo nghiệp tốt, sau này ta sẽ được hưởng lộc tốt. Nếu ta làm một việc ác thì ta tạo nghiệp xấu, sau này ta sẽ gánh chịu hậu quả xấu. Đại khái là như vậy.


11. Bão tố thổi tới từ cánh bướm...

Nhưng trong đời sống và trong Trời Đất, mọi chuyện không xảy ra giản dị như vậy. Không phải chỉ nhân này, duyên này thì là quả này. Nhân kia, duyên kia thì là quả kia. Hầu hết mọi hiện tượng đều có rất nhiều nhân và nhiều duyên khác nhau. Chẳng hạn như mưa xuất hiện do hơi nước gặp lạnh. Nhưng hơi nước được tạo ra bởi nước biển, sức nóng mặt trời, mây bay, gió thổi đưa đẩy tới địa điểm mưa. Hơi lạnh lại do khí quyển trên cao, hàn nhiệt đến từ không gian, từ địa cực, rồi lại mây bay gió thổi... Do đó, khó lòng mà xác định được tất cả các nhân và tất cả các duyên của một hiện tượng. Hơn nữa, khi nhân tạo ra quả, thì quả này đến lượt mình lại trở thành nhân cho quả kế tiếp, rồi cứ thế mà tiếp tục. Có khi quả trở lại tác động lên cái nhân đã sinh ra nó. Thí dụ như con người làm ô nhiễm môi sinh. Môi sinh ô nhiễm trở lại tác hại trên con người, nhưng đồng thời cũng tác hại trên những kẻ vô can, cỏ cây, thảo mộc, và luôn cả những thế hệ kế tiếp. Khi bị tác hại thì nạn nhân sẽ có phản ứng, và do đó lại gieo nhân, lại tạo quả... Nói ra thì nó vô cùng. Bởi lẽ đó, khó lòng mà xác định được đâu là nhân, đâu là duyên, đâu là quả trong một dây chuyền hiện tượng.

Tuy nhiên, trong đạo Phật lại có thêm một thuyết nữa, đó là Thuyết Tương Tuỳ (interdépendance). Theo thuyết này thì tất cả mọi pháp, muôn vật, muôn loài trong Trời Đất đều tương tác, ảnh hưởng và tuỳ thuận lẫn nhau. Một pháp ảnh hưởng trên vạn pháp. Và ngược lại, vạn pháp cũng ảnh hưởng trên một pháp. Chẳng hạn như trong lòng đại dương, tất cả thực vật, san hô, thảo mộc, rong rêu, tôm cá, sò ốc... đều tuỳ thuộc lẫn nhau và nương tựa lẫn nhau để mà sống. Giống này nuôi giống kia, tạo thành một dây chuyền thực phẩm. Con nhỏ nuôi con lớn. Khi con lớn chết đi thì thân xác nó lại nuôi con nhỏ. Một thí dụ khác: Con người làm nóng địa cầu, khiến cho băng tảng địa cực tan chảy. Sự kiện này ảnh hưởng đến khí hậu và địa dư trái đất. Con người và muôn loài thực vật động vật bị thay đổi môi sinh, có thể đi đến tuyệt chủng. Hiện nay, con người đã ý thức được sự tương tuỳ của mọi loài và mọi hiện tượng, nhưng liệu có đủ sáng suốt, đủ trí huệ (sagesse) để mà sống hoà hợp với thiên nhiên chăng?

Thế giới này giống như là một màng nhện vĩ đại, mà mỗi điểm trên mạng lưới là một pháp. Một điểm rung động thì tất cả mạng lưới cũng rung động theo nhiều ít tuỳ theo xa hay gần. Cũng trong nhãn quan này, khoa học có Thuyết Hỗn Mang (théorie du chaos), chủ trương rằng “tất cả” ảnh hưởng trên “tất cả”, “tất cả” đều tương tác lẫn nhau. Do đó không thể ước tính được hết hệ quả của một tác động nào đó. Vì vậy mà sinh ra hỗn mang. Một hệ quả điển hình trong thuyết này: Cái đập cánh của một con bướm ở trời Đông có thể tạo ra một trận cuồng phong ở trời Tây. Đó là để diễn tả cái tác động dây chuyền của nhân và quả. Và khoa học đã chứng minh được điều đó (than ôi! Một cách thê thảm!): Bom nguyên tử! Khởi đầu chỉ có một nguyên tử uranium bị con người dùng kỹ thuật để xé ra (fission). Rồi tiếp theo là phản ứng dây chuyền: nguyên tử bị xé đến lượt mình xé hai nguyên tử khác. Rồi hai xé bốn, bốn xé tám... đi tới một vụ nổ nguyên tử tàn độc! Ai nấy đều đã rõ, xin miễn bàn.


12. Cửu Long trôi mãi một dòng...

Sở dĩ có sự khó khăn tới mức “không thể” nào xác định được đâu là nhân, đâu là duyên, đâu là quả là do bởi cái tâm chia chẻ, cái tâm phân biệt của ta. Khởi đầu, tất cả chỉ là Một theo trật tự thiên nhiên của Trời Đất. Con người cho đó là hỗn mang. Để khép Trời Đất vào trật tự của mình cho trí tuệ dễ nhận hiểu, con người phân biệt, chia cắt, đặt tên cho sự vật đã bị mình chia cắt. Do đó mà giả danh xuất hiện. Và cái trật tự của con người dựa trên giả danh đó, chính nó là hỗn mang. Đây chỉ là nhận định của người viết. Nó không nhất thiết phản ảnh vũ trụ quan của Phật giáo.

Một khi cái Một đã bị chia chẻ rồi thì các pháp xuất hiện, có cái nầy khác với cái kia, rồi từ đó mà phát xuất vấn đề “đâu là nhân, đâu là duyên, đâu là quả” và “cái nào sinh ra cái nào”? Vũ trụ là một dòng biến dịch liên tục, vô thủy vô chung, không bao giờ ngừng nghỉ. Không có cái gì sinh ra cái gì hết và cũng không có cái gì bị diệt đi. Vũ trụ không ngừng biến đổi. Vạn pháp trong vũ trụ đều vô thường. Giác quan ta không đủ nhạy cảm để ghi nhận những thay đổi trong từng sát na, vì vậy ta có cảm tưởng các pháp đều cố định: có cái nhà, có cái cột đèn, có cái bàn, có cái ghế, có cái ta... tất cả dường như bất biến. Giả thử như ta trân trối ngó mình trong gương giây này qua giây khác, phút này qua phút khác, giờ này qua giờ khác, ta sẽ không thấy mình từ từ già đi chút nào. Tuy nhiên, nếu có một người bạn tình cờ gặp lại ta sau 10 năm, bạn ta chắc chắn sẽ thốt kêu: “Ồ! Sao bây giờ mầy đổi khác quá!” Nghĩa là già hơn, mập hơn, ốm hơn, khỏe mạnh hơn, bết bát hơn...

Lúc từng lúc, ta nhìn ngó quanh ta và ghi nhận (một cách lơ đãng). Sự ghi nhận đó cũng giống như là “ảnh chụp có liền” (kiểu polaroide) trước một cảnh vật, nó chỉ “đúng cho lúc đó”, nó như là một bằng chứng để làm kỷ niệm sau này. Trong đời sống hằng ngày, trí tuệ của ta, ý thức của ta cũng hoạt động như là một cái máy chụp ảnh “lấy liền” vậy thôi. Nó không ngừng bám chặt vào những giả tướng mà nó đinh ninh là không thay đổi. Bởi lẽ đó, khi ta mở miệng nói về một điều gì đó thì trên lý thuyết, nó đã sai rồi. Vì trong khi ta nói, cái điều đó hoặc cái vật đó đã biến đổi thành một cái gì khác, một vật gì khác, dù sự biến đổi rất là tiểu ly.

Nói về bất sinh bất diệt, lấy thí dụ như nước của con sông Cửu Long. Trên dòng Cửu Long, nước của khúc sông Tây Tạng không sinh ra nước của khúc sông Trung Quốc, nước sông Trung Quốc không sinh ra nước sông Ai Lao, nước sông Ai Lao không sinh ra nước sông Cao Miên, nước sông Cao Miên không sinh ra nước sông Việt Nam. Không thể nói nước khúc sông này sinh ra nước khúc sông kia, mà chỉ có thể nói nước khúc sông này biến đổi thành nước khúc sông kia. Rồi sông Cửu Long đổ ra chín cửa biển Thái Bình. Nước biển bốc hơi. Gió đẩy hơi nước, gặp lạnh thành mưa, mưa xuống núi cao Tây Tạng, từ đó phát nguồn sông Cửu Long. Rồi cứ thế mà luân lưu. Như vậy, không có cái gì sinh ra cái gì hết. Và cũng chẳng có cái gì bị mất đi. Chỉ có sự biến dịch của các hiện tượng.

Nói nhân, nói duyên, nói quả là dựa trên cái nhìn phân biệt của thế gian, là dựa trên cái giả danh mà nói. Chớ trong Trời Đất làm gì có sông nào mang tên gì và chảy qua một quốc gia nào đó mang một cái tên chi chi đó. Mọi tên sông, mọi tên quốc gia đều là do con người đặt ra. Do đó đều là giả danh. Một khi đã lột bỏ cái giả danh rồi muốn nói nhân quả, mới biết nói ra làm sao?


13. Khi mặt nạ đã rớt...

Đại dương cũng vậy. Lấy cái trí phân biệt mà ngó thì thấy có xao động không ngừng, có sóng lớn sóng nhỏ, chỗ cao, chỗ thấp, có khói sóng, có bụi nước... Nhưng nếu nhìn đại dương như là Một, không có những cái giả danh tách biệt đang xao động kia, thì thử hỏi làm sao biết được, làm sao nói được giọt nước nào xô đẩy giọt nước nào? Đâu là nhân? Đâu là quả? Tuy nhiên luận là luận như vậy thôi, chớ trong đời sống thường nhựt, không có phân biệt thì không thể sống chung với nhau được. Thí dụ như một bữa nọ, vì không phân biệt, ta bèn cầm nhầm bàn tay ngọc ngà của cô vợ đẹp thằng hàng xóm! Phân biệt, nhưng ý thức rằng sự phân biệt này chỉ có tính cách giả tạo, tạm bợ. Và nhờ đó mà bớt đi được phần nào mê lầm. Ta không còn chấp chặt khư khư là mỗi pháp đều có tướng riêng, đều có tánh riêng. Và TA cũng có một cái “Ngã” bự xộn riêng biệt mà ta bám chặt, binh vực và bảo vệ chết bỏ. Mới biết vì sao trong thế giới con người cứ chiến tranh triền miên: rớ tới cái Ngã của TA là phải bước qua xác chết của TA. Hoặc như bạo chúa, thổi cái Ngã của TA phình lớn đè lên mọi người và bắt mọi người phải sụp lạy cái “Ngã mạn” của mình.

Vạn pháp đều có “tướng không”, và vạn pháp đều vô thường. Hiểu được như vậy thì tránh đi phần nào những hành động tạo ra khổ đau cho người khác, và cho ngay cả chính mình. Do mê lầm và cuồng tín.


14. Ý chính

Tóm lược các ý chính trong phần Hai:

* Khoa học và Phật giáo đồng quan điểm là mọi vật, mọi hiện tượng đều có nguyên do và lý do để xuất hiện và hiện hữu của nó.
* Định nghĩa: “ngẫu nhiên là không có lý do hiện hữu”, và hệ quả của nó: “hữu thể là phi lý” đã sai lầm ngay từ trong định nghĩa.
* Tuyên bố: “Hữu thể là phi lý. Hữu thể không có lý do để hiện hữu” là cướp đoạt ngay từ đầu quyền hiện hữu và quyền sống của hữu thể. Là ngăn cản không cho nó chứng minh cái lý do hiện hữu của nó qua đời sống mà chỉ một mình nó mới có thể thực hiện được.
* Trong vũ trụ, tất cả mọi pháp đều tương tuỳ lẫn nhau.
* Vũ trụ là một dòng biến dịch vô thuỷ vô chung. Không có cái gì sinh ra cái gì hết, và cũng không có cái gì bị diệt đi: Bất sinh bất diệt là tánh của vạn pháp.
* Tất cả vũ trụ là “Toàn Thể” không phân biệt. Con người phân biệt, chia cắt và đặt những cái tên giả cho sự vật. Và cái thế giới dựa trên giả danh đó, chính nó là hỗn mang.
* Một khi lột bỏ cái giả danh rồi thì không thể nói nhân nói duyên, nói nhân nói quả. Nói nhân duyên, nói nhân quả là còn ở trong vòng đối đãi, nhị nguyên.

(Đón đọc bài 3: “Être en soi” – “Être pour soi” / Ý thức - Sắc không - Tướng không – Tánh không)

Bagnolet, ngoại ô Paris, tháng Năm 2008
Nguồn: Tạp chí Tân văn, số 14, tháng 9/2008