30/4/10

Loạt bài phỏng vấn của sinh viên Đại học Berkeley (phần 3)

Loạt bài phỏng vấn của sinh viên Đại học Berkeley (phần 3)
30/04/2010 | 5:49 sáng |
Tác giả: talawas

Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975

Thẻ: phỏng vấn

1. Bài phỏng vấn của Y. Nguyễn

Tôi là Bùi H. Hồi xưa tôi ở miền quê lội dưới bùn cực khổ, chủ yếu được dạy về kiến thức đạo đức giáo dục, tôn trọng người lớn tuổi hơn mình. Tôi trốn miền Bắc vô miền Nam, cha chết khi chiến tranh với Việt cộng, cuộc sống rất cơ cực, khắc nghiệt không tưởng tượng được.

Hồi đó, Mỹ, Nga, Trung cộng giúp Việt Nam với danh nghĩa chống Pháp để giành độc lập. Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin: Đối với người giàu có (bị áp dụng chính sách áp bức) chẳng hạn như bớt 1/3 bơ gạo để quyên góp, sau thành 2/3; người nào trải qua không sống được với cộng sản nên phải ra đi. Hồi đó, người ta vào thành phố bằng đường chính, còn đường nhỏ thì không cho đi. Do kiểm soát chặt chẽ quá nên chỉ có một triệu người ra đi lúc đó. Đời sống rất cực; lúc đó phải có bằng cấp ăn học mới có công ăn việc làm khá. Tôi học hết tiểu học, rồi lên Sài Gòn học junior high school. Hồi đó học ở Việt Nam khó lắm chứ không dễ, phải thi đậu mới được lên lớp trên. Tôi học trường Đại học Phú Thọ, rất khó, 3000 chỉ lấy có 30 người, tôi là một trong 30 người.

Hồi nhỏ tôi hay đọc báo của nhà văn Quyên Di, hiện là giáo sư đại học trường Long Beach dạy về văn học Việt Nam. Tôi đọc từ năm 8 tuổi đến năm hai mươi mấy tuổi. Đọc báo này rất quý và có lợi cho tuổi trẻ. Tôi đọc báo hằng ngày, tiểu thuyết, sách rất nhiều. Hay hay dở tôi đều đọc cả, vì hay hay dở đều có lợi. Đọc cái dở để mình biết mình tránh.

Trước năm 1975, tôi có đọc một quyển sách học làm người. Tôi rất quý quyển sách này. Nhờ nó mà tôi may mắn. Nó giúp cho tôi biết cách sống từ nhỏ; cho đến giờ vẫn còn áp dụng được. Những người ở Mỹ làm chức lớn đều đọc qua quyển này. Nó giúp người ta trau dồi, giúp biết cách suy nghĩ, biết làm sao ăn nói, xử sự. Để đọc quyển này phải có một kiến thức tối thiểu. Hơn nữa phải đọc nhiều lần. Nó dạy mình làm sao biết cách làm cho người khác phục mình, làm cho họ không chê trách mình. Những người làm lớn thường đọc thì mới biết cách điều khiển.

Báo chí thời tôi hồi đó nhiều lắm, tập trung chính ở Sài Gòn, chẳng hạn như Tia sáng, Chính luận, Ngôn luận, Tiếng chuông. Những trang đầu là tin tức chiến tranh khắp nước, tin xây dựng nông thôn, tin về trong nước, rao vặt bán hàng là trang bên trong, rồi tiểu thuyết. Báo chí miền Bắc thì đa số là để kích động dân chúng chống Mỹ cứu nước đánh nhau, chứ không phải văn chương. Nói một cách tổng quát là chỉ đề cao Bác Hồ, chủ nghĩa Mác-Lê, chứ không phải là văn chương tự do.

Tôi thích nhạc hay về cả về âm thanh và nội dung chứ không thiên về một cái gì hết. Đặc biệt tôi thích những bài về quê hương Việt Nam, chẳng hạn như: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi...” (hát). Ca sĩ mà tôi thích nhất là Thái Thanh, với nhiều bài như “Hương cao vô tận,” rồi “Tình ca” do Phạm Duy sáng tác. Thái Thanh có một chất giọng rất đặc biệt. Những bài Thái Thanh hát là những bản nhạc vượt thời gian rất hay, cho đến giờ tôi vẫn thích. Tôi không biết nhiều về nhạc lý, nhưng khi nghe nhạc tôi có thể biết được bản nào có quality hay không. Hồi đó lúc đầu, ca sĩ Khánh Ly rất phổ thông, nhưng chỉ là cao trào nhất thời, chứ không có giá trị mấy. Cho đến sau này thì mới thật sự có vài bản hay của Khánh Ly. Còn có Phương Dung với bài “Con nhạn trắng Gò Công”. Đó là những bản nhạc rất hay mà người khác hát không được. Tài tử văn nghệ lúc đó thì phần lớn về cải lương và rất ít phim ảnh. Hồi đó phim ảnh còn rất yếu, kỹ thuật đóng dở, ví dụ Kiều Trinh, không xuất sắc mấy.

Sau khi tốt nghiệp đại học tôi không phải gia nhập quân đội. Vì bố và ông anh lớn chết, là con trai duy nhất nên tôi được miễn trừ để lấy vợ nối dõi tông đường. Tôi làm trong hãng (nhân sự) lớn, có một chiếc tàu tương đương tàu quốc tế. Nhờ chiếc tàu này mà tôi được đến Mỹ. Lúc đó thời thế thay đổi, mỗi người một số phận. Số tôi rất may vì được đi theo một đoàn tàu trốn ra. Tôi cảm thấy mình là người quá may mắn sung sướng vì không phải đi lính và được làm trong hãng lớn. Đời sống người sĩ quan như tôi lúc đó lương 20/30 ngàn một tháng, không đủ để có một cuộc sống thoải mái (vì phải sống xa gia đình cơ cực thì làm sao mà đủ). Hồi đó, lương người tốt nghiệp đại học tối đa khoảng 25 đến 35 ngàn một tháng. Người dân thường thì lương khoảng 10 ngàn là quá, rất hiếm người có đủ để chi tiêu hay có đời sống gọi là trung bình, trừ những người mua bán hoặc làm cho hãng Mỹ, tiếp xúc với Mỹ, thì mới có tiền.

Đời sống Việt Nam ngày xưa ở miền quê bom đạn ở gần nghe thấy hết. Hồi đó tôi còn nhớ, cách 2 cây số gần nhà, tôi tận mắt chứng kiến cộng sản giết người rất dã man. Bọn chúng đem kiếm ra chặt đầu người ta vào ban đêm, nên ban đêm tôi không dám để cho tụi nó thấy mình có ánh sáng trong nhà. Tôi phải bật đèn dầu rồi che kín lại cho bọn chúng không nhìn thấy để mà học bài. Thời đó đời sống làm lụng khổ cực, tinh thần thì hỗn loạn vì Việt Cộng nằm vùng giết những người xung quanh rất đáng sợ. Ban ngày dưới sự kiểm soát của chính phủ cộng hòa, còn ban đêm cộng sản đến uy hiếp, thành ra ban ngày ai mà theo chính phủ thì đêm đến lại lo sợ cộng sản uy hiếp mình và ngược lại. Đời sống áp bức lo sợ như vậy nên không thể biết những người xung quanh mình là theo người phía nào. Có những người bán tin tức gọi là cán bộ nằm vùng – spy tiếng Mỹ. Con biết người bán tin tức là sao không? Họ là Việt cộng, bí mật báo cáo, tự nhiên đến gõ cửa dẫn người ta đi luôn, hay nhốt tù người ta. Thành ra hồi đó có những người xung quanh nhiều khi ngủ dậy thấy người thân mình đi đâu mất không biết là do vậy.

Hồi nhỏ tôi còn nhớ, lúc đang đi học ở high school, tôi nghe nói có người bị khủng bố cách 2 cây số. Tôi đến nơi chứng kiến tận mắt. Người cộng sản chặt đầu người ta trước mặt mọi người, mổ bụng rồi gài mìn. Người nhà của người chết thấy thương mà lật lên thì người bị lật và người lật đều chết luôn nên ai cũng sợ. Cộng sản bây giờ khác cộng sản 75. Lính Việt cộng hồi xưa không có quần áo mặc, dép cũng không có mà đi.

Tôi kính trọng Ngô Đình Nhu và Tổng thống Ngô Đình Diệm vì hồi đó, khi đánh nhau với Việt cộng, Ngô Đình Diệm đưa ra chính sách Ấp chiến lược. Chính sách này rất hay vì nó tránh Việt cộng trà trộn với quốc gia. Chính sách này gom dân vào một chỗ (giống như chung cư), xung quanh có hàng rào lính canh gác. Vì vậy, người ban đêm mà lảng vảng là biết ngay là cộng sản; ban ngày họ có thể trà trộn được, nhưng ban đêm ai cũng biết ai, nên Việt cộng vô không được. Đây là thời điểm tốt nhất, ông Ngô Đình Diệm rất giỏi. Thật đáng tiếc là về sau người ta hủy bỏ chính sách đó, rất uổng. Sau này, ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Diệm có viết một cuốn sách tên là “Nhân Vị”. Sách này rất hay vì dạy người chỉ huy phải làm sao để có uy tín, để điều khiển được người khác. Ngô Đình Diệm là người tôi nghe được, thấy được, là người đối chọi cộng sản hay nhất. Ông từng đi du học bên ngoài, nhưng khi trở về ông làm lợi cho quốc gia mà không cho bản thân mình.

Vào ngày 28 hay 29 tháng 4 năm 75, tôi còn nhớ lúc đó là dội bom dinh Độc Lập. Đêm đó rất hỗn loạn và tôi lo sợ. Sau ngày đó, đất nước sụp đổ, cộng sản vô, nên mình rất sợ. Một triệu người miền Bắc di cư vào Nam rất sợ. Tôi còn nhớ, cả đêm tôi không ngủ. Tôi trèo lên nóc lầu quan sát tình hình. Máy bay đạn đỏ rực trên trời, tiếng súng nổ khắp nơi. Lúc đó sợ nhưng không biết làm sao.

Đêm trước ngày 30 tháng 4, tôi rất sợ. Tôi không đi đâu vì không ai dám đi trong lúc này. Xong sau thấy người ta bắt đầu đi nhiều nên tôi cũng đi luôn. Tôi đến con đường ra chỗ tàu, lính cản không cho vô (đường biển). Rồi tôi gặp hai người liên lạc sĩ quan hải quân, họ chở tui và gia đình lên tàu. Lúc đó, không còn nhân viên, không có ai làm việc trên tàu, dưới máy có một mình ông engineer, không biết làm sao qua hải cảng được vì tàu lớn mà người quá ít. Tôi là chỉ huy mà phải làm hết. Tôi nói với mấy người trên tàu là các anh phải giúp tôi. Lúc đó ai muốn đi thì đi, không còn luật lệ hay bất cứ cái gì hết. Có một chiếc tàu khác nhỏ hơn tàu tôi, người tràn lên đầy nghẹt, nhưng sau mới biết là tàu bị chết máy. Tàu tôi chở được mười ngàn tấn hàng, lớn quá nên không ai dám lên hết. Lúc đó cảnh sát đóng cổng thương cảng không cho vô, nhưng nếu cho vàng tiền bạc thì họ cho vô nên người ta vô được. Tới nơi rồi cứ đi bừa thôi. Tàu đi chở khoảng 800 người. Chưa rời khỏi hải cảng, trên đường đi ra thì tàu bị bắn. Trái đạn lớn nước vô tàu, nhiều người hoảng sợ nhảy xuống vô bờ. Bắn đến nỗi hư hệ thống ga của tàu. Tôi phải đổi lại hệ thống lái. Sau đó lần hai bị bắn xối xả, may không trúng chỗ người nằm. Đến lần thứ ba tàu bị bắn thì nhà văn Chu Tử, nổi tiếng viết những tiểu thuyết dày về yêu ghét hờn bị bắn trúng. Viên đạn bắn vào tàu trúng vào chỗ ông ấy ngồi. Ông chết trên đường đi tìm tự do.

Sau đó tàu gặp hạm đội của Mỹ, nhưng họ không giúp. Họ ra lệnh mình cứ đi tới Phi Luật Tân. Họ không giúp vì lúc đó có nhiều tàu bè quá, và vì tàu của mình lớn, nên họ nói có khả năng chạy tiếp. Đến nơi thì người trên đảo giúp mang những người bị thương ra khỏi tàu. Cả chết và bị thương là 23 người. Sau đó người ta chở đồ ăn cung cấp cho tàu và giúp mình sửa chữa chỗ hổng trên tàu. Tàu lủng một lỗ khoảng 7 fts. Đến Guam thì ở đó hai tháng, cập vào trại tị nạn ở khoảng một tháng, làm thủ tục rồi đến Mỹ khoảng tháng 7/1975.

Trước đây tôi từng qua Mỹ nên biết đời sống khó vô cùng. Hồi đó tôi biết tiếng Anh nhưng không giỏi. Rồi tôi có quen một người bạn engineer (Mỹ trắng). Ông ta chở tôi về nhà chơi. Tôi bảo ông là thấy đời sống vật chất ở Mỹ sướng, thấy nhiều người đi đây đó như đi Wisconsin. Ông ta mới kể cho tôi nghe là lương kỹ sư 1200$ mà tao phải trả tiền nhà, tiền bảo hiểm xe đủ thứ. Vì vậy nên không dư một đồng nào và cũng không đi đâu được cả. Lúc đó tôi mới cảm thấy đời sống ở Mỹ này rất khó. Mà không chỉ riêng tôi. Trước khi qua đây, nhiều sĩ quan Việt Nam Cộng hòa cũng biết đời sống Mỹ rất khó. Khi mất nước, họ không dám đi mà ở lại chấp nhận đi học tập cải tạo, sống cực khổ trên đất nước quê hương nghèo.

Khi tới Mỹ, tôi nghĩ mình phải cố gắng trau dồi tiếng Anh, học cái căn bản để làm công việc mới. Lúc mới đến, tôi học bằng technician, ở Santa Ana. Sau đó, tôi apply thì nó nhận (resume good). Tôi được nhiều người nhận. Vì có kinh nghiệm, học thức nên tôi vẫn kiếm việc được, dù cuộc sống rất khó khăn. Kiến thức và cố gắng hội nhập là cái cần nhất trong lúc này. Chủ yếu là mình phải chấp nhận. Con có biết chấp nhận là sao không? Chấp nhận nghĩa là bằng lòng với những gì mà mình đang có, nhưng vẫn tiếp tục trau dồi để vương lên. Vấn đề đòi hỏi là ở chỗ thời gian thôi chứ cũng không khó lắm. Vì đi làm cho Mỹ trước 75, biết tiếng Anh căn bản trước rồi nên cũng đỡ. Đa số những người qua đây từng làm cho hãng Mỹ thì ok vì họ biết căn bản.

Kỉ niệm lúc còn nhỏ ở Việt Nam mà tôi nhớ nhất là đi câu, đi thả diều, bắt cá tắm sông. Tôi thích cảnh đẹp đồng bằng sông ngòi Việt Nam, con người Việt Nam. Con người rất hiền lành chất phác dễ thương. Họ nghèo và an phận với cuộc sống của họ. Tôi còn nhớ lần đó tôi trèo lên hái trái bưởi làm bể đồ nhà người ta. Ông chủ nhà nói thôi nó đã cũ rồi, có bể cũng không sao hết con. Tôi có đưa tiền đền nhưng họ không nhận.

Kể từ khi rời đất nước, tôi trở về Việt Nam lần đầu là năm 1995. Tôi về thăm người thân, nhưng lúc tôi về thì mẹ mất rồi, tôi chỉ còn cháu và anh em ở Việt Nam. Trở về thăm, tôi thấy những gia đình sống ở Việt Nam còn quá nghèo. Sau đó, lần cuối cùng là năm 2005 tôi về thăm gia đình. Sau khi tôi về thì người chú mất. Tôi về Việt Nam, hài lòng là thăm được người thân yêu nhưng rất buồn vì thấy đời sống ở bển còn cơ cực. Tôi mơ ước kỉ niệm, đi tìm kỉ niệm, nhưng lúc về Việt Nam thì nó không còn nữa. Sông ngòi ô nhiễm, bị tàn phá trụi lủi.

Theo tôi, con người, xã hội và đời sống ở Việt Nam có hai nhóm người chính. Nhóm người buôn bán thì giàu. Tiền lương trung bình người có trình độ đại học là 100 đô la một tháng, tức 30 đồng một ngày. Hầu hết người ta không có công ăn việc làm. Lương giáo sư có 600 ngàn thì sao mà sống. Có một điều khi trở về thì tôi không thấy sự khác biệt giữa cộng sản và không cộng sản như trước kia trên thành phố Sài Gòn. Mình không làm gì thì họ không động tới mình. Nhưng chính quyền cộng sản vẫn hiện diện và dân chúng vẫn nghèo khổ.

Tôi thấy chỉ về Việt Nam chơi chứ không thể sống. Lý do là vì thực tế y tế; tôi sợ y tế Việt Nam không bảo đảm, kiến thức con người còn thiếu thốn, dụng cụ văn minh tối tân mua về nhưng chưa chắc đã biết sử dụng. Hơn nữa, đời sống xung quanh cực khổ. Là người có đạo đức, mình không thể về đó sống sung sướng trong khi những người xung quanh còn khổ được. Sống ở đây rất là enjoy, lạnh có heat, nóng có máy lạnh, có phương tiện di chuyển. Về Việt Nam, ra Vũng Tàu gần vậy mà đi phải đi tới 4 tiếng đồng hồ, đường phố chật hẹp, không thể nào sống nổi. Đa số những người tôi biết về Việt Nam sống, có người ở được 2 tháng, có người 6 tháng, hoặc nhiều lắm là 8 tháng, chưa ai vượt quá một năm mà sống được. Người thích về Việt Nam là người làm ăn, hoặc có tiền bạc thích sống kiểu thuê người làm, hoặc không có công ăn việc làm ở đây thì mới về Việt Nam.

Nhận xét của người phỏng vấn

Khi bắt đầu trả lời phỏng vấn, bác H. nói “ngày xưa chủ yếu dạy về kiến thức đạo đức giáo dục.” Câu nói của bác làm tôi nhớ đến những điều vừa học trong thời gian qua. Văn học Việt Nam đặt nặng về đạo đức giáo dục, dạy cho người ta cách làm người, nên nó ăn sâu vào suy nghĩ và hành vi của cả một đời người từ lúc thơ ấu cho đến khi trưởng thành. Bác H. là một minh chứng sống của ảnh hưởng đó. Bác nói về một cuốn sách “dạy làm người” mà bác trân trọng và quý, cho đến bây giờ bác vẫn còn đọc lại, vẫn còn thấy được giá trị của quyển sách này trong đời sống thực của mình. Ngoài ra, khi nói chuyện với bác, tôi có cảm giác rất cảm thông và hiểu tâm trạng của bác khi bác kể về thời thơ ấu của mình lúc di cư vào Nam. Nghe bác nói, “cuộc sống tôi rất cực khổ… con không tưởng tượng được…”, tôi nhớ tới nhân vật Xuân trong “Tiếng đàn” của Hoàng Đạo. Xuân luôn có mặc cảm, có cảm giác xa lạ như đang đứng trên một đất nước khác trong chuyến đi của mình đến Huế. Đó là tâm lý chung của người miền Bắc khi đặt chân lên một miền đất mới. Cuộc sống và tuổi trẻ của bác H. bắt đầu bằng sự lập nghiệp ở miền Nam xa lạ, một hành trình đầy gian khổ, gắn liền với những sự kiện bất ổn của chiến tranh. Cuộc trò chuyện với bác H. giúp tôi thấy cuộc sống của mình rất may mắn hơn những người thế hệ trước đây vì họ phải trải qua bao thử thách lớn, lâm vào tình cảnh là người rời bỏ quê hương của mình để có thể tìm đến một cuộc sống tự do nơi đất Mỹ.

2. Bài phỏng vấn của M. Berry

Tôi tên là Nguyễn M.T., được 62 tuổi. Tôi sinh ở Sài Gòn, lúc nhỏ tôi đi học ở tiểu học và trung học, sau đó tôi đi lính. Thời nhỏ tôi muốn trở thành bác sĩ, nhưng sau khi học hết trung học, tôi phải nhập ngũ, vào quân đội. Sau đó tôi chuyển qua không quân, cho nên không có dịp học y khoa.

Tôi đọc báo nhiều hơn đọc sách và thích báo về chính trị nhiều hơn, chẳng hạn báo Độc lập. Khi đọc sách, tôi đọc về lịch sử, truyện cười, tình yêu, tình cảm, và lãng mạn. Tôi hâm mộ các nhân vật lịch sử như Trần Hưng Đạo, Quang Trung, và Lý Thường Kiệt. Tôi thích những bài hát của Trịnh Công Sơn – như Diễm xưa, Cát bụi, và Mưa hồng, thích các ca sỹ Khánh Ly và Lệ Thu. Tôi cũng thích những loại nhạc khác như nhạc tình cảm, nhạc trẻ, và nhạc Tây như Beatles và ABBA.

Tôi làm máy bay vận tải. Khi trên trời, tôi chụp hình và thả pháo sáng. Thời đó tôi đã lập gia đình, có một con gái, nhưng đời sống chật vật khó khăn và lương lậu ít ỏi. Đời sống ở Việt Nam trước 1975 đa số dễ dàng; mọi người được tự do đi lại, rất thoải mái, có nhiều cơ hội. Họ có quyền phê bình chính phủ.

Ngày 30/4/75, tôi ở căn cứ U Tapao ở Thái Lan. Lúc đó tôi có cảm giác mất mát, hoang mang, mụ mị, không biết đất nước như thế nào, không biết đi đâu, không biết tương lai về đâu. Tôi ở Thái Lan khoảng một tuần, đi máy bay đến Guam, sau đó từ Guam đến Mỹ bằng máy bay. Chính phủ Mỹ cho tôi đến Doanh trại Chafee, tiểu bang Arkansas. Tôi ở đó một tháng. Rồi tôi với gia đình chuyển sang sống ở tiểu bang Maryland. Tôi phải bảo trợ họ từ Pháp sang. Tôi đi làm bồi bàn và đồng thời đi học về máy tính để trở thành một kỹ sư phần mềm. Vào năm 1977, chúng tôi đi Washington DC và sống ở tiểu bang Virginia năm năm, rồi năm 1980 chuyển sang tiểu bang California. Chúng tôi sống ở Riverside hai năm, lúc đó tôi làm kỹ sư máy tính cho Siêu thị Brothers. Từ năm 1984, chúng tôi chuyển tới San Jose. Tôi làm kỹ sư máy tính cho công ty National Semiconductor.

Sống ở Mỹ, tôi nhớ tất cả mọi thứ, cuộc sống hàng ngày, đồ ăn, lối sống, sinh quán, đường phố, nhà cửa, bạn bè, người thân. Tôi cũng thường nhớ thời thơ ấu và thời lớn lên. Nhưng sau một thời gian hơi dài thì tôi thấy mình đã hội nhập được. Tôi học về văn hóa của người Mỹ bằng cách đi làm. Mới đầu, tôi thấy khó tiếp xúc. Nhưng dần dần tôi bắt đầu làm bạn với người Mỹ, tìm hiểu về các môn thể thao, âm nhạc, vân vân. Khía cạnh khó khăn nhất là ngôn ngữ. Nhưng bây giờ tôi cảm giác nước Mỹ là quê hương thứ hai của mình.

Kể từ khi rời Việt Nam, tôi đã trở lại rất nhiều lần rồi. Gần như năm nào tôi cũng về. Lần đầu tôi về (sau khi miền Nam thất thủ) là năm 1991 khi ông cụ mất, và phải về để cúng bái. Tôi thấy chế độ của chính quyền hiện tại rất ràng buộc, không có tự do cá nhân như ngày xưa, dân nghèo hơn, đa số không có dịp học nhiều, người địa phương có vẻ thận trọng, đắn đo lời nói hoặc là không được nói, không được phát biểu quan điểm. Khi phát biểu ý kiến, họ rất cẩn thận.

Trong tương lai, tôi hy vọng Việt Nam sẽ được có tự do nhiều hơn và người dân giàu có hơn. Tôi nghĩ tự do quan trọng hơn giàu có. Theo tôi, tự do làm nước giàu có và may mắn hơn. Tôi lo sợ trong tương lai thế hệ trẻ không có giáo dục, không học hỏi nhiều. So với cách đây 30 năm, bây giờ văn hóa Việt Nam đang cải thiện đến một mức độ tốt hơn. Tuy nhiên, thế hệ trẻ cần học nhiều, học tiếng Anh, học lịch sử độc lập, học về nước Tàu, nước Pháp, học về một ngàn năm độc lập của Việt Nam. Độc lập là quan trọng vô cùng. Họ phải học về lịch sử, văn hóa, truyền thống, hiếu nghĩa, trọng nghĩa. Bây giờ Việt Nam thay đổi nhiều quá, trộn văn hóa ngoại quốc nhiều quá, giống như Hàn Quốc. Thế hệ trẻ cho rằng họ rất tinh vi, nhưng họ thật sự tham lam. Họ cố gắng để làm giàu mà không cần học tập, họ kết hôn với người nước ngoài để làm giàu, nó thật sự là buồn.

Nhận xét của người phỏng vấn

Tôi luôn ngạc nhiên bởi sự kiên cường và những cống hiến của thế hệ trước. Thế hệ này trải qua chiến tranh, tị nạn, đói nghèo, khủng bố chính trị, và tái định cư tại nước ngoài, nhưng họ vẫn kiên trì và tạo ra cuộc sống mới. Nhiều người làm như vậy mà không trở nên cay đắng hay nuôi ác tâm. Ngược lại, tôi nghĩ họ là một nhóm người giàu lòng từ thiện, vui vẻ, và trung thực. Mất quê hương và khởi động lại ở nước ngoài là một việc cực kỳ khó khăn. Tôi nghĩ rằng hầu hết người Mỹ không thể làm điều đó.

Tôi đồng ý với nhiều lo ngại của thế hệ lớn về thế hệ trẻ. Phải biết lịch sử mới hiểu được bản sắc riêng của mình. Việc theo đuổi tiền tài mà không cần xem xét đến khía cạnh đạo đức sẽ dẫn đến thảm họa xã hội và thất bại cá nhân. Tôi hy vọng mình có thể giúp thế hệ lớn kể những câu chuyện của họ để giúp thế hệ trẻ hiểu được tầm quan trọng của độc lập, tự do, và hòa bình. Người Việt thường nhiều hy vọng và lạc quan. Trong khi họ hiểu được nỗi buồn qua âm nhạc, thơ, và văn học, họ vẫn tin rằng tương lai có thể tiếp tục cải thiện. Qua sự kết hợp giữa kiến thức và hy vọng đó, tôi cảm thấy rằng thế hệ người Việt đi trước thực sự có những điều để giảng dạy toàn bộ thế giới. Họ là hiện thân của những bài học lịch sử. Tôi thực sự may mắn được biết những người thuộc thế hệ này của Việt Nam.

3. Bài phỏng vấn của M. Nguyễn

Tôi tên Hà L., sinh năm 1953 tại Huế, Việt Nam, là con thứ 9 trong một gia đình có 15 người con. Gia đình tôi thuộc loại dân nghèo thành thị. Cha tôi làm công chức, lái xe ở ti công chánh thị xã. Mẹ tôi ở nhà chăm sóc con cái. Cả 15 anh em đều được đi học. Hồi nhỏ tôi vừa đi học, vừa đi quét rác và lượm củi giúp gia đình. Anh em tôi đến tuổi thì vào Qui Nhơn đi làm thuê và đi học trong đó. Cha tôi mất sớm, nên gia đình khó khăn hơn lúc trước. Mẹ tôi phải đi làm thuê kiếm từng bữa qua ngày, may mắn là cũng nuôi lớn mấy anh em tôi. Năm 1964, một số anh em tôi qua đời vì bị bệnh đậu mùa. Một số khác qua đời vì đạn lạc và mìn. Gia đình tôi chỉ còn lại 9 người.

Khi lên 7, tôi vào học trường tiểu học Nam Giao. Sau khi thi đậu đệ thất, tôi được học trường trung học Đồng Khánh ở Huế từ lớp 6-12. Tới năm 1973, tôi thi vào trường sư phạm Qui Nhơn. Học ở đó được một năm rưỡi thì giải phóng miền Nam, tôi phải chạy loạn vào Sài Gòn.

Tôi sống trong thời chiến giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa và cộng sản. Cả gia đình tôi về mặt vật chất hơi thiếu thốn, nhưng cuộc sống khá ổn định. Các anh em trai của tôi đến 12, 13 tuổi được gởi vào Qui Nhơn, vào nhà bà con làm thuê và giúp việc. Còn chị em gái tôi đến tuổi thì vào Qui Nhơn học. Khoảng thời gian còn nhỏ, tôi hay nghe tin những người lính tử trận khắp nơi, dần dần tôi được chứng kiến cảnh họ chết ngay trước nhà. Cảm giác khá hinh hãi, nhưng dần tôi cũng ý thức được đó là chiến tranh. Tiếng bom mìn dần trở thành một thứ âm thanh tôi nghe thường xuyên. Những lúc chiều đến, mỗi khi nghe tiếng còi Thiếu Quân Lục hú, ai ai cũng hối hả chạy về nhà trốn trong hầm. Mỗi lần như thế, thêm tiếng đạn cannon bắn, tôi sợ ghê lắm. Xuân Mậu Thân 1968, cộng sản tấn công Huế làm cả nhà tôi tan tác. Gia đình tôi phải chạy vào trường trốn. Một tháng sau cuộc công kích, tôi trở lại nhà và phải chứng kiến cảnh một số người thân và láng giềng bị chôn sống trên đồi. Thêm vào đó là cái chết của ông hàng xóm. Ổng là lính xây dựng nông thôn, bị Việt cộng giết trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Tôi nhớ sáng sớm nghe tiếng cả nhà ổng khóc thảm thiết, chạy qua coi mới thấy xác ông nằm trong nhà, đầu bị bôi vôi trắng toát. Phải chứng kiến những cảnh như vậy làm cho tinh thần tôi bị chấn thương. Tôi sống trong sợ sệt, đặc biệt là khi đêm xuống, tôi cứ nghĩ tới chuyện Việt cộng về. Tôi không hình dung ra Việt cộng là ai, cứ tưởng họ là người rừng, không biết họ sẽ giết ai, không biết khi nào sẽ đến phiên gia đình tôi bị giết cảnh cáo như ông lính xây dựng nông thôn kia. Khi lớn lên vào Qui Nhơn học, tôi cũng không dám đi xe về thăm nhà vì sợ bị Việt cộng phục kích, cho xe nổ mìn. Cuộc sống kinh hoàng của tôi kéo dài cho đến năm 1975.

Xã hội miền Nam trước 1975 rất quan trọng việc học. Trẻ em đều được đến trường mà không phải nộp lệ phí. Tất cả mọi người dân đời sống nghèo khổ và phải lao động khá vất vả. Con nít ngoài việc học còn phải phụ gia đình đi làm thêm hoặc đi xa nhà làm thuê nuôi gia đình (như các anh em tôi). Còn con trai đến tuổi quân dịch, nếu thi hỏng tú tài bán phần hay toàn phần thì phải nhập ngũ, ngoại trừ những gia đình chỉ có một người con trai thì được miễn. Còn về xã hội, tôi nhớ có một khoảng thời gian gọi là Gia đình trị (hình như năm 1963). Lúc đó toàn quyền lãnh đạo đều nằm trong tay gia đình Ngô Đình Diệm. Tôi nhớ họ đàn áp đạo Phật ghê lắm. Gia đình tôi ở trong xóm chùa nên có lúc nghe những thầy trong chùa mang nồi chảo ra đánh, khuyến khích mọi người mang bàn thờ ra để ngoài đường, mục đích là biểu tình chống đối những chính sách của Diệm.

Tôi hay đọc những tiểu thuyết lãng mạn của Nhật Tiến, Nhã Ca, truyện Tuổi Hoa, hoặc những truyện dịch của nước ngoài như Hàm cá mập, Ngư ông và biển cả, Tiếng chim hót trong bụi mận gai, Đồi gió hú, v.v… Tôi thích nghe nhạc tiền chiến (“Lá thư”, “Mộng dưới hoa”, “Đưa em đi tìm động hoa vàng”) và các nhạc phẩm phản chiến của Trịnh Công Sơn, thích ca sĩ Thái Thanh và Khánh Ly.

Ngày 30/4/75, tôi đang ở Sài Gòn (đi di tản) và tạm trú ở nhà người bà con xa. Cảm giác của tôi lúc đó rất sợ hãi và cảm thấy bế tắc. Không có anh em, không cha mẹ, tình cảnh loạn lạc, tôi sợ không biết có bao giờ gặp lại được người thân nữa hay không. Cảm giác vô cùng hoang mang và lạc lõng. Tôi không biết tương lai mình sẽ ra sao khi quân giải phóng đến Sài Gòn vì việc học của tôi đang bị bỏ lỡ. Chính quyền mới lên cai trị thì tôi chắc chắn rằng hệ thống, cơ cấu giáo dục sẽ bị thay đổi ít nhiều. Mà không có học, không có bằng cấp thì tôi không biết phải làm gì để nuôi bản thân và gia đình. Tôi cũng không biết làm cách nào để trở lại Huế và sự an nguy của gia đình ở ngoài đó tôi cũng còn chưa biết ra sao.

Sau 30/4, tôi tìm mọi cách trở lại Qui Nhơn vào lại trường cũ để xin học rồi lấy bằng ra trường. Nhưng nhà trường lúc ấy có thông báo là không nhận và bắt tôi trở về quê quán nếu muốn học tiếp. Sau khi trở về Huế, tôi nộp đơn vào trường sư phạm để tiếp tục học. Ở trường sư phạm, người ta bắt tôi phải vừa đi thực tập ở những trường tiểu học vạn đò, vừa phải đi học chính trị. Học xong họ mới cấp bằng cho tôi tốt nghiệp. Có bằng cấp rồi, họ điều tôi về các vùng ven, xa nhà mấy chục cây số để dạy. Tôi dạy được mười năm thì nghỉ để lo việc gia đình, và tiếp tục ở nhà lo việc bếp núc cho đến khi sang Mỹ.

Tôi sang Mỹ năm 2004 bằng máy bay. Khi nhận được giấy phỏng vấn, tôi tràn trề hi vọng được đổi đời và được thoát khỏi chế độ khắc nghiệt. Tôi mua vé vào Sài Gòn 10 ngày trước khi đi vì tôi mong được đi lắm, cộng thêm niềm vui vì được đi cả nhà và được đoàn tụ với gia đình anh em bên kia. Khi tới Mỹ thì tôi lại thấy lo và lạc lõng vì không biết tiếng và không biết lúc nào có thể hội nhập được với đời sống mới. Tôi cũng rất lo vì không biết phải làm gì để nuôi sống gia đình, ngay đến chuyện ăn ở cũng không biết (mặc dù em tôi có thể lo chỗ ở, nhưng bản thân tôi muốn được tự túc lo cho cả gia đình mình).

Sang đây, chồng tôi đi làm, con cái đi học, bản thân tôi thì ở nhà lo việc nội trợ. Ban đêm tôi có đi học thêm ESL, mục đích là để phần nào hòa nhập với cuộc sống ở đây nhanh hơn. Buổi đầu thì cũng không thấy hội nhập hoàn toàn vì tôi còn bỡ ngỡ về tiếng nói, xã hội, con người. Ra đường tôi không nói chuyện được với ai, nên gặp khó khăn nhiều khi đi mua sắm hoặc khi muốn giao tiếp với người nước ngoài. Truyền thống và văn hóa ở đây khác so với Việt Nam, nên tôi chưa quen với những phong tục hay cách ăn mặc và ứng xử. Vì tôi cũng đứng tuổi rồi nên phải một thời gian dài sau tôi mới bắt đầu quen dần với đời sống ở đây.

Sang Mỹ, tôi nhớ về những kỉ niệm thời thơ ấu, nhớ nơi mình sinh ra và lớn lên, nhớ những thời gian làm lụng cực khổ. Hầu như đêm nào tôi cũng theo dõi tin tức ở Việt Nam, từ kinh tế đến đời sống, xã hội từ những website trên mạng. Tôi cũng hay đọc báo do cộng đồng người Việt ở Mỹ xuất bản.

Đời sống của người Việt ở Mỹ cao hơn và đầy đủ hơn người trong nước về mọi mặt. Ví dụ như sức khỏe. Ở Mỹ, những người income thấp sẽ có chương trình Medicare giúp đỡ tiền bảo hiểm sức khỏe. Nếu không đủ ăn thì có food stamps hay là những chương trình tài trợ ở nhà thờ hoặc những tổ chức từ thiện. Ở Việt Nam thì những điều này hầu như không có. Ở Mỹ, tôi được tự do phát biểu ý kiến qua những hệ thống truyền thông như báo chí, truyền hình. Còn ở Việt Nam, cuộc sống của nhân dân bị bưng bít quá nhiều nên đời sống tinh thần không được thoải mái bằng cuộc sống ở đây. Ở đây, người ta có thể tự do biểu tình chống đối một đảng phái chính trị (như cuộc biểu tình quan chức nhà nước Việt Nam sang thăm viếng) mà không bị đi tù. Người ta có thể đứng ngoài đường cầm cờ, bảng hiệu, hô hò để phát biểu ý kiến mà vẫn được cho phép. Trong khi đó nếu ở Việt Nam, những chuyện như thế này đều bị cấm đoán.

Tôi thích thay đổi chế độ cộng sản thành chế độ tự do. Tôi thấy nếu thay đổi được chế độ thì xã hội Việt Nam sẽ rất văn minh và tiến bộ. Tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ không thua gì các nước như Thái Lan hay Nhật Bản. Tôi thấy hồi xưa Thái Lan không bằng Việt Nam, nhưng vì chế độ cộng sản vào sau năm 1975, Việt Nam không được phát triển nhiều nên bây giờ thua rất nhiều nước trên thế giới.

Ở Việt Nam bây giờ, dân quyền, nhân quyền, tự do ngôn luận không được tôn trọng. Tệ nạn xã hội càng ngày càng tăng. Mặc dù vậy, đời sống so với trước năm 75 được nâng cao nhiều, có phần tiến bộ hơn. Hiện nay, tôi thấy Việt Nam có nhiều nhà cao tầng, khách sạn, xe cộ đi lại đông hơn. Đồng thời du lịch phát triển mạnh nên Việt Nam bây giờ được biết đến nhiều hơn so với những năm về trước.

Nhận xét của người phỏng vấn

Qua những gì được nghe kể trong cuộc phỏng vấn, tôi thấy rằng những người lớn lên trong chiến tranh thường bị tổn thương nặng về mặt tâm lí vì phải chứng kiến chết chóc và mất mát nhiều trong gia đình và xã hội. Từ đó, họ đâm ra thù ghét và muốn đổ lỗi cho một phe phái nào đó, và trong trường hợp này là quân đội giải phóng (Việt cộng). Khi nghe mẹ kể những câu chuyện về Tết Mậu Thân, tôi thấy sự thật rất trái ngược với những gì học trong lịch sử Việt Nam. Mặc dù khi mới định cư sang Mỹ, thấy thái độ của người Việt ở đây rất khác với những người ở Việt Nam, tôi chưa hiểu rõ nguyên do của sự khác biệt này. Bây giờ nhờ cuộc phỏng vấn này, tôi mới hiểu ra được vấn đề. Cộng đồng người Việt ở đây rất đoàn kết và phát triển (về mặt văn hóa và tuyên truyền), nhưng vẫn có một số mặt không được tích cực. Qua lời kể và quan sát thì người Việt ở đây sống khá hoài cổ. Họ chỉ sống trong quá khứ, luôn hướng về những hoài niệm chiến tranh, vẫn mang lòng thù hận, vẫn luôn đi biểu tình phản kháng chế độ cộng sản. Tôi cho rằng không có gì sai khi kỉ niệm hoặc tưởng nhớ những ngày lễ, nhưng thay vì tiếp tục đăng các bài báo chỉ trích hoặc liên tục đi biểu tình phản đối cộng sản ở Mỹ, người Việt có thể sống thoải mái hơn nếu họ nhận thức được rằng sống trong kí ức xấu của chiến tranh không bao giờ thay đổi được quá khứ.

Về mặt con người và xã hội, ảnh hưởng của phong trào lãng mạn được thấy rõ qua những tiểu thuyết và tác phẩm văn học mà mẹ tôi đọc trong khoảng thời gian trước. Sự du nhập của truyện nước ngoài và truyện dịch vào thời điểm này rất lớn (đặc biệt là của những nhà văn Mỹ, phải chăng là vì chiến tranh có sự tham gia của quân đội Mỹ?). Những tác phẩm văn thơ tiền chiến được phổ nhạc cũng khá phổ biến trong giới thanh niên thời đó. Về mặt đời sống, hoàn cảnh gia đình vẫn rất nghèo, và truyền thống phong kiến về vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng chưa được thay đổi nhiều. Bà ngoại tôi, trước khi chồng mất, đảm nhận công việc nội trợ và phó thác việc xã hội cho chồng. Chỉ sau khi ông mất, vì hoàn cảnh túng quẫn và còn con nhỏ, bà mới đi làm thêm để nuôi gia đình. Mẹ tôi, mặc dù được đi học, nhưng bà cuối cùng cũng phải ở nhà để lo việc gia đình, chỉ phụ thuộc vào ba tôi. Ngay khi qua đến Mỹ rồi, được sống ở một xã hội văn minh và hiện đại hơn nhiều, vai trò truyền thống này vẫn không được thay đổi.

© 2010 talawas

Loạt bài phỏng vấn của sinh viên Đại học Berkeley (phần cuối)

Loạt bài phỏng vấn của sinh viên Đại học Berkeley (phần cuối)
30/04/2010 | 4:27 chiều | 1 phản hồi

Tác giả: talawas

Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975
Thẻ: phỏng vấn

1. Bài phỏng vấn của Tăng D.

Tôi là Nguyễn Đ., sinh năm 1935 tại thôn L. Q., huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cha làm thầy giáo tiểu học, mẹ thì làm ruộng; cuộc sống cũng đủ ăn qua ngày. Trước 10 tuổi, tôi chỉ có chơi với học thôi, nhưng tới 10 tuổi thì bắt đầu cực. Sau năm 1945 thì rất vất vả. Cực là vì sao? Tại chiến tranh đó. Pháp đánh vào vùng chính, nên chính phủ thời đó đưa dân tản cư vô trong núi, ở thị xã Hà Lam, quận Thăng Bình. Lúc đó gia đình không còn gì hết, học hành cũng bị gián đoạn luôn. Mới đầu còn nhỏ nhỏ thì đi mót khoai, mót sắn, hoặc là mót lúa. Lớn lên được 13, 14 tuổi thì đi đốn củi, hái rau, bắt ốc. Cứ như vậy mà sống qua ngày cho đến khi hòa bình lập lại thì về quê, năm đó là 1955.

Lúc 18, 19 tuổi thì tôi có nhiều người theo tán rồi, nhưng mà chưa dính anh nào hết. Chồng tôi lúc đó làm việc cùng một chỗ ngân hàng với cha tôi nên mới làm quen. Ông tán bố trước rồi mới tán con… ta nói đi đường tắt mà. Tới năm 1955, tôi được 20 tuổi thì cưới chồng, sau đó về quê chồng ở Duy Xuyên làm ruộng, chằm nón. Đến năm 1960 thì hai vợ chồng chuyển xuống Hội An. Chồng làm hạ sỹ quan tài chánh. Năm 1962, tôi mua nhà rồi mở tiệm buôn bán hàng tạp hóa. Tới năm 1970 thì chuyển qua buôn gạo. Lúc đầu chỉ buôn nhỏ, nhưng sau thì làm lên thành đại bài. Tôi mua gạo ở công ty ngoài Đà Nẵng rồi bán lại ở Hội An. Làm ăn cũng khá giả cho đến 1975 thì sụp tiệm.

Đời sống của người dân trước 1975 dưới quyền ông Diệm hay ông Thiệu thì cũng bình thường. Người dân tự do buôn bán, rất thịnh vượng, không bị trở ngại nhiều. Dân chúng làm ăn vui vẻ, thoải mái. Hội An thuộc trung tâm của tỉnh Quảng Nam nên ít bị bom đạn, còn mấy vùng thôn quê thì chịu ảnh hưởng của chiến tranh nên cuộc sống cũng vất vả hơn, đất đai trồng trọt hiếm hoi.

Thời đó tôi chỉ lo đi buôn kiếm tiền nuôi gia đình thôi nên không có thời giờ đọc sách. Chữ nghĩa thì ít, học chưa hết tiểu học thì phải đi tản cư rồi, vô núi thì trường lấy đâu ra mà học. Rảnh rỗi thì ngồi đọc mấy tờ Phụ nữ mới . Đặc biệt có mục “Đời không có áo cưới” rất hay, tội nghiệp lắm, kể về nhiều cuộc đời bị dang dở, khổ cực lắm. Tin tức thì tôi thường nghe người ta truyền miệng khi ra đi buôn, hoặc nghe chồng nói sơ vậy thôi.

Hồi đó tôi ham coi hát cải lương, hát bội, rồi kịch nữa. Cải lương thì có Minh Phụng, Lệ Thủy, rồi Thanh Sang, Mỹ Châu; hát bội thì có Thanh Bạch, Thanh Tòng; kịch nói thì có Túy Hồng, Kim Cương, và La Thoại Tân. Tôi thích coi mấy người đó nhất. Tác giả thì chỉ có đọc sách nhiều mới biết; tôi không đọc nên cũng chẳng biết nhiều. Ca nhạc thì có Hùng Cường với Mai Lệ Huyền. Hai người hát bài “Đám cưới nhà binh” và “Túp lều lý tưởng”… một túp lều tranh hai trái tim vàng đó. Chế Linh thì hát bài “Đồi tím hoa sim.” Còn “Lan và Điệp” nữa. Những bài đó hay.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi ở nhà ở Hội An; khi nghe tin giặc tới thì lo khăn gói mà chạy ra Đà Nẵng để vô Sài Gòn, nhưng không đi được; tàu xe đông nghẹt người nên phải về lại Hội An. Trời ơi, về tới nhà thì thấy cửa mở tan hoang, đồ đạc bị người ta lấy hết trơn không còn chi hết. Lúc đó thì vừa đau khổ vì mất đồ, vừa hoang mang vì lo sợ không có của nuôi con, lại bị lạc chồng nữa. Tất cả xảy ra trong một buổi nên cảm thấy như mình mất trụi hết, trắng tay. May mà cũng còn cái nhà mới xây, vừa được một năm.

Sau ngày 30 tháng 4 thì chồng tôi đi tù vì trước đó ông đang làm sỹ quan. Hồi đó thiếu ăn thiếu mặc; nhà đông con nên rất vất vả. Tôi vừa phải gánh vác gia đình, vừa phải đi thăm nuôi chồng ở tận ngoài Bắc, khổ cực vô cùng. Chồng đi tù cũng 7 năm chứ đâu ít. 2 năm đầu ở Nghệ Tĩnh, rồi 2 năm ở Lạng Sơn, sau chuyển vô Hàm Tân, hình như thuộc tỉnh Phan Rang thì phải, vô đó thêm 3 năm nữa thì được về. Tình cảnh ngoài Bắc lúc đó cực hơn trong Nam nhiều lắm. Dân nghèo, đói, khổ cực vô cùng, rất tội nghiệp. Mình chưa đi thì không biết miền Bắc, chứ đi rồi thì thấy họ cũng như mình, nghèo khổ không thể tả được.

Trong thời gian chồng đi tù, tôi về quê làm ruộng thuê cho người ta, dẫn theo hai người con lớn. Sau này ruộng bị vô hợp tác xã nên không làm nổi, phải xuống Hội An làm công nhân xưởng dệt. Làm được hai năm thì cũng bị hợp thức hóa nhà nước, nên bỏ không làm nữa. “Hợp tác xã” và “hợp thức hóa” nói nôm na là sau này đều bị nhà nước quản lý hết, của tư gì thì cũng thành của nhà nước cả. Tuy hết làm, nhưng tôi cũng để dành được một ít vốn nên trở lại đi buôn lương thực như ngày xưa. Sáng sớm lên quê mua hàng rồi mang về Hội An bán lại. Thời đó khổ lắm, không được tự do như ngày xưa. Lâu lâu lại bị mấy người thuế vụ rượt bắt, tịch thu mất vốn. Rồi cứ như vậy đó, buôn bán tàm tạm để sống qua ngày cho tới khi đi Mỹ.

Gia đình tôi qua Mỹ định cư năm 1991 theo diện H.O. Lần đầu tiên đi máy bay, tôi có cảm giác hơi sợ, nhưng mà ngồi một lát thì cảm thấy “perfect.” Rất vui! Cả nhà đi máy bay từ Sài Gòn qua Thái Lan, ở trại định cư khoảng 10 ngày rồi bay qua New York, vùng tuyết lạnh. Khi mà rời khỏi Việt Nam, thì tinh thần thoải mái, cảm thấy tự do, vui vẻ hơn.

Sau khi sang Mỹ, mấy năm đầu có một bà giáo người Mỹ đỡ đầu. Bà giáo dạy tôi tiếng Anh trong trường ESL. Vừa đi học vừa đi làm cho tới khi bị trượt tuyết té gãy tay thì thôi không làm việc nặng được, chỉ ở nhà giữ con em kiếm ít tiền. Mới đầu tôi cũng thấy khó khăn vì sự bất đồng ngôn ngữ, chưa cảm thấy quen với thời tiết khí hậu lạnh, nhưng dần dần rồi thì cũng thích nghi được với những khác biệt. Lúc đầu không biết tiếng Anh thì đi học ESL, đi đâu thì có mấy con dẫn đi, sau quen dần thì tự đi. Khi đã biết được chút tiếng Anh, rồi có quốc tịch Mỹ, thì cũng thấy mình hòa nhập một chút. Thêm nữa là có nhiều cộng đồng người Việt ở đây nên cuộc sống cũng dễ dàng, thuận tiện.

Sống ở Mỹ, tôi nhớ nhất là tắm biển Cửa Đại. Lâu lâu lại thèm một dĩa bánh bèo của bà dì Bảy, hay là một trái vú sữa thiệt ngọt lịm. Ngày xưa vì quá lo làm ăn nuôi gia đình nên không để ý đến những gì chung quanh, nhưng nếu có dịp thì tôi rất muốn được về hưởng thụ những gì mộc mạc, đáng nhớ của quê hương mà không nơi đâu có thể tìm thấy được.

Tôi về Việt Nam cũng được vài lần rồi. Về hình thức thì đất nước mỗi ngày một đổi mới. Nhờ có ngoại giao và đầu tư của nước ngoài mà Việt Nam được tân tiến hơn, người dân được văn minh hơn, cuộc sống đỡ khổ hơn. Mọi người có vẻ sống được sung túc hơn, không bị đói như hồi xưa vì nạn chiến tranh nữa. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa người giàu và người nghèo vẫn còn xa lắm. Người giàu thì càng ngày càng giàu, con cái họ có điều kiện phát triển, được đi du học khắp nơi. Người nghèo thì tuy không bị đói, nhưng phải sống rất lam lũ, nhiều nơi còn có trẻ em bị thất học. Cái nghèo vẫn còn đeo đẳng người dân Việt Nam.

Việt Nam tuy đã có nhiều thay đổi mới nhưng vẫn chưa đạt được đến mức người dân hằng mơ ước. Giá như chính quyền nhà nước cởi mở hơn thì không những nền kinh tế mà nhiều lãnh vực khác sẽ phát triển mạnh hơn. Thêm vào đó, Việt kiều nên tạo điều kiện để giúp đỡ người dân bằng cách gửi tiền về đầu tư, hay giao lưu về nhiều mặt như khoa học kỹ thuật, thương mại, sức khỏe y tế.

Nhận xét của người phỏng vấn

Qua cuộc phỏng vấn này, tôi đã có cơ hội nói chuyện và hiểu thêm về cuộc sống của bà ngoại, cũng như của người Việt từ trước và sau năm 1975. Là người thuộc thế hệ sinh ra và lớn lên khi chinh chiến đã tàn, tôi không được biết và cũng không phải trải nghiệm những mất mát và đau đớn mà chiến tranh đã gây ra cho con người và đất nước. Bây giờ tôi có thể hiểu được vì sao nhiều người Việt tỵ nạn khi rời khỏi Việt Nam, mặc dù rất yêu quê hương xứ sở, vẫn nhất quyết không trở về trước khi chính quyền nhà nước thay đổi. Những vết thương mà chiến tranh để lại cho con người thật quá lớn.

Ngoài sự tàn khốc của chiến tranh thì tôi còn nhận thấy được nhiều diễn biến trong xã hội. Tôi thấy ở bà ngoại sự hy sinh và đảm đang của những người phụ nữ Việt Nam vì chồng vì con mà gánh vác gia đình. Tôi thấy ở những người cậy quyền thế sự bóc lột sức lao động của người dân yếu thế. Nhiều người tìm đường giải thoát bằng cách đi ra nước ngoài, nhưng còn có những người không được may mắn, vẫn phải chịu vất vả. Tôi mong rằng họ cũng sẽ sớm tìm được sự bình yên, hạnh phúc như bao người khác.

2. Bài phỏng vấn của H. Nguyen

Tôi là Lâu T., sinh năm 1947, năm nay 64 tuổi. Tôi là con gái thứ tám trong một gia đình lao động. Hồi nhỏ, cũng như bao đứa trẻ khác, tôi được ba mẹ cho đi học. Nhưng vì gia đình nghèo nên lên lớp 3 thì tôi vừa học vừa phụ làm cùng gia đình. Hồi xưa gia đình tôi dán tem cho những lọ thuốc. Phụ thêm một tay làm thì sẽ nhanh hơn, để ba mẹ có thể kiếm được nhiều tiền hơn. Học hết lớp 9 thì tôi nghỉ học. Sau đó đi làm được một thời gian rất ngắn thì tôi lấy chồng, rồi ở nhà lo việc nội trợ và trông nom con cái.

Đời sống nói chung ở Việt Nam trước 1975 tôi chỉ nhớ sơ sơ. Tôi nhớ phần lớn những gia đình đều thuộc tầng lớp lao động. Họ làm chủ yếu là để lo cho những miệng ăn trong gia đình. Cũng có một số gia đình khá giả thời đó, nhưng không nhiều. Con cái trong những gia đình khá giả thì may mắn hơn vì họ có thể học lên đại học hoặc đi du học nước ngoài; còn những người trong gia đình lao động như tôi thì học cao nhất là tới lớp 12 thôi.

Hồi đó tôi hay đọc những tờ báo như Tự do và Dân chủ. Tin tức trong báo chí phần lớn là về chiến tranh. Tôi thấy như vậy cũng tốt, vì hầu hết các gia đình đều có người thân đi lính. Tôi cũng có mấy người anh đi lính nên đọc báo mà không thấy tin tức gì ở nơi đóng quân của mấy ảnh bị đánh thì tôi cũng bớt lo hơn.

Về âm nhạc, tôi thích nhất nhạc Trịnh Công Sơn vì nó sâu sắc và dễ đi vào lòng người. Ngày xưa tôi có nghe nhạc của Trúc Phương, nhưng không thích bằng nhạc Trịnh. Tôi thích các nữ ca sĩ Khánh Ly, Thái Thanh, Hoàng Oanh và Trang Mỹ Dung. Ca sĩ nam thì thích Elvis Phương và Nhật Trường. Về mặt chính trị và văn học, hồi đó tôi làm nội trợ nên không quan tâm lắm. Nếu báo chí mà không đăng tin về những sự kiện, những nơi xảy ra đột kích, pháo kích thì tôi cũng chẳng coi làm gì.

30 tháng 4 năm 1975 là một ngày tôi không bao giờ quên được. Lúc đó, tôi đang mang bầu T. Đau bụng quá nên tôi vào bệnh viện Nguyễn Thái Học lúc bấy giờ (bác T. không nhớ rõ tên bệnh viện là Nguyễn Văn Học hay Nguyễn Thái Học, bây giờ là bệnh viện Gia Định ở thành phố Hồ Chí Minh). Lúc tôi tới bệnh viện thì nó không còn giống một cái bệnh viện nữa vì mọi người chạy hỗn loạn, tiếng súng bên ngoài thì cứ nổ lên liên tục. Tôi thật sự không biết phải làm sao nữa. Lúc đó, một ông bác sĩ mặc áo blue trắng đến hỏi và đã đỡ sinh cho tôi. Ông ta tận tình giúp tôi và như thế T. được ra đời một cách khoẻ mạnh. Ông ấy rất tốt bụng vì thật ra đang có máy bay chờ ông ta trên sân thượng để chở đi. Vì thấy tôi như vậy nên ông ta đã hoãn máy bay lại trong vài giờ. Sau khi đỡ sinh cho tôi, ông ta hỏi tôi có muốn đi thì lên máy bay cùng với ông ta. Vì còn con ở nhà nên tôi từ chối. Ông ta là người bác sĩ có một không hai trên đời. Tôi rất muốn gặp lại ông ta để nói lời cám ơn.

Đến năm 1988, tôi cùng chồng và con vượt biên qua Mỹ. Tôi đi tàu qua đến được đảo ở Thái Lan. Đời sống trên đảo rất cực khổ và khó khăn. Tị nạn ở đó khoảng 6 tháng thì có phái đoàn của Mỹ tới bảo lãnh gia đình tôi đi. Họ dẫn gia đình tôi và nhiều người khác nữa đến tị nạn ở đảo Guam. Ở đảo Guam được khoảng 3 tháng thì được phái đoàn của đạo Tin Lành bảo lãnh qua sống ở tiểu bang Indiana.

Sau khi qua Mỹ, được sự giúp đỡ của những người ở nhà thờ, tôi và chồng được đi học tiếng Anh để có thể giao tiếp với những người khác. Các con của tôi cũng đi học. Vợ chồng tôi ngoài học tiếng Anh thì xin việc làm để có tiền trang trải mọi thứ trong gia đình. Tất nhiên là tôi không thể hội nhập được với cuộc sống mới. Lúc mới qua, tôi cảm thấy hoang mang và lạc lõng khi không cùng ngôn ngữ và phong tục. Thời tiết thì khắc nghiệt; nhiều lúc gặp bão tuyết tôi sợ lắm. Đồ ăn nước uống cũng lạ nên lúc đầu tôi đâu có ăn được. Tôi rất buồn và nhớ gia đình mình ở Việt Nam. Tôi nhớ nhất là bữa cơm gia đình với ba mẹ và anh em. Tuy nó giản dị và đạm bạc, nhưng nó rất ấm cúng.

Tôi đã về thăm Việt Nam 6, 7 lần rồi. Lần gần nhất đây là năm ngoái. Tôi thấy trước năm 1975 và hiện nay có rất nhiều sự thay đổi quan trọng. Nói về đời sống, tôi thấy đời sống Việt Nam hiện nay tốt hơn. Trước năm 1975, mọi người đi làm hầu hết chỉ vì miếng ăn; bây giờ thì tôi thấy đời sống có thoải mái hơn vì hầu hết ai cũng khá giả và có thể sắm sửa rất nhiều thứ trong gia đình. Về xã hội, tôi thấy Việt Nam cũng tốt hơn vì đường phố sạch sẽ và văn minh hơn. Về con người, tôi thấy bề ngoài con người lịch sự và thanh tao hơn, nhưng bên trong họ nghĩ gì và làm gì thì tôi không biết vì tôi thấy có nhiều sự tham nhũng và hối lộ hơn. Thời nào cũng có tham nhũng và hối lộ hết, nhưng trước năm 1975, những chuyện này xảy ra ít, với quy mô nhỏ hơn, nên không ai để ý tới. Bây giờ, tôi thấy tham nhũng và hối lộ rõ ràng và với quy mô lớn hơn. Chẳng hạn như chuyện thi giùm và mua bằng cấp giả.

Tôi không nghĩ là mình sẽ về Việt Nam sống hoặc cho con cái của mình về Việt Nam làm việc vì giao thông và nền y tế của Việt Nam cần được phát triển hơn nữa. Người dân chưa có ý thức lắm về giao thông nên có thể xảy ra nhiều tai nạn chết người. Còn về y tế, tôi thấy khi có tiền người ta mới chữa bệnh cho mình. Tôi thấy tính mạng của con người sống ở Việt Nam không được bảo vệ lắm.

Nhận xét của người phỏng vấn

30 tháng 4 là một ngày hết sức hỗn loạn, người dân hoang mang không biết cuộc đời của mình sẽ ra sao. Đó là ngày mà nhiều người phải bỏ mạng vì những viên đạn vô tình, ngày mà nhiều người muốn ra nước ngoài để tìm cuộc sống mới. Và cũng chính ngày đó, một bé gái được ra đời dưới bàn tay của một bác sĩ nhân hậu. Tôi cảm thấy rất cảm kích và ngưỡng mộ người bác sĩ đó. Theo lời của bác T., mọi người trong bệnh viện lúc ấy ai làm việc của người đó, người thì cố gắng lấy càng nhiều thuốc về nhà càng tốt, người thì bỏ bê bệnh nhân của mình mà chạy về nhà; mặc dù đã năn nỉ một số bác sĩ, không một ai để ý tới sự hiện diện và cầu cứu của bác T. Bác đã gần như tuyệt vọng thì một ông bác sĩ đến và giúp bác sinh. Ông ta sống và làm việc đúng như một bác sĩ chân chính, quan tâm trên hết đến tính mạng của bệnh nhân. Ông ta đã hoãn chuyến bay của mình lại vài giờ để giúp bác T. mổ cứu sống bé gái trong bụng của bác. Không chỉ là người bác sĩ tận tâm, ông còn là một con người nhân từ. Vì thấy hoàn cảnh hoảng loạn, ông ngỏ ý mời bác T. và chồng bay cùng với đoàn của ông trên chiếc máy bay đã chờ sẵn trên sân thượng. Khi bác T. từ chối không đi, ông đã vui vẻ đẩy bác trên xe lăn ra gặp chồng rồi từ biệt lên máy bay. Một con người tốt bụng và cao thượng như ông khó có thể tìm được lúc bấy giờ.

3. Bài phỏng vấn của Thụy Đăng

Tôi tên Bùi Tr., năm nay 50 tuổi. Lúc nhỏ tôi học ở trường tư thục Công giáo. Cấp 2 và 3, tôi học tại trường nữ Gia Long, rất nổi tiếng trước năm 1975. Mẹ tôi đi làm cho một tư sở. Ba tôi là lính chế độ cũ. Nhà tôi không khá giả gì, nhưng cũng đủ ăn. Đời sống trước năm 1975 có phần giản dị, bình lặng hơn sau 1975. Thành phố Sài Gòn mát mẻ và sạch sẽ, không bụi bặm và ô nhiễm như sau này. Dân số không đông và xe cộ không nhiều.

Trước năm 1975, tôi thường đọc sách trong thư viện trường. Tôi đã đọc qua các tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam… Ngoài ra tôi còn thích sách loại bỏ túi của nhà xuất bản Tuổi Hoa. Lúc trước có nhiều sách nước ngoài được dịch sang tiếng Việt hoặc có nhiều tác giả lấy cốt truyện của tác phẩm nước ngoài rồi phóng tác lại, dùng bối cảnh, con người Việt Nam. Tôi hâm mộ các tác giả Khái Hưng, Nhất Linh, Thùy An (người viết sách cho nhà xuất bản Tuổi Hoa) và Hà Mai Anh (người dịch quyển Grand Coeurs). Về âm nhạc, tôi nghe phần lớn những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn và Phạm Duy. Tôi thích nhất bài “Những con mắt trần gian” của Trịnh Công Sơn và bài “Bà mẹ Gio Linh” của Phạm Duy.

Ngày 30/4/75, tôi cùng gia đình trú dưới gầm cầu thang để tránh bom đạn. Lúc đó tôi rất sợ nhưng lại cảm thấy sự ấm cúng của tình cảm gia đình. Sau ngày 30 tháng 4 thì mẹ tôi thất nghiệp và ba tôi vào trại cải tạo.

Tôi di cư sang Mỹ vào năm 2002 bằng máy bay. Sau đó, tôi vào học ESL ở một trường college. Tôi cảm thấy rất khó khăn để hội nhập vào môi trường mới bởi vì sự khác biệt quá lớn trong ngôn ngữ và phong tục tập quán. Người ta thường nói là ở Mỹ mọi người được đối xử công bằng, nhưng thật ra thì cũng giống như Việt Nam, cũng là nhất thân nhì thế. Đi làm ở Việt Nam thì cần quen biết, ở Mỹ thì cần letter of recommendation (thư giới thiệu). Đối với tôi thì cả hai đều không có gì khác biệt.

Sống ở Mỹ, tôi nhớ nhất những món ăn Việt Nam. Mặc dù ở đây cũng có những món ấy nhưng mùi vị thì hoàn toàn khác. Tôi về thăm Việt Nam vào năm 2006. Không có gì thay đổi nhiều từ khi tôi đi, nhưng con người trước và sau 1975 khác nhau rất nhiều. Bây giờ con người chú trọng vật chất nhiều hơn là tình nghĩa giữa người và người. Hồi trước người ta đối với nhau chân thật hơn rất nhiều.

4. Bài phỏng vấn của Cao H.

Tôi là L.T.N., 63 tuổi. Tôi sinh trưởng tại Hà Nội, di cư vào Nam năm 1954, không còn nhớ nhiều những hình ảnh và kỷ niệm về Hà Nội. Tôi chỉ còn nhớ hồi nhỏ tôi được theo học tại trường tiểu học Hàng Vôi.
Trước năm 1975, Sài Gòn – miền Nam Việt Nam sống dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đời sống của người dân khá ổn định và được hưởng những quyền tự do căn bản, tuy rằng gia đình nào cũng có người thân gia nhập quân đội. Chúng tôi hay đọc báo hằng ngày để theo dõi tin tức thế giới và trong nước. Hồi còn ở trung học, tôi rất say mê đọc truyện Tàu, nhất là những truyện kiếm hiệp của tác giả Kim Dung. Tôi thích nghe nhạc của Trịnh Công Sơn và nhạc của Ngô Thụy Miên.

Sau khi học xong trung học, tôi ra nhập quân đội, như những thanh niên cùng tuổi khác, vì đất nước đang ở trong tình trạng chiến tranh.Thời gian ở trong quân ngũ là thời kỳ vui và nhiều kỷ niệm nhất khi còn sống ở Việt Nam trước năm 1975.

Ngày 26/4/1975, tôi nhờ có người quen biết, đưa vào phi trường Tân Sơn Nhất đợi di tản. May mắn chúng tôi được phi cơ quân sự Hoa Kỳ chuyên chở qua đảo Guam. Ngày 30/4/1975, chúng tôi đang ở đảo Guam, và cùng mọi người chờ đợi tin tức ở Việt Nam. Khi nghe tin Việt Nam cộng hòa đã rơi vào tay cộng sản, tất cả mọi người ở trên đảo đều bàng hoàng xúc động về sự mất mát quá lớn này. Chúng tôi ở trại tị nạn trong khoảng thời gian hơn 2 tuần, rồi được đưa sang định cư ở Hoa Kỳ, sống trong trại tị nạn Pendleton, San Diego.

Sau một thời gian dài sống trong trại tị nạn và được nhà thờ bảo trợ, tôi quyết định ra ngoài kiếm sống. Tôi đi học Anh ngữ vào buổi tối, còn ban ngày thì đi làm những việc lao động để kiếm sống, rồi sau đó ghi tên vào trường cao đẳng để học nghề chuyên môn. Có bằng cấp, tôi kiếm được những việc khá hơn, đời sống ổn định hơn.

Trong những năm đầu, ai cũng rất bỡ ngỡ khi hội nhập vào đời sống mới, phần vì khó khăn về ngoại ngữ, phần vì tinh thần vẫn còn đau buồn vì mất nước. Hơn nữa, cộng đồng người Việt hãy còn thưa thớt, không quy tụ đông đảo, nên sự tương trợ lẫn nhau không được bao nhiêu, mỗi người phải tự học hỏi và tìm hiểu để hội nhập vào đời sống mới.

Sau thời gian dài định cư tại Hoa Kỳ, tôi đã có dịp quay về Việt Nam để thăm thân nhân. Sau hơn 30 năm, đời sống Việt Nam dưới chế độ cộng sản hiện nay, tuy đời sống của người dân dã được cởi mở phần nào, nhưng nếu so sánh những quyền tự do mà người dân thời Việt Nam Cộng hòa đã có, thì người dân ở Việt Nam hiện nay hãy còn thiếu rất nhiều quyền tự do căn bản của một người dân.

Sống ở Mỹ, tôi nhớ rất nhiều thứ ở Việt Nam. nhất là nhớ những ngôi chùa cổ kính v.v… Dù sống ở đâu, thì tôi lúc nào cũng vẫn là người Việt.

Nhận xét của người phỏng vấn

Ấn tượng lớn nhất của tôi sau khi phỏng vấn bác L.T.N là sự khác biệt rõ nét về suy nghĩ và cảm xúc của người Bắc và người Nam. Những tác phẩm ta đã học trong kỳ này thường do những người Bắc viết và nói về xã hội miền Bắc tiền chiến. Nếu tôi có thể phỏng vấn được một người dân Bắc chính thống thì mới có cơ hội tìm hiểu được tầm ảnh hưởng của văn chương Việt Nam thời bấy giờ. Nhưng mà để hiểu được cảm xúc của một người Bắc, mà lại di cư sang Mỹ thì thật khó- phần lớn những người tị nạn sang Hoa Kỳ đều là người miền Nam. Bác L.T.N là bác họ của tôi, là người Bắc nhưng lại di cư vào Nam lúc còn trẻ nên vẫn bị ảnh hưởng nhiều của nước Việt Nam Cộng hòa và cũng bị tuyển đi lính như bao người. Cuộc phỏng vấn này giúp tôi hiểu thêm nhiều điều thú vị về những kinh nghiệm và cảm nghĩ của một người lính cộng hòa. Trong khi những người lính cộng sản coi ngày 30 tháng 4 là một ngày vinh quang- ngày giải phóng miền Nam, thì những người lính cộng hòa lại “bàng hoàng xúc động” vì bị mất nước. Tuy nhiên, bác L.T.N không có thái độ thù địch với những người dân Bắc như những người miền Nam khác, phần vì họ hàng của bác là người Bắc. Bác L.T.N đã về thăm quê hương và nhớ nhiều thứ ở quê hương, nhưng vẫn nhấn mạnh rằng bác không muốn về Việt Nam sinh sống, và rằng người dân Việt Nam dưới chế độ cộng sản không có quyền tự do như những người dân dưới chế độ cộng hòa. Mặc dù vậy, bác vẫn mãi mãi coi mình là người Việt, chứng tỏ cũng có những người dân miền Nam đã di cư nhưng vẫn yêu nước không kém gì người dân miền Bắc.

© 2010 talawas


Phản hồi
1 phản hồi (bài “Loạt bài phỏng vấn của sinh viên Đại học Berkeley (phần cuối)”)

1. Trung Nu Hoang nói:
01/05/2010 lúc 12:50 sáng
Tôi thực sự xúc động khi được biết có một Bác Sĩ ở BV Nguyễn Văn Học, vào giờ phút rối ren cùng cực của ngày cuối tháng 4.75, vẫn nán lại đỡ đẻ cho bà Lâu T. và phải hoãn chuyến bay. Sau đó, ông lại hỏi có muốn di tản thì ông cho đi theo chuyến bay luôn. Thật là một vị Lương Y đúng mức.
Qua những dòng PH ngắn ngủi này tôi xin chân thành tỏ bày lòng cảm mến cao độ đến vị BS “vô danh” nọ. Mong rằng tất cả các BS trên thế giới này, nhất là các BS đang làm việc trong các BV ở Việt Nam hiện nay, cần noi gương vị BS này trong việc phục vụ bệnh nhân để xứng đáng với khẩu hiệu được treo nhan nhản khắp các BV trong nước: “Lương y như từ mẫu”! Khi mà trên nhiều báo chí, nhiều trang mạng v.v. cho biết về tình trạng hơi bị phổ biến ở các BV Việt Nam hiện nay, các BS thường coi trọng câu hỏi… ĐẦU TIÊN của bệnh nhân rồi mới quyết định chữa hay không và chữa như thế nào, tùy thuộc vào câu trả lời “đạt yêu cầu” hay không!!

Trần Quốc Việt – Bài văn vào Đại học Berkeley năm 1996

Trần Quốc Việt – Bài văn vào Đại học Berkeley năm 1996
30/04/2010 | 11:25 sáng | 2 phản hồi

Tác giả: Trần Quốc Việt

Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975
Thẻ: tự sự > Đại học Berkeley

Tôi sinh ra đời là đứa bé tàn tật trong một gia đình nghèo đông con ở Việt Nam. Buồn thay, tôi cũng sinh ra đời để vội vã lớn lên trong hoàn cảnh của một trong những cuộc nội chiến tàn nhẫn và đẫm máu nhất trong thế kỷ hai mươi, “thế kỷ đau thương”.

Không lạ gì khi tuổi thơ nhạy cảm và non dại của tôi bị ám ảnh từng cơn bởi nỗi sợ chiến tranh. Tuy nhiên, đấy chỉ là phần rất nhỏ những gì tôi trải qua. Chiến tranh thực sự đã cướp đi ở tôi sự ngây thơ cần thiết và quý giá cũng như sự bình an bình thường trong tâm hồn. Tựa như tấm vải liệm vô hình của số phận, chiến tranh đã phủ kín những năm đầu đời của tôi dưới bầu trời này. Tôi thấy những xác chết đáng thương hình hài không nguyên vẹn, nỗi lo sợ dường như lúc nào cũng phảng phất trên khuôn mặt của ba má, và nghe những tin tức cùng những tin đồn đáng sợ hàng ngày về cuộc chiến truyền lan khắp nơi trong thành phố và đôi lúc được nhắc đến bên bữa cơm tối gia đình. Thỉnh thoảng giữa khuya khi có pháo kích, má tôi thường đánh thức tôi dậy và giục tôi chạy thật nhanh ra khỏi nhà. Chúng tôi thường ngồi núp trong cái hầm trú ẩn đắp bằng những bao cát ở ngoài sân. Rồi sáng hôm sau tôi đi học và lại nghe bạn bè kể những chuyện tương tự. Trong hoàn cảnh như vậy, tôi sớm đủ chín chắn để nhận thức rằng sống được là điều đáng quan tâm nhất còn mọi thứ khác, từ chuyện cổ tích đến những giấc mơ, dần dần đều phai nhạt thành những gì xa xỉ gần như đã không còn nữa.

Mỉa mai thay, kết thúc bất ngờ của chiến tranh chỉ tạo ra những bi kịch liên tiếp. Ba tôi bị tống vào những trại cưỡng bức lao động ở các vùng miền bắc xa xôi. Chị đầu tôi quá tuyệt vọng nên đã trốn khỏi Việt Nam. Người mẹ nhẫn nhại và can đảm của tôi đã vất vả vô cùng để nuôi gia đình còn lại với đàn con mười đứa. Năm ấy tôi chưa đầy mười ba tuổi.

Hoà bình, trong trường hợp tôi, còn tệ hơn chiến tranh. Tôi không thể theo học các trường cao đẳng hay đại học sau khi tôi học xong trung học. Tôi học lên được nhưng tôi không có đủ tư cách chính trị để được học tiếp. Dù sao, chế độ hầu như đã phân loại gia đình tôi là những công dân hạng hai lạc hậu về mặt chính trị, là tầng lớp bị hắt hủi nhất trong bậc thang giai cấp đương thời.

Mười năm sau, ba tôi trở về nhưng ông đã khô héo cả tinh thần lẫn thể chất. Chẳng bao lâu tôi đưọc theo học đại học sau khi tôi thi đậu một kỳ thi đại học khó. Niềm vui đi học tiếp của tôi song lại quá ngắn ngủi. Sau ngay tháng đầu tiên ở trường đại học, tôi cay đắng nhận ra rằng trường chỉ còn là bộ máy tuyên truyền thô bạo của chế độ hà khắc. Ở đấy kiến thức và các chân lý phổ quát sẵn sàng bị bóp méo để cho ra lò những cán bộ trung thành về chính trị nhưng trống vắng phần nào về tâm hồn thay vì tạo ra nhưng con người say mê và có ích. Ví dụ, ngành học của tôi là tiếng Anh, nhưng trên thực tế, tôi phải học một thứ tiếng Anh bị chính trị hoá quá nặng và chỉ những môn học về chủ nghĩa cộng sản. Tôi không bao giờ có cơ hội học những môn cần thiết cho việc giáo dục bình thường như các môn về nhân văn, nghệ thuật, và xã hội.

Tôi đã bảo vệ được tâm hồn của mình trước tất cả những nỗ lực cải tạo ý thức hệ của chế độ. Nhưng, tựa như một ốc đảo hoàn toàn khép kín, tôi ngày càng trở nên nghèo nàn hơn, cô đơn hơn, và rỉ sét hơn về tinh thần trong khi các làn sóng thông tin và tinh thần dân chủ đang chảy qua khắp thế giới bên ngoài. Sau khi ra trường, tôi không thể nào tìm được việc làm do “vết nhơ” chính trị trong quá khứ của ba tôi. Trong thời gian lạc lõng về lòng tin này, tôi viết một vài tiểu phẩm kín đáo chỉ trích những bất bình đẳng trong xã hội và cũng bắt đầu mơ về Abraham Lincoln và về Tượng Nữ Thần Tự Do ở bên kia bờ Thái Bình Dương.

Gia đình tôi di dân đến Hoa Kỳ vào năm 1992. Giống như bao di dân khác đến Mỹ, chúng tôi bắt đầu cuộc đời mới của mình với nhiều hy vọng và lạc quan. Hơn nữa, tôi cố gắng quên đi quá khứ trĩu nặng những đau buồn của mình ở Việt Nam, một quê hương rất nghèo và bất hạnh mà tôi mãi mãi thương yêu. Tuy nhiên, tôi hiểu tôi nên sống cho hiện tại và tương lai ở Mỹ, quê hương thứ hai của tôi. Rõ ràng quên đi một phần đời mình hoàn toàn không dễ dàng. Giống như những giọt nước mắt bỗng dưng chợt đến, quá khứ thỉnh thoảng lẻn vào tôi trong giấc ngủ.

Hiện nay, tôi đang cần cù học những môn yêu cầu cho chuyên ngành thương mại, và đồng thời tôi say sưa lấp đầy những lỗ hổng lớn trong kiến thúc của mình. Không có gì ngạc nhiên khi những trải nghiệm cay đắng trong quá khứ giúp tôi tìm thấy con đường đi đúng trong hiện tại. Tôi trở thành người dạy kèm tự nguyện môn toán và tiếng Anh cho những học sinh mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn như học sinh người Việt, người Mễ, người Đại Hàn vân vân. Kỳ diệu là qua lắng nghe những câu chuyện họ kể tôi cũng nhận thức ra đôi điều. Điều đầu tiên là ngôi làng toàn cầu của chúng ta không hẳn là hạnh phúc như có nhiều người trong chúng ta tưởng. Điều thứ hai là câu chuyện về cuộc đời quá khứ của tôi không hẳn là câu chuyện rất không bình thường chừng nào vẫn còn nghèo đói, chiến tranh và thất học.

Đối với tôi, giấc mơ Mỹ là một nền học vấn tốt. Khi mơ ước ấy thành sự thật, nó sẽ giúp tôi làm được gì đó tích cực hơn trong cuộc đời còn lại của mình. Trường đại học của các bạn là nơi kế tiếp tôi muốn tiếp tục nuôi tiếp giấc mơ suốt đời ấy.

Nguyên bản tiếng Anh

Personal Statement by Viet Quoc Tran

I was born a disabled boy in a poor and crowded family in Vietnam. More sadly, I was also born to hastily grow up in the circumstances of one of the most bloody and merciless civil wars in the twentieth century, a “century of sorrow.”

Not surprisingly, my sensitive and tender childhood was fitfully obsessed by fears of the war. However, this was just the tip of the iceberg. Indeed, the war robbed me of precious, necessary innocence and of an ordinary peace of mind as well. Like an invisible shroud of fate, the war certainly wrapped up my first years under the sun. I saw the pitifully maimed corpses, the almost constant anxiety reflected on my parents’ faces, and heard the frightening war-related news and rumors circulated daily around my hometown and sometimes at the dinner table of the family. Sometimes at night when there would be an air raid my mother would wake me up and urge me to quickly run out of the house . We would hide in our sandbag-built shelter in the yard. Then, the following morning I went to school and heard similar stories from my classmates. From such situations I was soon mature enough to realize that to live was the most important concern and that everything else, from fairytales to dreams, gradually faded into nearly lost luxuries.

Ironically, the sudden end of the war brought about only successive tragedies. My father was thrown into the forced-labor camps in remote northern regions. My eldest sister was so hopeless that she managed to escape from Vietnam. My persistent, courageous mother extraordinarily struggled to support our remaining family with ten children. By that time I was not yet thirteen years old.

Peace was, in my case, worse than the war. I could not study at any college or university after I graduated from high school. I was academically eligible but not politically qualified to study more. After all, the Communist regime had already classified my family as politically backward second class, the untouchables of a modern caste system.

Ten year later, my father was free but already physically and mentally withered. Soon I was accepted to study at a university after I had passed a difficult entrance examination. My joy was, however, short-lived. After the first month at the university, I bitterly came to realize that it has been reduced almost to a rudely propagandizing apparatus of the repressive regime. There knowledge and general truths were readily distorted and manipulated to turn out the politically loyal yet partly soulless cadres rather than the useful and motivated persons. For instance, my major was English but, in practice, I had to learn a heavily politicalized English language and only Communism-related courses. I never had any chance to study courses necessary to general education, such as the arts, humanities and social sciences.

I managed to protect my mind and heart from all the ideological efforts of the regime. Somehow, like a totally closed oasis, I became mentally poorer, lonelier and rustier while waves of information and of democratic spirit continued to wash over the outside world. After my graduation I could not land any job due to the political “stain” on the past of my father. During this period of confidence disorientation, I wrote a couple of coded stories criticizing social inequalities and also began to dream of Abraham Lincoln and of the Statue of Liberty beyond the Pacific Ocean.

My family immigrated into the United States in 1992. Like the other immigrants to America, we have started our new lives with a lot of hope and optimism. Moreover, I have tried to forget my sorrow-laden past life in Vietnam, a very poor and unlucky land which I will always love so much. Nevertheless, I understand that I should live for the present and the future in America, my second country. Obviously, to forget a part of my life is far from easy. Like rediscovered tears, the past sometimes sneaks on me in sleep.

At present, I have been diligently studying required courses of business, my major, and, at the same time, interestedly filling big holes in my knowledge. No wonder, the bitter experiences in the past have helped me find the right path to follow in the present. I have become a voluntary tutor in Math and English, especially for those students whose first language is not English, such as the Vietnamese, Mexican, Koreans and so on. Wonderfully, they also help me realize many things through my listening to their stories . The first thing is that our global village is not really as happy as some of us have thought. Secondly, my story of past life is not an extreme one as long as there are still poverty, war and ignorance.

For me, the American Dream is a good education. Once the dream comes true, it will enable me to achieve something more positive in the remaining productive years of my life. Your university is the next place where I want to continue growing toward that lifelong dream.

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Quốc Việt

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


Phản hồi
2 phản hồi (bài “Trần Quốc Việt – Bài văn vào Đại học Berkeley năm 1996”)

1. Trung Nu Hoang nói:
01/05/2010 lúc 1:07 sáng
Cậu bé 13 tuổi ngày đó, sau 35 năm đã là 48 tuổi, có thể có…cháu nội, cháu ngoại rồi không chừng! Ở tuổi này, sau 35 năm mài dũa, cải tạo trong môi trường mới, con người thường chồng chất “nỗi sợ” liên lụy tới gia đình, con cháu. Ngang tàng và nổi tiếng như nhà văn Nguyễn Tuân mà cũng phải thốt lên với bạn văn ở Miền Nam sau ngày 30.4.75: ” Tao sống được đến ngày hôm nay là nhờ…biết SỢ”. Đọc bài viết của “cậu bé 48 tuổi” thấy phảng phất “bài văn mẫu” (đúc theo khuôn) để được cho lên mặt báo của “lề phải” ở trong nước. Chuyện dễ hiểu!

2. Sacroyant Nguyen nói:
01/05/2010 lúc 12:09 sáng
Còn đây là “Tiết lộ về ngày 30/4 của cậu bé 13 tuổi”. Các góc nhìn khác nhau quá! Mời các bác xem chơi

http://24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/tiet-lo-ve-ngay-30/4-cua-cau-be-13-tuoi-c46a294039.html

Nguyễn Chính – Thư ngỏ gửi nhà văn Chu Lai

Nguyễn Chính – Thư ngỏ gửi nhà văn Chu Lai

Tác giả: Nguyễn Chính

Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975

Ngày 30/4/2010

Thưa ông!

Những ngày tháng Tư này người Việt Nam mình dù ở đâu, quốc nội hay hải ngoại, nếu không vô cảm đều đau đáu nghĩ về thân phận đất nước mình, dân tộc mình. Vâng! Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta, sau khi thoát khỏi kiếp nô lệ kéo dài ngót 80 năm bởi thực dân, đế quốc, lại tiếp tục lao vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn kéo dài nhất, đổ máu nhiều nhất, bi thương nhất, hậu quả tệ hại nhất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Nhân ngày 30 tháng Tư, nhìn lại cuộc chiến 1954 – 1975, trên các trang báo mạng có nhiều ý kiến khác nhau, thậm trí trái ngược nhau, nhưng đều có chung một mong muốn là làm sao để dân mình được mãi sống trong thanh bình, đất nước mình thực sự được tự do, độc lập, dân chủ, văn minh, giàu mạnh… Muốn vậy, thì phải hòa hợp, hòa giải. Vì hiện tại, vì tương lai của đất nước, của muôn đời con cháu mà hòa hợp, hòa giải thật sự, thật lòng. Từ suy nghĩ đó, sau khi đọc ý kiến của ông trên báo Đại Đoàn Kết số 91-92, ngày 29/4/2010, rằng: “Bây giờ sau 35 năm, có thể gác lại quá khứ, nhưng không có nghĩa là quên đi quá khứ. Vì nếu chúng ta quên quá khứ thì lại là có lỗi với những người đã hy sinh, với những bà mẹ Việt Nam anh hùng…”, tôi xin kính gửi đến ông vài thiển ý như sau:

Thứ nhất, ai cũng biết quá khứ, hiện tại, tương lai là một dòng chảy liên tục đối với một đời người, đối với một đất nước, một dân tộc. Có quá khứ hào hùng, vinh quang, nhưng cũng có quá khứ bi thương, khốn nạn để lại những gánh nặng đầy máu và nước mắt cho hiện tại và tương lai. Cuộc chiến năm 1954 – 1975 đang được những nhà làm sử chân chính của hiện tại và rồi sẽ được hậu thế phán xét, định nghĩa thật chính xác, thỏa đáng, công bằng và khách quan. Còn chúng ta, những thế hệ đi qua chiến tranh, may mắn còn sống sót, nay cũng sắp về với cát bụi, dù của chế độ miền Bắc, hay miền Nam, đã thừa biết cái giá phải trả cho chiến tranh của đất nước mình, nhân dân mình. Nhất lại là một người cầm bút như ông mà vẫn ôm cái chủ kiến kẻ cả, trịch thượng như vậy thì tôi thấy nguy quá. Ông bảo “Bây giờ sau 35 năm, có thể gác lại quá khứ…” Hai từ “có thể” rất mù mờ, có thể thế này, có thể thế khác, nghĩa là chưa chắc đã được thực hiện. Hoặc vạn bất dĩ có thực hiện thì cũng chỉ là giải pháp tình thế, là động tác giả. Còn hai từ “gác lại” thì đáng sợ lắm thưa ông. Vì “gác lại”, nghĩa là tạm thời cất vào chỗ nào đó, hay tạm gác lên trần nhà, trong xó bếp… vì một mục tiêu trước mắt, hay một mưu toan nào đó, khi cần lại lôi ra, dùng văn nô, bồi bút làm cho mới rợi. Thế là lại đấu tố, lại kỳ thị, lại vân vân… Thì bao nhiêu bài học quá khứ còn sờ sờ ra đấy, chưa ai quên đâu, thưa ông Chu Lai.

Thứ hai, ông còn bảo rằng: “Nếu chúng ta quên quá khứ thì lại là có lỗi với những người đã hy sinh, với những bà mẹ Việt Nam anh hùng…” Ông nói không sai. Nhưng sao tôi thấy thật quá nhẫn tâm và vô cảm với những bà mẹ, những người chồng, người cha, người em, người con của những người lính thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã không may ngã xuống trong cuộc chiến nồi da, xáo thịt đó. Là một nhà văn, ông đã nghĩ và nói trái với thiên chức của người cầm bút, là góp phần xoa dịu nỗi đau của đồng loại, mà đó lại là đồng bào của mình. Phát biểu như thế trong dịp 30 tháng Tư này trên tờ Đại Đoàn Kết, một tờ báo lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là ông đã vô tình xát thêm muối vào vết thương lòng của bà con mình đấy. Ngay cả ông Võ Văn Kiệt, một người làm chính trị, sau chiến tranh ngồi đến chức Thủ tướng, mà trước khi về với đất còn nhận thức ra cái nỗi đau ở tầm dân tộc ấy. Trong khi ông, nhà văn Chu Lai, dù đã 35 năm qua rồi mà xem ra cái sát khí vẫn còn ghê gớm lắm.

Đọc xong bài trả lời phỏng vấn của ông trên tờ báo nói trên, tôi lục trong trí nhớ của mình xem nhà văn Chu Lai gắn liền với những tác phẩm để đời nào. Không! Tôi không thể nhớ được. Vậy thì tôi là một bạn đọc “dỏm” rồi còn gì. Theo bài báo, ông Chu Lai là nhà văn, nhà viết kịch kia mà. Tôi liền điện hỏi những người bạn “mọt” sách của mình về những nhà văn, nhà viết kịch mà họ yêu mến của nước ta. Họ kể vanh vách cả tên và tác phẩm: Những thiên đường mù – Dương Thu Hương; Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh; Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc trường; Bến không chồng – Dương Hướng; Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp; Thiên sứ – Phạm Thị Hoài; Rừng cười – Võ Thị Hảo; Khách ở quê ra – Nguyễn Minh Châu; Chuyện kể năm 2000 – Bùi Ngọc Tấn; Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9 – Lưu Quang Vũ… Không thấy, tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến tác phẩm gắn với bút danh nhà văn Chu Lai. Chắc mấy vị đồng niên mọt sách của tôi cũng là thứ bạn đọc “dỏm” mất rồi.

35 năm qua rồi, nhân ngày 30 tháng Tư, là một bạn đọc, tôi nghĩ sau ngần ấy năm đã là quá muộn, chỉ mong người Việt mình dù ở quê nhà hay bất cứ chân trời góc biển nào hãy cùng nhau hòa hợp thật sự, hòa giải thật lòng, để cuộc chiến nồi da xáo thịt 1954 – 1975 mãi chìm vào dĩ vãng. Mong những nhà văn Việt Nam, bằng tác phẩm thứ thiệt cùng chỉ cho ra, cho rõ mặt những thế lực ngoại bang từng “xúi nguyên, giục bị” làm chiến tranh, làm cách mạng bằng máu của đồng bào mình. Vậy thôi!

Xin trân trọng kính chào ông!

© 2010 Nguyễn Chính

Nguyễn Lan – Nước Việt có cần một chủ nghĩa dân tộc?

Nguyễn Lan – Nước Việt có cần một chủ nghĩa dân tộc?
01/05/2010 | 6:00 sáng |

Tác giả: Nguyễn Lân

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Chủ nghĩa dân tộc

Sau 1975, chế độ Hà Nội cương quyết thực hiện chủ nghĩa xã hội (ngay cả tên nước cũng đổi thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) với phương châm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”, thế nhưng tiến đâu không thấy, chỉ thấy lùi: phá sản kinh tế (nông dân Bến Tre, quê hương của Đồng Khởi, đốt hoa màu phản đối chính sách hợp tác xã, nhân dân phải ăn bo bo để sống cầm hơi), “thiên đường xã hội chủ nghĩa” đầy rẫy nhà tù “học tập, cải tạo”, nhân dân tán thán (với những chuyện tiếu lâm như: XHCN = Xếp hàng cả ngày, cái cột đèn cũng muốn đi, tượng thánh Trần chỉ tay ra biển Đông (khuyên dân đi di tản với tượng Bác Hồ xòe bàn tay ra giá 5 cây vàng), Việt Nam đoạt các cúp: cúp nước, cúp điện,…), bị cô lập với thế giới (về ngoại thương, vì thiếu ngoại tệ nên hầu hết phải dùng hàng hóa thay thế), Bắc Kinh “dạy cho một bài học” (1979), xâm chiếm Trường Sa (1988)…

Tới thời mở cửa, mặc dù kinh tế khá hơn (nhất thời, chưa tính hậu quả về sau trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi), không còn bị cô lập (vào WTO), nhưng lại nẩy sinh những vấn nạn khác: con người và xã hội ngày càng tha hóa trầm trọng (xã hội đen, đĩ điếm, các “cậu ấm”, “cô chiêu” của các quan cách mạng sống buông thả như một lũ mất dạy, bản thân các ông quan này cũng đểu giả, lưu manh không kém…), tham nhũng, lạm quyền, lộng quyền, bóc lột dân oan, tư sản “đỏ”, ô nhiễm…

Trong khi đó, đối với Bắc Kinh, Hà Nội đi từ nhân nhượng này tới nhân nhượng khác: nhượng đất (Hiệp định Biên giới đất liền Việt-Trung), nhượng biển (Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ), hiệp định về vùng đánh cá chung mà thực chất là để cho tàu cá Bắc Kinh (lớn và đầy đủ phương tiện) tự do khai thác, thậm chí họ còn có ý đồ khác (ông Thứ trưởng ngoại giao Lê Công Phụng nói theo kiểu ngoại giao: “họ nói mãi nên chúng tôi mới chịu ký”; trên thực tế, “nói mãi” là gây áp lực buộc Hà Nội phải ký hiệp định có lợi cho họ), thậm chí can thiệp vào chuyện nội bộ của Hà Nội (dưới áp lực của Bắc Kinh, sau Đại hội Đảng VII, ông cố Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch bị thất sủng, mất chức, bị loại khỏi Bộ Chính trị; trong Đại hội Đảng X, Bắc Kinh “mong muốn” Nông Đức Mạnh tiếp tục làm Tổng Bí thư…). Ngày nay, Bắc Kinh tiếp tục buộc Hà Nội phải “hợp tác toàn diện”, để cho Bắc Kinh khai thác bô-xít Tây Nguyên (ngoài hậu quả nghiêm trọng về môi trường, văn hóa vùng đã được các chuyên gia cảnh báo trước, Tây Nguyên còn là địa bàn chiến lược: Tây Nguyên là vùng cao điểm, kiểm soát được Tây Nguyên là kiểm soát được toàn vùng Đông Dương), phải nhân nhượng trong các cuộc đàm phán về việc phân chia lãnh hải vùng Biển Đông (nhằm thực hiện ý đồ bá quyền Biển Đông của họ), thường xuyên răn đe bằng các thủ đoạn như tập trận (có khi bằng đạn thật), tuần tra lãnh hải (kể cả vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam), bắt đầu công khai khai thác Biển Đông bất chấp mọi phản đối, thậm chí bắt giữ, đòi tiền chuộc, bắn giết ngư dân Việt…

Trong bối cảnh “thù trong, giặc ngoài” đó, có khuynh hướng (trực tiếp hay gián tiếp) cho rằng cần phải xây dựng (chí ít là biểu dương) một chủ nghĩa dân tộc (mới) nhằm giải quyết những vấn nạn nêu trên. Vậy, ý nghĩa và công dụng của “chủ nghĩa dân tộc”, “chủ nghĩa dân tộc Việt” là gì?

I. Chủ nghĩa dân tộc
Trên khắp thế giới, ở một giai đoạn nhất định, trong một hoàn cảnh khó khăn nào đó (bị xâm lăng, khủng hoảng kinh tế,…), mọi chính quyền đều kêu gọi lòng yêu nước của người dân để động viên, huy động lực lượng toàn dân nhằm vượt qua khó khăn ấy. Đây là điều thông thường, chính đáng và chỉ là sự động viên nhất thời chứ không phải là một chủ nghĩa rõ nét nào cả; mọi quốc gia đều làm như thế.

Thế nhưng cần xem xét một số đặc trưng:

•Các chế độ độc tài kiểu Quốc xã: các chế độ độc tài này thường sử dụng chiêu bài “dân tộc” để khích động nhân dân và buộc họ phải phục tùng; thậm chí còn được thêm vào chiêu bài “chủng tộc” (chủ nghĩa Quốc xã coi chủng tộc Đức hơn hẳn các chủng tộc khác và đặc biệt chủng tộc Do Thái thấp hèn, độc hại cần phải loại trừ). Ngày nay, các đảng chính trị cực đoan cũng vẫn dùng chiêu bài dân tộc để kiếm phiếu cử tri. Riêng tại Nam Tư cũ (và nhất là tại Bosnia) đã từng có các cuộc “thanh lọc chủng tộc” đẫm máu. Tại vài nước châu Phi, có các cuộc “thanh lọc bộ tộc”, nhưng chủ yếu là hệ quả của chính sách thực dân chia vùng ảnh hưởng thành các quốc gia thuộc địa không hợp lý (trước đó, các vùng này không phải là một quốc gia và có nhiều bộ tộc sinh sống) và chính sách giải thực vội vã (đúng ra là… bỏ chạy); các thủ lĩnh khích động tình cảm bộ tộc, có thể coi đây là một chủ nghĩa dân tộc sơ khai. Về đại thể đây là chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
•Tại một số nước (kể cả tại các nước dân chủ), trong một số hoàn cảnh (như khó khăn kinh tế), chủ nghĩa dân túy có dịp bùng nổ, chủ nghĩa này khích động tinh thần bài ngoại, kỳ thị chủng tộc, văn hóa,… Thí dụ là Mặt trận Quốc gia (Front National) của ông Le Pen, Pháp hay các nhóm “đầu trọc uống bia” tại một số nước thuộc khối Liên Xô cũ. Đây là một biến thể của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, các đảng chính trị cực hữu thường dùng thủ đoạn này.
•Các chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa: là các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản quốc tế (với khẩu hiệu “vô sản thế giới đoàn kết lại”) nên họ phải tôn sùng chủ nghĩa quốc tế của họ, thế nhưng, từ dân thường tới đảng viên (kể cả lãnh đạo), chẳng ai biết cái chủ nghĩa cộng sản (hay chủ nghĩa xã hội) là gì để mà ủng hộ, do đó họ phải thêm vào chiêu bài dân tộc dễ thuyết phục hơn. Riêng tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đưa ra khẩu hiệu “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”, mong dùng lòng yêu nước truyền thống để buộc dân tộc ta phải đi theo cái chủ nghĩa (mơ hồ) của họ. Đây là một chủ nghĩa dân tộc kiểu “mượn hoa cúng Phật”, dùng cái dễ khích động để bảo vệ nền chuyên chính vô sản của họ. Ngày nay, về lý thuyết, Trung Quốc vẫn theo chủ nghĩa xã hội, nhưng trên thực tế, kể từ thời Đặng Tiểu Bình, họ đã từ bỏ chủ nghĩa này; do đó, để bảo vệ cái chế độ đầu Ngô, mình Sở này và cũng để thực hiện giấc mộng bá quyền, họ chỉ còn có nước sử dụng chiêu bài dân tộc mà thôi; Trung Quốc ngày càng theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan (có thể coi như một Đức Quốc xã mới), đây là một hiểm họa cho các nước trong vùng và cả thế giới.
•Các chế độ độc tài (quân phiệt) khác: đây là các chế độ độc tài “tiền và súng” (vì quyền và lợi riêng của mình, họ sẵn sàng dùng bạo lực trấn áp, như Miến Điện, vài nước ở Phi, Mỹ Latinh). Vì cần dùng “súng” nên kẻ cầm quyền thường là các tướng lãnh (hay có liên hệ mật thiết với quân đội, công an). Do không có lý thuyết nào cả nên họ sẵn sàng gắn từ “phản quốc” cho bất kỳ ai mà họ cho là chống đối chế độ; ngược lại, những ai theo họ là “ái quốc”. Họ sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một luận cứ để bảo vệ cái ghế ngồi của họ.
•Các chế độ độc tài tôn giáo (toàn thủ): cụ thể là các nước (và cả các nhóm) Hồi giáo cực đoan kêu gọi tín đồ của họ trên toàn thế giới (tính quốc tế) mở cuộc thánh chiến chống lại “quỷ sa tăng” Mỹ và chư hầu. Có lẽ lý thuyết “người anh em Hồi giáo” (Les Frères musulmans – Muslim brothers) có ảnh hưởng quan trọng, chí ít lý thuyết này giải quyết được vấn đề chia rẽ lâu đời giữa các hệ phái Hồi giáo. Mặc dù có tính quốc tế, nhưng tại mỗi quốc gia này, chiêu bài dân tộc cũng vẫn được sử dụng vì lòng yêu nước vốn là tình cảm tự nhiên của người dân mọi quốc gia trên thế giới.
•Các chế độ dân chủ phương Tây: dân chủ và tự do (có thể gọi chung là Freedom) là những giá trị tinh thần lâu đời của họ và do đó họ thường nhắc lại những giá trị ấy. Khi gặp khó khăn, họ cũng kêu gọi lòng yêu nước của người dân thêm vào những giá trị ấy (như trong Thế chiến II: các nước dân chủ phe Đồng minh chống lại các nước độc tài phe Trục). Tất nhiên không phải lúc nào cái Freedom ấy cũng có chỗ đứng đúng nghĩa (Freedom là những giá trị nội tại, còn chính sách ngoại giao của họ lại là vấn đề khác). Trong Thế chiến II, đối với các nước bị xâm lăng, tinh thần dân tộc lên cao, đây là phản ứng tự nhiên của mỗi dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm; thế nhưng, khoảng thời gian từ trước (chuẩn bị chiến tranh) tới sau (tàn dư cuộc chiến) Thế chiến quá ngắn ngủi để thấy được các đặc trưng của tinh thần dân tộc này. Một cách tổng quát, chủ nghĩa dân tộc tại các nước này không có nét đặc trưng, mặc dù qua mỗi kỳ bầu cử, lại rộ lên các chiêu bài dân túy.
•Trong khoảng trước và sau Thế chiến I và II, nổi lên các phong trào giải thực xuất phát từ nguyện vọng muốn giành lại độc lập, tự do. Một cách tổng quát, tại một số nước, trong thời kỳ chống xâm lăng hay phục hưng, người dân nỗ lực thực hiện hoài bão muốn dân tộc họ trở thành một nước phát triển. Từ lý tưởng chính đáng ấy, đây là chủ nghĩa dân tộc trong sáng.
Nhìn từ góc độ thực tiễn, mọi chủ nghĩa dân tộc đều là phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Chủ nghĩa dân tộc, tự nó, không nhất thiết phải là “tốt” hay “xấu”, vấn đề là dụng ý của người sử dụng mà thôi; có thể phân loại thành: 1) chủ nghĩa dân tộc trong sáng (nhằm đạt được mục đích chính đáng) và 2) chủ nghĩa dân tộc thực dụng (dùng chủ nghĩa này như một phương tiện nhằm đạt được ý đồ riêng).

Nhìn từ góc độ lý tưởng, mọi dân tộc đều có quyền mơ ước quốc gia của họ hùng cường, vang danh trên thế giới. Nếu một quốc gia trở nên hùng cường nhờ vào tài năng và điều kiện khách quan thuận lợi mà không xâm lược, trấn áp các quốc gia khác thì rất đáng để mọi người khâm phục và học hỏi, rút kinh nghiệm. Ngược lại, chủ nghĩa dân tộc cực đoan muốn đạt mục đích “xưng hùng, xưng bá” của họ bằng cách chà đạp, trấn áp các dân tộc khác và khi cần chủ nghĩa này sẵn sàng gây chiến, xâm lược các quốc gia khác.

Trong một số trường hợp, chủ nghĩa dân tộc đáp ứng được nhu cầu thời cuộc. Thế nhưng việc lạm dụng nó, sử dụng nó như một công cụ nhằm đạt được tham vọng, mưu đồ riêng thay vì lợi ích chung của cả dân tộc thường chỉ đem lại những tai họa cho chính kẻ sử dụng, dân tộc ấy và có khi cho cả thế giới (trường hợp Hitler là thí dụ điển hình). Hơn nữa, chủ nghĩa dân tộc không chỉ đơn giản là các thủ đoạn tâm lý chiến nhằm khích động tình cảm, lòng yêu nước của nhân dân. Cần xem xét cái nội hàm của chủ nghĩa ấy. Phải chăng chỉ vì hình hài, màu da của kẻ thống trị? Nếu thế thì đây chỉ là chủ nghĩa chủng tộc và nếu kẻ thống trị là người bản địa thì “yêu nước là yêu kẻ thống trị” vì chúng là đại diện cho dân tộc hay sao? Phải chăng chỉ vì muốn dân tộc mình làm bá chủ vùng hay thế giới? Đây là điều đã từng xảy ra từ các đế quốc cổ đại đến các đế quốc Liên Xô, Trung Quốc, tự nhận là theo “tinh thần vô sản quốc tế” nhưng trên thực tế vẫn cổ vũ cho chủ nghĩa dân tộc của họ, nếu thế thì đây chỉ là chủ nghĩa chủng tộc mà thôi.

II. Chủ nghĩa dân tộc Việt
Trước hết, cần phải xem xét lại lịch sử, quá trình tư duy và hàm ý của lòng yêu nước của dân tộc.

Thời phong kiến, trong thế giới Trung Hoa, tình tự dân tộc tự nhiên như hơi thở, cứ mỗi lần bị Bắc Triều xâm lược, dân tộc ta (từ dân tới quan), muôn người như một, lại đứng lên đánh đuổi chúng. Từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, chủ nghĩa dân tộc Việt truyền thống là mong muốn đất nước được tự chủ (trong thế giới Trung Hoa thời ấy, nước Việt bị coi là một chư hầu, đối với người Việt đương thời, khái niệm “độc lập”, cả về nội dung lẫn hình thức, còn khá mơ hồ) và bảo vệ phong cách sống riêng (xem “Bình Ngô đại cáo” của cụ Nguyễn Trãi, các bài hịch của vua Trần Hưng Đạo, Quang Trung,…). Vì nặng về tình cảm, có thể coi đây là chủ nghĩa dân tộc cảm tính.

Tới thời thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, các sĩ phu viết “hịch Cần Vương” theo đúng bài bản trước đây mỗi khi đất nước bị xâm lăng, mặc dù thời thế đã đổi thay: thế giới Trung Hoa tàn lụi (Trung Hoa trở thành một nước bán thuộc địa) và đằng sau sức mạnh quân sự áp đảo của thực dân Pháp là một nền văn minh mới (văn minh phương Tây). Để đối phó với nền văn minh ấy, dân tộc ta chỉ biết dùng chủ nghĩa dân tộc cảm tính muôn thuở với vũ khí truyền thống và thô sơ (mặc dù có bắt chước sử dụng, chế tạo súng – cụ Cao Thắng -, nhưng không thể so sánh với cả một nền kỹ nghệ vũ khí của Pháp được).

Các phong trào Cần Vương thất bại, các nhà cách mạng phải mầy mò tìm ra phương thức và lý thuyết mới. Mỗi người mầy mò theo cảm nhận và điều kiện riêng của họ, dần dần hình thành các nhóm nhỏ có cùng một số quan điểm với các phong trào, lý thuyết (hay quan điểm): Đông Du, Duy Tân, thuyết Tam Dân (du nhập từ Trung Hoa), thuyết Dân tộc Sinh tồn, các tác phẩm của cụ Lý Đông A (Chính khí Việt, Huyết hoa), Đệ Tam, Đệ Tứ,… Ngoài ra, các sĩ phu thời ấy cũng tiếp cận với tư tưởng nhân quyền, dân chủ thông qua các bài viết của hai cụ Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi (người Hoa). Đây cũng là cuộc tiếp xúc, hội nhập với nền văn minh phương Tây trong lãnh vực chính trị. Tấm lòng của các thế hệ trước thật đáng trân trọng; thế nhưng, ngày nay, nhìn lại buổi giao thời ấy, chúng ta không khỏi suy ngẫm về một số vấn đề cơ bản, đặc biệt là các cách tiếp cận vấn đề của họ.

1.Từ cách nhìn thực tiễn: Với sự đi lên của Nhật Bản (một nước châu Á, cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa), cụ Phan Bội Châu chủ trương dựa vào Nhật. Một số người chỉ trích phong trào Đông Du của cụ quá trông chờ vào ngoại viện. Nhìn từ góc độ hiệu quả nhất thời thì điều này đúng (vì rốt cuộc phong trào Đông Du chỉ đào tạo được một số nhỏ người), nhưng cũng cần thấy là mặc dù dân tộc ta có một nền văn minh lâu đời nhưng chỉ là nền văn minh lúa nước cổ xưa, dân trí kém, lại là một dân tộc bị trị thì làm sao có tiềm lực để đánh đuổi thực dân Pháp? Việc tìm kiếm đồng minh (ngoại viện) là điều hiển nhiên cần thiết và không phải chỉ có cụ Phan mới có ý định ấy. Chứng cứ là tên gọi Việt Minh là viết tắt của Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh với từ “Đồng minh” đầy dụng ý. Xuyên suốt cuộc chiến Việt-Pháp và tại Đông Dương sau này, Việt Nam nhận viện trợ của khối XHCN (xã hội chủ nghĩa) với Liên Xô và Trung Quốc là chủ yếu: huấn luyện người, kinh tế, vũ khí và cả cố vấn quân sự, quân đội,… Nhìn từ góc độ hậu quả lâu dài, cần đặt câu hỏi: phải chăng các vụ “nhượng đất, nhượng biển” ngày nay là cái giá phải trả cho Bắc Kinh? Nếu đúng thì đây là một bài học đắng cay đắt giá, đáng để đời trong mối quan hệ Việt-Trung.

2. Về quan điểm, lý thuyết: Đại đa số các lý thuyết (hay quan điểm) nêu trên có nguồn gốc từ phương Tây (kể cả thuyết Tam Dân vì thuyết này của cụ Tôn Dật Tiên cũng đi từ tư tưởng nhân quyền, dân chủ của phương Tây) và được cải biên lại. Về đại thể, các lý thuyết (hay quan điểm) này đều ít, nhiều là một chủ nghĩa dân tộc, mặc dù Đệ Tam và Đệ Tứ có mâu thuẫn quan điểm “quốc tế-dân tộc” (riêng về Đệ Tam, việc thống nhất 3 đảng cộng sản Đông Dương và do cụ Hồ Chi Minh lãnh đạo là một dấu hiệu cho thấy họ muốn tạm thời từ bỏ tính quốc tế: cụ Hồ Chí Minh có quan điểm thuộc loại trung dung và thiên về dân tộc, khác với khuynh hướng cực đoan, “sắt máu” theo đúng quan điểm đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản và Stalin của Trần Phú, Hà Huy Tập,… – một biểu hiện của khuynh hướng quốc tế và tả khuynh là vụ Xô-viết Nghệ Tĩnh năm 1930).

Sự khác biệt lý thuyết nêu trên dẫn tới các tranh cãi, thậm chí tranh chấp về quan điểm: bảo hoàng (lập lại chế độ quân chủ, với cụ Cường Để), ít, nhiều cực hữu (Đại Việt) hay cực tả (Đệ Tam, Đệ Tứ),… Điều ngộ nghĩnh là tranh chấp Đệ Tam – Đệ Tứ vốn là vấn đề riêng giữa Stalin và Trotsky lại trở thành sự đấu đá giữa hai khuynh hướng Tam – Tứ Việt!

Cũng cần xem lại nguồn gốc của từ “quốc gia” với từ kép “quốc-cộng” và các cụm từ liên hệ: tại Trung Hoa, cụm từ “cuộc chiến quốc-cộng” là một cuộc nội chiến và đấu tranh ý thức hệ, với từ kép “quốc-cộng”: “quốc” là Quốc dân Đảng, “cộng” là Đảng Cộng sản Trung Hoa, mọi chuyện đều rõ ràng; trong khi đó, tại nước Việt, “cộng” thì rõ ràng (Đảng CSVN), nhưng “quốc” là viết tắt của từ “quốc gia”, không nêu đích xác một chính đảng nào và về nghĩa lại khá mơ hồ:

•Theo định nghĩa, từ “quốc gia” (state, etat) hay “đất nước” dùng để chỉ một lãnh thổ có chủ quyền; tự nó không hàm ý một chủ nghĩa nào cả. Về sau này, khoảng những năm 1930 trước Thế chiến II, việc một số quốc gia (Đức, Ý, Nhật…) mới nổi lên và có khuynh hướng đối đầu với các cường quốc đương thời (Anh, Pháp,… là các đế quốc có nhiều thuộc địa) khiến một số các nhà cách mạng ở các nước bị trị, trong dó có nước Việt, có cảm tình với các nước này và ít, nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan của họ. Các đảng chính trị cực hữu tại các nước này thường dùng từ “quốc gia” để khích động người dân, hai thí dụ là Đảng Phát-xít Ý (Partito Nazionale Fascista – National Fascist Party) và Đảng Quốc xã Đức có tên chính thức là Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội Đức (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei – National Socialist German Workers’ Party), có lẽ từ “quốc gia” (hàm ý dân tộc) có thêm hàm ý chống cộng (quốc tế). Việc có cảm tình với các nước mới nổi này là phản ứng thông thường của người dân một nước bị trị, còn tác hại của các chủ nghĩa cực đoan này thì người đương thời khó thấy được. Từ đó và sau này, tại nước Việt, có các cụm từ như “chánh nghĩa quốc gia”, “lý tưởng quốc gia”,…
•Thời kỳ 1945, có cuộc tranh chấp giữa Đảng CSVN và các đảng chính trị và hệ phái tôn giáo khác, do tính chất “đảng tranh”, từ “quốc gia” lại hàm ý cuộc đấu đá “quốc-cộng”.
•Từ 1954, nước Việt bị chia đôi và sau đó là cuộc nội chiến Bắc-Nam (một khía cạnh của cuộc chiến tại Đông Dương lần 2), tại miền Nam, tính chất quốc gia – cộng sản lại tăng lên gấp bội.
•Sau 1975, đa số những “thuyền nhân” có ít, nhiều dính lứu tới chế độ miền Nam cũ (VNCH), thường được coi / tự nhận là “người quốc gia” nghiêng về phe bảo thủ (thậm chí có khi là cực hữu) tại các quốc gia sở tại. Đa phần những người này vì oán hận chế độ Hà Nội nên có cảm tình với phe bảo thủ (có khi là cực hữu) để chứng tỏ quyết tâm “không đội trời chung với cộng sản” mà thôi, họ chẳng cần biết rằng các đảng cực hữu (có khi là bảo thủ) chủ trương bài ngoại!
Trở lại về quan điểm, lý thuyết, điều đặc biệt là không thấy sự hiện diện thực sự của khuynh hướng Đệ nhị Quốc tế, với các đảng dân chủ xã hội, tiền thân của các đảng xã hội sau này. Đảng Xã hội trong Mặt trận Việt Minh (1946) chỉ là cái bình phong được lập ra nhằm che giấu thực chất của Đảng CSVN trong Mặt trận này mà thôi. Về quan điểm, Đệ Nhị cũng theo chủ nghĩa xã hội như Đệ Tam (và Đệ Tứ). Sự khác biệt giữa các đảng cộng sản (Đệ Tam) và xã hội (Đệ Nhị) gồm 2 điểm chính: 1) đảng cộng sản chủ trương thành lập chế độ chuyên chính vô sản (được coi là “nguyên tắc”, một thể hiện của nguyên tắc này là điều 4 Hiến pháp của chế độ Hà Nội) trong khi đảng xã hội không chấp nhận nguyên tắc này (có nghĩa là chấp nhận một chế độ dân chủ), 2) đảng cộng sản chủ trương đấu tranh lật đổ chế độ đương thời (kể cả việc dùng bạo lực, còn “đấu tranh nghị trường” chỉ là sách lược nhất thời mà thôi) trong khi đảng xã hội chủ trương đấu tranh nghị trường. Chính vì muốn dùng bạo lực nên “đảng kiếu mới” của Lenin là một tổ chức bán quân sự, Đảng CSVN cũng tổ chức theo mô hình ấy; từ quan điểm tới tổ chức, việc Đảng CSVN lãnh đạo đấu tranh là một nguyên nhân khiến phương thức đấu tranh bạo động là điều không tránh khỏi.

3. Từ bản chất và thực trạng của dân tộc: Cách tiếp cận vấn đề của đại đa số các lý thuyết (hay quan điểm) nêu trên đều là cách trực tiếp, đối đầu, tức khắc: vì đất nước ta trở thành thuộc địa của Pháp nên phải đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập; giống như trước đây dân tộc ta phải đánh đuổi giặc phương Bắc. Giản dị thế thôi! Cách làm này là một thứ phản xạ tự nhiên, theo kiếu trả đũa (người đánh ta thì ta đánh trả – chủ trương bạo động) và với sự nóng vội mong có kết quả (giành lại độc lập) tức thời.

Từ nhận định về tình trạng của dân tộc ta thời đó, cụ Phan Chu Trinh có cách tiếp cận khác hơn: mặc dù mục đích vẫn là giành độc lập, nhưng trước tình trạng dân tộc suy yếu, dân trí thấp kém như thế, trước tiên cần phải “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh”, với phương châm “Tự lực khai hóa”, cụ vận động những người cùng chí hướng thức tỉnh dân chúng, tuyên truyền tư tưởng dân quyền. Đây là cách tiếp cận gián tiếp, không đối đầu, giai đoạn: để giải quyết vấn nạn giặc Pháp, cụ không kêu gọi kiểu “giặc đến nhà, đàn bà phải đánh!”, phong trào Duy Tân của cụ không phải là một tổ chức chính trị (hay cách mạng) đối đầu với chính quyền đương thời, cụ chủ trương phải có “dân trí, dân khí, dân sinh” (nói theo kiểu ngày nay là “nội lực”) trước khi giải quyết vấn đề độc lập.

So sánh chủ trương của cụ Phan và các khuynh hướng khác, chúng ta thấy có sự khác biệt về trình tự giải quyết vấn đề độc lập: xây dựng “nội lực” trước hay phát động đấu tranh giành độc lập trước (bằng bất cứ giá nào và không quan tâm tới “nội lực”)?

Ngoài ra, dù trước hay sau, chính quyền mới (độc lập) cũng vẫn phải đối diện với vấn đề hội nhập là điều cần phải đặt ra kể từ khi bị thực dân Pháp xâm lược: trở lại với nền văn minh Trung Hoa (đang tàn lụi) hay tiếp thu nền văn minh phương Tây?

Sau thời kỳ Cần Vương, gián tiếp hay trực tiếp, các khuynh hướng chính trị (Đông Du, Duy Tân, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại Việt, Đệ Tam, Đệ Tứ,…) đều ít/nhiều có hàm ý thừa nhận nền văn minh phương Tây. Cụ Phan Bội Châu muốn dựa vào Nhật Bản vì họ đã tiếp thu được nền khoa học, kỹ thuật phương Tây và trở nên một nước hùng mạnh. Cụ Nguyễn Thái Học tiếp thu thuyết Tam Dân, là một thể hiện của tư tưởng nhân quyền, dân chủ. Đệ Tam, Đệ Tứ theo chủ nghĩa xã hội của Marx (mặc dù Đệ Tứ chống lại Stalin) xuất xứ từ phương Tây. Riêng về Đệ Tam (Đảng CSVN) theo chủ nghĩa xã hội của Marx, ông này là một triết gia, mặc dù về bề nổi lý thuyết của ông ta chống tôn giáo (thần học) nhưng chủ nghĩa của ông ta chỉ là hướng ngược lại của cùng con đường tôn giáo (thiên đường cộng sản chẳng qua cũng là khái niệm thiên đường trong tôn giáo mà thôi); hơn nữa cái chủ nghĩa xã hội du nhập vào nước Việt lại là bản sao (ở mức độ sơ khai, “yếu lược”) cộng thêm “mắm muối” là chủ nghĩa Lenin, Stalin, Mao và cuối cùng là tinh thần câu nệ Khổng giáo còn rơi rớt lại của chính những đảng viên Đảng CSVN! Riêng cụ Phan Chu Trinh, mặc dù có cảm tính với Đảng Xã hội Pháp (Đệ Nhị) và thiên về quan điểm nhân quyền, dân chủ, nhưng chủ yếu cụ muốn thực hiện một cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện xã hội.

Giả sử như phong trào Duy Tân thành công, sự thành công này tạo tiền đề để dân tộc ta giải quyết rốt ráo vấn đề hội nhập. Trước đây, khi phương tiện giao thông còn thô sơ, việc giao lưu kinh tế và văn hóa rất hiếm hoi, ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt (như truyền bá tôn giáo), việc hội nhập hầu như không đáng kể; kể từ khi phương Tây xâm chiếm và khai thác thuộc địa ở mức độ toàn thế giới, tiến trình hội nhập bước sang giai đoạn phát triển mới, dù muốn hay không, các quốc gia bị trị phải đối diện với vấn đề hội nhập, vì đằng sau sức mạnh quân sự là nền văn minh mới – văn minh phương Tây -, trong đó có giá trị dân chủ. Đối với các dân tộc này, ngoài vấn đề giành lại độc lập, câu hỏi còn lại là họ chấp nhận hay phủ nhận, toàn bộ hay từng phần, nền văn minh mới này? Hơn nữa, họ có đủ “nội lực” để chủ động thực hiện lựa chọn của họ hay không? Riêng đối với nước Việt, chủ trương “dân trí, dân khí, dân sinh” là trang bị tối cần thiết để dân tộc ta trả lời câu hỏi nêu trên.

Trước đây, một số người cho rằng cụ Phan Chu Trinh theo khuynh hưởng “cải lương” (thường với hàm ý tiêu cực là không triệt để), Đảng CSVN cũng nhận định như thế, một phần vì họ muốn quảng cáo cho đường lối đấu tranh bạo động “đúng đắn” của họ và do đó chê bai mọi đường lối khác, phần khác xuất phát từ quan điểm chung của các đảng cộng sản (Đệ Tam) phê phán các đảng xã hội (Đệ Nhị) là “cải lương”, “thỏa hiệp” với tư bản (cụ Phan có khuynh hướng gần với Đảng Xã hội Pháp). Ngày nay, 70-80 năm đã qua, với bao đau thương, mất mát, thất vọng, nhục nhã và kinh nghiệm đắng cay, một số người, trong và ngoài nước, mới xem xét và đánh giá lại chủ trương đúng đắn của cụ.

Thế nhưng vì sao chủ trương đúng như thế lại không được đông đảo những nhà cách mạng đương thời ủng hộ và tham gia? Sau đây là vài giải thích:

•Khi bị thực dân Pháp xâm lược, phong trào Cần Vương là phản ứng tự nhiên, truyền thống của sĩ phu thời ấy (giống như khi bị Bắc Triều xâm lược); phong trào này thất bại, các nhà cách mạng phải thay đổi quan điểm, phương hướng hoạt động, nhưng mục tiêu trước tiên cũng vẫn là đánh đuổi thực dân Pháp mà ít/không quan tâm tới “nội lực” của dân tộc, còn việc phủ nhận/chấp nhận nền văn minh phương Tây khá mơ hồ và có nhiều ý kiến khác biệt, sự khác biệt này là các cảm nhận, đánh giá khác nhau về hiệu quả của các chủ nghĩa nhập cảng này đối với mục tiêu giành lại độc lập mà thôi. Một dẫn chứng là cụ Hồ Chí Minh nói về lựa chọn Đệ Nhị hay Đệ Tam của mình: tôi chọn Đệ Tam vì chỉ có Đệ Tam mới nêu lên vấn đề giải phóng thuộc địa; ngoài ra cụ dịch cuốn Chủ nghĩa cộng sản yếu lược của Stalin là một cuốn sách vỡ lòng về chủ nghĩa cộng sản làm tài liệu truyền bá chủ nghĩa này, trong khi Marx là một triết gia và những điều ông ta viết không đến nỗi thô thiển, ấu trĩ đến thế! Ngoài ra, việc nhập cảng và cải biên các lý thuyết, chủ nghĩa khác thể hiện một giấc mơ, hoài bão (đầy cảm tính) về một dân tộc Việt hùng cường với mục tiêu trước mắt là giải phóng dân tộc; có thể coi đây là một chủ nghĩa dân tộc cảm tính. Vì quá quan tâm đến mục tiêu trước tiên nêu trên nên họ không hưởng ứng chủ trương giai đoạn của cụ Phan Chu Trinh.
•Do yếu kém về tư tưởng (tư tưởng nhân quyền, dân chủ không trực tiếp du nhập vào nước Việt), choáng ngợp bởi các lý thuyết mới của phương Tây và sự nổi lên của một số quốc gia (Đức, Ý, Nhật) đối đầu với các đế quốc đương thời, trong đó có Pháp, nên các nhà cách mạng không quan tâm tới thực trạng đáng buồn của dân tộc mà cụ Phan đã nhận định. Xét cho cùng, dân tộc ta không tiêu hóa nổi văn hóa chính trị phương Tây còn quá mới.
•Sự thiếu vắng của một đảng xã hội Việt đặt ra câu hỏi là phải chăng vì quan điểm, chủ trương của các đảng xã hội (theo khuynh hướng Đệ Nhị) mang tính “cải lương”, “thỏa hiệp” (nói theo kiểu tả khuynh thời ấy) nên các nhà cách mạng Việt (với tinh thần triệt để) không muốn du nhập?
•Về đại thể, động cơ thúc đẩy dân tộc ta muốn đánh đuổi thực dân Pháp là sự uất ức và thù hận (với một nguyên nhân gần là nạn đói năm Ất Dậu 1945), còn việc thực hiện công cuộc giành lại độc lập thì tùy thời mà hành động (ngoại trừ con đường của cụ Phan Chu Trinh). Đây là phản ứng của cảm tính, nói cách khác là cách tiếp cận cảm tính mà thôi. Nhân đây, cũng cần nhắc lại thời “chống Mỹ cứu nước”, ông Tố Hữu, cứ ngồi tròn xoe trong nhà mà hô hoán “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, vậy xin hỏi ông: khi giặc đi rồi, ông có thể lấp lại dẫy Trường Sơn đã bị xẻ đôi hay không?
Tới khi chiến tranh Việt-Pháp nổ ra, dân tộc ta bị lôi cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh, các tranh cãi lý thuyết và tranh chấp chính trị (“đảng tranh”) ngắn ngủi thời kỳ 1930-1945 hầu như tan biến trong vòng xoáy ấy. Sau vài năm hòa bình, cả dân tộc lại lao đầu vào cuộc chiến mới. Trong cơn bão thời cuộc ấy, người Việt trở thành một con ốc trong guồng máy chiến tranh, một con tốt đen trong bàn cờ chính trị thế giới. Thiên hạ tranh hùng, tranh bá, thắng thua thế nào là chuyện của họ, còn dân tộc ta lại chọn lá bài “đằng nào cũng thua”!

Tóm lại, từ khi bị xâm lược, dân tộc ta có hai vấn đề cơ bản cần giải quyết: độc lập và hội nhập. Xét cho cùng thì độc lập chỉ là hệ quả của vấn đề hội nhập mà thôi: 1) Thái Lan không bị mất độc lập vì họ áp dụng chính sách ngoại giao mở cửa cho tất cả mọi cường quốc, 2) Nhật Bản trở thành một cường quốc vì họ đã thành công trong công cuộc hội nhập từ thời Minh Trị Thiên Hoàng, hơn nữa ngày nay sức mạnh kinh tế của Nhật Bản khiến họ không còn là một quốc gia thua trận và chịu sự khống chế của Đồng minh (Hoa Kỳ) như thời sau 1945, 3) triều Nguyễn Gia Long vì áp dụng chính sách “bế quan, tỏa cảng” nên dân tộc bị mất độc lập. Đối với dân tộc ta, từ một vấn đề “hội nhập” lại trở thành hai vấn đề “độc lập và hội nhập”! Hơn nữa, từ 1975 đến nay, lịch sử đã chứng minh rằng dù có độc lập nhưng lại còn tồi tệ hơn trước (nhân dân ao ước: bao giờ cho đến… ngày xưa!), hơn nữa từ “độc lập” nay lại trở thành một câu hỏi lớn.

III. Một chủ nghĩa dân tộc Việt mới?
Loạn chủ nghĩa

Trước hết cần xem xét lại từ “chủ nghĩa”. Từ này quá chung chung, hầu như người ta có thể gắn từ “chủ nghĩa” vào bất kỳ một khuynh hướng, quan điểm nào đấy; điều này có thể dẫn đến những ngộ nhận kỳ quái:

- Chủ nghĩa xã hội (danh từ chung) đi từ tư tưởng xã hội đã có từ trước Mác, xuất hiện từ thời tư bản tự phát (với khởi đầu là sự cơ giới hóa ngành dệt,…) dẫn tới bất bình đẳng và tranh chấp xã hội. Sau này Marx đặt tên cho chủ nghĩa của mình là chủ nghĩa xã hội khoa học (từ đó đi lên giai đoạn chủ nghĩa cộng sản) để phân biệt với cái được gọi là “chủ nghĩa xã hội không tưởng” đã có từ trước. Về sau, do thói quen giản lược từ ngữ và hậu quả của các tranh chấp “tả-hữu”, chủ nghĩa xã hội khoa học trở thành chủ nghĩa xã hội (của Marx). Nhìn từ góc cạnh xã hội, xét cho cùng thì chủ nghĩa xã hội (danh từ chung) có từ trước và sau chủ nghĩa Marx: chừng nào còn có những bất bình đẳng xã hội quá lớn vẫn cần có một chủ nghĩa xã hội nào đó. Hơn nữa, trước đây bất bình đẳng xã hội chủ yếu là bất bình đẳng kinh tế (Marx phê phán dân chủ tư sản là dân chủ “vỏ”: tư bản bóc lột công nhân, không chia sẻ lợi nhuận kinh tế và mặc dù có các cuộc bầu cử nhưng rốt cuộc, dưới bất kỳ chính quyền “tư sản” nào, giai cấp vô sản cũng vẫn chỉ có cái bụng đói meo mà thôi), ngày nay, suy rộng ra, sự bất bình đẳng ấy không chỉ đơn thuần là về kinh tế. Mặt khác, tại các nước phát triển ngày nay, để giải quyết bất bình đẳng kinh tế, người ta dựa trên hai quan điểm đối chọi nhau: “chia đều cái bánh” (khuynh hướng xã hội, đã có từ khoảng 200-300 năm nay) và “làm cho cái bánh lớn hơn” (khuynh hướng tự do kinh tế). Riêng tại nước Việt, với chế độ “tư bản đỏ” ngày nay, ý nghĩa nguyên thủy của quan điểm xã hội vẫn còn nguyên vẹn!

- Người ta thường so sánh chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản (hay chủ nghĩa xã hội). Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự so sánh này: 1) hậu quả của các cuộc đấu tranh giai cấp thời kỳ tư bản tự phát, 2) hậu quả của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai phe “tự do” và “cộng sản”, 3) chủ nghĩa Marx coi chủ nghĩa tư bản là đối tượng, đối thủ của chủ nghĩa cộng sản (với lối lý luận nhị nguyên kiểu “thiên đường-địa ngục chia hai).

Đây là một so sánh khập khiểng, vì chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa toàn trị, một hệ tư tưởng bao trùm mọi lãnh vực, từ kinh tế đến xã hội, khoa học, văn hóa, đạo đức, tâm linh…, trong khi chủ nghĩa tư bản chỉ là các lý thuyết nhằm quản lý nền kinh tế thị trường, mục đích duy nhất của nó là năng suất (bao gồm lợi nhuận, lợi nhuận là động cơ phát triển kinh tế thị trường); mặc dù có quan hệ hữu cơ với các lãnh vực khác, nhưng chủ nghĩa tư bản chỉ nằm trong lãnh vực kinh tế mà (đối với chủ nghĩa tư bản, việc “bóc lột” hay “không bóc lột” thuộc về phạm trù năng suất chứ không phải là phạm trù đạo đức; nói cách khác, trước đây khi thấy con số 8, giới chủ bèn hoảng sợ vì liên tưởng tới yêu sách ngày làm 8 giờ của công nhân, đáp ứng yêu sách này là làm giảm năng suất; sau này với sự hình thành xã hội tiêu thụ, giới chủ không những hài lòng với các yêu sách ngày làm 8 giờ, được nghỉ hè có lương,… mà họ còn rất quan tâm tới sức mua của người làm công vì họ hiểu rằng sức mua lớn dẫn tới lợi nhuận nhiều cho họ). Điều kỳ dị là, vô tình hay cố ý, có người nhân cách hóa (hay sinh vật hóa) chủ nghĩa tư bản, coi nó như một con (quái) vật kiểu “chủ nghĩa tư bản giẫy chết”, “chủ nghĩa tư bản biết điều tiết”; họ không thấy được là chủ nghĩa tư bản chỉ là hệ quả của nền kinh tế thị trường mà thôi (đây là các lý thuyết kinh tế nhằm giải quyết các khó khăn, khủng hoảng hay nhằm phát triển nền kinh tế này) và sự hình thành nền kinh tế thị trường là kết quả tự nhiên của công cuộc kỹ nghệ hóa kinh tế; không ai phát minh ra nó cả (ngược với cái gọi là “nền kinh tế hoạch định xã hội chủ nghĩa” của chủ nghĩa Marx được tạo ra trong mục đích toàn trị của chủ nghĩa này); nếu không muốn trở lại thời kỳ trước kỹ nghệ hóa thì – dù muốn dù không – phải sống với nền kinh tế thị trường, giả sử như có một cuộc khủng hoảng kinh tế và không có lý thuyết (tư bản) nào giải quyết thì nhân loại… chết ráo cả!

Từ nhận định trên, việc so sánh chế độ tư bản và chế độ cộng sản (hay chế độ xã hội chủ nghĩa) cũng là một so sánh khập khiễng. Một quốc gia theo chế độ tư bản là lựa chọn kinh tế: kinh tế thị trường (nói một cách giản dị là để cho người dân tự do làm ăn), còn thế chế chính trị là một lựa chọn khác: độc tài, quân chủ, dân chủ,… Trong khi chế độ cộng sản là lựa chọn kinh tế: kinh tế hoạch định XHCN và chính trị: chế độ độc tài đảng trị kiểu cộng sản trị, vì quốc gia này đi theo chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa toàn trị. Khi Đặng Tiếu Bình chủ trương “đổi mới kinh tế trước, cải tổ chính trị sau” thì điều này có nghĩa là họ Đặng lựa chọn nền kinh tế thị trường (nói cách khác là theo chế độ tư bản) nhưng vẫn giữ “cái đuôi” (độc tài) cộng sản (“chủ nghĩa xã hội theo màu sắc Trung Quốc”). Về sau, Hà Nội cũng bắt chước “anh Hai” và hô hoán “đổi mới hay là chết!” (thay vì “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội!”) và ngày nay, Hà Nội mong muốn được thế giới công nhận nền kinh tế Việt là một nền kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

- Về mặt hiệu quả, các chủ nghĩa nêu trên đạt được mục tiêu gì? Xin xem xét 3 trường hợp cụ thể:

1. Chủ nghĩa Tam Dân: tại Trung Hoa, chủ nghĩa này thực hiện được cuộc cách mạng Tân Hợi, xóa bỏ được chế độ phong kiến lâu đời, thế nhưng chế độ mới của Tưởng Giới Thạch lại nhanh chóng trở thành một chế độ nửa quân phiệt, nửa phong kiến. Té ra thuyết Tam Dân này chỉ được thực hiện một cách nửa vời! Do không đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh) do chính thuyết Tam Dân đề ra, nên về sau này sự thất bại của Tưởng trong cuộc chiến quốc-cộng là điều không tránh được.

2. Chủ nghĩa cộng sản: trong hoàn cảnh bần cùng của các tầng lớp nhân dân lao động thời đó, Marx đề ra chủ nghĩa cộng sản với thiên đường cộng sản “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” (nôm na là giấc mơ “ngày mai ăn phở khỏi trả tiền”) và ông ta phê phán “dân chủ tư sản là dân chủ vỏ”; chưa cần xem xét dân chủ vỏ/thực là thế nào, chỉ cần thấy mọi chế độ XHCN trên thế giới đều là chế độ độc tài thứ thệt.

3. Riêng trường hợp nước Việt: năm 1945, Đảng CSVN thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ (CMDTDC, từ dân chủ hàm ý dân chủ tư sản) với khẩu hiệu “độc lập, tự do, hạnh phúc” là giai đoạn chuyển tiếp trước khi phát động cách mạng vô sản. Hiệu quả của việc thực hiện chủ nghĩa xã hội đã được thấy rõ và đã trình bày trong phần đầu của bài, ở đây chỉ xem xét 2 khẩu hiệu “độc lập” và “tự do”. Sau 4.1975, Hà Nội tuyên bố “từ nay, đất nước sạch bóng quân thù”, ngày nay, cái bóng của tàu chiến Bắc Kinh tràn ngập Biển Đông, vậy phải chăng mục tiêu “độc lập” của CMDTDC đã hoàn toàn đạt được? Từ 1953 tới nay, với Đề cương văn hóa (buộc văn nghệ sĩ phải chấp hành quan điểm giai cấp, không còn được tự do sáng tác), cuộc “rèn cán, chỉnh quân”, “đấu tố” (kiểu Mao, với khẩu hiệu “trí, phú, địa, hào; đào tận gốc, bật tận rễ”), “cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam”,… và chỉ riêng trong lãnh vực văn hóa, từ trước cho đến nay, Bộ “4T” (hay Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương) vẫn là cái “lửng lơ” trên đầu giới làm văn hóa; vậy cái “tự do” của CMDTDC vẫn còn là mục tiêu chưa đạt! Riêng về “hạnh phúc” là một khái niệm nằm trong phạm trù cá nhân (mỗi người cảm thấy hạnh phúc theo cảm quan, nhu cầu riêng của họ) chứ không phải và không thể là chuyện “đem lại hạnh phúc cho nhân dân” như những người chủ trương CMDTDC lầm tưởng rằng họ có thể ban phát cho nhân dân được và do đó coi hạnh phúc là một mục tiêu.

Chủ nghĩa và học thuyết

Như trên đã trình bày, chủ nghĩa thường chỉ đem lại… sự bát nháo. Thế nhưng, trong lãnh vực chính trị, có những hoàn cảnh cực kỳ phức tạp, khó khăn, đa diện như khủng hoảng kinh tế thế giới, chiến tranh lớn,…; do đó cần xây dựng một lý thuyết (với quan điểm, mục tiêu, phương châm,…), từ đó xây dựng sách lược, phương án, lập kế hoạch,… và làm kim chỉ nam hướng dẫn hành động. Từ đó, có khái niệm học thuyết (doctrine), khái niệm này khá mơ hồ và ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào mỗi lãnh vực (tôn giáo, kinh tế, chính trị,…); trong bài chỉ đề cập tới lãnh vực chính trị và góc cạnh thực tiễn mà thôi.

Sự hình thành học thuyết nhằm đáp ứng nhu cầu thời cuộc. so với chủ nghĩa, học thuyết chỉ nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể đã định, được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn (5-10 năm) và trái với chủ nghĩa “toàn diện” (như chủ nghĩa Marx, tôn giáo toàn thủ,…), học thuyết không phải là một triết lý, tư tưởng toàn thể, vượt thời gian, có giá trị phổ quát (thí dụ: chủ nghĩa Marx mang tính toàn diện, vĩnh hằng, tuyệt đối – những điều Marx nêu lên là không thể sai chẳng khác gì “khuôn vàng, thước ngọc” của cụ Khổng).

Thường thì chỉ có các quốc gia lớn mới cần phải có học thuyết để vượt qua các thử thách lớn. Xin nêu một số thí dụ:

- Trường hợp Hoa Kỳ: 1) chính sách New Deal (mặc dù không được gọi là học thuyết) nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 khởi đầu tại Mỹ và lan ra toàn thế giới, 2) học thuyết Nixon, đằng sau mục tiêu trước mắt là rút quân khỏi miền Nam nước Việt là xác định lại các mục tiêu và bố trí lại lực lượng, đặc biệt tại Đông Nam Á và Đông Á (lợi dụng sự rút lui này, Bắc Kinh bành trướng ảnh hưởng của họ tại Đông Nam Á), 3) vì Hoa Kỳ là một siêu cường, phải giải quyết nhiều vấn đề trên phạm vi toàn thế giới, nên đằng sau các cuộc bầu cử tổng thống thường là việc chuẩn bị nhóm cầm quyền mới, với một học thuyết mới.

- Trường hợp Trung Quốc: 1) sau thời đại “hoàng đế đỏ” Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình đưa ra chính sách “mèo trắng, mèo đen” với “4 hiện đại” nhằm… xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền kinh tế thị trường, giải quyết tai họa của “bè lũ 4 tên” trong Cách mạng Văn hóa và phá sản kinh tế kể từ khi Mao đưa ra bước Đại nhảy vọt; cái gọi là “chủ nghĩa xã hội theo màu sắc Trung Quốc” chỉ nhằm mục đích biện minh cho sự tiếp tục hiện hữu và cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc, 2) Giang Trạch Dân đưa ra thuyết “3 đại diện” với mục đích là chính thức hóa, mở đường cho đám “tư sản đỏ” lên nắm quyền; giải quyết chuyện nội bộ trong đảng được coi là “đảng của giai cấp công nhân”, “liên minh với giai cấp nông dân”, 3) Hồ Cẩm Đào đưa ra luận điểm “xã hội hài hòa” nhằm mục đích xóa bỏ… đấu tranh giai cấp đang diễn ra từng ngày và trở nên cực kỳ nghiêm trọng với nguy cơ bạo loạn, do chính sự lên ngôi của tầng lớp “tư sản đỏ”, với hậu quả là lạm quyền, lộng quyền, tham nhũng, ăn cắp của công, cướp đất, bóc lột dân đen, người lao động (đa số là nông dân),…

Riêng trong trường hợp nước Việt, lần đầu tiên dân tộc ta phải đối phó với hoàn cảnh “thù trong, giặc ngoài” (trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, cầm đầu Tổng Cục 2 và cũng là nhân vật thân Bắc Kinh, nay được lên làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, vậy thì cái bộ ấy còn làm được cái gì nữa?!), lại không có chỗ dựa (đồng minh) nào cả, đa số người dân chỉ biết cúi đầu chịu nhục, lo làm ăn hầu như bằng bất cứ giá nào (kể cả làm nàng Kiều thời đại ở khắp nơi trên thế giới – nói thẳng thừng là làm đĩ bốn phương -, con ở được gọi tránh né là ô-sin, tha phương cầu thực, buôn lậu, trồng cần sa,… làm sát thủ,…)!

Từ tình trạng “thế cùng, lực kiệt” hiện nay, để giải quyết những vấn đề của dân tộc, cần phải xây dựng một lý thuyết (học thuyết) làm tư tưởng chỉ đạo. Đối với dân tộc ta, đây là việc làm quá sức, thế nhưng tình thế bắt buộc chúng ta phải làm công việc ấy mới mong thoát được hoàn cảnh ngặt nghèo hiện nay: con người tha hóa, tài nguyên khánh tận, môi trường hủy diệt, chế độ độc tài, tham nhũng, ác độc, ngu xuẩn, ươn hèn (nếu chưa phải là làm tay sai cho ngoại bang, sẵn sàng bán đứng đất, biển, tài nguyên lấy ít tiền bỏ vào cái túi không đáy của họ) và hiểm họa Bắc Triều.

Vì công cuộc xây dựng học thuyết quá khó khăn nên cần phải có sự tham gia của mọi người, nhất là các chuyên viên (chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự, luật pháp và luật pháp quốc tế, lịch sử, văn hóa,…). Việc thực hiện, tất nhiên cần phải có sức của toàn dân với nhiều gian khổ, hy sinh, mất mát và thậm chí có thể có mất mát to lớn, lâu dài. Đổi lại, dân tộc ta mới thực sự có độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, hòa bình, thịnh vượng, được đối xử bình đẳng; đối với thế giới, nước Việt có vị trí tương xứng với cuộc đấu tranh từ hơn trăm năm nay kể từ ngày bị thực dân Pháp đô hộ; người dân hãnh diện mình là một Con Người và là Người Việt!

Tinh thần Việt

Để xây dựng học thuyết, điều trước tiên là phải trả lời câu hói Đâu là tinh hoa của dân tộc? Đối với một quốc gia, tinh hoa là những giá trị tinh thần của quốc gia ấy. Chính cái tinh hoa ấy khiến cho, sau một ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc ta mới vùng lên, dựng nước và giữ nước cho tới khi thất bại trước nền văn minh Tây phương.

Giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống

Nhắc lại, những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt là mong muốn đất nước được tự chủ và bảo vệ phong cách sống riêng. Câu nói “thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc” của cụ Trần Bình Trọng thể hiện tinh thần ấy. Nhờ những giá trị ấy, mới có các phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân, khởi nghĩa Yên Bái, Cách mạng tháng Tám,…

Ngày nay, một số người nhắc lại câu “hồn thiêng sông núi”, vậy cái “hồn thiêng” ấy là gì nếu không phải là những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc?

Việc giữ gìn và phát huy những giá trị tinh thần là điều mọi quốc gia phải làm, vì những giá trị ấy là nền tảng để một quốc gia dựng nước và giữ nước vững chắc, lâu dài; giá trị tinh thần là tiềm lực để vượt qua những khó khăn, thử thách nhất thời. Nếu một quốc gia chỉ biết dựa trên bạo lực thì khi không còn sức mạnh này, quốc gia ấy sẽ tiêu vong, lịch sử các đế quốc hay các chế độ dùng bạo lực thống trị, từ xưa đến nay, đã chứng minh điều ấy.

Xây dựng và truyền bá những giá trị thời đại

Kể từ thời Phục hưng (với Thế kỷ Ánh sáng) tới các cuộc cách mạng dân chủ tại các nước Âu Châu, nền văn minh Tây phương đã khai sáng và phát huy những giá trị tinh thần mới, đó là Nhân Quyền, Dân Chủ.

Trước nền văn minh Tây phương, Ấn Độ đã thành công trong công cuộc giành lại độc lập một cách hòa bình (điều này có nghĩa là họ chịu rất ít thiệt hại về người và của) và đã tiếp thu được những giá trị dân chủ. Ngược lại, dân tộc ta đã không biết, không hiểu và không tiếp thu được những giá trị ấy; do đó chúng ta mới dùng chính sách “bế quan, tỏa cảng”, phát động Cần Vương theo truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà phải đánh” và nhập cảng bừa bãi hầu hết mọi chủ nghĩa, thậm chí tiếp thu chủ nghĩa cộng sản pha trộn Marx-Lenin-Stalin-Mao, là một chủ nghĩa không tưởng, quá khích, bạo động; hậu quả thế nào, người quan tâm tới thời cuộc đều biết rõ.

Ngày nay, cần xem xét từ cuộc đấu tranh giành độc lập đã qua đến cuộc đấu tranh hiện nay, có những giá trị nào đã được phát huy hay đang hình thành?

1. Trước 1945, mặc dù các cuộc đấu tranh hay vận động cho độc lập đều thất bại, nhưng ý thức độc lập dân tộc được nâng cấp và rõ nét hơn: chúng ta đòi độc lập (với đầy đủ ý nghĩa của từ này) chứ không chỉ là mong muốn được tự chủ trong thế giới Trung Hoa thời xa xưa.

2. Trong cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, cuộc sống sản sinh các “mẹ anh hùng”, “mẹ liệt sĩ”, các tấm gương hy sinh của mọi tầng lớp xã hội. Thực tế cuộc sống đã chứng minh ý chí giành độc lập của dân tộc ta; đây chính là tinh hoa của chủ nghĩa dân tộc trong sáng nước Việt thời ấy. Điều đáng tiếc là khi hòa bình lập lại, Hà Nội nóng vội “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, tinh hoa ấy bị bỏ quên (như số phận hẩm hiu của các thanh nữ thanh niên xung phong thời “chống Mỹ”); ngày nay, giới “tư sản đỏ” đào mồ liệt sĩ làm hồ nuôi tôm, “mẹ anh hùng” trở thành “dân oan” ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, tinh hoa ấy bị vùi dập! Người ta thường trách dân ta “vô cảm”, thế nhưng kẻ đáng trách trước tiên là nhà cầm quyền Hà Nội, khi họ phủ nhận chính cái tinh hoa của hai cuộc kháng chiến mà họ tự nhận là hậu duệ. Điều cơ bản là Hà Nội đã không thấy được là có thể biến cái tinh hoa, giá trị tinh thần ấy thành sức mạnh chính trị, ngoại giao và kinh tế (theo sau ngoại giao), làm tiền đề để triển khai sức mạnh trong các lãnh vực khác (ngày nay, người ta gọi là “quyền lực mềm”).

3. Đòi tự do: 1) từ phía những người theo kháng chiến, chính quyền Hà Nội: từ phản ứng chống lại Đề cương văn hóa (1953) nhằm bóp nghẹt tự do sáng tác tới Nhân văn – Giai phẩm và sau này đòi “cởi trói”, “đổi mới” (1986, thời Đại hội Đảng VI) cho thấy nhu cầu đòi tựdo (trước hết là tự do sáng tác) trong nội bộ Đảng và chính quyền, về kinh tế, năm 1968, có vụ làm “khoán chui” của ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, là một hình thức tự do kinh doanh cá nhân, 2) từ phản ứng đối với những chính sách sai lầm của Hà Nội (cải cách ruộng đất với các cuộc đấu tố kinh hoàng, cấm tự do tôn giáo, cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, học tập cải tạo, chính sách kinh tế “ngăn sông, cấm chợ” sau 1975, chèn ép các sắc tộc thiểu số, đặc biệt người Thượng ở Tây Nguyên, sự lạm quyền, lộng quyền của đám “tư sản đỏ”,…): di cư vào Nam (1954, khoảng 1 triệu người), vụ Quỳnh Lưu của Công giáo miền Bắc (1956), một số thành phần trong cuộc di tản 4.1975, thuyền nhân (từ 1978, khoảng 2 triệu người?) để “tỵ nạn cộng sản”, “đi tìm tự do”, các biến động tại Tây Nguyên, “dân oan” đòi lại ruông đất,… Đây là bước đầu của cuộc đấu tranh vì tự do, mặc dù mới chỉ là những đòi hỏi tự do sơ khai chứ chưa phải là có ý thức tự do sâu sắc.

4. Đòi dân chủ: chế độ cộng sản là một chế độ độc tài, dẫn tới sự khao khát dân chủ, ban đầu là những tiếng nói đòi dân chủ trong nội bộ Đảng song song với những đòi hỏi tự do; từ thập niên 1980 và đặc biệt thời 1989 (bức tường Bá Linh sụp đổ), nhận thức về dân chủ trở nên sâu sắc, có hệ thống và thành phần tham gia rộng hơn (nhân sĩ trong và ngoài Đảng, tu sĩ,…); ngày nay, cuộc đấu tranh vì dân chủ được mở rộng hơn (với nhiều thành phần tham gia: nhà dân chủ, thanh niên, tôn giáo, “dân oan”,…) và bắt đầu có tổ chức và đấu tranh.

5. Điều đặc biệt là ngày nay, trước chính sách xâm lấn và răn đe của Bắc Kinh, vấn đề dân tộc (bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và chống lại các hiệp định phi lý, phi pháp mà Đảng CSVN đã ký) lại nổi cộm. Cuộc đấu tranh vì dân chủ lại có thêm chiều hướng mới: vì dân tộc; nói cách khác, Nhân Quyền và Dân Chủ bao gồm hai ý nghĩa: 1) về con người và quan hệ giữa người và người: quyền làm người đối với người Kinh cũng như các sắc tộc thiểu số, bao gồm các quyền tự do cá nhân, dân sự,…; 2) về quan hệ giữa các quốc gia: quyền của mỗi dân tộc: quyền được đối xử bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, biên giới (theo các công ước quốc tế),…

Những điều nêu trên là những giá trị nhân bản, thời đại của cuộc đấu tranh vì dân chủ và dân tộc hiện nay của nước Việt. Đây là một thử thách thời đại của dân tộc ta. Cuộc đấu tranh này đầy gian khổ, quyết liệt, có thể lâu dài, trong hoàn cảnh bị đẩy tới đường cùng; ngoài lương tâm, trí tuệ và lòng dũng cảm, dân tộc ta hầu như không có phương tiện nào khác. Thông qua cuộc đấu tranh này, cùng với những giá trị truyền thống, những giá trị thời đại sẽ tiếp tục hình thành và phát huy, trở thành Tinh thần Việt.

Trong trường hợp thành công, thành công ấy là chiến thắng của những giá trị tinh thần (không có kẻ chiến bại) – đúc kết của Tinh thần Việt, từ nghìn xưa tới cuộc đấu tranh vì dân chủ và dân tộc – và trở thành tinh hoa của dân tộc ta. Về sau này, việc gìn giữ và phát huy tinh thần Việt là nền tảng vững chắc để dân tộc ta bước vào thời kỳ Phục hưng, có những lựa chọn đúng đắn để giải quyết rốt ráo vấn đề hội nhập, một thử thách thời đại khác, theo kịp đà tiến hóa của nhân loại, trong tư thế của một quốc gia ngang tầm với mọi quốc gia độc lập khác, có sắc thái riêng và cùng với thế giới giải quyết những vấn đề của nhân loại.

Ngày 28.04.2010

Liên lạc: nguyenlan.be@gmail.com

© 2010 Nguyễn Lan