27/11/13

Người già nên về VN hay ở nước ngoài?

Người già nên về VN hay ở nước ngoài?

Cập nhật: 14:49 GMT - thứ tư, 27 tháng 11, 2013

Người già ở Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
Chính sách hỗ trợ người già ở Việt Nam còn hạn chế
Có nhiều ý kiến cho rằng người già sống ở những nước tư bản không thể hạnh phúc bằng người già Việt Nam do họ không có được cuộc sống ấm cúng và sự quan tâm của con cháu.
Vậy thực chất vấn đề có gì khác?Lý tưởng tam đại đồng đường và thực tế xã hội
Truyền thống tam, tứ đại đồng đường với nhiều thế hệ gia đình chung sống trong cùng một mái nhà từ lâu đã ăn sâu bén rễ trong đời sống người Việt.
Nhưng thực tế cho thấy đã có rất nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình chung sống giữa các thế hệ.
Người già thường cho rằng mình là người trên, có quyền được can thiệp vào mọi khía cạnh cuộc sống của con cháu.
Trong khi, những người trẻ hiện đại chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa phương tây lại muốn có cuộc sống độc lập, tự quyết hơn.
Tôi đã được nghe rất nhiều lời than phiền của những người quen bao gồm cả người già và người trẻ.
Từ những mâu thuẫn xuất phát từ nguyên nhân liên quan tới ý thức hệ, văn hóa ứng xử giữa hai thế hệ, những can thiệp vào chuyện nuôi dạy con cháu cho tới những va chạm lặt vặt xung quanh chuyện miếng cơm manh áo mỗi ngày…
Có thể nói tam đại đồng đường không phải lúc nào cũng ấm cúng như lý tưởng.

Hắt hủi

Một số gia đình có điều kiện về kinh tế nhưng con cháu luôn bận rộn tới nỗi không có thời gian dành cho người già, khiến họ cảm thấy cô đơn trong chính ngôi nhà của mình.
Có những người già đủ điều kiện tài chính đóng góp cho các trung tâm chăm sóc người già do tư nhân thành lập để không phiền tới con cháu, nhưng chính những định kiến về chuẩn mực tam đại đồng đường đã trở thành những rào cản xã hội khiến họ không thể có lựa chọn theo ý mình.
Đa số người Việt luôn quan niệm đầu tư cho con cái đồng nhất với đầu tư cho tuổi già của chính bản thân họ.
"Đa số người Việt luôn quan niệm đầu tư cho con cái đồng nhất với đầu tư cho tuổi già của chính bản thân họ. "
Điều này đã phần nào là nguyên nhân khiến cha mẹ luôn gây áp lực học hành lên con cái từ khi chúng còn là những đứa trẻ, với kỳ vọng sau này con trở nên giỏi giang thành đạt để cha mẹ còn có phận nhờ.
Có những bậc cha mẹ cả đời lao động quần quật, hy sinh hết những nhu cầu hưởng thụ cá nhân với mục tiêu gây dựng một cơ ngơi sẵn sàng cho con cái.
Nhưng khi nắm chắc phần tài sản cha mẹ để lại trong tay, những đứa con mới chợt nhận ra cha mẹ già chỉ là một gánh nặng vô dụng và quay ra bạc đãi, hắt hủi mẹ cha...
Báo chí đã ghi nhận rất nhiều những hoàn cảnh đau lòng khi cha mẹ buộc lòng phải nhờ đến pháp luật phân xử chuyện tranh chấp tài sản với chính những đứa con ruột của mình.
Vô số trường hợp cha mẹ lúc cuối đời vẫn phải gạt nước mắt chứng kiến cảnh con cái đấu đá nhau chỉ vì vài mét đất…
Có người nhận xét rằng những thay đổi của lối sống hiện đại đã khiến lòng hiếu thảo của con cháu ngày một cạn kiệt. Người già sống giữa quây quần con cháu nhưng không nhận được sự quan tâm đủ đầy có hẳn là điều hạnh phúc?

Chính sách an sinh của Việt Nam với người già

Qua qua sát, có thể nói người già không phải là mối bận tâm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Trong tổng số 20% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, chỉ có rất ít tỷ lệ người cao tuổi thuộc khối quân nhân, thành phần có công với chế độ hoặc công chức hưu trí là được hưởng lợi từ nguồn quỹ bảo hiểm và chính sách.
Các thành phần còn lại hầu như chẳng có nguồn thu đáng kể gì khi hết tuổi lao động, đặc biệt là nông dân. Đây chính là một điều bất bình đẳng trong chính sách dành cho người già.
Luật quy định những người đủ quy định 80 tuổi trở lên mà không có một nguồn thu nhập gì sẽ được nhà nước hỗ trợ 95% bảo hiểm y tế, và được trợ cấp số tiền mỗi tháng là 180 ngàn VND.
Người già ở Hà Nội
Ít người già ở Việt Nam được trợ cấp đủ sống
Với số tiền được trợ cấp này, nếu khéo thu vén người cao tuổi Việt Nam có thể gần đủ chi phí cho bữa sáng đạm bạc theo thời giá hiện tại.
Nhà nước chỉ trợ cấp cho những người già chứng minh được họ neo đơn, hòan toàn không có gia đình để nhờ cậy.
Với các chính sách an sinh xã hội như vậy, đa số người già Việt Nam khi không thể lao động thì chỉ còn cách trông vào con cháu làm chỗ dựa lúc cuối đời.
Dù muốn dù không họ cũng bị đẩy vào thế trở thành gánh nặng cho con cháu, ngay cả khi con cháu họ cũng nghèo túng và đang nặng gánh mưu sinh để chính bản thân mình tồn tại.
Trong từng góc chợ, không khó khăn gì thấy cảnh người già gập tấm lưng còng trên những gánh rau để góp nhặt từng đồng bạc lẻ.
Tại từng ngõ hẻm, không khó để bắt gặp cảnh người già phải thu nhặt từng món đồ ve chai thiên hạ bỏ đi.
Báo chí cũng lên tiếng nhiều về trường hợp người già tại các làng quê nghèo khó đã phải chấp nhận đầu quân cho các cai ăn mày thành phố…
Nhiều người già Việt Nam phải chấp nhận nhiều tủi nhục để đánh đổi lấy miếng cơm manh áo khi cuộc sống nghèo túng không cho họ có nhiều lựa chọn.
Thực tế tại Việt Nam, những người già thuộc thành phần khá giả cũng có nhiều lựa chọn trong việc hưởng thụ cuộc sống lúc xế chiều, nhưng tỷ lệ này quá ít khó có thể đại diện được cho cả xã hội nói chung

Và tuổi già tư bản

Tôi đã có cơ hội được đi thăm một số nước châu Âu, những nơi có tỷ lệ dân số già cao nhất thế giới và tiếp xúc với khá nhiều người già. Điều có thể khẳng định ngay, là mặc dù không phải ai cũng khá giả, nhưng người già tư bản đều sống khá ung dung với những chính sách an sinh xã hội.
Tại Thụy Sỹ, mỗi công dân cư trú hợp pháp đều được cung cấp một mã số AVS (Assurance Vieillesse et Survivants- tạm dịch là Quỹ bảo hiểm hưu trí) để bảođảm cho thu nhập của họ lúc về già.
Bất cứ một khoản thu nhập nào của người lao động cũng sẽ bị trừ một khoản trực tiếp cho loại bảo hiểm bắt buộc này, và số tiền đó sẽ được dùng để chi trả cho cuộc sống của họ khi hưu trí theo luật định.
"Riêng với cá nhân tôi, tuổi xế chiều mà không phải lo đối phó với chuyện miếng cơm manh áo, không phải trông chờ vào tấm lòng hiếu thảo của con cháu để sinh tồn là một điều may mắn lớn."
Với những trường hợp người lao động không bao giờ đi làm và đóng thuế trong suốt cuộc đời, luật quy định tới 63 tuổi, họ vẫn có quyền được nhận số tiền tối thiểu 1.160 CHF/ 1 tháng để sinh sống, chưa kể những trợ giúp khác về bảo hiểm y tế, nhà cửa, và có người hỗ trợ trong trường hợp người già không thể tự phục vụ bản thân.
Người già Thụy Sỹ có rất nhiều lựa chọn sinh hoạt xã hội, cộng đồng. Rất nhiều người chọn công việc tình nguyện trong các tổ chức thiện nguyện để giúp đỡ những người khó khăn, một số lại chọn gia nhập các câu lạc bộ dành cho người cao tuổi.
Chính phủ cũng liên tục mở những khóa học ngoại ngữ, vi tính, khiêu vũ, thể thao… với chi phí tượng trưng dành cho người lớn tuổi để họ có thêm cơ hội gặp gỡ giao lưu và không phải đứng ngoài lề xã hội.
Trong các sinh hoạt lễ hội cộng đồng, người già cũng luôn được ưu tiên bố trí vị trí và phương tiện vận chuyển.
Thực tế, với văn hóa tôn trọng tự do cá nhân của phương tây, chưa chắc bản thân người già đã cảm thấy hạnh phúc khi phải phụ thuộc vào sự chăm sóc của con cháu.
Khi không muốn sống một mình hoặc không đảm bảo sức khỏe, người già tại Thụy Sỹ có thể chọn một nhà dưỡng lão có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và nhân viên chăm sóc được đào tạo bài bản.
Họ sẽ được sống gần những người bạn già, chi phí do một phần đóng góp theo khả năng và các quỹ xã hội chi trả.
Con cháu và gia đình vẫn dành những ngày rảnh rỗi đến nhà dưỡng lão thăm ông bà mà không gặp bất cứ một vấn đề nào về chuyện thị phi dư luận.
Sẽ là phiến diện nếu chúng ta đứng ở một phía để nhận xét tuổi già ở Việt Nam hay tư bản sướng hơn, vì điều đó còn phụ thuộc vào văn hóa, quan điểm sống điều kiện kinh tế tại mỗi nước.
Riêng với cá nhân tôi, tuổi xế chiều mà không phải lo đối phó với chuyện miếng cơm manh áo, không phải trông chờ vào tấm lòng hiếu thảo của con cháu để sinh tồn là một điều may mắn lớn.
Dẫu biết rằng tuổi già ở đâu cũng có những ngậm ngùi…
Source : BBC

Bất động sản Việt Nam sẽ tiếp tục bế tắc

Bất động sản Việt Nam sẽ tiếp tục bế tắc

Giá vẫn quá cao

Đang và sẽ không có một phép màu nào xảy đến với thị trường bất động sản Việt Nam, bất chấp rất nhiều phép khuyến dụ đã được phóng ra từ chính sách nhà nước cùng các tập đoàn kinh doanh nhà đất và ngân hàng đang “ôm bom”.

Hoàng Anh Gia Lai là một phép thử đặc trưng nhất cho thất bại. Kết quả kinh doanh quý 3 năm 2013 của tập đoàn được xem là nằm trong top đầu đại gia bất động sản này, dù báo lãi nhưng doanh thu chủ yếu phải nhờ vào việc chuyển nhượng các dự án cao su và thủy điện. Ngược lại, hệ số tiêu thụ căn hộ từ đầu năm đến nay là quá thấp và cũng không cho thấy bất cứ manh mối nào có thể triển vọng hơn trong thời gian tới.

Đoàn Nguyên Đức là ông chủ năng động và cũng thường có những phát ngôn “xách động” của Hoàng Anh Gia Lai. Vào giữa năm 2013, nhân vật được xem là có dự cảm chính trị khá tốt này đã xác quyết về một cái đáy không thể lầm lẫn của thị trường bất động sản, cùng lời kêu gọi người tiêu dùng và giới đầu cơ nhỏ lẻ hãy “mua vào”.

Cũng như ông Đức, nhiều đại gia kinh doanh bất động sản trung cấp và cao cấp khác luôn cố che giấu nỗi lo mất ngủ từ nguy cơ phá sản luôn cận kề. Vào năm 2012 khi thị trường vẫn còn “ngủ đông”, giới chủ đầu tư cùng một số “phát ngôn viên” - những người được mô tả là chuyên gia hàng đầu về thị trường - cũng đã tự xác lập những giá đáy của căn hộ sau mỗi quý. Tuy nhiên như thời gian đã chứng thực, hết năm 2012 và đến giờ đã gần hết năm 2013, đáy của thị trường bất động sản vẫn là một khái niệm hoàn toàn mờ ảo.

Ở Hà Nội, giá bất động sản vẫn tiếp tục trôi dốc, dù với độ trượt nhỏ hơn năm 2012. Nhưng so với mức tăng gần ba lần chỉ riêng trong chiến dịch đánh lên bất động sản giai đoạn 2009 - 2010 và nhìn lại mức tăng đến chẵn 100 lần kể từ con sóng bất động sản đầu tiên vào năm 1995, cuộc giảm giá dù đến một nửa của khối căn hộ cao cấp ở Thủ đô có vẻ vẫn chưa làm xúc động túi tiền người dân.

Cũng khó có thể khuấy động tâm não người tiêu dùng, một khi hệ số giá nhà đất/thu nhập bình quân người lao động ở Việt Nam vẫn đứng vững ở mức 25, cao gấp 5-6 lần tiêu chuẩn cho phép của Liên Hiệp Quốc. Rõ là một thứ bong bóng nhà đất đã hình thành đủ lớn và luôn có thể bùng vỡ bất kỳ lúc nào trong một nền kinh tế mà tốc độ tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào chủ nghĩa đầu cơ.

500.000 tỷ đồng nợ xấu

Không chỉ rất nhiều nhóm đầu cơ nhỏ lẻ và thứ cấp phải gánh chịu hậu quả nặng nề, ngay cả những tên tuổi lừng lẫy như Vinaconex, Sông Đà, Phát Đạt, Quốc Cường Gia Lai… cũng cùng chung số phận.

Từ vị thế đầu tư đến vài ba ngàn tỷ đồng cho các dự án căn hộ, đến nay trong két sắt của Quốc Cường Gia Lai chỉ còn chưa đầy 2 tỷ đồng.

Đáng thất vọng hơn cả là một giải pháp xung kích của nhóm lợi ích ngân hàng - bất động sản tung ra vào giữa năm 2013 - gói kích thích 30.000 tỷ đồng dành cho những người có thu nhập trung bình và thu nhập thấp - đã thất bại cay đắng khi tỷ lệ giải ngân chỉ vỏn vẹn 1% sau gần nửa năm triển khai.

Tất nhiên, có nhiều lý do khiến tốc độ giải ngân quá nặng nề và kém hiệu quả, song không thể phủ nhận nguồn cơn lớn nhất vẫn là niềm tin của người tiêu dùng vào thị trường bất động sản đã trở nên tê liệt.

Một trong những minh chứng hiển nhiên nhất về khả năng sụp đổ của thị trường bất động sản trong tương lai không xa lại đến từ giới ngân hàng - nơi găm giữ đến ít nhất 70% nợ và nợ xấu tích tụ bởi các con nợ đại gia nhà đất.
Cho đến gần đây, chính thống đốc Ngân hàng nhà nước đã phải báo cáo Quốc hội về con số 300.000 tỷ đồng đã được Ngân hàng nhà nước chuyển từ nhóm nợ xấu lên nhóm nợ “tốt” vào tháng 6/2013. Tuy nhiên, con số này lại chính là sự xác nhận cho một con số thật hơn nhiều: so với số nợ xấu chỉ từ 135.000  đến gần 200.000 tỷ đồng do Ngân hàng nhà nước công bố trong năm 2012, số nợ xấu hiện thời, nếu cộng cả 300.000 tỷ đồng vừa “đảo nợ”, phải lên đến gần 500.000 tỷ đồng.

Khá tương đồng, con số trên lại phù hợp với đánh giá về nợ xấu của một nhóm chuyên gia phản biện độc lập tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013 - lên đến 540.000 tỷ đồng.

300.000 tỷ đồng là cú đảo nợ lần thứ hai của Ngân hàng nhà nước dành cho các nhóm con nợ đang lâm vào thế cùng quẫn, sau cú thứ nhất vào tháng 4/2012. Tuy thế, không phải chuyện đảo nợ sẽ diễn ra mãi mãi, bởi thời điểm Minsky về đáo hạn các món nợ xương máu đã biến thành vết hằn trong não trạng của thế giới tư bản ngày càng dã man ở Việt Nam.

Đến tháng 6/2014, nếu không thể thanh toán được các món nợ này, không chỉ các con nợ chủ đầu tư “chết” mà cả những ngân hàng đang ôm nợ và tài sản thế chấp cũng “băng hà” - như một câu châm ngôn trong lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Những dấu hiệu hỗn loạn

Đã có một số biểu hiện hỗn loạn không thể chối cãi, chẳng hạn như với Công ty gỗ Trường Thành. Công ty này đã được ngân hàng cho giãn nợ đến năm 2014, vào lúc giám đốc Trường Thành nói tuột ra: “Cứu doanh nghiệp cũng là cứu ngân hàng”.

Một cái chết song trùng là rất có thể xảy ra giữa khối con nợ và các chủ nợ, để đến lượt mình, giữa các chủ nợ ngân hàng lại có thể kiến tạo một cuộc sụp đổ dây chuyền trong không bao lâu nữa.

Agribank - Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - là dấu hiệu đầu tiên biểu tượng cho sự tái hiện sụp đổ của Ngân hàng Lehman Brothers của Mỹ vào tháng 10/2007. Trở thành quán quân về thu hút tín dụng tiền gửi nhưng cũng không thua kém về số lãnh đạo ngân hàng đối mặt với vòng lao lý, Agribank là địa chỉ mà nợ xấu bất động sản có thể tạo ra một cơn địa chấn đủ lớn khiến dắt dây sang các ngân hàng “bạn”.

Trong số tài sản thế chấp mà các ngân hàng đang phải nắm giữ, phần lớn là các dự án căn hộ cao cấp và đất nền hoang hóa chưa thể xây dựng. Tình thế này cũng liên đới chặt chẽ với con số hàng trăm ngàn căn hộ cao cấp đang tồn kho, cùng 66.000 căn hộ cao cấp sẽ được tung ra thị trường đến năm 2015, tạo nên một cơn bội thực không có thuốc giải.

Phân khúc được xem là khả quan nhất cho đến nay chỉ là nhà đất giá rẻ và thuộc loại bình dân. Tình hình giao dịch chớm nở của phân khúc này đã trở thành điểm sáng duy nhất trong một thị trường đen bạc. Trong khi đó, vẫn không có và không thể có bất kỳ con số liệu nào về tăng trưởng tiêu thụ của phân khúc căn hộ cao cấp.

Ngay cả một số hãng tư vấn bất động sản quốc tế có tiếng ở Việt Nam như CBRE, Savillss, Knight Frank… cũng có vẻ bị “dính chùm” trong cơn hoạn nạn không có lối ra. Như một hiệu ứng đồng thanh, từ giữa năm nay, các hãng tư vấn này đã liên tiếp tung ra những báo cáo dự báo khả quan về thị trường bất động sản, về hệ số tiêu thụ tăng lên và sự hạn chế nguồn cung…

Chỉ có điều, cho đến nay vẫn không có bất cứ một số liệu có tính khả tín nào về lượng giao dịch đối với từng phân khúc - dấu hiệu chứng minh rõ nét về tính giả dối của những tổ chức bất động sản dán mác quốc tế.

Bế tắc và khủng hoảng

Khác hẳn với giai đoạn tạm phục hồi năm 2009 với gói kích cầu lên đến 8,5 tỷ USD, giai đoạn 2011-2013 và cả những năm tới sẽ không có bất cứ gói kích thích nào. Tiền đã gần như cạn kiệt trong ngân khố, trong lúc lợi nhuận thị trường những năm qua đã chui cả vào túi những đại gia có tư duy lũng đoạn cay nghiệt nhất. Vì thế, bất động sản sẽ không còn cơ may dựa dẫm vào một nguồn vốn kích phát nào nữa.

Sau chuỗi thời gian chìm sâu vào thế bất động và quay quắt, chỉ đến gần đây dường như nhóm lợi ích ngân hàng - bất động sản mới quyết định làm nốt một phép thử để tái hiện kịch bản năm 2009 - 2010: kích thích thị trường chứng khoán để từ đó khơi dậy ảo vọng về phục hồi thị trường bất động sản.

Tuy vậy, không có nguồn tiền mới, chỉ số chứng khoán không thể “lên” được theo đúng nghĩa mặt bằng giá cổ phiếu tăng đồng loạt. Chỉ có một nhóm rất nhỏ trong tổng số 700 cổ phiếu được “đánh lên”, chủ yếu là những cổ phiếu có tác động mạnh đến rổ chỉ số VN-Index, gây ra tâm lý ảo về một hình ảnh tăng trưởng nào đó của thị trường này.

Nhưng bất chấp cố gắng cuối cùng của phép thử chứng khoán, sẽ vẫn quá khó cho cho sự tái hiện quy luật “bình thông nhau” như những năm hoàng kim giữa thị trường này và bất động sản. Nói cách khác, nguồn vốn cạn kiệt sẽ khiến cho tính kích động của giá cổ phiếu đối với tâm lý mua vào núi tồn kho bất động sản trở nên vô nghĩa.

Bất động sản lại liên đới với hoạt động tài chính, như quy luật đã hình thành trong vài chục năm qua ở Việt Nam. Không khác gì Trung Quốc, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã “cho vay nhiều nhất trong một thời gian ngắn nhất” vào giai đoạn 2006 - 2009. Kết quả là việc thu hồi vốn trở nên vô vọng vào thời buổi suy thoái kinh tế.

Còn nếu nền kinh tế lao thân vào khủng hoảng, tất cả sẽ tuyệt vọng.

Một khi bất động sản đổ vỡ, hệ thống ngân hàng cũng không thể tránh được cái chết mặc định đối với nó. Dự báo sẽ có ít nhất một phần ba số ngân hàng hiện nay phải phá sản.

Hiện tượng nhiều ngân hàng sa thải ít nhất 15% số nhân viên trong thời gian gần đây là một tín hiệu rất đáng chú tâm. Người ta đang chờ đợi đến khi nào - giữa hay cuối năm 2014 - sẽ có một ngân hàng hạng trung hoặc loại đại gia đầu tiên buộc phải tuyên bố phá sản. Và nếu sau đó có tiếp 3-4 ngân hàng không thể cầm cự, sẽ không một ngân sách nào có thể chịu đựng và bù lỗ theo “mô hình Vinashin” được.

Khả năng domino này là hoàn toàn có thể xảy ra, ít nhất căn cứ vào danh sách gần một chục ngân hàng thương mại đang bị Ngân hàng nhà nước xếp vào loại “yếu” như hiện thời.

Khi đó, khủng hoảng kinh tế sẽ bắt đầu. Chu kỳ khủng hoảng ở Việt Nam có thể sẽ kéo dài từ 18-21 tháng, nếu chiếu theo “tiêu chuẩn” các cuộc khủng hoảng kinh tế ở Hoa Kỳ và Tây Âu. Hoặc sẽ dài hơn đối với một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã trải qua suy thoái chưa gượng dậy nổi từ 6 năm qua và đang vật vã trong căn bệnh ung thư toàn thân.

Một phép tính đơn giản cho thấy nếu khởi động vào đầu năm 2015, cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam sẽ đạt đến cao trào cùng những biến động khôn lường của nó vào giai đoạn 2016-2017.

Nhưng còn hơn thế nhiều, gánh nặng đầu cơ mà giới lợi ích ngân hàng và bất động sản đã kiến tạo trong nhiều năm qua sẽ đổ lên đôi vai gầy guộc của nền kinh tế và đời sống dân sinh.

Khủng hoảng kinh tế lại rất nhiều khả năng sẽ lập tức dắt dây sang khủng hoảng xã hội - một hiệu ứng mà rất thường sẽ khiến nền chính trị “băng hà”!

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Source  :  VOA

VOA - Hiệp định Mỹ-Nhật bao gồm các đảo bị tranh chấp

VOA

Thứ Tư, 27/11/2013

Hiệp định Mỹ-Nhật bao gồm các đảo bị tranh chấp

Nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông.
Nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông.

Một phát ngôn nhân Ngũ Giác Đài nói rằng, ông Hagel đã nói như vậy hôm thứ Tư với giới chức tương nhiệm của Nhật Bản, Itsunori Onodera, để thảo luận về tình hình an ninh ở biển Hoa Đông.

Phát ngôn nhân vừa kể nói rằng, bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã ca ngợi chính phủ Nhật Bản về việc tự kiềm chế thích đáng sau loan báo của Trung Quốc.

Các giới chức cao cấp của chính phủ Obama nói rằng, Phó Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sẽ thảo luận về vấn đề này với các giới chức tại Trung Quốc vào tuần tới, như là một phần trong chuyến du hành ba nước vùng này, trong đó có một chặng dừng chân ở Nhật Bản.

Hôm thứ Ba, Ngũ Giác Đài loan báo họ đã gởi hai máy bay B-52 không trang bị võ khí tới gần các đảo bị tranh chấp trong thách thức trực tiếp đầu tiên trước kế hoạch thiết lập một vùng phòng không của Bắc Kinh.

Hôm thứ Tư, Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói rằng họ đã theo dõi “toàn bộ diễn tiến của các chuyến bay này và xác định chúng kịp thời.” Bộ Quốc phòng Trung Quốc cảnh báo rằng “Trung Quốc có khả năng kiểm soát hữu hiệu” trên khu vực này.

Hôm thứ Hai, Ngũ Giác Đài nói rằng các chuyến bay vừa kể không gây ra các đáp ứng trực tiếp từ phía Bắc Kinh, mà hai ngày trước đó họ đã tuyên bố khu vực không phận của vùng phòng không mới này. Trung Quốc cảnh báo tất cả các phi cơ xác định lý lịch của họ trước khi tiến vào khu vực này và tuân hành tất cả mọi lệnh từ Bắc Kinh.

Các giới chức Hoa Kỳ mô tả các chuyến bay hôm thứ Hai là một phần của những công tác huấn luyện thường lệ hoạch định từ lâu. Nhưng, các nhà phân tích nói rằng đây là một thông điệp rõ ràng là chính phủ Washington không công nhận toan tính thiết lập việc kiểm soát trên khu vực này của Trung Quốc.

Ralph Cossa thuộc Diễn đàn Thái Bình Dương có trụ sở ở Hawaii, nói với đài VOA rằng các chuyến bay B-52 này là một đáp ứng “mau chóng và thích đáng” đối với điều mà nhiều người xem là một sự leo thang của Trung Quốc.

Trung Quốc công bố điều được gọi là Vùng Xác định Không phận Biển Đông Trung Quốc hôm thứ Bảy và đã cảnh báo là họ sẽ áp dụng các biện pháp phòng vệ khẩn cấp để thi hành tuyên bố của họ.

Nhưng không rõ Trung Quốc sẽ thi hành những luật lệ mới này tới mức độ nào.

Ông Herman Finley, phó giáo sư tại Trung tâm Châu Á Thái Bình Dương, nói với đài VOA rằng mặc dù có phần chắc là Trung Quốc sẽ không lùi bước, nhưng có lẽ họ sẽ không muốn thấy một cuộc đối đầu vào lúc này.

Một số nhà phân tích đã mô tả hành động của Trung Quốc là một sự tính toán sai lầm, và nói rằng họ có thể đã đánh giá thấp quyết tâm của Hoa Kỳ để bảo vệ quyền lợi của Nhật Bản là đồng minh của họ.

Ông Michael McKinley thuộc Trường Đại học Quốc gia Australia nói với đài VOA rằng Trung Quốc “đang thúc đẩy cơ may của họ” trên phương diện này.

Các hải đảo không có người cư ngụ có tên là Senkaku trong tiếng Nhật và Điếu Ngư trong tiếng Hoa này đã được sáp nhập vào Nhật Bản hồi thế kỷ thứ 19. Trung Quốc nhận chủ quyền về quần đảo này năm 1971. Bắc Kinh liên hệ tuyên bố đòi chủ quyền của họ với các bản đồ cổ mà họ nói là cho thấy thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ nhiều thế kỷ.

Vụ tranh chấp này là một trong nhiều vụ tranh chấp lãnh hải gây tranh cãi của Trung Quốc chống lại các quốc gia vùng Đông Nam Á, trong đó có Philippines, Việt Nam, Brunei và Malaysia.

Bắc Kinh nói rằng họ sẵn lòng thương thảo về các tranh chấp này, nhưng cho tới nay vẫn bác bỏ yêu cầu mở các hội nghị đa phương. Trung Quốc đã mưu tìm việc thảo luận riêng rẽ với từng nước một.
VOA

Thực hư thị trường bất động sản Việt Nam


Tác giả: Nguyễn Ngọc Già (RFA – 27/11/2013)
Hãy mua bất động sản đi!”. Câu này mượn ý của ông Đoàn Nguyên Đức, khi ông ta “rao hàng”: “Hãy mua nhà đi, đừng chần chừ nữa” [1], cách đây hơn nửa năm.
Đừng mơ tưởng nữa
Đã đến lúc những ai còn mơ tưởng vực dậy thị trường này, nên tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật. Sự thật của cái chết không tài nào cứu nổi, bất chấp người cộng sản đang cố bằng mọi cách với những biện pháp tưởng chừng “quyết liệt” (chữ “đồng chí X” thích dùng) nhưng hoàn toàn bế tắc, tựa chú trăn, dù khổng lồ nhưng lỡ nuốt chửng con mồi to hơn cả nó, nên giờ đang nghẹn họng và chuẩn bị nôn ngược ra mà chết. Cái chết không tránh khỏi bởi lòng tham vô đáy. Quy luật muôn đời là thế.
Ở đây không bàn đến những “mưu ma chước quỷ” trong việc “sản xuất” ra “các loại luật” cùng các thủ đoạn cướp đất tàn nhẫn vô nhân đạo của bộ ba: giới cầm quyền – doanh nghiệp bất động sản – ngân hàng, bởi ai cũng biết “ba con quỷ” này quậy phá ra sao rồi.
Ở đây cũng không bàn đến giá thành bất động sản, bởi chỉ có “bộ ba” nói trên mới biết rõ trong cái gọi là “giá thành”, các loại “chi phí đen” ngốn bao nhiêu trong đó, để dẫn đến giá bán vượt xa tầm với của người dân trung lưu và dân nghèo – số chiếm đông đảo trong xã hội.
Theo một khảo sát quốc tế [2] trong năm 2011, người lao động thu nhập thấp (dưới 2 đôla/ngày) chiếm 18,2% dân số (16,1 triệu người), người lao động thu nhập 5 đôla/ngày chiếm đến 70,4% dân số (63,1 triệu người). Tổng số khoảng 79,2 triệu người so với khoảng 89,2 triệu dân tại Việt Nam.
Dù khảo sát trên dự đoán năm 2012, tỉ lệ người thu nhập 5 đô/ngày sẽ giảm dần xuống 67,1%, nhưng thực tế dường như diễn ra ngược lại và ngày càng có xu hướng cho thấy 2 thành phần thu nhập nói trên, không những không giảm mà còn có dấu hiệu tăng lên, bởi các chuyên gia nói “tỉ lệ thất nghiệp thực tế phải gấp đến mười lần” [3] so với số báo cáo chỉ 1,99% (năm 2012).
Năm 2013, dân số Việt Nam vừa chào đón công dân thứ 90 triệu [4]. Ước số người thu nhập thấp (theo tỉ lệ như trên), chí ít vào khoảng trên dưới 80 – 81 triệu người. Số người thu nhập như thế, thì ăn còn chật vật, nói gì đến ở, dù là “nhà ở xã hội”, sản phẩm mà chế độ … đang hướng dư luận tập trung vào, vẻ như lo cho người nghèo, chẳng qua để xoa dịu lòng dân đang chất ngất phẫn nộ, khi thu nhập của họ ngày càng kiệt quệ cùng tình trạng “nghèo hóa” ngày một gia tăng.
Đồng hồ nợ công thế giới [5] (The global debt clock) hôm 21/10/2013 đã điểm nợ Việt Nam đạt mức 76,706 tỉ USD, vị chi mỗi người Việt Nam đang gánh hơn 851 USD. Trong số nợ này, nhất định người dân chúng ta đang gánh cả cái thứ “của nợ” từ bộ “ba con quỷ” nói trên. Cho đến giờ này, không một số liệu “nợ xấu” nào, được các nhà quan sát độc lập ghi nhận như là con số có thể tin được.
Mặc dù ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho báo Tiền Phong hay [6], con số mới nhất mà ông ta “được biết” thì “nợ xấu” ngân hàng khoảng 400.000.000.000.000 đồng, tương đương 20 tỉ đô Mỹ. Tuy thế, ông Vũ Khoan chưa bao giờ tin [7] vào những con số đại loại như thế, dù những người làm thống kê đều là…đồng chí của ông ta (!). Tất nhiên, ông Thiên đã nói rất rõ bằng chữ “được biết”, điều này có nghĩa con số không được phép biết, dù là “viện trưởng”, cũng không biết… nổi (!). Con số thất nghiệp người ta còn mạnh miệng để “nhân 10 lần”, thì con số nợ xấu dù giả sử chỉ tạm nhân đôi, cũng làm cho người dân đen rơi vào tình trạng “tối tăm mày mặt” bởi nhiều con số không đằng sau, gây hoa mắt đến choáng váng!
Dù cho những doanh nghiệp không kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, thì tài sản thế chấp cho ngân hàng phần lớn cũng xuất phát từ bất động sản, đó là chưa kể cách gọi là “tín chấp” mà chính phủ ép ngân hàng cho các doanh nghiệp nhà nước vay lâu nay, như Vinashin hay EVN [8], PVN v.v…, nhưng những khoản vay vô tội vạ, vay mà không cần lo lắng như thế này, không những đút vào túi riêng, đổ sông đổ biển mà còn bị đẩy vào chứng khoán, ngân hàng và bất động sản một cách bừa bãi không kiểm soát nổi.
“Nợ xấu” không những đến từ đó, mà còn do giá bất động sản cao “tít trời” như ông Nguyễn Bá Thanh nói [9]: “Miếng đất giá trị 100 tỉ đồng, ông đưa lên 500 tỉ. Lẽ ra 100 tỉ thì được vay 60 tỉ, nhưng vì ông đưa lên 500 tỉ nên họ được vay 300 tỉ”. Giờ đây, không những “300 tỉ” “đi đời nhà ma” mà ngay cái miếng đất đó, giá 100 tỉ cũng không còn… “nguyên vẹn”, do giá đất đã qua thời sốt nóng từ lâu. Không những thế, cứ giả sử tịch biên được để phát mãi thu hồi nợ theo kiểu “của đổ hốt lại”, cũng không chắc miếng đất chỉ có duy nhất một chủ nợ, bởi nó bị “giằng xé” từ “năm cha bảy chú” với thủ đoạn đem một tài sản cầm cố cho vài ngân hàng khác nhau [10], điều này do chính “đám lãnh đạo” ngân hàng góp tay mà ra. Đó gọi là “thiệt đơn thiệt kép” – như người ta hay nói.
Tuy nhiên, người cộng sản rất “thủy chung” với khái niệm “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Đó là loại tư duy quái đản nhất, họ vẫn không chịu gột rửa trong đầu. Thế là cứ đi “ăn mày” các nước nỗi khát khao “kinh tế thị trường”. Chẳng có gì lạ, khi bà Virginia Foot nói [11]: “Đã hội nhập với thế giới, tham gia sân chơi chung toàn cầu, nhưng Việt Nam vẫn có cách làm ăn không giống ai”.
“Định mức” 70m2 và giá dưới 15 triệu
Một điều oái oăm nữa, thử hỏi, dựa vào đâu để ban hành “tiêu chuẩn” theo gói 30.000 tỉ: giá căn hộ dưới 15 triệu đồng/m2 và diện tích dưới 70m2 thì được ưu đãi vay 6%/năm?
“Định mức” nói trên không phải phản ánh đầu óc đặc quánh “bao cấp” của “thời xa vắng” từ những năm 80 thế kỷ trước thì là gì? Không những thế, vô hình chung, chính cái “định mức” này trở thành “chuẩn mực chết” kìm hãm một thị trường tự do, vào lúc này cần phải được giải thoát hơn bao giờ hết. Quá tai hại! Tự người cộng sản đã mắc kẹt ngay trong “cái lồng” do họ tạo ra.
Các chủ đầu tư cứ theo đó mà loanh quanh sao cho gần với “chuẩn” này, thế cho nên, thay vì để thị trường tự điều tiết giá cả, tự định đoạt loại diện tích sao cho dễ bán (nghĩa là phù hợp với đa số người mua), nó trở thành cái thòng lọng thắt dần vào cổ các “đại gia” bất động sản, bởi hầu hết các dự án đang dở dang hay đã hoàn thành, tất cả đã xong quy hoạch và thiết kế từ lâu.
Trên thực tế, từ nhiều năm trước, các chủ đầu tư cũng không bao giờ thực hiện công tác điều tra nhu cầu nhà ở người dân một cách nghiêm túc, khi bắt tay làm dự án, thay vào đó, họ chỉ quảng cáo rầm rộ, với thiết kế “đậm chất tây”, đầy hào nhoáng nhất thời mà không tính đến văn hóa nông nghiệp của dân Việt vẫn còn rất đậm.
Giả sử “định mức” 15 triệu đồng/m2 là hợp lý, thử hỏi một thị trường tự do đúng nghĩa, tại sao cần phải ngăn cản giới bất động sản giảm giá đến mức, cho tới khi nào người mua có thể chấp nhận? Điều đó có nghĩa, giá bán một mét vuông hoàn toàn không được phép nói tới khái niệm “đáy” hay “trần” trong tình hình hiện nay. Điều đó cũng phần nào giải thích thêm, tại sao “nhà nước” cứ thích “nghĩ thay, quyết thay, làm thay” cho giới bất động sản.
Không thể nói là không có “vấn đề”  trong “núi” bất động sản đang đông cứng (!) Ngoài ra, các chi phí hay gọi là “bôi trơn”, trên thực tế, thường thuộc loại “chi phí ứng trước”, giờ các đại gia bất động sản chắc khó có thể cam chịu “ôm hận” một mình, nên việc “nhà nước” tham gia vào “giải cứu” cũng là điều dễ hiểu. Một dạo một số chủ đầu tư đòi “chẻ nhỏ” diện tích ra còn 25m2/căn hộ, nhưng thực tế không thể làm vì sự hồ đồ và bất khả thi của cách nghĩ này.
Cái gọi là “giảm giá” hiện nay, thực chất không có, bởi chủ đầu tư dùng nhiều “thủ thuật” biến hóa: gian lận trong cách tính diện tích căn hộ, thay đổi vật liệu xây dựng rẻ tiền hơn, bớt xén các tiêu chuẩn quy định chất lượng trong xây dựng, chèn ép lương công nhân v.v… nó làm cho giá bán ngỡ là giảm, thực chất chỉ là chiêu lừa bịp, thậm chí nguy hiểm rình rập người dân, khi chọn những nơi như thế làm chốn an cư. Kể cả những lời hứa hão và những chiêu khuyến mãi khác nhưng không có tính chế tài khả thi, nó chỉ dùng để làm sao tống khứ hàng tồn kho càng nhanh, càng nhiều, càng tốt.

Dù có những căn hộ chưa hoàn thành, đang rao 45m2 với giá 500 triệu [11A], nhưng không ai dám chắc về chất lượng và tiện ích của những nơi này không làm chủ nhân mau chóng thất vọng khi dọn vào ở. Phát sinh tranh chấp rất dễ tiếp tục bùng nổ như đã bùng nổ trong thời gian qua. Bế tắc cho bất kỳ ai rơi vào trường hợp như thế, bởi dù có khởi kiện dân sự, phần thắng hiếm khi nào thuộc về cư dân với “thành quả” chỉ chuốc nỗi muộn phiền, phí phạm nhiều thời gian và tiền bạc cho mình. Nguyên nhân vì sao cư dân thường thua kiện hay vấp phải chây ì của chủ đầu tư, với sự bàng quan từ giới cầm quyền, thì ai cũng hiểu.
Ông Alan Phan đã từng bày tỏ: nhà chức trách chẳng cần làm gì để cứu bất động sản cả, hãy để nó “rơi tự do” [12]. Thật ra, người cộng sản biết đó là phương án duy nhất đúng. Đúng với quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, nhưng họ không thể làm và không dám làm. Bởi thị trường bất động sản “rơi tự do” cũng có nghĩa, chính bản thân họ, gia đình họ, các phe cánh của họ cùng “rơi tự do” trong tình trạng cắm đầu xuống đất, chết chùm.

Thanh toán qua ngân hàng
Một dạo, giới cầm quyền đưa ra phương thức, dù đã được thế giới sử dụng từ rất lâu – mua bán nhà phải qua ngân hàng [13], nhưng cuối cùng họ vẫn không đưa công cụ quản lý kinh tế quan trọng này vào thực tế. Lý do ai cũng hiểu, khi công cụ “ích nước lợi nhà” này khai triển, người cộng sản chỉ có… chết ngắc!
Giờ đây, họ hí hoáy gọi là gỡ khó cho “cái gói 30.000 tỉ đồng” mà sau gần nửa năm trời, giải ngân được… hơn 1% [14](!). Trong đó:
- Giải ngân cho 905 khách hàng với dự nợ 220,9 tỷ đồng/21.000 tỉ đồng.
- Giải ngân cho 7 doanh nghiệp với dư nợ 122,6 tỉ đồng/9.000 tỉ đồng.
Vẫn tiếp tục lì lợm, “bộ ba tam giác” “quậy” cho thị trường bất động sản nát bét, nay cũng chính họ đòi “gỡ khó” (!). Trịnh Đình Dũng – Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói [15]: “… vấn đề quan trọng không phải là nhanh hay chậm mà phải đúng đối tượng”. Trước đây, khi đưa ra vụ “30.000 tỉ”, họ nói  để giải quyết hàng bất động sản tồn kho. Nay, họ “định hướng” lại, nói là vì người nghèo (?!).
Các thủ tục nặng nề trong “gói cứu trợ”, vẫn phô bày rõ, người dân hiện nay không khác gì đang sống thời kinh tế chỉ huy tập trung, bao cấp: xét duyệt, chứng nhận từ phường xã, cơ quan làm việc về việc chưa có nhà, đủ thu nhập trả nợ v.v… Nó tỏ ra vô cùng lạc hậu, ấu trĩ trong thời buổi công nghệ thông tin. Không những các thủ tục đó làm khó và cản bước người nghèo mong muốn có “căn nhà mơ ước”, giới cầm quyền vẫn bộc lộ thứ “tư duy thủ công” đến thảm hại.
Chỉ mỗi việc chứng minh khả năng người vay có đủ khả năng trả nợ trong tình hình kinh tế vỡ nát, cũng  làm các ngân hàng chùn tay cho vay. Với tư cách bên cho vay, làm sao ngân hàng đủ can đảm mở rộng túi tiền (dù cứ tạm cho là có) cho người nghèo, khi ở vào thế “nắm dao đằng lưỡi”, khi tâm lý “con chim sợ cành cong” còn nguyên đó, do giới cầm quyền và chính nội bộ ngân hàng tạo ra từ núi nợ đầm đìa cùng hàng loạt “viên chức ngân hàng” xộ khám? Nhu cầu thu hồi đủ vốn và lãi từ các hợp đồng cho vay vẫn là chân lý không thể chối cãi. Đừng vay mượn thêm nữa cái gọi là kinh doanh để “phục vụ chính trị” hay “an sinh xã hội”. Nó đã hết thời lâu rồi với di họa đầy dãy, từ thủ đoạn đánh lận đó.
Điều lẽ ra nên làm và làm từ rất lâu, ít nhất  khi vừa được Mỹ bỏ cấm vận, làm bước đệm cho Việt Nam hội nhập thế giới, đó chính là “mã số cá nhân” – tiền đề để mỗi người đều có (ít nhất) một tài khoản và mọi thứ đều phải thanh toán qua ngân hàng. Đó là cách giải quyết khoa học, nhẹ nhàng, hiệu quả nhất cho cả phía cho vay lẫn bên vay, trong việc mua bán bất động sản. Người cộng sản đã không làm, do họ nhìn thấy trước “tai họa” từ việc làm này mang tới.
Bây giờ, giới cầm quyền định kết hợp với Ngô Bảo Châu làm việc này [16], có vẻ họ nói cho qua chuyện, bởi thật tâm làm, đó là “gót chân achilles”, nó sẵn sàng tố cáo toàn bộ gia sản cùng những phi vụ mờ ám của tất cả những “con bạch tuộc” khổng lồ trong thế giới “mafia đỏ”. Do đó, quá khó để tin họ thật sự muốn quản lý hiện đại, văn minh như các nước nhằm phục vụ tốt cho dân.
Tuy nhiên, không có nghĩa thế giới không biết tài sản của họ ở đâu và bao nhiêu, bởi [17] “…Thụy Sĩ không còn là vùng đất hứa của những đồng tiền bất chính đã làm thất vọng những nhà độc tài trên thế giới”. Không chỉ riêng Thụy Sĩ, đài BBC có bài “Miến Điện dân chủ hóa hay tự diễn biến?” [18], trong đó cho hay, có một “danh sách đen” của các nhân vật đầu sỏ Miến Điện lên tới hơn 900 người, mà tài sản của họ bị Hoa Kỳ và Cộng đồng Âu Châu quyết định đóng băng tại hải ngoại, dựa theo tài liệu công bố hồi tháng 11 năm 2007.  Chỉ là chưa đến lúc tài sản chìm nổi các “đại gia đỏ” Việt Nam bị phơi ra trước công luận. Trước sau gì cũng đến ngày đó.
Kết
Gói 30.000 tỉ đồng đã bộc lộ tất cả những sai trái, duy ý chí, chống lại quy luật kinh tế. Nhận lãnh thất bại, nhưng người cộng sản vẫn cực đoan để đưa ra hàng loạt  “giải pháp” rối rắm, nhiêu khê và lý thuyết suông. Thậm chí, dù  có tuân theo quy luật kinh tế khách quan, “gói giải cứu” cũng quá ít ỏi và trễ tràng so với tình hình kinh tế bi đát cùng hiện trạng bất động sản vô phương sống sót như người viết ví von qua hình ảnh chú trăn tham lam đến chết nghẹn.

Source : RFA

Sạch bán chẵn.


Thứ tư, ngày 27 tháng mười một năm 2013

Sạch bán chẵn.


Sau chuyến đến Hoa Kỳ dưới danh nghĩa họp hội đồng LHQ, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và bộ sậu có làm việc với quỹ tiền tệ quốc tế và ngân hàng thế giới.  Một điều có thể đã xảy ra là những khoản nợ xin hoãn của chính phủ VN chỉ  được hai tổ chức này xem xét phần nào, tiền vay thêm không được chấp nhận...nói một cách dân dã rằng mong ước của chính phủ VN với hai tổ chức này không đạt kết quả như ý.

Trở về nước sau chuyến công du Hoa Kỳ, lập tức thủ tướng NTD họp chính phủ ngay ngày hôm sau. Nghiêm khắc cảnh cáo báo chí đưa tin xấu về tình trạng kinh tế VN, đồng thời khẩn cấp tìm giải pháp ( nguồn vốn đối ứng ) để giải ngân khoảng 5 tỷ ODA, rà soát truy thu ngân sách, tháo gỡ tình trạng bất động sản đóng băng, mở rộng mời chào thế giới đến hợp tác khai thác dầu khí...

Những giải pháp ở tầm vĩ mô đó đều cho thấy chính phủ đang rất cần tiền.

Và ở tầm cấp thấp hơn chuyện tăng phí, tăng giá, đẻ thêm phí thu mới....sẽ không có gì là lạ.

Giờ thì chính phủ đã cho phép giá điện tăng 10%, giá xăng dầu thế giới giảm nhưng ở VN chưa giảm cho nên không cần phải tăng vì vốn dĩ với giá hiện tại thì xăng dầu đã là tăng rồi. Giá vàng chênh lệch với thế giới vài triệu một lượng nên cũng như xăng dầu không cần phải tăng. Tăng giá viễn thông cho bằng quốc tế. Tóm lại cái gì chưa bằng thế giới phải tăng cho bằng, cái gì tăng hơn thế giới thì cứ giữ đó. Một cuộc tận thu ở những mặt hàng chủ lực.

Lý do người ta tăng là vì tăng thế tiền vào nhà nước, nhân dân chi tiền thế nhà nước hưởng, thế là nhân dân yêu nước.!!!

Người ta bắt đầu thu phí xe mô tô không chính chủ. Với một nền giao thông đô thị như VN và những quan hệ gia đình, bạn bè đặc trưng VN thì lượng xe gắn máy không chính chủ VN rất lớn, đây sẽ là nguồn thu béo bở cho ngân sách cũng như cơ hội cho ngành cảnh sát có thêm chút cải thiện.

Người dân sống trong tình trạng lo thom thóp. Giờ họ đã ý thức được rằng đang có những chuyên gia ngồi soi xét xem có thể ra nghị định nào để lấy tiền từ túi họ, thậm chí các chuyên gia còn được cử đi nước ngoài xem bên ngoài họ thu những tiền gì để về thu của dân mình với lý do là các nước cũng làm vậy

. Không ai dám chắc rằng nhà nước, chính phủ sẽ không còn ra thêm nghị định nào để phạt, để truy thu nữa. Đến cả chuyện ngoại tình cũng quy thành tiền phạt, chuyên vợ chồng cãi nhau nặng lời cũng thành tiền phạt....

Có vô số khoản thu, phạt , tăng được đưa ra. Nhưng có hai cái mà chưa bao giờ người ta nghĩ có thể quy được thành tiền mặt, thế nhưng người ta đã nghĩ tới.

Đó là đóng tiền thế chân nghĩa vụ quân sự.

Thực ra cái này không mới, hơn hai mươi năm trước chuyện đóng tiền cho đơn vị hàng tháng, rồi trở về nhà với danh nghĩa đi làm kinh tế. Người lính lúc đó đã phải làm chuyện đóng tiền thế chân hàng tháng để được ở nhà đi làm ăn, miễn sao đến hạn nộp đủ tiền cho đơn vị. Nếu không ở đơn vị cũng đi làm gạch, làm ngói , làm lao động theo hợp đồng mà đơn vị đã ký kết với công ty Z, X nào đó mang nguồn thu về đơn vị.

Gợi ý cho đóng tiền để khỏi đi NVQS thì đã chính thức cho thấy NVQS không phải là điều gì cao cả, thiêng liêng. Mà nó chính là sự thu tiền của nhà nước, thu một cục đầu tiên hay thu dần hàng tháng hoặc đi lao động hàng tháng làm ra tiền cho nhà nước. Thu một cách chính thức này tiện cái ra tấm ra món, dễ quản lý hơn là thu theo kiểu cho lính về đóng hàng tháng, tốn tiền huấn luyện, quân tư trang, cán bộ chỉ huy. Đây là cách thu tiền tiện lợi, văn minh cho cả hai bên  nếu nói theo nghĩa làm ăn kinh tế.

 Một thể chế mà đi lính thành như đi lao dịch, đến mức ai không muốn đi được phép bỏ tiền mua suất lính khỏi phải đi. Không cần nói thêm nhiều, nhưng bán suất lính thế này thì những phóng viên đầu năm cứ giật tile - thanh niên nô nức tình nguyện lên đường nhập ngũ- Những nụ cười phấn chấn- Những lời hứa quyết tâm - Xuân đến hăng hái lên đường làm NVQS- ....hàng trăm bài báo đầu xuân về tinh thần nhập ngũ chỉ là trò tuyên truyền bịp bợp. Nhất là bọn báo nói thanh niên ta vui mừng trúng tuyển NVQS, trúng tuyển gì mà không muốn trúng thì phải bỏ tiền.

Bán suất lính còn có nghĩa muốn xây dựng chế độ, bảo vệ chế độ này. Thì cứ bỏ tiền ra, cũng như tăng cước viễn thông, tăng điện..... Một lần nữa lý do bỏ tiền ra vào nhà nước, thế là yêu nước lại được tái diễn.


Bảo vệ chế độ bỏ tiền đã đành.

http://genk.vn/net/chong-pha-nha-nuoc-tren-mang-xa-hoi-bi-phat-den-100-trieu-dong-20131127155058348.chn?mobile=true

Nếu nghị định này được thực thi, thì chống chế độ cũng phải bỏ tiền. Có nghĩa là anh bỏ tiền ra mua quyền chống chế độ.Mỗi lần chống chế độ bằng bài viết, bằng mồm có thể phải mua mất 100 triệu VNĐ

Vui chưa ? Một chế độ mà cái gì cũng quy ra tiền, bảo vệ chế độ cũng tiền, chống chế độ cũng tiền, ngoại tình cũng tiền, mượn xe nhau cũng tiền, đi ra đường là phải có tiền ( lời TBT Nguyễn Phú Trọng) và tổng kết của đại tá Trần Đăng Thanh - chế độ là sổ hưu ( sổ hưu có nghĩa là tiền chứ là gì nữa, chả lẽ sổ hưu để lĩnh giấy báo )

Một chế độ từ than, quặng, đất, dầu khí ...đến sức lao động.. rồi đến thị trường văn hóa ( đạo Khổng )...đến quyền bảo vệ chế độ rồi cả quyền chống chế độ....đều chung mẫu số - tiền. tiền.

Sạch bán chẵn là khẩu lệnh của nhà cái xóc đĩa. Đó là khi vào tiếng bạc kết hay nhà cái '' khát nước '' cào cấu muốn  ăn thua quyết liệt. Cờ bạc có hai mặt, chẵn và lẻ, thường vào khi canh bạc tàn nhà cái mới bán sạch bách một bên như vậy. Thường nhà cái chỉ bán số chênh lệch hai bên. Ví dụ bên lẻ người ta đặt cửa 5 đồng, bên chẵn có 10 đồng. Cái thường bán chẵn 5 đồng. Nhà cái bình tài để giữ lâu bền, ăn tiền hồ, tiền dịch vụ trà nước ăn uống, tiền cầm đồ.

Khi mà nhà cái liên tiếp bán sạch một bên, có nghĩa nhà cái đã khát tiền, thân chinh nhảy từ địa vị nhà cái vào làm thành con bạc. Lúc đó là lúc bạc sắp tàn canh hay bạc sắp loạn vì nhà cái đã khát tiền đến mức mất bình tĩnh. Nhà cái một mặt bán sạch một bên, một mặt khác thu tiền hồ tăng, thu tiền dịch vu tăng...Lúc đó chỉ có tan xới hay thay nhà cái khác trường vốn hơn. 

sạch bán chẵn cũng là tên của bài viết này.

Source : Blog nguoi buon gio

“Điều gì khiến X bất khả xâm phạm như vậy?” (*)


27/11/2013

“Điều gì khiến X bất khả xâm phạm như vậy?” (*)


Nguyên Hằng
Tác giả tự hỏi: “Điều gì khiến ngành điện trở nên bất khả xâm phạm như vậy?”. Nói đúng hơn, đây là một trò “điền vào ô trống cho hợp nghĩa” quen thuộc của học trò, có dạng “Điều gì khiến X bất khả xâm phạm như vậy?”, mà ở đất nước ta, X là vô khối chuyện. Chẳng hạn: “Điều gì khiến Ngân hàng Nhà nước bất khả xâm phạm như vậy?”, “Điều gì khiến các dự án sân golf bất khả xâm phạm như vậy?”, “Điều gì khiến việc khai thác Bauxite Tây Nguyên bất khả xâm phạm như vậy?”, “Điều gì khiến việc kiểm duyệt báo chí bất khả xâm phạm như vậy?”, “Điều gì khiến chủ trương kiên định con đường xã hội chủ nghĩa bất khả xâm phạm như vậy?”, “Điều gì khiến các phương châm 4 tốt, 16 chữ vàng bất khả xâm phạm như vậy?”, “Điều gì khiến Bộ Chính trị bất khả xâm phạm như vậy?”, “Điều gì khiến Điều 4 Hiến pháp bất khả xâm phạm như vậy?”, vân vân và vân vân.
Than ôi! Đối với những người có trách nhiệm, đó những “câu hỏi lớn không lời đáp” (Huy Cận). Và trong cơn say quyền lực, có khi họ không thèm tìm kiếm lời đáp cho nhân dân. Không những thế, chừng nào còn nắm quyền lực một cách tuyệt đối, chừng ấy họ còn quay sang gán tội suy thoái tư tưởng cho tất cả những ai cố gắng đi tìm lời đáp.
Họ đóng sập cửa trước mọi cải cách? Thì cứ xem Hiến pháp có thay đổi gì không, Luật Đất đai có thay đổi gì không, là biết!
Bauxite Việt Nam
Với khoản nợ các ngân hàng tính đến cuối tháng 7.2013 lên tới gần 120.000 tỉ đồng, Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) trở thành “con nợ” lớn nhất trong số các tập đoàn - tổng công ty nhà nước. Ấy vậy mà Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2012 đã được kiểm toán của EVN lại cho thấy, “con nợ” này vẫn có tiền mang đi cho vay rồi sau đó lại đi... vay lại chính “con nợ” của mình.
Để có thể hình dung, tạm phác thảo lại đường đi ra - đi vào dòng vốn của EVN từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán như sau: EVN vay vốn Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản, sau đó năm 2006, tập đoàn này “trích” 6.900 tỉ đồng cho Công ty CP Nhà máy nhiệt điện Phả Lại (PPC) vay. Lúc này, EVN đóng vai trò “chủ nợ” của PPC. Đến năm 2010, trong khi vẫn đang là”chủ nợ”, EVN lại quay sang vay của PPC 2.350 tỉ đồng và vừa là chủ nợ, vừa là con nợ...
Điều không rõ ràng là chỉ cách đây hơn 1 tháng, phản hồi trước kết luận của Thanh tra Chính phủ, EVN còn phân trần, do nhu cầu vốn đầu tư các công trình điện rất lớn, mỗi năm EVN đầu tư hơn 60.000 tỉ đồng. Riêng năm 2013 kế hoạch đầu tư của tập đoàn này cho các công trình điện là 106.600 tỉ đồng, trong khi đó khả năng thu xếp vốn không đáp ứng được nhu cầu đầu tư, nên lúc nào EVN cũng thiếu vốn đầu tư trầm trọng. Thiếu vốn trầm trọng là lý do ngành điện liên tục tăng giá nhằm đảm bảo đủ vốn đối ứng để có thể vay vốn đầu tư dự án. Vậy thì tại sao EVN lại phải “ngắt” gần 7.000 tỉ đồng từ vốn vay để cho PPC vay lại? Ngoài PPC, liệu EVN còn cho công ty nào khác vay nữa không?
EVN cho PPC vay vốn với lãi suất ưu đãi 2,42%/năm cộng với chi phí cho vay lại là 0,2%/năm. Vậy PPC cho EVN vay với lãi suất bao nhiêu? Nên nhớ năm 2010, năm “chủ nợ” EVN bỗng dưng chuyển sang vay tiền của PPC là năm diễn ra cuộc chạy đua lãi suất khốc liệt giữa các ngân hàng với lãi vay trên thị trường được đẩy lên 18 - 20%/năm. Khả năng EVN cho vay giá rẻ nhưng vay lại giá cao là rất lớn. Tất nhiên, chi phí này, người cuối cùng phải “gánh” vẫn là người tiêu dùng.
Năm có lãi vẫn không chịu giảm giá; năm lỗ lớn vẫn lương cao, thưởng lớn; hạch toán vào giá điện cả việc xây biệt thự, sân tennis, mua xe sang; chịu lỗ thay doanh nghiệp nước ngoài; đầu tư 42 dự án thì có tới 20 dự án chậm tiến độ gây thiếu điện và dẫn tới tăng chi phí đầu tư... và tới giờ là nhập nhằng vốn vay đi - vay lại với PPC. Với bảng “thành tích” này, rất khó hiểu khi EVN lại được trao quyền tự quyết tăng giá không quá 10% thay vì 5% như hiện nay. Và với khung giá bán lẻ điện bình quân mới ban hành, giá điện có thể sẽ tăng tới 22% vào năm 2014.
“Bộ Công thương có “làm ngơ” tiêu cực của EVN?” - là câu hỏi được Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng đặt ra với Bộ trưởng Bộ Công thương trong văn bản chất vấn. Còn với người dân, những người đã gánh 9 lần tăng giá trong 7 năm qua và sẽ phải chấp nhận việc điện tăng giá mạnh ngay khi những sai phạm, khuất tất chưa được làm rõ, câu hỏi lớn hơn là “điều gì khiến ngành điện trở nên bất khả xâm phạm như vậy?”.
N. H.
Nguồn: thanhnien.com.vn
(*) Nhan đề của BVN

Source : BVN