Chương 2
Mấy nước bờ bắc Địa Trung Hải
Bờ bắc Địa Trung Hải có một nền văn minh lâu đời. Vợ chồng tôi có dịp đi thăm mấy lần, nhưng cũng tiếc là thường là ít thì giờ, và xem chẳng được mấy tí. Nhưng biết được gì, cũng xin kể lại.
1. Bucuresti
Vào mùa Xuân năm 1976, nhân dịp Viện Hàn lâm Khoa học Ru-ma-ni mời tôi, tôi kết hợp chuyến công du này, cùng vợ và con trai cả của chúng tôi đi thăm Hy-lạp rồi phần Âu của Thổ-nhĩ-kỳ luôn thể. Thời giờ rất ngắn, chỉ có muơi ngày, nhưng cũng thăm được vài nơi thú vị. Tôi không có gì để kể nhiều về thủ đô Bucuresti của nước Ru-ma-ni, thời ấy còn đang dưới bàn tay sắt của ông Nicolae Ceaucescu (1918-1989). Xứ Dacie cổ xưa (trên khoảng đất của Ru-ma-ni ngày nay) bị đế quốc La-mã của hoàng đế Trajan (khoảng 101-107 sau Công nguyên) chiếm, nay còn lại dấu vết qua tiếng Ru-ma-ni, thuộc loại ngôn ngữ La-tinh (ai biết tiếng Pháp, tiếng Ý, vv. tuơng đối dễ hiểu tiếng này). Trải qua nhiều thăng trầm, xứ này chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn minh do bị xâm chiếm trong quá khứ bởi nhiều đế quốc phía đông phía Tây, lúc chia lúc hợp ; năm 271, người Goths từ phương Bắc xuống chiếm ; đến thế kỉ thứ 6 là người Slaves ; từ thế kỉ thứ 10 đến thế kỉ 13 là Thổ-nhĩ-kỳ và Mông-cổ, thế kỉ 15, 16 và sau đó là đế quốc Ottoman, rồi đến Nga, vv. Đến thế kỉ 19, Ru-ma-ni mới độc lập. Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), và thế chiến thứ hai (1939-1945), tùy lúc, tùy thế, lúc phải ngả bên này, lúc theo bên kia. Lúc tôi tới thăm, thì đang dưới chế độ xã hội của nghĩa, nhưng đối với Liên-Xô cũng không hoàn toàn bảo sao nghe vậy.
Thành phố Bucuresti, xưa vốn là nơi cư ngụ của các ông chúa xứ Valachie từ thế kỉ thứ 14, sau trở thành thủ đô chung của công quốc (principauté) Valachie và Moldavie, rồi của Ru-ma-ni từ 1862. Bucuresti không để lại cho tôi ấn tượng gì nhiều.
Tôi có người đồng nghiệp rất thân người Ru-ma-ni, nay là phó chủ tịch viện Hàn lâm, nên tiếp đón rất chu đáo long trọng ; ông chủ tịch viện Hàn lâm lúc đó cũng là chỗ quen biết. Thời đó, tuy cả nước này còn đang sống dưới nền kinh tế khó khăn, nhưng viện Hàn lâm vẫn còn nhiều « phương tiện », vợ chồng tôi cũng được mời một bữa cơm « nhớ đời » : vốn quen với sự tiếp đãi giản dị của các đồng nghiệp Tây Âu và Bắc Mỹ, tôi cứ nghĩ rằng bữa cơm chỉ có món « vào đầu » (hors d’oeuvre), và một món ăn chính, rồi ăn tráng miệng (dessert). Lần này, ăn hết 2 món đầu, thấy no bụng rồi, thấy mang ra một món cá, tôi hoảng quá, hỏi sao ăn nhiều thế ; mấy chủ nhân nói : ấy, sau món cá còn hai món chính nữa, trước khi ăn tráng miệng. Tôi hết hồn hết vía, xin lỗi, để vợ tôi « thay mặt » ăn tiếp thêm chút đỉnh. Tôi kể vậy để nói thêm là, sau khi chế độ Ceaucescu đổ, Viện Hàn lâm được trả lại của cải, đặc biệt là đất đai và bất động sản, nên rất giàu, phương tiện lại còn lớn hơn nữa. Lại còn một lý do do nữa để tôi nhớ bữa cơm này : là vì mấy tháng sau, vợ chồng tôi và hai con đi Canađa, và ở Québec, được một đồng nghiệp mời ăn cơm tối. Vợ chồng dặn nhau và dặn hai con rằng coi chừng, ăn in ít những món đầu đầu kẻo bị mắc kẹt như ở Bucuresti. Lần này thấy bưng ra một đĩa lớn đồ thịt lợn ướp đủ loại (charcuterie : giăm bông, xúc xích, vv.). Ăn cầm chừng một lúc, rồi thấy bưng đi, không thấy chủ nhà nói gì nữa, rồi thấy mang ra đồ tráng miệng. Té ra bữa cơm chỉ có một món. Lúc về, đói bụng và cười với nhau mãi.
Ở Bucuresti có ít ngày, rồi vội đi Hy-lạp.
2. Hy-lạp
Đề cập đến văn hóa châu Âu thời cổ, luôn luôn bị dẫn tới văn hóa Hy-lạp. Và tất nhiên đến thần thoại của Hy-lạp, với lỉnh kỉnh dính đến rất nhiều thần. Từ cái thuở Hỗn mang (Chaos), Giời (Uranus) và Đất (Gaia) lấy nhau rồi đẻ ra một đống thần, thiện hay/và ác, (thần chứ không phải thánh !). Rồi bao nhiêu thứ chuyện, từ việc thần con lật thần cha, thần em cướp ngôi thần anh với sự hỗ trợ của thần mẹ, thần anh lấy thần em gái, thần bố nuốt thần con mỗi lần thần mẹ đẻ ra, vv. Có thuyết cho rằng đấy chỉ là những hình ảnh tượng trưng, thí dụ như Cronos là thần « Thời gian », cho nên cái gì cũng nuốt tất (theo cuốn « Contes et légendes mythologiques » của Emile Genest, nxb Nathan 1994, có một sự lẫn lộn giữa tên thần Cronos và từ « chronos » nghĩa là thời gian, tuy 2 từ này không cùng một gốc). Lộn xộn, rồi rốt cục Zeus trở thành thần chúa tể của các thần trên thượng giới (của Hy-lạp).
Mào đầu như vậy rồi, mới nói đến việc thăm nơi này nơi nọ. Chúng tôi không có thì giờ ở Hy-lạp nhiều, nên chỉ thăm có hai nơi : thủ đô Athènes và Delphes.
Athènes ngày nay là thủ đô của Hy-lạp ; tên gọi này xuất phát từ tên của nữ thần Athena, nữ thần bảo trợ của thành phố. Đồng thời có nguồn cho rằng theo ngôn ngữ cổ, chữ « ath » có thể có nghĩa là cái đầu/cái nguồn, bởi vì cái đồi mang tên Acrople vốn là gốc/trung tâm của thành phố Athènes, và từ đó mới sinh ra cái huyền thoại nữ thần Athena khi sinh thì từ trong cái đầu của Zeus chui ra. Còn tên gọi Acrople, theo từ cổ « akra » và « polis » nghĩa là thành phố cao, và trong thực tế là đồi này cao khoảng 156m so với mặt biển.
Thăm Athènes, thực ra tôi chỉ ý đến Acrople, khu còn di tích đền đài cổ xưa. Ở đó có đền Parthenon, đền thờ Artemis Brauronia, đền Erechtheion, đền thờ Athena Nikê, vv. Nhưng Parthenon đáng chú ý hơn cả, được khởi công xây bằng đá năm 447 trước Công nguyên, cho đến năm 438 trước Công nguyên. Xây bằng đá hoa trắng, mặt tiền rộng khoảng 31m với 8 cột chống, chiều sâu khoảng 70m với 17 cột, đền này thuở xưa có pho tuợng Athena bằng vàng (khoảng một tấn vàng) và ngà, cao 16m nay không còn, vì thời bị xâm lăng, tượng này bị tháo dỡ mang đi nơi khác. Trải qua thời gian, và các cuộc binh hỏa, đền này tuy điêu tàn nhưng còn dáng vẻ đồ sộ.
Thăm Delphes (cách Athènes khoảng 200 km phia tây bắc), cũng vì nơi này cũng là một cái nôi của nền văn hóa cổ Hy-lạp. Đây là một quần thể nhiều đền đài xây bằng đá, rải rác từ thung lũng lên đến đồi cao, tóm tắt gồm có đền thờ nữ thần Athena, rồi một kiến trúc hình tròn gọi là Tholos mà ngày nay không ai biết công dụng là gì, rồi một con đường dẫn lên cao rải rác có nhiều tượng đá, cột đá, bia, « nhà kho » chứa bảo vật, cho đến tận đền thờ Apollon (còn mang tên Phoibos, Helios). Đền này dựng trên một cái nền dài 80m cao 4m, có nhiều ghi khắc những sự việc ; đền nhiều lần bị phá hủy (cháy, động đất, vv.) tuy được xây dựng lại nhưng nay cũng đã điêu tàn. Có một « nhà hát » chứa được tới 4000 người, và trên cao nhất là một sân vận động có thể chứa được tới 7000 người.
Thuở xa xưa, Delphes mang tên Pytho, có một đền thờ Gaia thần « Đất » và Poséidon thần « Biển », đền này có một con quái, một con rắn khổng lồ, gọi là Python canh giữ, làm cho cả vùng kinh sợ. Rồi tới một lúc, có thần Apollon mò tới nơi này, giết con quái Python. [Apollon vốn là con hoang (ngoại tình) của Zeus, mẹ sợ nữ thần Hera vợ chính thức của Zeus ghen, nên bỏ thượng giới để trốn xuống thế gian. Sau Apollon được nhận lại ở thượng giới, đồng thời cũng là thần « Mặt trời » Helios]. Vì giết con quái của thần khác, Apollon bị phạt một thời gian rồi quay trở lại Delphes.
Nơi này là nơi mà truyền ra những « lời sấm » (oracles), từ miệng một nhà nữ tiên tri, một thứ cô đồng, gọi là Pythie (có nguồn cho rằng tên gọi này có lẽ xuất phát từ tên hiệu Pythius của thần Apollon, do địa danh Pytho và do việc thần này giết con quái Python). Cô này vào đền thần Apollon, nhịn ăn, nhai lá nguyệt quế gì đó, uống nước giếng thiêng, rồi « nhập đồng » (en transe), nói ra những lời thần phán khó hiểu, rồi các thày tu phụ tá chép lại và diễn giải dưới dạng thơ những lời sấm đó. Vua chúa, kẻ sang, người hèn, ai muốn biết vận mệnh của mình thì mang đồ lễ đến để xin lời sấm. Sau, loại sấm này phổ biến hơn ; và có các cô đồng nơi này nơi khác tương tự còn được gọi là Sibylle, đặc biệt là Sibylle ở đền thờ Apollon ở Cumes, nhưng đôi khi lại tự cô viết ra lời – có nguồn cho rằng từ đó mà sinh ra cụm từ « propos sibyllins » nghĩa là lời lẽ khó hiểu.
Ở Delphes thuở xưa, có hội đồng quản trị đại diện cho 12 xứ Hy-lạp, cũng có tổ chức những cuộc thi đua, như thi nhạc (Apollon cũng là thần « Nhạc »), rồi sau đó có cả những cuộc thi làm thơ, và thi thể thao, đua ngựa, cứ 4 năm một lần theo kiểu thi đua ở Olympie. Các xứ khác hiến dâng nhiều đồ quí báu. Sau khi Hy-lạp bị đế quốc La-mã thôn tính, đền thờ ở Delphes vẫn được tiếp tục thờ cúng. Mãi đến năm 380, hoàng đế La-mã phương đông Theodose I nâng đạo Ki-tô thành quốc giáo ; việc thờ cúng ở Delphes bị cấm từ 381 (lời sấm cuối cùng là năm ấy).
Vì ít thì giờ, tôi tiếc đã không kịp đi xem những nơi khác ở Hy-lạp như thăm Olympie và thăm đảo Rhodes. Hai địa danh này vốn nổi tiếng, vì đó là hai nơi có « kỳ quan » trong đám « 7 kỳ quan » của thời cổ đại phương tây (theo sự mô tả của Philon de Byzance, sống ở thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên, trong cuốn sách của ông ta De septem orbis miraculis) :
Ở đền thờ Zeus ở Olympie thuở xưa có pho tượng của Zeus khổng lồ, trong thế ngồi, cao 12m không kể bệ kê, bằng vàng và ngà, tô điểm bằng đá quí, hoàn thành vào khoảng năm 430 trước Công nguyên. Tượng này được mô tả trong một số tài liệu cổ, và có vẽ hình trên một số tiền cổ. Đến thế kỉ thứ 2 trước Công nguyên có được tu sửa. Sau bị mang về Constantinople và bị hủy trong hỏa hoạn vào năm 462.
Ở đảo Rhodes, sau khi đẩy lùi được một cuộc xâm lăng, dân xứ này cho dựng một pho tượng khổng lồ thần « Mặt trời » Helios (cũng là Apollon) bằng đồng đen gần hải cảng. Sau 12 năm xây đúc, tượng được hoàn thành vào khoảng năm 282 (có nguồn lại ghi 262) trước Công nguyên, tượng cao khoảng 33m. Nhưng đến khoảng năm 225 trước Công nguyên, do một trận động đất, tượng bị đổ. Một lời sấm cảnh báo không nên dựng lại tượng ; tượng đổ cứ nằm đó trong gần 9 thế kỉ. Đến năm 654 sau Công nguyên, đảo bị quân A-rập của tướng Mahabiah xâm chiếm, hôi của, phá và đem bán những mảnh đồng vụn cho một thương gia Do-thái. Tương truyền trọng lượng khoảng 20 tấn (?), và phải dùng đến 900 con lạc đà để chuyên chở số đồng vụn này.
Cũng lại tiếc không đi thăm được thăm đảo Crète và di tích lâu đài Cnossos của vua Minos, liên quan đến huyền thoại « Mê lộ ». Lâu đài này rất nhiều phòng, kiến trúc phức tạp, có lẽ vì vậy mà từ đó sinh ra huyền thoại : thần Zeus ham sắc cô công chúa Europa xứ Tyr, mới mò xuống trần gian lập kế bắt cóc cô này đưa đến đảo Crète để hú hí, đẻ ra được 3 con trai, cậu cả là Minos. Bị thần bỏ, bà Europa mới lấy vua Aterios, vua này không có con nên nhận 3 cậu làm con của mình. Khi vua này mất, có chuyện tranh ngôi. Minos cầu sự ủng hộ của Poseidon thần « Biển » bằng cách xây cho thần này một đền thờ, nên củng cố được ngôi của mình ; thần này đòi Minos trả công bằng cách hy sinh một con bò đực mà thần gửi cho vua để cúng thần trong đền đó. Nhưng Minos thấy con bò đẹp quá, mới giữ bò lại, đánh tráo, cúng một con bò khác. Thần giận mới trả thù bằng cách phù phép cho vợ Minos là hoàng hậu Pasiphae mê con bò đực này, đến nỗi bà này lén nhờ kiến trúc sư Dédale sáng chế ra một con bò cái giả rỗng bằng gỗ để mình nằm trong đó, cho con bò đực giao hoan. Do đó mới đẻ ra một con quái Minotaure nửa người nửa bò, không ăn cỏ mà ăn thịt người. Vì vậy nên vua mới sai kiến trúc sư Dédale xây một nơi giam con quái, kiến trúc rất phức tạp ai vào rồi thì không biết lối ra. Rồi tới một lúc, hiệp sĩ Thésée tới đảo, vào Mê lộ giết được con quái Minotaure, và nhờ sự giúp đỡ của nàng công chúa Ariane – nàng phản cha, bày kế cho chàng Thésée bằng cách mắc một sợi dây theo đường vào – chàng mò theo dây tìm thấy lối thoát ra trở ra khỏi Mê lộ ; chàng đem nàng lên thuyền trốn khỏi đảo, hú hí nhưng rồi lại bỏ rơi nàng ở một đảo khác, vv. (Chuyện này tôi đã có dịp kể trong cuốn sách « Học gần Học xa » của tôi, do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và nxb Tổng hợp Tp HCM tái bản 2006). Sau Minos chết và trở thành « phán quan » (quan xử án những ma) dưới Âm phủ.
Vì văn hóa Hy-lạp liên quan đến nhiều nền văn hóa lân cận, tôi thấy đáng nhắc đến câu chuyện chiến tranh Troie, cũng là chuyện nửa thần tiên nửa trần tục. Khởi thủy là một quả táo vàng, trên đó có ghi câu « tặng nàng đẹp nhất » mà Eris, nữ thần « Bất hòa » (Discorde) chơi xỏ, tìm cách vứt lên bàn tiệc một đám cưới thần trên thượng giới, vì tất cả các thần đều được mời, trừ nàng không được mời vì lẽ đương nhiên ! Zeus, thần chúa tể các thần, không muốn tự mình chọn tặng ai trong đám các nữ thần, vì sợ làm mích lòng các nàng, nên chỉ chọn 3 nàng ; rồi vị mới phù phép chỉ định một kẻ trần tục, Pâris, con trai của Priam, vua xứ Troie (nay gần eo biển Dardanelles, thuộc Thổ-nhĩ-kỳ ngày nay) để chọn đưa quả táo vàng tặng ai. Nghe đâu như vị sai các nữ thần xuống hạ giới giả làm gái trần gian, trao quả táo vàng cho Pâris đang chăn cừu, để chọn tặng cho nàng nào. Chàng này không ngần ngại, cầm đưa tặng ngay Aphrodite (nữ thần « Ái tình và Sắc đẹp »), chẳng sợ mất lòng các nàng khác. Đền công cho Pâris, nữ thần Aphrodite giúp cho chàng chiếm được người phụ nữ đẹp nhất thế gian : Hélène, vợ vua Menelas xứ Sparte. – Nhắc lại là chàng này, tuy là con vua, nhưng lúc sinh ra, đã bị điềm gở : có lời « sấm » cảnh báo rằng chàng lớn lên sẽ làm cho đất nước suy vi. Vua sợ, mới sai người đem giết đi ; nhưng hoàng hậu thương con, lén sai bỏ đứa bé cho bọn chăn cừu, và mang một xác trẻ em khác về trình vua, vì vậy lớn lên chàng mới đi chăn cừu. Sự tích quanh co một hồi, rồi chàng về triều, và được cử đi sứ, do đó mới gặp nàng Hélène, vv. – Nàng này, tuy là gái có chồng, nhưng khi gặp chàng thì « tình trong tuy đã, mặt ngoài còn … », mặc chàng bắt cóc mình mang về xứ Troie. Vua Ménélas mất vợ, và mất thể diện, mới nhờ các vua các xứ Hy-lạp tập hợp thuyền bè quân đội, dưới sự tổng chỉ huy của Agamemmon, vua xứ Mycènes, vây đánh thành Troie. Cuộc chiến kéo dài 10 năm. Lộn xộn phe này phái kia, hiệp sĩ này đấu với hiệp sĩ kia (Pâris, Hector, Enée bên này, Achille, Ulysse bên kia, vv.), thần này bênh phe này, thần kia giúp phe kia, rốt cục nhờ cái mưu kế « Con ngựa [gỗ] thành Troie » mới phá được thành. Chuyện « con ngựa gỗ » là do mưu kế của Ulysse được nữ thần Athena xúi cho : đóng một con ngựa gỗ rỗng thật to, chứa được nhiều người bên trong, giả làm đồ cúng thần Athena, để trên bãi cát, rồi giả bộ rút thuyền bè quân đội đi, nhưng kỳ thật là mang quân núp ở đó không xa. Quân thủ thành ngỡ là đối phương chịu thua rút đi, bèn mở cửa thành, kéo con ngựa vào thành như là một chiến lợi phẩm. Cũng có người can (thày tu Laocoon), nhưng bị thần biển Poséidon sai rắn bóp chết (vì thần này thù dai về một câu chuyện tiền bạc gì đó với bố vua Priam xứ Troie). Tại có thần phù phép, nên quân thủ thành mới u mê đến thế ! Đến đêm, Ulysse và nhóm quân núp trong bụng con ngựa gỗ, chui ra, mở cổng thành cho quân Hy-lạp kéo vào, và như vậy là chiếm được thành, và thắng trận.
Đoạn cuối của cuộc chiến này được kể trong Iliade và Odyssée, tác phẩm truyện thơ của Homère (phỏng đoán sống vào khoảng thế kỉ thứ 8 trước Công nguyên) và trong Enéide, tác phẩm của Virgile (Publius Vergilius Maro, khoảng thế kỉ thứ 1 trước Công nguyên). Chuyện « Chiến tranh Troie » có cơ sở nào hay hoàn toàn là huyền thoại ? Có thuyết cho rằng có, có thuyết cho rằng không. Giả sử rằng thi sĩ Homère là người có thật, ông là người xứ nào, cũng không ai biết chắc, và không chắc ông đã là tác giả của tác phẩm mà sau này người ta gán cho ông, và câu chuyện ông kể cũng xảy ra 4 thế kỉ trước khi ông sinh ra. Còn Virgile thì lại dựa vào tác phẩm của Homère để viết tác phẩm của mình. Có điều là năm 1871, một nhà khảo cổ nghiệp dư, Heinrich Schliemann, dựa trên những tài liệu Hy-lạp cổ, phát hiện ra một « thị xã » (ở bờ biển Egée, phía đông Đại Trung Hải thuộc Thổ-nhĩkỳ ngày nay), gồm 7 « tầng » chồng chất, với dụng cụ, đồ trang sức bằng vàng ngọc ; và niên đại của tầng cổ nhất là khoảng 2500 trước Công nguyên, nghĩa là khoảng 1000 năm trước niên đại câu chuyện vua Priam và chiến tranh. Như vậy cũng có cơ sở để nói rằng thành Troie là có thật, nhưng « thị xã » này nhỏ bé, không phù hợp với chuyện Homère kể số quân vây thành đông đến hơn 10 vạn, và cuộc chiến kéo dài đến 10 năm. Có thuyết cho rằng, thời đó, dân thưa, của ít, các cuộc chiến thường chỉ huy động độ vài ngàn người, và đánh nhau cũng chỉ vài tháng là cùng. Dù cho năm 1876, nhà khảo cổ lại tìm thấy ở Mycènes dấu vết của một « thị xã », lớn và giàu hơn, có thể gán cho vua Agamemnon, do đó có câu hỏi : Vậy thì các vua giàu có, huy động nhau với nhiều công của, thời gian, để đánh chiếm một nơi nhỏ bé, để làm gì ? Có thuyết cho rằng huyền thoại này được đặt ra để tán tụng sức mạnh của Athènes vào lúc manh nha tập hợp các xứ Hy-lạp. Còn chuyện con ngựa gỗ, mà ngành khảo cổ không tìm thấy được một dấu vết nào, phải chăng nó phát nguồn từ sự ra đời lúc đó của những công cụ « công thành » thật lớn ?
3. Thăm Istanbul
Rời Hy-lạp, chúng tôi vội vã đi Thổ-nhĩ-kỳ. Tôi không chú ý lắm đến cái phần « tân » của nước này – lịch sử của nền cộng hòa từ Mustapha Kemal từ 1923 đến này thì nhiều người đều biết – mà chủ yếu tôi bị hấp dẫn bởi cái phần di tích « cổ » của phần đất này, thí dụ như di tích của thành Troie (đã kể trên), hoặc di tích khác như Halicarnasse (Bodrum ngày nay) và Ephese (Selcuk ngày nay), là hai nơi có « kỳ quan » trong đám « 7 kỳ quan » của thời cổ đại phương tây :
Ở Halicarnasse (phía tây nam Thổ-nhĩ-kỳ ngày nay, có lăng của vua Mausole – và do đó có từ tiếng Pháp « mausolée » trở thành từ ngữ chung đẻ chỉ những lăng mộ lớn – do Artemise II, vợ đồng thời là em gái của vua, cho xây sau vào năm 353 trước Công nguyên. Lăng này cao khoảng 45m, với 36 cột chống một mái đá hình kim tự tháp. Vào thế kỉ 14 sau Công nguyên, đền bị hư hại sau một trận động đất. Vào thế kỉ 15, vùng này bị các hiệp sĩ dòng Malte (chevaliers de l’ordre de Malte của đạo Thiên Chúa) chiếm, và dùng một phần đá tảng đục chạm của đền này để xây một lâu đài chiến lũy, nay vẫn còn.
Ở Ephese thuở xưa có đền thờ Artemis nữ thần « Săn bắn ». Đền này được xây nên vào khoảng thế kỉ thứ 6 trước Công nguyên, trên một nền dài 155m, rộng 60m, với 127 cột chống trạm trổ. Đền này bị cháy vào năm 356 trước Công nguyên đúng vào đêm sinh ra đại đế Alexandre, do đó có truyền thuyết là nữ thần Artemis mải chứng kiến buổi sinh ra đại đế Alexandre, nên không rảnh để tắt lửa cháy đền. (Có vậy thì mới chứng minh được là sinh con thánh !). Sau, đại đế Alexandre cho xây dựng lại một ngôi đến nguy nga hoành tráng hơn, cao 18m, với những cột dát vàng, trong đền chứa nhiều của báu, nhiều tượng đẹp, và đặc biệt là pho tượng nữ thần Artemis. Có nhiều bản sao của tượng này, nhỏ hơn, còn tồn tại trong vài bảo tàng. Trải qua nhiều cuộc xâm lăng cướp phá, đền này bị phá hủy hoàn toàn vào khoảng năm 400 sau Công nguyên dưới thời hoàng đế La-mã phương đông Arcadius. Tương truyền là vật liệu của đền này (đá tảng) được dùng để góp phần xây dựng nhiều nhà thờ Ki-tô giáo lúc ấy đã là quốc giáo của đế quốc La-mã, trong đó có lẽ có cả nhà thờ Saint-Sophie ở Constantinople (Istanbul ngày nay). Tương truyền, Ephese cũng là nơi mất của Đức bà Đồng trinh sinh ra Chúa Ki-tô.
Không thăm được mấy nơi kể trên, chúng tôi đành chỉ thăm Istanbul thôi, nhưng nơi này tự nó cũng có một bề dày lịch sử : một nơi nhưng ba tên gọi đều nổi danh.
Thoạt đầu là Byzance. Vào khoảng năm 658 trước Công nguyên, có những người Hy-lạp đến tụ tập cư ngụ nơi đây. Vua Byzas, sau khi xin lời sấm ở Delphes, quyết định lập nên thành phố này. Có nguồn cho rằng do đó mà có tên gọi Byzance, được sự yểm trợ của nữ thần Rhea, mẹ của Zeus, và của thần Apollon. Nhờ thương mại và địa thế, thành phố này trở nên phồn thịnh, làm cho các xứ khác dòm ngó, xâm chiếm. Đến thời đại đế Alexandre, thành phố này được quyền tự trị. Đến năm 279 trước Công nguyên, thành phố này phải cống cho người Galates (Gaulois) để được yên ổn. Tới năm 146 trước Công nguyên, Byzance bị đế quốc La-mã chiếm. Septime Severe (Septimius Severus), hoàng đế La-mã từ193 đến 211 sau Công nguyên bắt đầu cho xây dựng một số công trình ở nơi đây. Đến năm 324 sau Công nguyên, Constantin (Constantinus) hoàng đế La-mã từ 306 đến 337, quyết định dùng nơi này làm kinh đô của đế quốc La-mã, gọi nơi này là « tân Roma », nhưng sử và người đời ghi nhớ tên kinh đô Constantinople này là từ tên của Constantin mà ra. Đến cuối đời Theodose (Theodosius trị vì từ 379 đến 395), hoàng đế này chia đế quốc La-mã làm hai, cho hai con là Honorius (hoàng đế La-mã phương tây, kinh đô Roma) và Arcadius (hoàng đế La-mã phương đông, kinh đô Constantinople). Đến năm 476, đế quốc La-mã phương tây bị vua nước khác diệt, chỉ còn đế quốc La-mã phương đông, sau gọi là đế quốc Byzantin, tồn tại đến năm 1453, bị vua Hồi giáo (sultan) Mehmet II chiếm. Vua này (trước đó trị vì từ 144 đến 1446, sau từ 1451 đến 1481), đổi tên Constantinople thành Istanbul, kinh đô của đế quốc Ottoman từ đó cho đến 1922. Kinh đô Constantinople thất thủ, mở đầu cho một giai đoạn mới của lịch sử phương tây : thời đại Phục hưng.
Những công trình xây dựng ở Istanbul tóm tắt gồm :
Nhà thờ Sainte-Sophie : Tương truyền hoàng đế La-mã Constantin cho xây nhà thờ này vào năm 325, trên nền một đền thờ thần Apollon thuở trước, để vinh danh thánh Haghia Sophia. Nhà thờ mái gỗ này bị hỏa hoạn vào dịp một cuộc nổi loạn năm 404. Hoàng đế Theodose II cho xây lại năm 415 lại bị hỏa hoạn một lần nữa vào dịp một cuộc nổi loạn khác vào năm 532 dưới thời hoàng đế Justinien I (Justinianus). Nhà thờ được xây lại, sử dụng khoảng 1 vạn thợ, và hoàn thành năm 537. Tường bằng đá hoa, hơn 1 trăm cột được lấy từ đền thờ Artemis ở Ephese về đây để góp phần xây cất. Với sự hiểu biết thời đó, vòm mái nhà thờ cao 56m, hình tròn đường kính 38m, với thời gian trở nên bấy, do đó công trình bị sụp trong một trận động đất năm 558. Được xây lại với một mái thứ nhì hẹp hơn, mái nhà thờ lại bị sụp mấy lần nữa, vào thế kỉ thứ 10 và thế kỉ 14, rồi lại được tu sửa lại. Khi vua Hồi giáo Mehmet II chiếm được Constantinople năm 1453, cho sửa lại thành đền thờ Hồi giáo (mosquée), có thêm 4 cái cột tháp. Đền thờ Hồi giáo này được sử dụng trong 5 thế kỉ, dưới triều đại các vua Hồi giáo Ottoman. Sau khi đế quốc Ottaman sụp đổ, Ataturk lập nền cộng hòa Thổ-nhĩ-kỳ năm 1923, cho sửa thành bảo tàng. Đó là một công trình có giá trị cao, nhưng bảo là đẹp hay xấu thì xin tùy.
« Đền thờ Hồi giáo màu lam » (mosquée bleue), được gọi như vậy do lát bằng mảnh sành (faience) màu lam, là một trong những đền thờ Hồi giáo nổi tiếng nhất ở Istanbul. Đền được xây năm 1609 dưới thời vua Hồi giáo Ahmet I, xây trên nên một lâu đài của thời đế quốc Byzantin, 7 năm mới xong. Khác với những đền Hồi giáo khác, đền này có 6 cộp tháp (minaret) thay vì 4 cái. Bên trong, vòm mái cao 43m, đường kính hơn 23m, có 4 cột chống khổng lồ, khá sáng sủa với 260 cửa sổ, kính ghép màu, tường lát bằng hơn 2 vạn mảnh sành. Ngoài « phòng cầu nguyện » (salle de prière), thuở xưa còn những nhà phụ xây cất bên cạnh : bệnh viện, chợ bách hóa, vv. Nghe kể là nơi đây cũng là nơi thuở xưa tụ họp các tín đồ khởi hành đi hành hương nơi thánh địa La Mecque. Hồi chúng tôi tới thăm nơi này, bên trong thì rất sang, bên ngoài thì đường phố thì rất bẩn, rác rưởi, bùn đất cáu lại, có vẻ như không quét rửa từ hàng bao nhiêu năm. Ngày nay, không biết thế nào.
Hoàng cung Tokapi : Sau khi chiếm được Constantinople năm 1453, vua Hồi giáo Mehmet II cho xây dựng trên một vùng đất cao gần bờ biển Marmara và eo biển Bosphore (eo nối liền biển Marmara và Hắc hải, bờ đông là châu Á, bờ tây là châu Âu) một quần thể cung điện, dần dần được các vua nối nghiệp tu sửa thêm, tức là hoàng cung Topkapi. Quần thể này, trong bốn thế kỉ liền, là nơi ở của 26 vua trong số 36 vua của đế quốc Ottoman, cho tới lúc vua Abdulmecid I vào giữa thế kỉ 19 chuyển sang ở lâu đài Dolmabahçe, bên eo biển Bosphore. Quần thể cung điện này xây dựng trên khoảng 700000m2, gồm mấy trăm phòng, nơi thiết triều, làm việc, thư viện, viện thái y, vv. và một Hậu cung (Harem) rộng khoảng 15000m2 gồm 400 phòng. Nơi Hậu cung này do thái hậu quản, là nơi ở của các phi tần cung nữ tuyển từ mọi địa phương thuộc đế quốc, với một đội hoạn quan da đen canh giữ và hầu hạ. Có nhiều chuyện kể về Hậu cung này, thực hay hư, với nhiều ảo ảnh huyễn hoặc, gây ra bởi lẽ đế quốc Ottoman thời thịnh bao gồm rất nhiều xứ sở Âu Á Phi, (đại khái theo tên gọi địa bàn ngày nay : Hung, Croatie, Bosnie- Herzegovine, Serbie, Montenegro, Roumanie, Moldavie, Bulgarie, Albanie, Hy-lạp, một phần Ukraine, một mẩu nam nước Nga, Géorgie, Azerbaidjan, Kurdistan, Irak, Syrie, Do-thái, Ai-cập, Lybie, Tunisie, Algérie, …) thiếu gì gái đẹp đủ màu sắc, có số lượng mà cũng có phẩm chất, cộng thêm với ấn tượng « Một ngàn đêm lẻ một ». Nhưng sử và dã sử ghi nhiều về ái phi Roxelane của sultan « Suleyman hoành tráng » (Suliman le Magnifique), vốn là một vị vua giỏi, trị vì từ 1520 đến 1566. Bà này (1505-1558) vốn là gốc người Nga (có nguồn kể là người Ukraine), tên là Aleksandra Lisowska, thuở nhỏ bị bắt cóc, bị bán làm nô lệ ; có nguồn kể rằng nàng được vizir (thừa tướng) Ibrahim mua và đem dâng cho vua Suleyman. Không có hình ảnh của nàng này, lời chứng duy nhất là của sứ thần Bragadino xứ Veniza và theo ông này thì nàng tuy không đẹp nhưng duyên dáng. Rất thông minh và nàng quyến rũ được vua, mà đẻ được 4 người con trai. Nhưng vì thông lệ của đế quốc Ottoman là quyền nối nghiệp trao cho người con trai cả, và khi vua mới lên ngôi, phải « gạt » các hoàng tử khác ra khỏi chính quyền để giữ thống nhất cho đế quốc và tránh hậu hoạn ; đã có trường hợp vua mới lên ngôi giết hết anh em của mình, hoặc giam cầm cho đến lúc chết. Roxelane sợ cho con mình, và cho địa vị của mình, vì lúc đó vua Suleyman đã có một người con trai tên là Mustafa do vợ cả sinh ra, đã lớn và rất được lòng quần thần, đặc biệt là thừa tướng Ibrahim, và dân chúng. Có nguồn kể rằng (thực hay hư ?) Roxelane gièm pha, và xúi vua cho giết Ibrahim (thừa tướng trong 13 năm và rất thân cận với vua, bị vua sai bóp cổ chết). Rồi thân cận của vua bắt được một lá thư (giả) của hoàng tử Mustafa gửi cho vua xứ Ba-tư nhờ sự giúp đỡ của vua này để lật vua Suleyman cha mình. Được tin này, Mustafa một thân một mình, tay không, vội vào gặp vua cha để thanh minh, bị chính vua Suleyman (khóc và) giết ngay tại chỗ. Còn lại 4 người con trai của Roxelane. Người con đầu chết sớm. Nguời con thứ nhì thì mắc bệnh động kinh. Người con thứ ba Bayezid, thông minh nhưng là người tàn ác ; Roxelane ưa người con út vì cho rằng người này hiền lành, nếu lên ngôi sẽ không giết các anh mình. Sự việc không diễn ra như vậy, hai anh em kình địch nhau ; Bayezid trốn sang xứ Ba-tư, sau bị trục xuất, và bị vua cha sai giết. Roxelane chết cùng năm đó, trước chồng 8 năm. Người con út nối ngôi là một vua xoàng. Mộ bà và mộ vua Suleyman cùng ở trong đền thờ (mosquée) mang tên Suleymaniye ở ngay Istanbul (không xa hoàng cung), là một trong những đền thờ Hồi giáo đẹp và to nhất nơi này : cao khoảng 50m, rộng 61m, dài 70m, có 138 cửa sổ làm cho phòng cầu nguyện rất sáng sủa, phải 7 năm mới xây xong.
Đến năm 1924, thời cộng hòa, Ataturk ra lệnh chuyển hoàng cung này thành bảo tàng. Đền Suleymaniye tiếp tục vẫn là đền.
Đế quốc Ottoman khởi đầu từ một vương quốc nhỏ bé đầu thế kỉ 14, vua Osman I và các vua nối nghiệp dần dần lấn chiếm, khuếch trương đất đai ; đến đời vua, Mehmet II chiếm được Constantinople năm 1453, đổi tên thành Istanbul và đặt kinh đô ở đó, kinh đô này tồn tại từ đó cho đến 1922, (đến thời cộng hòa Thổ-nhĩ-kỳ thì thủ đô chuyển sang Ankara). Đến cuối thế kỉ 16 thì bắt đầu suy, dần dần cho đến 1922 thì hết. Trong năm thế kỉ tồn tại, đế quốc này cũng để lại nhiều dấu ấn. Đất đai của đế quốc này bao gồm nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau (Thiên chúa, Ki-tô chính thống, Do-thái, vv.) ; thời thịnh, tuy Hồi giáo là tôn giáo chính, nhưng các vua (sultans) thường là có thái độ khoan dung. Việc triều chính thì giao cho một vizir (thừa tướng), không cứ phải là người Thổ-nhĩ-kỳ (từ 1453 đến 1623, trong số 47 thừa tướng, chỉ có 5 người gốc Thổ-nhĩ-kỳ). Đó cũng là một đặc điểm về cách dùng người : bắt cóc trẻ em thuộc các tộc châu Âu đạo Ki-tô, mang về nuôi dạy theo đạo Hồi, có tài thì dùng, trong cơ quan hành chính cũng như trong quân đội, thí dụ như có một đạo tinh binh, gọi là janissaires, gồm những người gốc Âu như kể trên.
Thời điểm 1453 khi sultan Mehmed II chiếm được Constantinople được sử phương Tây ghi là chấm dứt thời Trung cổ, và những nhà học giả, bác học, nghệ sĩ từ Byzance di cư sang phương Tây, góp phần tạo nên thời kỳ gọi là Phục Hưng. Nhưng trong thịnh thời của đế quốc Ottoman, những minh quân cũng thu hút nhiều nhân tài từ phương Tây tới đóng góp nên sự phồn thịnh của đế quốc này nói chung, và của Istanbul nói riêng. Tuy vậy, con đường bộ thông thương Âu Á, một thời được sự che chở khuyến khích của đế quốc Byzantin, cũng bị gián đoạn lúc Constantinople thất thủ, và hậu quả là nhiều nhà thám hiểm đã dùng đường thủy, tạo nên một tình trạng mới …..
4. Thăm Venizia.
Tôi có hai lần tới Venizia (tiếng Pháp là Venise), một lần vào năm 1962 trong dịp đi nghỉ hè xả hơi sau khi bảo vệ luận án, và một lần năm 1967 trên đường đi Nam-tư. Venizia là thủ phủ của tỉnh Vénétie hiện nay của nước Ý được du khách hâm mộ, vì vị trí và kiến trúc đặc biệt, vì xây dựng trên những phá, bãi sình lầy. Giữa những nhà cửa, lâu đài, nhà thờ, quảng trường, là những kênh lạch thay cho các đại lộ. Di chuyển nơi đây là bằng thuyền gondole, một thứ thuyền mũi cong, đáy bằng.
Tôi nhớ hình ảnh đầu tiên hấp dẫn tôi là cái đồng hồ : đặt trong cái lầu Torre dell’Orologio ; lầu xây năm 1493 và khánh thành năm 1499, đồng hồ này là một trong những đồng hồ cổ nhất, mỗi lần điểm giờ thì mấy chiếc tượng đồng đen thật lớn cử động, cầm vồ đập vào chuông. Đấy cũng là lần đầu tiên mà tôi « phát hiện » ra rằng con số 4 La-mã dùng cho đồng hồ, không viết là IV mà là IIII, còn gọi là con « số 4 đồng hồ ». Quảng trường San Marco là một tứ giác, phía đông là nhà thờ San Marco (thế kỉ 11), kiểu kiến trúc Byzantin, với 5 mái vòm, dần dần được tô điểm thêm cho đến tận thế kỉ 15, bên trong bên ngoài trang trí rất là sang. Còn lại là các tòa kiến trúc dãy cuốn (arcades) « Procuraties » (thế kỉ 16- thế kỉ 19) ; một gác chuông cao 96m, có từ thế kỉ thứ 9, được xây lại đầu thế kỉ 20 sau khi bị sụp. Hướng về phía nam là lâu đài của các Doges – thống lĩnh (thế kỉ 14 và 15) – nơi ở đồng thời cũng là trụ sở của cơ quan, kể cả phòng xử án. Thuở xưa, lâu đài này còn chứa cả « nhà tù », gồm các phòng giam tội nhân ở tầng cao nhất sát mái nhà, mà mái này lại lợp bằng chì, cho nên mùa hè rất nóng, có khi tới 50 độ. Do đó, phòng giam tù đặc biệt này còn mang tên là « i plombi » (nghĩa là [nhà tù] « chì »). Sau còn xây một nhà tù khác, gọi là nhà tù « giếng » vì ở dưới hầm, luôn luôn ẩm và lạnh, đôi khi ngập vào mùa nước to. Trong đám tù quan trọng bị giam nơi đó, có Casanova (1725-1798), một tay nổi tiếng về tài quyến rũ rất nhiều phụ nữ, sau trốn thoát ra được ra khỏi nhà tù này. Nhà tù ngay bên bên cạnh lâu đài, từ phòng xử án sang nhà tù chỉ cách một cái lạch, nối liền bằng cái « cầu thở dài » (pont des soupirs), vì các tội nhân thuở xưa đi qua cầu đó biết rằng mình nhìn thấy thành phố và lạch lần cuối.
Venizia cũng nổi tiếng vì hội cacnavan (carnaval) hằng năm, thời Phục hưng có khi kéo dài cả mấy tháng ; thời nay diễn ra mười ngày trước « ngày lễ tro » (mercredi des cendres, ngày đầu mùa chay của đạo Ki-tô), năm nay vào khoảng tháng 2. Ngày hội, giàu nghèo sang hèn đều có thể tham dự, áo quần tô điểm rực rỡ, thanh nhã hay nhố nhăng tùy thích, lại đeo mặt nạ, chẳng biết ai là ai. Có thời bị cấm vì phóng túng quá đáng, sau lại được phục hồi, nay hằng năm vẫn diễn ra.
Nói tới Venizia cũng là dịp nhắc lại lịch sử của « Cộng hòa quí tộc » nơi này, một quốc gia dần dần hình thành thời Trung cổ bắt đầu từ thị trấn này (hình thành từ thế kỉ thứ 5), rồi lan rộng ra xung quanh, đặc biệt kể từ thế kỉ thứ 10, bao gồm cả những phần đất vùng duyên hải biển Adriatique, tây Địa Trung Hải, và Bắc nước Ý. Đây là một loại cộng hòa đặc biệt, quyền hành tập trung trong tay một số gia đình, đồng thời tránh không để biến thành một vương quốc. Một đại hội đồng bàu ra một « thống lĩnh » (Doge), một thứ quốc trưởng trọn đời, nắm quyền hành pháp và tư pháp, nhưng không được cha truyền con nối. Cạnh ông Doge, còn có một hội đồng, cơ quan tối cao của Cộng hòa. Trải qua nhiều thế kỉ, Cộng hòa Venizia có lúc này lúc nọ bao gồm cả đảo Chypre, đảo Crète, Corfou (nay thuộc Hy-lạp) vv. chủ yếu là những nơi cần thiết cho việc thông thương bằng đường thủy, và do đó Cộng hòa này cũng chăm chú trang bị thủy quân của hùng mạnh để bảo đảm việc thông thương này. Một trong những trận thủy chiến nổi tiếng ở Địa Trung hải, với sự tham gia của Cộng hòa Venizia là trận ở Lepante (Hy-lạp) năm 1571 : 213 thuyền ga-le của liên minh Venizia và Tây-ban-nha phá tan hạm đội gồm 300 chiến thuyền của đế quốc Ottoman. Trong trận này, với mấy vạn quân mỗi bên, trong số hàng vạn người chết và bị thương, có đô đốc Hồi giáo Ali Pacha tư lệnh hạm đội Ottoman bị chém đầu, và một chiến sĩ Tây-ban-nha bị cụt một tay trái. Người chiến sĩ Tây-ban-nha này nói : « Tôi còn cánh tay phải, tôi còn viết được » ; đó là Cerventès (1547-1616) văn sĩ tương lai, tác giả của cuốn Don Quijote de la Mancha. Thủy quân của Cộng hòa Venizia còn có dịp được nói tới trong sử : Khi sultan Mehmed II tiến đánh Constantinople năm 1453 với mấy chục vạn quân và một hạm đội hùng mạnh, thì hoàng đế xứ Byzance này là Constantinus XI cùng quẫn, phải gửi sứ giả đi cầu cứu các nước phương Tây. Các vua chúa phương Tây và cả giáo hoàng đều lờ, chỉ có Venizia gửi mười chiếc tàu lớn đến cứu trợ, nhưng không có gió, tàu không tới được, và Constantinople rơi vào tay Mehmed II như đã kể trên đây.
Về mặt kinh tế, Cộng hòa Venizia đóng vai trò trung gian giữa các xứ phía tây và các xứ phía đông Địa Trung Hải, nhờ vậy mà phồn thịnh. Bắt đầu từ thế kỉ 16, Cộng hòa này bắt đầu suy thoái, về mặt ảnh hưởng chính trị cũng như về mặt đất đai, mặc dù đó là thời huy hoàng của họ về mặt văn hóa nghệ thuật. Đến năm 1797, Cộng hòa sụp đổ khi tướng Cộng hòa Pháp Bonaparte (hoàng đế Napoléon I tuơng lai) mang quân đánh mấy xứ thuộc Italia ngày nay. Sau một thời gian thuộc Áo, Venizia và xứ Vénétie sát nhập vào nước Ý ngày nay.
Ở đây, tôi chỉ nói tới Venizia, tuy trong hai chuyến đi thăm nước Ý, tôi còn thăm Pisa (tiếng Pháp gọi là Pise), Firenze (Florence) và Roma (Rome), nhưng tôi đã viết về các nơi này trong cuốn « Học gần Học xa » rồi.
5. Thăm Tây-ban-nha
Vào năm 1960, 1961, sau khi đi làm một thời gian, kinh tế cá nhân khá hơn, tôi mới bắt đầu dám nghĩ đến việc đi đó đi đây chút ít để tìm hiểu thế giới bên ngoài nước Pháp. Và tôi đã chọn Tây-ban-nha làm bước đầu, tuy rằng thời đó còn chế độ độc tài của tướng Franco, gây ra chút ngần ngại. Nhưng vợ tôi vốn biết tiếng Tây-ban-nha, và chúng tôi vốn bị hấp dẫn từ lâu về nền văn minh của xứ này, qua việc học sử và văn học sử Pháp lúc còn học trung học. Vào những năm đó, mức sống ở Tây-ban-nha còn rất thấp, xe cộ ít, đường đi dễ dàng vắng vẻ, xe hơi muốn đỗ chỗ nào cũng được. Khách sạn sang dọc đường luôn có chỗ : đó là những lâu đài cổ chữa thành khách sạn (paradores) để câu khách du lịch, nên tha hồ lê la.
Về lịch sử, dân sở tại thuở xưa là người Ibères, sau đến người Celtes tới nhập cư, rồi đến khoảng thế kỉ thứ 9 trước Công nguyên, người Pheniciens, Hy-lạp, Carthage thành lập những « comptoirs » (thương quán/thương điếm) ở vùng bờ biển Địa Trung hải. Đến thế kỉ thứ 2 trước Công nguyên, người La-mã chiếm xứ này, cho đến khi đế quốc La-mã phương Tây sụp đổ vào thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên. Lúc đó, có những tộc phương Bắc xuống chiếm, đặc biệt là người Wisigoths. Đến đầu thế kỉ thứ 8 sau Công Nguyên, người A-rập chiếm, và đặc biệt trở thành một vương quốc Hồi giáo riêng dưới triều đại Omeyyades đóng đô ở Cordoba. Vua Hồi giáo Abd er-Rahman I là vua giỏi, nhưng không bình được các vùng núi phía bắc vẫn thuộc người Thiên chúa giáo. Cordoba còn để lại tương đối ít « dấu vết vật thể », mặc dù đã là một trong những thành phố nổi tiếng nhất thời Trung cổ phương Tây. Công trình kiến trúc nổi bật còn lại ngày nay là đền thờ Hồi giáo được xây dựng trong 5 đợt từ thế kỉ thứ 8 đến thế kỉ thứ 10, vòm và cột xen lẫn đá tráng với gạch đỏ, diện tích rất rộng, có nguồn ước lượng là có thể chứa được tới hơn ba vạn tín đồ. Sau khi các vua Thiên chúa giáo « tái chiếm » (Reconquista), nơi này biến cải thành nhà thờ Thiên chúa giáo chứ không bị phá hủy.
Vương quốc Hồi giáo này trở nên cực thịnh vào thế kỉ thứ 10, nhưng tồn tại đến thế kỉ 11, thì phân tán thành nhiều nước nhỏ (taifas). Trong đám đó có vương quốc của vua Hồi giáo Mohammad al Motamid với kinh đô Sevilla. Đến năm 1248, thì vua Thiên chúa giáo Fernando III các xứ Castilla và Leon, « tái chiếm », đóng đô ở đó.
Một trong những nơi thăm, để lại cho tôi nhiều ấn tượng, là Santiago de Compostela (Saint-Jacques de Compostelle), thủ phủ của xứ Galicia, tây bắc Tây-ban-nha, đặc biệt là ngôi nhà thờ lớn nơi đây, xây từ thế kỉ 11. Tương truyền là thánh Santiago (tiếng Pháp là thánh Jacques) – nhưng có 2 ông thánh Jacques, một ông gọi là thánh Jacques le Majeur, ông « cả » , và một ông thánh Jacques le Mineur, ông « thứ » ; đây là chuyện ông « cả » – tông đồ của chúa Ki-tô, từ đất thánh sang truyền bá đạo Ki-tô ở xứ Galice, rồi lại trở về Jerusalem, rồi bị giết vào khoảng năm 41-43 sau Công nguyên, trong những đợt đầu đàn áp đạo Ki-tô. Sau đó, hai đệ tử mang xác ông lên thuyền, rồi có thiên thần hướng dẫn, lại trở lại nơi truyền giáo xứ Galice, chôn trong một nghĩa trang La-mã, và bị quên đi. Đến thế kỉ thứ 9 (năm 813), một ẩn sĩ tên là Pelage, được một ngôi sao sáng chỉ đường, tìm được mồ chôn ông Santiago. Vua Thiên chúa giáo (Alphonse II ?) xứ này nghe tin, sai xây nhà thờ tại nơi này. Vào năm 844, trong trận Clavijo giữa quân Hồi giáo và quân Thiên chúa giáo, tương truyền là thánh Santiago hiện ra giúp quân Thiên chúa giáo thắng trận. Từ đó, thánh này trở thành « linh hồn » của các cuộc chinh chiến chữ thập sau đó. Thời Trung cổ, sự tôn thờ thánh Santiago rất thịnh, và tín đồ hành hương đổ về Santiago de Compostela rất đông. Dần dần, với thời gian, khách hành hương còn ăn mặc theo một qui định, quần áo, mũ đội, giày dép, bị gậy, dễ nhận ra nhau ; và cũng là một cách để dễ được nhận trú ngụ một cách an toàn ở những trạm dọc đường. Những tín đồ nào đi từ Paris thì tụ tập nhau ở chân đài Saint-Jacques (nay còn tồn tại, tọa lạc giữa quảng trường Châtelet và tòa Thị chính), trước khi đi dọc theo phố Saint-Jacques ra ngoại ô, rồi xuống miền nam.
Hình tượng trưng cho cuộc hành hương là chiếc vỏ trai, mà tín đồ nhặt ở bờ biển xứ Galicia. Nhặt một chiếc vỏ trai mang về là cách chứng tỏ rằng mình thực sự đã có chuyến đi hành hương đó. Nhưng sau chẳng cần phải tự nhặt nữa, mà có thể mua ngay ở trước nhà thờ. Tương truyền có một ông hoàng đi hành hương, bị con ngựa bất kham lồng lên làm ngã xuống biển, được thánh Santiago hiện lên cứu thoát chết đuối, mà ông này lại được nhiều con trai dính trên quần áo ; từ đó con trai đặc sản nơi đây được gọi là coquille Saint-Jacques (tên gọi bằng tiếng Pháp, và là một món ăn khá sang).
Lại còn câu chuyện này nữa : Vào năm 1020, hai bố con một người Đức trên đường đi hành hương, dừng chân ở một quán trọ. Chủ quán chuốc rượu cho họ say mèm, rồi bỏ vào cái đãy của họ một chiếc bình bạc. Sáng hôm sau, chủ quán kêu mất trộm, và khi quan cho khám thì tìm ra cái bình bạc trong hành lý của bố con người khách trọ kia. Mặc cho họ kêu oan, quan tòa xử : lấy tất cả của cải của hai cha con này đền cho chủ quán, và bắt một trong hai cha con phải chịu tội chết treo cổ. Cha muốn chết thay con, con muốn chết thay cha ; rốt cục, người con bị treo cổ. Người cha đau đớn vô cùng, nhưng tiếp tục hành hương. Ba mươi sáu ngày sau, trên đường từ Santiago de Compostela trở về, người cha tìm đến nơi người con bị treo cổ, than khóc ; bỗng thấy người con bảo : « Cha ơi, đừng khóc ; con được thánh Santiago phù trợ, nuôi sống đến bây giờ ». Dân chúng thấy chuyện phép lạ của thánh, xúm lại xem và cởi dây cho người con. Và rốt cục là người chủ quán tham lam bị phát hiện ra là đã đổ vu, và bị treo cổ. Quả là, khi người ta đã tin thì chuyện gì cũng chấp nhận.
Trở lại câu chuyện những lực lượng Ki-tô giáo đẩy mạnh « Tái chiếm » đất đai bị mất vào tay người Hồi giáo. Đến năm 1492 vào thời hai vợ chồng « vua Thiên chúa giáo » – năm 1469, vua (bà) Isabel xứ Castilla và vua Fernando II xứ Aragon kết hôn, và cùng chung làm vua ; hai vua này rất mộ đạo nên được mệnh danh là các « vua Thiên chúa giáo » (tiếng Pháp là « Les rois catholiques) – thì vương quốc Hồi giáo cuối cùng bị diệt. Vua Hồi giáo xứ Granada (tiếng A-rập là Gharnata, tiếng Pháp là Grenade) là Muhammad XII (còn gọi là Boabdil), vì cha con bất hòa mà sinh nội loạn. Bố là Abu al-Hasan Ali bỏ vợ Hồi giáo là Aïcha, để lấy vợ Thiên chúa giáo là Isabel de Solis (còn gọi là «cautiva » – nàng « bị cầm tù ») ; Boabdil bênh mẹ, được mẹ giúp lật bố đưa lên ngôi, bè phái bố con chống nhau, làm cho triều đình rối loạn. Lợi dụng tình thế đó, hai vua Thiên chúa giáo tấn công, vua Boabdil chịu hàng, nộp thành cho đối phương, và được rút chạy an toàn. Tương truyền, khi chạy đến mỏm núi Padul, ngoảnh lại nhìn cung điện Alhambra lần cuối, Boabdil khóc ; bà mẹ mới mắng rằng : « Mày khóc như một người đàn bà cái cơ đồ mà mày đã không giữ nổi như một người đàn ông ». Nơi này được gọi là « Aqui, Suspiro del Moro » (nơi người Moro thở than) – Moro trên nguyên tắc là để chỉ tộc người Tây Bắc Phi, nhưng đây là chỉ cả những người Hồi giáo ngự trị trên đất Tây-ban-nha. Alhambra (« cung điện đỏ ») được xây dựng vào thế kỉ thứ 11 trên một thành cổ có từ thế kỉ thứ 9, rồi mở rộng vào thế kỉ 13 và 14, là một trong những kiến trúc cổ Hồi giáo đặc sắc trên đất Tây-ban-nha. Có một bản nhạc cổ khá hay mang tên « ông vua Moro để mất Alhambra ».
Có hai câu chuyện vặt thời này :
Trong cung điện Alhambra, có một cái đài gọi là « đài các công chúa ». Tương truyền đài này là nơi ở của 3 công chúa Hồi giáo xinh đẹp (có nguồn kể là 3 nàng là con gái của bà hoàng Thiên chúa giáo Isabel de Solis đã kể trên). Sau khi sinh ra, ba nàng được/bị nuôi dưỡng ở một cung khác gần biển, xa mẹ. Một hôm, từ đài cao, ba nàng nhìn thấy ở xa, ba chàng hiệp sĩ Thiên chúa giáo tù binh bị giải qua. Ba nàng mê ba chàng. Vua sai giam ba chàng trong đài Bermejas (phía nam của cung điện Alhambra), và đưa ba nàng về sống trong « đài các công chúa ». Các nàng buồn bã, cho tới ngày mà số mệnh được thay đổi, nghe thấy tiếng đàn và câu hát của các chàng : « Hãy gói giọt nước mắt của nàng trong chiếc khăn tay, để tôi đem cho thợ kim hoàn dát vàng thành đồ trang sức ». Thế rồi vua cho phép ba nàng được lấy ba chàng. Đám cưới linh đình, rồi hai nàng lớn lên ngựa theo chồng ra đi, nàng út rút rát không dám rời đài, sau chết ở nơi này, và các bà già còn kể là những đêm vào tháng năm, trong đài còn thoảng nghe đâu đó như tiếng đàn của cô công chúa út. Câu chuyện kể lù mù, chỉ có thể phỏng đoán : thời cuối của vương triều Hồi giáo ấy, đất Tây-ban-nha chia ra vụn vặt nhiều vương quốc nhỏ, vua các xứ lấn chiếm lẫn nhau, đôi khi vua này giúp vua kia lấn xứ nọ, có khi chẳng phân biệt đồng minh mình cùng đạo hay khác đạo mình. Chiến trận liên miên, bắt được nhà quyền quí đối phương, có khi không giết mà giữ lại để bắt trả tiền chuộc. Ba nàng công chúa là con bà vợ Thiên chúa giáo của vua cha Hồi giáo, rồi lại vua cha vua con đấu nhau, nên mới bị nuôi dưỡng xa mẹ. Phải chăng 3 chàng hiệp sĩ kia là người Thiên chúa giáo, bị giam chờ được chuộc ? Và khi được chuộc, hay khi thay đổi đồng minh, thì địch lại trở thành thân ?
Lại một giai thoại khác dưới thời vua Boabdil. Có chàng thiếu niên tên là Benito sống với em gái, tuy nghèo và mồ côi nhưng anh em rất thương yêu hòa thuận. Nhưng dân vùng này nổi loạn ; vua sai quân dẹp loạn, dẹp xong, bắt tù binh và bắt cả dân thường, trong đó có em gái của Benito mang về kinh. Benito thương em, lần về tận kinh thành, và cố hết sức để lọt vào buổi chầu mà nhà vua dành cho dân – bởi theo lệ, các vua Hồi giáo có những buổi chầu dành cho dân, giàu nghèo sang hèn, có thể khiếu nại kêu oan thẳng lên vua. Khi vua xuất hiện, Benito lớn tiếng kêu oan cho em, rằng em gái mình mới 16 tuổi không thể là người phiến loạn, mong nhà vua cho thả ra. Trước sự thành khẩn của chàng thanh niên 18 tuổi này, nhà vua ra một điều kiện : Ba ngày nữa sẽ có bữa yến tiệc lớn của nhà vua, nhưng còn thiếu món lợn rừng ; nếu Benito săn được lợn rừng dâng vua, thì em gái sẽ được phóng thích. Chàng mang khẩu súng hỏa mai vào rừng, rình bên bờ suối, đến sáng ngày thứ ba thì thấy hai con lợn rừng, con trước con sau, tới uống nước. Chàng nổ súng, con đi trước bỏ chạy, con đi sau đứng trơ không động. Ngạc nhiên, lại gần chàng mới hiểu : con đi sau là con lợn rừng vốn mù cả 2 mắt, ngậm đuôi con lợn rừng đi trước dắt đi. Phát súng đã cắt đuôi con lợn đi trước, cái đuôi vẫn còn ngậm trong mồm con lợn mù. Chàng nảy ra một ý, cầm cái đuôi cụt để dắt con lợn mù – nó cứ tưởng là vẫn theo con lợn kia dẫn đường – về đến kinh đô. Dân chúng thấy lạ, theo chàng tới tận cung vua. Vua giữ lời hứa, cho chàng dắt em về, và cũng « ân xá » cho con lợn rừng mù và nuôi nó trong chuồng. Sau khi vua Boabdil mất nước, Benito theo phò vua Thiên chúa giáo Fernando lập nhiều công lao, được phong tước và được phép dùng hình con lợn rừng trong « huy hiệu » – các nhà quí phái phương Tây thuở xưa đều có « huy hiệu » (armoiries : hình biểu tượng, khẩu hiệu, vv.) riêng của mình. Có điều là câu chuyện không kể rõ Benito trở thành hầu tước, bá tước, hay nhà quí phái gì … Và cũng lạ : người Hồi giáo kiêng thịt lợn, sao đây lại nói tới thịt lợn cho bữa tiệc ? Hay tại là lợn rừng ?
Giai đoạn trị vì của hai vua « Thiên chúa giáo » là sự kết thúc của sự « Tái chiếm » và buớc tiến tới sự thống nhất nước Tây-ban-nha. Nhưng ngay từ 1480, hai vua này thiết lập « Tòa án dị giáo » (Inquisition) ; và năm 1483 với viên « quan tòa dị giáo » (Grand Inquisiteur) Tomas de Torquemada gây ra nhiều vụ án xử « người dị giáo » (hérétique : bị nghi là « giả tin » ở Thiên chúa giáo) bị tra khảo tàn nhẫn, mà kết quả là tử hình bị đốt trên giàn thiêu, và của cải của người bị tội bị tịch thu. Năm 1492, khi « tái chiếm » xong, khác với không khí khoan dung của các triều đại trước, hai vua « Thiên chúa giáo » buộc những dân theo đạo Do-thái hoặc theo đạo Hồi, phải theo Thiên chúa giáo, hoặc bị trục xuất. Cũng vào năm 1492, nhà thám hiểm Christophorus Colombus (gọi theo tiếng La-tinh, còn tiếng Pháp là Christophe Colomb) được sự phó thác và hỗ trợ của « hai vua Thiên chúa giáo », phát hiện ra châu Mỹ la-tinh. Rồi với bọn Conquistadores lấn chiếm và khai thác một cách tàn nhẫn và triệt để nguồn vàng bạc của các xứ mới chiếm ở châu Mỹ này, vương quốc của « hai vua Thiên chúa giáo » trở thành một đế quốc giàu có và hùng mạnh nhất thời đó.
Những giai đoạn sau, thuộc sử của Tây-ban- nha đã thống nhất, tóm tắt như sau :
Năm 1700, cháu vua Pháp Louis XIV, mà bà vợ đầu là một công chúa Tây-ban-nha, lên ngôi vua xứ này, đó là vua Philippe V mở đầu triều đại Bourbon nước Tây-ban-nha. Dưới thời hoàng đế Napoléon I, Pháp chiếm Tây-ban-nha một thời gian. Tây-ban-nha suy nhược và mất hầu hết các thuộc địa vào thế kỉ 19. Nền Cộng hòa thứ nhất chỉ tồn tại được một thời gian ngắn ngủi (1873,1874). Nền Cộng hòa thứ nhì cũng chỉ tồn tại được vài năm (từ 1931), đến 1936 xảy ra cuộc nội chiến trong 3 năm, kết thúc là nước này rơi vào chế độ độc tài của tướng Franco. Khi viên này chết (1975), chế độ quân chủ lập hiến được lập nên, và vua hiện thời Juan Carlos vẫn thuộc dòng họ Bourbon.
6. Inquisition (Tòa án dị giáo)
Nhắc lại là thuở sơ khai của đạo Ki-tô, giáo hội chỉ trừng phạt những kẻ « lỗi đạo » bằng những hình phạt « tinh thần » bằng cách « rút phép thông công » (excommunication), nghĩa là một cách khai trừ ra khỏi đạo. Tới thời hoàng đế La-mã Constantinus 1 « đồng hóa » việc không tin đạo với việc khi quân, và đem xử người không sùng đạo, kết tội tịch thu gia sản, bỏ tù, và có khi xử tử. Có ngưồn cho rằng mặc dù đầu thế kỉ 12, còn tồn tại trong giáo hội Thiên chúa giáo những tư tuởng kiểu như « fides suadenda, non impodenda » (nghĩa là phải thuyết phục lòng tin, chứ không nên ép buộc) của tu sĩ Bernard de Clairvaux (1090-1153), sự hiện diện của nhiều luồng tư tưởng không chính thống, hơn thế nữa, bị qui là « tà đạo » chống chính thống, làm cho vua chúa và các nhà quyền quí đàn áp tàn khốc.
Trên nguyên tắc, trong mục đích làm giảm sự tùy tiện độc đoán quá mức trong việc xử án của vua chúa và của các giám mục của giáo hội này, (nhưng kết quả thì lại ngược lại), năm 1231, giáo hoàng Gregorius IX (làm giáo hoàng từ 1227 đến 1241, tên tục là Ugolino di Segni), – thuở ấy, đạo Thiên chúa đang là quốc giáo ở Pháp –, đặt ra một Tòa án đặc biệt trực thuộc giáo hoàng, gọi là « Tòa án xử dị giáo », với những qui định « rõ rệt », mang tên Inquisitio hereticae pravitatis với nhiệm vụ phát hiện ra và trừng phạt những kẻ « dị giáo » (hérétiques) hay là những người theo đạo « không thành thật » : xử tử dưới dạng đưa lên dàn thiêu những kẻ ngoan cố ; tù giam hay phạt tội « tôn giáo » (trai giới, hành hương, …) những người « hối cải » ; rút phép thông công những tín đồ Thiên chúa giáo giúp đỡ những người dị giáo. Cách tiến hành « thẩm tra » của Toán án xử dị giáo này cũng « tinh vi » lắm : những người bị tình nghi bị giam riêng nhiều ngày, bắt nhịn đói, được hứa sẽ giảm tội nếu biết hối cải, và khai báo « tất cả sự thật » về thân nhân và những người quen biết của mình. Đó là cách rất hữu hiệu làm cho sự tố giác đổ vấy tràn lan.
(Tôi không hiểu dịch « dị giáo » có phù hợp không hay là là phải dịch là « nghịch đạo » ?). Các viên thẩm phán của Tòa án này, có quyền và nhiệm vụ tự tìm những người bị nghi là « dị giáo », chứ không cần phải đợi ai tố cáo hay thưa kiện. Nhưng sự ra đời của Tòa án này đã nhanh chóng mang lại « hiệu suất » cao, và gây ra rất nhiều đau khổ, đặc biệt là trong vụ đàn áp những người theo « đạo cathare » ở vùng nam nước Pháp. Nhưng theo nguyên tắc Ecclesia abhorret sanguinem, (nghĩa là giáo hội không giết người!), cho nên mới đẩy trách nhiệm hành quyết sang phía quyền tư pháp của nhà vua và các ông bà hoàng – một thứ « chính quyền hóa » việc giết người, nghĩa là đẩy gánh nặng trách nhiệm lên vai người khác! Nhưng rốt cục, người ta qui trách nhiệm chính cho cái «ý đồ »: thí dụ như cái ông thánh Thomas d'Aquin thuyết rằng « giả tin đạo » còn nặng hơn là « làm bạc giả », vậy mà « làm bạc giả » còn bị tội chết, huống hồ là « giả tin đạo ». Giáo hoàng Gregorius IX trao sứ mạng thực hiện những luật lệ của Tòa án dị giáo trên toàn lãnh thổ đế quốc Thiên chúa giáo Giéc-ma-nic (Saint Empire germanique) cho tu sĩ Conrad de Marbourg, nhưng viên này áp dụng hung dữ quá đáng, nên bị ám sát vào tháng 7 năm 1233. Trước đó vài tháng, ngày 22/4/1233, giáo hoàng Gregorius IX hạ lệnh áp Tòa án dị giáo áp dụng ở Pháp.
Trong các nạn nhân vùng Nam nước Pháp, chủ yếu là những tín đồ của đạo Cathare. « Xứ Cathare », thực mà cũng không hẳn là thực, tồn tại vào khoảng những năm 1150-1300. Người Cathare chủ yếu là những người dân thuộc vùng tây nam nước Pháp, vốn gốc đạo Ki-tô, nhưng chủ trương khác với đạo Thiên Chúa. Nói tóm tắt là người tín đồ Cathare muốn trở lại với sự thuần khiết của đạo Ki-tô thời sơ khai, chống lại những nghi lễ, sự hào nhoáng, sự xa hoa của chức sắc đạo Thiên chúa La-mã. (Có bài viết khá kỹ về họ trong tuần báo « Le Point » số 1769, 10/8/2006). Thực ra, họ đã bị đàn áp tàn nhẫn trong nhiều đợt, trước khi có Tòa án xử dị giáo. Nhưng khi người tín đồ Cathare đã không còn công khai, và đã rút vào hành đạo trong bí mật, thì những phương pháp đao to búa lớn tàn sát cả mớ không áp dụng được nữa, thì Tòa án xử dị giáo mới chứng tỏ hiệu quả của nó, trong việc soi mói, khuyến khích tố giác.
Hè năm 1989, vợ chồng tôi có dịp đi nghỉ ở miền Tây-nam nước Pháp. Lần đó, chẳng may chiếc xe hơi bị hỏng nặng, phải dừng chân mấy ngày để đợi xe chữa xong. Mấy ngày kẹt chân ở trong vùng đó, mới nảy ra cái ý đi thăm mấy cái lâu đài chiến lũy Cathare như : Monségur, Aguilar, Peyrepertuse, Fenouillet, (ông tử tước vicomte Pierre de Fenouillet, tuy chỉ là người che chở những tín đồ Cathare, tuy bị nghi là lúc hấp hối mới theo tà đạo, cũng bị đảo mả, đốt xác ; lâu đài bị phá hủy sau đó). Đứng trên mấy bức tường đá đổ, tôi không khỏi không liên tưởng đến những thảm sử của thời cách đây không xa, ở nhiều nước khác, kể cả nước ta, sự dẹp « tà đạo » xem chừng còn tinh vi hơn. Có sử gia tính rằng « chỉ » khoảng 2% các bản án dẫn đến tử hình trên dàn thiêu. Đến cuối thể kỉ XIII, đạo Cathare hầu như bị dẹp hẳn.
Đến thế kỉ 15, Tòa án xử dị giáo được « hồi xuân », nhưng lần này trên lãnh thổ Tây-ban-nha khi « hai vua Thiên chúa giáo » Fernando và Isabel – thành công trong cuộc Tái chiếm (Reconquista), đuổi vua Hồi giáo cuối cùng ra khỏi lãnh thổ) – năm 1478 được giáo hoàng Sixte IV (tên tục là Francesco Della Rovere làm giáo hoàng từ 1471 đến 1484) đồng ý trao quyền bổ nhiệm các thẩm phán của Tòa án xử dị giáo, để xét xử các người Hồi giáo hay Do-thái buộc phải đổi đạo theo Thiên chúa giáo. Lúc đó, Tòa án xử dị giáo thực sự trở thành một công cụ của chính quyền để củng cố thế lực của mình. Tòa án này cũng xử luôn cả các người đồng tính, lén lút đa thê (Hồi giáo cho phép đa thê) và những người bị nghi là phù thủy. Buổi tuyên án được gọi là «auto da fe» (tôi không biết về mặt từ ngữ, đây có phải là nguồn gốc của từ tiếng Pháp « autodafé » – thiêu hủy, thí dụ như đốt sách hàng loạt – không). Tu sĩ Tomas de Torquemada, ở cương vị tổng thẩm phán từ 1483 đến 1498, xử thiêu khoảng 2000 người. Mãi đến năm 1834, Tòa án xử dị giáo mới hoàn toàn bị giải tán trên lãnh thổ Tây-ban-nha và các thuộc địa của nước này. Có nguồn tính rằng trong khoảng 3 thế kỉ, Tòa án xử dị giáo trên lãnh thổ và thuộc địa Tây-ban-nha thiêu khoảng 3 vạn người, nghĩa là xấp xỉ bằng con số người bị lên máy chém hay bị giết bằng cách khác trong thời Cách mạng Pháp ! Khủng khiếp, nhưng nghĩ cho cùng, con số này tương đối « khiêm tốn » so với những vụ thanh trừng của thế kỉ XX.
24/11/08
Chương 1 Qua mấy nước Phi Châu
Chương 1
Qua mấy nước Phi Châu
Tôi ít biết Phi châu. Chỉ có dịp được biết mấy nơi, trong những tình huống khác nhau :
1. Djibouti
Không phải chủ ý mà biết nơi đây, chẳng qua là trên đường sang Pháp năm 1950, từ Sài Gòn đi Marseille, chiếc tàu thủy Athos II, chiếc tàu chở binh lính từ Đông Dương về Pháp, ghé đỗ Djibouti. Một anh bạn đồng hành, anh tôi và tôi, cũng như các hành khách khác, rời tàu lên bộ đi thăm. Một kỷ niệm không có gì hứng thú. Một chiếc thuyền nhỏ chở chúng tôi từ tàu thủy đỗ ngoài khơi vào bờ, theo giá cả đã định trước. Nhưng được nửa đuờng, tay chủ thuyền dừng thuyền lại, chỉ đám cá mập đang bơi trong nước biển trong veo, rồi đòi trả thêm tiền ; cũng may là mấy tay lính Bắc Phi cùng đi nổi hung, nắm cổ chủ thuyền và đồng bọn, đe vứt họ xuống biển. Bọn này sợ hãi, mới chở nốt vào bờ, không dám kèo nèo gì nữa.
Thuở ấy, nơi này còn là thuộc địa Pháp, nghèo khổ, nhà cửa lèo tèo không ra cái gì, chỉ có một công trình kiến trúc ra vẻ một chút, là cái dinh của viên toàn quyền Pháp. Đi một quãng, đã đụng ngay sa mạc. Nóng và khát. Ghé vào một quán bên đường, biết sẵn là nước uống nhờ nhợ, nên hỏi mua mấy chai nước ngọt. Vừa mới bỏ xuống bàn cái cốc uống xong nhưng còn chút nuớc ngọt thừa, đã thấy mấy người bản xứ chầu ở cửa quán xông vào tranh nhau vồ lấy cái cốc, đổ thêm nước lã để uống. Thấy tội nghiệp, anh bạn đồng hành, có hảo tâm trả tiền mua cho họ một chai nước ngọt để họ chia nhau. Cảnh nghèo nơi nào cũng bi thảm.
Từ 1977, Djibouti đã độc lập, nhưng đất nhỏ 23000 km2, dân thưa, chỉ được thuận lợi ở chỗ là địa điểm chiến lược, cửa ngõ ra vào Hồng Hải và trên đường vào Ấn-độ Dương. Đọc một quảng cáo cho du lịch ngày nay, thấy nói đến phong cảnh đặc biệt ở nội địa, nói đến bờ biển có nơi bơi lặn biển (plongée sous-marine), nói đến những hộp đêm, những quán ăn với những món ăn đặc biệt Pháp, Ý, Ê-ti-ô-pi, … và Việt Nam. Hy vọng là đời sống của dân nới đây đã khá hơn trước.
2. Kênh đào Suez
Như đã kể trên, sau Djibouti, chiếc tàu thủy Athos II, qua Hồng Hải, rồi tới kênh Suez. Thuở ấy, tôi còn đang lo chuyện học hành, lại đang nghèo khó, không thể « chơi sang » như một số hành khách thời đó : tới Suez, đầu vào phía nam của kênh Suez, họ lên bộ thuê xe hơi đi thăm thủ đô Ai-cập và Kim tự tháp, rồi từ đó tới thẳng thành phố Port Saïd ở đầu phía bắc của kênh Suez để lên tàu thủy đi nối chặng đường đi Pháp. Không có tiền, vì vậy nên tôi đành chịu cứ ở trên tàu thủy, và như vậy lại có dịp nhìn thấy kênh đào này kỹ hơn một chút. Rồi cứ tự nhủ một ngày nào đó sẽ trở lại nơi đây xem kỹ hơn, nhưng rốt cục chẳng bao giờ trở lại nữa. Nhưng lịch sử của kênh đào này đáng chú ý.
Kênh đào Suez được khánh thành ngày 17/11/1869, với sự hiện diện của Hoàng hậu Eugénie (vợ hoàng đế Napoléon III), và của hoàng đế François-Joseph nước Áo. Cũng nhân dịp này, nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi viết vở Aïda theo sự gợi ý của nhà Ai-cập học Auguste Mariette, và do vị phó vương Ai-cập đặt hàng. Kể vậy để thấy tầm quan trọng được đánh giá về việc đào xong kênh Suez và việc đưa vào sử dụng.
Nhưng sự tích bắt đầu từ xa xăm hơn thế. Trên một phù điêu thấp (bas-relief) khoảng năm 1300 trước Công nguyên, có ghi sự tích vua Ai-cập Sethi I trên đường từ chiến trận trở về, có đi dọc theo một con kênh giữa sông Nil và Hồng Hải, kênh này ngưng ở một cái hồ ở giữa eo đất thuộc vùng Suez. Lại có chuyện là khoảng năm 600 trước Công nguyên, vua Ai-cập Nechao II muốn đào tiếp kênh này tới tận Hồng Hải nhưng không thực hiện được. Vào các đời vua Darius I và Xerxès I (thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên), rồi vua Ptolémée I vào (thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên) đều có những cố gắng sửa sang và nối tiếp về phía Hồng Hải. Hoàng đế La-mã Trajan (thế kỉ thứ 1 sau Công nguyên) lại tu bổ thêm, và thời đó kênh này mang tên là « sông Trajan ». Đến đầu thời người A-rập chiếm Ai-cập, họ vẫn sử dụng kênh này, nhưng đến cuối thế kỉ thứ 8, vua Hồi giáo al-Mansur sai lấp, vì sợ quân chống đối sử dụng.
Năm 1798, quân Pháp đổ bộ xuống Ai-Cập, dưới sự chỉ huy của tướng Napoléon Bonaparte, thuở ấy còn đang là một tướng của chế độ cộng hòa (cuộc viễn chinh của Bonaparte ở Ai-cập nằm trong khung cảnh của sự cạnh tranh gây ảnh hưởng giữa Pháp và Anh). Và ý tưởng đào kênh nối Địa Trung Hải và Hồng Hải lại được đặt ra. Tướng Bonaparte ủy cho ông Gratien Lepère tính toán sự khả thi ; ông này kết luận là ý đào kênh này không thể thực hiện được : lý do là tại ông ta tính nhầm và cho rằng mức nước của hai biển này chênh lệch nhau đến 10 m. Rồi sau đó là hai kỹ sư Linant de Bellefonds và Mougel nghiên cứu lại đề án. Đến năm 1833, ông Prosper Enfantin lập một doanh nghiệp trong mục đích thực hiện việc đào kênh này. Nhưng dự án này không được sự chấp thuận của « phó vương » Mehemet Ali toàn quyền Ai-cập lúc đó thuộc đế quốc Ottoman. Năm 1854, ông Ferdinand de Lesseps, do sự quen biết thuở trước, lúc còn làm trong ngành ngoại giao, với « phó vương » Muhammad Saïd nối nghiệp cha, mới được sự đồng ý của ông này để thực hiện đề án đào kênh, và được huởng nhượng quyền sử dụng trong 99 năm. Sau khi giải quyết được những khó khăn về mặt tiền bạc (khó khăn với các ngân hàng, nên phải lập hãng với cổ đông), về mặt chính trị và ngoại giao (chính phủ Anh sợ kênh đào làm giảm thế lực của nước Anh trong việc thông thương giữa Âu và Á), công trình dưới sự điều khiển của Ferdinand de Lesseps được tiến hành từ 1859 đến 1869 mới hoàn thành. Kênh dài 161 km kể từ Suez phía nam đến Port Saïd phía bắc, rộng 54m, sâu 8m. Kênh này rút ngắn khoảng 8000 km con đường thủy cũ (vòng qua phía nam châu Phi) từ Âu sang Á.
Năm 1875, nước Anh trở thành cổ đông (actionnaire) chính, và giữ quyền kiểm soát về quân sự cho đến tận khoảng năm 1956. Tháng 7 năm đó, tổng thống Ai-cập Nasser quốc hữu hóa kênh đào này. Viện cớ đó, Anh, Pháp và Do-thái gây ra cuộc chiến với Ai-cập; nhưng do sự can thiệp của Liên Xô, của Mỹ, và của Liên hợp quốc, cuộc chiến mới chấm dứt. Sau này cũng có một thời kênh này bị ngưng hoạt động (1967-1975) do các cuộc chiến tranh giữa Do-thái và các nước A-rập [1] .
3. Thăm Carthage
Carthage là tên cũ của thủ đô Tunis của nước Tunisie ngày nay. Vợ chồng tôi và con có tới thăm nơi này vài ngày vào mùa xuân năm 1977.
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Carthage là bà hoàng Didon, còn mang tên là Elissa. Nàng vốn là công chúa, con gái vua Mutto của Tyr xứ Phénicie (Tyr, nay là Sour, thuộc nước Liban) và là em gái của Pygmalion [2] . Khi vua Mutto chết, Pygmalion nối ngôi, giết chồng Didon. Nàng này sợ mới cùng người thân bỏ trốn, lên thuyền ra biển. Lang thang ở biển nhiều tháng, thuyền lạc đến bờ biển Bắc Phi. Vua xứ này là Iarbas nhận bán cho nàng một mảnh đất rộng « trong vòng » một tấm da bò. Ý hẳn lời giao ước phải mù mờ lắm, cho nên ngày nay mới diễn giải được như sau đây : nàng đem tấm da bò, cắt thành những dải nhỏ liên tiếp rất dài, quây được một mảnh đất khá rộng đủ để xây một cái thành. Thành này, thuở đầu mang tên là Byrsa (nghĩa là tấm da), sau mới được gọi là Qart Hadasht («Thành phố mới»), tức là Carthage, và trở thành bà hoàng của nơi này.
Rồi một ngày nào đó, có chàng Enée tình cờ lò mò tới. Chàng này vốn là con nữ thần Aphrodite (nữ thần của sắc đẹp và tình yêu của thần thoại Hy-lạp) đẻ với Anchise, khi nữ thần này khi bị Zeus (chúa tể các thần, trong thần thoại Hy-lạp), phạt đày xuống trần gian một thời gian. Khi thành Troie thất thủ (trong cuộc « chiến tranh Troie » sẽ kể trong chương 2), chàng Enée sau khi đã dũng cảm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc mình, thế cùng, đành cùng đồng bọn lên thuyền trốn ra khơi. Sau nhiều gian nan, bão táp, chàng trôi giạt tới Carthage. Nữ hoàng Didon yêu chàng, và chàng vui thú nơi này một thời gian. Nhưng Hermès (thần « Du lịch, của các thương gia, của kẻ trộm cắp » thần thoại Hy-lạp) phù phép cho chàng trở lại với số phận của chàng : chàng phải rời bỏ nơi này, và sau một thời kỳ bôn ba, tới xứ Lavinium (Latium, miền Trung nước Ý ngày nay). Ở nơi này, chàng Enée được cảm tình của vua Latinus và công chúa Lavinia, nhưng hoàng hậu thì lại muốn giữ lời hứa gả nàng này cho Turnus trưởng bộ lạc Rutules bản địa. Vì vậy sinh ra chiến tranh, thần này giúp bên này, thần kia giúp bên kia, cho tới lúc Zeus hội họp các thần trên thượng giới để quyết định số phận : rốt cục Enée thắng, lấy Lavinia, cai trị xứ Lavinium. Trở lại chuyện nữ hoàng Didon, không giữ được chàng Enée, thất tình, tự tử. Cuốn Enéide của Virgile (Publius Vergilius Maro, khoảng thế kỉ thứ 1 trước Công nguyên), kể rằng thời bôn ba trước khi đến Lavinium, chàng Enée có dịp xuống thăm âm phủ, có ngó thấy hồn nàng Didon ; chàng van xin nàng thông cảm vì tuy thiết tha yêu nàng chàng đã phải ra đi vì bổn phận ; nhưng hồn nàng lạnh lùng không tha thứ.
Mới đầu, Carthage còn nhỏ yếu phải thần phục và triều cống Tyr và người xứ Lybie. Từ thế kỉ thứ 7 trước Công nguyên thì mạnh lên, bành trướng ở bờ nam Địa Trung Hải ; rồi dần dần các đảo Sicile, Sardaigne, Corse, một phần đông nam Tây Ban Nha cũng thuộc họ. Nhắc lại là khi còn phải chống sự lấn át của Hy-lạp, thì họ là đồng minh của La-mã (từ khoảng 508 trước Công nguyên đến 279 trước Công nguyên), nhưng khi Hy-lạp bị yếu, họ trở thành một địch thủ đáng sợ cho La-mã. Và đã có ba lần chiến tranh xảy ra giữa Carthage và La-mã (tiếng Pháp gọi là « guerres puniques »):
Chiến tranh thứ nhất xảy ra từ 264 đến 241 trước Công nguyên. Carthage bị thua, mất ưu thế về thủy quân vốn có thuở trước, và phải bỏ đảo Sicile rồi Sardaigne cho La-mã. Chiến tranh lần thứ nhì xảy ra từ năm 218 đến năm 203 trước Công nguyên. Tướng Hannibal (lúc đó mới 27 tuổi) dẫn mấy vạn quân bộ (có mấy nguồn khác nhau nói từ 4 vạn đến 6 vạn), kị binh (có ngưồn nói tới 1 vạn) và mấy chục con voi (có nguồn nói tới 37 con), từ Tây-ban-nha vượt qua dãy núi Pyrénées miền Nam nước Pháp, tiếp theo vượt qua dãy núi Alpes miền Đông nước Pháp, vào đất Ý, chiếm được nhiều thành, đặc biệt là thành Capua (năm 215 trước Công nguyên), nhưng không đánh chiếm được Roma – có nguồn cho rằng Hannibal bị tiếng oan : đời sau cho rằng Hannibal và quân sĩ mải vui thú ở Capua 13 năm, mất chí chiến đấu (có tên gọi : « những thú vui ở Capua ») ; nhưng có thể là vì nhà cầm quyền ở Carthage sợ Hannibal thắng to thì quyền lớn át tất cả, nên không chịu tiếp tế quân. Năm 203 trước Công nguyên, bị triệu về Carthage. Sau đó, bị quân La-mã kéo sang Phi châu đánh, Hannibal thua trận ở Zama phía nam Carthage (năm 202 trước Công nguyên), Carthage phải xin hòa với La-mã ; còn Hannibal sau một thời gian phải trốn sang xứ Syrie, rồi phải tự tử để khỏi bị bắt nộp cho quân La-mã. Tuy nhiên Carthage lại mon men trở lại phồn thịnh, làm cho La-mã quyết tâm diệt để tránh hậu hoạn. Do đó có chiến tranh thứ ba (149 trước Công nguyên đến 146 trước Công nguyên) : sau 3 năm bị vây, Carthage thất thủ và bị san thành bình địa, tương truyền là đất bị rắc muối cho cây cỏ không mọc được. Tất cả các « thuộc địa » phía nam Địa Trung Hải của Carthage bị đế quốc La-mã chiếm, những đất đai đó biến thành một tỉnh của La-mã. Sau này, Jules Cesar (Caius Julius Caesar : sinh năm 100 trước Công nguyên, chết năm 44 sau Công nguyên, Chấp chính (consul) La-mã) cho xây lại một thành phố mới. Ngày nay, còn lại di tích kiến trúc thời Carthage cổ tiền La-mã và thời La-mã. Có nguồn cho rằng Caesar là hậu duệ của … Enée.
Đến năm 439 sau Công nguyên, Carthage bị người Vandales chiếm. Đến năm 533, thì Carthage rơi vào tay người Byzance. Từ năm 698 thì đến lượt người A-rập chiếm Carthage. Trải qua nhiều triều đại, đến năm 1574 thì Carthage thuộc vào đế quốc Ottoman (Thổ-nhĩ-kỳ). Từ 1705, thành lập triều đại Husseinites, được tự chủ, tuy vẫn thuộc đế quốc Ottoman. Đến năm 1881, bị Pháp bảo hộ. Năm 1956 giành lại được độc lập, và từ đó trở thành một nước Cộng hòa, với Tunis là thủ đô, với di tích của Carthage ở ngoại ô bắc của thủ đô này.
4. Thăm Ai -cập
Xuân 1982, lần cuối cùng mà tôi đi du lịch ra khỏi nước Pháp (sau đó vì lý do sức khỏe, tôi không đi đâu nữa), vợ chồng tôi và hai con đi thăm Ai-cập. Thật cũng bõ công, vì từ lâu đã muốn nhìn tận mắt những công trình cổ đồ sộ của xứ này. Lấy máy bay từ Paris đến thủ đô Le Caire (al-Qahira), lấy xe lửa đi thăm Louqsor, trở lại Le Caire, đi xem Saqqara, rồi về, vì thời gian có hạn. Ngay chính tại thủ đô này, chúng tôi cũng không có thì giờ đi thăm các di tích trong thành phố, tuy di tích lịch sử không thiếu : thuở xa xưa thời các vua pharaons, nơi này được (người Hy-lạp) gọi là Memphis, rồi từ thế kỉ 1 đến thế kỉ 7, với người Ki-tô giáo, mang tên gọi Babylone – đừng lẫn với Babylone ở Irak, ở phía nam Bagdad khoảng 160 km – rồi đến thời người Hồi giáo gọi là Fostat, và sang thế kỉ 10, đổi gọi là al-Qahira (mà tiếng Pháp là Le Caire). Rất tiếc là chính tôi chỉ tập trung thăm tóm tắt những nơi thật cổ, không xem thêm được nữa, nhưng cũng tạm đủ để hình dung được nền văn minh này như thế nào.
Chủ yếu, tôi chỉ chú ý đến Ai-cập cổ đại (Egypte ancienne, từ 3500 trước Công nguyên đến 395 sau Công nguyên) gần 4000 năm, 30 triều đại và khoảng 300 vua (pharaon). Có thể tóm tắt các giai đoạn lịch sử đại khái như sau (các tài liệu không hoàn toàn nhất trí, thí dụ như tài liệu của bảo tàng Louvre và tài liệu của từ điển Larousse không giống nhau, chưa kể đến những tài liệu khác):
3500-3300 trước Công nguyên : bắt đầu có vua ; xuất hiện chữ tượng hình (écriture hiéroglyphique), như vậy là rất sớm (thí dụ như so với Trung quốc, chữ viết chỉ xuất hiện ở Trung quốc khoảng 1500 trước Công nguyên).
3100-2700 trước Công nguyên : thống nhất dưới triều đại của một vua (triều đại thứ 1, thứ 2).
2700-2200 trước Công nguyên : các triều đại thứ 3, 4, 5, 6 (Đế chế Cổ đại : Ancien Empire).
2200-2030 trước Công nguyên : Giai đoạn trung gian thứ nhất (Première période intermédiaire), lãnh thổ bị chia thành nhiều xứ độc lập, các triều đại thứ 7, 8, 9, 10, 11.
2030-1710 trước Công nguyên : các triều đại thứ 11, 12, 13 (Đế chế Trung đại : Moyen Empire).
1710-1550 trước Công nguyên : Giai đoạn trung gian thứ nhì (Deuxième période intermédiaire), lãnh thổ bị chia thành nhiều xứ độc lập, các triều đại 14, 15, 16, 17.
1550-1069 trước Công nguyên : các triều đại thứ 18, 19, 20 (Đế chế Tân đại : Nouvel Empire)
1069-664 trước Công nguyên : Giai đoạn trung gian thứ ba (Troisième période intermédiaire), tồn tại của nhiều vua pharaons Ai-cập, Li-bi, Nu-bi (các triều đại 21, 22, 23, 24, 25).
664-332 trước Công nguyên : những giai đoạn độc lập cuối. Bị Ba-tư chiếm. Triều đại 26, triều đại 27 (Ba-tư).
332-30 trước Công nguyên : triều đại Ptô-lê-mê (Hy-lạp - Ma-xê-đoan : gréco-macédonien).
Từ 30 trước Công nguyên : Ai-cập thuộc Đế quốc La-mã; dùng chữ viết theo chữ cái. Phát triển của đạo Ki-tô, vv.
Từ 640 sau Công nguyên, người A-rập chiếm Ai-cập, và « Hồi hóa ».
Từ 1952 nền cộng hòa được thành lập cho đến ngày nay.
Tuy hành trình đi thăm theo trình tự Karnak-Louqsor, Gizeh, Saqqarah), nhưng tôi ghi lại nơi thăm theo thứ tự từ cổ đến « kim ».
Thăm kim tự tháp có tầng ở Saqqarah, do kiến trúc sư Imhotep được lệnh xây dựng vào khoảng 2800 trước Công nguyên cho vua pharaon Djeser, (triều đại thứ 3 thuộc Đế chế Cổ đại). Theo một nguồn thì đây được coi là công trình đầu tiên được xây bằng đá tạc và ghép lại, đáy hình chữ nhật một cạnh dài 125m, một chiều rộng 109m, cao khoảng 57m. Cạnh đó là một quần thể mồ mả quí tộc, rải rác tới hàng mấy cây số, với những phòng trang trí bằng những hình trạm/vẽ trên tường mô tả những cảnh của đời sống hàng ngày thuở đó.
Tiếp đó thuê xe đi thăm mấy kim tự tháp ở Gizeh, cách thủ đô chừng 15 km. Đây là một quần thể gồm các kim tự tháp, lăng của các vua Kheops, Khephren, Mykerinos (các vua kế tiếp đều thuộc triều đại thứ 4), và ba kim tự tháp nhỏ, lăng của các hoàng hậu mẹ và hai vợ của vua Khéops.
Kim tự tháp của Kheops là to nhất, được khởi công xây dựng ngay khi vua này mới lên ngôi (có lẽ vào khoảng 2530 trước Công nguyên), khởi thủy cao chừng 146m, sau chỉ còn 139m vì thời gian làm mòn, nền là một hình vuông mỗi chiều khoảng 230m, bốn mặt là bốn tam giác, xây bằng đá tảng, bên trong có đường hầm dẫn vào tới « phòng » để quan tài bằng đá hoa của vua và phòng khác của hoàng hậu. Theo Hérodote, sử gia Hy-lạp (484-420 trước Công nguyên) thì khoảng 10 vạn thợ xây (ngày nay được ước lượng khoảng 2 vạn thợ) xây cất khoảng 20 năm mới xong. Ngày nay, cách xây kim tự tháp vẫn còn là đề tài tranh cãi mãi, thí dụ như tập san Science et Vie số 1071 tháng 12/2006, còn đăng một giả thuyết là không phải đá tảng đẽo xây nên, mà là đá « đúc » (!?). Cạnh đó là kim tự tháp của Khephren, vua kế vua Kheops, nhỏ hơn một chút, cao khoảng 143m, nền vuông mỗi chiều khoảng 215m. Rồi xa hơn chút nữa là kim tự tháp của Mykerinos cao 66m, nền vuông mỗi chiều 108m. Phía bên kia của kim tự tháp của Kheops là ba kim tự tháp nhỏ, lăng của các hoàng hậu mẹ và hai vợ của vua Kheops. Cách đó một quãng là tượng đá của Sphinx, một thú vật thần thoại, mình sư tử đầu người [3] , cao 20m, cả thân và chân dài hơn 73m, mặt dài 5m, tượng trưng cho thần mặt trời Hamarkhis ; có thuyết cho rằng mặt là mặt Khephren, được xây dựng để giữ đền thờ thần mặt trời.
Trở lại câu chuyện Sphinx ở Gizeh : người ta tìm thấy một tấm bia giữa hai chân tượng, bia này kể câu chuyện giấc mơ của ông hoàng Thoutmosis, lúc còn trẻ chưa được chọn để làm vua. Một hôm tránh nắng gần tượng Sphinx sau một buổi săn, mệt mỏi ngủ thiếp đi. Trong giấc mơ thấy chính thần Sphinx hiện ra bảo rằng : nếu chàng cho xúc bỏ cát đang dần dần vùi tượng của thần, thì sau này chàng sẽ được làm vua. Tỉnh dậy, Thoutmosis thực hiện điều đó, và sau này, tuy không phải là người được chấm để nối nghiệp, rốt cục cũng được lên làm vua, đó là vua Thoutmosis IV thuộc triều đại 18. Không thấy kể là ông ta lên ngôi bằng cách nào, nhưng có lẽ câu chuyện mộng mị này cũng giúp ông ta củng cố cương vị « chính đáng » của ông ta. Câu chuyện thần xen vào chuyện người, cũng đã xảy ra trước thời vua này, ở thời vua bà Hatchepsout mà tôi sẽ kể dưới đây [4] .
Trở lại chuyện Ai-cập. Các kim tự tháp đã gây ấn tượng, mà chuyến thăm Karnak và Louqsor thuộc kinh đô cũ Thèbes, cũng không kém.
Karnak là một quần thể rộng lớn, khoảng 25 héc-ta, có tường rộng khoảng 9m cao 21m bao bọc, được xây dựng ngay sát bờ sông Nil, về phía nam Le Caire khoảng 700 km, gồm nhiều công trình kiến trúc, đền đài đồ sộ. Niên đại khởi thủy của Karnak không được xác định, phỏng đoán có thể là vào khoảng triều đại thứ 3 (?), nhưng có một đền thờ thần Amon được xác định là xây cất dưới thời vua Antef II, thuộc triều đại thứ 11. Các vua nối tiếp xây cất, đặc biệt là ở triều đại 18 thuộc Đế chế Tân đại và sau đó ; tóm lại là xây cất kéo dài từ khoảng thế kỉ 20 trước Công nguyên đến thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên. Đền đài Karnak là nơi thờ cúng, gồm 3 khu vực : khu vực phía bắc thờ thần Montu, khu trung tâm thờ thần Amon-Rê, khu vực phía nam thờ thần Mout, trong thần thoại Ai-cập, mỗi khu đều có tường bao quanh. Tóm tắt tả vài công trình để thấy sự đồ sộ của nơi này : Có con đường dẫn từ khu vực đền đài đến sông Nil, hai bên có hai hàng tượng sphinx [3] mình sư tử đầu cừu đực sừng cong (triều đại thứ 19). Cổng đền (pylone) thứ nhất (trong số mười cái), dài 113m, dày 15m, cao khoảng 40m, xây dựng vào triều đại thứ 30, nghĩa là tương đối « mới » nhất. Có « phòng » xây dưới thời vua Sethi I và con nốí nghiệp là vua Ramses II (triều đại thứ 18), rộng 52m dài 103m, có 134 cột đá đỡ trần, trong đó có tới 12 chiếc cao khoảng 23m, chu vi mỗi cái 10m. Có công trình kiến trúc dưới thời vua Amenophis III (triều đại thứ 18), với 11 pho tượng khổng lồ tạc vua này dưới dạng đứng. Có « đền phía Đông », xưa có cột tháp bia (obélisque) cao nhất của quần thể này (33m) dựng dưới thời các vua Thoutmosis III và IV ; đến thời La-mã, cột này bị dỡ, và sau bị đem dựng lại ở Roma, tại quảng trường Saint Jean de Latran.
Đền Louqsor, cũng sát bờ sông, cách Karnak khoảng 2km, nối liền với Karnak bằng một con đường dài, đôi bên có hai hàng tượng đá sphinx mình thú đầu người. Đó cũng là nơi thờ bộ ba thần Amon-Rê, Mout et Khonsou. Đền này được khởi xây dưới thời vua Amenophis III (thuộc triều đại thứ 18), nhỏ hơn Kanark, « chỉ » dài 260m rộng 50m, rồi được các vua kế tiếp bổ sung, thí dụ như cổng đền (pylone) xây dưới thời vua Ramsès II với 2 cột tháp bia bằng đá cao tới 25m và 2 tượng đá khổng lồ tạc vua Ramsès II dưới dạng ngồi. Trong đền còn có nhiều các cột đá cao vút, và nhiều tượng đá khổng lồ khác như 2 tượng đá khổng lồ tạc vua Ramsès II và hoàng hậu Nefertari và một cột tháp bia (obélisque), lẽ ra là một đôi, nay chỉ còn một cái tại chỗ – cái kia thì phó vương Ai-cập Mehemet Ali tặng vua Pháp Louis-Philippe, và được dựng từ năm 1836 ở quảng trường La Concorde ở Paris). Trước đó, vua nối nghiệp vua Amenophis III là Akhénaton (trước đó mang tên là Amenophis IV), thay đổi, bỏ việc tôn thờ thần Amon-Rê và đa thần, để thờ một thần duy nhất Aton, và bắt quần thần và nhân dân theo đạo mới do mình đặt ra. Cũng dưới thời nhà vua này, có nhiều sự thay đổi, thí dụ như trong cách xây cất, không dùng những khối đá to lớn, mà dùng những viên đá nhỏ hơn, do đó việc xây cất nhanh chóng hơn, hoặc như nhà vua để cho vợ yêu là hoàng hậu Nefertiti tham gia cùng với mình trong các nghi lễ hay công việc triều chính, hoặc như việc dời đô từ Thèbes sang Amarna. Nhưng tất cả những « cải cách » đó cũng chỉ tồn tại mươi năm, những vua kế nghiệp trở lại với cổ lệ, xóa bỏ việc thờ Aton để trở lại tôn giáo cũ. Trong đám vua nối nghiệp, có vua Thoutankhamon được người đời nay biết tiếng, không phải là vì ông là vua tài ba, mà là vì mả ông được phát hiện vào năm 1922 còn nguyên vẹn – từ hơn 3300 năm chưa bị trộm cắp xâm phạm – với nhiều vàng bạc châu báu, như cỗ quan tài gồm ba lớp, mà lớp trong cùng bằng vàng nặng tới khoảng 110 kg.
Phía bên kia (phía tây) sông Nil so với Louqsor và Karnak và cách đấy khoảng 3km, không có cây cỏ, là « thung lũng mả vua » (vallée des rois), hiện có khoảng 62 mả được phát hiện, trong số đó có 25 mả là mả vua. Quần thể mồ mả này có niên đại thuộc Đế chế Tân đại (khoảng từ triều đại thứ 18 và đến triều đại thứ 23). Vào thời đại này, các vua không xây lăng kiểu kim tự tháp nữa mà cho xây lăng tẩm dưới hình thức những đền thờ đồ sộ.
Cạnh đó là « thung lũng mả hoàng hậu » (vallée des reines) với khoảng 80 mả gồm một số mả vợ vua và thân thuộc của hoàng gia, kiến trúc thường nhỏ hơn, trừ đền Deir El-Bahari của nữ hoàng Hatchepsout, vua bà nổi tiếng nhất (trong 5 vua bà trong lịch sử Ai-cập), trị vì hơn 20 năm vào khoảng 1500 năm trước Công nguyên (triều đại thứ 18 thuộc Đế chế Tân đại). Huyền thoại về bà này cũng ly kỳ, được kể qua những di tích trong đền của vua Aménophis III ở Louqsor : Amon-Rê, thần chúa tể của các thần và là « thượng đế » của các vua Ai-cập, quyến rũ hoàng hậu Ahmès, vợ vua Thoutmosis I (còn gọi là Thoutmès I). Một đêm, thần biến dạng thành hình dáng vua, vào phòng hoàng hậu Ahmès và mê mẩn vì sắc đẹp của bà trong giấc ngủ, lách vào trong chăn của bà. Bà tỉnh giấc, được thần tiết lộ cho biết mình là ai. Trải qua một cuộc mây mưa, thần báo cho biết là bà sẽ đẻ ra con thánh, và đặt tên sẵn cho đứa bé gái tương lai là Hatchepsout, và cho bà biết sau này đứa con gái này sẽ làm vua Ai-cập [5]. Khi vua Thoutmosis I chết, theo tập tục trong hoàng gia, Hatchepsout lấy anh trai cùng cha khác mẹ là Thoutmosis II, một vua kém, nên bà tự nắm quyền và lên ngôi vua ở Karnak (chính bà làm vua, cũng mang râu giả, ăn mặc quần áo như vua « đực », chứ bà không đóng vai thái hậu chấp chính). Khi Thoutmosis II chết, bà lấy cháu gọi bằng cô là Thoutmosis III (?), nhưng bà vẫn trị vì một mình. Bà là một vị vua giỏi. Nhưng không rõ nguyên cái chết của bà, có thuyết cho rằng Thoutmosis III sai người ám sát bà. Vua nối nghiệp này cũng là một vua giỏi ; nhưng dù cho ông cố sức xóa dấu vết của bà, danh tiếng của bà vẫn còn để lại cho hậu thế. [Một bí ẩn lâu đã từ 3500 năm về bà nữ hoàng Hatchepsout nghe đâu nay mới có được lời giải. Bí ẩn đó là : « xác của bà Hatchepsout đâu ? ». Như đã kể trên đây, sau khi bà mất, vua Thoutmosis III nối nghiệp, sai đục bỏ hết dấu vết của bà trên các bia lăng, xác bà bị bỏ ra khỏi quan tài, và « biến » đi đâu mất. Năm 1903, phát hiện ra một xác ướp, để ngay dưới đất, trong ngôi mộ của bà vú nuôi bà Hatchepsout. Đó là một xác ướp một người phụ nữ mập, khoảng 50 tuổi, miệng thiếu một chiếc răng hàm. Thuở đó cũng đã sự hoài nghi, nhưng không có bằng chứng. Xác này bị bỏ quên trong kho bảo tàng. Mặt khác, năm 1881, có tìm thấy một cái hộp « đựng đồ tang», mang dấu ấn của Hatchepsout, trong đựng một mẩu răng. Mới đây, nhà khảo cổ Ai-cập Zahi Hawass mới phát hiện ra rằng cái răng này khớp với cái hàm của cái xác kia. Mấy nhà khảo cổ khác còn chưa hẳn tin : họ đời kết quả của sự thử nghiệm ADN. Hạ hồi phân giải !
Cùng phía bên kia sông Nil, có hai pho tượng khổng lồ bằng đá, cao 18m, nặng khoảng 1300 tấn, tượng của vua Amenophis III, tượng ngồi, hai tay đặt trên đùi. Hai tượng này thuở xưa gác ngôi đền nghe nói rất rộng thờ vua nói trên, đền nay đã mất. Với thời gian, mặt tượng cũng đã bị mòn (đã hơn 3000 năm rồi mà!). Tương truyền, năm 27 trước Công nguyên, một trận động đất làm sụp phần lớn ngôi đền, và tượng phía bên phải bị nứt từ vai đến mông, và từ thời điểm ấy, cứ lúc mặt trời mọc ra là phát ra tiếng rên/hát. Ngày nay có thuyết cắt nghĩa rằng, ánh nắng mặt trời buổi sớm làm nóng kẽ nứt của đá, gây ra tiếng động. Vì thế mà thuở ấy, người Hy-lạp gán tượng này cho Memnon trong thần thoại Hy-lạp : Memnon, vua xứ Ethiopie và Ai-cập, mang quân sang cứu bác/chú là vua Priam xứ Troie ; bị Achille giết chết. Mẹ là nữ thần Eos, (tức là Aurore, Bình minh, nghĩa là lúc trời hửng sáng ngay truớc khi mặt trời mọc), van xin Zeus, chúa tể các thần, cho Memnon sống lại. Về việc pho tượng phát ra tiếng mỗi khi mặt trời mọc, người Hy-lạp thuở đó cho là Memnon sống lại cất tiếng chào mẹ mình, nên mới gán cho tượng này là tượng của Memnon. Tới thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên, hoàng đế La-mã Septime Severe, vì thiện chí, cho tu sửa lại pho tượng này, nhưng từ đó bặt im, không phát ra tiếng nữa.
Chúng tôi rất tiếc đã không có thêm vài ngày để đi nối xuống tận cực nam của Ai-cập, để xem thêm Abu Simbel, đền xây dưới thời vua Ramsès II (đã có dịp nói trên đây ở Karnak và Louqsor), là một trong những vị vua nổi tiếng nhất của Ai-cập, thuộc triều đại 18, trị vì trong 67 năm (bắt đầu từ khoảng 1300 trước Công nguyên). Tên [hai] đền Abu Simbel được biết đến nhiều, do việc xây đập Assouan và hồ Nasser, do yêu cầu về kinh tế (thủy điện và nông nghiệp); vì thế nước ngập một vùng rộng lớn. Do sự yêu cầu của Ai-cập, với sự hỗ trợ quốc tế và dưới sự chỉ đạo của UNESCO (Tổ chức liên hợp quốc về Giáo dục, văn hóa, nghệ thuật), từ 1963 đến 1968, đền này được xẻ thành 1036 tấm nặng tới 30 tấn, để nâng lên cao 60 m trên sườn núi và ghép lại như cũ. Hình ảnh cửa đền này với 4 pho tượng khổng lồ cao 21 m trong dạng ngồi, gây ấn tượng lớn. Không được đến nơi xem tận mắt, tôi cũng thấy tiếc. Cũng như rất tiếc không tới thăm được Alexandrie, thành phố do đại đế Alexandre xây dựng lên (vào khoảng năm 332 trước Công nguyên), nổi tiếng một phần vì « đài » hải đăng (phare), một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại phương Tây, nay không còn nữa.
Lịch sử Ai-cập rất dài, những di tích cổ rất nhiều, tất nhiên đối với một người đi thăm lướt qua như tôi, chỉ có thể tóm tắt « lõm bõm » vài nét, nhất là thuở tôi đi thăm ấy, rất ít thì giờ. Nhưng cũng may là tôi đã kết thúc những chuyến du lịch của tôi bằng Ai-cập : theo nhận xét riêng của tôi, không nơi nào có những di tích cổ và to lớn như Ai-cập.
Chú thích.
[1]. Nói tới kênh đào này, tôi liên tưởng tới một bài viết về việc phái bộ Phan Thanh Giản (1796-1867) sang Pháp năm 1863 để xin chuộc lại 3 tỉnh phía tây Nam kỳ : bài « Lá cờ khăn gói » trong « Chuyện cũ cố đô », của Nguyễn Đắc Xuân, nxb Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên 1987 ; tác giả bài này viết : « Khi tàu sắp vào kênh Xu-ê (Suez), viên quan Pháp cho sứ đoàn biết … ». Chắc là ông viết nhầm hay nhà xuất bản in sai, vì 1863 là sáu năm trước khi kênh được khánh thành. Theo anh NLT mách cho tôi biết : theo cuốn Tây phù nhật ký của Phạm Phú Thứ, phó sứ, sứ bộ nhập cảng Suez lên bờ, sau đó đi xe lửa đến thủ đô Le Caire (al-Qahira), yết kiến phó vương Ai-cập, rồi đi tiếp xe lửa đến Alexandrie, từ đó đáp tàu thủy sang cảng Toulon ở Pháp.
[2]. Pygmalion, vừa là vua vừa là nhà điêu khắc giỏi, vốn không thích phụ nữ, chỉ thích khắc tượng. Nhưng chẳng may lại mải miết khắc một cái tượng phụ nữ bằng ngà, đẹp vô cùng. Nữ thần Aphrodite chơi xỏ, phù phép làm chàng đâm ra mê. Thần hồi tâm, biến tượng thành người (sau này gọi là Galatée), và còn dự đám cưới của cặp này.
[3] Nói chung, Sphinx là tên chung chỉ những thú thần thoại Ai-cập và Hy-lạp, mình sư tử đầu người hay đầu thú. Cho nên chớ lầm Sphinx ở Gizeh này với chuyện Sphinx « trùng tên » trong thần thoại Hy-lạp ; Sphinx Hy-lạp đầu phụ nữ mình thú, là một quái vật phá hoại mùa màng và thích ăn thịt người, ngồi trên tảng đá cao, chất vấn khách qua đường bằng câu đố : « Vật gì sáng bốn chân đi, trưa hai chân đứng, chiều thì lại ba ». Ai không trả lời được thì bị ăn thịt. Cho đến một ngày, chàng Œdipe đi qua, bị hỏi câu đó, chàng trả lời : « Đó là con người : lúc còn nhỏ, chỉ biết bò nên dùng bốn chân tay ; lúc nhớn lên, đi bằng hai chân ; lúc già yếu phải chống gậy nên có ba chân ». Con quái nữ Sphinx tức giận vì có người trả lời được câu đố của mình, mới nhảy từ trên cao xuống đất chết. Chuyện này tôi có đọc trong sách giáo khoa ta thuở nhỏ, cứ tưởng là chuyện Việt Nam, sau này mới biết là chuyện thần thoại Hy-lạp ! Nhân nói đến chàng Œdipe, cũng xin kể tiếp thêm một chút : Vua xứ Thèbes chậm có con nối, mới đi cầu xin lời sấm (oracle) của thánh thần nơi Delphes. Lời sấm phán rằng sẽ có con trai, nhưng nó sẽ giết cha và lấy mẹ. Khi đứa con trai đẻ ra, hoàng hậu Jocaste sợ lời sấm, nhưng không nỡ giết con, mới đem bỏ đứa bé vào trong núi. Mấy người chăn cừu nhặt được, cứu đứa bé và dâng cho vua xứ Corinthe. Vua này và hoàng hậu không có con, nuôi Œdipe như con đẻ của mình. Lớn lên, Œdipe mới biết có lời sấm đó, chàng sợ hãi và vẫn tưởng rằng vua và hoàng hậu Corinthe là cha mẹ đẻ của mình, vội vã bỏ đi. Dọc đường, tình cờ gặp vua Thèbes, nhưng không biết là bố đẻ của mình, do có sự gây gổ lục đục, Œdipe giết ông này, rồi đi tiếp. Rồi gặp con quái nữ Sphinx, như đã kể trên, và diệt được nó. Dân xứ Thèbes cảm ơn chàng đã trừ được con quái, mới tôn chàng làm vua, và chàng lấy hoàng hậu Jocaste mà không biết là mẹ đẻ của mình, và đẻ ra mấy con. Vài năm sau, bệnh dịch phát ra, một lời sấm khác phán rằng phải đuổi kẻ giết vua trước đi ; một thày bói mới tiết lộ sự thật trước đây. Hoàng hậu Jocaste tự treo cổ chết, Œdipe tự đâm mù hai mắt, bỏ đi và chết nơi khác. Ngày nay, trong ngành phân tích tâm lý (psychanalyse), có cụm từ « complexe d’Œdipe » [« phức cảm » Œdipe, do Sigmund Freud tạo ra năm 1910 để chỉ một giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ em : sự gắn bó tình cảm mật thiết của nó đối với người cha/mẹ khác giới (sexe opposé) của nó.]
[4]. Cái chuyện thần báo mộng này, thật là hữu ích, ở bất cứ nền văn minh nào. Tôi không khỏi liên tưởng nghĩ đến sử ta, tuy không có niên đại xa xăm như Ai-cập, thí dụ như mấy chuyện nhắc lại sau đây :
- Tục truyền rằng Lý Công Uẩn (sau lên ngôi vua tức là vua Lý Thái tổ) không có cha, bà mẹ đi chơi chùa Tiêu Sơn, nằm mộng thấy mình ngủ với thần rồi về có thai, mà đẻ ra ông (theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ; còn Đại Việt sử ký thì không viết là « nằm mộng » mà chỉ viết là cùng với « người thần » giao cấu rồi có chửa ; tôi không biết là nên nhấn mạnh đến chữ « thần » hay đến chữ « người »). Dù sao, vậy cũng là « không chồng mà chửa mới ngoan, có chồng mà chửa thế gian thường tình », quả là chân mệnh đế vương.
- Chuyện Lê Lợi khi vây thành Nghệ An (1425) đêm chiêm bao thấy thần Phổ Hộ báo mộng, xin cho thần một người thiếp, thần sẽ giúp đánh thắng giặc Minh lập nên nghiệp đế. Hôm sau, Lê Lợi gọi các bà vợ đến hỏi : « Ai bằng lòng làm thiếp của thần, ta lấy được thiên hạ thì sẽ truyền ngôi thiên tử cho con người ấy ». Bà Ngọc Trần, mẹ của Nguyên Long (vua Lê Thái Tông sau này) nhận lời. Lê Lợi sai làm lễ tế thần, dùng bà làm vật tế, bà bèn mất. (Theo Lam Sơn thực lục dẫn trong cuốn « Nghiên cứu chữ húy ở Việt Nam qua các triều đại », của Ngô Đức Thọ, nxb Văn hóa 1997). Tôi không phải là hậu duệ của Tào Tháo đa nghi, nhưng cũng không khỏi tự đặt câu hỏi : trong thiên hạ thiếu gì gái đẹp mà phải đem chính vợ mình mà tế thần như dâng một của thừa. Mà giả thử như phải hối lộ thần một cách gấp rút vì sắp đánh thành Nghệ An, thì cũng có thể theo truyền thống nước mình (?) làm hình nộm gái đẹp đem đốt cho thần – ngày nay ở giữa cái năm 2007 này, người ta vẫn đốt đô-la giả, ô-tô, nhà lầu, vv. cho âm phủ đó ! – cho nên phải chăng nên tìm câu trả lời từ một khía cạnh khác ? Hay là một công giải quyết đôi ba việc luôn thể : lấy cớ để sửa soạn chọn con nối. Lê Lợi có nhiều con, trong đó có người con cả là Tư Tề. Việt sử thông giám chính biên (bản dịch của Tổ biên dịch Ban nghiên cứu văn sử điạ, Hà Nội) viết : [Thái Tổ] lập con trưởng là Tư Tề làm quốc vương […] tạm quyền coi quản việc nước, xét xử chính sự, đồng thời phong con thứ là Nguyên Long làm hoàng thái tử, đợi ngày thành tài, làm việc coi giữ nhà nước, vỗ về quân đội,… Sau lại viết Tư Tề ngông cuồng càn bậy. Đại Việt sử ký (bản dịch của Cao Huy Giu ; Đào Duy Anh hiệu đính) viết : mùa thu tháng 8 [năm Quý sửu, 1433] giáng con trưởng Tư Tề làm quận vương, lấy con thứ là Nguyên Long nối tôn thống. Lại viết : [vua Thái tông] mẹ là Cung Từ hoàng thái hậu, họ Phạm, húy là Trần, … Bấy giờ vua mới 11 tuổi, không cần mẫu hậu che rèm nghe việc, mà công việc trong nước đều tự mình làm cả. Việt sử thông giám chính biên thì viết rõ hơn : thái mẫu [mẹ vua Thái Tông tức bà Ngọc Trần], đã mất từ trước, đến nay [năm Thiệu Bình thứ 1], truy tôn làm Cung Từ quốc thái mẫu ; như vậy có lẽ là nói rằng bà này trước đây đã chết rồi, nhưng chết vì sao thì không thấy viết. Sử và dã sử xen kẽ ? Dù sao, chuyện thần báo mộng là khiếp lắm.
- Giấc mộng của ông Hồ Tông Thốc (thời Trần) ở đền Hạng vương, trong chuyến sứ sang Tàu, kể trong cuốn Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thời Mạc). Đã là chuyện nằm mơ, thì tha hồ phê phán vua chúa, nhất là vua chúa Tàu, vua ta chẳng có lý do để mà bắt lỗi. (Tôi đã có dịp đề cập tới trong cuốn « Học gần Học xa »).
- Theo Hoàng Lê nhất thống chí, mẹ chúa Trịnh Khải là Ngọc Hoan, được tuyển vào làm cung nữ của chúa Trịnh Sâm (vì chị bà trước là cung nữ được yêu của chúa Trịnh Doanh, bố Trịnh Sâm). Nhưng được tuyển vào cung, mà không được chúa Trịnh Sâm ngó tới, nên ngày đêm nàng vẫn cô quạnh. Bỗng một đêm, nàng mơ thấy một vị thần đem cho tấm đoạn có vẽ đầu rồng. Nàng « không hiểu » đó là điềm gì, mới đem chuyện này hỏi viên hoạn quan Khê Trung hầu. Viên này biết là điềm sinh con « thánh ». Đêm sau, nhân dịp chúa sai gọi cung tần Ngọc Khoan vào « hầu » , Khê Trung hầu cố ý giả nghe lầm tên, đưa Ngọc Hoan vào. Chúa không thích, nhưng đã trót gọi đến, không nỡ đuổi ra. Nàng chỉ trải qua « một trận mưa móc », liền có thai ngay. Sau đó, sinh ra Trịnh Khải. Chúa Trịnh Sâm nghĩ đầu rồng tuy có khí tượng làm vua, nhưng chỉ là rồng vẽ không phải rồng thật, mà lại chỉ có đầu không có đuôi, chưa hẳn đã là điềm tốt cả. Như vậy là cái ông thần trong mộng này cũng oái ăm : nhờ ông mà bà Ngọc Hoan, với sự đồng lõa của Khê Trung hầu, mới được hưởng « một trận mưa móc », để sau đó lòi ra được cái ông chúa Đoan Nam vương Trịnh Khải ; nhưng ông thần chỉ cho tấm đoạn có vẽ đầu rồng, có thể vì vậy mà làm cho chúa Trịnh Sâm không ưa con cả, mà yêu con thứ Trịnh Cán do bà chúa Chè Đặng Thị Huệ đẻ ra, để cho cơ nghiệp chúa Trịnh đến nỗi : « Chẳng đế chẳng bá, quyền nghiêng thiên hạ ; truyền được tám đời, trong nhà dấy vạ »…
Qua mấy nước Phi Châu
Tôi ít biết Phi châu. Chỉ có dịp được biết mấy nơi, trong những tình huống khác nhau :
1. Djibouti
Không phải chủ ý mà biết nơi đây, chẳng qua là trên đường sang Pháp năm 1950, từ Sài Gòn đi Marseille, chiếc tàu thủy Athos II, chiếc tàu chở binh lính từ Đông Dương về Pháp, ghé đỗ Djibouti. Một anh bạn đồng hành, anh tôi và tôi, cũng như các hành khách khác, rời tàu lên bộ đi thăm. Một kỷ niệm không có gì hứng thú. Một chiếc thuyền nhỏ chở chúng tôi từ tàu thủy đỗ ngoài khơi vào bờ, theo giá cả đã định trước. Nhưng được nửa đuờng, tay chủ thuyền dừng thuyền lại, chỉ đám cá mập đang bơi trong nước biển trong veo, rồi đòi trả thêm tiền ; cũng may là mấy tay lính Bắc Phi cùng đi nổi hung, nắm cổ chủ thuyền và đồng bọn, đe vứt họ xuống biển. Bọn này sợ hãi, mới chở nốt vào bờ, không dám kèo nèo gì nữa.
Thuở ấy, nơi này còn là thuộc địa Pháp, nghèo khổ, nhà cửa lèo tèo không ra cái gì, chỉ có một công trình kiến trúc ra vẻ một chút, là cái dinh của viên toàn quyền Pháp. Đi một quãng, đã đụng ngay sa mạc. Nóng và khát. Ghé vào một quán bên đường, biết sẵn là nước uống nhờ nhợ, nên hỏi mua mấy chai nước ngọt. Vừa mới bỏ xuống bàn cái cốc uống xong nhưng còn chút nuớc ngọt thừa, đã thấy mấy người bản xứ chầu ở cửa quán xông vào tranh nhau vồ lấy cái cốc, đổ thêm nước lã để uống. Thấy tội nghiệp, anh bạn đồng hành, có hảo tâm trả tiền mua cho họ một chai nước ngọt để họ chia nhau. Cảnh nghèo nơi nào cũng bi thảm.
Từ 1977, Djibouti đã độc lập, nhưng đất nhỏ 23000 km2, dân thưa, chỉ được thuận lợi ở chỗ là địa điểm chiến lược, cửa ngõ ra vào Hồng Hải và trên đường vào Ấn-độ Dương. Đọc một quảng cáo cho du lịch ngày nay, thấy nói đến phong cảnh đặc biệt ở nội địa, nói đến bờ biển có nơi bơi lặn biển (plongée sous-marine), nói đến những hộp đêm, những quán ăn với những món ăn đặc biệt Pháp, Ý, Ê-ti-ô-pi, … và Việt Nam. Hy vọng là đời sống của dân nới đây đã khá hơn trước.
2. Kênh đào Suez
Như đã kể trên, sau Djibouti, chiếc tàu thủy Athos II, qua Hồng Hải, rồi tới kênh Suez. Thuở ấy, tôi còn đang lo chuyện học hành, lại đang nghèo khó, không thể « chơi sang » như một số hành khách thời đó : tới Suez, đầu vào phía nam của kênh Suez, họ lên bộ thuê xe hơi đi thăm thủ đô Ai-cập và Kim tự tháp, rồi từ đó tới thẳng thành phố Port Saïd ở đầu phía bắc của kênh Suez để lên tàu thủy đi nối chặng đường đi Pháp. Không có tiền, vì vậy nên tôi đành chịu cứ ở trên tàu thủy, và như vậy lại có dịp nhìn thấy kênh đào này kỹ hơn một chút. Rồi cứ tự nhủ một ngày nào đó sẽ trở lại nơi đây xem kỹ hơn, nhưng rốt cục chẳng bao giờ trở lại nữa. Nhưng lịch sử của kênh đào này đáng chú ý.
Kênh đào Suez được khánh thành ngày 17/11/1869, với sự hiện diện của Hoàng hậu Eugénie (vợ hoàng đế Napoléon III), và của hoàng đế François-Joseph nước Áo. Cũng nhân dịp này, nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi viết vở Aïda theo sự gợi ý của nhà Ai-cập học Auguste Mariette, và do vị phó vương Ai-cập đặt hàng. Kể vậy để thấy tầm quan trọng được đánh giá về việc đào xong kênh Suez và việc đưa vào sử dụng.
Nhưng sự tích bắt đầu từ xa xăm hơn thế. Trên một phù điêu thấp (bas-relief) khoảng năm 1300 trước Công nguyên, có ghi sự tích vua Ai-cập Sethi I trên đường từ chiến trận trở về, có đi dọc theo một con kênh giữa sông Nil và Hồng Hải, kênh này ngưng ở một cái hồ ở giữa eo đất thuộc vùng Suez. Lại có chuyện là khoảng năm 600 trước Công nguyên, vua Ai-cập Nechao II muốn đào tiếp kênh này tới tận Hồng Hải nhưng không thực hiện được. Vào các đời vua Darius I và Xerxès I (thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên), rồi vua Ptolémée I vào (thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên) đều có những cố gắng sửa sang và nối tiếp về phía Hồng Hải. Hoàng đế La-mã Trajan (thế kỉ thứ 1 sau Công nguyên) lại tu bổ thêm, và thời đó kênh này mang tên là « sông Trajan ». Đến đầu thời người A-rập chiếm Ai-cập, họ vẫn sử dụng kênh này, nhưng đến cuối thế kỉ thứ 8, vua Hồi giáo al-Mansur sai lấp, vì sợ quân chống đối sử dụng.
Năm 1798, quân Pháp đổ bộ xuống Ai-Cập, dưới sự chỉ huy của tướng Napoléon Bonaparte, thuở ấy còn đang là một tướng của chế độ cộng hòa (cuộc viễn chinh của Bonaparte ở Ai-cập nằm trong khung cảnh của sự cạnh tranh gây ảnh hưởng giữa Pháp và Anh). Và ý tưởng đào kênh nối Địa Trung Hải và Hồng Hải lại được đặt ra. Tướng Bonaparte ủy cho ông Gratien Lepère tính toán sự khả thi ; ông này kết luận là ý đào kênh này không thể thực hiện được : lý do là tại ông ta tính nhầm và cho rằng mức nước của hai biển này chênh lệch nhau đến 10 m. Rồi sau đó là hai kỹ sư Linant de Bellefonds và Mougel nghiên cứu lại đề án. Đến năm 1833, ông Prosper Enfantin lập một doanh nghiệp trong mục đích thực hiện việc đào kênh này. Nhưng dự án này không được sự chấp thuận của « phó vương » Mehemet Ali toàn quyền Ai-cập lúc đó thuộc đế quốc Ottoman. Năm 1854, ông Ferdinand de Lesseps, do sự quen biết thuở trước, lúc còn làm trong ngành ngoại giao, với « phó vương » Muhammad Saïd nối nghiệp cha, mới được sự đồng ý của ông này để thực hiện đề án đào kênh, và được huởng nhượng quyền sử dụng trong 99 năm. Sau khi giải quyết được những khó khăn về mặt tiền bạc (khó khăn với các ngân hàng, nên phải lập hãng với cổ đông), về mặt chính trị và ngoại giao (chính phủ Anh sợ kênh đào làm giảm thế lực của nước Anh trong việc thông thương giữa Âu và Á), công trình dưới sự điều khiển của Ferdinand de Lesseps được tiến hành từ 1859 đến 1869 mới hoàn thành. Kênh dài 161 km kể từ Suez phía nam đến Port Saïd phía bắc, rộng 54m, sâu 8m. Kênh này rút ngắn khoảng 8000 km con đường thủy cũ (vòng qua phía nam châu Phi) từ Âu sang Á.
Năm 1875, nước Anh trở thành cổ đông (actionnaire) chính, và giữ quyền kiểm soát về quân sự cho đến tận khoảng năm 1956. Tháng 7 năm đó, tổng thống Ai-cập Nasser quốc hữu hóa kênh đào này. Viện cớ đó, Anh, Pháp và Do-thái gây ra cuộc chiến với Ai-cập; nhưng do sự can thiệp của Liên Xô, của Mỹ, và của Liên hợp quốc, cuộc chiến mới chấm dứt. Sau này cũng có một thời kênh này bị ngưng hoạt động (1967-1975) do các cuộc chiến tranh giữa Do-thái và các nước A-rập [1] .
3. Thăm Carthage
Carthage là tên cũ của thủ đô Tunis của nước Tunisie ngày nay. Vợ chồng tôi và con có tới thăm nơi này vài ngày vào mùa xuân năm 1977.
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Carthage là bà hoàng Didon, còn mang tên là Elissa. Nàng vốn là công chúa, con gái vua Mutto của Tyr xứ Phénicie (Tyr, nay là Sour, thuộc nước Liban) và là em gái của Pygmalion [2] . Khi vua Mutto chết, Pygmalion nối ngôi, giết chồng Didon. Nàng này sợ mới cùng người thân bỏ trốn, lên thuyền ra biển. Lang thang ở biển nhiều tháng, thuyền lạc đến bờ biển Bắc Phi. Vua xứ này là Iarbas nhận bán cho nàng một mảnh đất rộng « trong vòng » một tấm da bò. Ý hẳn lời giao ước phải mù mờ lắm, cho nên ngày nay mới diễn giải được như sau đây : nàng đem tấm da bò, cắt thành những dải nhỏ liên tiếp rất dài, quây được một mảnh đất khá rộng đủ để xây một cái thành. Thành này, thuở đầu mang tên là Byrsa (nghĩa là tấm da), sau mới được gọi là Qart Hadasht («Thành phố mới»), tức là Carthage, và trở thành bà hoàng của nơi này.
Rồi một ngày nào đó, có chàng Enée tình cờ lò mò tới. Chàng này vốn là con nữ thần Aphrodite (nữ thần của sắc đẹp và tình yêu của thần thoại Hy-lạp) đẻ với Anchise, khi nữ thần này khi bị Zeus (chúa tể các thần, trong thần thoại Hy-lạp), phạt đày xuống trần gian một thời gian. Khi thành Troie thất thủ (trong cuộc « chiến tranh Troie » sẽ kể trong chương 2), chàng Enée sau khi đã dũng cảm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc mình, thế cùng, đành cùng đồng bọn lên thuyền trốn ra khơi. Sau nhiều gian nan, bão táp, chàng trôi giạt tới Carthage. Nữ hoàng Didon yêu chàng, và chàng vui thú nơi này một thời gian. Nhưng Hermès (thần « Du lịch, của các thương gia, của kẻ trộm cắp » thần thoại Hy-lạp) phù phép cho chàng trở lại với số phận của chàng : chàng phải rời bỏ nơi này, và sau một thời kỳ bôn ba, tới xứ Lavinium (Latium, miền Trung nước Ý ngày nay). Ở nơi này, chàng Enée được cảm tình của vua Latinus và công chúa Lavinia, nhưng hoàng hậu thì lại muốn giữ lời hứa gả nàng này cho Turnus trưởng bộ lạc Rutules bản địa. Vì vậy sinh ra chiến tranh, thần này giúp bên này, thần kia giúp bên kia, cho tới lúc Zeus hội họp các thần trên thượng giới để quyết định số phận : rốt cục Enée thắng, lấy Lavinia, cai trị xứ Lavinium. Trở lại chuyện nữ hoàng Didon, không giữ được chàng Enée, thất tình, tự tử. Cuốn Enéide của Virgile (Publius Vergilius Maro, khoảng thế kỉ thứ 1 trước Công nguyên), kể rằng thời bôn ba trước khi đến Lavinium, chàng Enée có dịp xuống thăm âm phủ, có ngó thấy hồn nàng Didon ; chàng van xin nàng thông cảm vì tuy thiết tha yêu nàng chàng đã phải ra đi vì bổn phận ; nhưng hồn nàng lạnh lùng không tha thứ.
Mới đầu, Carthage còn nhỏ yếu phải thần phục và triều cống Tyr và người xứ Lybie. Từ thế kỉ thứ 7 trước Công nguyên thì mạnh lên, bành trướng ở bờ nam Địa Trung Hải ; rồi dần dần các đảo Sicile, Sardaigne, Corse, một phần đông nam Tây Ban Nha cũng thuộc họ. Nhắc lại là khi còn phải chống sự lấn át của Hy-lạp, thì họ là đồng minh của La-mã (từ khoảng 508 trước Công nguyên đến 279 trước Công nguyên), nhưng khi Hy-lạp bị yếu, họ trở thành một địch thủ đáng sợ cho La-mã. Và đã có ba lần chiến tranh xảy ra giữa Carthage và La-mã (tiếng Pháp gọi là « guerres puniques »):
Chiến tranh thứ nhất xảy ra từ 264 đến 241 trước Công nguyên. Carthage bị thua, mất ưu thế về thủy quân vốn có thuở trước, và phải bỏ đảo Sicile rồi Sardaigne cho La-mã. Chiến tranh lần thứ nhì xảy ra từ năm 218 đến năm 203 trước Công nguyên. Tướng Hannibal (lúc đó mới 27 tuổi) dẫn mấy vạn quân bộ (có mấy nguồn khác nhau nói từ 4 vạn đến 6 vạn), kị binh (có ngưồn nói tới 1 vạn) và mấy chục con voi (có nguồn nói tới 37 con), từ Tây-ban-nha vượt qua dãy núi Pyrénées miền Nam nước Pháp, tiếp theo vượt qua dãy núi Alpes miền Đông nước Pháp, vào đất Ý, chiếm được nhiều thành, đặc biệt là thành Capua (năm 215 trước Công nguyên), nhưng không đánh chiếm được Roma – có nguồn cho rằng Hannibal bị tiếng oan : đời sau cho rằng Hannibal và quân sĩ mải vui thú ở Capua 13 năm, mất chí chiến đấu (có tên gọi : « những thú vui ở Capua ») ; nhưng có thể là vì nhà cầm quyền ở Carthage sợ Hannibal thắng to thì quyền lớn át tất cả, nên không chịu tiếp tế quân. Năm 203 trước Công nguyên, bị triệu về Carthage. Sau đó, bị quân La-mã kéo sang Phi châu đánh, Hannibal thua trận ở Zama phía nam Carthage (năm 202 trước Công nguyên), Carthage phải xin hòa với La-mã ; còn Hannibal sau một thời gian phải trốn sang xứ Syrie, rồi phải tự tử để khỏi bị bắt nộp cho quân La-mã. Tuy nhiên Carthage lại mon men trở lại phồn thịnh, làm cho La-mã quyết tâm diệt để tránh hậu hoạn. Do đó có chiến tranh thứ ba (149 trước Công nguyên đến 146 trước Công nguyên) : sau 3 năm bị vây, Carthage thất thủ và bị san thành bình địa, tương truyền là đất bị rắc muối cho cây cỏ không mọc được. Tất cả các « thuộc địa » phía nam Địa Trung Hải của Carthage bị đế quốc La-mã chiếm, những đất đai đó biến thành một tỉnh của La-mã. Sau này, Jules Cesar (Caius Julius Caesar : sinh năm 100 trước Công nguyên, chết năm 44 sau Công nguyên, Chấp chính (consul) La-mã) cho xây lại một thành phố mới. Ngày nay, còn lại di tích kiến trúc thời Carthage cổ tiền La-mã và thời La-mã. Có nguồn cho rằng Caesar là hậu duệ của … Enée.
Đến năm 439 sau Công nguyên, Carthage bị người Vandales chiếm. Đến năm 533, thì Carthage rơi vào tay người Byzance. Từ năm 698 thì đến lượt người A-rập chiếm Carthage. Trải qua nhiều triều đại, đến năm 1574 thì Carthage thuộc vào đế quốc Ottoman (Thổ-nhĩ-kỳ). Từ 1705, thành lập triều đại Husseinites, được tự chủ, tuy vẫn thuộc đế quốc Ottoman. Đến năm 1881, bị Pháp bảo hộ. Năm 1956 giành lại được độc lập, và từ đó trở thành một nước Cộng hòa, với Tunis là thủ đô, với di tích của Carthage ở ngoại ô bắc của thủ đô này.
4. Thăm Ai -cập
Xuân 1982, lần cuối cùng mà tôi đi du lịch ra khỏi nước Pháp (sau đó vì lý do sức khỏe, tôi không đi đâu nữa), vợ chồng tôi và hai con đi thăm Ai-cập. Thật cũng bõ công, vì từ lâu đã muốn nhìn tận mắt những công trình cổ đồ sộ của xứ này. Lấy máy bay từ Paris đến thủ đô Le Caire (al-Qahira), lấy xe lửa đi thăm Louqsor, trở lại Le Caire, đi xem Saqqara, rồi về, vì thời gian có hạn. Ngay chính tại thủ đô này, chúng tôi cũng không có thì giờ đi thăm các di tích trong thành phố, tuy di tích lịch sử không thiếu : thuở xa xưa thời các vua pharaons, nơi này được (người Hy-lạp) gọi là Memphis, rồi từ thế kỉ 1 đến thế kỉ 7, với người Ki-tô giáo, mang tên gọi Babylone – đừng lẫn với Babylone ở Irak, ở phía nam Bagdad khoảng 160 km – rồi đến thời người Hồi giáo gọi là Fostat, và sang thế kỉ 10, đổi gọi là al-Qahira (mà tiếng Pháp là Le Caire). Rất tiếc là chính tôi chỉ tập trung thăm tóm tắt những nơi thật cổ, không xem thêm được nữa, nhưng cũng tạm đủ để hình dung được nền văn minh này như thế nào.
Chủ yếu, tôi chỉ chú ý đến Ai-cập cổ đại (Egypte ancienne, từ 3500 trước Công nguyên đến 395 sau Công nguyên) gần 4000 năm, 30 triều đại và khoảng 300 vua (pharaon). Có thể tóm tắt các giai đoạn lịch sử đại khái như sau (các tài liệu không hoàn toàn nhất trí, thí dụ như tài liệu của bảo tàng Louvre và tài liệu của từ điển Larousse không giống nhau, chưa kể đến những tài liệu khác):
3500-3300 trước Công nguyên : bắt đầu có vua ; xuất hiện chữ tượng hình (écriture hiéroglyphique), như vậy là rất sớm (thí dụ như so với Trung quốc, chữ viết chỉ xuất hiện ở Trung quốc khoảng 1500 trước Công nguyên).
3100-2700 trước Công nguyên : thống nhất dưới triều đại của một vua (triều đại thứ 1, thứ 2).
2700-2200 trước Công nguyên : các triều đại thứ 3, 4, 5, 6 (Đế chế Cổ đại : Ancien Empire).
2200-2030 trước Công nguyên : Giai đoạn trung gian thứ nhất (Première période intermédiaire), lãnh thổ bị chia thành nhiều xứ độc lập, các triều đại thứ 7, 8, 9, 10, 11.
2030-1710 trước Công nguyên : các triều đại thứ 11, 12, 13 (Đế chế Trung đại : Moyen Empire).
1710-1550 trước Công nguyên : Giai đoạn trung gian thứ nhì (Deuxième période intermédiaire), lãnh thổ bị chia thành nhiều xứ độc lập, các triều đại 14, 15, 16, 17.
1550-1069 trước Công nguyên : các triều đại thứ 18, 19, 20 (Đế chế Tân đại : Nouvel Empire)
1069-664 trước Công nguyên : Giai đoạn trung gian thứ ba (Troisième période intermédiaire), tồn tại của nhiều vua pharaons Ai-cập, Li-bi, Nu-bi (các triều đại 21, 22, 23, 24, 25).
664-332 trước Công nguyên : những giai đoạn độc lập cuối. Bị Ba-tư chiếm. Triều đại 26, triều đại 27 (Ba-tư).
332-30 trước Công nguyên : triều đại Ptô-lê-mê (Hy-lạp - Ma-xê-đoan : gréco-macédonien).
Từ 30 trước Công nguyên : Ai-cập thuộc Đế quốc La-mã; dùng chữ viết theo chữ cái. Phát triển của đạo Ki-tô, vv.
Từ 640 sau Công nguyên, người A-rập chiếm Ai-cập, và « Hồi hóa ».
Từ 1952 nền cộng hòa được thành lập cho đến ngày nay.
Tuy hành trình đi thăm theo trình tự Karnak-Louqsor, Gizeh, Saqqarah), nhưng tôi ghi lại nơi thăm theo thứ tự từ cổ đến « kim ».
Thăm kim tự tháp có tầng ở Saqqarah, do kiến trúc sư Imhotep được lệnh xây dựng vào khoảng 2800 trước Công nguyên cho vua pharaon Djeser, (triều đại thứ 3 thuộc Đế chế Cổ đại). Theo một nguồn thì đây được coi là công trình đầu tiên được xây bằng đá tạc và ghép lại, đáy hình chữ nhật một cạnh dài 125m, một chiều rộng 109m, cao khoảng 57m. Cạnh đó là một quần thể mồ mả quí tộc, rải rác tới hàng mấy cây số, với những phòng trang trí bằng những hình trạm/vẽ trên tường mô tả những cảnh của đời sống hàng ngày thuở đó.
Tiếp đó thuê xe đi thăm mấy kim tự tháp ở Gizeh, cách thủ đô chừng 15 km. Đây là một quần thể gồm các kim tự tháp, lăng của các vua Kheops, Khephren, Mykerinos (các vua kế tiếp đều thuộc triều đại thứ 4), và ba kim tự tháp nhỏ, lăng của các hoàng hậu mẹ và hai vợ của vua Khéops.
Kim tự tháp của Kheops là to nhất, được khởi công xây dựng ngay khi vua này mới lên ngôi (có lẽ vào khoảng 2530 trước Công nguyên), khởi thủy cao chừng 146m, sau chỉ còn 139m vì thời gian làm mòn, nền là một hình vuông mỗi chiều khoảng 230m, bốn mặt là bốn tam giác, xây bằng đá tảng, bên trong có đường hầm dẫn vào tới « phòng » để quan tài bằng đá hoa của vua và phòng khác của hoàng hậu. Theo Hérodote, sử gia Hy-lạp (484-420 trước Công nguyên) thì khoảng 10 vạn thợ xây (ngày nay được ước lượng khoảng 2 vạn thợ) xây cất khoảng 20 năm mới xong. Ngày nay, cách xây kim tự tháp vẫn còn là đề tài tranh cãi mãi, thí dụ như tập san Science et Vie số 1071 tháng 12/2006, còn đăng một giả thuyết là không phải đá tảng đẽo xây nên, mà là đá « đúc » (!?). Cạnh đó là kim tự tháp của Khephren, vua kế vua Kheops, nhỏ hơn một chút, cao khoảng 143m, nền vuông mỗi chiều khoảng 215m. Rồi xa hơn chút nữa là kim tự tháp của Mykerinos cao 66m, nền vuông mỗi chiều 108m. Phía bên kia của kim tự tháp của Kheops là ba kim tự tháp nhỏ, lăng của các hoàng hậu mẹ và hai vợ của vua Kheops. Cách đó một quãng là tượng đá của Sphinx, một thú vật thần thoại, mình sư tử đầu người [3] , cao 20m, cả thân và chân dài hơn 73m, mặt dài 5m, tượng trưng cho thần mặt trời Hamarkhis ; có thuyết cho rằng mặt là mặt Khephren, được xây dựng để giữ đền thờ thần mặt trời.
Trở lại câu chuyện Sphinx ở Gizeh : người ta tìm thấy một tấm bia giữa hai chân tượng, bia này kể câu chuyện giấc mơ của ông hoàng Thoutmosis, lúc còn trẻ chưa được chọn để làm vua. Một hôm tránh nắng gần tượng Sphinx sau một buổi săn, mệt mỏi ngủ thiếp đi. Trong giấc mơ thấy chính thần Sphinx hiện ra bảo rằng : nếu chàng cho xúc bỏ cát đang dần dần vùi tượng của thần, thì sau này chàng sẽ được làm vua. Tỉnh dậy, Thoutmosis thực hiện điều đó, và sau này, tuy không phải là người được chấm để nối nghiệp, rốt cục cũng được lên làm vua, đó là vua Thoutmosis IV thuộc triều đại 18. Không thấy kể là ông ta lên ngôi bằng cách nào, nhưng có lẽ câu chuyện mộng mị này cũng giúp ông ta củng cố cương vị « chính đáng » của ông ta. Câu chuyện thần xen vào chuyện người, cũng đã xảy ra trước thời vua này, ở thời vua bà Hatchepsout mà tôi sẽ kể dưới đây [4] .
Trở lại chuyện Ai-cập. Các kim tự tháp đã gây ấn tượng, mà chuyến thăm Karnak và Louqsor thuộc kinh đô cũ Thèbes, cũng không kém.
Karnak là một quần thể rộng lớn, khoảng 25 héc-ta, có tường rộng khoảng 9m cao 21m bao bọc, được xây dựng ngay sát bờ sông Nil, về phía nam Le Caire khoảng 700 km, gồm nhiều công trình kiến trúc, đền đài đồ sộ. Niên đại khởi thủy của Karnak không được xác định, phỏng đoán có thể là vào khoảng triều đại thứ 3 (?), nhưng có một đền thờ thần Amon được xác định là xây cất dưới thời vua Antef II, thuộc triều đại thứ 11. Các vua nối tiếp xây cất, đặc biệt là ở triều đại 18 thuộc Đế chế Tân đại và sau đó ; tóm lại là xây cất kéo dài từ khoảng thế kỉ 20 trước Công nguyên đến thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên. Đền đài Karnak là nơi thờ cúng, gồm 3 khu vực : khu vực phía bắc thờ thần Montu, khu trung tâm thờ thần Amon-Rê, khu vực phía nam thờ thần Mout, trong thần thoại Ai-cập, mỗi khu đều có tường bao quanh. Tóm tắt tả vài công trình để thấy sự đồ sộ của nơi này : Có con đường dẫn từ khu vực đền đài đến sông Nil, hai bên có hai hàng tượng sphinx [3] mình sư tử đầu cừu đực sừng cong (triều đại thứ 19). Cổng đền (pylone) thứ nhất (trong số mười cái), dài 113m, dày 15m, cao khoảng 40m, xây dựng vào triều đại thứ 30, nghĩa là tương đối « mới » nhất. Có « phòng » xây dưới thời vua Sethi I và con nốí nghiệp là vua Ramses II (triều đại thứ 18), rộng 52m dài 103m, có 134 cột đá đỡ trần, trong đó có tới 12 chiếc cao khoảng 23m, chu vi mỗi cái 10m. Có công trình kiến trúc dưới thời vua Amenophis III (triều đại thứ 18), với 11 pho tượng khổng lồ tạc vua này dưới dạng đứng. Có « đền phía Đông », xưa có cột tháp bia (obélisque) cao nhất của quần thể này (33m) dựng dưới thời các vua Thoutmosis III và IV ; đến thời La-mã, cột này bị dỡ, và sau bị đem dựng lại ở Roma, tại quảng trường Saint Jean de Latran.
Đền Louqsor, cũng sát bờ sông, cách Karnak khoảng 2km, nối liền với Karnak bằng một con đường dài, đôi bên có hai hàng tượng đá sphinx mình thú đầu người. Đó cũng là nơi thờ bộ ba thần Amon-Rê, Mout et Khonsou. Đền này được khởi xây dưới thời vua Amenophis III (thuộc triều đại thứ 18), nhỏ hơn Kanark, « chỉ » dài 260m rộng 50m, rồi được các vua kế tiếp bổ sung, thí dụ như cổng đền (pylone) xây dưới thời vua Ramsès II với 2 cột tháp bia bằng đá cao tới 25m và 2 tượng đá khổng lồ tạc vua Ramsès II dưới dạng ngồi. Trong đền còn có nhiều các cột đá cao vút, và nhiều tượng đá khổng lồ khác như 2 tượng đá khổng lồ tạc vua Ramsès II và hoàng hậu Nefertari và một cột tháp bia (obélisque), lẽ ra là một đôi, nay chỉ còn một cái tại chỗ – cái kia thì phó vương Ai-cập Mehemet Ali tặng vua Pháp Louis-Philippe, và được dựng từ năm 1836 ở quảng trường La Concorde ở Paris). Trước đó, vua nối nghiệp vua Amenophis III là Akhénaton (trước đó mang tên là Amenophis IV), thay đổi, bỏ việc tôn thờ thần Amon-Rê và đa thần, để thờ một thần duy nhất Aton, và bắt quần thần và nhân dân theo đạo mới do mình đặt ra. Cũng dưới thời nhà vua này, có nhiều sự thay đổi, thí dụ như trong cách xây cất, không dùng những khối đá to lớn, mà dùng những viên đá nhỏ hơn, do đó việc xây cất nhanh chóng hơn, hoặc như nhà vua để cho vợ yêu là hoàng hậu Nefertiti tham gia cùng với mình trong các nghi lễ hay công việc triều chính, hoặc như việc dời đô từ Thèbes sang Amarna. Nhưng tất cả những « cải cách » đó cũng chỉ tồn tại mươi năm, những vua kế nghiệp trở lại với cổ lệ, xóa bỏ việc thờ Aton để trở lại tôn giáo cũ. Trong đám vua nối nghiệp, có vua Thoutankhamon được người đời nay biết tiếng, không phải là vì ông là vua tài ba, mà là vì mả ông được phát hiện vào năm 1922 còn nguyên vẹn – từ hơn 3300 năm chưa bị trộm cắp xâm phạm – với nhiều vàng bạc châu báu, như cỗ quan tài gồm ba lớp, mà lớp trong cùng bằng vàng nặng tới khoảng 110 kg.
Phía bên kia (phía tây) sông Nil so với Louqsor và Karnak và cách đấy khoảng 3km, không có cây cỏ, là « thung lũng mả vua » (vallée des rois), hiện có khoảng 62 mả được phát hiện, trong số đó có 25 mả là mả vua. Quần thể mồ mả này có niên đại thuộc Đế chế Tân đại (khoảng từ triều đại thứ 18 và đến triều đại thứ 23). Vào thời đại này, các vua không xây lăng kiểu kim tự tháp nữa mà cho xây lăng tẩm dưới hình thức những đền thờ đồ sộ.
Cạnh đó là « thung lũng mả hoàng hậu » (vallée des reines) với khoảng 80 mả gồm một số mả vợ vua và thân thuộc của hoàng gia, kiến trúc thường nhỏ hơn, trừ đền Deir El-Bahari của nữ hoàng Hatchepsout, vua bà nổi tiếng nhất (trong 5 vua bà trong lịch sử Ai-cập), trị vì hơn 20 năm vào khoảng 1500 năm trước Công nguyên (triều đại thứ 18 thuộc Đế chế Tân đại). Huyền thoại về bà này cũng ly kỳ, được kể qua những di tích trong đền của vua Aménophis III ở Louqsor : Amon-Rê, thần chúa tể của các thần và là « thượng đế » của các vua Ai-cập, quyến rũ hoàng hậu Ahmès, vợ vua Thoutmosis I (còn gọi là Thoutmès I). Một đêm, thần biến dạng thành hình dáng vua, vào phòng hoàng hậu Ahmès và mê mẩn vì sắc đẹp của bà trong giấc ngủ, lách vào trong chăn của bà. Bà tỉnh giấc, được thần tiết lộ cho biết mình là ai. Trải qua một cuộc mây mưa, thần báo cho biết là bà sẽ đẻ ra con thánh, và đặt tên sẵn cho đứa bé gái tương lai là Hatchepsout, và cho bà biết sau này đứa con gái này sẽ làm vua Ai-cập [5]. Khi vua Thoutmosis I chết, theo tập tục trong hoàng gia, Hatchepsout lấy anh trai cùng cha khác mẹ là Thoutmosis II, một vua kém, nên bà tự nắm quyền và lên ngôi vua ở Karnak (chính bà làm vua, cũng mang râu giả, ăn mặc quần áo như vua « đực », chứ bà không đóng vai thái hậu chấp chính). Khi Thoutmosis II chết, bà lấy cháu gọi bằng cô là Thoutmosis III (?), nhưng bà vẫn trị vì một mình. Bà là một vị vua giỏi. Nhưng không rõ nguyên cái chết của bà, có thuyết cho rằng Thoutmosis III sai người ám sát bà. Vua nối nghiệp này cũng là một vua giỏi ; nhưng dù cho ông cố sức xóa dấu vết của bà, danh tiếng của bà vẫn còn để lại cho hậu thế. [Một bí ẩn lâu đã từ 3500 năm về bà nữ hoàng Hatchepsout nghe đâu nay mới có được lời giải. Bí ẩn đó là : « xác của bà Hatchepsout đâu ? ». Như đã kể trên đây, sau khi bà mất, vua Thoutmosis III nối nghiệp, sai đục bỏ hết dấu vết của bà trên các bia lăng, xác bà bị bỏ ra khỏi quan tài, và « biến » đi đâu mất. Năm 1903, phát hiện ra một xác ướp, để ngay dưới đất, trong ngôi mộ của bà vú nuôi bà Hatchepsout. Đó là một xác ướp một người phụ nữ mập, khoảng 50 tuổi, miệng thiếu một chiếc răng hàm. Thuở đó cũng đã sự hoài nghi, nhưng không có bằng chứng. Xác này bị bỏ quên trong kho bảo tàng. Mặt khác, năm 1881, có tìm thấy một cái hộp « đựng đồ tang», mang dấu ấn của Hatchepsout, trong đựng một mẩu răng. Mới đây, nhà khảo cổ Ai-cập Zahi Hawass mới phát hiện ra rằng cái răng này khớp với cái hàm của cái xác kia. Mấy nhà khảo cổ khác còn chưa hẳn tin : họ đời kết quả của sự thử nghiệm ADN. Hạ hồi phân giải !
Cùng phía bên kia sông Nil, có hai pho tượng khổng lồ bằng đá, cao 18m, nặng khoảng 1300 tấn, tượng của vua Amenophis III, tượng ngồi, hai tay đặt trên đùi. Hai tượng này thuở xưa gác ngôi đền nghe nói rất rộng thờ vua nói trên, đền nay đã mất. Với thời gian, mặt tượng cũng đã bị mòn (đã hơn 3000 năm rồi mà!). Tương truyền, năm 27 trước Công nguyên, một trận động đất làm sụp phần lớn ngôi đền, và tượng phía bên phải bị nứt từ vai đến mông, và từ thời điểm ấy, cứ lúc mặt trời mọc ra là phát ra tiếng rên/hát. Ngày nay có thuyết cắt nghĩa rằng, ánh nắng mặt trời buổi sớm làm nóng kẽ nứt của đá, gây ra tiếng động. Vì thế mà thuở ấy, người Hy-lạp gán tượng này cho Memnon trong thần thoại Hy-lạp : Memnon, vua xứ Ethiopie và Ai-cập, mang quân sang cứu bác/chú là vua Priam xứ Troie ; bị Achille giết chết. Mẹ là nữ thần Eos, (tức là Aurore, Bình minh, nghĩa là lúc trời hửng sáng ngay truớc khi mặt trời mọc), van xin Zeus, chúa tể các thần, cho Memnon sống lại. Về việc pho tượng phát ra tiếng mỗi khi mặt trời mọc, người Hy-lạp thuở đó cho là Memnon sống lại cất tiếng chào mẹ mình, nên mới gán cho tượng này là tượng của Memnon. Tới thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên, hoàng đế La-mã Septime Severe, vì thiện chí, cho tu sửa lại pho tượng này, nhưng từ đó bặt im, không phát ra tiếng nữa.
Chúng tôi rất tiếc đã không có thêm vài ngày để đi nối xuống tận cực nam của Ai-cập, để xem thêm Abu Simbel, đền xây dưới thời vua Ramsès II (đã có dịp nói trên đây ở Karnak và Louqsor), là một trong những vị vua nổi tiếng nhất của Ai-cập, thuộc triều đại 18, trị vì trong 67 năm (bắt đầu từ khoảng 1300 trước Công nguyên). Tên [hai] đền Abu Simbel được biết đến nhiều, do việc xây đập Assouan và hồ Nasser, do yêu cầu về kinh tế (thủy điện và nông nghiệp); vì thế nước ngập một vùng rộng lớn. Do sự yêu cầu của Ai-cập, với sự hỗ trợ quốc tế và dưới sự chỉ đạo của UNESCO (Tổ chức liên hợp quốc về Giáo dục, văn hóa, nghệ thuật), từ 1963 đến 1968, đền này được xẻ thành 1036 tấm nặng tới 30 tấn, để nâng lên cao 60 m trên sườn núi và ghép lại như cũ. Hình ảnh cửa đền này với 4 pho tượng khổng lồ cao 21 m trong dạng ngồi, gây ấn tượng lớn. Không được đến nơi xem tận mắt, tôi cũng thấy tiếc. Cũng như rất tiếc không tới thăm được Alexandrie, thành phố do đại đế Alexandre xây dựng lên (vào khoảng năm 332 trước Công nguyên), nổi tiếng một phần vì « đài » hải đăng (phare), một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại phương Tây, nay không còn nữa.
Lịch sử Ai-cập rất dài, những di tích cổ rất nhiều, tất nhiên đối với một người đi thăm lướt qua như tôi, chỉ có thể tóm tắt « lõm bõm » vài nét, nhất là thuở tôi đi thăm ấy, rất ít thì giờ. Nhưng cũng may là tôi đã kết thúc những chuyến du lịch của tôi bằng Ai-cập : theo nhận xét riêng của tôi, không nơi nào có những di tích cổ và to lớn như Ai-cập.
Chú thích.
[1]. Nói tới kênh đào này, tôi liên tưởng tới một bài viết về việc phái bộ Phan Thanh Giản (1796-1867) sang Pháp năm 1863 để xin chuộc lại 3 tỉnh phía tây Nam kỳ : bài « Lá cờ khăn gói » trong « Chuyện cũ cố đô », của Nguyễn Đắc Xuân, nxb Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên 1987 ; tác giả bài này viết : « Khi tàu sắp vào kênh Xu-ê (Suez), viên quan Pháp cho sứ đoàn biết … ». Chắc là ông viết nhầm hay nhà xuất bản in sai, vì 1863 là sáu năm trước khi kênh được khánh thành. Theo anh NLT mách cho tôi biết : theo cuốn Tây phù nhật ký của Phạm Phú Thứ, phó sứ, sứ bộ nhập cảng Suez lên bờ, sau đó đi xe lửa đến thủ đô Le Caire (al-Qahira), yết kiến phó vương Ai-cập, rồi đi tiếp xe lửa đến Alexandrie, từ đó đáp tàu thủy sang cảng Toulon ở Pháp.
[2]. Pygmalion, vừa là vua vừa là nhà điêu khắc giỏi, vốn không thích phụ nữ, chỉ thích khắc tượng. Nhưng chẳng may lại mải miết khắc một cái tượng phụ nữ bằng ngà, đẹp vô cùng. Nữ thần Aphrodite chơi xỏ, phù phép làm chàng đâm ra mê. Thần hồi tâm, biến tượng thành người (sau này gọi là Galatée), và còn dự đám cưới của cặp này.
[3] Nói chung, Sphinx là tên chung chỉ những thú thần thoại Ai-cập và Hy-lạp, mình sư tử đầu người hay đầu thú. Cho nên chớ lầm Sphinx ở Gizeh này với chuyện Sphinx « trùng tên » trong thần thoại Hy-lạp ; Sphinx Hy-lạp đầu phụ nữ mình thú, là một quái vật phá hoại mùa màng và thích ăn thịt người, ngồi trên tảng đá cao, chất vấn khách qua đường bằng câu đố : « Vật gì sáng bốn chân đi, trưa hai chân đứng, chiều thì lại ba ». Ai không trả lời được thì bị ăn thịt. Cho đến một ngày, chàng Œdipe đi qua, bị hỏi câu đó, chàng trả lời : « Đó là con người : lúc còn nhỏ, chỉ biết bò nên dùng bốn chân tay ; lúc nhớn lên, đi bằng hai chân ; lúc già yếu phải chống gậy nên có ba chân ». Con quái nữ Sphinx tức giận vì có người trả lời được câu đố của mình, mới nhảy từ trên cao xuống đất chết. Chuyện này tôi có đọc trong sách giáo khoa ta thuở nhỏ, cứ tưởng là chuyện Việt Nam, sau này mới biết là chuyện thần thoại Hy-lạp ! Nhân nói đến chàng Œdipe, cũng xin kể tiếp thêm một chút : Vua xứ Thèbes chậm có con nối, mới đi cầu xin lời sấm (oracle) của thánh thần nơi Delphes. Lời sấm phán rằng sẽ có con trai, nhưng nó sẽ giết cha và lấy mẹ. Khi đứa con trai đẻ ra, hoàng hậu Jocaste sợ lời sấm, nhưng không nỡ giết con, mới đem bỏ đứa bé vào trong núi. Mấy người chăn cừu nhặt được, cứu đứa bé và dâng cho vua xứ Corinthe. Vua này và hoàng hậu không có con, nuôi Œdipe như con đẻ của mình. Lớn lên, Œdipe mới biết có lời sấm đó, chàng sợ hãi và vẫn tưởng rằng vua và hoàng hậu Corinthe là cha mẹ đẻ của mình, vội vã bỏ đi. Dọc đường, tình cờ gặp vua Thèbes, nhưng không biết là bố đẻ của mình, do có sự gây gổ lục đục, Œdipe giết ông này, rồi đi tiếp. Rồi gặp con quái nữ Sphinx, như đã kể trên, và diệt được nó. Dân xứ Thèbes cảm ơn chàng đã trừ được con quái, mới tôn chàng làm vua, và chàng lấy hoàng hậu Jocaste mà không biết là mẹ đẻ của mình, và đẻ ra mấy con. Vài năm sau, bệnh dịch phát ra, một lời sấm khác phán rằng phải đuổi kẻ giết vua trước đi ; một thày bói mới tiết lộ sự thật trước đây. Hoàng hậu Jocaste tự treo cổ chết, Œdipe tự đâm mù hai mắt, bỏ đi và chết nơi khác. Ngày nay, trong ngành phân tích tâm lý (psychanalyse), có cụm từ « complexe d’Œdipe » [« phức cảm » Œdipe, do Sigmund Freud tạo ra năm 1910 để chỉ một giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ em : sự gắn bó tình cảm mật thiết của nó đối với người cha/mẹ khác giới (sexe opposé) của nó.]
[4]. Cái chuyện thần báo mộng này, thật là hữu ích, ở bất cứ nền văn minh nào. Tôi không khỏi liên tưởng nghĩ đến sử ta, tuy không có niên đại xa xăm như Ai-cập, thí dụ như mấy chuyện nhắc lại sau đây :
- Tục truyền rằng Lý Công Uẩn (sau lên ngôi vua tức là vua Lý Thái tổ) không có cha, bà mẹ đi chơi chùa Tiêu Sơn, nằm mộng thấy mình ngủ với thần rồi về có thai, mà đẻ ra ông (theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ; còn Đại Việt sử ký thì không viết là « nằm mộng » mà chỉ viết là cùng với « người thần » giao cấu rồi có chửa ; tôi không biết là nên nhấn mạnh đến chữ « thần » hay đến chữ « người »). Dù sao, vậy cũng là « không chồng mà chửa mới ngoan, có chồng mà chửa thế gian thường tình », quả là chân mệnh đế vương.
- Chuyện Lê Lợi khi vây thành Nghệ An (1425) đêm chiêm bao thấy thần Phổ Hộ báo mộng, xin cho thần một người thiếp, thần sẽ giúp đánh thắng giặc Minh lập nên nghiệp đế. Hôm sau, Lê Lợi gọi các bà vợ đến hỏi : « Ai bằng lòng làm thiếp của thần, ta lấy được thiên hạ thì sẽ truyền ngôi thiên tử cho con người ấy ». Bà Ngọc Trần, mẹ của Nguyên Long (vua Lê Thái Tông sau này) nhận lời. Lê Lợi sai làm lễ tế thần, dùng bà làm vật tế, bà bèn mất. (Theo Lam Sơn thực lục dẫn trong cuốn « Nghiên cứu chữ húy ở Việt Nam qua các triều đại », của Ngô Đức Thọ, nxb Văn hóa 1997). Tôi không phải là hậu duệ của Tào Tháo đa nghi, nhưng cũng không khỏi tự đặt câu hỏi : trong thiên hạ thiếu gì gái đẹp mà phải đem chính vợ mình mà tế thần như dâng một của thừa. Mà giả thử như phải hối lộ thần một cách gấp rút vì sắp đánh thành Nghệ An, thì cũng có thể theo truyền thống nước mình (?) làm hình nộm gái đẹp đem đốt cho thần – ngày nay ở giữa cái năm 2007 này, người ta vẫn đốt đô-la giả, ô-tô, nhà lầu, vv. cho âm phủ đó ! – cho nên phải chăng nên tìm câu trả lời từ một khía cạnh khác ? Hay là một công giải quyết đôi ba việc luôn thể : lấy cớ để sửa soạn chọn con nối. Lê Lợi có nhiều con, trong đó có người con cả là Tư Tề. Việt sử thông giám chính biên (bản dịch của Tổ biên dịch Ban nghiên cứu văn sử điạ, Hà Nội) viết : [Thái Tổ] lập con trưởng là Tư Tề làm quốc vương […] tạm quyền coi quản việc nước, xét xử chính sự, đồng thời phong con thứ là Nguyên Long làm hoàng thái tử, đợi ngày thành tài, làm việc coi giữ nhà nước, vỗ về quân đội,… Sau lại viết Tư Tề ngông cuồng càn bậy. Đại Việt sử ký (bản dịch của Cao Huy Giu ; Đào Duy Anh hiệu đính) viết : mùa thu tháng 8 [năm Quý sửu, 1433] giáng con trưởng Tư Tề làm quận vương, lấy con thứ là Nguyên Long nối tôn thống. Lại viết : [vua Thái tông] mẹ là Cung Từ hoàng thái hậu, họ Phạm, húy là Trần, … Bấy giờ vua mới 11 tuổi, không cần mẫu hậu che rèm nghe việc, mà công việc trong nước đều tự mình làm cả. Việt sử thông giám chính biên thì viết rõ hơn : thái mẫu [mẹ vua Thái Tông tức bà Ngọc Trần], đã mất từ trước, đến nay [năm Thiệu Bình thứ 1], truy tôn làm Cung Từ quốc thái mẫu ; như vậy có lẽ là nói rằng bà này trước đây đã chết rồi, nhưng chết vì sao thì không thấy viết. Sử và dã sử xen kẽ ? Dù sao, chuyện thần báo mộng là khiếp lắm.
- Giấc mộng của ông Hồ Tông Thốc (thời Trần) ở đền Hạng vương, trong chuyến sứ sang Tàu, kể trong cuốn Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thời Mạc). Đã là chuyện nằm mơ, thì tha hồ phê phán vua chúa, nhất là vua chúa Tàu, vua ta chẳng có lý do để mà bắt lỗi. (Tôi đã có dịp đề cập tới trong cuốn « Học gần Học xa »).
- Theo Hoàng Lê nhất thống chí, mẹ chúa Trịnh Khải là Ngọc Hoan, được tuyển vào làm cung nữ của chúa Trịnh Sâm (vì chị bà trước là cung nữ được yêu của chúa Trịnh Doanh, bố Trịnh Sâm). Nhưng được tuyển vào cung, mà không được chúa Trịnh Sâm ngó tới, nên ngày đêm nàng vẫn cô quạnh. Bỗng một đêm, nàng mơ thấy một vị thần đem cho tấm đoạn có vẽ đầu rồng. Nàng « không hiểu » đó là điềm gì, mới đem chuyện này hỏi viên hoạn quan Khê Trung hầu. Viên này biết là điềm sinh con « thánh ». Đêm sau, nhân dịp chúa sai gọi cung tần Ngọc Khoan vào « hầu » , Khê Trung hầu cố ý giả nghe lầm tên, đưa Ngọc Hoan vào. Chúa không thích, nhưng đã trót gọi đến, không nỡ đuổi ra. Nàng chỉ trải qua « một trận mưa móc », liền có thai ngay. Sau đó, sinh ra Trịnh Khải. Chúa Trịnh Sâm nghĩ đầu rồng tuy có khí tượng làm vua, nhưng chỉ là rồng vẽ không phải rồng thật, mà lại chỉ có đầu không có đuôi, chưa hẳn đã là điềm tốt cả. Như vậy là cái ông thần trong mộng này cũng oái ăm : nhờ ông mà bà Ngọc Hoan, với sự đồng lõa của Khê Trung hầu, mới được hưởng « một trận mưa móc », để sau đó lòi ra được cái ông chúa Đoan Nam vương Trịnh Khải ; nhưng ông thần chỉ cho tấm đoạn có vẽ đầu rồng, có thể vì vậy mà làm cho chúa Trịnh Sâm không ưa con cả, mà yêu con thứ Trịnh Cán do bà chúa Chè Đặng Thị Huệ đẻ ra, để cho cơ nghiệp chúa Trịnh đến nỗi : « Chẳng đế chẳng bá, quyền nghiêng thiên hạ ; truyền được tám đời, trong nhà dấy vạ »…
Lời nói đầu -Học một sàng khôn
Lời nói đầu
Tục ngữ có câu :
« Đi một ngày đàng,
Học một sàng khôn ».
Theo tôi hiểu thì người xưa có ý muốn khuyên đừng có bo bo « ở nhà nhất mẹ nhì con », mà nên đi ra khỏi cổng, ra khỏi lũy tre xanh (ngày nay không còn nữa), để tìm hiểu học hỏi nơi người khác, vì « ra đường còn lắm kẻ giòn hơn ta ». Vả lại, từ nhỏ, tôi vẫn muốn làm sao tránh cho mình khỏi là con « ếch nằm đáy giếng, coi trời bằng vung », nên khi có dịp thì cố đi cho biết.
Suy rộng ra, ngày nay, với những phương tiện hiện đại, « đi » không còn có nghĩa là thể xác phải lấy tàu xe chu du thiên hạ để mắt thấy tai nghe, mà có thể đọc sách, tham khảo tài liệu, sử dụng những phương tiện truyền thông, trao đổi thông tin, để « học ». Thu nhặt được « một sàng khôn » thì chưa chắc, nhưng cái ý tưởng cố gắng « học » để biết thì tôi nghĩ là cần thiết nên có.
Nhân nói tới « đi đó đi đây », cũng xin có vài lời (bên lề) về các cuốn sách hướng dẫn « du lịch ». Ở phương Đông thì tôi không biết – có những cuốn « du kí » nào được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy ? – ở phương Tây thì cuốn sách cổ nhất là cuốn « Miêu tả nước Hy-lạp » của Pausanias, thế kỉ 2 sau Công nguyên. Rồi tới cuối thời Trung cổ châu Âu – Trung cổ châu Âu : từ cuối thế kỉ 5 khi đế quốc La-mã phương Tây sụp đổ, đến giữa thế kỉ 15, khi thủ đô Constantinople của đế quốc La-mã phương Đông thất thủ, rơi vào tay vua Hồi giáo Mehmed II – nhất là sau cuộc « chiến tranh một trăm năm », cũng có những loại sách như vậy. (Nguồn : La longue route des guides touristiques trong tạp chí « Lire » số 346, 2006).
Cuốn sách này của tôi chỉ nhắm đưa ra các điều linh tinh thu lượm được trong mục tiêu học hỏi đó, không dám chắc là có ích cho bất cứ ai.
Xin nhắc lại mấy điều tôi đã viết mào đầu cho cuốn sách « Học gần, Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 : Tôi vốn là một nhà giáo. Thuở trẻ thì đi học ; lúc vào đời thì dạy học. Nhưng dạy học thì cũng vẫn luôn luôn phải học, học để trau dồi nghề nghiệp, nhưng cũng học để hiểu biết thêm thế giới chung quanh mình, vì mọi sự hiểu biết đều có liên quan. Trong bốn mươi năm hành nghề giáo sư đại học ở Pháp trong khuôn khổ chuyên môn của mình, tôi chăm chú chắt lọc, thu gọn những hiểu biết tích lũy của thiên hạ và những tìm tòi suy ngẫm của chính mình, tìm những cái mà mình cho là tinh túy để ghi thành những bài giảng, để chuyển giao cho những sinh viên của mình. Tôi vẫn nghĩ rằng đó là cách tiết kiệm thời giờ nhất, có hiệu quả nhất, để chuyển giao kiến thức cho những người theo học, dù ở bất cứ cấp bậc nào, dù là ở năm đầu đại học hay ở cấp nghiên cứu sinh ; thu gọn thì giờ cho họ, để họ có thời gian suy ngẫm tự tìm hiểu thêm những điều cần biết và muốn biết. Đó là trong khung cảnh nghề nghiệp của tôi.
Như đã nói trên, ngoài đời, tôi cũng có nhiều điều phải học hỏi, về lịch sử, về văn hóa, về học thuật, về cách ứng xử, vv. Học hỏi đây, không chỉ qua việc đọc sách, đọc báo, đọc tin, tìm tài liệu, mà còn qua những trao đổi với những người khác, điều gì biết được thì nhớ lấy, điều chưa tỏ thì hỏi những người đã biết. Những sự tích lũy đó, mà tôi đã « học gần, học xa », tôi không muốn bỏ phí. Từ một số năm nay nghỉ hưu, tôi chẳng còn bổn phận phải chuyển giao hiểu biết cho ai nữa ; nhưng cái ý tiết kiệm thời giờ cho người khác vẫn còn đó ; vì thế nên tôi muốn ghi chép lại một số điều đã tích lũy, để « tặng » những ai muốn đọc, muốn biết, hoặc muốn giải trí trong lúc thư nhàn..
Sự hiểu biết là vô tận, ai mà biết hết được những điều muốn biết ! Mục tiêu cuốn sách này rất là khiêm tốn : ghi chép lại một số điều đã thu thập được về những chuyện đông, tây, kim, cổ, dưới dạng trao đổi không « hàn lâm », với cách viết bình dị nhất.
Tự tôi không thể biết xếp cuốn sách này vào thể loại nào, tạp sử trá hình ? tạp luận ? tùy bút ?… Hình như từ « tạp » trong tiếng Việt Nam ta là một từ không biểu hiện sự « sang trọng », thuần túy, « phải đạo ». Nhưng tôi là người « bất cơ », nếu dùng theo nghĩa của Tư Mã Thiên, nghĩa là không biết buộc mình theo tập tục, mà vượt ra ngoài lề thói. Cũng chẳng khác gì chữ « tạp » ngày nay. Chất hỗn hợp hiện giờ coi bộ cũng thịnh trong công nghệ đấy chứ, đâu cứ phải nguyên chất, thuần đạo, mới là hay…».
Những lời viết đó cho cuốn sách dẫn trên, vẫn còn giá trị cho cuốn sách này.
Đi đâu và học gì ? Thuở còn trẻ, tôi cũng có dịp được đi thăm một số nước ; trước khi tới nước đó, tôi thường cố tìm hiểu chút ít để khỏi bỡ ngỡ tại chỗ, do đó tôi muốn ghi chép lại dưới đây những điều (có thể là sơ lược) đã được biết ấy. Nhưng không biết tại sao, khi nhìn thấy những gì của nước người, rốt cục tôi lại quay về nhớ tới quê hương cũ, tuy tôi chỉ sống ở đó khoảng hơn 15 năm. Vậy xin độc giả đừng lạ nếu một phần cuốn tạp ký này lại đề cập đến chuyện nước nhà, và chuyện … giáo dục đào tạo.
Thời gian không có nhiều, hay nói kỹ hơn, tôi e không còn nhiều cho tôi. Vì thế tôi đã gạt ra một số chuyện, hy vọng may mắn còn có một ngày nào đó, lại có dịp kể tiếp.
Trong những trang sau đây, tôi đã gặp phải những khó khăn trong cách ghi tên các nhân vật, cũng như các địa danh nước ngoài. Tôi muốn nhắc lại những điều tôi đã viết trong phần mở đầu của cuốn sách « Học gần Học xa » đã dẫn trên đây :
Viết sách, tôi mới nhận thấy những khó khăn khi ghi tên người, hoặc địa danh nước ngoài, nhất là tiếng ta hình như chưa định chuẩn thống nhất. Ghi bằng tự dạng nước gốc, thì tất nhiên không phải lúc nào cũng có thể làm được (như chữ Hán, chữ A-rập, …), phiên âm từ cách phát âm bản xứ cũng thế ; rồi viết có gạch nối hay không, vv. Có lẽ tên ta hoặc tên Tàu, vì do ngôn ngữ đơn tiết, tôi sẽ viết không gạch nối. Còn tên thuộc ngôn ngữ khác, khi phiên âm, tôi đành để gạch nối, với chữ hoa khởi đầu, chứ không dùng chữ hoa sau gạch nối. [...] Biết viết thế nào cho hợp ? Rốt cục, tôi đánh cố gắng tùy trường hợp, ghi bằng cách nào mà tự mình cho là phù hợp hơn cả, mặc dù tôi sống ở Pháp, quen với cách phát âm của người Pháp, nên có phần thiên vị ngả về tiếng Pháp hơn.
Các phần viết không cứ phải theo một thứ tự thời gian, và có phần tùy hứng, tùy tiện. Đó cũng phần nào vin vào chữ « tạp ». Cám ơn những bạn đọc nào bỏ công đọc những trang sau đây.
Paris, 28/9/2007.
Bùi Trọng Liễu
Tục ngữ có câu :
« Đi một ngày đàng,
Học một sàng khôn ».
Theo tôi hiểu thì người xưa có ý muốn khuyên đừng có bo bo « ở nhà nhất mẹ nhì con », mà nên đi ra khỏi cổng, ra khỏi lũy tre xanh (ngày nay không còn nữa), để tìm hiểu học hỏi nơi người khác, vì « ra đường còn lắm kẻ giòn hơn ta ». Vả lại, từ nhỏ, tôi vẫn muốn làm sao tránh cho mình khỏi là con « ếch nằm đáy giếng, coi trời bằng vung », nên khi có dịp thì cố đi cho biết.
Suy rộng ra, ngày nay, với những phương tiện hiện đại, « đi » không còn có nghĩa là thể xác phải lấy tàu xe chu du thiên hạ để mắt thấy tai nghe, mà có thể đọc sách, tham khảo tài liệu, sử dụng những phương tiện truyền thông, trao đổi thông tin, để « học ». Thu nhặt được « một sàng khôn » thì chưa chắc, nhưng cái ý tưởng cố gắng « học » để biết thì tôi nghĩ là cần thiết nên có.
Nhân nói tới « đi đó đi đây », cũng xin có vài lời (bên lề) về các cuốn sách hướng dẫn « du lịch ». Ở phương Đông thì tôi không biết – có những cuốn « du kí » nào được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy ? – ở phương Tây thì cuốn sách cổ nhất là cuốn « Miêu tả nước Hy-lạp » của Pausanias, thế kỉ 2 sau Công nguyên. Rồi tới cuối thời Trung cổ châu Âu – Trung cổ châu Âu : từ cuối thế kỉ 5 khi đế quốc La-mã phương Tây sụp đổ, đến giữa thế kỉ 15, khi thủ đô Constantinople của đế quốc La-mã phương Đông thất thủ, rơi vào tay vua Hồi giáo Mehmed II – nhất là sau cuộc « chiến tranh một trăm năm », cũng có những loại sách như vậy. (Nguồn : La longue route des guides touristiques trong tạp chí « Lire » số 346, 2006).
Cuốn sách này của tôi chỉ nhắm đưa ra các điều linh tinh thu lượm được trong mục tiêu học hỏi đó, không dám chắc là có ích cho bất cứ ai.
Xin nhắc lại mấy điều tôi đã viết mào đầu cho cuốn sách « Học gần, Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 : Tôi vốn là một nhà giáo. Thuở trẻ thì đi học ; lúc vào đời thì dạy học. Nhưng dạy học thì cũng vẫn luôn luôn phải học, học để trau dồi nghề nghiệp, nhưng cũng học để hiểu biết thêm thế giới chung quanh mình, vì mọi sự hiểu biết đều có liên quan. Trong bốn mươi năm hành nghề giáo sư đại học ở Pháp trong khuôn khổ chuyên môn của mình, tôi chăm chú chắt lọc, thu gọn những hiểu biết tích lũy của thiên hạ và những tìm tòi suy ngẫm của chính mình, tìm những cái mà mình cho là tinh túy để ghi thành những bài giảng, để chuyển giao cho những sinh viên của mình. Tôi vẫn nghĩ rằng đó là cách tiết kiệm thời giờ nhất, có hiệu quả nhất, để chuyển giao kiến thức cho những người theo học, dù ở bất cứ cấp bậc nào, dù là ở năm đầu đại học hay ở cấp nghiên cứu sinh ; thu gọn thì giờ cho họ, để họ có thời gian suy ngẫm tự tìm hiểu thêm những điều cần biết và muốn biết. Đó là trong khung cảnh nghề nghiệp của tôi.
Như đã nói trên, ngoài đời, tôi cũng có nhiều điều phải học hỏi, về lịch sử, về văn hóa, về học thuật, về cách ứng xử, vv. Học hỏi đây, không chỉ qua việc đọc sách, đọc báo, đọc tin, tìm tài liệu, mà còn qua những trao đổi với những người khác, điều gì biết được thì nhớ lấy, điều chưa tỏ thì hỏi những người đã biết. Những sự tích lũy đó, mà tôi đã « học gần, học xa », tôi không muốn bỏ phí. Từ một số năm nay nghỉ hưu, tôi chẳng còn bổn phận phải chuyển giao hiểu biết cho ai nữa ; nhưng cái ý tiết kiệm thời giờ cho người khác vẫn còn đó ; vì thế nên tôi muốn ghi chép lại một số điều đã tích lũy, để « tặng » những ai muốn đọc, muốn biết, hoặc muốn giải trí trong lúc thư nhàn..
Sự hiểu biết là vô tận, ai mà biết hết được những điều muốn biết ! Mục tiêu cuốn sách này rất là khiêm tốn : ghi chép lại một số điều đã thu thập được về những chuyện đông, tây, kim, cổ, dưới dạng trao đổi không « hàn lâm », với cách viết bình dị nhất.
Tự tôi không thể biết xếp cuốn sách này vào thể loại nào, tạp sử trá hình ? tạp luận ? tùy bút ?… Hình như từ « tạp » trong tiếng Việt Nam ta là một từ không biểu hiện sự « sang trọng », thuần túy, « phải đạo ». Nhưng tôi là người « bất cơ », nếu dùng theo nghĩa của Tư Mã Thiên, nghĩa là không biết buộc mình theo tập tục, mà vượt ra ngoài lề thói. Cũng chẳng khác gì chữ « tạp » ngày nay. Chất hỗn hợp hiện giờ coi bộ cũng thịnh trong công nghệ đấy chứ, đâu cứ phải nguyên chất, thuần đạo, mới là hay…».
Những lời viết đó cho cuốn sách dẫn trên, vẫn còn giá trị cho cuốn sách này.
Đi đâu và học gì ? Thuở còn trẻ, tôi cũng có dịp được đi thăm một số nước ; trước khi tới nước đó, tôi thường cố tìm hiểu chút ít để khỏi bỡ ngỡ tại chỗ, do đó tôi muốn ghi chép lại dưới đây những điều (có thể là sơ lược) đã được biết ấy. Nhưng không biết tại sao, khi nhìn thấy những gì của nước người, rốt cục tôi lại quay về nhớ tới quê hương cũ, tuy tôi chỉ sống ở đó khoảng hơn 15 năm. Vậy xin độc giả đừng lạ nếu một phần cuốn tạp ký này lại đề cập đến chuyện nước nhà, và chuyện … giáo dục đào tạo.
Thời gian không có nhiều, hay nói kỹ hơn, tôi e không còn nhiều cho tôi. Vì thế tôi đã gạt ra một số chuyện, hy vọng may mắn còn có một ngày nào đó, lại có dịp kể tiếp.
Trong những trang sau đây, tôi đã gặp phải những khó khăn trong cách ghi tên các nhân vật, cũng như các địa danh nước ngoài. Tôi muốn nhắc lại những điều tôi đã viết trong phần mở đầu của cuốn sách « Học gần Học xa » đã dẫn trên đây :
Viết sách, tôi mới nhận thấy những khó khăn khi ghi tên người, hoặc địa danh nước ngoài, nhất là tiếng ta hình như chưa định chuẩn thống nhất. Ghi bằng tự dạng nước gốc, thì tất nhiên không phải lúc nào cũng có thể làm được (như chữ Hán, chữ A-rập, …), phiên âm từ cách phát âm bản xứ cũng thế ; rồi viết có gạch nối hay không, vv. Có lẽ tên ta hoặc tên Tàu, vì do ngôn ngữ đơn tiết, tôi sẽ viết không gạch nối. Còn tên thuộc ngôn ngữ khác, khi phiên âm, tôi đành để gạch nối, với chữ hoa khởi đầu, chứ không dùng chữ hoa sau gạch nối. [...] Biết viết thế nào cho hợp ? Rốt cục, tôi đánh cố gắng tùy trường hợp, ghi bằng cách nào mà tự mình cho là phù hợp hơn cả, mặc dù tôi sống ở Pháp, quen với cách phát âm của người Pháp, nên có phần thiên vị ngả về tiếng Pháp hơn.
Các phần viết không cứ phải theo một thứ tự thời gian, và có phần tùy hứng, tùy tiện. Đó cũng phần nào vin vào chữ « tạp ». Cám ơn những bạn đọc nào bỏ công đọc những trang sau đây.
Paris, 28/9/2007.
Bùi Trọng Liễu
HỌC MỘT SÀNG KHÔN (Tạp ký) Bùi Trọng Liễu
HỌC MỘT SÀNG KHÔN
(Tạp ký)
Bùi Trọng Liễu
Nguyên Giáo sư Đại học (Paris, Pháp)
Lời nói đầu
Tục ngữ có câu :
« Đi một ngày đàng,
Học một sàng khôn ».
Theo tôi hiểu thì người xưa có ý muốn khuyên đừng có bo bo « ở nhà nhất mẹ nhì con », mà nên đi ra khỏi cổng, ra khỏi lũy tre xanh (ngày nay không còn nữa), để tìm hiểu học hỏi nơi người khác, vì « ra đường còn lắm kẻ giòn hơn ta ». Vả lại, từ nhỏ, tôi vẫn muốn làm sao tránh cho mình khỏi là con « ếch nằm đáy giếng, coi trời bằng vung », nên khi có dịp thì cố đi cho biết.
Suy rộng ra, ngày nay, với những phương tiện hiện đại, « đi » không còn có nghĩa là thể xác phải lấy tàu xe chu du thiên hạ để mắt thấy tai nghe, mà có thể đọc sách, tham khảo tài liệu, sử dụng những phương tiện truyền thông, trao đổi thông tin, để « học ». Thu nhặt được « một sàng khôn » thì chưa chắc, nhưng cái ý tưởng cố gắng « học » để biết thì tôi nghĩ là cần thiết nên có.
Nhân nói tới « đi đó đi đây », cũng xin có vài lời (bên lề) về các cuốn sách hướng dẫn « du lịch ». Ở phương Đông thì tôi không biết – có những cuốn « du kí » nào được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy ? – ở phương Tây thì cuốn sách cổ nhất là cuốn « Miêu tả nước Hy-lạp » của Pausanias, thế kỉ 2 sau Công nguyên. Rồi tới cuối thời Trung cổ châu Âu – Trung cổ châu Âu : từ cuối thế kỉ 5 khi đế quốc La-mã phương Tây sụp đổ, đến giữa thế kỉ 15, khi thủ đô Constantinople của đế quốc La-mã phương Đông thất thủ, rơi vào tay vua Hồi giáo Mehmed II – nhất là sau cuộc « chiến tranh một trăm năm », cũng có những loại sách như vậy. (Nguồn : La longue route des guides touristiques trong tạp chí « Lire » số 346, 2006).
Cuốn sách này của tôi chỉ nhắm đưa ra các điều linh tinh thu lượm được trong mục tiêu học hỏi đó, không dám chắc là có ích cho bất cứ ai.
Xin nhắc lại mấy điều tôi đã viết mào đầu cho cuốn sách « Học gần, Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 : Tôi vốn là một nhà giáo. Thuở trẻ thì đi học ; lúc vào đời thì dạy học. Nhưng dạy học thì cũng vẫn luôn luôn phải học, học để trau dồi nghề nghiệp, nhưng cũng học để hiểu biết thêm thế giới chung quanh mình, vì mọi sự hiểu biết đều có liên quan. Trong bốn mươi năm hành nghề giáo sư đại học ở Pháp trong khuôn khổ chuyên môn của mình, tôi chăm chú chắt lọc, thu gọn những hiểu biết tích lũy của thiên hạ và những tìm tòi suy ngẫm của chính mình, tìm những cái mà mình cho là tinh túy để ghi thành những bài giảng, để chuyển giao cho những sinh viên của mình. Tôi vẫn nghĩ rằng đó là cách tiết kiệm thời giờ nhất, có hiệu quả nhất, để chuyển giao kiến thức cho những người theo học, dù ở bất cứ cấp bậc nào, dù là ở năm đầu đại học hay ở cấp nghiên cứu sinh ; thu gọn thì giờ cho họ, để họ có thời gian suy ngẫm tự tìm hiểu thêm những điều cần biết và muốn biết. Đó là trong khung cảnh nghề nghiệp của tôi.
Như đã nói trên, ngoài đời, tôi cũng có nhiều điều phải học hỏi, về lịch sử, về văn hóa, về học thuật, về cách ứng xử, vv. Học hỏi đây, không chỉ qua việc đọc sách, đọc báo, đọc tin, tìm tài liệu, mà còn qua những trao đổi với những người khác, điều gì biết được thì nhớ lấy, điều chưa tỏ thì hỏi những người đã biết. Những sự tích lũy đó, mà tôi đã « học gần, học xa », tôi không muốn bỏ phí. Từ một số năm nay nghỉ hưu, tôi chẳng còn bổn phận phải chuyển giao hiểu biết cho ai nữa ; nhưng cái ý tiết kiệm thời giờ cho người khác vẫn còn đó ; vì thế nên tôi muốn ghi chép lại một số điều đã tích lũy, để « tặng » những ai muốn đọc, muốn biết, hoặc muốn giải trí trong lúc thư nhàn..
Sự hiểu biết là vô tận, ai mà biết hết được những điều muốn biết ! Mục tiêu cuốn sách này rất là khiêm tốn : ghi chép lại một số điều đã thu thập được về những chuyện đông, tây, kim, cổ, dưới dạng trao đổi không « hàn lâm », với cách viết bình dị nhất.
Tự tôi không thể biết xếp cuốn sách này vào thể loại nào, tạp sử trá hình ? tạp luận ? tùy bút ?… Hình như từ « tạp » trong tiếng Việt Nam ta là một từ không biểu hiện sự « sang trọng », thuần túy, « phải đạo ». Nhưng tôi là người « bất cơ », nếu dùng theo nghĩa của Tư Mã Thiên, nghĩa là không biết buộc mình theo tập tục, mà vượt ra ngoài lề thói. Cũng chẳng khác gì chữ « tạp » ngày nay. Chất hỗn hợp hiện giờ coi bộ cũng thịnh trong công nghệ đấy chứ, đâu cứ phải nguyên chất, thuần đạo, mới là hay…».
Những lời viết đó cho cuốn sách dẫn trên, vẫn còn giá trị cho cuốn sách này.
Đi đâu và học gì ? Thuở còn trẻ, tôi cũng có dịp được đi thăm một số nước ; trước khi tới nước đó, tôi thường cố tìm hiểu chút ít để khỏi bỡ ngỡ tại chỗ, do đó tôi muốn ghi chép lại dưới đây những điều (có thể là sơ lược) đã được biết ấy. Nhưng không biết tại sao, khi nhìn thấy những gì của nước người, rốt cục tôi lại quay về nhớ tới quê hương cũ, tuy tôi chỉ sống ở đó khoảng hơn 15 năm. Vậy xin độc giả đừng lạ nếu một phần cuốn tạp ký này lại đề cập đến chuyện nước nhà, và chuyện … giáo dục đào tạo.
Thời gian không có nhiều, hay nói kỹ hơn, tôi e không còn nhiều cho tôi. Vì thế tôi đã gạt ra một số chuyện, hy vọng may mắn còn có một ngày nào đó, lại có dịp kể tiếp.
Trong những trang sau đây, tôi đã gặp phải những khó khăn trong cách ghi tên các nhân vật, cũng như các địa danh nước ngoài. Tôi muốn nhắc lại những điều tôi đã viết trong phần mở đầu của cuốn sách « Học gần Học xa » đã dẫn trên đây :
Viết sách, tôi mới nhận thấy những khó khăn khi ghi tên người, hoặc địa danh nước ngoài, nhất là tiếng ta hình như chưa định chuẩn thống nhất. Ghi bằng tự dạng nước gốc, thì tất nhiên không phải lúc nào cũng có thể làm được (như chữ Hán, chữ A-rập, …), phiên âm từ cách phát âm bản xứ cũng thế ; rồi viết có gạch nối hay không, vv. Có lẽ tên ta hoặc tên Tàu, vì do ngôn ngữ đơn tiết, tôi sẽ viết không gạch nối. Còn tên thuộc ngôn ngữ khác, khi phiên âm, tôi đành để gạch nối, với chữ hoa khởi đầu, chứ không dùng chữ hoa sau gạch nối. [...] Biết viết thế nào cho hợp ? Rốt cục, tôi đánh cố gắng tùy trường hợp, ghi bằng cách nào mà tự mình cho là phù hợp hơn cả, mặc dù tôi sống ở Pháp, quen với cách phát âm của người Pháp, nên có phần thiên vị ngả về tiếng Pháp hơn.
Các phần viết không cứ phải theo một thứ tự thời gian, và có phần tùy hứng, tùy tiện. Đó cũng phần nào vin vào chữ « tạp ». Cám ơn những bạn đọc nào bỏ công đọc những trang sau đây.
Paris, 28/9/2007.
Bùi Trọng Liễu
(Tạp ký)
Bùi Trọng Liễu
Nguyên Giáo sư Đại học (Paris, Pháp)
Lời nói đầu
Tục ngữ có câu :
« Đi một ngày đàng,
Học một sàng khôn ».
Theo tôi hiểu thì người xưa có ý muốn khuyên đừng có bo bo « ở nhà nhất mẹ nhì con », mà nên đi ra khỏi cổng, ra khỏi lũy tre xanh (ngày nay không còn nữa), để tìm hiểu học hỏi nơi người khác, vì « ra đường còn lắm kẻ giòn hơn ta ». Vả lại, từ nhỏ, tôi vẫn muốn làm sao tránh cho mình khỏi là con « ếch nằm đáy giếng, coi trời bằng vung », nên khi có dịp thì cố đi cho biết.
Suy rộng ra, ngày nay, với những phương tiện hiện đại, « đi » không còn có nghĩa là thể xác phải lấy tàu xe chu du thiên hạ để mắt thấy tai nghe, mà có thể đọc sách, tham khảo tài liệu, sử dụng những phương tiện truyền thông, trao đổi thông tin, để « học ». Thu nhặt được « một sàng khôn » thì chưa chắc, nhưng cái ý tưởng cố gắng « học » để biết thì tôi nghĩ là cần thiết nên có.
Nhân nói tới « đi đó đi đây », cũng xin có vài lời (bên lề) về các cuốn sách hướng dẫn « du lịch ». Ở phương Đông thì tôi không biết – có những cuốn « du kí » nào được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy ? – ở phương Tây thì cuốn sách cổ nhất là cuốn « Miêu tả nước Hy-lạp » của Pausanias, thế kỉ 2 sau Công nguyên. Rồi tới cuối thời Trung cổ châu Âu – Trung cổ châu Âu : từ cuối thế kỉ 5 khi đế quốc La-mã phương Tây sụp đổ, đến giữa thế kỉ 15, khi thủ đô Constantinople của đế quốc La-mã phương Đông thất thủ, rơi vào tay vua Hồi giáo Mehmed II – nhất là sau cuộc « chiến tranh một trăm năm », cũng có những loại sách như vậy. (Nguồn : La longue route des guides touristiques trong tạp chí « Lire » số 346, 2006).
Cuốn sách này của tôi chỉ nhắm đưa ra các điều linh tinh thu lượm được trong mục tiêu học hỏi đó, không dám chắc là có ích cho bất cứ ai.
Xin nhắc lại mấy điều tôi đã viết mào đầu cho cuốn sách « Học gần, Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 : Tôi vốn là một nhà giáo. Thuở trẻ thì đi học ; lúc vào đời thì dạy học. Nhưng dạy học thì cũng vẫn luôn luôn phải học, học để trau dồi nghề nghiệp, nhưng cũng học để hiểu biết thêm thế giới chung quanh mình, vì mọi sự hiểu biết đều có liên quan. Trong bốn mươi năm hành nghề giáo sư đại học ở Pháp trong khuôn khổ chuyên môn của mình, tôi chăm chú chắt lọc, thu gọn những hiểu biết tích lũy của thiên hạ và những tìm tòi suy ngẫm của chính mình, tìm những cái mà mình cho là tinh túy để ghi thành những bài giảng, để chuyển giao cho những sinh viên của mình. Tôi vẫn nghĩ rằng đó là cách tiết kiệm thời giờ nhất, có hiệu quả nhất, để chuyển giao kiến thức cho những người theo học, dù ở bất cứ cấp bậc nào, dù là ở năm đầu đại học hay ở cấp nghiên cứu sinh ; thu gọn thì giờ cho họ, để họ có thời gian suy ngẫm tự tìm hiểu thêm những điều cần biết và muốn biết. Đó là trong khung cảnh nghề nghiệp của tôi.
Như đã nói trên, ngoài đời, tôi cũng có nhiều điều phải học hỏi, về lịch sử, về văn hóa, về học thuật, về cách ứng xử, vv. Học hỏi đây, không chỉ qua việc đọc sách, đọc báo, đọc tin, tìm tài liệu, mà còn qua những trao đổi với những người khác, điều gì biết được thì nhớ lấy, điều chưa tỏ thì hỏi những người đã biết. Những sự tích lũy đó, mà tôi đã « học gần, học xa », tôi không muốn bỏ phí. Từ một số năm nay nghỉ hưu, tôi chẳng còn bổn phận phải chuyển giao hiểu biết cho ai nữa ; nhưng cái ý tiết kiệm thời giờ cho người khác vẫn còn đó ; vì thế nên tôi muốn ghi chép lại một số điều đã tích lũy, để « tặng » những ai muốn đọc, muốn biết, hoặc muốn giải trí trong lúc thư nhàn..
Sự hiểu biết là vô tận, ai mà biết hết được những điều muốn biết ! Mục tiêu cuốn sách này rất là khiêm tốn : ghi chép lại một số điều đã thu thập được về những chuyện đông, tây, kim, cổ, dưới dạng trao đổi không « hàn lâm », với cách viết bình dị nhất.
Tự tôi không thể biết xếp cuốn sách này vào thể loại nào, tạp sử trá hình ? tạp luận ? tùy bút ?… Hình như từ « tạp » trong tiếng Việt Nam ta là một từ không biểu hiện sự « sang trọng », thuần túy, « phải đạo ». Nhưng tôi là người « bất cơ », nếu dùng theo nghĩa của Tư Mã Thiên, nghĩa là không biết buộc mình theo tập tục, mà vượt ra ngoài lề thói. Cũng chẳng khác gì chữ « tạp » ngày nay. Chất hỗn hợp hiện giờ coi bộ cũng thịnh trong công nghệ đấy chứ, đâu cứ phải nguyên chất, thuần đạo, mới là hay…».
Những lời viết đó cho cuốn sách dẫn trên, vẫn còn giá trị cho cuốn sách này.
Đi đâu và học gì ? Thuở còn trẻ, tôi cũng có dịp được đi thăm một số nước ; trước khi tới nước đó, tôi thường cố tìm hiểu chút ít để khỏi bỡ ngỡ tại chỗ, do đó tôi muốn ghi chép lại dưới đây những điều (có thể là sơ lược) đã được biết ấy. Nhưng không biết tại sao, khi nhìn thấy những gì của nước người, rốt cục tôi lại quay về nhớ tới quê hương cũ, tuy tôi chỉ sống ở đó khoảng hơn 15 năm. Vậy xin độc giả đừng lạ nếu một phần cuốn tạp ký này lại đề cập đến chuyện nước nhà, và chuyện … giáo dục đào tạo.
Thời gian không có nhiều, hay nói kỹ hơn, tôi e không còn nhiều cho tôi. Vì thế tôi đã gạt ra một số chuyện, hy vọng may mắn còn có một ngày nào đó, lại có dịp kể tiếp.
Trong những trang sau đây, tôi đã gặp phải những khó khăn trong cách ghi tên các nhân vật, cũng như các địa danh nước ngoài. Tôi muốn nhắc lại những điều tôi đã viết trong phần mở đầu của cuốn sách « Học gần Học xa » đã dẫn trên đây :
Viết sách, tôi mới nhận thấy những khó khăn khi ghi tên người, hoặc địa danh nước ngoài, nhất là tiếng ta hình như chưa định chuẩn thống nhất. Ghi bằng tự dạng nước gốc, thì tất nhiên không phải lúc nào cũng có thể làm được (như chữ Hán, chữ A-rập, …), phiên âm từ cách phát âm bản xứ cũng thế ; rồi viết có gạch nối hay không, vv. Có lẽ tên ta hoặc tên Tàu, vì do ngôn ngữ đơn tiết, tôi sẽ viết không gạch nối. Còn tên thuộc ngôn ngữ khác, khi phiên âm, tôi đành để gạch nối, với chữ hoa khởi đầu, chứ không dùng chữ hoa sau gạch nối. [...] Biết viết thế nào cho hợp ? Rốt cục, tôi đánh cố gắng tùy trường hợp, ghi bằng cách nào mà tự mình cho là phù hợp hơn cả, mặc dù tôi sống ở Pháp, quen với cách phát âm của người Pháp, nên có phần thiên vị ngả về tiếng Pháp hơn.
Các phần viết không cứ phải theo một thứ tự thời gian, và có phần tùy hứng, tùy tiện. Đó cũng phần nào vin vào chữ « tạp ». Cám ơn những bạn đọc nào bỏ công đọc những trang sau đây.
Paris, 28/9/2007.
Bùi Trọng Liễu
MỘT THOÁNG BÙI TRỌNG LIỄU Trần Đăng Khoa
MỘT THOÁNG BÙI TRỌNG LIỄU
Trần Đăng Khoa
Trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo con người, việc dạy và học là vô hạn quan trọng. Đây cũng là một vấn đề nhạy cảm, thu hút sự chú ý của toàn xã hội và hàng triệu gia đình có con em đang học Phổ thông hoặc vừa bước chân vào các trường Đại học. Lật qua những trang nhật báo, hầu như ngày nào chúng ta cũng gặp những bài viết bàn về giáo dục, đào tạo. Rồi những cuộc tranh cãi gay gắt, dai dẳng, thường là không có lời kết luận, cũng không có tiếng nói cuối cùng.
Cuốn sách này cũng không phải ngoại lệ. Và tác giả của nó – Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Bùi Trọng Liễu – với 260 trang sách cũng chỉ bàn về việc Dạy và Học như thế nào. Và bạn đọc, khi lật những trang sách đầy tâm huyết, rất giàu tính thuyết phục này, chắc sẽ không khỏi bâng khuâng và tự hỏi : « Bùi Trọng Liễu, ông là ai ? ».
Vâng, quả thật tôi cũng chẳng biết gì hơn các đấng Thượng Đế khả kính. Bởi vì ngay khi ngồi viết đôi điều thưa với bạn đọc về cuốn sách này, tôi cũng chưa có dịp tiếp xúc, trò chuyện với Bùi Trọng Liễu, cũng không thể hình dung được ở ngoài đời, con người thực của ông ra sao. Nghĩa là tôi chưa từng một lần nhìn thấy ông, dù chỉ là một tấm hình mờ tỏ. Tôi chỉ « biết » ông qua hàng loạt bài viết in trên các báo : Nhân Dân chủ nhật, Đại đoàn kết, Tia sáng, Lao Động, Nông nghiệp Việt Nam và các báo chí ở Hải ngoại. Rồi lại « biết » ông là Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học, hiện đang giảng dạy ở Trường Đại học René Descartes de Paris, một người đã định cư lâu năm ở Pháp, nhưng vẫn đau đáu hướng về quê nhà. Một loạt những bài viết giàu chất trí tuệ, lại chứa chan tình cảm đã cho ta hiểu tấm lòng của ông đã gắn bó rất sâu nặng đối với Tổ Quốc.
Cách đây mấy năm, trong một hội nghị Quốc tế Vật lý tổ chức tại Hà Nội, tới dự có không ít nhà khoa học đoạt giải Nobel, tôi hân hạnh là một khách mời, với tư cách là Phóng viên báo chí, trong buổi dạ tiệc, tôi có hỏi một nhà Vật lý có danh vọng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, về giáo sư Bùi Trọng Liễu. Ông rất hồ hởi : « Tôi cũng chưa có dịp gặp Bùi Trọng Liễu, chỉ nghe danh. Ông là một nhà khoa học nghiêm túc, một người yêu nước và một giáo sư có uy tín với đồng nghiệp ».
Tất cả chỉ có thế.
II
Thông thường, những người định cư ở nước ngoài lâu năm, họ rất giỏi ngoại ngữ, nhưng tiếng mẹ đẻ thì lại mai một và nghèo nàn. Tôi đọc không ít những sáng tác của những nhà văn nhà thơ Việt Nam ở Hải ngoại, trông đó có cả những người hiện đang sống ở Paris, đặc biệt là các nhà thơ, cảm giác trước tiên là hơi văn của họ rất cũ, nó cũ như hơi văn của thời Tự lực Văn đoàn. Mà cũng phải thôi. Vì tiếng Việt của họ không có điều kiện phát triển. Ai ra đi ở thời điểm nào thì mang bầu ngôn ngữ của thời điểm ấy đi theo. Đó là một vùng ngôn ngữ ngưng đọng. Không ít người hóa lạc lõng, vì họ không nhập được vào đời sống văn hóa của nước bản địa, lại mất hẳn bầu khí quyển của văn hóa quê nhà. Nhưng ngược lại, có những người rất may mắn, vì họ hòa nhập được vào thế giới rộng lớn rất nhanh. Và rồi, với con mắt của người Việt, họ có thể phát hiện được những vẻ đẹp của đất nước nơi họ đang sống mà những người bản xứ không thể nhìn ra. Rồi cũng bằng chính con mắt ấy, con mắt của một thế giới rộng lớn, khi nhìn lại quê nhà, họ cũng lại tìm ra những nét đặc sắc mà người ở trong nước không thể thấy được.
Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Bùi Trọng Liễu cũng là một người « may mắn » như thế. Đó là cảm giác đầu tiên của tôi khi đọc cuốn sách này. Cuốn sách chỉ bàn về dạy và học, hay nói rộng hơn, đây là một công trình khoa học nghiên cứu về việc đào tạo con người. Một vấn đề mà chúng ta hằng quan tâm, và cũng là vấn đề mang tính toàn cầu, vì việc giáo dục, đào tạo con người là công việc then chốt của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Bùi Trọng Liễu là một người từng trải, uyên thâm và lịch lãm, với cái nhìn sâu rộng, lại là người trong cuộc, vì ông vốn là Giáo sư, với cả một đời chỉ làm công việc nghiên cứu và giảng dạy, bằng kinh nghiệm của cả một đời đứng trên bục giảng, Bùi Trọng Liễu có những kiến giải khá sâu sắc mà lại giàu sức thuyết phục. Một cuốn sách khoa học, nhưng Giáo sư Tiến sĩ không thuyết trình với ta bằng giọng Hàn Lâm. Ông viết bình dị và biến ảo. Nhiều vấn đề lý luận nghiêm túc chìm lặn trong những điển tích, những câu chuyện cụ thể hay những trang ký ức gia đình. Vì thế cuốn sách rất hấp dẫn, phù hợp với nhiều đối tượng bạn đọc. Nó như một trò chơi ru bích. Ta có thể « xoay » nó, và nó sẽ cho ta những màu sắc phù hợp với mắt mình. Đối với những người làm công tác Giáo dục, có thể tìm thấy ở đây những kinh nghiệm thiết thực của một người trong nghề. Còn đối với những bạn đọc thông thường, hoặc những người đọc sách chỉ để giải trí, ta cũng sẽ gặp ở đây một người bạn đường từng trải tin cậy. Qua ông, ta biết được nhiều chuyện thú vị ở những vùng đất xa ngái và ông có thể chia sẻ với ta nhiều nỗi vui buồn của cõi đời dâu bể. Với sự biến ảo và hấp dẫn như thế, cuốn sách có khả năng cuốn hút ta, và chúng ta có thể đọc một mạch hết ngót 260 trang. Đó là một cố gắng rất đáng ghi nhận của Bùi Trọng Liễu.
Thiết nghĩ, đây là một công trình rất bổ ích và có giá trị, giúp chúng ta có thể tham khảo trong công tác giáo dục, đào tạo con người, một công việc cao cả không phải chỉ dành cho các giáo sư, các thày cô giáo đứng trên bục giảng, mà là công việc của mọi gia đình, của các bậc cha mẹ, của tất cả chúng ta, những ai hằng quan tâm đến vận mệnh tương lai của đất nước. Vì vậy, tôi rất vui mừng giới thiệu với đông đảo bạn đọc. Và tôi tin rằng bằng những giá trị đích thực của mình, cuốn sách của Bùi Trọng Liễu sẽ chinh phục được độc giả mà không cần tôi phải quảng bá.
Hà Nội 1-5-2003
T.Đ.K.
Khuyến học và Dân Trí, 8-7-2004
« Chung quanh việc học » - Nhiệt huyết một tấm lòng về một quốc sách nóng bỏng
Trong những ngày này, dồn dập bao hội nghị, hội thảo, bao công trình nghiên cứu, đề tài khảo sát đang được tiến hành … phục vụ cho việc sửa đổi bổ sung dự thảo Luật giáo dục và Đề án Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập. Tôi được Nhà báo, nhà giáo Nguyễn Hạc Đạm Thư gửi tặng cuốn sách « Chung quanh việc học » của Bùi Trọng Liễu, bỏi vì theo chị trong cuốn sách co nhiều vấn đề hết sức « thời sự ».
Bùi Trọng Liễu là ai ? Có lẽ cái tên ấy còn khá xa lạ với đông đảo bạn đọc, cho nên ngay nhà thơ Trần Đăng Khoa khi viết bài giới thiệu cuốn sách cho nhà xuất bản Thanh niên cũng phải viết : « … ngay khi ngồi viết đôi điều thưa với bạn đọc về cuốn sách này, tôi cũng chưa có dịp tiếp xúc, trò chuyện với Bùi Trọng Liễu, cũng không thể hình dung được ở ngoài đời, con người thực của ông ra sao. Nghĩa là tôi chưa từng một lần nhìn thấy ông, dù chỉ là một tấm hình mờ tỏ. Tôi chỉ « biết » ông qua hàng loạt bài viết in trên các báo : Nhân Dân chủ nhật, Đại đoàn kết, Tia sáng, Lao Động, Nông nghiệp Việt Nam và các báo chí ở Hải ngoại. Rồi lại « biết » ông là Giáo sư, hiện đang giảng dạy ở Đại học Paris, một người đã định cư lâu năm ở Pháp, nhưng vẫn đau đáu hướng về quê nhà. Một loạt những bài viết giàu chất trí tuệ, lại chứa chan tình cảm đã cho ta hiểu tấm lòng của ông đã gắn bó rất sâu nặng đối với Tổ Quốc » ... Nhà thơ có lẽ khó thích ứng với những vấn đề gay cấn đang tranh luận trong xã hội, thế nhưng Trần Đăng Khoa đọc một mạch hết luôn 300 trang cuốn sách. Tôi thử đọc, đúng giữa kì EURO và phim chưởng võ hiệp Kim Dung đang chiếu, ấy thế mà tôi cũng phải đọc đi đọc lại cuốn sách đến 3 lần. Tôi cũng là người chưa từng gặp Bùi Trọng Liễu, nhưng nếu đọc hết cuốn sách thì hình như anh không phải là một người Việt xa xứ đứng ngoài nhìn vào, mà anh thực sự là người trong cuộc gắn bó với việc học của đất nước hàng chục năm nay. Bởi vậy, anh có cái nhìn sắc sảo, nhưng lại sát đúng và hết sức cụ thể.
Cuốn sách gồm 9 phần. Phần 1, Lời nói đầu cũng là lời tâm huyết, anh nêu rõ « Từ hơn ba chục năm nay, tôi đã gửi nhiều thư kiến nghị về việc học ; gần đây hơn, khi tình hình cho phép, tôi đã cố gắng phát biểu trên mặt báo. Bởi vì, tôi thấy ngày nay khác với thuở xưa, người ta không chỉ viết thư điều trần gửi lên một vị hay một tập thể nguyên thủ. Những bài báo, những cuốn sách, những công trình nghiên cứu, những sáng tác, những cuốn phim, những phát biểu qua phương tiện truyền thông … về những suy nghĩ và nhận xét, với những lời bàn phải trái khen chê cũng là những bản điều trần gửi tới cả dân tộc Việt Nam. Có điều là vàng, thau hay ngọc đá, chắc gì đã dễ phân biệt ? ». Tám phần còn lại anh xếp sắp các bài báo mình đã viết theo những vấn đề đang được dư luận quân tâm, đó là : Về sự học giỏi, trí thông minh và nhân tài ; Về cách học của người xưa ; Vấn đề trường công, trường tư ; Về cách tổ chức Đại học ngày nay ; Mất, hút và ủ chất xám ; Việc học và phi lý tính ; Thời niên thiếu và việc học ; Học và Hạnh.
Điều khá ngạc nhiên, mặc dù là một giáo sư toán học, viết sách để lập luận và minh chứng … nhưng ông không sử dụng thủ pháp toán học, không thuyết trình với ta bằng giọng hàn lâm, mà như Trần Đăng Khoa nhận xét : « ông viết bình dị và biến ảo. Nhiều vấn đề lý luận nghiêm túc chìm lặn trong điển tích, những câu chuyện cụ thể hay những ký ức gia đình. Vì thế cuốn sách rất hấp dẫn phù hợp với nhiều dối tượng ». Người đọc đôi lúc cảm thấy ông hơi lạm dụng điển tích và thí dụ. Nhưng đó lại là chủ định của ông. Ông viết : Thời Chiến quốc, Vua nước Lương bảo Huệ tử : « Nói gì thì cứ nói thẳng, đừng nói thí dụ ». Huệ tử hỏi vua : « Có một người không biết cái nỏ là cái gì, mới hỏi tôi cái nỏ như thế nào. Nếu tôi đáp rằng cái nỏ giống như cái nỏ, thì người ấy có hiểu được không ? ». Vua trả lời: « Hiểu thế nào được ». Huệ tử lại hỏi : « Thế nếu tôi bảo người ấy rằng cái nỏ giống như cái cung, nhưng có cán có lẫy, thì người ấy có hiểu được không ? ». Vua trả lời : « Hiểu được ». Huệ tử kết luận : « Vì thế mà nói thí dụ cho dễ hiểu ». Bởi vậy, khi không tìm đựoc cách nào tốt hơn thì ông làm theo cách Huệ tử.
Dẫu sao, cách viết cũng chỉ là cái tài, là phong cách nấu nướng, còn vấn đề chính là tác giả cho người đọc ăn cái món gì mới là quan trọng ; là người đọc tôi chỉ nói gọn có một câu : Tám cái món ông dọn ra « bát bảo lương xà » có món ông nấu từ đầu thập kỷ chín mươi thế kỉ trước, có món mới nấu sau năm 2000, nhưng món nào cũng đang nóng hổi. Tôi đọc đi đọc lại cái chuyện trường công trường tư, rồi chuyện cách tổ chức Đại học … thì hình như ông viết để đọc tại cái Hội thảo « Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế » và một cái hội thảo na ná như thế trong vòng mấy tháng qua ! Càng đọc, tôi càng thấy có những vấn đề đến lạ. Thí dụ, trong khi Bộ Giáo dục Đào tạo lên kế hoạch đào tạo mấy trăm tiến sĩ và mấy ngàn thạc sĩ trong nước, thì có người cũng hàm này, vị nọ phê phán kế hoạch phiêu lưu, rồi họ dẫn ra nước này, nước nọ mỗi năm chỉ đào tạo được có mấy người … Thế nhưng ông giáo sư dạy đại học ở Pháp, dẫn tài liệu của Le Monde de l’Education số 261, 1998, thì năm 1997 số luận văn tiến sĩ các ngành bảo vệ ở Pháp là 10963. Nói gọn một câu là hơn một vạn. Tôi tin tác giả cuốn sách tôi đang đọc bởi cái bề dày và tấm lòng của ông. Từ thực tế này đến thực tế khác, hơn 10 năm trước, ông lý luận về vai trò chủ chốt của Nhà nước trong giáo dục mà nghe như ông đang phát biểu về xã hội hóa giáo dục mà chính phủ đang yêu cầu làm rõ hôm nay. Món ăn có thể hợp khẩu vị người này, nhưng chưa chắc hợp khẩu vị người khác, nhưng đối với tôi qua tám món ông bày ra, tôi không thể không nhắc đến cái món cuối cùng. Đó là phần cuối cuốn sách với nhan đề « Học và Hạnh ». Tôi xin viết rõ chữ Hạnh là dấu nặng, chứ không khéo do sơ xuất in ấn mà in thành học và hành thì lại mất ý nghĩa. Phần này, ông tập hợp 5 bài viết về 5 người học rộng tài cao, 3 người Việt và 2 người châu Âu nhưng đã gắn với công cuộc kháng chiến kiến quốc của đất nước ta. Đó là, Giáo sư Tạ Quang Bửu, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, Nhà Vật lý thiên văn Henri Van Regemorter, Nhà Toán học Laurent Schwartz và Giáo sư Lê Văn Thiêm … Trí tuệ và phẩm hạnh của 5 vị « bồ tát » khoa học này phải chăng đáng được dựng tượng đài, đặt tên trường, tên đường, tên phố trong đạo học Việt Nam ?
Phan Lương Ánh
Trần Đăng Khoa
Trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo con người, việc dạy và học là vô hạn quan trọng. Đây cũng là một vấn đề nhạy cảm, thu hút sự chú ý của toàn xã hội và hàng triệu gia đình có con em đang học Phổ thông hoặc vừa bước chân vào các trường Đại học. Lật qua những trang nhật báo, hầu như ngày nào chúng ta cũng gặp những bài viết bàn về giáo dục, đào tạo. Rồi những cuộc tranh cãi gay gắt, dai dẳng, thường là không có lời kết luận, cũng không có tiếng nói cuối cùng.
Cuốn sách này cũng không phải ngoại lệ. Và tác giả của nó – Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Bùi Trọng Liễu – với 260 trang sách cũng chỉ bàn về việc Dạy và Học như thế nào. Và bạn đọc, khi lật những trang sách đầy tâm huyết, rất giàu tính thuyết phục này, chắc sẽ không khỏi bâng khuâng và tự hỏi : « Bùi Trọng Liễu, ông là ai ? ».
Vâng, quả thật tôi cũng chẳng biết gì hơn các đấng Thượng Đế khả kính. Bởi vì ngay khi ngồi viết đôi điều thưa với bạn đọc về cuốn sách này, tôi cũng chưa có dịp tiếp xúc, trò chuyện với Bùi Trọng Liễu, cũng không thể hình dung được ở ngoài đời, con người thực của ông ra sao. Nghĩa là tôi chưa từng một lần nhìn thấy ông, dù chỉ là một tấm hình mờ tỏ. Tôi chỉ « biết » ông qua hàng loạt bài viết in trên các báo : Nhân Dân chủ nhật, Đại đoàn kết, Tia sáng, Lao Động, Nông nghiệp Việt Nam và các báo chí ở Hải ngoại. Rồi lại « biết » ông là Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học, hiện đang giảng dạy ở Trường Đại học René Descartes de Paris, một người đã định cư lâu năm ở Pháp, nhưng vẫn đau đáu hướng về quê nhà. Một loạt những bài viết giàu chất trí tuệ, lại chứa chan tình cảm đã cho ta hiểu tấm lòng của ông đã gắn bó rất sâu nặng đối với Tổ Quốc.
Cách đây mấy năm, trong một hội nghị Quốc tế Vật lý tổ chức tại Hà Nội, tới dự có không ít nhà khoa học đoạt giải Nobel, tôi hân hạnh là một khách mời, với tư cách là Phóng viên báo chí, trong buổi dạ tiệc, tôi có hỏi một nhà Vật lý có danh vọng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, về giáo sư Bùi Trọng Liễu. Ông rất hồ hởi : « Tôi cũng chưa có dịp gặp Bùi Trọng Liễu, chỉ nghe danh. Ông là một nhà khoa học nghiêm túc, một người yêu nước và một giáo sư có uy tín với đồng nghiệp ».
Tất cả chỉ có thế.
II
Thông thường, những người định cư ở nước ngoài lâu năm, họ rất giỏi ngoại ngữ, nhưng tiếng mẹ đẻ thì lại mai một và nghèo nàn. Tôi đọc không ít những sáng tác của những nhà văn nhà thơ Việt Nam ở Hải ngoại, trông đó có cả những người hiện đang sống ở Paris, đặc biệt là các nhà thơ, cảm giác trước tiên là hơi văn của họ rất cũ, nó cũ như hơi văn của thời Tự lực Văn đoàn. Mà cũng phải thôi. Vì tiếng Việt của họ không có điều kiện phát triển. Ai ra đi ở thời điểm nào thì mang bầu ngôn ngữ của thời điểm ấy đi theo. Đó là một vùng ngôn ngữ ngưng đọng. Không ít người hóa lạc lõng, vì họ không nhập được vào đời sống văn hóa của nước bản địa, lại mất hẳn bầu khí quyển của văn hóa quê nhà. Nhưng ngược lại, có những người rất may mắn, vì họ hòa nhập được vào thế giới rộng lớn rất nhanh. Và rồi, với con mắt của người Việt, họ có thể phát hiện được những vẻ đẹp của đất nước nơi họ đang sống mà những người bản xứ không thể nhìn ra. Rồi cũng bằng chính con mắt ấy, con mắt của một thế giới rộng lớn, khi nhìn lại quê nhà, họ cũng lại tìm ra những nét đặc sắc mà người ở trong nước không thể thấy được.
Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Bùi Trọng Liễu cũng là một người « may mắn » như thế. Đó là cảm giác đầu tiên của tôi khi đọc cuốn sách này. Cuốn sách chỉ bàn về dạy và học, hay nói rộng hơn, đây là một công trình khoa học nghiên cứu về việc đào tạo con người. Một vấn đề mà chúng ta hằng quan tâm, và cũng là vấn đề mang tính toàn cầu, vì việc giáo dục, đào tạo con người là công việc then chốt của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Bùi Trọng Liễu là một người từng trải, uyên thâm và lịch lãm, với cái nhìn sâu rộng, lại là người trong cuộc, vì ông vốn là Giáo sư, với cả một đời chỉ làm công việc nghiên cứu và giảng dạy, bằng kinh nghiệm của cả một đời đứng trên bục giảng, Bùi Trọng Liễu có những kiến giải khá sâu sắc mà lại giàu sức thuyết phục. Một cuốn sách khoa học, nhưng Giáo sư Tiến sĩ không thuyết trình với ta bằng giọng Hàn Lâm. Ông viết bình dị và biến ảo. Nhiều vấn đề lý luận nghiêm túc chìm lặn trong những điển tích, những câu chuyện cụ thể hay những trang ký ức gia đình. Vì thế cuốn sách rất hấp dẫn, phù hợp với nhiều đối tượng bạn đọc. Nó như một trò chơi ru bích. Ta có thể « xoay » nó, và nó sẽ cho ta những màu sắc phù hợp với mắt mình. Đối với những người làm công tác Giáo dục, có thể tìm thấy ở đây những kinh nghiệm thiết thực của một người trong nghề. Còn đối với những bạn đọc thông thường, hoặc những người đọc sách chỉ để giải trí, ta cũng sẽ gặp ở đây một người bạn đường từng trải tin cậy. Qua ông, ta biết được nhiều chuyện thú vị ở những vùng đất xa ngái và ông có thể chia sẻ với ta nhiều nỗi vui buồn của cõi đời dâu bể. Với sự biến ảo và hấp dẫn như thế, cuốn sách có khả năng cuốn hút ta, và chúng ta có thể đọc một mạch hết ngót 260 trang. Đó là một cố gắng rất đáng ghi nhận của Bùi Trọng Liễu.
Thiết nghĩ, đây là một công trình rất bổ ích và có giá trị, giúp chúng ta có thể tham khảo trong công tác giáo dục, đào tạo con người, một công việc cao cả không phải chỉ dành cho các giáo sư, các thày cô giáo đứng trên bục giảng, mà là công việc của mọi gia đình, của các bậc cha mẹ, của tất cả chúng ta, những ai hằng quan tâm đến vận mệnh tương lai của đất nước. Vì vậy, tôi rất vui mừng giới thiệu với đông đảo bạn đọc. Và tôi tin rằng bằng những giá trị đích thực của mình, cuốn sách của Bùi Trọng Liễu sẽ chinh phục được độc giả mà không cần tôi phải quảng bá.
Hà Nội 1-5-2003
T.Đ.K.
Khuyến học và Dân Trí, 8-7-2004
« Chung quanh việc học » - Nhiệt huyết một tấm lòng về một quốc sách nóng bỏng
Trong những ngày này, dồn dập bao hội nghị, hội thảo, bao công trình nghiên cứu, đề tài khảo sát đang được tiến hành … phục vụ cho việc sửa đổi bổ sung dự thảo Luật giáo dục và Đề án Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập. Tôi được Nhà báo, nhà giáo Nguyễn Hạc Đạm Thư gửi tặng cuốn sách « Chung quanh việc học » của Bùi Trọng Liễu, bỏi vì theo chị trong cuốn sách co nhiều vấn đề hết sức « thời sự ».
Bùi Trọng Liễu là ai ? Có lẽ cái tên ấy còn khá xa lạ với đông đảo bạn đọc, cho nên ngay nhà thơ Trần Đăng Khoa khi viết bài giới thiệu cuốn sách cho nhà xuất bản Thanh niên cũng phải viết : « … ngay khi ngồi viết đôi điều thưa với bạn đọc về cuốn sách này, tôi cũng chưa có dịp tiếp xúc, trò chuyện với Bùi Trọng Liễu, cũng không thể hình dung được ở ngoài đời, con người thực của ông ra sao. Nghĩa là tôi chưa từng một lần nhìn thấy ông, dù chỉ là một tấm hình mờ tỏ. Tôi chỉ « biết » ông qua hàng loạt bài viết in trên các báo : Nhân Dân chủ nhật, Đại đoàn kết, Tia sáng, Lao Động, Nông nghiệp Việt Nam và các báo chí ở Hải ngoại. Rồi lại « biết » ông là Giáo sư, hiện đang giảng dạy ở Đại học Paris, một người đã định cư lâu năm ở Pháp, nhưng vẫn đau đáu hướng về quê nhà. Một loạt những bài viết giàu chất trí tuệ, lại chứa chan tình cảm đã cho ta hiểu tấm lòng của ông đã gắn bó rất sâu nặng đối với Tổ Quốc » ... Nhà thơ có lẽ khó thích ứng với những vấn đề gay cấn đang tranh luận trong xã hội, thế nhưng Trần Đăng Khoa đọc một mạch hết luôn 300 trang cuốn sách. Tôi thử đọc, đúng giữa kì EURO và phim chưởng võ hiệp Kim Dung đang chiếu, ấy thế mà tôi cũng phải đọc đi đọc lại cuốn sách đến 3 lần. Tôi cũng là người chưa từng gặp Bùi Trọng Liễu, nhưng nếu đọc hết cuốn sách thì hình như anh không phải là một người Việt xa xứ đứng ngoài nhìn vào, mà anh thực sự là người trong cuộc gắn bó với việc học của đất nước hàng chục năm nay. Bởi vậy, anh có cái nhìn sắc sảo, nhưng lại sát đúng và hết sức cụ thể.
Cuốn sách gồm 9 phần. Phần 1, Lời nói đầu cũng là lời tâm huyết, anh nêu rõ « Từ hơn ba chục năm nay, tôi đã gửi nhiều thư kiến nghị về việc học ; gần đây hơn, khi tình hình cho phép, tôi đã cố gắng phát biểu trên mặt báo. Bởi vì, tôi thấy ngày nay khác với thuở xưa, người ta không chỉ viết thư điều trần gửi lên một vị hay một tập thể nguyên thủ. Những bài báo, những cuốn sách, những công trình nghiên cứu, những sáng tác, những cuốn phim, những phát biểu qua phương tiện truyền thông … về những suy nghĩ và nhận xét, với những lời bàn phải trái khen chê cũng là những bản điều trần gửi tới cả dân tộc Việt Nam. Có điều là vàng, thau hay ngọc đá, chắc gì đã dễ phân biệt ? ». Tám phần còn lại anh xếp sắp các bài báo mình đã viết theo những vấn đề đang được dư luận quân tâm, đó là : Về sự học giỏi, trí thông minh và nhân tài ; Về cách học của người xưa ; Vấn đề trường công, trường tư ; Về cách tổ chức Đại học ngày nay ; Mất, hút và ủ chất xám ; Việc học và phi lý tính ; Thời niên thiếu và việc học ; Học và Hạnh.
Điều khá ngạc nhiên, mặc dù là một giáo sư toán học, viết sách để lập luận và minh chứng … nhưng ông không sử dụng thủ pháp toán học, không thuyết trình với ta bằng giọng hàn lâm, mà như Trần Đăng Khoa nhận xét : « ông viết bình dị và biến ảo. Nhiều vấn đề lý luận nghiêm túc chìm lặn trong điển tích, những câu chuyện cụ thể hay những ký ức gia đình. Vì thế cuốn sách rất hấp dẫn phù hợp với nhiều dối tượng ». Người đọc đôi lúc cảm thấy ông hơi lạm dụng điển tích và thí dụ. Nhưng đó lại là chủ định của ông. Ông viết : Thời Chiến quốc, Vua nước Lương bảo Huệ tử : « Nói gì thì cứ nói thẳng, đừng nói thí dụ ». Huệ tử hỏi vua : « Có một người không biết cái nỏ là cái gì, mới hỏi tôi cái nỏ như thế nào. Nếu tôi đáp rằng cái nỏ giống như cái nỏ, thì người ấy có hiểu được không ? ». Vua trả lời: « Hiểu thế nào được ». Huệ tử lại hỏi : « Thế nếu tôi bảo người ấy rằng cái nỏ giống như cái cung, nhưng có cán có lẫy, thì người ấy có hiểu được không ? ». Vua trả lời : « Hiểu được ». Huệ tử kết luận : « Vì thế mà nói thí dụ cho dễ hiểu ». Bởi vậy, khi không tìm đựoc cách nào tốt hơn thì ông làm theo cách Huệ tử.
Dẫu sao, cách viết cũng chỉ là cái tài, là phong cách nấu nướng, còn vấn đề chính là tác giả cho người đọc ăn cái món gì mới là quan trọng ; là người đọc tôi chỉ nói gọn có một câu : Tám cái món ông dọn ra « bát bảo lương xà » có món ông nấu từ đầu thập kỷ chín mươi thế kỉ trước, có món mới nấu sau năm 2000, nhưng món nào cũng đang nóng hổi. Tôi đọc đi đọc lại cái chuyện trường công trường tư, rồi chuyện cách tổ chức Đại học … thì hình như ông viết để đọc tại cái Hội thảo « Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế » và một cái hội thảo na ná như thế trong vòng mấy tháng qua ! Càng đọc, tôi càng thấy có những vấn đề đến lạ. Thí dụ, trong khi Bộ Giáo dục Đào tạo lên kế hoạch đào tạo mấy trăm tiến sĩ và mấy ngàn thạc sĩ trong nước, thì có người cũng hàm này, vị nọ phê phán kế hoạch phiêu lưu, rồi họ dẫn ra nước này, nước nọ mỗi năm chỉ đào tạo được có mấy người … Thế nhưng ông giáo sư dạy đại học ở Pháp, dẫn tài liệu của Le Monde de l’Education số 261, 1998, thì năm 1997 số luận văn tiến sĩ các ngành bảo vệ ở Pháp là 10963. Nói gọn một câu là hơn một vạn. Tôi tin tác giả cuốn sách tôi đang đọc bởi cái bề dày và tấm lòng của ông. Từ thực tế này đến thực tế khác, hơn 10 năm trước, ông lý luận về vai trò chủ chốt của Nhà nước trong giáo dục mà nghe như ông đang phát biểu về xã hội hóa giáo dục mà chính phủ đang yêu cầu làm rõ hôm nay. Món ăn có thể hợp khẩu vị người này, nhưng chưa chắc hợp khẩu vị người khác, nhưng đối với tôi qua tám món ông bày ra, tôi không thể không nhắc đến cái món cuối cùng. Đó là phần cuối cuốn sách với nhan đề « Học và Hạnh ». Tôi xin viết rõ chữ Hạnh là dấu nặng, chứ không khéo do sơ xuất in ấn mà in thành học và hành thì lại mất ý nghĩa. Phần này, ông tập hợp 5 bài viết về 5 người học rộng tài cao, 3 người Việt và 2 người châu Âu nhưng đã gắn với công cuộc kháng chiến kiến quốc của đất nước ta. Đó là, Giáo sư Tạ Quang Bửu, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, Nhà Vật lý thiên văn Henri Van Regemorter, Nhà Toán học Laurent Schwartz và Giáo sư Lê Văn Thiêm … Trí tuệ và phẩm hạnh của 5 vị « bồ tát » khoa học này phải chăng đáng được dựng tượng đài, đặt tên trường, tên đường, tên phố trong đạo học Việt Nam ?
Phan Lương Ánh
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)