Chương 5
Ghé thăm Ấn Độ và Nepal
1. Miền bắc Ấn-độ
Tháng 12 năm 1976, vợ chồng tôi đi dự một hội nghị khoa học ở Delhi, và nhân dịp đó, được thăm vài nơi miền bắc Ấn-độ.
Thăm Delhi, tất nhiên, vì đó là nơi diễn biến của Hội nghị. Thoạt tiên là thăm Qutab Minar, bởi vì vừa mới tới nơi ở, đã thấy nó lù lù đập vào mắt vì chiều cao của nó. Thú thật là tôi không thấy đẹp bởi vì nhìn xa hình dáng nó giống như một cái ống khói xưởng máy. Thực ra đây là một cái tháp 5 tầng, cao 73m, đường kính chân tháp là 15m, đường kính ngọn tháp là 2,5m, của đền Hồi giáo Quwat-ul-Islam, được coi là đền Hồi giáo đầu tiên xây ở Ấn Độ, do Qutab-ud-din Aibak cho xây năm 1193 sau khi vương quốc Ấn-độ giáo Delhi bị hủy. Trên một trong những cổng vào còn ghi là vật liệu xây cất (« đá tràm tích » đỏ và đá hoa) được lấy từ 27 đền Ấn-độ giáo bị hủy. Về sự tích xây cái đài này, cũng có nhiều nguồn tin khác nhau : có nguồn cho rằng năm 1197 đã xây xong để đánh dấu kỷ nguyên mới của Hồi giáo tại Ấn-độ, có nguồn thì lại cho rằng thời Qutab chỉ xây được có một tầng, người nối nghiệp là Iltutmush mới cho xây thêm 2 tầng nữa, và mãi đến năm 1368 thời Shah Tughlaz mới xây xong tầng thứ 5. Leo được lên đến ngọn tháp thì cũng thấy vất vả. Nghe nói lúc năm 1958, khi Hồ chủ tịch chính thức thăm Ấn-độ, Cụ cũng tới thăm tháp này (thời điểm 1958 Hồ chủ tịch thăm Ấn-độ có được ghi trong bài hồi ức này của ông Đoàn Hựu : http://www.mofa.gov.vn/quocte/42,04/cuoc%20gap%20chuyentrang42,04.htm.), nhưng không nói tới chuyện thăm Qutab Minar, chắc vì đây là chuyện vặt). Sau chuyến thăm của vợ chồng tôi ít lâu, đọc báo thấy có tin có một cuộc hành hương của người bản xứ, chen lấn nơi đây, chết ngạt mất hơn 40 người ; khiếp, nhưng cũng không có gì lạ bởi các bực thang thì hẹp, đông người chen lấn thì dễ xảy ra tai nạn.
Sau khi đã đi thăm Qutab Minar, thì đi thăm Lâu đài chiến lũy đỏ (Fort Rouge), tức là hoàng thành, gọi như thế vì được xây bằng đá trầm tích đỏ dưới thời hoàng đế Shah Djahan (trị vì từ 1628 đến 1658) của triều đại Moghol. Công trình kiến trúc này được khởi công năm 1639 đến năm 1648 mới xong, vì Shah Djahan muốn chuyển kinh đô từ Agra về Delhi. Hoàng thành này là một quần thể kiến trúc bề thế, có tường cao 16m bao bọc một diện tích khoảng 600000 m2, gồm nhiều cung điện, đền Hồi giáo (mosquée), sân và vườn thượng uyển. Mấy kiến trúc đáng kể nhất trong khu này là điện thiết triều Diwam-i-am, 3 cung xây bằng đá cẩm thạch chạm trổ tinh vi, hậu cung Mumtaz Mahal nơi ở của các cung tần, cung Khas Mahal nơi ở của hoàng đế, vv.
Delhi cũng còn nhiều đền đài lăng mộ đồ sộ, như lăng của hoàng đế Humayun (xây năm 1570 bằng đá trầm tích đỏ và đá hoa trắng) được coi là kiến trúc đầu tiên của nghệ thuật Moghol ; đi xem nhiều rồi cũng chẳng nhớ cái nào với cái nào. Những công trình hiện đại thì cũng to lớn, như trụ sở của Chính phủ, vv., nhưng tôi chỉ chú ý nhiều đến di tích cổ.
Có lẽ cũng cần nhắc lại một chút lịch sử của triều đại Moghol, trước khi nói đến những nơi thăm khác. Nhắc lại trong ba thế kỉ (từ 1526 đến 1857) triều đại trị vì Ấn-độ là triều đại Moghol, mà người sáng lập là hoàng đế shah Baber (còn gọi là Babur). Ông này tự nhận mình là dòng dõi của Timur Leng phía cha (cháu 5 đời) và dòng dõi Thành-cát-tư hãn phía mẹ (không biết có phải thực thế không, hay là thấy sang bắt quàng làm họ), nhưng tóm lại là ông ta người gốc Thổ-nhĩ-kỳ, theo đạo Hồi ; năm 1526 chiếm được Delhi rồi Agra ; năm 1529 chiếm được phần lớn Ấn-độ.
Lịch sử ghi tên 6 đại hoàng đế (Grands Moghols) của triều đại này : Babur (trị vì đến năm 1530 thì chết), Humayun (trị vì từ 1530 đến 1556), Akbar (trị vì từ 1556 đến 1605), Djahangir (trị vì từ 1605 đến 1627), Shah Djahan (trị vì từ 1628 đến 1658) et Aurengzeb (trị vì từ 1658 đến 1707). Những vua kế tiếp hèn yếu, đến năm 1857, vua cuối cùng là Muhammad Bahadur Shah bị mất ngôi vì bị người Anh lấn chiếm, ngôi hoàng đế Ấn-độ do nữ hoàng Victoria nước Anh « kiêm nhiệm ».
Lẻn bỏ Hội nghi một ngày, vợ chồng tôi thuê xe riêng đi thăm Agra và Fatehpur Sikri, còn gọi là « kinh đô bỏ hoang ». Do chúng tôi vụng tính : lẽ ra thăm Fatehpur Sikri trước (lúc còn sớm) và Agra sau (dù gặp trời tối) thì hợp lý hơn, đằng này đã xem lộn ngược, dở quá !
Tương truyền rằng năm 1568, hoàng đế Akbar, lâu chưa có con trai, mới ngự giá tới làng Sikri để hỏi ý một tu sĩ hồi giáo, Salim Chisti. Tu sĩ này tiên đoán rằng nhà vua sẽ có con trai, nếu hoàng hậu tới ở làng này. Năm sau, 1569, lời tiên đoán thực hiện : hoàng hậu sinh con trai. Hoàng đế Akbar quyết định cho xây kinh thành ở nơi này, và đặt lên kinh đô này là Fatehpur Sikri (đô thị của chiến thắng), vào dịp một trận thắng lớn. Năm 1585, Akbar bỏ kinh đô này, dọn đi nơi khác (có lẽ vì thiếu nước ?), và không bao giờ trở lại. Nơi này trở thành hoang phế, nhưng không hoang tàn, tôi muốn nói là kiến trúc được bảo vệ hầu như nguyên vẹn tuy không dùng làm nơi ở.
Khi vợ chồng tôi bảo xe đưa tới xem, thì trời đã sẩm tối, khách vắng teo. Bởi vì chúng tôi vụng tính như đã kể trên, thành ra vội vã xem, nhưng cũng thấy được vẻ độ sộ của cung điện này. Tóm tắt gồm : Đền hồi giáo Jama Masjid xây năm 1571, một chiều 168m một chiều 144m, với cổng vào cao 54m, bên trong có mộ bằng đá hoa của Salim Chisti kể trên (nghe kể là ngày nay, những phụ nữ hiếm con còn đến đây cầu tự) . Điện Diwan-i-Khas, dùng những buổi « tiểu triều ». Cung Panch Mahal 4 tầng, có tới 185 cột chống, trong đó 84 cột ở tầng một không cái nào giống cái nào, là nơi ở của cung tần. Điện Diwam-i-am, dùng cho những buổi « đại triều », cạnh đó có sân Pachisi, nơi hoàng đế đánh cờ người (quân cờ là những phụ nữ nô lệ). Cung Jodh Bai, với cái Hawa Mahal (Cung « gió ») với những cửa sổ đặc biệt cho cung nữ có thể nhìn thấy bên ngoài mà không bị bên ngoài nhìn thấy. Gần đấy là cung dành cho bà phi Ki-tô giáo của hoàng đế Akbar. Lại có cung Ankh Michauli, tương truyền rằng là nơi để hoàng đế chơi « ú tim ú òa » với cung nữ, nhưng có sử gia cho rằng thực ra nơi này là nơi chứa báu vật của hoàng đế Akbar.
Trở lại chuyến chúng tôi thăm Agra trước đó vài tiếng đồng hồ. Agra một thời là kinh đô của triều đại Moghol, có lâu đài chiến lũy đỏ (Fort Rouge) tức là hoàng thành, cũng gọi như ở Delhi, vì được xây bằng đá trầm tích đỏ. Hoàng thành này có tường ngoài cao 12m, tường trong cao 20m, chu vi 2,50km, khởi công xây từ 1565 đến 1573 thời vua Akbar thì tạm xong. Trong hoàng thành có nhiều cung điện, như cung mà Akbar cho xây cho thái tử Jahangir sau nối ngôi, điện « đại triều » Diwam-i-Am xây năm 1608, điện « tiểu triều» Diwan-i-Khas xây năm 1636 dưới thời Shah Djahan, 3 cung cho ba bà vợ theo 3 tôn giáo khác nhau (Hồi giáo, Ki-tô giáo, Ấn-độ giáo), đài Mussaman Burj 2 tầng, hình bát giác, nơi mà hoàng đế Aurangzeb giam cha là hoàng đế Shah Djahan (trong 8 năm cho đến lúc chết), vv.
Sau đó thì đi thăm Taj Mahal. Việc xây công trình này là như sau : Hoàng đế Shah Djahan có bà vợ là Arjumand Banu, được rất yêu, gọi là Mumtaz Mahal. Năm 1631, Mumtaz Mahal chết khi đẻ người con thứ 14. Tương truyền rằng hoàng đế Shah Djahan đau buồn, không ra khỏi phòng trong tám ngày ; khi ra triều trở lại thì râu tóc đều đã bạc phơ. Để tưởng nhớ người vợ yêu, ông ra lệnh xây một cái lăng ở gần hoàng thành : đó là Taj Mahal, một công trình kiến trúc đồ sộ bằng đá cẩm thạch trắng, mà cái vòm của phần trung tâm cao 56m, giữa 17 hec-ta vườn hoa cây cỏ và các công trình phụ. Có nguồn ghi là phải huy động tới hai vạn thợ và hơn một nghìn súc vật như voi, ngựa, trâu, lạc đà, để xây cất trong 10 năm mới xong (có nguồn nói là xây cất lâu khoảng 16 năm). Từ hoàng thành, có thể nhìn thấy Taj Mahal. Người ta tán dương cái đẹp và vẻ nên thơ của công trình này, biểu hiện của tình yêu, thương nhớ. Nhà thi sĩ Ấn-độ Rabindranath Tagore (giải thưởng Nobel văn học 1913) ví Taj Mahal như « một giọt nước mắt trên má của thời gian ». Tôi không muốn phụ họa. Từ cung điện trong hoàng thành nhìn sang, do phong cảnh không hữu tình, cũng không có « ấn tượng » lắm. Nhưng đến tận nơi, mới thấy hết sự đồ sộ, sự cầu kỳ, tinh vi của Taj Mahal này. Ba ý nghĩ ập đến với tôi lúc đó : 1/ Phải yêu lắm – (sắc đẹp có lẽ không phải lý do chính trong trường hợp này, khi yêu một người phụ nữ đã đẻ 14 lần) – mới cho xây cất một công trình như vậy. 2/ Sao ở khắp xứ sở này, người ta đã thực hiện biết bao nhiêu công trình cho người chết, mà lại nghĩ ít thế đến tình cảnh của người sống ? (Tôi còn nhớ thuở ấy đi ngoài đường, có một người đàn bà giắt một bé gái nhỏ chừng 3 tuổi - hay là nhiều tuổi hơn nhưng trông như đứa bé lên 3 - thấy vợ chồng tôi, đứa bé buông tay mẹ, đến quì hôn chân vợ tôi rồi chìa tay xin tiền. Tôi nghĩ sắt đá cỏ cây cũng phải động lòng, vậy mà sao có những người cầm quyền vẫn có thể thản nhiên ?). 3/ Đã bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu đã chảy ở hàng vạn người, để thỏa mãn tình yêu của một người ? (Theo một nguồn kể, Shah Djahan triệu nhà kiến trúc sư Ba-tư nổi tiếng nhất thời đó là Usad Ahmad đến, nhưng sai người giết vợ ông ta để ông ta cảm thấy nỗi đau khổ mất vợ như thế nào, để đổ tất cả tình cảm và tâm trí vào việc thực hiện công trình này. Thực hay bịa ?).
Cũng có lời đồn rằng hoàng đế Shah Djahan cũng có ý định cho xây cất một lăng mộ tương tự cho chính mình, nhưng bằng cẩm thạch đen. Nhưng ý định đó không bao giờ được thực hiện. Lý do là Shah Djahan có ý định truyền ngôi cho người con cả là Dara Shikok (còn gọi là Shekuh), nhưng người con thứ ba là Aurengzeb không chịu như vậy. Aurengzeb liên kết với các người anh em khác để loại người anh cả, gây ra cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, và sau khi giết được Dara Shikok rồi thì lại loại các anh em khác, rồi tiến vào kinh đô, truất ngôi của cha, tự lập mình làm hoàng đế năm 1658, giam cha ở trong cung trong 8 năm đến lúc chết. Trong 8 năm đó, Shah Djahan cũng còn có thể, từ đài Mussaman Burj, nhìn thấy Taj Mahal phía xa để tưởng nhớ đến người vợ yêu.
Thời gian ở Delhi không lâu, nhưng vợ chồng tôi cũng cố bỏ ra ba ngày, để chớp nhoáng đi thăm Kathmandou, thủ đô của Nepal.
2. Nepal
Thuở ấy Nepal còn đang yên ổn. Và còn đang là một nước xa vời, kẹp giữa Trung quốc và Ấn-độ, ít du khách. Cái gì cũng lạ đối với chúng tôi, ngay cả lá cờ, không theo hình chữ nhật như hầu hết các nước khác, mà gồm 2 tam giác, một cái tượng trưng cho sự lâu dài của hoàng gia, và một cái mang hình mặt trời, tượng trưng cho dòng họ Rana cầm quyền, chả biết có thật vậy không. Từ Delhi, lấy máy bay nhỏ buổi sáng rất sớm. Xuống sân bay, thuê xe về khách sạn, người lái xe đề nghị chúng tôi thuê anh ta luôn cả 3 ngày để anh ta đưa đi chỗ nọ chỗ kia, nhưng chúng tôi từ chối, vì muốn chủ động. Sau đó mới thấy là mình dại, khi muốn « tự do » di chuyển. Khách sạn loại tốt này ở cạnh hoàng cung mới, nên xa trung tâm, di chuyển khó, vì thành phố này thưở ấy không có phương tiện di chuyển công cộng phổ biến. Muốn vào thành phố, phải bảo khách sạn gọi điện thoại tìm taxi. Điều đầu tiên làm tôi thấy lạ là mấy cây cổ thụ của vườn hoàng cung đầy những con dơi đậu, toàn dơi là dơi, chẳng thấy chim chóc gì. Thỉnh thoảng hàng loạt dơi bay, đen nghịt, không thấy gì là đẹp mắt cả.
Katmandou được thành lập ở thế kỉ 10 dưới thời vua Gunakamadeva, trên một cao nguyên 1350m, có hai con sông, và bao bọc chung quanh bởi núi cao cho nên xem như là một thung lũng, và được coi như bao gồm cả hai kinh đô cũ Patan và Bhaktapur, tuy cách nhau nhiều cây số. Thành phố hiện nay xây dựng từ thế kỉ 16. Gọi là « thành phố » cho bảnh, chứ lúc chúng tôi thăm, phố không ra hồn phố, đường phố không có cống ngầm, không nhặt rác, thiếu nước. Ra khỏi địa phận sân vườn của khách sạn, thì có cảm tưởng lạc vào thời Trung cổ : trẻ con cởi truồng bẩn thỉu phóng uế ở ngay đường, giữa đám gà, lợn nuôi thả lung tung.
Nhà cửa thì lụp xụp, chỉ có mấy đền, chùa xây dựng cao, nhìn thấy từ xa, nhưng muốn đi tới xem thì cũng phải mò mẫm vì không có đường phố hẳn hoi. Có một lúc tôi nhìn thấy một cái đền cao nhiều tầng, muốn mò tới xem, nhưng không tìm được lối vào, chợt thấy một du khách người da trắng, tôi lại hỏi thăm ông ta. Tôi nghĩ tất nhiên phải dùng tiếng Anh, ú ớ vài câu, nhưng thấy ông ta nói tiếng Anh còn dở hơn mình, chẳng hiểu nhau, vợ tôi đứng cạnh mới « gà » bằng tiếng Pháp, ông ta nghe thấy mới thốt ra : ông bà nói tiếng Pháp à ? Té ra là một ông người Pháp, do đó mới nghe ông ta giảng giải đầu đuôi lối vào.
Có một cái đền mang tên Kaasthamandap, có thuyết cho rằng theo chữ Phạn, Kaast nghĩa là gỗ (?) và mandap là nới trú ngụ (?), còn gọi là Maru Satal dựng năm 1596, toàn bằng gỗ, không có đinh sắt, tương truyền là gỗ xẻ ra của chỉ một cây thôi. Chả biết có phải vậy không. Và vì cái tên đền này mà có cái tên Katmandou (?). Đền đài cung điện tập trung ở quanh quảng trường Durbar (có lẽ nghĩa là quảng trường cung điện, vì ở cả 3 kinh đô đều có tên gọi này). Thấy có cái đền Taleju (giữa thế kỉ 16), có 6 nền, 5 mái vuông chồng lên nhau ; lại thấy có một cái đền cao 5 nóc hình tròn xây bằng gạch gỗ ngói ; có đền Khikkara ; có cung Kumari Bahal, xây bằng gạch đỏ, cửa sổ trạm trổ tinh vi, trong đó là nơi tu (nhốt) của tiểu nữ thần sống Kumari (một trẻ em gái nhỏ tuổi). Lại đi xem cung cũ của vua. Nhà gỗ nhưng cao nhiều tầng, cầu thang thì hẹp, không hiểu khi họ phải khênh vua lên lầu thì họ làm thế nào. Có lẽ bất tiện nên vua thời mới, mới xây cung kiến trúc kiểu Tây để ở. Lại mang máng nhớ đến một tấm bia đá ở sân hoàng cung cũ. Đây quả là một lạ đối với tôi, vì trên đó thấy khắc mấy dòng chữ của mấy thứ tiếng nước ngoài, trong đó có một câu tiếng Anh chẳng ra đầu ra đuôi gì cả. Nghe nói, cái ông vua cho khắc cái bia này, muốn chứng tỏ là mình biết nhiều tiếng ngoại quốc. Ngẫm cho cùng, trong cái dở cũng có cái hay : điều này chứng tỏ là ông ta muốn mở mất nhìn ra thế giới bên ngoài, chứ không vài vua nước mình, cứ tưởng mình là « phó » trung tâm của vũ trụ – « chánh » trung tâm của các vị đó thì « tất nhiên » là Trung quốc – cho nên có mắt mà chẳng nhìn thấy gì, cho nên mới để mất nước. Ngó bản đồ, muốn gọi taxi, nhưng không thấy. Lại thấy có một anh đạp « cyclo kéo » – người đạp ngồi trước, không phải loại người đạp ngồi sau – cứ lẽo đẽo theo nài, vợ tôi thương nên muốn đi thử. Sau mới thấy là dại, thà thuê xe đạp như mấy tay du khách « Tây ba-lô » còn đỡ mệt hơn, bởi vì ra khỏi phố, vừa gặp một cái dốc thoai thoải, tay đạp xe đạp không nổi, phải xuống đẩy xe, mà y đẩy cũng không nổi, vợ chồng tôi phải xuống xe … đẩy hộ y. Rõ chán, đã mất tiền, lại phải đẩy xe ! May là đi được một quãng thấy đằng xa có một cái bảo tháp lớn (stupa), chung quanh quang đãng thấy có nhiều du khách, có bãi xe taxi, ước lượng không xa lắm, bèn bảo tay đạp xe ngưng lại, trả tiền hắn, rồi mình đành cuốc bộ đến nơi vậy. Đây là bảo tháp Svayambhunath (còn mang tên dân giã là chùa khỉ), vì nhiều khỉ, và phải trèo nhiều bực mới lên tới nơi.
Rồi lại đi thăm Patan bên kia sông, thuở xưa còn mang tên Lalitpur, cũng là một quần thể đền đài chùa chiền cung điện từ thế kỉ 16, được coi là một trong đô thị cố nhất của Phật giáo, tương truyền là do vua Ashoka thành lập từ thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên. Trung tâm là quảng trường Durbar, có đền Krishna Mandir bằng đã hoa tráng rất nhiều cột và tượng sư tử chầu ; có Cột chạm trổ bên trên có tượng vua Yoganerendra Malla ngồi chắp tay, sau lưng có tượng rắn mang bành (cobra) đầu đội một con chim, khá độc đáo, không thấy có ở nước nào khác ; cột này ở ngay trước cổng hoàng cung có 2 sư tử đá lớn, hai bên cổng có tượng thần nhiều tay. Xa hơn một chút, có Đền Vàng, cổng đá nhỏ nhưng chạm trổ rất diêm dúa, cổng thứ nhất cũng có đôi sư tử gác, trong sân có tượng Phật ; qua cổng thứ chín thì thấy Đền Vàng, xây dựng từ thế kỉ 12. Lại có chùa Kumbeshar (thế kỉ 14) năm mái.
Rồi chiều hôm sau đi thăm Bhaktapur, còn có tên gọi là Bhadgaon. Có thuyết cho rằng đô thị được xây dựng nên từ thế kỉ 12. Đây là kinh đô cũ từ thế kỉ 14 đến thế kỉ 16, được giữ gìn và tu sửa lại, cách trung tâm Katmandou khoảng 15km. Tụi tôi đi thăm vào buổi chiều, gọi taxi, hẹn chở đi rồi lại chở về. Khá hoành tráng, phố lát gạch, nhưng hẹp, xe hơi không được phép vào, xe phải đỗ ngoài bãi. Đã trả tiền cho chuyến đi, bảo anh tài xế lái xe đợi như đã hẹn. Rất nhiều đền đài, cung điện, tập trung gần hoàng cung và quảng trường Durbar. Đang thủng thẳng đi xem, thì thấy một đứa con trai bản xứ, chạc độ hơn mười tuổi, ăn mặc không lam lũ lắm, đến hỏi vợ chồng tôi bằng tiếng Anh : ông bà nói tiếng Anh hay tiếng Pháp ? Vợ chồng tôi ngạc nhiên, đoán nó định xin tiền. Tôi mới trả lời : Nói tiếng Pháp. Lại ngạc nhiên hơn nữa, là nó quay ra nói tiếng Pháp : « Vậy cháu làm người hướng dẫn (guide) cho ông bà nhé, cháu lấy tiền rẻ hơn người khác ». Thấy lạ, vợ tôi bảo : « Được. Cháu bao nhiêu tuổi ? Cháu học tiếng Pháp ở trường à, sao mà nói thạo vậy ? ». Nó trả lời : « Cháu 12 tuổi, nhà cháu nghèo, cháu không đi học ở trường. Cháu học tiếng Anh tiếng Pháp với khách du lịch ». Không biết nó nói thật hay nói dối, nhưng dù có đi học trường chăng nữa, cũng khó nói thạo tiếng Pháp như vậy. Hẳn là một đưa bé rất thông minh. Thế rồi nó dắt vợ chồng tôi đi xem, kể rành mạch chỗ này chỗ nọ. Đến một lúc, nó dẫn lên một cái gò, chỉ một cái đền khá to, rồi bảo : « Bây giờ ông bà trả tiền cháu, rồi ông bà đi xem một mình, cháu không đi nữa ». Tụi tôi hỏi : « Sao cháu không dẫn đi tiếp ? Sẽ cho cháu thêm tiền ». Nó bảo : « Chỗ ấy có người hủi, cháu sợ, cháu không đi qua đấy đâu. Cháu chia tay với ông bà ở nơi đây thôi ». Nói thế nào nó cũng không chịu đi. Tụi tôi trả tiền, còn thưởng thêm cho nó. Cũng là chuyện lạ trong chuyến đi thăm này. Rồi đi qua cái đền này, có thấy hủi hiếc gì đâu.
Trở lại chuyện mấy cái đền đài. Ở gần quảng trường Durbar, thấy có hoàng cung (thế kỉ 13), gồm 7 tầng , với nhiều sân chầu ; có « Cổng Vàng » bằng đồng mạ vàng (thế kỉ 17) ; tượng Nữ thần 4 đầu ; Hồ xây với hình rắn mang bành (cobra) thần ; Cung điện « 55 cửa sổ » ; Cột trên đỉnh có tượng vua Bhupatindra Malla ngồi che lọng (thế kỉ 17), có tu viện Tad Hunchen (thế kỉ 15), không cao, chỉ 2 tầng, có đặc điểm là có một số tấm gỗ chạm khắc ; đền Siddhi Lakshmi (thế kỉ 17) xây bằng đá, có lắm hình súc vật, đặc biệt là hình lạc đà mà ở Nepal không có ; đền Pashupatinath thờ thần Shiva (thế kỉ 18) ; đền Fasidegan (thế kỉ 17,18) rất cao, gồm sáu tầng, bằng đá trầm tích ; đền voi, với những tấm gỗ khắc voi đang làm tình ; các tượng Durga 18 tay và Bhairava 12 tay, cổ đeo tràng hạt bằng đầu lâu, trấn một cái cổng nay không còn nữa – tương truyền là ông vua sai tạc hai tượng này, quí chúng đến mức sai chặt tay người tạc để không thể tạc tượng tương tự cho nơi khác (thực hay hư ?).
Lại tới xem quảng trường Taumadhi với một quần thể đến đài. Có đền Nyatapola (xây khoảng năm1700), 5 tầng, cao nhất vùng, khoảng gần 40m ; đền thờ nữ thần Siddhi Lakshmi, với 180 hình trạm thần này dưới mọi dạng ; đền Til Mahadev Narayan nhỏ nhưng cổ, thờ thần Vishnou, với hai cái linga và một cái yoni.
Lại có đền Dattatraya (thế kỉ 15), 3 tầng, có những hình dâm, tương truyền là cũng xây dựng với gỗ của một cây cổ thụ. Xem nhiều rồi lẫn lộn, chả nhớ chắc chắn cái nào với cái nào. Nhưng thấy đặc điểm của những ngôi đền nhiều mái vuông liên tiếp theo chiều cao, (mái thẳng chứ không có mái cong), và được bảo quản khá tốt.
Nói chung, đền đài cung điện xứ này không đồ sộ như ở bắc Ấn-độ, nhưng nhiều cái tập trung vào thành một quần thể, gây nên một ấn tượng đặc biệt.
Thủng thẳng xem xong, thấy trời đã xế bóng ; ở thung lũng, núi bao quanh nên trời xập tối nhanh ; vội vã trở ra bến xe. Thì hết hồn hết vía, vắng như chùa bà Đanh, không còn cái xe nào nữa, cái tay lái xe taxi chắc đã tìm được du khách khác, đã thất hẹn không chờ vợ chồng tôi. Nhìn chả còn ai, tìm hàng quán thì không có, muốn gọi địện thoại cũng không được. Ngó xa xa thấy có cái làng, đi vào đó kiếm cách hỏi thăm thì thấy một nhóm người đang tụ tập quanh một cái xe ca nhỏ đã cũ kỹ. Ngôn ngữ bất đồng, vội chỉ chỏ hỏi : « Katmandou ? », thì họ gật, chỉ cái biển nhỏ đề Katmandou Express. Mừng quá, bước lên, trả tiền, chẳng thấy phát vé gì cả ; xe đã đông, toàn người bản xứ, có vẻ người bình dân lam lũ, họ rất tử tế, nhường cho 2 chỗ ngồi ở cái ghế dài, có lẽ vì vợ Âu-chồng Á, đi đâu cũng thường là « của lạ ». Vài phút sau xe lọc cọc chạy, giá chậm vài phút thì có lẽ ngủ đêm ở bãi xe, vì 15 km đâu có thể cuốc bộ! Vào đến Katmandou, ngó thấy nhà cửa, ước lượng có vẻ có chỗ thuê được taxi, ra dấu hiệu cho họ đỗ xe lại, cảm ơn rồi xuống xe, gọi taxi về khách sạn. Thật là may. Cái kiểu du lịch « cá nhân », không đi theo nhóm, rất là lộng hiểm, thế nhưng sau vẫn không chừa ! Hôm sau lại lấy máy bay trở về Delhi an toàn.
*****
Có một điều mà tôi không lý giải được là : đi đâu thì đi (còn một số nước tôi đã thăm mà chưa kịp kể), rốt cục cũng vẫn quay về nghĩ tới Việt Nam. Mà tôi có biết gì mấy về nước nhà đâu : tôi chỉ sống ở đó có khoảng hơn 15 năm, về thăm và làm việc có 5 lần những năm 1970, 1975, 1977, 1979, 1981, lần lâu nhất là bốn tuần, và đã từ 26 năm rồi tôi không trở lại. Phải chăng đó là vì cái mà người ta gọi là tình quê hương cũ ? Vì vậy mà tôi dành mấy chương sau đây của cuốn tạp ký này, để viết về những con người và những sự việc liên quan đến Việt Nam.
24/11/08
Chương 4 Thăm mấy nước Mỹ la-tinh
Chương 4
Thăm mấy nước Mỹ la-tinh
Tôi không được biết nhiều về châu Mỹ la-tinh. Thuở còn trẻ, bận nhiều việc, tâm trí còn tập trung cho Việt Nam, rồi việc gia đình, con cái lại còn nhỏ tuổi, không thể vợ chồng cùng đi ; nhiều lần được mấy đại học nơi đó mời sang dạy học, mà rồi cứ nấn ná ; nên ít đi ; cho đến lúc bắt đầu ốm yếu, không đi được nữa. Thành ra cũng tiếc, chỉ thăm được vài nơi.
Nói chung thì tôi cũng nhiều thiện cảm với châu Mỹ la-tinh, nhưng tôi hiểu biết khá lõm bõm về mấy nước này. Đại khái là chỉ biết chung chung mấy điều vặt vãnh, thí dụ như có : nền văn minh Maya, đế quốc Aztèque, đế quốc Inca, chuyện bọn Conquistadores, vv.
1. Thăm Venezuela
Đầu 1970, Đại học Universidad Central de Venezuela ở thủ đô Caracas mời tôi sang dạy học 6 tuần. Tôi rủ vợ cùng đi, vì vợ tôi biết nói tiếng Tây-ban-nha, tôi thì không ; nhưng vì gửi 2 con còn nhỏ trong gia đình, nên vợ tôi chỉ đi với tôi được có 2 tuần. Thôi thì được ngày nào hay ngày nấy. Đây là lần đầu mà chúng tôi tiếp xúc với châu Mỹ la-tinh. Tôi đi công vụ (của Pháp), nên xuống sân bay, có xe hơi của sứ quán Pháp đón, rồi đưa về một khách sạn, mà họ đã thuê phòng hộ tôi. Chắc họ tưởng tôi giàu nên chọn nơi sang trọng, tôi đọc bảng giá, mà hết hồn. Vốn là thuở ấy đại học Universidad Central de Venezuela này chưa quen mời khách từ Pháp sang kiểu như tôi (hoặc là khách chỉ ghé qua làm một buổi thuyết trình rồi đi, hoặc là người sang làm phụ giáo dạy học cả năm) tôi thì họ mời 6 tuần, nên họ không biết cách thu xếp trước, mà tôi viết thư hỏi trước khi đi, thì họ cứ luôn luôn trả lời trấn an : cứ sang đây, thu xếp được hết ; họ « thoải mái » như vậy.
Cái thủ đô này thật lạ lùng, thuở ấy nhà không có số, không quen thì dễ lạc ; ngay cả taxi, khi chở đến phố, thì cũng phải hỏi thăm láng giềng « góc đường này, cạnh hiệu kia, vv. », chả biết nay như thế nào. Nghe nói người nơi này thì có vẻ hiền lành chất phác, thích ở nhàn, nhưng thỉnh thoảng lại bất chợt nổi một cơn hung ; hai ngày trước khi vợ chồng tôi tới, tả hữu biểu tình gì đó, rồi bắn nhau chết hai người sinh viên trong trường đại học.
Đang bỡ ngỡ nên chưa biết tính sao, thì may có một bà phụ giáo của đại học, không phải là dân bản xứ mà là dân Argentina (Ac-hen-ti-na) đến tìm, rủ đến nhà bà ta dự buổi tiệc bà tiếp đãi. Vốn là lúc đó, Argentina thể chế lộn xộn, nên nhiều người phái tả phải bỏ sang các nước lân cận. Bà này nói tiếng Pháp, nghe tôi đến nên muốn làm quen. Ở bữa chiêu đãi nhà bà này, may lại gặp hai phụ giảng viên Pháp, cử nhân Toán, vốn là sinh viên cũ ở đại học Lille, nơi trước đây tôi dạy học, tuy tôi không phải là thày cũ của họ ; hai anh này đương thời gian làm nghĩa vụ quân sự nhưng được « thế mạng » bằng nhận đi dạy học nơi này một thời gian lâu hơn. Họ mới gà cho cho cách thuê nơi ở. (Một trong hai anh này, anh D. sau này nhập vào ngạch ngoại giao Pháp, cuối hè năm 1981 sang làm tùy viên khoa học ở sứ quán Pháp ở Hà Nội ; trước khi đi Việt Nam, có lại tìm tôi hỏi thăm ; hết nhiệm kỳ trở về bộ Ngoại giao Pháp, còn bảo tôi : Việt Nam là nơi làm việc … khó nhất). Trở lại chuyện ở Caracas, thế là sau một đêm « lo lắng về tiền nong » ở khách sạn, ngày hôm sau anh D. đưa xe đến đón, chở vợ chồng tôi đến nơi thuê nhà, tôi nhớ là một nhà cao tầng, tên gọi là Residencia Taormina, cho thuê những căn hộ trang bị đủ mọi tiện nghi sẵn sàng, kể cả TV, như ở khách sạn, mà lại có cả bếp núc tùy ý nấu ăn. Lại có thể thuê ngày, thuê tuần, thuê tháng, tùy ý. Tầng dưới cùng lại có hiệu bán bánh mì « kiểu Pháp » và thực phẩm đủ loại, rất tiện. (Loại căn hộ cho thuê như thế này, thuở đó, không thấy có ở Pháp). Có nơi ở rồi, mới tung tăng tính chuyện đi dạo chơi, vì chưa thấy ai bàn đến việc dạy học cả.
Tối hôm đó có buổi nhạc ở giảng đường trường đại học, vợ chồng tôi được rủ tới nghe : đó là buổi trình diễn nhạc cổ điển của nhạc sĩ ghi-ta cổ điển Diaz, được coi như là một thứ « nghệ sĩ công huân » của nước này. Tôi vốn đã nhiều lần nghe ông này đàn trên đài, nhưng tôi không thích cách đàn của ông ta, rất « kỹ thuật » nhưng hầu như không có tâm hồn, cách đàn vội vã như sợ người khác tranh chỗ đàn mất của mình, không thanh thản như Andres Segovia, chững chạc, tài hoa như John Williams hay Julian Bream. Nhưng buổi đó, người ta đứng dậy sau mỗi bài đàn, vỗ tay lâu có lẽ bằng thời gian đàn ; thế mới biết lòng tự hào dân tộc là khiếp lắm.
Hôm sau anh D. lại mang xe rủ đi chơi, dẫn đến một nơi được coi là một vùng lạ của xứ này. Tôi không nhớ là cách thủ đô mấy chục, hay cả trăm cây số, nhưng đúng là đặc biệt cho khách du lịch. Đó là một làng, mang tên Colonia Tova, toàn người gốc Đức, mắt xanh tóc vàng, đã nhiều thế hệ sống như người Đức ở Đức, nghe nói họ sống riêng biệt, không lấy lẫn người sở tại, giữ truyền thống cũ của họ từ trang phục, đến cách ăn uống, hàng quán rượu bia, bánh ngọt, vv. Không biết nay còn tồn tại hay không.
Thăm nơi nào mà mình không thạo tiếng nói, thì cũng bất tiện dù có « phiên dịch riêng ». Một buổi hai chồng tôi thủng thẳng đi dạo phố. Tuy là khu « bảnh » – khu nhà giàu thành phố này ở thung lũng, khu nghèo thì đẩy lên đồi cao chung quanh, suburbios/favelas – nhưng cũng có vấn đề, đặc biệt là vỉa hè thỉnh thoảng lại có lỗ hổng ; vợ tôi đang nghếch mắt ngắm cảnh, tụt một chân vào hố, trẹo chân đau ngất xỉu. Người hàng phố tử tế chạy đến đỡ, dìu lên, có vẻ như muốn gọi xe cấp cứu. Tôi sợ quá, vợ Âu chồng Á, người ta đâu có biết, họ mà chở đi đâu thì sao mà tìm thấy ; vội vã mở cuốn từ điển bỏ túi, ú ớ chỉ trỏ, nói được hai chữ « esposa, marido » (vợ, chồng), cũng may họ gật đầu hiểu. May mà vài phút sau, vợ tôi tỉnh lại, đợi một lát hết đau, rồi lại đi dạo tiếp.
Khí hậu thành phố Caracas rất thích, nhất là vào đầu năm, nhiệt độ chỉ quanh quẩn 20 độ vì ở trên cao (1000m) ; Maiquetia là ngoại ô nơi có sân bay ở ngay ven biển thì nóng, nhưng có mấy bãi tắm « tư » rất bảnh, có cây cối um tùm, bãi cát mịn ngay dưới bóng mát, nhưng phải trả tiền mới vào được.
Lợi dụng thời gian vợ tôi còn ở đó, cũng có người mời về nhà riêng của họ để ăn cơm « gia đình », gọi cả bà con họ hàng đến dự. Có điều lạ là bà chủ nhà không ngồi ăn mà chỉ lo nấu nướng, làm tôi nghĩ đến Việt Nam ta thuở xưa.
Thoải mái mấy ngày, rồi mới thấy bàn đến chuyện dạy học và học. Tôi không biết là trường đại học này lúc đó chưa mở ngành tôi dạy, nên tôi ngỡ là phải soạn bài giảng cho sinh viên Cao học, tôi dạy thử một buổi rồi phải hạ xuống một mức. Lại tưởng là dạy cho sinh viên, té ra người theo học lại là mươi phụ giảng viên, và một ông giáo sư già ngành đại số. Trước khi sang, viết thư hỏi dạy bằng tiếng gì, thì họ trả lời là muốn dạy bằng tiếng Pháp cũng được ; vào cuộc mới biết họ hiểu tiếng Pháp cũng chỉ bập bẹ, rốt cuộc phải dạy bằng tiếng Tây-ban-nha. Cũng may là tôi lo xa, đã sửa soạn sẵn bài giảng và nhờ vợ tôi dịch sẵn ra tiếng Tây-ban-nha, tiếng này lại dễ phát âm, nên dạy bằng tiếng Tây-ban-nha không khó. Chỉ khi có người đặt câu hỏi thì mới bất đắc dĩ dùng tiếng Pháp hay tiếng Anh. Đến khi ấy tôi mới hiểu ý định của trường này khi mời tôi sang : họ muốn tôi làm một cầu nối để gửi sang Pháp một số phụ giảng viên của họ để học Cao học rồi làm luận án tiến sĩ. Khóa học do đó là việc mở đầu, và tôi đã cố gắng thực hiện tốt cho họ. Sau này, tôi đã giúp đưa được vài người sang làm luận án ở Pháp, trong đám đó có anh O. bảo vệ luận án với sự hướng dẫn của tôi và trở về làm giáo sư ở một trường đại học khác ở Caracas. Thuở ấy, có lẽ chưa có nhà khoa học gốc Việt Nam nào dạy học nơi đây ; họ không quen tên Việt Nam mà họ cho là khó đọc, nên lúc đầu chưa quen tên tôi, họ đặt cho tôi một cái biệt danh, đó là … Ho Chi Minh (!), cái tên gọi quen thuộc duy nhất đối với họ ; điều này cũng chứng tỏ sự thiện cảm rất lớn của họ đối với Việt Nam đang đương đầu với đế quốc trong cuộc chiến tranh khốc liệt.
Từ nhà trọ đến trường không xa, có thể đi bộ khoảng hơn nửa giờ, nhưng tiện hơn vẫn là đi xe. Nhưng cái thành phố này kỳ lạ ở chỗ là ít phương tiện di chuyển công cộng « chính thức »; cách tiện nhất là ra đứng đợi ở vỉa hè phố chính, đợi những xe taxi « đi chung » : thấy xe chạy qua thì vẫy, còn chỗ thì họ cho lên, nếu xe chật rồi, thì phải đợi xe sau ; lúc nào muốn xuống thì ra dấu hiệu, họ đỗ cho mà xuống, tất nhiên phải có tiền lẻ để trả cho nhanh. Nhưng cũng có bữa không gặp may, phải đợi lâu mới có xe có chỗ, thành ra thường phải đi sớm một chút để khỏi trễ giờ.
Hai tuần sau khi đến, vợ tôi phải về Pháp, tôi phải xoay sở một mình. Nước này, so với lân cận, giàu hơn một chút, có lẽ vì dầu hỏa, nên thức ăn cũng sẵn. Có điều là nhiều món của họ dùng ngô, mà tôi ăn không tiêu. Món họ thường ăn và bán rong phổ biến nhất là « perro caliente », tức là « hot dog » gọi theo Mỹ (dịch nguyên văn ra tiếng Việt là « chó nóng »), xúc xích nóng bôi mù-tạc cay bỏng lưỡi kẹp trong miếng bánh mì. Tôi một mình, nên ngại làm bếp, ăn lộn xộn, uống coca-cola là thứ đồ uống rất thịnh nơi này, được vài ngày thì lên một cơn đau dạ dày khủng khiếp, đành lật từ điển tra được chữ carbon (lẽ ra về Y, hình như phải nói carbunco), vào hiệu thuốc chỉ trỏ, người dược sĩ cũng hiểu bán cho một lọ, mang về uống mới hoàn hồn. Mấy ngày chủ nhật còn lại, trường nghỉ, chả có gì làm, tôi đi dạo xem phố, thấy ở các công viên nhỏ, mấy ông già, nơi này vài ba người, nơi kia dăm bẩy người mang đàn sáo ra hòa nhạc với nhau, thường là có chiếc « đàn hạc » (harpe indienne), đàn ghi-ta, ghi-ta trầm, ukulele, vài cây sáo, chơi nhạc truyền thống dân gian ; cũng một thứ giải trí văn hóa lành mạnh. Tôi đứng nghe ké, cũng thấy vui, và phát hiện ra rằng nhạc xứ này có đặc điểm của nó, trái với thành kiến của tôi trước đó.
Còn lại thì dạo xem thành phố : nhiều nơi, quảng trường, đường phố, công viên thấy ghi tên ông Simon Bolivar (1783-1830). Vốn là năm 1498, Christophorus Colombus phát hiện ra xứ này, và xứ này trở thành thuộc địa của Tây-ban-nha. Vào khoảng năm 1819-1820, Simon Bolivar giải phóng đất đai, lập nên Cộng hòa Colombia, còn gọi là Gran Colombia (liên bang Venezuela, Colombia, Equador) cho nên được người nước này tôn sùng. Sau, Bolivar không nắm chức quyền, (1830), Venezuela tách ra khỏi liên bang, và tồn tại với lãnh thổ ngày nay…
Đến gần hết kỳ hạn giảng dạy, tôi nhận đựoc một bức thư của ông hiệu trưởng trường đại học, mời đến gặp ông, và báo có mời cả ông tham tán văn hóa của sứ quán của Pháp. Cả ông tham tán và tôi, đều không biết có việc gì, chỉ bảo nhau là nơi này họ « thoải mái », đến đâu hay đến đấy, vậy chúng ta cũng phải vậy. Đến ngày hẹn, tới nơi, ông hiệu trưởng tiếp, và trịnh trọng trao cho tôi một văn bản, hỏi ra mới biết là bản sao của tờ biên bản của Hội đồng khoa học của trường, với số phiếu 100% thuận, biểu dương khóa giảng dạy của tôi. Thật là bất ngờ và rất vui cho tôi, vì một bà giáo sư đồng nghiệp Pháp, dạy tiếp đợt bài giảng của tôi mấy tuần sau đó, không được hưởng vinh dự đó. Ông tham tán bảo : « Mừng ông, vậy là họ còn mời ông sang dạy nữa đấy, nhưng lúc đó tôi không còn ở đây để đi cùng với ông ». Rồi có một bữa tiệc chiêu đãi của khoa, trước khi tôi lên đường về Pháp.
Tôi bận công việc, bận chuyện hội đoàn, bận chuyện với Việt Nam, bận chuyện đi nơi khác, nên gần 6 năm sau, vào tháng chạp năm 1975, tôi mới có dịp trở lại nơi này, trong một tình huống khác. Đó là vào dịp Hội nghị Liên Mỹ về Giảng dạy Toán học được tổ chức tại Caracas (Conferencia Interamericana sobre Educacion Matematica). Người mà tôi hướng dẫn luận án tiến sĩ ở Pháp sau chuyến tôi dạy học ở Caracas đã kể trên, anh O. – nay đã mà giáo sư ở một đại học tại Caracas – và các người cộng sự của anh ta tổ chức Hội nghị này, nên bỗng nhiên tôi trở thành … thượng khách. Vợ tôi lúc ấy còn đang tại chức giảng dạy ở đại học Limoges, chưa chuyển về Paris, cũng được mời. Lại gửi con còn nhỏ, để cùng đi, nhưng lần này thì đi ngắn ngày. Lại thuê phòng ở Residencia Taormina như năm xưa ; lần này lại được báo chí địa phương đưa tên cùng với mấy « danh nhân » như nhà toán học Pháp J. Dieudonné (mà tôi sẽ nói tại sao dưới đây) ; có điều là tên Việt Nam thì họ vẫn chưa quen, nên « Liễu » đã trở thành « Luis » như tên người Tây-ban-nha hay người bản xứ vậy ! Nhưng có một lý do nữa để tôi được mời (chứ không phải chỉ vì là « người quen »). Vốn là các xứ này đang muốn tìm hiểu cách giảng dạy toán học, bởi vì họ phần nào đang bị lây cái nạn dạy « toán học mới », làm cho học sinh của họ bị khủng hoàng, có trẻ em học những ngôn ngữ toán học mới nhưng không biết làm nổi những phép tính thông thường, rồi lại thêm cái vụ tranh cãi về « toán học thuần túy » (tiếng Pháp là mathématiques pures) và « toán học ứng dụng » ((tiếng Pháp là mathématiques appliquées). Vì vậy mà trong đám khách được mời, có ông J. Dieudonné (1906-1992). Vài câu tóm tắt về ông này : ông là một nhà toán học nổi danh, là một trong những người sáng lập ra nhóm Bourbaki và là một trong những nhân vật chủ chốt của trường phái này. Ông cũng là người nổi tiếng về thái độ cực đoan, tuy những người quen biết ông thì coi ông là người bộc trực nhưng tốt bụng. Nhưng ông được mời là vì ông là người đã gợi ý và lập ra các IREM (Instituts de Recherche sur l’Enseignement des Mathématiques, Viện nghiên cứu về giảng dạy toán học). Còn tôi thì được mời là vì tôi là kẻ « đầu têu » ra cái đề án giảng dạy toán học trong các ngành khác với ngành Lý – (thuở ấy, ở đại học Pháp, 2 năm đầu đại học bị ép gắn liền giảng dạy Toán và Lý, và Toán cũng được dạy phụ vào khối Lý-Hóa, nhưng Toán không được coi như có khả năng áp dụng vào ngành khác!) – và lúc đó đề án « của tôi » này đang được hợp tác thí điểm chung ở trường tôi đại học Paris 5 và đại học Paris 7 cho các ngành khoa học xã hội theo nghĩa rộng, mở rộng cho cả kinh tế, tài chính vv. (Về thí điểm này, tôi có kể chi tiết trong bài báo tưởng niệm ông Tạ Quang Bửu, có in lại trong cuốn sách của tôi « Tự sự của người xa quê hương », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004, cũng như trong cuốn « GS Tạ Quang Bửu, con người và sự nghiệp », nxb Đại học Quốc gia 2000 ; và tôi có kể là năm 1977, tại Hội nghị Toán học toàn quốc Việt Nam tôi có trình bày kinh nghiệm này, nhưng người duy nhất chú ý là ông Bửu). Khi tôi trình bày quan điểm của tôi tại Hội nghị liên-Mỹ này , tôi cũng sửa soạn lý lẽ đề phòng trước phản ứng có thể xảy ra ở phía ông Dieudonné ; nhưng tôi khá ngạc nhiên khi ông phát biểu tỏ sự đồng tình của ông với quan điểm của tôi, và nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu của ông : Không có Toán thuần túy (Mathématiques pures) và Toán ứng dụng (Mathématiques appliquées), chỉ có « Toán có thể áp dụng » (Mathématiques applicables). Có lẽ cũng có thể là về già, ông có chút sám hối nào chăng về thái độ đôi khi cực đoan của nhóm Bourbaki, (như nhà L. Schwartz có thổ lộ trong cuốn hồi ký « Un mathématicien aux prises avec avec le siècle », Odile Jacob, 1997), bởi vì cũng trong buổi đó, ông « hành » một nhà toán học Bỉ (là bạn vong niên của tôi) bỏi vì ông này, một chuyên gia về Hình học vi phân, cố giảng giải về khả năng ứng dụng của mình vào Cơ học. (Tôi nhận thấy là, trong đời nghề nghiệp của tôi, đơn thương độc mã ở nước định cư, từ lỗ nẻ chuyên môn chui ra, mà xem ra quan hệ với với các « đại gia » Toán học cũng có vẻ êm ái lịch thiệp, trong khi tôi bị bọn tiểu yêu đồng nghiệp ganh tị, phá phách, làm hại sau lưng). Rồi Hội nghị chấm dứt với một buổi chiêu đãi linh đình ở bãi biển Maiquetia, với một dàn nhạc dân tộc.
Ngay sau đó vợ chồng tôi rời Venezuela để đi thăm Guatemala.
2. Guatemala
Đây là lợi dụng có vài ngày thanh thản để đi chơi, không có công việc gì phải làm, nên chủ ý là muốn đi thăm Tikal trong rừng Peten. Nhắc lại là có thuyết cho rằng nền văn minh Maya, ở khoảng vùng nam nuớc Mehico cho đến nước Guatemala ngày nay, gồm 3 thời kỳ : Tiền cổ (2000 năm trước Công nguyên đến 250 sau công nguyên) ; Cổ đại (250-950 sau công nguyên) khá huy hoàng với những đô thị (trong số đó có Tikal) với kiến trúc đền đài bằng đá, chữ viết và hệ 20 con số, lịch 365 ngày, vv. ; Hậu cổ (950-1500) dần dần suy thoái. Vợ chồng tôi tính chọn thăm thành phố Tikal, nay bỏ hoang, vì đây là một quần thể đến đài rộng lớn tập hợp tới khoảng 3 nghìn công trình kiến trúc bằng đá (kim tự tháp có bậc, đền thờ, có chiếc cao tới 70m, vv.), thời thịnh nhất có tới khoảng 45 ngàn dân vào khoảng từ thế kỉ thứ 4 đến thế kỉ thứ 9 sau Công nguyên, sau rơi vào hoang tàn không biết vì lẽ gì. Đây là ý định của vợ chồng tôi, nhưng khi xuống đến sân bay của thủ đô Guatemala mới biết rằng phải giữ chỗ hàng tuần trước, vì khách du lịch ghi tên sẵn quá đông, phương tiện đi (bằng máy bay du lịch nhỏ) lại hạn chế. Chán quá, nhưng chúng tôi quyết định không dùng cái phương tiện mà anh O. đã dặn trước khi rời Venezuela : gọi điện cho một người bạn thân của anh ta, đang là đại tá công an xứ này, để anh ta thu xếp « đặc biệt ». Chúng tôi không muốn chịu ơn, để rồi có thể phải trả ơn lại.
Đang lúc phân vân chưa biết làm gì, thì vợ tôi thấy hai ông bà người Pháp líu ríu sách hành lý để lấy máy bay. Vợ tôi hỏi thăm cách vào thủ đô Guatemala City ; ông bà này mới khuyên rằng : Guatemala City là thành phố mới, chả có gì đáng xem, nên đi Antigua, là hơn cả. Bùi tai, vợ chồng tôi gọi taxi đi Antigua. Nơi này, thuở xưa là thủ phủ, nơi đóng của viên trấn quan thời còn là thuộc địa của Tây-ban-nha, được xây dựng vào thế kỉ 16, ở vùng cao 1500 m so với mặt biển, hay bị động đất, đặc biệt là bị một trận động đất năm 1773 phá hủy nhiều công trình xây dựng. Nhưng nay vẫn còn quảng trường Plaza de Armas, ở đó lâu đài của viên trấn quan cũ, nhà thờ San Jose, Đại học cổ San Carlos nay là bảo tàng, nhà tu Santa Clara và nhà thờ Nuestra Señora de las Mercedes. Ở thành phố nhỏ này, nhà cửa không cao, nhưng vững chắc, di tích cũ được bảo quản rất tốt. Đường phố lát đá từ thuở xưa, nay vẫn giữ như cũ. Taxi đưa vợ chồng tôi tới một khách sạn, xưa là một trong những công trình cổ đó, phòng ngủ, phòng ăn của khách sạn đều quay vào phía sân trong, mát mẻ và yên tĩnh. Bữa trưa bữa tối đều có dàn nhạc dân tộc, nhưng món ăn thì là đặc sản, cơ bản dựa trên ngô, nên tôi ăn không được, đó là điều duy nhất mà tôi không hài lòng. Ở đó hai ngày, thủng thẳng xem hết thành phố rồi thuê xe đi thăm một thắng cảnh : hồ Atitlan, ở giữa mấy núi lửa cũ ; may trời tốt, xanh biếc, nước xanh, núi xanh, bờ hồ đầy phượng vĩ trổ hoa đỏ rực, rất đẹp mắt. Vợ tôi thấy mấy cháu người bản xứ rất nghèo theo mẹ đi ở hồ, nên rất thương, gọi chúng lại cho tiền mua kẹo. Chiều mới trở lại Antigua.
Rồi lấy máy bay đi Panama.
3. Panama và cái Kênh đào
Chủ ý của chúng tôi là đi Colombia, nhưng phải đổi máy bay ở sân bay Panama, và do một sự rủi ro, lỡ một chuyến máy bay ở đó. Đêm đã khuya, thay vì ngồi đợi từ giữa đêm đến sáng, mới nảy ra cái ý đi thăm kênh đào Panama cho biết. Do đó mới gọi thuê một xe taxi bảo họ chở đi xem cho biết. Nhưng lúc đó đã khuya, sợ đi tay đôi, cũng nguy hiểm ; nhìn quanh quẩn thấy một cặp trẻ cũng kẹt ở sân bay, tôi mới rủ họ, nếu muốn cùng đi thăm luôn thể. Hỏi ra đây là một cặp vợ chồng người Mỹ, người chồng là cựu quân nhân đã từng sang Việt Nam, nhưng chúng tôi tránh đề cập vấn đề này, chỉ cùng tính chuyện cũng đi thăm kênh đào (vả lại chiến tranh ở Việt Nam cũng đã chấm dứt). Đêm đó, vừa nóng vừa mưa lâm thâm, đêm tối mò mò, chiếc xe chở đi cũng xa, nên tôi chẳng thấy được gì, ngoài mấy chiếc tàu lớn có thắp đến sáng, và sự « mãn nguyện » sau đó của vợ tôi được bước vài bước trên bờ biển Thái Bình Dương – mà mấy năm sau khi thăm Việt Nam cũng không có thì giờ để tới. Nhưng dù sao, cũng là một dịp để tôi « tìm hiểu » về sự tích kênh đào này :
Năm 1879, một hội nghị nhóm họp ở Paris với sự tham dự của 135 đại biểu của 23 nước, xét 19 đề án. Rốt cục là, với sự ủng hộ của ông Ferdinand de Lesseps, người đã thành công trong việc đào kênh Suez 10 năm trước đó, đề án của ông Wyse được chấp nhận : kênh sẽ đào từ vịnh Limon (Đại Tây Dương) đến vịnh Panama (Thái Bình Dương), dài 80 km, không có hầm, nhưng có nhiều tầng. Năm 1881, công trình được khởi đầu dưới sự điều khiển của Ferdinand de Lesseps, nhưng đến năm 1888 thì bị khủng hoảng về tài chính. Sau phải nhường lại cho Hoa Kỳ vào đầu thế kỉ 20. Nhưng thuở ấy, đất này còn thuộc nước Colombia ; năm 1903 ký hiệp ước Hay-Herrán, theo đó Colombia nhận cho Hoa Kỳ tiếp tục đào kênh và nhường quyền sử dụng cho Hoa kỳ trong 100 năm, kể cả trên dải đất rộng 5km mỗi bên kênh đào. Thượng nghị viện của Mỹ chấp nhận, nhưng Quốc hội của Columbia rốt cục không thông qua, vì coi là xâm phạm vào chủ quyền của nước họ. Cuối 1903, với sự ủng hộ của Hoa kỳ, Panama tuyên bố độc lập, tách ra khỏi Colombia ; Hoa Kỳ được hưởng điều kiện lợi hơn trước : dải đất nhường cho Hoa Kỳ, trước là 5 km mỗi bên kênh đào, nay trở thành 5 dặm mỗi bên, từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương ; trước là 100 năm, nay là vĩnh viễn (mãi đến năm 1999 mới đòi được trả lại cho Panama). Kênh đào này hoàn thành năm 1914. Và tiếp tục được mở rộng, hiện có khoảng rộng từ 152m đến 222m.
Sau khi « xem » mà chẳng thấy gì mấy, quay trở lại sân bay, đã 3 giờ sáng, ngủ gà ngủ gật vật vã cho đến sáng, mới có máy bay đi Bogota, thủ đô Colombia.
4. Ghé Bogota
Thuở ấy, khách du lịch còn ít, chúng tôi chẳng giữ chỗ trước, hỏi taxi xem có khách sạn nào « ở được », người lái xe bảo : với ông bà thì chỉ có một khách sạn ở được, đó là khách sạn Tequendama. Đến nơi mới biết là loại sang nhất, thôi thì cũng tin là vậy. Nghỉ ngơi một chút rồi ngó bản đồ đi dạo chơi. Bị một cơn hú vía : đi một quãng khá xa, thấy có một phòng trà sạch sẽ, vào giải khát, ăn kem uống nước xong, giở ví trả tiền mới phát hiện ra là bỏ quên tiền ở khách sạn. Tôi phải ngồi lại làm « con tin », để vợ tôi trở lại khách sạn lấy tiền, cũng may là không mất cắp. Thủ đô này của Colombia không có di tích cổ. Chỗ duy nhất đáng xem là cái « Bảo tàng Vàng », nơi tàng trữ hiện vật bằng vàng có từ thời trước khi Colombus phát hiện ra Châu Mỹ, tất cả có tới hàng ngàn hiện vật bằng vàng và ngọc, (có nguồn nói tới khoảng 3 vạn) mà bọn Conquistadores còn để sót không cướp hết thuở xưa. Thủng thẳng xem xong, thấy đã muộn giờ, khách thăm bảo tàng đã vắng, vợ chồng tôi ra cửa để về, bỗng thấy 4 nhân viên bảo vệ dang tay chặn cửa ra, mà xua vợ chồng tôi vào một cái phòng cạnh đó, đèn tù mù. Chúng tôi rất ngạc nhiên đang định lên tiếng phản đối thì thấy họ khép hai cánh cửa sắt lớn kiên cố như cánh tủ két lại sau lưng, rồi đèn mở sáng choang : Trời đất quỉ thần ! Toàn vàng là vàng, la liệt trên tường, trong tủ, cả đống cả mớ, lóe mắt, chưa bao giờ tôi nhìn thấy nhiều vàng như vậy. Bấy giờ tôi mới nhớ lại lời dặn của anh D. hồi mới quen ở Caracas 5 năm về trước. Anh ta bảo : khi nào ông bà thăm « Bảo tàng Vàng » ở Bogota, thì sẽ có điều « bất ngờ », nhưng tôi không kể trước cho ông bà biết. Chính là điều « bất ngờ » này đây.
Lại nhớ đến câu chuyện « bạch kim » (dùng theo nghĩa platine/platinum, chứ không phải là vàng trắng): Theo một tài liệu in trong Figaro magazine số 19369 ngày 10/11/2006, giá bạch kim là 37500 USD/1kg. Đây là kim khí đắt nhất, sử dụng cho kỹ nghệ chất lượng cao và đồ trang sức. Bọn Conquistadores thuở xưa (thế kỉ 16) không biết giá trị của bạch kim. Khi tìm vàng ở châu Mỹ La-tinh, họ cho bạch kim là một thứ kim khí tạp nhạp, kém giá trị của bạc, nên họ gọi bạch kim là « platina » (bạc chất lượng thứ yếu, « argent mineur ») và bỏ qua. Chả biết có đúng vậy không.
Thế rồi rời Bogota về Pháp, với ý định còn trở lại châu Mỹ La-tinh nhiều lần nữa, không ngờ diễn biến nằm ngoài dự đoán. Lại nhớ lại năm 1973, vợ chồng được mời đi Chi-lê, và tính trên đường về sẽ ghé Mê-hi-cô. Thị thực công vụ đã có, giấy tờ hộ chiếu đã được bộ ngoại giao Pháp sửa soạn xong, có vé máy bay sẵn sàng, ngày đi đã được định sẵn ; nhưng lúc đó tình hình đã căng lắm giữa tổng thống Allende và các công đoàn. Vợ chồng tôi hỏi thăm một bà đồng nghiệp Pháp mới ở Santiago về Paris, bà ta bảo : ông bà đi thì mang theo sà phòng, vì ở khách sạn có bánh sừng bò (croissant) ăn sáng, nhưng sà phòng thì không có. Tôi do dự quá, người thì bảo đi được, người thì bảo không. Tôi gọi điện hỏi ý bộ ngoại giao Pháp, người ở đầu dây lúc đầu ngần ngại không muốn nói, sau mới dè dặt bảo : Hay là ông bà hoãn đi vài hôm xem sao. Hai ngày sau, Pinochet đảo chính, tổng thống Allende bị chết. Việc đi Chi-Lê của vợ chồng tôi do đó không thành. Ít lâu sau, nhân dịp nói chuyện với anh Verdier, giáo sư Toán ở Đại học Paris 6 và Ecole Normale Supérieure rue d’Ulm, anh ta kể với tôi là lúc đảo chính anh ta đang ở Santiago, bọn quân đảo chính vào khách sạn bắt anh ta, dí súng vào lưng, dẫn đi nhốt vào sân vận động 3 ngày mới thả ra. Tôi hú vía nghĩ, anh ta là tây trắng nên thoát nạn, chứ tôi là « tây vàng », chắc là chết mất xác. Từ đó tôi cứ đợi ngày Pinochet đền tội, thế rồi y cũng chết già tự do. Cũng thấy ức, nhưng nghĩ cho cùng, ngay trong sử cận đại ngày nay, thiếu quái gì kẻ độc tài, giết cả vạn cả triệu người, mà vẫn nhởn nhơ vô tội, có khi lại còn được tôn vinh !
Còn Mê-hi-cô, nơi có nhiều di tích cổ của các nền văn minh Maya, Olmèque …, thì vợ chồng tôi cũng tính đi vào năm 1981, giấy tờ, vé máy bay cũng đã sẵn, nhưng chẳng may ở Việt Nam về tôi bị ốm nặng, phải bỏ không đi. Rồi sức khỏe không cho phép đi nữa, ý định thăm với các nước Mỹ la-tinh khác không thực hiện được.
Thăm mấy nước Mỹ la-tinh
Tôi không được biết nhiều về châu Mỹ la-tinh. Thuở còn trẻ, bận nhiều việc, tâm trí còn tập trung cho Việt Nam, rồi việc gia đình, con cái lại còn nhỏ tuổi, không thể vợ chồng cùng đi ; nhiều lần được mấy đại học nơi đó mời sang dạy học, mà rồi cứ nấn ná ; nên ít đi ; cho đến lúc bắt đầu ốm yếu, không đi được nữa. Thành ra cũng tiếc, chỉ thăm được vài nơi.
Nói chung thì tôi cũng nhiều thiện cảm với châu Mỹ la-tinh, nhưng tôi hiểu biết khá lõm bõm về mấy nước này. Đại khái là chỉ biết chung chung mấy điều vặt vãnh, thí dụ như có : nền văn minh Maya, đế quốc Aztèque, đế quốc Inca, chuyện bọn Conquistadores, vv.
1. Thăm Venezuela
Đầu 1970, Đại học Universidad Central de Venezuela ở thủ đô Caracas mời tôi sang dạy học 6 tuần. Tôi rủ vợ cùng đi, vì vợ tôi biết nói tiếng Tây-ban-nha, tôi thì không ; nhưng vì gửi 2 con còn nhỏ trong gia đình, nên vợ tôi chỉ đi với tôi được có 2 tuần. Thôi thì được ngày nào hay ngày nấy. Đây là lần đầu mà chúng tôi tiếp xúc với châu Mỹ la-tinh. Tôi đi công vụ (của Pháp), nên xuống sân bay, có xe hơi của sứ quán Pháp đón, rồi đưa về một khách sạn, mà họ đã thuê phòng hộ tôi. Chắc họ tưởng tôi giàu nên chọn nơi sang trọng, tôi đọc bảng giá, mà hết hồn. Vốn là thuở ấy đại học Universidad Central de Venezuela này chưa quen mời khách từ Pháp sang kiểu như tôi (hoặc là khách chỉ ghé qua làm một buổi thuyết trình rồi đi, hoặc là người sang làm phụ giáo dạy học cả năm) tôi thì họ mời 6 tuần, nên họ không biết cách thu xếp trước, mà tôi viết thư hỏi trước khi đi, thì họ cứ luôn luôn trả lời trấn an : cứ sang đây, thu xếp được hết ; họ « thoải mái » như vậy.
Cái thủ đô này thật lạ lùng, thuở ấy nhà không có số, không quen thì dễ lạc ; ngay cả taxi, khi chở đến phố, thì cũng phải hỏi thăm láng giềng « góc đường này, cạnh hiệu kia, vv. », chả biết nay như thế nào. Nghe nói người nơi này thì có vẻ hiền lành chất phác, thích ở nhàn, nhưng thỉnh thoảng lại bất chợt nổi một cơn hung ; hai ngày trước khi vợ chồng tôi tới, tả hữu biểu tình gì đó, rồi bắn nhau chết hai người sinh viên trong trường đại học.
Đang bỡ ngỡ nên chưa biết tính sao, thì may có một bà phụ giáo của đại học, không phải là dân bản xứ mà là dân Argentina (Ac-hen-ti-na) đến tìm, rủ đến nhà bà ta dự buổi tiệc bà tiếp đãi. Vốn là lúc đó, Argentina thể chế lộn xộn, nên nhiều người phái tả phải bỏ sang các nước lân cận. Bà này nói tiếng Pháp, nghe tôi đến nên muốn làm quen. Ở bữa chiêu đãi nhà bà này, may lại gặp hai phụ giảng viên Pháp, cử nhân Toán, vốn là sinh viên cũ ở đại học Lille, nơi trước đây tôi dạy học, tuy tôi không phải là thày cũ của họ ; hai anh này đương thời gian làm nghĩa vụ quân sự nhưng được « thế mạng » bằng nhận đi dạy học nơi này một thời gian lâu hơn. Họ mới gà cho cho cách thuê nơi ở. (Một trong hai anh này, anh D. sau này nhập vào ngạch ngoại giao Pháp, cuối hè năm 1981 sang làm tùy viên khoa học ở sứ quán Pháp ở Hà Nội ; trước khi đi Việt Nam, có lại tìm tôi hỏi thăm ; hết nhiệm kỳ trở về bộ Ngoại giao Pháp, còn bảo tôi : Việt Nam là nơi làm việc … khó nhất). Trở lại chuyện ở Caracas, thế là sau một đêm « lo lắng về tiền nong » ở khách sạn, ngày hôm sau anh D. đưa xe đến đón, chở vợ chồng tôi đến nơi thuê nhà, tôi nhớ là một nhà cao tầng, tên gọi là Residencia Taormina, cho thuê những căn hộ trang bị đủ mọi tiện nghi sẵn sàng, kể cả TV, như ở khách sạn, mà lại có cả bếp núc tùy ý nấu ăn. Lại có thể thuê ngày, thuê tuần, thuê tháng, tùy ý. Tầng dưới cùng lại có hiệu bán bánh mì « kiểu Pháp » và thực phẩm đủ loại, rất tiện. (Loại căn hộ cho thuê như thế này, thuở đó, không thấy có ở Pháp). Có nơi ở rồi, mới tung tăng tính chuyện đi dạo chơi, vì chưa thấy ai bàn đến việc dạy học cả.
Tối hôm đó có buổi nhạc ở giảng đường trường đại học, vợ chồng tôi được rủ tới nghe : đó là buổi trình diễn nhạc cổ điển của nhạc sĩ ghi-ta cổ điển Diaz, được coi như là một thứ « nghệ sĩ công huân » của nước này. Tôi vốn đã nhiều lần nghe ông này đàn trên đài, nhưng tôi không thích cách đàn của ông ta, rất « kỹ thuật » nhưng hầu như không có tâm hồn, cách đàn vội vã như sợ người khác tranh chỗ đàn mất của mình, không thanh thản như Andres Segovia, chững chạc, tài hoa như John Williams hay Julian Bream. Nhưng buổi đó, người ta đứng dậy sau mỗi bài đàn, vỗ tay lâu có lẽ bằng thời gian đàn ; thế mới biết lòng tự hào dân tộc là khiếp lắm.
Hôm sau anh D. lại mang xe rủ đi chơi, dẫn đến một nơi được coi là một vùng lạ của xứ này. Tôi không nhớ là cách thủ đô mấy chục, hay cả trăm cây số, nhưng đúng là đặc biệt cho khách du lịch. Đó là một làng, mang tên Colonia Tova, toàn người gốc Đức, mắt xanh tóc vàng, đã nhiều thế hệ sống như người Đức ở Đức, nghe nói họ sống riêng biệt, không lấy lẫn người sở tại, giữ truyền thống cũ của họ từ trang phục, đến cách ăn uống, hàng quán rượu bia, bánh ngọt, vv. Không biết nay còn tồn tại hay không.
Thăm nơi nào mà mình không thạo tiếng nói, thì cũng bất tiện dù có « phiên dịch riêng ». Một buổi hai chồng tôi thủng thẳng đi dạo phố. Tuy là khu « bảnh » – khu nhà giàu thành phố này ở thung lũng, khu nghèo thì đẩy lên đồi cao chung quanh, suburbios/favelas – nhưng cũng có vấn đề, đặc biệt là vỉa hè thỉnh thoảng lại có lỗ hổng ; vợ tôi đang nghếch mắt ngắm cảnh, tụt một chân vào hố, trẹo chân đau ngất xỉu. Người hàng phố tử tế chạy đến đỡ, dìu lên, có vẻ như muốn gọi xe cấp cứu. Tôi sợ quá, vợ Âu chồng Á, người ta đâu có biết, họ mà chở đi đâu thì sao mà tìm thấy ; vội vã mở cuốn từ điển bỏ túi, ú ớ chỉ trỏ, nói được hai chữ « esposa, marido » (vợ, chồng), cũng may họ gật đầu hiểu. May mà vài phút sau, vợ tôi tỉnh lại, đợi một lát hết đau, rồi lại đi dạo tiếp.
Khí hậu thành phố Caracas rất thích, nhất là vào đầu năm, nhiệt độ chỉ quanh quẩn 20 độ vì ở trên cao (1000m) ; Maiquetia là ngoại ô nơi có sân bay ở ngay ven biển thì nóng, nhưng có mấy bãi tắm « tư » rất bảnh, có cây cối um tùm, bãi cát mịn ngay dưới bóng mát, nhưng phải trả tiền mới vào được.
Lợi dụng thời gian vợ tôi còn ở đó, cũng có người mời về nhà riêng của họ để ăn cơm « gia đình », gọi cả bà con họ hàng đến dự. Có điều lạ là bà chủ nhà không ngồi ăn mà chỉ lo nấu nướng, làm tôi nghĩ đến Việt Nam ta thuở xưa.
Thoải mái mấy ngày, rồi mới thấy bàn đến chuyện dạy học và học. Tôi không biết là trường đại học này lúc đó chưa mở ngành tôi dạy, nên tôi ngỡ là phải soạn bài giảng cho sinh viên Cao học, tôi dạy thử một buổi rồi phải hạ xuống một mức. Lại tưởng là dạy cho sinh viên, té ra người theo học lại là mươi phụ giảng viên, và một ông giáo sư già ngành đại số. Trước khi sang, viết thư hỏi dạy bằng tiếng gì, thì họ trả lời là muốn dạy bằng tiếng Pháp cũng được ; vào cuộc mới biết họ hiểu tiếng Pháp cũng chỉ bập bẹ, rốt cuộc phải dạy bằng tiếng Tây-ban-nha. Cũng may là tôi lo xa, đã sửa soạn sẵn bài giảng và nhờ vợ tôi dịch sẵn ra tiếng Tây-ban-nha, tiếng này lại dễ phát âm, nên dạy bằng tiếng Tây-ban-nha không khó. Chỉ khi có người đặt câu hỏi thì mới bất đắc dĩ dùng tiếng Pháp hay tiếng Anh. Đến khi ấy tôi mới hiểu ý định của trường này khi mời tôi sang : họ muốn tôi làm một cầu nối để gửi sang Pháp một số phụ giảng viên của họ để học Cao học rồi làm luận án tiến sĩ. Khóa học do đó là việc mở đầu, và tôi đã cố gắng thực hiện tốt cho họ. Sau này, tôi đã giúp đưa được vài người sang làm luận án ở Pháp, trong đám đó có anh O. bảo vệ luận án với sự hướng dẫn của tôi và trở về làm giáo sư ở một trường đại học khác ở Caracas. Thuở ấy, có lẽ chưa có nhà khoa học gốc Việt Nam nào dạy học nơi đây ; họ không quen tên Việt Nam mà họ cho là khó đọc, nên lúc đầu chưa quen tên tôi, họ đặt cho tôi một cái biệt danh, đó là … Ho Chi Minh (!), cái tên gọi quen thuộc duy nhất đối với họ ; điều này cũng chứng tỏ sự thiện cảm rất lớn của họ đối với Việt Nam đang đương đầu với đế quốc trong cuộc chiến tranh khốc liệt.
Từ nhà trọ đến trường không xa, có thể đi bộ khoảng hơn nửa giờ, nhưng tiện hơn vẫn là đi xe. Nhưng cái thành phố này kỳ lạ ở chỗ là ít phương tiện di chuyển công cộng « chính thức »; cách tiện nhất là ra đứng đợi ở vỉa hè phố chính, đợi những xe taxi « đi chung » : thấy xe chạy qua thì vẫy, còn chỗ thì họ cho lên, nếu xe chật rồi, thì phải đợi xe sau ; lúc nào muốn xuống thì ra dấu hiệu, họ đỗ cho mà xuống, tất nhiên phải có tiền lẻ để trả cho nhanh. Nhưng cũng có bữa không gặp may, phải đợi lâu mới có xe có chỗ, thành ra thường phải đi sớm một chút để khỏi trễ giờ.
Hai tuần sau khi đến, vợ tôi phải về Pháp, tôi phải xoay sở một mình. Nước này, so với lân cận, giàu hơn một chút, có lẽ vì dầu hỏa, nên thức ăn cũng sẵn. Có điều là nhiều món của họ dùng ngô, mà tôi ăn không tiêu. Món họ thường ăn và bán rong phổ biến nhất là « perro caliente », tức là « hot dog » gọi theo Mỹ (dịch nguyên văn ra tiếng Việt là « chó nóng »), xúc xích nóng bôi mù-tạc cay bỏng lưỡi kẹp trong miếng bánh mì. Tôi một mình, nên ngại làm bếp, ăn lộn xộn, uống coca-cola là thứ đồ uống rất thịnh nơi này, được vài ngày thì lên một cơn đau dạ dày khủng khiếp, đành lật từ điển tra được chữ carbon (lẽ ra về Y, hình như phải nói carbunco), vào hiệu thuốc chỉ trỏ, người dược sĩ cũng hiểu bán cho một lọ, mang về uống mới hoàn hồn. Mấy ngày chủ nhật còn lại, trường nghỉ, chả có gì làm, tôi đi dạo xem phố, thấy ở các công viên nhỏ, mấy ông già, nơi này vài ba người, nơi kia dăm bẩy người mang đàn sáo ra hòa nhạc với nhau, thường là có chiếc « đàn hạc » (harpe indienne), đàn ghi-ta, ghi-ta trầm, ukulele, vài cây sáo, chơi nhạc truyền thống dân gian ; cũng một thứ giải trí văn hóa lành mạnh. Tôi đứng nghe ké, cũng thấy vui, và phát hiện ra rằng nhạc xứ này có đặc điểm của nó, trái với thành kiến của tôi trước đó.
Còn lại thì dạo xem thành phố : nhiều nơi, quảng trường, đường phố, công viên thấy ghi tên ông Simon Bolivar (1783-1830). Vốn là năm 1498, Christophorus Colombus phát hiện ra xứ này, và xứ này trở thành thuộc địa của Tây-ban-nha. Vào khoảng năm 1819-1820, Simon Bolivar giải phóng đất đai, lập nên Cộng hòa Colombia, còn gọi là Gran Colombia (liên bang Venezuela, Colombia, Equador) cho nên được người nước này tôn sùng. Sau, Bolivar không nắm chức quyền, (1830), Venezuela tách ra khỏi liên bang, và tồn tại với lãnh thổ ngày nay…
Đến gần hết kỳ hạn giảng dạy, tôi nhận đựoc một bức thư của ông hiệu trưởng trường đại học, mời đến gặp ông, và báo có mời cả ông tham tán văn hóa của sứ quán của Pháp. Cả ông tham tán và tôi, đều không biết có việc gì, chỉ bảo nhau là nơi này họ « thoải mái », đến đâu hay đến đấy, vậy chúng ta cũng phải vậy. Đến ngày hẹn, tới nơi, ông hiệu trưởng tiếp, và trịnh trọng trao cho tôi một văn bản, hỏi ra mới biết là bản sao của tờ biên bản của Hội đồng khoa học của trường, với số phiếu 100% thuận, biểu dương khóa giảng dạy của tôi. Thật là bất ngờ và rất vui cho tôi, vì một bà giáo sư đồng nghiệp Pháp, dạy tiếp đợt bài giảng của tôi mấy tuần sau đó, không được hưởng vinh dự đó. Ông tham tán bảo : « Mừng ông, vậy là họ còn mời ông sang dạy nữa đấy, nhưng lúc đó tôi không còn ở đây để đi cùng với ông ». Rồi có một bữa tiệc chiêu đãi của khoa, trước khi tôi lên đường về Pháp.
Tôi bận công việc, bận chuyện hội đoàn, bận chuyện với Việt Nam, bận chuyện đi nơi khác, nên gần 6 năm sau, vào tháng chạp năm 1975, tôi mới có dịp trở lại nơi này, trong một tình huống khác. Đó là vào dịp Hội nghị Liên Mỹ về Giảng dạy Toán học được tổ chức tại Caracas (Conferencia Interamericana sobre Educacion Matematica). Người mà tôi hướng dẫn luận án tiến sĩ ở Pháp sau chuyến tôi dạy học ở Caracas đã kể trên, anh O. – nay đã mà giáo sư ở một đại học tại Caracas – và các người cộng sự của anh ta tổ chức Hội nghị này, nên bỗng nhiên tôi trở thành … thượng khách. Vợ tôi lúc ấy còn đang tại chức giảng dạy ở đại học Limoges, chưa chuyển về Paris, cũng được mời. Lại gửi con còn nhỏ, để cùng đi, nhưng lần này thì đi ngắn ngày. Lại thuê phòng ở Residencia Taormina như năm xưa ; lần này lại được báo chí địa phương đưa tên cùng với mấy « danh nhân » như nhà toán học Pháp J. Dieudonné (mà tôi sẽ nói tại sao dưới đây) ; có điều là tên Việt Nam thì họ vẫn chưa quen, nên « Liễu » đã trở thành « Luis » như tên người Tây-ban-nha hay người bản xứ vậy ! Nhưng có một lý do nữa để tôi được mời (chứ không phải chỉ vì là « người quen »). Vốn là các xứ này đang muốn tìm hiểu cách giảng dạy toán học, bởi vì họ phần nào đang bị lây cái nạn dạy « toán học mới », làm cho học sinh của họ bị khủng hoàng, có trẻ em học những ngôn ngữ toán học mới nhưng không biết làm nổi những phép tính thông thường, rồi lại thêm cái vụ tranh cãi về « toán học thuần túy » (tiếng Pháp là mathématiques pures) và « toán học ứng dụng » ((tiếng Pháp là mathématiques appliquées). Vì vậy mà trong đám khách được mời, có ông J. Dieudonné (1906-1992). Vài câu tóm tắt về ông này : ông là một nhà toán học nổi danh, là một trong những người sáng lập ra nhóm Bourbaki và là một trong những nhân vật chủ chốt của trường phái này. Ông cũng là người nổi tiếng về thái độ cực đoan, tuy những người quen biết ông thì coi ông là người bộc trực nhưng tốt bụng. Nhưng ông được mời là vì ông là người đã gợi ý và lập ra các IREM (Instituts de Recherche sur l’Enseignement des Mathématiques, Viện nghiên cứu về giảng dạy toán học). Còn tôi thì được mời là vì tôi là kẻ « đầu têu » ra cái đề án giảng dạy toán học trong các ngành khác với ngành Lý – (thuở ấy, ở đại học Pháp, 2 năm đầu đại học bị ép gắn liền giảng dạy Toán và Lý, và Toán cũng được dạy phụ vào khối Lý-Hóa, nhưng Toán không được coi như có khả năng áp dụng vào ngành khác!) – và lúc đó đề án « của tôi » này đang được hợp tác thí điểm chung ở trường tôi đại học Paris 5 và đại học Paris 7 cho các ngành khoa học xã hội theo nghĩa rộng, mở rộng cho cả kinh tế, tài chính vv. (Về thí điểm này, tôi có kể chi tiết trong bài báo tưởng niệm ông Tạ Quang Bửu, có in lại trong cuốn sách của tôi « Tự sự của người xa quê hương », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004, cũng như trong cuốn « GS Tạ Quang Bửu, con người và sự nghiệp », nxb Đại học Quốc gia 2000 ; và tôi có kể là năm 1977, tại Hội nghị Toán học toàn quốc Việt Nam tôi có trình bày kinh nghiệm này, nhưng người duy nhất chú ý là ông Bửu). Khi tôi trình bày quan điểm của tôi tại Hội nghị liên-Mỹ này , tôi cũng sửa soạn lý lẽ đề phòng trước phản ứng có thể xảy ra ở phía ông Dieudonné ; nhưng tôi khá ngạc nhiên khi ông phát biểu tỏ sự đồng tình của ông với quan điểm của tôi, và nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu của ông : Không có Toán thuần túy (Mathématiques pures) và Toán ứng dụng (Mathématiques appliquées), chỉ có « Toán có thể áp dụng » (Mathématiques applicables). Có lẽ cũng có thể là về già, ông có chút sám hối nào chăng về thái độ đôi khi cực đoan của nhóm Bourbaki, (như nhà L. Schwartz có thổ lộ trong cuốn hồi ký « Un mathématicien aux prises avec avec le siècle », Odile Jacob, 1997), bởi vì cũng trong buổi đó, ông « hành » một nhà toán học Bỉ (là bạn vong niên của tôi) bỏi vì ông này, một chuyên gia về Hình học vi phân, cố giảng giải về khả năng ứng dụng của mình vào Cơ học. (Tôi nhận thấy là, trong đời nghề nghiệp của tôi, đơn thương độc mã ở nước định cư, từ lỗ nẻ chuyên môn chui ra, mà xem ra quan hệ với với các « đại gia » Toán học cũng có vẻ êm ái lịch thiệp, trong khi tôi bị bọn tiểu yêu đồng nghiệp ganh tị, phá phách, làm hại sau lưng). Rồi Hội nghị chấm dứt với một buổi chiêu đãi linh đình ở bãi biển Maiquetia, với một dàn nhạc dân tộc.
Ngay sau đó vợ chồng tôi rời Venezuela để đi thăm Guatemala.
2. Guatemala
Đây là lợi dụng có vài ngày thanh thản để đi chơi, không có công việc gì phải làm, nên chủ ý là muốn đi thăm Tikal trong rừng Peten. Nhắc lại là có thuyết cho rằng nền văn minh Maya, ở khoảng vùng nam nuớc Mehico cho đến nước Guatemala ngày nay, gồm 3 thời kỳ : Tiền cổ (2000 năm trước Công nguyên đến 250 sau công nguyên) ; Cổ đại (250-950 sau công nguyên) khá huy hoàng với những đô thị (trong số đó có Tikal) với kiến trúc đền đài bằng đá, chữ viết và hệ 20 con số, lịch 365 ngày, vv. ; Hậu cổ (950-1500) dần dần suy thoái. Vợ chồng tôi tính chọn thăm thành phố Tikal, nay bỏ hoang, vì đây là một quần thể đến đài rộng lớn tập hợp tới khoảng 3 nghìn công trình kiến trúc bằng đá (kim tự tháp có bậc, đền thờ, có chiếc cao tới 70m, vv.), thời thịnh nhất có tới khoảng 45 ngàn dân vào khoảng từ thế kỉ thứ 4 đến thế kỉ thứ 9 sau Công nguyên, sau rơi vào hoang tàn không biết vì lẽ gì. Đây là ý định của vợ chồng tôi, nhưng khi xuống đến sân bay của thủ đô Guatemala mới biết rằng phải giữ chỗ hàng tuần trước, vì khách du lịch ghi tên sẵn quá đông, phương tiện đi (bằng máy bay du lịch nhỏ) lại hạn chế. Chán quá, nhưng chúng tôi quyết định không dùng cái phương tiện mà anh O. đã dặn trước khi rời Venezuela : gọi điện cho một người bạn thân của anh ta, đang là đại tá công an xứ này, để anh ta thu xếp « đặc biệt ». Chúng tôi không muốn chịu ơn, để rồi có thể phải trả ơn lại.
Đang lúc phân vân chưa biết làm gì, thì vợ tôi thấy hai ông bà người Pháp líu ríu sách hành lý để lấy máy bay. Vợ tôi hỏi thăm cách vào thủ đô Guatemala City ; ông bà này mới khuyên rằng : Guatemala City là thành phố mới, chả có gì đáng xem, nên đi Antigua, là hơn cả. Bùi tai, vợ chồng tôi gọi taxi đi Antigua. Nơi này, thuở xưa là thủ phủ, nơi đóng của viên trấn quan thời còn là thuộc địa của Tây-ban-nha, được xây dựng vào thế kỉ 16, ở vùng cao 1500 m so với mặt biển, hay bị động đất, đặc biệt là bị một trận động đất năm 1773 phá hủy nhiều công trình xây dựng. Nhưng nay vẫn còn quảng trường Plaza de Armas, ở đó lâu đài của viên trấn quan cũ, nhà thờ San Jose, Đại học cổ San Carlos nay là bảo tàng, nhà tu Santa Clara và nhà thờ Nuestra Señora de las Mercedes. Ở thành phố nhỏ này, nhà cửa không cao, nhưng vững chắc, di tích cũ được bảo quản rất tốt. Đường phố lát đá từ thuở xưa, nay vẫn giữ như cũ. Taxi đưa vợ chồng tôi tới một khách sạn, xưa là một trong những công trình cổ đó, phòng ngủ, phòng ăn của khách sạn đều quay vào phía sân trong, mát mẻ và yên tĩnh. Bữa trưa bữa tối đều có dàn nhạc dân tộc, nhưng món ăn thì là đặc sản, cơ bản dựa trên ngô, nên tôi ăn không được, đó là điều duy nhất mà tôi không hài lòng. Ở đó hai ngày, thủng thẳng xem hết thành phố rồi thuê xe đi thăm một thắng cảnh : hồ Atitlan, ở giữa mấy núi lửa cũ ; may trời tốt, xanh biếc, nước xanh, núi xanh, bờ hồ đầy phượng vĩ trổ hoa đỏ rực, rất đẹp mắt. Vợ tôi thấy mấy cháu người bản xứ rất nghèo theo mẹ đi ở hồ, nên rất thương, gọi chúng lại cho tiền mua kẹo. Chiều mới trở lại Antigua.
Rồi lấy máy bay đi Panama.
3. Panama và cái Kênh đào
Chủ ý của chúng tôi là đi Colombia, nhưng phải đổi máy bay ở sân bay Panama, và do một sự rủi ro, lỡ một chuyến máy bay ở đó. Đêm đã khuya, thay vì ngồi đợi từ giữa đêm đến sáng, mới nảy ra cái ý đi thăm kênh đào Panama cho biết. Do đó mới gọi thuê một xe taxi bảo họ chở đi xem cho biết. Nhưng lúc đó đã khuya, sợ đi tay đôi, cũng nguy hiểm ; nhìn quanh quẩn thấy một cặp trẻ cũng kẹt ở sân bay, tôi mới rủ họ, nếu muốn cùng đi thăm luôn thể. Hỏi ra đây là một cặp vợ chồng người Mỹ, người chồng là cựu quân nhân đã từng sang Việt Nam, nhưng chúng tôi tránh đề cập vấn đề này, chỉ cùng tính chuyện cũng đi thăm kênh đào (vả lại chiến tranh ở Việt Nam cũng đã chấm dứt). Đêm đó, vừa nóng vừa mưa lâm thâm, đêm tối mò mò, chiếc xe chở đi cũng xa, nên tôi chẳng thấy được gì, ngoài mấy chiếc tàu lớn có thắp đến sáng, và sự « mãn nguyện » sau đó của vợ tôi được bước vài bước trên bờ biển Thái Bình Dương – mà mấy năm sau khi thăm Việt Nam cũng không có thì giờ để tới. Nhưng dù sao, cũng là một dịp để tôi « tìm hiểu » về sự tích kênh đào này :
Năm 1879, một hội nghị nhóm họp ở Paris với sự tham dự của 135 đại biểu của 23 nước, xét 19 đề án. Rốt cục là, với sự ủng hộ của ông Ferdinand de Lesseps, người đã thành công trong việc đào kênh Suez 10 năm trước đó, đề án của ông Wyse được chấp nhận : kênh sẽ đào từ vịnh Limon (Đại Tây Dương) đến vịnh Panama (Thái Bình Dương), dài 80 km, không có hầm, nhưng có nhiều tầng. Năm 1881, công trình được khởi đầu dưới sự điều khiển của Ferdinand de Lesseps, nhưng đến năm 1888 thì bị khủng hoảng về tài chính. Sau phải nhường lại cho Hoa Kỳ vào đầu thế kỉ 20. Nhưng thuở ấy, đất này còn thuộc nước Colombia ; năm 1903 ký hiệp ước Hay-Herrán, theo đó Colombia nhận cho Hoa Kỳ tiếp tục đào kênh và nhường quyền sử dụng cho Hoa kỳ trong 100 năm, kể cả trên dải đất rộng 5km mỗi bên kênh đào. Thượng nghị viện của Mỹ chấp nhận, nhưng Quốc hội của Columbia rốt cục không thông qua, vì coi là xâm phạm vào chủ quyền của nước họ. Cuối 1903, với sự ủng hộ của Hoa kỳ, Panama tuyên bố độc lập, tách ra khỏi Colombia ; Hoa Kỳ được hưởng điều kiện lợi hơn trước : dải đất nhường cho Hoa Kỳ, trước là 5 km mỗi bên kênh đào, nay trở thành 5 dặm mỗi bên, từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương ; trước là 100 năm, nay là vĩnh viễn (mãi đến năm 1999 mới đòi được trả lại cho Panama). Kênh đào này hoàn thành năm 1914. Và tiếp tục được mở rộng, hiện có khoảng rộng từ 152m đến 222m.
Sau khi « xem » mà chẳng thấy gì mấy, quay trở lại sân bay, đã 3 giờ sáng, ngủ gà ngủ gật vật vã cho đến sáng, mới có máy bay đi Bogota, thủ đô Colombia.
4. Ghé Bogota
Thuở ấy, khách du lịch còn ít, chúng tôi chẳng giữ chỗ trước, hỏi taxi xem có khách sạn nào « ở được », người lái xe bảo : với ông bà thì chỉ có một khách sạn ở được, đó là khách sạn Tequendama. Đến nơi mới biết là loại sang nhất, thôi thì cũng tin là vậy. Nghỉ ngơi một chút rồi ngó bản đồ đi dạo chơi. Bị một cơn hú vía : đi một quãng khá xa, thấy có một phòng trà sạch sẽ, vào giải khát, ăn kem uống nước xong, giở ví trả tiền mới phát hiện ra là bỏ quên tiền ở khách sạn. Tôi phải ngồi lại làm « con tin », để vợ tôi trở lại khách sạn lấy tiền, cũng may là không mất cắp. Thủ đô này của Colombia không có di tích cổ. Chỗ duy nhất đáng xem là cái « Bảo tàng Vàng », nơi tàng trữ hiện vật bằng vàng có từ thời trước khi Colombus phát hiện ra Châu Mỹ, tất cả có tới hàng ngàn hiện vật bằng vàng và ngọc, (có nguồn nói tới khoảng 3 vạn) mà bọn Conquistadores còn để sót không cướp hết thuở xưa. Thủng thẳng xem xong, thấy đã muộn giờ, khách thăm bảo tàng đã vắng, vợ chồng tôi ra cửa để về, bỗng thấy 4 nhân viên bảo vệ dang tay chặn cửa ra, mà xua vợ chồng tôi vào một cái phòng cạnh đó, đèn tù mù. Chúng tôi rất ngạc nhiên đang định lên tiếng phản đối thì thấy họ khép hai cánh cửa sắt lớn kiên cố như cánh tủ két lại sau lưng, rồi đèn mở sáng choang : Trời đất quỉ thần ! Toàn vàng là vàng, la liệt trên tường, trong tủ, cả đống cả mớ, lóe mắt, chưa bao giờ tôi nhìn thấy nhiều vàng như vậy. Bấy giờ tôi mới nhớ lại lời dặn của anh D. hồi mới quen ở Caracas 5 năm về trước. Anh ta bảo : khi nào ông bà thăm « Bảo tàng Vàng » ở Bogota, thì sẽ có điều « bất ngờ », nhưng tôi không kể trước cho ông bà biết. Chính là điều « bất ngờ » này đây.
Lại nhớ đến câu chuyện « bạch kim » (dùng theo nghĩa platine/platinum, chứ không phải là vàng trắng): Theo một tài liệu in trong Figaro magazine số 19369 ngày 10/11/2006, giá bạch kim là 37500 USD/1kg. Đây là kim khí đắt nhất, sử dụng cho kỹ nghệ chất lượng cao và đồ trang sức. Bọn Conquistadores thuở xưa (thế kỉ 16) không biết giá trị của bạch kim. Khi tìm vàng ở châu Mỹ La-tinh, họ cho bạch kim là một thứ kim khí tạp nhạp, kém giá trị của bạc, nên họ gọi bạch kim là « platina » (bạc chất lượng thứ yếu, « argent mineur ») và bỏ qua. Chả biết có đúng vậy không.
Thế rồi rời Bogota về Pháp, với ý định còn trở lại châu Mỹ La-tinh nhiều lần nữa, không ngờ diễn biến nằm ngoài dự đoán. Lại nhớ lại năm 1973, vợ chồng được mời đi Chi-lê, và tính trên đường về sẽ ghé Mê-hi-cô. Thị thực công vụ đã có, giấy tờ hộ chiếu đã được bộ ngoại giao Pháp sửa soạn xong, có vé máy bay sẵn sàng, ngày đi đã được định sẵn ; nhưng lúc đó tình hình đã căng lắm giữa tổng thống Allende và các công đoàn. Vợ chồng tôi hỏi thăm một bà đồng nghiệp Pháp mới ở Santiago về Paris, bà ta bảo : ông bà đi thì mang theo sà phòng, vì ở khách sạn có bánh sừng bò (croissant) ăn sáng, nhưng sà phòng thì không có. Tôi do dự quá, người thì bảo đi được, người thì bảo không. Tôi gọi điện hỏi ý bộ ngoại giao Pháp, người ở đầu dây lúc đầu ngần ngại không muốn nói, sau mới dè dặt bảo : Hay là ông bà hoãn đi vài hôm xem sao. Hai ngày sau, Pinochet đảo chính, tổng thống Allende bị chết. Việc đi Chi-Lê của vợ chồng tôi do đó không thành. Ít lâu sau, nhân dịp nói chuyện với anh Verdier, giáo sư Toán ở Đại học Paris 6 và Ecole Normale Supérieure rue d’Ulm, anh ta kể với tôi là lúc đảo chính anh ta đang ở Santiago, bọn quân đảo chính vào khách sạn bắt anh ta, dí súng vào lưng, dẫn đi nhốt vào sân vận động 3 ngày mới thả ra. Tôi hú vía nghĩ, anh ta là tây trắng nên thoát nạn, chứ tôi là « tây vàng », chắc là chết mất xác. Từ đó tôi cứ đợi ngày Pinochet đền tội, thế rồi y cũng chết già tự do. Cũng thấy ức, nhưng nghĩ cho cùng, ngay trong sử cận đại ngày nay, thiếu quái gì kẻ độc tài, giết cả vạn cả triệu người, mà vẫn nhởn nhơ vô tội, có khi lại còn được tôn vinh !
Còn Mê-hi-cô, nơi có nhiều di tích cổ của các nền văn minh Maya, Olmèque …, thì vợ chồng tôi cũng tính đi vào năm 1981, giấy tờ, vé máy bay cũng đã sẵn, nhưng chẳng may ở Việt Nam về tôi bị ốm nặng, phải bỏ không đi. Rồi sức khỏe không cho phép đi nữa, ý định thăm với các nước Mỹ la-tinh khác không thực hiện được.
Chương 3 Vài chuyện trong Văn học Pháp
Chương 3
Vài chuyện trong Văn học Pháp
Bùi Trọng Liễu
Thuở mới tới Pháp du học (đầu năm 1950), tôi rất khổ sở vì phải gấp rút học Văn học Pháp cho kịp thi Tú tài phần 1 của Pháp, cửa ngõ cho chuyện học hành, bởi vì thời đó phần Pháp văn là phần khó khăn nhất đối với tôi, mà thi thì lại bị « điểm chặn », bài Pháp văn mà dưới một điểm sàn, thì dù điểm trung bình của các môn thi cộng lại, có cao đến mấy cũng bị đánh trượt. Mà đây là lần đầu mà tôi làm quen với văn học sử Pháp. Thời gian mà tôi tính là trong vòng 18 tháng phải thu tóm được những điều cần thiết về Văn học Pháp, với vốn hiểu biết lúc đó rất thô sơ về tiếng Pháp của tôi, để mong bài thi Pháp văn có được tối thiểu cần có. Học tủ trong 18 tháng, khác nào như ăn mà không kịp nhai! Thuở ấy, chỉ thấy như một thứ án khổ sai. Ngày nay thanh thản, mới có thì giờ thưởng thức.
Nay nhân có thì giờ đọc lại, tôi muốn kể lướt qua vài chuyện trong Văn học Pháp, để những ai không có thì giờ nhiều, mà muốn biết, có thể hiểu qua vài khía cạnh của nền Văn học này.
1. Một bài « anh hùng ca » thời Trung cổ
Khởi thủy của Văn học Pháp là vào giữa thời Trung cổ ở châu Âu – nhắc lại là thời Trung cổ ở châu Âu kéo dài khoảng một nghìn năm, từ thế kỉ thứ 5 (khi đế quốc La-mã phương Tây bị diệt) đến giữa thế kỉ thứ 15 (khi đế quốc La-mã phương Đông bị đế quốc Ottoman phá vỡ và chiếm thủ đô Constantinople). Nói kỹ hơn : Thời hoàng đế Charlemagne (742-814) đất đai của đế quốc của Charlemagne rất rộng, nhiều loại dân, có tới ba mươi sáu thứ tiếng nói ; hoàng đế này đã cố gắng thống nhất bằng việc cổ vũ dùng tiếng La-tinh, nhưng ngôn ngữ trong dân gian phổ biến nhất vẫn là tiếng « roman ». Sau khi ông chết, người con nối nghiệp cũng đã gặp nhiều khó khăn để bảo tồn nguyên vẹn lãnh thổ. Đến đời cháu thì đất đai chia làm ba cho 3 người cháu nội. Họ tranh giành nhau. Văn kiện đầu tiên bằng « tiếng Pháp » được viết vào năm 842 : đó là « Lời thề ở Strasbourg » giữa hai người cháu nội của hoàng đế Charlemagne, hợp tác với nhau để chống người anh cả Lothaire trong việc tranh quyền bính và đất đai. Hai người con thứ này là Louis [le Germanique] và Charles [le Chauve], cai quản hai vùng đất khác nhau, tiếng nói khác nhau. Để cho binh lính của Charles có thể hiểu được, Louis đọc « Lời thề » bằng tiếng roman (tổ tiên của tiếng Pháp), và ngược lại để cho binh lính của Louis có thể hiểu được, Charles đọc « Lời thề » bằng tiếng tudesque (tổ tiên của tiếng Đức), mà không dùng tiếng La-tinh là ngôn ngữ bác học chung cho thời đó. Bản « Lời thề » mà Louis đọc chính là văn kiện cổ nhất bằng « tiếng Pháp ».
Vào khoảng thế kỉ 12, 13, những tác phẩm là những « chansons de geste » – une « geste » trong ngôn ngữ cổ của tiếng Pháp, từ này thuộc « giống cái » (genre féminin), là một chiến công , có người dịch ra tiếng Việt Nam là những bài thơ « anh hùng ca » hay « hiệp sĩ ca », ca ngợi những thần thoại hay chiến công lịch sử – do những « troubadours » viết, kể và hát (« troubadours » : nhà thơ trữ tình thuộc ngôn ngữ langues d’oc phương nam) và sau đó ít lâu, đến lượt những « trouvères » (« trouvères » là loại nhà thơ thuộc ngôn ngữ langues d’oïl phương bắc) bắt chước, nhưng hướng về những bản tình ca.
Bài « chanson de geste » được biết đến nhiều nhất là bài « Chanson de Roland », mà một bản cổ gồm 4002 câu thơ, chia làm 291 « laisses » (khổ thơ : đoạn). Câu chuyện kể trong bài đại khái như sau : Trong bảy năm, Charlemagne đánh dẹp quân người A-rập ở xứ Tây-ban-nha. (Nhắc lại là người A-rập chiếm đất vùng đất đai Tây-ban-nha ngày nay, lập nên nhiều vương quốc hồi giáo ở đó từ thế kỉ thứ 8 đến thế kỉ 15 ; chính ông nội Charlemagne là Charles Martel năm 732 phá được quân A-rập ở Poitiers trên đường họ xâm chiếm châu Âu, và đẩy lui được họ xuống vùng đất Tây-ban-nha). Bài ca kể rằng Charlemagne đánh thắng nhiều nơi, chỉ còn thành Saragosse (Zaragoza) của vua Hồi giáo Marsile tiếp tục chống cự. Vua này đề nghị hòa, Charlemagne do dự ; hiệp sĩ Roland muốn cố đánh chiếm thành, nhưng đa số tuớng của Charlemagne muốn hòa. Muốn hòa, nhưng cử ai làm sứ giả để đi điều đình? Roland đề nghị cử bố vợ mình là Ganelon ; ông này bất đắc dĩ phải đi, nhưng trong lòng rất căm giận, vì đây là một chuyến đi nguy hiểm, chắc gì giữ được mạng sống. Vua Marsile đoán biết được, nên không những không hại Ganelon mà còn bày một kế để cho Ganelon có thể trả thù : cho Ganelon trở về thuyết Charlemagne rút quân về đất Pháp, đồng thời thuyết Charlemagne cử Roland cầm đạo hậu quân. Khi đạo hậu quân này vượt dãy núi Pyrénées ngăn chia đất Pháp và đất Tây-ban-nha, tới khe núi gần đèo Ronceveaux, thì bốn mươi vạn quân Hồi giáo – đây là con số nêu trong bài ca, nhưng thuở ấy và vùng ấy, sao mà có được nhiều quân vậy ! – mai phục ở đó, đổ xuống đánh giết hai vạn quân của Roland. Thế đã cùng quẫn, thân cận đã chết hết, Roland mới đem cái tù và của mình ra thổi để cầu cứu, Charlemagne vội vã đem quân trở lại để cứu, nhưng đã muộn, Roland và đám hậu quân đã chết hết. Lúc đó bỗng có phép lạ xảy ra, « chứng tỏ » là Chúa Trời « bênh » Charlemagne : mặt trời bỗng ngưng lại vài tiếng đồng hồ, để ông này có thì giờ để đánh quân Hồi giáo, phá được thành Saragosse, vua Marsile chết, vợ phải bỏ đạo Hồi để qui theo đạo Ki-tô. Ganelon bị xử tội phanh thây. Đấy là chuyện kể trong bản anh hùng ca.
Nhưng « sự thật » lịch sử thì có khác : chẳng có vua Marsile, cũng chẳng có Ganelon, chỉ có bá tước Roland là chết thật. Theo một số sử gia thì thuở ấy, các vua Hồi giáo đánh lẫn nhau. Tướng trấn thủ thành Saragosse là Sulayman Ben Al-Arabi phản chủ là vua Hồi giáo xứ Cordoue (Cordoba), nên cầu cứu Charlemagne ; nhưng khi quân ông này tới nơi, thì Ben Al-Arabi đổi ý, không cho vào thành. Charlemagne giận, đánh bắt được Ben Al-Arabi làm tù, rồi rút quân về vì được tin có loạn ở biên thùy phía bắc. Trên đường về đến Ronceveaux, thì các con của Ben Al-Arabi, với sự giúp sức của quân bản địa Vascons (tổ tiên của người Basques ngày nay), tấn công và cứu thoát được Ben Al-Arabi. Bá tước Roland, chỉ huy đạo hậu quân, bị vướng vì lỉnh kỉnh chở nhiều xe của cải hôi được trước đó, đi chậm, nên bị giết với toàn bộ quân sĩ. Đó là một trận thua lớn của Charlemagne.
Bại mà kể là thắng. Thế mới là tuyên truyền hay! Bài anh hùng ca cần như vậy để kích thích các hiệp sĩ đi chiến đấu chống người Hồi giáo đã chiếm đất thánh ở Cận Đông, và đi chiếm lại đất Tây-ban-nha. Việc muốn chiếm lại đất thánh, thì châu Âu Thiên chúa giáo tổ chức tám cuộc viễn chinh chữ thập (croisades) từ thế kỉ 11 đến cuối thế kỉ 13 ; còn việc chiếm lại (Reconquista) đất Tây-ban-nha thì phải mất nhiều thế kỉ, từ giữa thế kỉ thứ 8 đến cuối thế kỉ 15 mới xong.
Bài « Chanson de Roland » có nhiều dị bản, ngắn dài từ 4000 đến 9000 câu thơ. Bản cổ nhất còn giữ được tới nay là một bản viết khoảng năm 1100 (lưu ở một thư viện ở Oxford nước Anh). Nguyên nhân tại sao có nhiều dị bản là :
- Thuở đó, chưa có tác quyền. Tác phẩm bị coi là của chung. Kẻ hát, người viết, ai hứng lên thêm thắt vài ba câu cũng không sao.
- Phải chăng văn hóa truyền khẩu thuở đó chưa thấy sự cần thiết của một nguyên bản chính xác?
- Máy in chưa xuất hiện (Johannes Gensfleisch, còn có tên gọi là Gutenberg, năm 1440 mới chế ra loại máy in bằng chữ in kim loại có thể chuyển dịch).
- Sao chép bằng tay thì dễ « tam sao thất bản », đôi khi không do người chép chủ ý. Nhưng cũng không loại trừ khả năng người chép tự ý sửa cho « hay hơn », (giống như kiểu một vài nhà « biên tập » ngày nay ; có điều là thuở ấy không có động cơ sợ bị nhà cầm quyền kiểm duyệt).
Tôi cũng xin nói là tại sao tôi gắn bó với bài « Chanson de Roland » này. Tại năm tôi tám tuổi, tôi ra Hà Nội học, từ trường ta vào học trường tây. Tôi vào học trường tây mà thoạt đầu chẳng hiểu tiếng tây, vừa sợ vừa lo, chỉ loáng thoáng hiểu được câu chuyện hiệp sĩ Roland trong một bài sử, và nhớ được đến tận hôm này một câu hát « Roland mourut à Ronceveaux » (Roland đã chết ở Ronceveaux).
Charlemagne được coi là vị hoàng đế giỏi, cho nên nội dung bài anh hùng ca mới xoay quanh ông ta ; có nhiều truyền thuyết về ông ta đôi khi không phù hợp với sự thật lịch sử. Chuyện hiệp sĩ Roland là một thí dụ. Truyền thuyết về bà mẹ ông ta sẽ được kể trong mục 2, về bài thi ca dưới đây, là một thí dụ khác. Có một truyền thuyết nữa về ông ta : Charlemagne chinh chiến nhiều, chiếm đất đai để mở rộng đế quốc của mình. Câu chuyện kể rằng quân ông ta vây một tòa thành của người Hồi giáo (vùng Nam nước Pháp hiện nay). Trong 5 năm, đánh nhau bất phân thắng bại, nhưng viên tướng thủ thành này bị tử trận. Charlemagne cho rằng lực lượng giữ thành đã kiệt quệ, lương thực đã cạn, nên sửa soạn tấn công để chiếm thành. Nhưng chính lúc đó, bà vợ góa viên tướng giữ thành kia, tên là bà Carcas, bày mưu, từ trên thành cao, sai ném xuống chân thành một con lợn nhồi đầy ngũ cốc. Charlemagne thấy vậy (còn có ngũ cốc cho lợn ăn !), kết luận rằng thành còn dư lương thực, và hạ lệnh rút quân. Quân đang rút, thì trong thành tù và và chuông nổi lên theo lệnh của bà Carcas, cổng thành mở ra, và một đoàn sứ giả trong thành ra nghị hòa. Charlemagne cảm phục lòng dũng cảm, và mưu kế của bà Carcas – vì thực ra lực lượng giữ thành đã kiệt quệ, luơng thực thực sự đã cạn – đồng ý cho hòa. Và đặt tên cho thành này là Carcassonne – nghĩa là [bà] Carcas nổi hiệu [sonne : thổi tù và, róng chuông] để vinh danh bà. Bà bỏ đạo Hồi để theo đạo Thiên chúa. Charlemagne còn đem bà gả cho một tuớng của ông – có nguồn nói là Oliban, có nguồn nói là Roger ; cặp này sinh con đẻ cái, cha truyền con nối cai quản vùng này (dòng dõi các bá tước Carcassonne) từ thế kỉ thứ 9 đến thế kỉ 13. Carcassonne ngày nay là một thành phố phồn vinh, một thành phố rất hấp dẫn khách du lịch, vì còn giữ đuợc di tích thành quách rộng lớn từ thời Trung cổ ; hàng năm vào tháng ba, có hội « con lợn » để kỷ niệm câu chuyện bà Carcas. Có điều tôi hơi băn khoăn mà chưa có lời giải đáp : nếu bà Carcas quả là người Hồi giáo như quân thủ thành, thì sao lại có thịt lợn nhỉ? Hay là nuôi lợn làm cảnh chứ không ăn ? Hay là thời đó các vua Hồi giáo cũng như các vua Thiên chúa giáo, tồn tại xen kẽ và tranh chấp đất đai của nhau, nên tương đối biết khoan dung với phong tục các đạo khác ? Hay là cũng như câu chuyện (tôi đã kể) ông Shah Mohammed Shah Aga Khan (1877-1957), imam (giáo chủ) thứ 48 của cộng đồng Hồi giáo Ismaeli ; ông rất thích uống rượu sâm banh; có người hỏi ông rằng : « Đạo Hồi cấm uống rượu, sao Ngài lại uống ?» ; ông trả lời : « Khi Ta bưng cốc rượu lên đến miệng, thì nó biến thành nước, nên Ta uống được không sao » ! Nếu có phép lạ, phải chăng khi đưa miếng thịt lợn lên gần miệng thì nó biến thành miếng thịt cừu ?
2. Một bài thi ca :
« Ballade des Dames du temps jadis »
(Bài thi ca về những bà thuở xưa).
Cũng vào thời tôi mới tới Pháp, là lần đầu mà tôi làm quen với văn học sử Pháp, do ngây ngô, trong đầu óc còn đầy dãy những thành kiến, tôi cứ nghĩ rằng : đã là thi sĩ tất là người có học, đã là người có học thì không thể nào lại ăn cắp, ăn trộm, giết người (!). Quen với môi truờng Việt Nam cũ, thuở ấy tôi cứ ngỡ là thi sĩ, văn sĩ phải là những nhân vật thanh cao, chả thế mà một số người hiểu biết chả mấy tí, nhưng cũng cố làm dăm ba câu thơ để tự nâng mình lên thành người « trí thức » đó sao ? Chính vì vậy mà tôi chú ý đến thi sĩ François Villon của thế kỉ 15 (1431- mất sau 1463 nhưng không rõ năm nào). Cuộc đời của ông ta là cuộc đời trôi nổi : mồ côi từ thuở nhỏ, được một tu sĩ nuôi dưỡng nên theo « họ » ông ta ; con người này cũng có học, nhưng cuộc đời liên quan nhiều đến những vụ trộm cắp, đã từng bị tù đày, có lúc suýt bị tử hình.
Năm 1950, vì đang phải học gấp, nên tôi có tự hứa khi nào có thì giờ sẽ tìm hiểu thêm về thi sĩ này. Vậy mà mãi hơn 50 năm sau, đã về hưu mới có thì giờ thanh thản đọc lại bài « Thi ca về những bà thuở xưa » của Villon, và … thấy hay, và hiểu hơn tại sao một thời, bài thơ này đã được Georges Brassens phổ nhạc và được tán thưởng.
Bài thi ca này nói lên sự trôi nhanh của thời gian, sự mỏng manh của cuộc đời, của kiếp người, đặc biệt là cuộc đời của những người duyên dáng yêu kiều, những phụ nữ nổi danh thời xa xưa : những bông tuyết của thời quá khứ, của năm xưa (nếu tôi không hiểu lầm tiếng Pháp : les neiges d’antan). Bài thi ca lại gợi cho tôi về phong cách được gán cho người Pháp : « galant », đối xử nâng niu người phụ nữ.
Có một tài liệu dẫn việc Hồ Chủ tịch, nhân một sự cố chính trị xảy ra khoảng năm 1953 ở nước ta, có nói câu : « […] Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa » – (tôi không nhắc lại chi tiết sự cố đó ở đây, nó liên quan đến Cải cách Ruộng đất ; ai muốn rõ, xin xem báo Diễn Đàn số 123, tháng 11/2002, dẫn hồi ký của ông Hoàng Tùng kể việc cụ Hồ không đồng ý xử bắn bà địa chủ theo kháng chiến Cát Thành Long Nguyễn Thị Năm). Theo tôi thường nghe ở Pháp, thì người ta nói « bông » hoa (une fleur), chứ không nói « cành» hoa. Cũng có nguồn cho rằng câu nói khởi thủy là của Ấn Độ, nhưng người Pháp lâu ngày tưởng là của mình. Câu nói này, người sống ở Việt Nam ít biết, cho nên khi kể lại câu cụ Hồ nói, có mấy nguồn kể đều viết « bông hoa » thành « cành hoa » – giữa « cành » hoa và « bông » hoa cũng có sự khác nhau : đánh bằng « cành », thì có thể đau ; đánh bằng « bông » thì như sự vuốt ve. Cụ Hồ rất thấu văn hóa Pháp, Cụ khó có thể nói nhầm. Mấy người kể lại có khả năng đã dẫn nhầm, nhưng chính vì sự cùng dẫn nhầm đó mà theo tôi, nó làm tăng thêm tính trung thực của lời kể : xác suất « cụ Hồ đã nói lời đó » là cao. Nếu quả vậy thì sự kiện đưa tới việc Cụ nói câu đó, chứng tỏ đức độ hiếu sinh của Cụ.
Trở lại bài thi ca. Nguyên văn của nó như sau, (với chính tả xa xưa theo một bản cổ, vì có nhiều dị bản ; nguồn : François Villon, Oeuvres complètes, Piaris Lemerre, 1873), tất nhiên tôi không có tài dịch lại ra tiếng Việt, mà chỉ xin bàn luận về các bà được dẫn trong nội dung bài.
Dictes moy ou, n’en quel pays
Est Flora la belle Rommaine,
Archipiades, ne Thais
Qui fut sa cousine germaine,
Echo parlant quand bruyt on maine
Dessus riviere ou sus estant
Qui beaulte ot trop plus qu’humaine.
Mais ou sont les neiges d’antan ?
Ou est tres sage Hellois,
Pour qui chatre fut et puis moyne
Pierre Esbaillart a Saint Denis ?
Pour son amour ot ceste essoyne.
Semblablement, ou est la royne
Qui commenda que Buridan
Fust geté en ung sac en Saine ?
Mais ou sont les neiges d’antan ?
La royne Blanche comme lis
Qui chantoit a voix de seraine,
Berte au grant pie, Bietris, Alis,
Haremburgis qui tient le Maine,
Et Jehanne la bonne Lorraine
Qu’Englois brulerent a Rouen ;
Ou sont ilz, ou, Vierge souvraine ?
Mais ou sont les neiges d’antan ?
Có nguồn chuyển ra tiếng Pháp ngày nay như sau :
Dites-moi où, en quel pays,
Est Flora, la belle Romaine,
Alcibiade et Thaïs,
Qui fut sa cousine germaine;
Écho, qui parle quand on fait bruit
Sur la rivière ou sur l'étang,
Et qui eut beauté surhumaine.
Mais où sont les neiges de l'autre année?
Où est la très sage Héloïse,
Pour qui fut châtré puis moine
Pierre Abélard à Saint Denis?
Pour son amour il subit cette peine.
Semblablement où est la reine
Qui ordonna qui Buridan
Fût jeté en sac dans la Seine?
Mais où sont les neiges de l'autre année?
La reine Blanche comme lis,
Qui chantait à voix de sirène;
Berthe au grand pied, Béatrix, Aélis,
Eremberg, qui possédait le Maine,
Et Jeanne la bonne Lorraine,
Qu'Anglais Brûlèrent à Rouen,
Où sont-elles, où, Vierge souveraine?
Mais où sont les neiges de l'autre année?
Nhưng cũng phải nói là cho tới ngày nay, tung tích của các nhân vật dẫn trong bài thi ca còn bí ẩn ; các nhà nghiên cứu chưa thống nhất ý kiến về lý lịch của các nhân vật này (nhà thơ định nói ai?), và ngay cả khi nhân vật được xác định, thì lý lịch của nhân vật ấy là đúng hay là bị xuyên tạc ? Vậy tôi xin kể những gì tôi đọc thấy :
1/ Flora, trong bài thi ca, là bà Flora nào, vì có nhiều bà mang tên đó. Có một Flora, « courtisane » xứ La-mã. « Courtisane » là gì, thì cũng khó khẳng định. Có người dịch ra tiếng Việt Nam là « điếm thượng lưu » ; nhưng định nghĩa « điếm thượng lưu » là gì thì cũng lúng túng ; đây có lẽ là những phụ nữ xinh đẹp nhân tình nhân ngãi với những lãnh tụ trong giới cầm quyền và đôi khi có ảnh hưởng đến họ. Có thuyết cho rằng Flora trong bài thi ca này là một « điếm thượng lưu », đã từng dan díu với Pompeius (106-48 trước Công nguyên). Ông này là một trong bộ ba cầm quyền những năm 58-51 trước Công nguyên, thời đại cộng hòa La-mã : Pompeius (tiếng Pháp gọi là Pompée), Crassus và Caesar (tiếng Pháp gọi là Jules César). Trước thì chia đất đai để cai trị, Pompeius lấy con gái Caesar để cầu thân, sau tranh quyền nhau. Khi Crassus đã chết, chỉ còn Caesar và Pompeius đấu nhau. Năm 49 trước Công nguyên, Caesar đánh bại quân của phe Pompeius đuổi Pompeius sang tận Ai-cập, vua Ai-cập là Ptolémée XIV muốn làm vừa lòng Caesar nên chặt đầu Pompeius nộp cho Caesar. Tương truyền là Caesar thấy đầu Pompeius thì tỏ lòng thương tiếc, sai đem chôn ở chân thành Alexandrie ; rồi cũng chẳng nhớ công nịnh của Ptolémée mà hạ bệ vua này để đặt vợ Ptolémée (đồng thời cũng chị/em ruột của ông ta – vua Ai-cập coi mình là dòng giống thần tiên, thần tiên thì không « chính thức » kết hôn với người hạ giới) là Cléopâtre VII lên ngôi, rồi nhân tình nhân ngãi với bà này một thời gian, vv. Nếu Flora được nói tới, chắc cũng vì Pompeius.
Cũng có thuyết nói tới việc một « điếm thượng lưu » Flora để lại cho dân La-mã nhiều của cải, và để vinh danh bà ta, dân xưa này mới chế biến ra các « cuộc triển lãm cây hoa » (tiếng Pháp là « Floralies », một tục còn tồn tại đến ngày nay).
Cũng lại có một « điếm thượng lưu » Flora sống ở thời nhà thi sĩ La-mã Juvenalis (60-130) mà tác phẩm « Satira » (tiếng Pháp là « satires »), thơ trào phúng châm biếm dữ dội phong tục đồi bại của xã hội La-mã thời ông. Rốt cục cũng không ai dám chắc là Villon định nói Flora nào trong bài thi ca.
2/ Archipiades : có thuyết cho là đây là Alcibiade, (450-404 trước Công nguyên), là tướng và nhà chính trị xứ Athènes (Athinai, Hy-lạp). Thời Trung cổ, người ta cho rằng Alcibiade thực ra là một phụ nữ, vì vậy nên mới vinh danh trong bài thi ca. Sự nghiệp của vị này cũng lên bổng xuống trầm, chiến bại chiến thắng, sau bị ám sát ; kể ra thì dài và lỉnh kỉnh. Nhưng trong « lý lịch » của vị, người ta hay nhắc đến vị đã là học trò của nhà triết học Socrate (470-399 trước Công nguyên), mà ông Socrate này có cái đặc điểm là không viết gì cả, và được đời biết đến qua ba người cùng thời của ông : hai người thì chê, thậm chí giễu ông ; may nhờ của người thứ ba, tự nhận là học trò ông, là nhà triết học Platon (427-347 trước Công nguyên) có tác phẩm (« Đối thoại » - « Dialogues », được coi là khởi thủy của phép « biện chứng ») mà hậu thế biết đến ông Socrate. Phải chăng cái vế tri thức cũng đóng một vai trò quan trọng trong tiểu sử của một danh nhân như Alcibiade ?
3/ Thaïs : Có hai bà Thaïs nổi danh. Một bà Thaïs « điếm thượng lưu » Hy-lạp (thế kỉ IV trước Công nguyên), đã từng là bạn lòng của Ménandre (thi sĩ hài hước Hy-lạp 342-292 trước Công nguyên), và của đại hoàng đế Alexandre (356-323 trước Công nguyên, thoạt đầu là vua xứ Macédoine, sau chiếm được rất nhiều đất đai từ Hy-lạp phía tây, chiếm đất đai của đế quốc Ba-tư, rồi sang đến tận miền tây Ấn-độ, chiếm Ai-cập phía nam), và của vua Ptolémée I (367-283 trước Công nguyên, gốc Hy-lạp, vua Ai-cập và các xứ Palestine, Syrie, Chypre, bắc Libye). Nhưng có thuyết cho rằng bà Thaïs trong bài thi ca là « điếm thượng lưu » gốc Hy-lạp (sống ở Ai-cập thế kỉ IV), rất đẹp ; vì bà mà rất nhiều ông khuynh gia bại sản, các ông ghen tuông đâm chém nhau đến nỗi cổng nhà bà thường đầy máu. Sau bà được một tu sĩ Ki-tô (thánh Paphnuce) thuyết phục, bà hoàn lương, từ bỏ giàu sang, nhốt mình trong gian phòng gắn kín cửa trong ba năm để tự phạt, rồi tu hành đắc đạo, sau được phong thánh.
4/ Berte : Berte au grant pie, nghĩa là bà Berthe với một bàn chân to, đây là mẹ của hoàng đế Charlemagne đã kể ở phần trước. Bà là công chúa con vua xứ Hung và hoàng hậu Blanchefleur, được đưa sang Pháp để lấy vua Pépin le Bref, thuở ấy chưa gọi là vua Pháp, mà là vua xứ những người Francs. Nàng bị người thị nữ Aliste, theo hầu, phản : sang đất lạ, người thị nữ này mạo nhận mình là công chúa, chiếm chỗ của Berthe. Hai nàng giống nhau nên chẳng ai nhận ra. Để việc khỏi bị lộ, Aliste sai thủ hạ giết Berthe. Và Aliste lấy vua. Mấy năm trôi qua ; Aliste đẻ được hai người con trai, cả ba đều ác nên dân chúng ghét. Rồi đến một lúc, bà hoàng hậu Blanchefleur tới Pháp thăm con gái ; Aliste sợ, giả ốm, đóng của phòng không chịu gặp « mẹ ». Hoàng hậu Blanchefleur nghi, đòi gặp cho bằng được và phát hiện ra là không phải con gái mình. Để đưa bằng chứng cụ thể, bà tiết lộ với vua rằng Berthe con gái mình có một dị tật : một bàn chân to hơn bàn chân kia. Bị tra hỏi, Aliste thú ra tên người thủ hạ được sai giết Berthe. Người này mới kể rằng, vì thương hại nàng Berthe nên không giết mà thả cho nàng trốn đi trong rừng. Vua sai người tìm, lâu mà không thấy ; rồi tình cờ một lần đi săn trong rừng mới tìm thấy nàng : trong tám năm, nàng sống ấn náu trong gia đình vợ chồng một người tiều phu đã nuôi nàng. Vua đưa nàng về triều. Người con trai đầu mà nàng đẻ với vua Pépin le Bref, chính là hoàng đế tuơng lai Charlemagne. Phương đông hay phương tây, cũng thường có những loại huyền thoại về những bà mẹ sinh con « thánh ».
5/ Hellois : còn gọi là nàng Héloïse (1101-1164) là cháu gọi tu sĩ Fulbert là cậu/chú, nổi tiếng vì mối tình duyên với Abélard (1079-1142) nhà triết học và thần học có danh thời đó ở châu Âu. Tu sĩ Fulbert trao trách nhiệm cho Abélard dạy Héloïse học. Chàng và nàng yêu nhau đắm đuối, vụng trộm, đẻ ra một đứa con. Abélard bị Fulbert phạt, thuê người thiến. Héloïse vào tu trong một tu viện, và Abélard cũng trở thành một tu sĩ có tiếng. Còn tồn tại một số văn kiện trong đó thư từ trao đổi giữa hai người, nhưng là chính bản hay là được viết lại ? Theo một thuyết, thì câu chuyện « có thể » là như sau : khi chàng và nàng yêu nhau và nàng có mang, chàng mang nàng trốn đi, và rốt cục chàng chấp nhận cưới nàng theo yêu cầu của Fulbert. Chàng vì muốn « giữ danh » của mình, giữ chuyện cưới xin trong bí mật, và gửi nàng vào tu viện Argenteuil. Fulbert giận, sai người thiến chàng ; chàng trở thành tu sĩ, và ép nàng cũng đi tu. Vì yêu mà nàng phải nhận, nhưng nàng (ngây thơ ?) có phần trách chàng thờ ơ với mình sau khi bị thiến. Còn chàng thì – phải chăng nay ở tình trạng « thị vào chầu, thị đứng, thị trông, thị cũng muốn, thị không có ấy », thị đây là « quan thị/hoạn » trong cái vế đối của câu « vũ cậy mạnh , vũ ra, vũ múa, vũ bị mưa, vũ ướt cả lông » đó – chàng khuyên nàng nên vượt qua tình yêu đối với chàng, và cả hai tập trung vào tình yêu Chúa Trời, hẹn gặp nhau lại trên thiên đàng. Sau cả hai đều tu hành đắc đạo. Phải chăng câu chuyện cũng là một loại « tu là cõi phúc, tình là dây oan » ? Có nguồn kể rằng năm trăm năm sau, cải táng chôn cặp này chung trong một mộ ở nghĩa trang Père Lachaise ở Paris. Tôi chưa có thì giờ đi kiểm chứng.
6/ Haremburgis : Có lẽ còn gọi là bà Aremburge, sống ở thế kỉ XII, vợ bá tước Comte d’Anjou Foulques V . Thời loạn li, năm 1127 bà là người sáng lập ra tu viện « Prieuré de Saint Jean du Grais ». Tương truyền nơi này có một cái giếng, nước giếng có thể làm cho người mù sáng mắt trở lại.
7/ Royne : tiếng Pháp ngày nay là « reine », nghĩa là hoàng hậu. Có thuyết cho rằng đây là bà Marguerite de Bourgogne (vợ Louis X, vua Pháp trị vì từ 1314 đến 1316). Bà này làm vợ ông lúc mới 15 tuổi (1305), khi ông còn là thái tử, (ông là con cả của vua Philippe le Bel ; vua này có 3 con trai và một con gái ; cả ba con trai sau này đều nối nhau làm vua là Louis X, Philippe V và Charles IV, và người con gái là Isabelle là hoàng hậu vợ vua Anh Edward II). Đầu năm 1314 – do Isabelle tố cáo với vua Philippe le Bel – phát giác ra vụ Marguerite (vợ thái tử Louis) và Blanche (vợ hoàng tử thứ ba Charles) ngoại tình với hai anh em quí tộc d’Aulnay. Bà Jeanne (vợ hoàng tử thứ hai Philippe) bị nghi là đồng lõa, biết mà không tố giác, nhưng không có bằng chứng ngoại tình, nên chỉ bị giam một thời rồi được tha. Hai anh em d’Aulnay, bị xử cực hình : bị thiến, bị phân thây và bêu xác. Marguerite và Blanche bị cạo trọc, giam ở Château-Gaillard, một lâu đài chiến lũy. Mùa thu năm đó vua Philippe le Bel chết, thái tử Louis nối ngôi tức là vua Louis X, bà Marguerite trên danh nghĩa đương nhiên trở thành hoàng hậu – vì hôn nhân chưa được hủy – chết vào mùa đông năm đó. Có nguồn cho rằng vì bà bị giam rất cực khổ trong phòng giam gió lùa lạnh lẽo. Có nguồn lại cho rằng bà bị vua sai người lén thắt cổ cho chết, vì giáo hội Thiên chúa giáo không coi ngoại tình là một lý do để các ông hoàng có thể bỏ vợ ; lại vướng việc đạo buộc một vợ một chồng, vua không thể cưới vợ mới. Nay, hoàng hậu Marguerite chết rồi, vua Louis X rộng đường cưới một bà vợ mới là Clémence de Hongrie. Bà em dâu cùng bị tội, Blanche, may mắn hơn, vì ông chồng thương, bị giam trong điều kiện khá hơn, nên không chết, và sau khi hôn nhân bị hủy (sẽ kể dưới đây), được đưa vào một tu viện và chết năm 1326. (Thuở trẻ, vợ chồng tôi thường đi chơi vùng Normandie, và hay ghé Château-Gaillard. Trên đồi cao, khi leo lên những bức tường còn lại của Château-Gaillard nay đã đổ nát, tôi lại trạnh lòng nghĩ tới hai cô gái bất hạnh này, không phải vì tôi cho rằng các cô cư xử đứng đắn, mà vì nghĩ tới thân phận các cô gái quyền quí cưới gả thuở xưa như một thứ hàng hóa được đổi chác vì đất đai và quyền lực, chẳng ai hỏi ý về tình yêu …)
Trong bài thi ca, tiếp sau câu thơ nói về hoàng hậu Marguerite, có 2 câu tiếp theo kể việc ông Buridan, bị bỏ vào bao ném xuống sông Seine. Sự việc thế nào, cần kể thêm một số chi tiết, vì sử và dã sử xen kẽ. Có một nhân vật trong sử là Buridan (sinh 1295 hoặc 1300 (?), chết khoảng 1360), triết gia Pháp, recteur (giám đốc) Đại học Paris (1317). Tương truyền là thuở ấy có một bà hoàng hậu hoang dâm, sai kẻ hầu mỗi ngày tuyển một chàng trai trẻ đẹp, đêm mang vào gian dâm trong lầu, rồi gần sáng đem nhốt chàng trai đó vào bao tải, rồi vứt từ trên lầu cao xuống sông Seine cho mất tích, và Buridan là một trong những chàng trai bị/được như vậy nhưng tình cờ thoát chết. Villon viết vậy trong bài thi ca, nhưng người sau nghi ngờ, vì mấy câu hỏi sau đây : Bà hoàng hậu nào đây ? Nếu bà hoàng hậu trong bài thi ca là bà Marguerite kể trên thì sử chỉ nói tới vụ ngoại tình của hai bà với hai anh em d’Aulnay. Ông Buridan có lẽ bị gán oan vào huyền thoại này chăng ? Lầu nào đây ? Người đời sau gán việc hoang dâm này ở cái lầu « Tour de Nesle » (nay không còn nữa), ở bờ sông Seine, nhưng bài thi ca không nói tới ; sử chỉ nói là năm 1319, vua Philippe V (nối ngôi anh là Louis X), tặng cho vợ là hoàng hậu Jeanne tòa nhà Hôtel de Nesle, đời sau gọi là Tour de Nesle ; bà Jeanne chính là cái bà con dâu của vua Philippe IV le Bel không bị tội trong cái vụ án ngoại tình năm 1314. Có giai thoại – mà Jean-Joseph Jullaud, cũng kể trong cuốn Histoire de France pour les nuls, nxb First 2004 – cho rằng Jeanne rằng chính bà Jeanne này (góa từ năm 1322, nghĩa là 3 năm sau khi đuợc vua cho cái Hôtel de Nesle) mới là cái bà hoàng mỗi đêm sai tuyển một chàng sinh viên trẻ đẹp để gian dâm, rồi tảng sáng bỏ vào báo vứt xuống sông Seine ; Buridan cũng được tuyển một đêm, may đoán trước được diễn biến, nhờ có bạn bè sửa soạn sẵn một cái thuyền chứa đầy rơm dưới chân lầu, nhờ thế bao nhốt chàng vứt từ lầu cao xuống sông, lại rơi trúng vào cái đống rơm trong thuyền nên chàng thoát chết. Thực hay hư ?
Dù sao, hơn năm trăm năm sau, nhà văn Alexandre Dumas mới phỏng theo chuyện ngoại tình này để viết cuốn dã sử La Tour de Nesle (1832) ; và hơn bảy trăm năm sau, Maurice Druon, trong bộ sách Les Rois maudits (tạm dịch thoát nghĩa là « Những Vua bị nguyền rủa, trời tru đất diệt ») gồm 7 cuốn (viết từ 1955 đến 1960) cũng kể tới chuyện này.
Tại sao lại có « những vua trời tru đất diệt » liên quan đến câu chuyện ngoại tình này ? Có lẽ cũng đáng kể ở đây (tuy tôi đã có dịp kể lướt qua một chút trong cuốn « Tự sự của người xa quê hương », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004) :
Dưới thời trị vì của vua Philippe IV le Bel (đã kể trên) Dòng đạo Ordre des Templiers (một dòng đạo Thiên chúa giáo) quá giàu và có ảnh hưởng kinh tế và chính trị quá lớn, vua sợ cho uy quyền của mình, mới sai bắt Dòng trưởng (grand maître) Jacques de Molay và đồng đạo của ông ta, đổ tội phản vua và phản đạo, kết án tử hình (đó là vào năm 1314). Giáo hoàng Clément V (người Pháp, là giáo hoàng đầu tiên chuyển Toà Thánh từ Roma sang Avignon ở Pháp) muốn làm vừa ý vua Philippe Le Bel nên cũng vào hùa, kết tội và giải thể Dòng đạo Ordre des Templiers. Tương truyền rằng khi Jacques de Molay bị thiêu, khi lửa đã bén, ông ta có hô to lời nguyền rủa : hẹn rằng trước cuối năm, sẽ gặp lại vua Philippe IV Le Bel và giáo hoàng Clément V tại « Toà án của Chúa Trời » (Tribunal de Dieu) để phân xử, và nguyền rủa « trời tru đất diệt » con cháu vua Philippe IV Le Bel. Dòng trưởng Jacques de Molay chết rồi, mấy tháng sau vua Philippe IV le Bel và giáo hoàng Clément V cũng chết. Việc thiêu Jacques de Molay, cũng như việc ba người cùng chết trong năm 1314, là những việc có thật ; năm đó cũng là năm đã xảy ra vụ án ngoại tình đã kể trên.
Tiếp theo đó, là thái tử Louis nối ngôi, tức là vua Louis X, và vụ việc bà hoàng hậu ngoại tình Marguerite chết ở nơi giam, cũng xảy vào năm 1314, như đã kể trên. Vua Louis X cưới bà vợ mới là Clémence de Hongrie như đã kể trên ; khi bà này có mang, thì vua Louis X chết (1316), trúng bệnh sau khi uống một cốc rượu lạnh, năm đó mới 27 tuổi. Với bà vợ truớc là Marguerite, vua Louis X chỉ có một người con gái cũng tên là Jeanne. Tuy rằng thuở ấy, ở Pháp con trai con gái đều có thể nối ngôi, nhưng vì vụ ngoại tình nên có sự nghi vấn (chưa có ADN để kiểm !), vả lại hoàng hậu mới là Clémence de Hongrie đang có mang, triều đình mới tạm trao quyền giám quốc (régent) cho hoàng tử Philippe, em trai vua, để đợi kết quả. Mãn kỳ, hoàng hậu Clémence sinh ra một con trai, lẽ ra là người nối ngôi, nhưng đứa bé chỉ sống được mấy ngày. Lại một dịp để nghi ngờ. Hoàng tử giám quốc Philippe và thân cận, mượn cớ đạo luật « salique » cổ, diễn giải lại cho phù hợp với tình thế : phụ nữ không thể nối ngôi vua nước Pháp, và như vậy gạt được công chúa Jeanne, con của cố hoàng hậu Marguerite, ra khỏi việc lên ngôi – cũng là cách ta thường nói : « cả vú lấp miệng em » vậy. Vì thế Hoàng tử giám quốc Philippe lên ngôi, đó là vua Philippe V. Vua này trị vì được sáu năm, đến 1322 thì chết, lúc ấy mới 29 tuổi. Vua này chỉ có 3 người con gái. Vì chính cái lệ ông ta đưa ra, nên con ông ta không thể lên ngôi – cũng là « gậy ông lại đập lưng ông »! Vì thế nên em trai ông ta là hoàng tử Charles nối ngôi, tức là vua Charles IV. Vua này trước đây có vấn đề với bà vợ ngoại tình Blanche còn đương bị giam : Giáo hội không cho ly dị, vậy phải tìm cái cớ gì để « hủy cuộc hôn nhân » (tiếng Pháp là « annulation du mariage »), thí dụ như cái cớ « có họ hàng với nhau » mà lấy nhau, do đó « nhầm » thì có thể « sửa sai ». Có điều là vua Charles IV và bà Blanche không có họ hàng máu mủ gì cả ; nghĩ mãi mới lòi ra được một cái cớ : đó là bà bá tước Mahaut, mẹ bà Blanche, thuở trước là « mẹ đỡ đầu » (tiếng Pháp là « marraine ») của ông Charles. Vậy thì chẳng tìm được cớ họ hàng máu mủ thì đưa cớ họ hàng tinh thần vậy : « mẹ tinh thần » cũng là mẹ ! – đúng là « lưỡi không xương trăm đường lắt léo ». Có cớ rồi, thì Giáo hội cho ly dị. Bà Blanche thì vào tu viện, vua Charles IV cưới vợ mới Marie de Luxembourg, nhưng bà này đang có mang thì chết ; vua lại cưới bà vợ khác là Jeanne d'Evreux (tuy là em họ của vua ; nhưng đây là « cưới » chứ không là « bỏ », nên không cần căn cứ vào việc có họ hàng hay không !), nhưng bà này chỉ đẻ ra hai người con gái đều chết yểu. Năm 1328 vua Charles IV chết lúc mới 33 tuổi, không con nối dõi, ngôi vua chuyển sang người em họ là vua Philippe VI. Vậy là dòng vua Philippe IV le Bel tuyệt tự. Đấy là số phận của ba người con trai của vua Philippe IV le Bel.
Còn lại bà Isabelle con gái của vua Philippe IV le Bel. Bà này lấy vua Edward II nước Anh ; nhưng vua này lại là người « đồng tính » (tiếng Pháp là « homosexuel »), tuy ông này đã « có với » bà này một người con trai. Bà ngán ngẩm việc vua mê trai, nên bà kiếm được ông nhân tình là nam tước Mortimer, rồi « đồng minh » với em vua trai vua, hạ bệ vua, nhốt vào một nơi và ép thoái vị ; sau đó vua chết : tương truyền là vua bị ám sát bằng cái dùi dài nung đỏ, đút vào hậu môn để đốt cháy ruột, mà thi thể bề ngoài vẫn nguyên vẹn. Đó là vào năm 1327. Con trai của vua và của bà Isabelle lên nối ngôi, đó là vua Edward III, còn nhỏ tuổi. Bà Isabelle và ông nhân tình Mortimer cùng nhiếp chính. Năm 1330, vua Edward III tự cầm quyền, giết Mortimer và đày mẹ đi nơi khác ; 28 năm sau bà ta chết. Tương truyền là lúc sau, bà ta đã ân hận là đã tố giác hai người em dâu : thuở trước, bà là người « phải đạo » nên không chấp nhận tình yêu ngoài hôn nhân. Người Pháp có câu : « Hãy làm những gì mà tôi nói; đừng làm những gì mà tôi làm » (« Fais ce que je dis ; ne fais pas ce que je fais ») ; phải chăng thay chữ « đừng » bằng chữ « cấm » có lẽ phù hợp hơn ?
Vậy là số phận của cả bốn người con của vua Philippe IV le Bel ngẫu nhiên trùng hợp với lời nguyền của Dòng trưởng Jacques de Molay trước khi chết vì lửa thiêu.
Những thảm kịch xảy ra trong cho con cháu vua Philippe IV le Bel không chỉ ngưng ở đó. Vua Pháp Philippe VI không phải là hậu duệ trực tiếp của Philippe IV le Bel – ông chỉ là con của em út vua Philippe IV le Bel – cho nên vài năm sau, vua Anh Edward III, lấy tư cách là cháu ngoại của vua Philippe IV le Bel, đòi quyền lên ngôi vua Pháp, gây ra cuộc « Chiến tranh một Trăm năm » (« la Guerre de Cent ans ») giữa Pháp và Anh. Gọi là một trăm năm cho gọn, thực ra là dài hơn thế ; gọi là giữa Pháp và Anh, nhưng không phải là đất Pháp bây giờ và đảo Anh ngày nay, mà thuở ấy vua Anh có những đất đai trên lục địa xen kẽ với đất đai của vua Pháp ; gọi là chiến tranh trăm năm, nhưng không phải lúc nào cũng đánh nhau, lúc đánh lúc hòa, vv. Mãi đến năm 1475, với hòa ước Picquigny giữa hai vua Louis XI (Pháp) và Edward IV (Anh), vua Anh – trừ thành phố Calais – không còn đất trên vùng đất đai của Pháp, « Chiến tranh một Trăm năm » mới thực sự chấm dứt.
Dù sao tai họa xảy ra không chỉ cho con cháu vua Philippe IV le Bel, mà cho cả dân của hai nước. Ai cả tin, thì bảo là tại lời nguyền « trời tru, đất diệt ».
8/ Jehanne : Đây là cô Jeanne d’Arc, cuối thời « Chiến tranh Trăm năm ». Chuyện Jeanne d’Arc (1412-1431), trong khung cảnh nước Pháp, tóm tắt như sau : Khởi đầu là thời của ông vua điên Charles VI (trị vì từ 1380 đến 1422), bắt đầu điên từ 1392, lúc tỉnh lúc mê. Triều đình rối loạn ; em vua và hai chú vua tranh quyền, mang quân đánh nhau, có lúc còn nhờ quân Anh giúp sức, vì thuở ấy nước Pháp chưa là một khối thuần nhất, nhiều tỉnh còn thuộc vua Anh là Henry V. Con trai vua Charles VI là thái tử cũng mang tên Charles (sau gọi là Charles VII ) lại bị nghi là con bất chính của hoàng hậu Isabeau và em trai vua Charles VI. Năm 1420, vua Charles VI, dưới sức ép của hoàng hậu và của một hoàng thân phe Bourguignon, ký một hiệp ước công nhận vua Anh là Henry V, con rể vua Charles VI, sẽ là người nối ngôi vua Pháp, và thái tử Charles VII do bị coi là con bất chính không được nối ngôi (con bất chính của chính hoàng hậu !). Năm 1422, vua Charles VI chết, vua Anh Henry V cũng đã chết, nhưng con nối ngôi vẫn đòi kiêm làm vua Pháp. Tình cảnh của thái tử Charles (lẽ ra phải được coi là vua Charles VII ) lúc đó rất là nguy ngập, bị lấn khắp nơi, hầu như chỉ còn giữ được một tỉnh (Bourges), cho nên thuở đó ông còn bị gọi mỉa là ông vua tí hon của tỉnh Bourges (« le petit roi de Bourges ») . Giữa lúc đó thì xuất hiện một cứu tinh : Jeanne d’Arc, một cô gái quê ngoan đạo 16 tuổi. Đó là vào mùa đông năm 1428, cô này « nghe thấy » tiếng gọi của ba vị thánh, thúc giục cô ta ra giúp thái tử Charles đánh đuổi quân Anh ra khỏi nước Pháp. Cô ta thuyết phục được một võ quan, dẫn cô ta đến gặp thái tử Charles mà cô ta chưa bao giờ nhìn thấy. Thái tử muốn thử cô ta. Trong phòng lớn của lâu đài Chinon, trong đám 300 quần thần, cô ta nhìn rồi bước tới quì trước mặt một người, gọi người đó là thái tử. Người này chối, chỉ sang người bên cạnh, nhưng cô ta không đổi ý, tâu việc cô ta nghe tiếng gọi của ba vị thánh. Quả đúng người cô ta nhận ra là thái tử ; và sau một giờ đồng hồ đàm đạo riêng, cô ta tiết lộ những điều bí mật (?) chứng tỏ thái tử là con chính thống để nối ngôi, không phải là con bất chính. (Sau này, người tin thì bảo đó là mệnh trời do Chúa Trời sắp đặt, người không tin thì bảo là chuyện đồng lõa dàn dựng). Dù sao, ít ngày sau, quân của thái tử, với sự tham gia trận mạc của cô Jeanne d’Arc thắng nhiều trận, lấy lại được nhiều thành ; cô dẫn được thái tử đến Reims, nơi mà nhà thờ có truyền thống làm lễ đăng quang của các vua Pháp. Ở nơi này, tháng 7 năm 1429, thái tử làm lễ đăng quang, lúc ấy mới chính thức là vua Charles VII. Nhà vua thì ưa điều đình với đối phương (phe Bourguignon đồng minh với vua Anh) để củng cố quyền lực, cô Jeanne d’Arc ưa chiến trận ; cô trở thành một mối chướng ngại. Năm 1430, cô trở nên đơn độc khi đang tấn công một thành. Cô bị đối phương bắt ; nhà vua bỏ rơi. Năm 1431, cô bị cánh đối phương đem xử, với sự đồng lõa của giáo hội dưới quyền viên giám mục Cauchon, với lý do là cô là kẻ phản đạo, phù thủy, và kết án bị đốt chết, tro vứt xuống sông Seine. Năm năm sau, vua Charles VII hòa hoãn với phe Bourguignon đối phương, đuổi được quân Anh ra khỏi kinh đô Paris … Năm 1456, do ý của vua Charles VII, giáo hội mới xét lại và phục hồi cô. Năm 1920 cô được phong thánh. Trong bài thi ca của Villon, hai câu : « Et Jehanne [Jeanne] la bonne Lorraine, Qu’Englois [Anglais] brûlèrent à Rouen », chính là nói về cô Jeanne bị phe thân người Anh đốt ở Rouen. Jeanne d’Arc đã trở thành một tượng trưng của tinh thần dũng cảm chống ngoại xâm.
Chuyện bên lề bài thi ca :
Nhân dịp nói đến cô Jeanne d’Arc, tôi cũng muốn kể thêm câu chuyện cô « lạc » vào nước Việt Nam ta, do một sự gán ghép kỳ lạ. Dài dòng và bên lề một chút, nhưng cũng đáng kể ; vả lại, nhân dịp vinh danh mấy bà nước ngoài, tôi nghĩ cũng nên vinh danh một cách chính đáng Hai Bà nước ta. Đó là Lễ kỉ niệm Hai bà Trưng và Jeanne d’Arc năm 1942.
Nhắc lại khung cảnh. Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai, bùng nổ, (rồi sẽ kéo dài đến 1945). Đây là chiến tranh giữa 2 phe : phe « Đồng minh » và phe « Trục ». Phe « Đồng minh » gồm Anh và thuộc quốc Commonwealth, và Pháp, Ba-lan, Đan-mạch, Hà-lan, Bỉ, Nam-tư, Hy-lạp, và tiếp theo đó là Liên Xô, rồi Hoa Kỳ, Trung quốc (chế độ « Quốc dân đảng » của Tưởng Giới Thạch, sau ta gọi nôm na là Tàu Tưởng) và phần lớn các nước châu Mỹ la-tinh. Phe « Trục » gồm Đức (chế độ quốc-xã của Hitler), Ý (chế độ phát-xít của Mussolini), Nhật (chế độ quân phiệt chủ trương khối Đại Đông Á), và một số nước Đông Âu (Áo, Hung, Slovaquie, Ru-ma-ni, Bun-ga-ri, vv. do Đức chiếm hoặc ép làm chư hầu). Ở châu Âu, 1940, Pháp thua trận, phải xin ký đình chiến với Đức. Nghị viện Pháp (gộp chung Thượng nghị viện và Quốc hội) họp ngày 10/7/1940 bỏ phiếu (569 phiếu thuận trên 669 phiếu) trao toàn quyền cho thống chế Pétain. Chế độ Cộng hòa bị bỏ, thống chế Pétain trở thành « quốc trưởng » của « quốc gia » Pháp, và tiến tới cộng tác với Đức. Lúc đó Pháp vẫn duy trì chính quyền ở các thuộc địa, đặc biệt là ở Đông Dương.
Nhắc lại là từ 1867 Pháp chiếm Nam kỳ, triều đình nhà Nguyễn phải ký hiệp ước năm 1874 nhường đứt đất này làm thuộc địa của Pháp do Pháp cai trị trực tiếp, rồi hiệp ước năm 1883 rồi năm 1884 nhận nền bảo hộ ở Trung kỳ và Bắc kỳ. Nhưng với thời gian, Pháp dần dần lấn quyền, tiến tới cai trị trực tiếp Bắc kỳ, nhưng vẫn để tồn tại chế độ quan lại người Việt Nam ; ở Trung kỳ, tuy còn vua và triều đình, nhưng chỉ là hình thức, mọi quyết định đều do Pháp (1) . Năm xứ thuộc Pháp (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao Mên và Lào), gọi là Đông Dương thuộc Pháp, còn gọi tắt là Đông Pháp, do một viên toàn quyền người Pháp cai trị chung – từ 1940 đến 1945, viên toàn quyền là thủy quân đô đốc Decoux – vẫn phụ thuộc vào chính quyền của thống chế Pétain.
Ở châu Á, từ 1931, Nhật chiếm Mãn châu của Trung quốc. 1937-1938, Nhật chiếm đông bắc, rồi toàn miền duyên hải của Trung quốc, nhưng bị sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược này. Tháng chạp 1941, không quân Nhật bất thình lình tấn công Pearl Harbour (Trân Châu cảng) của Hoa Kỳ ; sau đó, 1942, Nhật chiếm phần lớn Đông Nam Á. Ở Đông Dương, Nhật tấn công Pháp ở biên thùy phía bắc Đông Dương (Lạng Sơn, tháng chín 1940). Pháp thua. Không những Nhật cắt được đường tiếp tế vũ khí và vật dụng mà Trung quốc tiếp nhận qua con đường hỏa xa Hải Phòng - Côn Minh (Vân Nam), mà Nhật còn dần dần buộc còn Pháp phải để quân Nhật vào Đông Dương, sử dụng những căn cứ quân sự (sân bay, cảng, vv.), cung cấp của cải, nguyên liệu vật chất mà Nhật cần dùng. Khuynh huớng của một số người Việt Nam, từ đầu thế kỉ 20, đặt hy vọng vào Nhật để giải phóng nước ta khỏi ách thực dân Pháp, nay cũng không còn cơ sở, vì Nhật duy trì chính quyền thực dân Pháp, và những yêu sách của Nhật đối với Pháp, rốt cục cũng dội xuống đầu người dân Việt Nam. Cho nên thuở ấy mới có khẩu hiệu « một cổ hai tròng ».
Dưới thời Pháp cai trị Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, người bản xứ không được hưởng những quyền lợi tương đuơng như người Pháp. Thí dụ, theo hồi ký của toàn quyền Decoux (A la barre de l’Indochine, nxb Plon 1949), lương một ông quan tổng đốc hạng nhất (bậc quan cao nhất người Việt Nam) không bằng lương một anh cai đoan (thuế quan) người Pháp ở Đông Dương (sous-brigadier des douanes), trước khi viên toàn quyền này nhậm chức. Viên này cũng « khoe » những cải cách của mình, trước những đòi hỏi của « tầng lớp khá giả bản xứ », như chấp nhận nguyên tắc tiến tới việc : « Ngang bằng cấp, thì ngang chức vụ ; ngang chức vụ, thì ngang lương », vv. Nhưng đấy là do sức ép của thời cuộc. Cũng vì vậy mà chính quyền Pháp ở Đông Dương bày ra một số chuyện nhằm giảm bớt những bất mãn của những người Việt Nam thuộc tầng lớp khá giả : mỗi sáng có lễ chào cờ Pháp và Việt ở trường Pháp ; cho in những họa báo tán dương những công lao của người gốc Việt đóng góp cho nước Pháp như Đại úy không quân Đỗ Hữu Vị trong đại chiến 1914-1918 ; in những con tem mang hình hoàng đế Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương ; lệnh cho các quan cai trị người Pháp, khi giao dịch với các quan đầu tỉnh người Việt, phải dùng chữ « Ngài » (Excellence) vv. và tổ chức buổi lễ chung kỷ niệm Hai bà Trưng và cô Jeanne d’Arc, do viên sĩ quan hải quân Ducouroy phụ trách ; viên này cũng là người phụ trách tổ chức phong trào thể dục thể thao Đông Dương thuở đó (trường thể dục Phan Thiết, đua xe đạp quanh Đông Dương, vv.).
Việc có sự kỷ niệm chung Hai Bà Trưng và cô Jeanne d’Arc, nghĩa là có thể hiểu như sự cố tình so sánh coi như tương đương, tự nó đã là kỳ. Nhưng đã nói tới cô Jeanne d’Arc mà không nói tới Hai Bà Trưng thì lại kỳ hơn. Vì vậy tôi nhắc lại ít điều về Hai Bà.
Cuốn Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, (tựa và dẫn của Hoàng Xuân Hãn, nxb Sông Nhị, Hà Nội 1949) kể :
Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục hai là bá vương.
Uy thanh động đến Bắc phương,
Hán sai Mã viện lên đường tiến công.
Hồ Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nao ?
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo.
Chị em thất thế cùng liều với sông.
Phục Ba mới dựng cột đồng,
Ải quan truyền dấu biên công cõi ngoài.
Trưng vương vắng mặt còn ai ?
Đi về thay đổi mặc người Hán quan.
Nói thêm là hai ông Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái không « viết chung » cuốn này : nói tóm tắt, thoạt đầu là ông Lê Ngô Cát (1827-1876) vâng lệnh soạn ra, và ông Phạm Đình Toái (1817-1901) sửa lại.
Lời thơ tuy hay, nhưng có thể khó hiểu. Vậy tôi nhắc tóm tắt đoạn sử này như sau. Đầu thế kỉ 1 sau Công nguyên, lúc đó là thời « Bắc thuộc lần thứ nhất » (nghĩa là nước ta bị phụ thuộc vào nhà Hán, Trung quốc, và bị chia ra làm các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam : từ 111 trước Công nguyên đến năm 39 sau Công nguyên). Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định tàn ác, lòng dân oán giận. Tô Định giết Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc. Bà cùng với em gái là Trưng Nhị khởi binh đánh Tô Định. Tô Định chạy trốn. Hai bà chiếm Long Biên và 64 thành khác, rồi xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh (thuộc tỉnh Vĩnh Phú, ngày nay). Ba năm sau, vua Hán sai tướng giỏi là Phục Ba tướng quân tên là Mã Viện đem quân sang đánh. Mấy lần giao chiến ở gần Hồ Tây, hai Bà không địch nổi, rút về Cấm Khê. Mã Viện đánh Cấm Khê, quân hai bà tan vỡ, hai Bà chạy đến Hát Môn (thuộc Hà Tây ngày nay), gieo mình xuống sông Hát giang tự tử. Đó là vào năm 43 sau Công nguyên. Nước ta lại bị thuộc vào nhà Hán. Mã Viện dựng cột đồng để ghi võ công của mình, tương truyền với lời nguyền « Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt » (Cột đồng ấy gẫy thì Giao Chỉ bị diệt : cũng có người viết « động trụ chiết, Giao chỉ tuyệt »). Trong ký ức người Việt Nam, Hai Bà là tượng trưng của trí bất khuất, của lòng yêu nước, độc lập tự chủ, đồng thời lại là trường hợp rất hiếm hoi trong lịch sử nước ta mà phụ nữ làm vua – (ngoại trừ Lý Chiêu hoàng, nhỏ tuổi làm vua làm vì (1224-1225), trước khi bị ép nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh ; và tất nhiên là khác với trường hợp các bà thái hậu nhiếp chính. Ngay cả trong sử Trung quốc, theo tôi biết, cũng chỉ có một trường hợp, là Vũ Tắc Thiên là phụ nữ làm vua). (2)
Lại có bài thơ « Vịnh hai Bà Trưng » ở cuộc thi thơ do đền Hai Bà ở Hà Nội tổ chức (có lẽ vào cuối thập niên 30 đầu thập niên 40 của thế kỉ 20 ?), của ông Hoàng Thúc Hội (còn gọi là cụ cử Cót), một thời được khá nhiều người biết:
Ngựa Gióng đã lên không.
Voi Thanh còn chửa lồng.
Một chồi hoa nụ Lạc.
Muôn dặm nước non Hồng.
Giăng sáng gương Hồ Bạc.
Mây tan dấu Cột Đồng.
Nén nhang lòng cố quốc.
Xin khấn một lời chung.
Câu đầu nói việc Thánh Gióng dẹp giặc Ân đã xảy ra trước Hai Bà (truyền thuyết Phù Đổng thiên vương, thời vua Hùng thứ sáu); câu thứ nhì nói sự việc vua Quang Trung phá quân nhà Thanh còn chưa xảy ra (1789); câu thứ ba và thứ tư nói tới Lạc Hồng; vv.).
Lại nhắc chuyện thời nhà Minh, một sứ ta sang Tàu, bị vua Tàu ra câu đối : « Đồng trụ chí kim đài dĩ lục » (Cột đồng tới ngày nay rêu đã xanh), để nhắc lại tích Mã Viện sang chiếm lại nước ta thời hai Bà Trưng (năm 43) rồi dựng cột đồng, chủ ý là để hạ nhục ta. Sứ ta đối lại : « Đằng giang tự cổ huyết do hồng » (Sông Bạch Đằng từ thuở xưa, máu còn đỏ) để nhắc lại hai chiến công: Ngô Quyền phá quân Nam Hán (938) và Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên (1288). Câu đối thật là hay. Theo cuốn Từ điển Văn hóa Việt Nam, nxb Văn hóa-Thông tin 1993, thì tác giả vế đối là Thám hoa Giang Văn Minh, đi sứ, vì câu đối này mà bị vua nhà Minh sai giết năm 1638, sau mới cho mang xác về nước.
Lại liên tưởng đến một giai thoại. Thuở thịnh thời chế độ ông Ngô Đình Diệm, một bức tượng hai bà Trưng được xây dựng ở Sài Gòn, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ kiểu và Nguyễn Văn Thế điêu khắc. Tượng bằng đồng nặng 3 tấn, cao 5,2m, đặt trên bệ 3 chân bằng xi-măng cốt sắt có gạch men xám bên ngoài, cao 10,6m. Tượng đặt ở quảng truờng Mê Linh, khánh thành ngày 11/3/1962 nhân dịp lễ kỷ niệm hai bà Trưng. Đến ngày 1/11/1963, do đảo chính, ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bị giết, tượng đài bị phá hủy ; có thuyết cho rằng tại nhà điêu khắc dùng hai chị em bà Nhu (Trần Lệ Xuân và Trần Lệ Chi) làm kiểu mẫu để tôn vinh bà Nhu. Có thuyết khác cho rằng mẫu mặt tượng hai bà Trưng là bà Nhu và con gái là Lệ Thủy. Nhưng cũng có thuyết cho rằng kỳ thật ra mẫu mặt tượng hai bà Trưng là bà Nhu và … bà Nhu. Cũng lưu ý là đời nay thường vẽ hình hai bà Trưng đội khăn vành dây như mấy bà công chúa triều Nguyễn. Nhưng đã gần hai nghìn năm qua, đâu còn dấu vết để biết y phục thời Hai Bà ra sao !
Chú thích :
(1) Nhân nhắc đến cái thời mất nước này, tôi cũng xin kể đến một pho tượng « xấu hổ» cho Việt Nam ở Paris : Trước điện Hôtel des Invalides, cổng vào phía nhà thờ, có một bức tượng được dựng nên sau thế chiến thứ nhất 1914-1918 để vinh danh thống chế Galliéni.
Việc nước Pháp vinh danh ông tướng này, cũng là điều tự nhiên, vì ông ta là người đã có công lao góp phần chiến thắng của Pháp trong thế chiến thứ nhất này, đặc biệt là trong vai trò « tướng quân quản » thủ đô Paris (tôi dịch chữ « gouverneur militaire » de Paris, 1914), rồi bộ trưởng chiến tranh (ministre de la guerre 1915), chết bệnh năm 1916, trước khi chiến tranh chấm dứt. Chính ông ta là người trưng dụng xe taxi để chớp nhoáng chở quân đánh vào sườn đạo quân Đức, lập nên chiến công vùng La Marne. Trước khi về làm tướng ở Pháp, ông này quá một quá khứ sĩ quan thuộc địa, thí dụ ở châu Phi : ở Niger, rồi làm toàn quyền ở Madagascar (1896-1905) buộc nữ vương Ranavalona III bỏ ngôi, vv. , nhưng đặc biệt là, ông ta lúc đó với quân hàm trung tá có sang Bắc Kỳ (1893-1895) đánh dẹp.
Nhưng câu chuyện tôi muốn đề cập là về bức tượng kể trên. Bức tượng ông ta được đặt trên một cái nền vuông chữ nhật, có ghi mấy dòng chữ « J’ai pour mission de défendre Paris contre l’envahisseur. Ce mandat, je le remplirai jusqu’au bout. 3/9/1914 » (Tôi có sứ mạng bảo vệ Paris chống kẻ xâm lược. Tôi sẽ thực hiện chức nhiệm đến cùng. 3/9/1914) và « Ce monument a été érigé à la suite d’une souscription publique organisée par la ligue maritime et coloniale française » (đài tưởng niệm này được dựng nên nhờ ở sự quyên góp do Hội hàng hải và thuộc địa Pháp tổ chức) bốn mặt có tượng của 4 người nâng tượng ông ta trên đầu. Phía trước là tượng một cô đầm Pháp, phía trái là một cô da đen, phía phải là một nàng A-rập, cả ba người phụ nữa đều chân đất, và phía sau là một người đàn ông Việt Nam mặc áo dài đội khăn, đi guốc.
(2) Nhân nói về đoạn thơ về Hai Bà Trưng trong Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái nói trên, tôi xin trích vài dòng của một bài của ông Lê Văn Nghi đăng trong mục « Bạn đọc và Tòa soạn » của tạp chí « Xưa và Nay » số 258, tháng 4/2006, trang 42. Ông ta viết : [Trích] : « […] Tôi hoàn toàn không có ý định phê phán quan điểm của hai đồng tác giả mà chỉ rất băn khoăn vì sao sau mấy chục năm giải phóng đất nước mà ta còn cho lưu hành trong sách giáo khoa (cũng như trong Quốc Sử Diễn Ca ) của chúng ta những quan điểm phi xã hội chủ nghĩa một cách tệ hại như :
- Mã Viện, kẻ thù xâm lược nước ta, sao lại được suy tôn là anh hùng (của ai ?).
- Từ « Nữ Nhi » ở đây là một sự mỉa mai miệt thị khá thâm độc (dù là vô tình hay cố ý).
- Hai Bà Trưng tuẫn tiết là một hành động anh hùng (Thà chết không bao giờ hàng giặc) chứ đâu phải thất thế tự tử một cách khiếp nhược như những kẻ phàm phu.
- ¼ phần còn lại của bài thơ chỉ dành cho ca ngợi chiến công của Mã Viện (mà thực chất là những cuộc tẩm máu đồng bào ta !).
- « Hồ Tây vắng mặt còn ai » … gieo vào lòng người đọc nỗi tuyệt vọng nặng nề !
Nếu bài thơ này hiện nay còn được xem bài Quốc Sử Diễn Ca thì đề nghị nên xóa đi, nếu không nó đã, đang và sẽ còn xúc phạm nghiêm trọng vong linh của Hai Bà Trưng đồng thời đả kích nặng nề lòng tự tôn dân tộc của đồng bào Việt Nam. [Hết phần trích].
Tôi (Liễu) xin miễn không bàn về mấy dòng viết này của ông Lê Văn Nghi.
3. Một nhà văn quan tâm đến
vấn đề xã hội
Dưới đây, tôi chép lại bài báo mang đầu đề « Nhân đọc lại vài tác phẩm của Zola » mà tôi viết và đăng trên Diễn Đàn mạng 20/6/2007
http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/nhan-111oc-lai-emile-zola/
Nhân đọc lại vài tác phẩm của Zola
Tôi chú ý đến Emile Zola (1840-1902), không phải là qua việc học sách vở nhà trường, nhưng thiện cảm nẩy nở là do những điều tôi được biết về sự quan tâm của ông đến sự đời, đến xã hội.
Tóm tắt tiểu sử của ông : Tuy sinh ở Paris, ông là người gốc Ý. Đời học sinh của ông thì chẳng có gì là đặc sắc : thi tú tài không đỗ, bỏ học đi làm cho nhà xuất bản Hachette và nhập quốc tịch Pháp vào năm 22 tuổi, bắt đầu viết văn năm 24 tuổi. Năm 26 tuổi bỏ nhà xuất bản để viết báo (thời luận). Năm 1877, nổi tiếng về tác phẩm L’Assommoir ; năm 1885, víết tác phẩm Germinal. Đó là 2 tác phẩm mà, theo tôi, đáng chú ý (tôi sẽ trở lại chi tiết dưới đây). Năm 1894, xảy ra vụ án Dreyfus (bị kết tội oan) ; 1898, ông Zola viết một bức thư ngỏ gửi cho tổng thống Pháp Félix Faure, bức thư mang tên « J’accuse » (nghĩa là « tôi tố cáo »), đăng trên báo L’Aurore để bênh vực người bị oan (tôi sẽ trở lại chi tiết dưới đây). Vì thái độ này, ông bị Bộ Chiến tranh (Ministère de la Guerre) kiện, và bị kết án một năm tù và phạt tiền, ông phải trốn sang London ở ẩn. Khi đuợc phá án, ông trở về Pháp và tiếp tục viết văn. Ngày 29/9/1902, ông chết ngạt một cách bí ẩn trong đêm ngủ (tai nạn, hay bị ám sát ?). Rất đông dân chúng dự đám tang đưa ông đến tận nghiã trang Montmartre. Năm 1908, tro của ông được đưa vào táng ở Panthéon, đền/lăng của những danh nhân nước Pháp. (Panthéon khởi thủy là một nhà thờ lớn ở Paris khởi công xây năm 1758, mãi đến năm 1789 mới tạm xong. Sau Cách Mạng, chính quyền cộng hòa quyết định, năm 1791, biến nhà thờ này thành nơi táng di hài « những vĩ nhân của thời đại tự do ». Danh nhân chôn trong đó gồm một số nhà văn hào, nhà bác học, danh tướng, nhà chính trị, nhà thám hiểm,… Trên mặt tiền của đền này, có ghi câu « Aux Grands Hommes, la Patrie reconnaissante », dịch thoát nghĩa là « Tổ quốc ghi ơn các vĩ nhân »).
Câu chuyện vụ án Dreyfus là như thế này. Năm 1894, phát hiện ra một vụ gián điệp : một số tài liệu quân sự, đặc biệt là về pháo binh, bị bán cho sứ quán Đức ở Paris. Đại úy Alfred Dreyfus, một sĩ quan pháo binh, gốc Do-thái, bị quy tội, mặc dù không có bằng chứng xác đáng cụ thể. Trong một bối cảnh mà sự kỳ thị chống người gốc Do-thái ở Pháp tồn tại lúc đó, và mặc dù Dreyfus kêu oan, tòa án binh họp ngày 4/12/1894 xử bị cáo tù chung thân và đày ra đảo Ile du Diable, ở xứ thuộc địa Guyane. Nhưng người anh/em ruột của Dreyfus không nản lòng ; với sự giúp đỡ của một nhà văn tên là B. Lazare, ông này quậy khắp nơi để minh oan cho Dreyfus. Dư luận thuở ấy chia ra làm hai : những người «dreyfusards » (thuận Dreyfus) – đại để là những người thuộc phải tả và những người gần với hội nhân quyền – và những người « anti-dreyfusards » – trong đó có phái cực hữu và những người kỳ thị bài người gốc Do-thái. Về phía quân đội và chính quyền, họ cố tình bưng bít để không nhận là đã có sự sai lầm. Năm 1896, tình cờ trong đám sĩ quan phụ trách điều tra, thiếu tá Picquart phát hiện ra chứng cớ là người có tội là một sĩ quan khác, thiếu tá Esterhazy. Tuy vậy phía quân đội và chính quyền vẫn « ngoan cố » : tuy buộc lòng phải đem Esterhazy ra xử (11/1/1898), nhưng viên này được trắng án. Tệ hơn nữa, thiếu tá Picquart bị bắt giam, rồi bị đổi đi xa. Ngày 13/1/1898, nhà văn Zola đăng một bức thư ngỏ gửi tổng thống Pháp, đăng trên báo L’Aurore, dưới đầu đề « J’accuse » (« Tôi tố cáo »), phơi bày vấn đề ra trước dư luận. Nhưng chính quyền phản ứng, và kiện ông Zola là vu cáo : tòa xử phạt kết án Zola một năm tù và một số tiền phạt nặng, ông phải trốn sang London ở ẩn, như đã kể trên. Ngày 13/8/1898, một người sĩ quan phát hiện ra việc trung tá Henry (trước là thiếu tá có trách nhiệm điều tra về Dreyfus) đã làm một số tài liệu giả để làm nặng hồ sơ kết án Dreyfus trước đó. Bị bắt, viên này thú nhận sự việc, và tự cắt cổ tại nơi giam. Nhờ sự kiện mới này, mà vụ án Dreyfus được đem ra xử lại. Lúc ấy ông Zola mới trở lại được Pháp. Nhưng một lần nữa, mặc dù chứng cớ hiển nhiên, tòa án binh lần này vẫn khăng khăng là Dreyfus có tội, tuy có tình tiết giảm khinh, và xử ông ta 10 năm khổ sai. Sự quá đáng này gây ra phẫn nộ ở Pháp, và cả ở nước ngoài, có nơi báo chí và dư luận lên tiếng bài Pháp. Chính quyền tìm một giải pháp xoa dịu bằng cách « ân xá » Dreyfus năm 1899. Khi mọi chuyện đã êm trong lãng quên, năm 1906, Dreyfus được phục hồi hoàn toàn, lại còn được gắn huân chương « Bắc đẩu bội tinh » (Légion d’honneur)! Lúc đó, ông Zola đã mất từ 4 năm trước rồi. Đã đành rằng việc Dreyfus được minh oan là nhờ sự cố gắng của nhiều người, trong đó có gia đình ông ta, của nhiều đoàn thể, nhà chính trị, báo chí, vv. nhưng bước ngoặt có ý nghĩa nhất vẫn được coi là bức thư « Tôi tố cáo » của ông Zola đăng trên báo năm 1898, khuấy động dư luận, làm cho sự việc không thể bưng bít được như trước nữa.
[Ở đây, tôi không muốn luận dài dòng về sự kỳ thị – theo tôi bất cứ loại kỳ thị nào, chủng tộc, màu da, tôn giáo, giai cấp, giới tính, cũng đều xấu cả – tôi chỉ muốn nói thêm về sự cần thiết phân biệt giữa mấy từ và khái niệm « bài Do-thái ». Theo tôi biết thì tiếng Pháp có mấy từ antisémitisme, anti-sionisme, anti-israélisme, anti-judaïsme, mấy từ này khác nhau mà hình như một số người Việt Nam không phân biệt và dịch chung là « bài Do-thái ». Nếu tôi hiểu không lầm thì tiếng Pháp, từ « sémite » là để chỉ những tộc ở Cận Đông nay hoặc xưa, sử dụng ngôn ngữ sémites, như tiếng Hébreu (ngôn ngữ chính thức ngày nay của nước Do-thái), tiếng A-rập, tiếng Accadien, Araméen, Phénicien, vv. Vậy nếu dùng từ « antisémitisme », thì có lẽ phải hiểu theo nghĩa là sự kỳ thị chủng tộc, như chế độ Đức quốc-xã ; thêm vào đó, đặc biệt là khi người dùng từ này là người A-rập hay đứng về phía A-rập để chống người Do-thái, thì trở thành kỳ khôi. Về từ thứ hai, «anti-sionisme », có thể hiểu như sự chống việc thành lập và tồn tại của một nước Do-thái tại vùng Palestine (Sion là tên một quả đồi ở Jérusalem, thường được đánh đồng với chính Jérusalem). Năm 1948, nước Do-thái được thành lập ở vùng này và mang tên là Israel ; đó là một quốc gia, một số công dân của nước này không theo đạo Do-thái, một số công dân cũng không có huyết thống Do-thái (thí dụ như những công dân gốc A-rập nhưng có quốc tịch Do-thái). Về từ thứ ba, « anti-israélisme », có thể hiểu là chống đường lối, chính sách của nước Do-thái hiện nay. Về từ thứ tư, « anti-judaïsme », thì phải chăng phải hiểu theo nghĩa chống những người theo đạo Do-thái, như những người theo đạo Ki-tô trước đây lên án người Do-thái trách nhiệm về cái chết của chúa Ki-tô ? Nhà xã hội học Pháp Edgar Morin có bài viết trong báo Le Monde 19/2/2004 về một số từ đề cập trên đây. Tôi không « với tới » được những tài liệu tiếng Việt ở Việt Nam về vấn đề này, nên không biết sử dụng tiếng Việt Nam như thế nào cho phù hợp. Có ý đề nghị dịch (theo thứ tự) là « bài Do », « chống Sion », « chống Israel », « chống đạo Do-thái » ; chính xác hơn, nhưng không biết những người Việt Nam khác, vốn hay « chín bỏ làm mười », có chấp nhận không. Khó quá !].
Bây giờ tôi xin nói tới hai tác phẩm L’Assommoir và Germinal của Zola. Thật ra, hai tác phẩm này nằm trong một chuỗi hai chục tiểu thuyết của tác giả (tên chung là Les Rougon Macquart, tiếng Pháp gọi là roman cycle, ta gọi là tiểu thuyết chu kỳ) gồm : La fortune des Rougon, La curée, Le ventre de Paris, La conquête de Plassans, La faute de l’abbé Mouret, Son Excellence Eugène Rougon, L’assommoir, Une page d’amour, Nana, Pot-Bouille, Au Bonheur des Dames, La joie de vivre, Germinal, L’œuvre, La terre, Le rêve, La bête humaine, L’argent, La débâcle, Le docteur Pascal.
« L’Assommoir » (nghĩa là « quán rượu hạng bét ») là cuốn tiểu thuyết tả thảm cảnh của một cô gái tỉnh nhỏ tên là Gervaise theo tình nhân Lantier, thợ làm mũ, lên sống ở Paris. Cặp này đã có ba con, nhưng Lantier là kẻ lười biếng và không thủy chung, bỏ cô này để cặp kè với tình nhân khác. Gervaise phải làm thợ giặt thuê để kiếm sống, nuôi con ; và gặp Coupeau, một thợ lợp mái nhà, đôi bên làm lễ cưới, rồi đẻ được một con gái. Cặp này tần tảo làm ăn, dành dụm. Mộng ước của Gervaise là có được một hiệu giặt của riêng mình. Nhưng chẳng may, người chồng bị nạn, ngã từ nóc nhà xuống gẫy chân, mất việc. Tưởng đã tuyệt vọng, song Gervaise cũng cố gắng vay mượn để mua được một hiệu giặt, có lúc tưởng như cuộc sống sáng sủa hơn. Nhưng nguời chồng nay tàn tật, trở nên lười biếng, rượu chè be bét ở quán rượu « L’Assommoir », rồi phát điên ; người tình nhân cũ lại tìm trở về ; Gervaise vay nợ thì không trả nổi, phải bán hiệu ; con cái thì bỏ đi ; dần dần Gervaise tuyệt vọng, cũng đâm ra rượu chè, làm điếm để nuôi miệng, bị tất cả mọi người bỏ rơi, sống những ngày tàn trong xó chân một cầu thang… Tóm lại, cuốn tiểu thuyết nói lên cảnh bần cùng sa đọa của những người nghèo khổ cuối thế kỉ 19. Tiểu thuyết này được René Clément dựng thành phim năm 1956 dưới đầu đề « Gervaise », với các diễn viên Maria Schell trong vai Gervaise và François Perrier trong vai Coupeau, gây rung cảm cho khán giả.
« Germinal » là cuốn tiểu thuyết mà khung cảnh là một cuộc đấu tranh của công nhân hầm mỏ ở một địa phương phía Bắc nước Pháp. Nhân vật chính là Etienne Lantier, con trai của Gervaise, lang thang từ miền Nam lên miền Bắc nước Pháp tìm việc làm. « May mắn » gặp dịp một người thợ mỏ bị chết, anh ta đuợc tuyển mộ vào làm việc ở mỏ than. Etienne dừng chân nơi đây, một phần cũng vì cảm thấy quyến luyến với Catherine, con gái của người công nhân già Maheu. Anh ta chăm chỉ học việc nhanh chóng, và chỉ trong vòng vài tháng đã trở thành thợ đánh rạch (haveur). Trong một khung cảnh xã hội với sự đói khổ triền miên, Etienne trở thành người cầm đầu cuộc đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho công nhân lao động. Một cuộc đình công xảy ra, và kéo dài ; thợ thuyền cùng quẫn, không còn gì để ăn, phẫn nộ phá phách. Chủ mỏ nhờ chính quyền mang quân đội đến dẹp. Những người đình công bị xa thải, và Etienne phải trốn sâu trong hầm mỏ để khỏi bị bắt. Nhưng gia đình, vợ con thợ mỏ, ngăn cản không để cho việc khai thác được tiếp tục, cho đến lúc binh lính nổ súng bắn chết một số người. Cuộc đình công thất bại, thợ mỏ buộc lòng phải đi làm trở lại. Nước ngập lụt hầm mỏ, một số thợ mắc kẹt trong hầm, trong số đó có Etienne và Catherine. Mấy ngày sau, khi ê-kíp cấp cứu tới nơi, thì chỉ còn Etienne sống sót... Cuốn tiểu thuyết này nói lên sự đấu tranh giai cấp, giữa tư bản và lao động. Zola viết như lột được tình trạng thực tế, nhờ ở kinh nghiệm làm báo và sự hiểu biết của ông về xã hội thuở đó. Tiểu thuyết này được Claude Berri dựng thành phim năm 1993, với các diễn viên Renaud, G. Depardieu, Miou-Miou, Laurent Terzieff, vv. được coi là thành công.
Zola làm tôi liên tưởng đến sự hiểu biết của một số người ở những « nước đến sau » – tôi muốn nói những nước đang kỹ nghệ hóa hay muốn kỹ nghệ hóa, chậm với tư bản phương Tây – họ tuởng như « thời gian đã ngưng lại » và tư bản phương Tây cuối thế kỉ thứ 20, đầu thế kỉ 21 vẫn còn như ở thế kỉ thứ 19 ! Đâu có phải vậy. Những cuộc đấu tranh đổ máu, cũng đã làm cho xã hội biến chuyển rất nhiều ở phương Tây. Những công đoàn được chính người lao động tổ chức, làm môi giới để bảo vệ quyền lợi của người lao động, chứ công đoàn không được lập ra, dưới một danh nghĩa lạm dụng nào đó, để bảo vệ giới chủ doanh nghiệp hay ai khác. Những đạo luật về lao động, bảo trợ người làm công, đã làm cho xã hội tiến một bước dài trên con đường hướng tới công bằng, dân chủ. Thí dụ như sự biến chuyển về số giờ lao động, kể từ 150 năm tới nay ở Pháp (nguồn : hồ sơ của báo « L’Humanité » của đảng Cộng sản Pháp) : số giờ làm việc của người lao động toàn thời gian (salariés à temps plein) thuở xưa là hơn 3000 giờ/năm, nay là 1700 giờ/năm. Vài mốc thời gian :
1841 : Số giờ lao động của trẻ em dưới 12 tuổi qui định là không quá 8 giờ/ngày.
1848 : Số giờ lao động là 84 giờ/tuần (3025 giờ/ năm) ; tối đa 12 giờ/ngày cho công nhân các xưởng công nghiệp – (« tuần » ở đây dùng theo nghĩa hiện nay nghĩa là 7 ngày, không phải là « tuần » của ta thuở xa xưa, dùng theo nghĩa 10 ngày).
1900 : Số giờ lao động là 70 giờ/tuần ; tối đa 10 giờ/ngày trong công nghiệp.
1906 : Số giờ lao động là 60 giờ/tuần, và mỗi tuần được một ngày nghỉ.
1919 : Số giờ lao động là 8 giờ/ngày, nghĩa là 48 giờ/tuần, và 6 ngày trên 7 mỗi tuần.
1936 : Theo đạo Luật 20/6, mỗi năm người lao động được hưởng 2 tuần nghỉ vẫn hưởng lương (congés payés), và số giờ lao động là 40 giờ/tuần.
1956 : Theo đạo Luật 27/3, mỗi năm người lao động được hưởng 3 tuần nghỉ vẫn hưởng lương.
1962 trong các xưởng xe hơi Renault, 1965 ở một số xí nghiệp, và 2/5/1962 : mỗi năm người lao động được hưởng 4 tuần nghỉ vẫn hưởng lương.
1982 : Theo Luật, mỗi năm người lao động được hưởng 5 tuần nghỉ vẫn hưởng lương ; số giờ lao động là 39 giờ/tuần.
1998 : Theo Luật 14/5, số giờ lao động là 35 giờ/tuần.
Ở đây, tôi không luận việc số giờ lao động quá ít có ảnh hưởng thế nào đến sự phát triển và cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa, và đến sức mua (pouvoir d’achat) của người lao động. Tôi chỉ nói rằng ở mấy nước Tây Âu, tư bản không còn là hoang dã như ở thế kỉ 19, điều mà – trớ trêu – lại thấy xuất hiện ở vài nơi mà thể chế đang mệnh danh là « tiến bộ ».
Tôi muốn nói thêm vài lời về từ « Germinal », đầu đề của tác phẩm của Zola. Khởi thủy, nó là tên tháng thứ 7 trong « lịch cộng hòa » thời cách mạng Pháp, nó xấp xỉ trùng với khoảng thời gian từ 21/3 đến 19/4 của lịch grégorien, và được « định nghĩa » là tháng của « sự nảy mầm và phát triển của nhựa sống » (dịch thoát nghĩa của tháng « de la fermentation et du développement de la sève de mars en avril ») theo bản báo cáo của nhà thơ Philippe Fabre d'Églantine, nhân danh « Ban làm lịch» ( Commission chargée de la confection du calendrier ) ngày 24/10/1793 tại « Hội nghị quốc ước » (Convention nationale). Tôi có đọc đâu đó hình như Zola chọn tên tiểu thuyết này vì cái định nghĩa nói trên, và nhựa sống đây là sự đấu tranh đòi hỏi cho giới lao động quyền sống trong một xã hội sáng sủa, công bằng … (?).
Về « lịch cộng hòa » Pháp này, nó được sử dụng trong 13 năm, từ 1793 đến 1/1/1806 thì bỏ. Ngày đầu năm là ngày « thu phân » (équinoxe d’automne) – kể ngược lên từ 22/9/1792 thì coi là ngày đầu của năm thứ nhất của nền Cộng hòa Pháp ; mỗi năm chia làm 12 tháng, mỗi tháng chia làm 3 « tuần », mỗi tuần gồm 10 ngày, nghĩa mỗi tháng gồm là 30 ngày ; như vậy một năm gồm 360 ngày, bổ sung thêm bởi 5 hay 6 ngày, gọi là ngày lễ cộng hòa. Các tháng mang tên như sau : 3 tháng mùa thu là vendémiaire (xuất phát từ tiếng La-tinh vindemia nghĩa là gặt hái), brumaire (xuất phát từ tiếng Pháp brume, nghĩa là sương mù), frimaire (xuất phát từ tiếng Pháp frimas, nghĩa là sương mù dày đặc và đông lạnh khi rơi xuống) ; 3 tháng mùa đông là nivôse (xuất phát từ tiếng La-tinh nivosus, nghĩa là có tuyết), pluviôse (xuất phát từ tiếng La-tinh pluviosus, nghĩa là nhiều mưa), ventôse (xuất phát từ tiếng La-tinh ventosus, nghĩa là nhiều gió); 3 tháng mùa xuân là germinal (xuất phát từ tiếng La-tinh germen, nghĩa là mầm), floréal (xuất phát từ tiếng Pháp, nở hoa), prairial (xuất phát từ tiếng Pháp, đồng cỏ) ; 3 tháng mùa hè là messidor (xuất phát từ tiếng La-tinh messis, gặt hái, và tiếng Hy-lạp dôron, của được hưởng), thermidor (xuất phát từ tiếng Hy-lạp thermos, nóng), fructidor (xuất phát từ tiếng La-tinh fructus, quả, và tiếng Hy-lạp dôron, của được hưởng). Mười ngày trong « tuần » mang tên là primidi, duodi, tridi, quartidi, quintidi, sextidi, septidi, octidi, nonidi, décadi, đại khái nghĩa là ngày thứ nhất, ngày thứ hai, …, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười.
Có sách viết rằng Cách mạng Pháp lập lịch cộng hòa như trên (và ép phải dùng, đe ai trái lệnh thì đưa lên máy chém) để bỏ lịch grégorien dùng trong thời quân chủ, nhằm xóa bỏ tất cả dấu vết của giáo hội Thiên Chúa giáo, là quốc giáo thời còn vua. Lịch grégorien đầy dãy những ngày lễ thánh ; lịch cộng hòa cho thay bằng mấy ngày lễ cộng hòa (5 hay 6 ngày), bổ sung cho đủ năm. Mấy ngày lễ cộng hòa này còn được gọi là « sans-culottides », bởi vì thời cách mạng phân biệt giới quí phái mặc quần bó sang trọng (culotte) và giới bình dân không có culotte (sans-culotte) phải mặc quần thường – (thời tôi còn nhỏ xíu, nghe mấy người lớn hơn học sử Pháp, tôi nhầm tưởng đó là những nguời nghèo đến nỗi không có quần, phải cởi truồng như Chử Đồng Tử nhà ta trước khi gặp công chúa Tiên Dung !).
Nhắc lại là lịch grégorien vốn là lịch julien (lịch mà Julius Caesar phổ biến năm 46 trước Công nguyên, vì vậy mới mang tên « julien ») được giáo hoàng Gregorius XIII ra lịnh sửa năm 1582 (vì vậy mới mang tên « grégorien »). Sửa như vậy để năm « lịch » phù hợp hơn với với nhịp quay của trái đất so với mặt trời 1 năm là 365,2422 ngày.
Nói chi tiết hơn một chút : Năm 532, theo những tính toán của Denys le Petit, một tu sĩ ở La-mã, giáo hội Công giáo tính năm kể từ năm sinh của Chúa Ki-tô. Tu sĩ này cho rằng năm sinh của Chúa Ki-tô là năm 753 sau khi La-mã được thành lập ; (nhưng ngày nay có thuyết cho rằng ông ta nhầm mất 5 năm). Tuy vậy cách đề năm này cũng phải đợi nhiều thế kỉ mới được các nước theo đạo Công giáo chấp nhận. Thí dụ như vào thế kỉ thứ IX, thời hoàng đế Charlemagne, người ta còn đề năm theo năm lên ngôi của vua, đại khái theo kiểu Tàu, kiểu ta thuở xưa. Đến cuối thời Trung cổ, một số nhà thiên văn nhận xét rằng sự chênh lệch giữa mỗi « năm lịch julien » và « năm mặt trời » là 11 phút 14 giây. (Có thuyết cho rằng kỳ thật ra, nhà thiên văn Hy-lạp Hipparque, thế kỉ thứ II trước Công nguyên, đã biết « năm mặt trời » lâu bao nhiêu, trước khi Caesar định lịch Julien). Đến thế kỉ 16 thì tổng cộng sự chênh lệch giữa « lịch julien » và « lịch mặt trời » lên đến 10 ngày, cho nên năm 1582, giáo hoàng Gregorius XIII cho sửa lại cho hợp (và do đó được gọi là lịch Grégorien) : Trước hết là quyết định rằng sau ngày thứ năm mồng 4 tháng 10 năm 1582 là ngày thứ sáu 15 tháng 10 năm 1582 (nghĩa là nhảy cóc 10 ngày). Thứ nhì là bỏ đi một số năm nhuận (năm đầu của 3 thế kỉ trên 4 thế kỉ, chỉ có 365 ngày ; vì thế nên những năm 1700, 1800, 1900 không có ngày 29 tháng 2, nhưng năm 2000 thì lại có). Với sự hiệu chỉnh như vậy, ngày nay sự chênh lệch giữa « lịch Grégorien » và nhịp quay của trái đất chỉ khoảng là 1 ngày sau 3 nghìn năm. Thoạt đầu chỉ có hai nước Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha là áp dụng ngay lịch Grégorien ; nước Pháp thì 2 tháng sau ; nước Anh theo năm 1752 ; Nhật và Trung Quốc năm 1911, Nga năm 1918, Hy-lạp năm 1923, vv. Ngày nay hầu hết các nước, có lẽ trừ các nước Hồi giáo, đều theo lịch này. Nhưng vì các nước không áp dụng lịch này cùng một lúc, cho nên cần thận trọng việc « đọc » thời điểm các sự kiện lịch sử. Thí dụ cuộc « Cách mạng tháng Mười » của Nga, lúc đó đang dùng lịch julien, xảy ra vào tháng 11. Hoặc có người lưu ý rằng hai nhà văn hào Cervantes (Miguel de Cervantes Saavedra, người Tây-ban-nha, tác giả của Don Quijote de la Mancha, ...) và Shakespeare (William Shakespeare, người Anh, tác giả của « Othello », « Macbeth », « Romeo và Juliet », ...) cùng được ghi chết ngày 23 tháng 4 năm 1616, nhưng hóa ra lại chết cách nhau 11 ngày.
Napoléon Bonaparte, thuở trước là tướng, rồi Consul (có người dịch là « Tổng tài », có người dịch là « Chấp chính » như thời La-mã) thời cộng hòa, sau khi lên ngôi và trở thành hoàng đế Napoléon I, bỏ lịch cộng hòa năm 1806, và lập lại lịch grégorien. Lịch cộng hòa còn được « hồi sinh » trong thời gian ngắn ngủi thời Công xã Paris (La Commune de Paris : từ 6 đến 23/5/1871).
Nói thêm là hai tác giả của lịch cộng hòa, nhà toán học Gilbert Romme (1750-1795) và nhà thơ Philippe Fabre, tức Fabre d’Eglantine (1750-1794) đều bị lên máy chém dưới thời cộng hòa, không phải vì « lịch cộng hòa », mà vì lý do khác. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều dùng lịch grégorien, mặc dù không phải là nước theo Thiên Chúa giáo, cũng thản nhiên như một số người Việt Nam ăn lễ Giáng sinh mà cũng chẳng cần biết ngày đó (trên nguyên tắc) là sinh nhật của ai.
Vài chuyện trong Văn học Pháp
Bùi Trọng Liễu
Thuở mới tới Pháp du học (đầu năm 1950), tôi rất khổ sở vì phải gấp rút học Văn học Pháp cho kịp thi Tú tài phần 1 của Pháp, cửa ngõ cho chuyện học hành, bởi vì thời đó phần Pháp văn là phần khó khăn nhất đối với tôi, mà thi thì lại bị « điểm chặn », bài Pháp văn mà dưới một điểm sàn, thì dù điểm trung bình của các môn thi cộng lại, có cao đến mấy cũng bị đánh trượt. Mà đây là lần đầu mà tôi làm quen với văn học sử Pháp. Thời gian mà tôi tính là trong vòng 18 tháng phải thu tóm được những điều cần thiết về Văn học Pháp, với vốn hiểu biết lúc đó rất thô sơ về tiếng Pháp của tôi, để mong bài thi Pháp văn có được tối thiểu cần có. Học tủ trong 18 tháng, khác nào như ăn mà không kịp nhai! Thuở ấy, chỉ thấy như một thứ án khổ sai. Ngày nay thanh thản, mới có thì giờ thưởng thức.
Nay nhân có thì giờ đọc lại, tôi muốn kể lướt qua vài chuyện trong Văn học Pháp, để những ai không có thì giờ nhiều, mà muốn biết, có thể hiểu qua vài khía cạnh của nền Văn học này.
1. Một bài « anh hùng ca » thời Trung cổ
Khởi thủy của Văn học Pháp là vào giữa thời Trung cổ ở châu Âu – nhắc lại là thời Trung cổ ở châu Âu kéo dài khoảng một nghìn năm, từ thế kỉ thứ 5 (khi đế quốc La-mã phương Tây bị diệt) đến giữa thế kỉ thứ 15 (khi đế quốc La-mã phương Đông bị đế quốc Ottoman phá vỡ và chiếm thủ đô Constantinople). Nói kỹ hơn : Thời hoàng đế Charlemagne (742-814) đất đai của đế quốc của Charlemagne rất rộng, nhiều loại dân, có tới ba mươi sáu thứ tiếng nói ; hoàng đế này đã cố gắng thống nhất bằng việc cổ vũ dùng tiếng La-tinh, nhưng ngôn ngữ trong dân gian phổ biến nhất vẫn là tiếng « roman ». Sau khi ông chết, người con nối nghiệp cũng đã gặp nhiều khó khăn để bảo tồn nguyên vẹn lãnh thổ. Đến đời cháu thì đất đai chia làm ba cho 3 người cháu nội. Họ tranh giành nhau. Văn kiện đầu tiên bằng « tiếng Pháp » được viết vào năm 842 : đó là « Lời thề ở Strasbourg » giữa hai người cháu nội của hoàng đế Charlemagne, hợp tác với nhau để chống người anh cả Lothaire trong việc tranh quyền bính và đất đai. Hai người con thứ này là Louis [le Germanique] và Charles [le Chauve], cai quản hai vùng đất khác nhau, tiếng nói khác nhau. Để cho binh lính của Charles có thể hiểu được, Louis đọc « Lời thề » bằng tiếng roman (tổ tiên của tiếng Pháp), và ngược lại để cho binh lính của Louis có thể hiểu được, Charles đọc « Lời thề » bằng tiếng tudesque (tổ tiên của tiếng Đức), mà không dùng tiếng La-tinh là ngôn ngữ bác học chung cho thời đó. Bản « Lời thề » mà Louis đọc chính là văn kiện cổ nhất bằng « tiếng Pháp ».
Vào khoảng thế kỉ 12, 13, những tác phẩm là những « chansons de geste » – une « geste » trong ngôn ngữ cổ của tiếng Pháp, từ này thuộc « giống cái » (genre féminin), là một chiến công , có người dịch ra tiếng Việt Nam là những bài thơ « anh hùng ca » hay « hiệp sĩ ca », ca ngợi những thần thoại hay chiến công lịch sử – do những « troubadours » viết, kể và hát (« troubadours » : nhà thơ trữ tình thuộc ngôn ngữ langues d’oc phương nam) và sau đó ít lâu, đến lượt những « trouvères » (« trouvères » là loại nhà thơ thuộc ngôn ngữ langues d’oïl phương bắc) bắt chước, nhưng hướng về những bản tình ca.
Bài « chanson de geste » được biết đến nhiều nhất là bài « Chanson de Roland », mà một bản cổ gồm 4002 câu thơ, chia làm 291 « laisses » (khổ thơ : đoạn). Câu chuyện kể trong bài đại khái như sau : Trong bảy năm, Charlemagne đánh dẹp quân người A-rập ở xứ Tây-ban-nha. (Nhắc lại là người A-rập chiếm đất vùng đất đai Tây-ban-nha ngày nay, lập nên nhiều vương quốc hồi giáo ở đó từ thế kỉ thứ 8 đến thế kỉ 15 ; chính ông nội Charlemagne là Charles Martel năm 732 phá được quân A-rập ở Poitiers trên đường họ xâm chiếm châu Âu, và đẩy lui được họ xuống vùng đất Tây-ban-nha). Bài ca kể rằng Charlemagne đánh thắng nhiều nơi, chỉ còn thành Saragosse (Zaragoza) của vua Hồi giáo Marsile tiếp tục chống cự. Vua này đề nghị hòa, Charlemagne do dự ; hiệp sĩ Roland muốn cố đánh chiếm thành, nhưng đa số tuớng của Charlemagne muốn hòa. Muốn hòa, nhưng cử ai làm sứ giả để đi điều đình? Roland đề nghị cử bố vợ mình là Ganelon ; ông này bất đắc dĩ phải đi, nhưng trong lòng rất căm giận, vì đây là một chuyến đi nguy hiểm, chắc gì giữ được mạng sống. Vua Marsile đoán biết được, nên không những không hại Ganelon mà còn bày một kế để cho Ganelon có thể trả thù : cho Ganelon trở về thuyết Charlemagne rút quân về đất Pháp, đồng thời thuyết Charlemagne cử Roland cầm đạo hậu quân. Khi đạo hậu quân này vượt dãy núi Pyrénées ngăn chia đất Pháp và đất Tây-ban-nha, tới khe núi gần đèo Ronceveaux, thì bốn mươi vạn quân Hồi giáo – đây là con số nêu trong bài ca, nhưng thuở ấy và vùng ấy, sao mà có được nhiều quân vậy ! – mai phục ở đó, đổ xuống đánh giết hai vạn quân của Roland. Thế đã cùng quẫn, thân cận đã chết hết, Roland mới đem cái tù và của mình ra thổi để cầu cứu, Charlemagne vội vã đem quân trở lại để cứu, nhưng đã muộn, Roland và đám hậu quân đã chết hết. Lúc đó bỗng có phép lạ xảy ra, « chứng tỏ » là Chúa Trời « bênh » Charlemagne : mặt trời bỗng ngưng lại vài tiếng đồng hồ, để ông này có thì giờ để đánh quân Hồi giáo, phá được thành Saragosse, vua Marsile chết, vợ phải bỏ đạo Hồi để qui theo đạo Ki-tô. Ganelon bị xử tội phanh thây. Đấy là chuyện kể trong bản anh hùng ca.
Nhưng « sự thật » lịch sử thì có khác : chẳng có vua Marsile, cũng chẳng có Ganelon, chỉ có bá tước Roland là chết thật. Theo một số sử gia thì thuở ấy, các vua Hồi giáo đánh lẫn nhau. Tướng trấn thủ thành Saragosse là Sulayman Ben Al-Arabi phản chủ là vua Hồi giáo xứ Cordoue (Cordoba), nên cầu cứu Charlemagne ; nhưng khi quân ông này tới nơi, thì Ben Al-Arabi đổi ý, không cho vào thành. Charlemagne giận, đánh bắt được Ben Al-Arabi làm tù, rồi rút quân về vì được tin có loạn ở biên thùy phía bắc. Trên đường về đến Ronceveaux, thì các con của Ben Al-Arabi, với sự giúp sức của quân bản địa Vascons (tổ tiên của người Basques ngày nay), tấn công và cứu thoát được Ben Al-Arabi. Bá tước Roland, chỉ huy đạo hậu quân, bị vướng vì lỉnh kỉnh chở nhiều xe của cải hôi được trước đó, đi chậm, nên bị giết với toàn bộ quân sĩ. Đó là một trận thua lớn của Charlemagne.
Bại mà kể là thắng. Thế mới là tuyên truyền hay! Bài anh hùng ca cần như vậy để kích thích các hiệp sĩ đi chiến đấu chống người Hồi giáo đã chiếm đất thánh ở Cận Đông, và đi chiếm lại đất Tây-ban-nha. Việc muốn chiếm lại đất thánh, thì châu Âu Thiên chúa giáo tổ chức tám cuộc viễn chinh chữ thập (croisades) từ thế kỉ 11 đến cuối thế kỉ 13 ; còn việc chiếm lại (Reconquista) đất Tây-ban-nha thì phải mất nhiều thế kỉ, từ giữa thế kỉ thứ 8 đến cuối thế kỉ 15 mới xong.
Bài « Chanson de Roland » có nhiều dị bản, ngắn dài từ 4000 đến 9000 câu thơ. Bản cổ nhất còn giữ được tới nay là một bản viết khoảng năm 1100 (lưu ở một thư viện ở Oxford nước Anh). Nguyên nhân tại sao có nhiều dị bản là :
- Thuở đó, chưa có tác quyền. Tác phẩm bị coi là của chung. Kẻ hát, người viết, ai hứng lên thêm thắt vài ba câu cũng không sao.
- Phải chăng văn hóa truyền khẩu thuở đó chưa thấy sự cần thiết của một nguyên bản chính xác?
- Máy in chưa xuất hiện (Johannes Gensfleisch, còn có tên gọi là Gutenberg, năm 1440 mới chế ra loại máy in bằng chữ in kim loại có thể chuyển dịch).
- Sao chép bằng tay thì dễ « tam sao thất bản », đôi khi không do người chép chủ ý. Nhưng cũng không loại trừ khả năng người chép tự ý sửa cho « hay hơn », (giống như kiểu một vài nhà « biên tập » ngày nay ; có điều là thuở ấy không có động cơ sợ bị nhà cầm quyền kiểm duyệt).
Tôi cũng xin nói là tại sao tôi gắn bó với bài « Chanson de Roland » này. Tại năm tôi tám tuổi, tôi ra Hà Nội học, từ trường ta vào học trường tây. Tôi vào học trường tây mà thoạt đầu chẳng hiểu tiếng tây, vừa sợ vừa lo, chỉ loáng thoáng hiểu được câu chuyện hiệp sĩ Roland trong một bài sử, và nhớ được đến tận hôm này một câu hát « Roland mourut à Ronceveaux » (Roland đã chết ở Ronceveaux).
Charlemagne được coi là vị hoàng đế giỏi, cho nên nội dung bài anh hùng ca mới xoay quanh ông ta ; có nhiều truyền thuyết về ông ta đôi khi không phù hợp với sự thật lịch sử. Chuyện hiệp sĩ Roland là một thí dụ. Truyền thuyết về bà mẹ ông ta sẽ được kể trong mục 2, về bài thi ca dưới đây, là một thí dụ khác. Có một truyền thuyết nữa về ông ta : Charlemagne chinh chiến nhiều, chiếm đất đai để mở rộng đế quốc của mình. Câu chuyện kể rằng quân ông ta vây một tòa thành của người Hồi giáo (vùng Nam nước Pháp hiện nay). Trong 5 năm, đánh nhau bất phân thắng bại, nhưng viên tướng thủ thành này bị tử trận. Charlemagne cho rằng lực lượng giữ thành đã kiệt quệ, lương thực đã cạn, nên sửa soạn tấn công để chiếm thành. Nhưng chính lúc đó, bà vợ góa viên tướng giữ thành kia, tên là bà Carcas, bày mưu, từ trên thành cao, sai ném xuống chân thành một con lợn nhồi đầy ngũ cốc. Charlemagne thấy vậy (còn có ngũ cốc cho lợn ăn !), kết luận rằng thành còn dư lương thực, và hạ lệnh rút quân. Quân đang rút, thì trong thành tù và và chuông nổi lên theo lệnh của bà Carcas, cổng thành mở ra, và một đoàn sứ giả trong thành ra nghị hòa. Charlemagne cảm phục lòng dũng cảm, và mưu kế của bà Carcas – vì thực ra lực lượng giữ thành đã kiệt quệ, luơng thực thực sự đã cạn – đồng ý cho hòa. Và đặt tên cho thành này là Carcassonne – nghĩa là [bà] Carcas nổi hiệu [sonne : thổi tù và, róng chuông] để vinh danh bà. Bà bỏ đạo Hồi để theo đạo Thiên chúa. Charlemagne còn đem bà gả cho một tuớng của ông – có nguồn nói là Oliban, có nguồn nói là Roger ; cặp này sinh con đẻ cái, cha truyền con nối cai quản vùng này (dòng dõi các bá tước Carcassonne) từ thế kỉ thứ 9 đến thế kỉ 13. Carcassonne ngày nay là một thành phố phồn vinh, một thành phố rất hấp dẫn khách du lịch, vì còn giữ đuợc di tích thành quách rộng lớn từ thời Trung cổ ; hàng năm vào tháng ba, có hội « con lợn » để kỷ niệm câu chuyện bà Carcas. Có điều tôi hơi băn khoăn mà chưa có lời giải đáp : nếu bà Carcas quả là người Hồi giáo như quân thủ thành, thì sao lại có thịt lợn nhỉ? Hay là nuôi lợn làm cảnh chứ không ăn ? Hay là thời đó các vua Hồi giáo cũng như các vua Thiên chúa giáo, tồn tại xen kẽ và tranh chấp đất đai của nhau, nên tương đối biết khoan dung với phong tục các đạo khác ? Hay là cũng như câu chuyện (tôi đã kể) ông Shah Mohammed Shah Aga Khan (1877-1957), imam (giáo chủ) thứ 48 của cộng đồng Hồi giáo Ismaeli ; ông rất thích uống rượu sâm banh; có người hỏi ông rằng : « Đạo Hồi cấm uống rượu, sao Ngài lại uống ?» ; ông trả lời : « Khi Ta bưng cốc rượu lên đến miệng, thì nó biến thành nước, nên Ta uống được không sao » ! Nếu có phép lạ, phải chăng khi đưa miếng thịt lợn lên gần miệng thì nó biến thành miếng thịt cừu ?
2. Một bài thi ca :
« Ballade des Dames du temps jadis »
(Bài thi ca về những bà thuở xưa).
Cũng vào thời tôi mới tới Pháp, là lần đầu mà tôi làm quen với văn học sử Pháp, do ngây ngô, trong đầu óc còn đầy dãy những thành kiến, tôi cứ nghĩ rằng : đã là thi sĩ tất là người có học, đã là người có học thì không thể nào lại ăn cắp, ăn trộm, giết người (!). Quen với môi truờng Việt Nam cũ, thuở ấy tôi cứ ngỡ là thi sĩ, văn sĩ phải là những nhân vật thanh cao, chả thế mà một số người hiểu biết chả mấy tí, nhưng cũng cố làm dăm ba câu thơ để tự nâng mình lên thành người « trí thức » đó sao ? Chính vì vậy mà tôi chú ý đến thi sĩ François Villon của thế kỉ 15 (1431- mất sau 1463 nhưng không rõ năm nào). Cuộc đời của ông ta là cuộc đời trôi nổi : mồ côi từ thuở nhỏ, được một tu sĩ nuôi dưỡng nên theo « họ » ông ta ; con người này cũng có học, nhưng cuộc đời liên quan nhiều đến những vụ trộm cắp, đã từng bị tù đày, có lúc suýt bị tử hình.
Năm 1950, vì đang phải học gấp, nên tôi có tự hứa khi nào có thì giờ sẽ tìm hiểu thêm về thi sĩ này. Vậy mà mãi hơn 50 năm sau, đã về hưu mới có thì giờ thanh thản đọc lại bài « Thi ca về những bà thuở xưa » của Villon, và … thấy hay, và hiểu hơn tại sao một thời, bài thơ này đã được Georges Brassens phổ nhạc và được tán thưởng.
Bài thi ca này nói lên sự trôi nhanh của thời gian, sự mỏng manh của cuộc đời, của kiếp người, đặc biệt là cuộc đời của những người duyên dáng yêu kiều, những phụ nữ nổi danh thời xa xưa : những bông tuyết của thời quá khứ, của năm xưa (nếu tôi không hiểu lầm tiếng Pháp : les neiges d’antan). Bài thi ca lại gợi cho tôi về phong cách được gán cho người Pháp : « galant », đối xử nâng niu người phụ nữ.
Có một tài liệu dẫn việc Hồ Chủ tịch, nhân một sự cố chính trị xảy ra khoảng năm 1953 ở nước ta, có nói câu : « […] Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa » – (tôi không nhắc lại chi tiết sự cố đó ở đây, nó liên quan đến Cải cách Ruộng đất ; ai muốn rõ, xin xem báo Diễn Đàn số 123, tháng 11/2002, dẫn hồi ký của ông Hoàng Tùng kể việc cụ Hồ không đồng ý xử bắn bà địa chủ theo kháng chiến Cát Thành Long Nguyễn Thị Năm). Theo tôi thường nghe ở Pháp, thì người ta nói « bông » hoa (une fleur), chứ không nói « cành» hoa. Cũng có nguồn cho rằng câu nói khởi thủy là của Ấn Độ, nhưng người Pháp lâu ngày tưởng là của mình. Câu nói này, người sống ở Việt Nam ít biết, cho nên khi kể lại câu cụ Hồ nói, có mấy nguồn kể đều viết « bông hoa » thành « cành hoa » – giữa « cành » hoa và « bông » hoa cũng có sự khác nhau : đánh bằng « cành », thì có thể đau ; đánh bằng « bông » thì như sự vuốt ve. Cụ Hồ rất thấu văn hóa Pháp, Cụ khó có thể nói nhầm. Mấy người kể lại có khả năng đã dẫn nhầm, nhưng chính vì sự cùng dẫn nhầm đó mà theo tôi, nó làm tăng thêm tính trung thực của lời kể : xác suất « cụ Hồ đã nói lời đó » là cao. Nếu quả vậy thì sự kiện đưa tới việc Cụ nói câu đó, chứng tỏ đức độ hiếu sinh của Cụ.
Trở lại bài thi ca. Nguyên văn của nó như sau, (với chính tả xa xưa theo một bản cổ, vì có nhiều dị bản ; nguồn : François Villon, Oeuvres complètes, Piaris Lemerre, 1873), tất nhiên tôi không có tài dịch lại ra tiếng Việt, mà chỉ xin bàn luận về các bà được dẫn trong nội dung bài.
Dictes moy ou, n’en quel pays
Est Flora la belle Rommaine,
Archipiades, ne Thais
Qui fut sa cousine germaine,
Echo parlant quand bruyt on maine
Dessus riviere ou sus estant
Qui beaulte ot trop plus qu’humaine.
Mais ou sont les neiges d’antan ?
Ou est tres sage Hellois,
Pour qui chatre fut et puis moyne
Pierre Esbaillart a Saint Denis ?
Pour son amour ot ceste essoyne.
Semblablement, ou est la royne
Qui commenda que Buridan
Fust geté en ung sac en Saine ?
Mais ou sont les neiges d’antan ?
La royne Blanche comme lis
Qui chantoit a voix de seraine,
Berte au grant pie, Bietris, Alis,
Haremburgis qui tient le Maine,
Et Jehanne la bonne Lorraine
Qu’Englois brulerent a Rouen ;
Ou sont ilz, ou, Vierge souvraine ?
Mais ou sont les neiges d’antan ?
Có nguồn chuyển ra tiếng Pháp ngày nay như sau :
Dites-moi où, en quel pays,
Est Flora, la belle Romaine,
Alcibiade et Thaïs,
Qui fut sa cousine germaine;
Écho, qui parle quand on fait bruit
Sur la rivière ou sur l'étang,
Et qui eut beauté surhumaine.
Mais où sont les neiges de l'autre année?
Où est la très sage Héloïse,
Pour qui fut châtré puis moine
Pierre Abélard à Saint Denis?
Pour son amour il subit cette peine.
Semblablement où est la reine
Qui ordonna qui Buridan
Fût jeté en sac dans la Seine?
Mais où sont les neiges de l'autre année?
La reine Blanche comme lis,
Qui chantait à voix de sirène;
Berthe au grand pied, Béatrix, Aélis,
Eremberg, qui possédait le Maine,
Et Jeanne la bonne Lorraine,
Qu'Anglais Brûlèrent à Rouen,
Où sont-elles, où, Vierge souveraine?
Mais où sont les neiges de l'autre année?
Nhưng cũng phải nói là cho tới ngày nay, tung tích của các nhân vật dẫn trong bài thi ca còn bí ẩn ; các nhà nghiên cứu chưa thống nhất ý kiến về lý lịch của các nhân vật này (nhà thơ định nói ai?), và ngay cả khi nhân vật được xác định, thì lý lịch của nhân vật ấy là đúng hay là bị xuyên tạc ? Vậy tôi xin kể những gì tôi đọc thấy :
1/ Flora, trong bài thi ca, là bà Flora nào, vì có nhiều bà mang tên đó. Có một Flora, « courtisane » xứ La-mã. « Courtisane » là gì, thì cũng khó khẳng định. Có người dịch ra tiếng Việt Nam là « điếm thượng lưu » ; nhưng định nghĩa « điếm thượng lưu » là gì thì cũng lúng túng ; đây có lẽ là những phụ nữ xinh đẹp nhân tình nhân ngãi với những lãnh tụ trong giới cầm quyền và đôi khi có ảnh hưởng đến họ. Có thuyết cho rằng Flora trong bài thi ca này là một « điếm thượng lưu », đã từng dan díu với Pompeius (106-48 trước Công nguyên). Ông này là một trong bộ ba cầm quyền những năm 58-51 trước Công nguyên, thời đại cộng hòa La-mã : Pompeius (tiếng Pháp gọi là Pompée), Crassus và Caesar (tiếng Pháp gọi là Jules César). Trước thì chia đất đai để cai trị, Pompeius lấy con gái Caesar để cầu thân, sau tranh quyền nhau. Khi Crassus đã chết, chỉ còn Caesar và Pompeius đấu nhau. Năm 49 trước Công nguyên, Caesar đánh bại quân của phe Pompeius đuổi Pompeius sang tận Ai-cập, vua Ai-cập là Ptolémée XIV muốn làm vừa lòng Caesar nên chặt đầu Pompeius nộp cho Caesar. Tương truyền là Caesar thấy đầu Pompeius thì tỏ lòng thương tiếc, sai đem chôn ở chân thành Alexandrie ; rồi cũng chẳng nhớ công nịnh của Ptolémée mà hạ bệ vua này để đặt vợ Ptolémée (đồng thời cũng chị/em ruột của ông ta – vua Ai-cập coi mình là dòng giống thần tiên, thần tiên thì không « chính thức » kết hôn với người hạ giới) là Cléopâtre VII lên ngôi, rồi nhân tình nhân ngãi với bà này một thời gian, vv. Nếu Flora được nói tới, chắc cũng vì Pompeius.
Cũng có thuyết nói tới việc một « điếm thượng lưu » Flora để lại cho dân La-mã nhiều của cải, và để vinh danh bà ta, dân xưa này mới chế biến ra các « cuộc triển lãm cây hoa » (tiếng Pháp là « Floralies », một tục còn tồn tại đến ngày nay).
Cũng lại có một « điếm thượng lưu » Flora sống ở thời nhà thi sĩ La-mã Juvenalis (60-130) mà tác phẩm « Satira » (tiếng Pháp là « satires »), thơ trào phúng châm biếm dữ dội phong tục đồi bại của xã hội La-mã thời ông. Rốt cục cũng không ai dám chắc là Villon định nói Flora nào trong bài thi ca.
2/ Archipiades : có thuyết cho là đây là Alcibiade, (450-404 trước Công nguyên), là tướng và nhà chính trị xứ Athènes (Athinai, Hy-lạp). Thời Trung cổ, người ta cho rằng Alcibiade thực ra là một phụ nữ, vì vậy nên mới vinh danh trong bài thi ca. Sự nghiệp của vị này cũng lên bổng xuống trầm, chiến bại chiến thắng, sau bị ám sát ; kể ra thì dài và lỉnh kỉnh. Nhưng trong « lý lịch » của vị, người ta hay nhắc đến vị đã là học trò của nhà triết học Socrate (470-399 trước Công nguyên), mà ông Socrate này có cái đặc điểm là không viết gì cả, và được đời biết đến qua ba người cùng thời của ông : hai người thì chê, thậm chí giễu ông ; may nhờ của người thứ ba, tự nhận là học trò ông, là nhà triết học Platon (427-347 trước Công nguyên) có tác phẩm (« Đối thoại » - « Dialogues », được coi là khởi thủy của phép « biện chứng ») mà hậu thế biết đến ông Socrate. Phải chăng cái vế tri thức cũng đóng một vai trò quan trọng trong tiểu sử của một danh nhân như Alcibiade ?
3/ Thaïs : Có hai bà Thaïs nổi danh. Một bà Thaïs « điếm thượng lưu » Hy-lạp (thế kỉ IV trước Công nguyên), đã từng là bạn lòng của Ménandre (thi sĩ hài hước Hy-lạp 342-292 trước Công nguyên), và của đại hoàng đế Alexandre (356-323 trước Công nguyên, thoạt đầu là vua xứ Macédoine, sau chiếm được rất nhiều đất đai từ Hy-lạp phía tây, chiếm đất đai của đế quốc Ba-tư, rồi sang đến tận miền tây Ấn-độ, chiếm Ai-cập phía nam), và của vua Ptolémée I (367-283 trước Công nguyên, gốc Hy-lạp, vua Ai-cập và các xứ Palestine, Syrie, Chypre, bắc Libye). Nhưng có thuyết cho rằng bà Thaïs trong bài thi ca là « điếm thượng lưu » gốc Hy-lạp (sống ở Ai-cập thế kỉ IV), rất đẹp ; vì bà mà rất nhiều ông khuynh gia bại sản, các ông ghen tuông đâm chém nhau đến nỗi cổng nhà bà thường đầy máu. Sau bà được một tu sĩ Ki-tô (thánh Paphnuce) thuyết phục, bà hoàn lương, từ bỏ giàu sang, nhốt mình trong gian phòng gắn kín cửa trong ba năm để tự phạt, rồi tu hành đắc đạo, sau được phong thánh.
4/ Berte : Berte au grant pie, nghĩa là bà Berthe với một bàn chân to, đây là mẹ của hoàng đế Charlemagne đã kể ở phần trước. Bà là công chúa con vua xứ Hung và hoàng hậu Blanchefleur, được đưa sang Pháp để lấy vua Pépin le Bref, thuở ấy chưa gọi là vua Pháp, mà là vua xứ những người Francs. Nàng bị người thị nữ Aliste, theo hầu, phản : sang đất lạ, người thị nữ này mạo nhận mình là công chúa, chiếm chỗ của Berthe. Hai nàng giống nhau nên chẳng ai nhận ra. Để việc khỏi bị lộ, Aliste sai thủ hạ giết Berthe. Và Aliste lấy vua. Mấy năm trôi qua ; Aliste đẻ được hai người con trai, cả ba đều ác nên dân chúng ghét. Rồi đến một lúc, bà hoàng hậu Blanchefleur tới Pháp thăm con gái ; Aliste sợ, giả ốm, đóng của phòng không chịu gặp « mẹ ». Hoàng hậu Blanchefleur nghi, đòi gặp cho bằng được và phát hiện ra là không phải con gái mình. Để đưa bằng chứng cụ thể, bà tiết lộ với vua rằng Berthe con gái mình có một dị tật : một bàn chân to hơn bàn chân kia. Bị tra hỏi, Aliste thú ra tên người thủ hạ được sai giết Berthe. Người này mới kể rằng, vì thương hại nàng Berthe nên không giết mà thả cho nàng trốn đi trong rừng. Vua sai người tìm, lâu mà không thấy ; rồi tình cờ một lần đi săn trong rừng mới tìm thấy nàng : trong tám năm, nàng sống ấn náu trong gia đình vợ chồng một người tiều phu đã nuôi nàng. Vua đưa nàng về triều. Người con trai đầu mà nàng đẻ với vua Pépin le Bref, chính là hoàng đế tuơng lai Charlemagne. Phương đông hay phương tây, cũng thường có những loại huyền thoại về những bà mẹ sinh con « thánh ».
5/ Hellois : còn gọi là nàng Héloïse (1101-1164) là cháu gọi tu sĩ Fulbert là cậu/chú, nổi tiếng vì mối tình duyên với Abélard (1079-1142) nhà triết học và thần học có danh thời đó ở châu Âu. Tu sĩ Fulbert trao trách nhiệm cho Abélard dạy Héloïse học. Chàng và nàng yêu nhau đắm đuối, vụng trộm, đẻ ra một đứa con. Abélard bị Fulbert phạt, thuê người thiến. Héloïse vào tu trong một tu viện, và Abélard cũng trở thành một tu sĩ có tiếng. Còn tồn tại một số văn kiện trong đó thư từ trao đổi giữa hai người, nhưng là chính bản hay là được viết lại ? Theo một thuyết, thì câu chuyện « có thể » là như sau : khi chàng và nàng yêu nhau và nàng có mang, chàng mang nàng trốn đi, và rốt cục chàng chấp nhận cưới nàng theo yêu cầu của Fulbert. Chàng vì muốn « giữ danh » của mình, giữ chuyện cưới xin trong bí mật, và gửi nàng vào tu viện Argenteuil. Fulbert giận, sai người thiến chàng ; chàng trở thành tu sĩ, và ép nàng cũng đi tu. Vì yêu mà nàng phải nhận, nhưng nàng (ngây thơ ?) có phần trách chàng thờ ơ với mình sau khi bị thiến. Còn chàng thì – phải chăng nay ở tình trạng « thị vào chầu, thị đứng, thị trông, thị cũng muốn, thị không có ấy », thị đây là « quan thị/hoạn » trong cái vế đối của câu « vũ cậy mạnh , vũ ra, vũ múa, vũ bị mưa, vũ ướt cả lông » đó – chàng khuyên nàng nên vượt qua tình yêu đối với chàng, và cả hai tập trung vào tình yêu Chúa Trời, hẹn gặp nhau lại trên thiên đàng. Sau cả hai đều tu hành đắc đạo. Phải chăng câu chuyện cũng là một loại « tu là cõi phúc, tình là dây oan » ? Có nguồn kể rằng năm trăm năm sau, cải táng chôn cặp này chung trong một mộ ở nghĩa trang Père Lachaise ở Paris. Tôi chưa có thì giờ đi kiểm chứng.
6/ Haremburgis : Có lẽ còn gọi là bà Aremburge, sống ở thế kỉ XII, vợ bá tước Comte d’Anjou Foulques V . Thời loạn li, năm 1127 bà là người sáng lập ra tu viện « Prieuré de Saint Jean du Grais ». Tương truyền nơi này có một cái giếng, nước giếng có thể làm cho người mù sáng mắt trở lại.
7/ Royne : tiếng Pháp ngày nay là « reine », nghĩa là hoàng hậu. Có thuyết cho rằng đây là bà Marguerite de Bourgogne (vợ Louis X, vua Pháp trị vì từ 1314 đến 1316). Bà này làm vợ ông lúc mới 15 tuổi (1305), khi ông còn là thái tử, (ông là con cả của vua Philippe le Bel ; vua này có 3 con trai và một con gái ; cả ba con trai sau này đều nối nhau làm vua là Louis X, Philippe V và Charles IV, và người con gái là Isabelle là hoàng hậu vợ vua Anh Edward II). Đầu năm 1314 – do Isabelle tố cáo với vua Philippe le Bel – phát giác ra vụ Marguerite (vợ thái tử Louis) và Blanche (vợ hoàng tử thứ ba Charles) ngoại tình với hai anh em quí tộc d’Aulnay. Bà Jeanne (vợ hoàng tử thứ hai Philippe) bị nghi là đồng lõa, biết mà không tố giác, nhưng không có bằng chứng ngoại tình, nên chỉ bị giam một thời rồi được tha. Hai anh em d’Aulnay, bị xử cực hình : bị thiến, bị phân thây và bêu xác. Marguerite và Blanche bị cạo trọc, giam ở Château-Gaillard, một lâu đài chiến lũy. Mùa thu năm đó vua Philippe le Bel chết, thái tử Louis nối ngôi tức là vua Louis X, bà Marguerite trên danh nghĩa đương nhiên trở thành hoàng hậu – vì hôn nhân chưa được hủy – chết vào mùa đông năm đó. Có nguồn cho rằng vì bà bị giam rất cực khổ trong phòng giam gió lùa lạnh lẽo. Có nguồn lại cho rằng bà bị vua sai người lén thắt cổ cho chết, vì giáo hội Thiên chúa giáo không coi ngoại tình là một lý do để các ông hoàng có thể bỏ vợ ; lại vướng việc đạo buộc một vợ một chồng, vua không thể cưới vợ mới. Nay, hoàng hậu Marguerite chết rồi, vua Louis X rộng đường cưới một bà vợ mới là Clémence de Hongrie. Bà em dâu cùng bị tội, Blanche, may mắn hơn, vì ông chồng thương, bị giam trong điều kiện khá hơn, nên không chết, và sau khi hôn nhân bị hủy (sẽ kể dưới đây), được đưa vào một tu viện và chết năm 1326. (Thuở trẻ, vợ chồng tôi thường đi chơi vùng Normandie, và hay ghé Château-Gaillard. Trên đồi cao, khi leo lên những bức tường còn lại của Château-Gaillard nay đã đổ nát, tôi lại trạnh lòng nghĩ tới hai cô gái bất hạnh này, không phải vì tôi cho rằng các cô cư xử đứng đắn, mà vì nghĩ tới thân phận các cô gái quyền quí cưới gả thuở xưa như một thứ hàng hóa được đổi chác vì đất đai và quyền lực, chẳng ai hỏi ý về tình yêu …)
Trong bài thi ca, tiếp sau câu thơ nói về hoàng hậu Marguerite, có 2 câu tiếp theo kể việc ông Buridan, bị bỏ vào bao ném xuống sông Seine. Sự việc thế nào, cần kể thêm một số chi tiết, vì sử và dã sử xen kẽ. Có một nhân vật trong sử là Buridan (sinh 1295 hoặc 1300 (?), chết khoảng 1360), triết gia Pháp, recteur (giám đốc) Đại học Paris (1317). Tương truyền là thuở ấy có một bà hoàng hậu hoang dâm, sai kẻ hầu mỗi ngày tuyển một chàng trai trẻ đẹp, đêm mang vào gian dâm trong lầu, rồi gần sáng đem nhốt chàng trai đó vào bao tải, rồi vứt từ trên lầu cao xuống sông Seine cho mất tích, và Buridan là một trong những chàng trai bị/được như vậy nhưng tình cờ thoát chết. Villon viết vậy trong bài thi ca, nhưng người sau nghi ngờ, vì mấy câu hỏi sau đây : Bà hoàng hậu nào đây ? Nếu bà hoàng hậu trong bài thi ca là bà Marguerite kể trên thì sử chỉ nói tới vụ ngoại tình của hai bà với hai anh em d’Aulnay. Ông Buridan có lẽ bị gán oan vào huyền thoại này chăng ? Lầu nào đây ? Người đời sau gán việc hoang dâm này ở cái lầu « Tour de Nesle » (nay không còn nữa), ở bờ sông Seine, nhưng bài thi ca không nói tới ; sử chỉ nói là năm 1319, vua Philippe V (nối ngôi anh là Louis X), tặng cho vợ là hoàng hậu Jeanne tòa nhà Hôtel de Nesle, đời sau gọi là Tour de Nesle ; bà Jeanne chính là cái bà con dâu của vua Philippe IV le Bel không bị tội trong cái vụ án ngoại tình năm 1314. Có giai thoại – mà Jean-Joseph Jullaud, cũng kể trong cuốn Histoire de France pour les nuls, nxb First 2004 – cho rằng Jeanne rằng chính bà Jeanne này (góa từ năm 1322, nghĩa là 3 năm sau khi đuợc vua cho cái Hôtel de Nesle) mới là cái bà hoàng mỗi đêm sai tuyển một chàng sinh viên trẻ đẹp để gian dâm, rồi tảng sáng bỏ vào báo vứt xuống sông Seine ; Buridan cũng được tuyển một đêm, may đoán trước được diễn biến, nhờ có bạn bè sửa soạn sẵn một cái thuyền chứa đầy rơm dưới chân lầu, nhờ thế bao nhốt chàng vứt từ lầu cao xuống sông, lại rơi trúng vào cái đống rơm trong thuyền nên chàng thoát chết. Thực hay hư ?
Dù sao, hơn năm trăm năm sau, nhà văn Alexandre Dumas mới phỏng theo chuyện ngoại tình này để viết cuốn dã sử La Tour de Nesle (1832) ; và hơn bảy trăm năm sau, Maurice Druon, trong bộ sách Les Rois maudits (tạm dịch thoát nghĩa là « Những Vua bị nguyền rủa, trời tru đất diệt ») gồm 7 cuốn (viết từ 1955 đến 1960) cũng kể tới chuyện này.
Tại sao lại có « những vua trời tru đất diệt » liên quan đến câu chuyện ngoại tình này ? Có lẽ cũng đáng kể ở đây (tuy tôi đã có dịp kể lướt qua một chút trong cuốn « Tự sự của người xa quê hương », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004) :
Dưới thời trị vì của vua Philippe IV le Bel (đã kể trên) Dòng đạo Ordre des Templiers (một dòng đạo Thiên chúa giáo) quá giàu và có ảnh hưởng kinh tế và chính trị quá lớn, vua sợ cho uy quyền của mình, mới sai bắt Dòng trưởng (grand maître) Jacques de Molay và đồng đạo của ông ta, đổ tội phản vua và phản đạo, kết án tử hình (đó là vào năm 1314). Giáo hoàng Clément V (người Pháp, là giáo hoàng đầu tiên chuyển Toà Thánh từ Roma sang Avignon ở Pháp) muốn làm vừa ý vua Philippe Le Bel nên cũng vào hùa, kết tội và giải thể Dòng đạo Ordre des Templiers. Tương truyền rằng khi Jacques de Molay bị thiêu, khi lửa đã bén, ông ta có hô to lời nguyền rủa : hẹn rằng trước cuối năm, sẽ gặp lại vua Philippe IV Le Bel và giáo hoàng Clément V tại « Toà án của Chúa Trời » (Tribunal de Dieu) để phân xử, và nguyền rủa « trời tru đất diệt » con cháu vua Philippe IV Le Bel. Dòng trưởng Jacques de Molay chết rồi, mấy tháng sau vua Philippe IV le Bel và giáo hoàng Clément V cũng chết. Việc thiêu Jacques de Molay, cũng như việc ba người cùng chết trong năm 1314, là những việc có thật ; năm đó cũng là năm đã xảy ra vụ án ngoại tình đã kể trên.
Tiếp theo đó, là thái tử Louis nối ngôi, tức là vua Louis X, và vụ việc bà hoàng hậu ngoại tình Marguerite chết ở nơi giam, cũng xảy vào năm 1314, như đã kể trên. Vua Louis X cưới bà vợ mới là Clémence de Hongrie như đã kể trên ; khi bà này có mang, thì vua Louis X chết (1316), trúng bệnh sau khi uống một cốc rượu lạnh, năm đó mới 27 tuổi. Với bà vợ truớc là Marguerite, vua Louis X chỉ có một người con gái cũng tên là Jeanne. Tuy rằng thuở ấy, ở Pháp con trai con gái đều có thể nối ngôi, nhưng vì vụ ngoại tình nên có sự nghi vấn (chưa có ADN để kiểm !), vả lại hoàng hậu mới là Clémence de Hongrie đang có mang, triều đình mới tạm trao quyền giám quốc (régent) cho hoàng tử Philippe, em trai vua, để đợi kết quả. Mãn kỳ, hoàng hậu Clémence sinh ra một con trai, lẽ ra là người nối ngôi, nhưng đứa bé chỉ sống được mấy ngày. Lại một dịp để nghi ngờ. Hoàng tử giám quốc Philippe và thân cận, mượn cớ đạo luật « salique » cổ, diễn giải lại cho phù hợp với tình thế : phụ nữ không thể nối ngôi vua nước Pháp, và như vậy gạt được công chúa Jeanne, con của cố hoàng hậu Marguerite, ra khỏi việc lên ngôi – cũng là cách ta thường nói : « cả vú lấp miệng em » vậy. Vì thế Hoàng tử giám quốc Philippe lên ngôi, đó là vua Philippe V. Vua này trị vì được sáu năm, đến 1322 thì chết, lúc ấy mới 29 tuổi. Vua này chỉ có 3 người con gái. Vì chính cái lệ ông ta đưa ra, nên con ông ta không thể lên ngôi – cũng là « gậy ông lại đập lưng ông »! Vì thế nên em trai ông ta là hoàng tử Charles nối ngôi, tức là vua Charles IV. Vua này trước đây có vấn đề với bà vợ ngoại tình Blanche còn đương bị giam : Giáo hội không cho ly dị, vậy phải tìm cái cớ gì để « hủy cuộc hôn nhân » (tiếng Pháp là « annulation du mariage »), thí dụ như cái cớ « có họ hàng với nhau » mà lấy nhau, do đó « nhầm » thì có thể « sửa sai ». Có điều là vua Charles IV và bà Blanche không có họ hàng máu mủ gì cả ; nghĩ mãi mới lòi ra được một cái cớ : đó là bà bá tước Mahaut, mẹ bà Blanche, thuở trước là « mẹ đỡ đầu » (tiếng Pháp là « marraine ») của ông Charles. Vậy thì chẳng tìm được cớ họ hàng máu mủ thì đưa cớ họ hàng tinh thần vậy : « mẹ tinh thần » cũng là mẹ ! – đúng là « lưỡi không xương trăm đường lắt léo ». Có cớ rồi, thì Giáo hội cho ly dị. Bà Blanche thì vào tu viện, vua Charles IV cưới vợ mới Marie de Luxembourg, nhưng bà này đang có mang thì chết ; vua lại cưới bà vợ khác là Jeanne d'Evreux (tuy là em họ của vua ; nhưng đây là « cưới » chứ không là « bỏ », nên không cần căn cứ vào việc có họ hàng hay không !), nhưng bà này chỉ đẻ ra hai người con gái đều chết yểu. Năm 1328 vua Charles IV chết lúc mới 33 tuổi, không con nối dõi, ngôi vua chuyển sang người em họ là vua Philippe VI. Vậy là dòng vua Philippe IV le Bel tuyệt tự. Đấy là số phận của ba người con trai của vua Philippe IV le Bel.
Còn lại bà Isabelle con gái của vua Philippe IV le Bel. Bà này lấy vua Edward II nước Anh ; nhưng vua này lại là người « đồng tính » (tiếng Pháp là « homosexuel »), tuy ông này đã « có với » bà này một người con trai. Bà ngán ngẩm việc vua mê trai, nên bà kiếm được ông nhân tình là nam tước Mortimer, rồi « đồng minh » với em vua trai vua, hạ bệ vua, nhốt vào một nơi và ép thoái vị ; sau đó vua chết : tương truyền là vua bị ám sát bằng cái dùi dài nung đỏ, đút vào hậu môn để đốt cháy ruột, mà thi thể bề ngoài vẫn nguyên vẹn. Đó là vào năm 1327. Con trai của vua và của bà Isabelle lên nối ngôi, đó là vua Edward III, còn nhỏ tuổi. Bà Isabelle và ông nhân tình Mortimer cùng nhiếp chính. Năm 1330, vua Edward III tự cầm quyền, giết Mortimer và đày mẹ đi nơi khác ; 28 năm sau bà ta chết. Tương truyền là lúc sau, bà ta đã ân hận là đã tố giác hai người em dâu : thuở trước, bà là người « phải đạo » nên không chấp nhận tình yêu ngoài hôn nhân. Người Pháp có câu : « Hãy làm những gì mà tôi nói; đừng làm những gì mà tôi làm » (« Fais ce que je dis ; ne fais pas ce que je fais ») ; phải chăng thay chữ « đừng » bằng chữ « cấm » có lẽ phù hợp hơn ?
Vậy là số phận của cả bốn người con của vua Philippe IV le Bel ngẫu nhiên trùng hợp với lời nguyền của Dòng trưởng Jacques de Molay trước khi chết vì lửa thiêu.
Những thảm kịch xảy ra trong cho con cháu vua Philippe IV le Bel không chỉ ngưng ở đó. Vua Pháp Philippe VI không phải là hậu duệ trực tiếp của Philippe IV le Bel – ông chỉ là con của em út vua Philippe IV le Bel – cho nên vài năm sau, vua Anh Edward III, lấy tư cách là cháu ngoại của vua Philippe IV le Bel, đòi quyền lên ngôi vua Pháp, gây ra cuộc « Chiến tranh một Trăm năm » (« la Guerre de Cent ans ») giữa Pháp và Anh. Gọi là một trăm năm cho gọn, thực ra là dài hơn thế ; gọi là giữa Pháp và Anh, nhưng không phải là đất Pháp bây giờ và đảo Anh ngày nay, mà thuở ấy vua Anh có những đất đai trên lục địa xen kẽ với đất đai của vua Pháp ; gọi là chiến tranh trăm năm, nhưng không phải lúc nào cũng đánh nhau, lúc đánh lúc hòa, vv. Mãi đến năm 1475, với hòa ước Picquigny giữa hai vua Louis XI (Pháp) và Edward IV (Anh), vua Anh – trừ thành phố Calais – không còn đất trên vùng đất đai của Pháp, « Chiến tranh một Trăm năm » mới thực sự chấm dứt.
Dù sao tai họa xảy ra không chỉ cho con cháu vua Philippe IV le Bel, mà cho cả dân của hai nước. Ai cả tin, thì bảo là tại lời nguyền « trời tru, đất diệt ».
8/ Jehanne : Đây là cô Jeanne d’Arc, cuối thời « Chiến tranh Trăm năm ». Chuyện Jeanne d’Arc (1412-1431), trong khung cảnh nước Pháp, tóm tắt như sau : Khởi đầu là thời của ông vua điên Charles VI (trị vì từ 1380 đến 1422), bắt đầu điên từ 1392, lúc tỉnh lúc mê. Triều đình rối loạn ; em vua và hai chú vua tranh quyền, mang quân đánh nhau, có lúc còn nhờ quân Anh giúp sức, vì thuở ấy nước Pháp chưa là một khối thuần nhất, nhiều tỉnh còn thuộc vua Anh là Henry V. Con trai vua Charles VI là thái tử cũng mang tên Charles (sau gọi là Charles VII ) lại bị nghi là con bất chính của hoàng hậu Isabeau và em trai vua Charles VI. Năm 1420, vua Charles VI, dưới sức ép của hoàng hậu và của một hoàng thân phe Bourguignon, ký một hiệp ước công nhận vua Anh là Henry V, con rể vua Charles VI, sẽ là người nối ngôi vua Pháp, và thái tử Charles VII do bị coi là con bất chính không được nối ngôi (con bất chính của chính hoàng hậu !). Năm 1422, vua Charles VI chết, vua Anh Henry V cũng đã chết, nhưng con nối ngôi vẫn đòi kiêm làm vua Pháp. Tình cảnh của thái tử Charles (lẽ ra phải được coi là vua Charles VII ) lúc đó rất là nguy ngập, bị lấn khắp nơi, hầu như chỉ còn giữ được một tỉnh (Bourges), cho nên thuở đó ông còn bị gọi mỉa là ông vua tí hon của tỉnh Bourges (« le petit roi de Bourges ») . Giữa lúc đó thì xuất hiện một cứu tinh : Jeanne d’Arc, một cô gái quê ngoan đạo 16 tuổi. Đó là vào mùa đông năm 1428, cô này « nghe thấy » tiếng gọi của ba vị thánh, thúc giục cô ta ra giúp thái tử Charles đánh đuổi quân Anh ra khỏi nước Pháp. Cô ta thuyết phục được một võ quan, dẫn cô ta đến gặp thái tử Charles mà cô ta chưa bao giờ nhìn thấy. Thái tử muốn thử cô ta. Trong phòng lớn của lâu đài Chinon, trong đám 300 quần thần, cô ta nhìn rồi bước tới quì trước mặt một người, gọi người đó là thái tử. Người này chối, chỉ sang người bên cạnh, nhưng cô ta không đổi ý, tâu việc cô ta nghe tiếng gọi của ba vị thánh. Quả đúng người cô ta nhận ra là thái tử ; và sau một giờ đồng hồ đàm đạo riêng, cô ta tiết lộ những điều bí mật (?) chứng tỏ thái tử là con chính thống để nối ngôi, không phải là con bất chính. (Sau này, người tin thì bảo đó là mệnh trời do Chúa Trời sắp đặt, người không tin thì bảo là chuyện đồng lõa dàn dựng). Dù sao, ít ngày sau, quân của thái tử, với sự tham gia trận mạc của cô Jeanne d’Arc thắng nhiều trận, lấy lại được nhiều thành ; cô dẫn được thái tử đến Reims, nơi mà nhà thờ có truyền thống làm lễ đăng quang của các vua Pháp. Ở nơi này, tháng 7 năm 1429, thái tử làm lễ đăng quang, lúc ấy mới chính thức là vua Charles VII. Nhà vua thì ưa điều đình với đối phương (phe Bourguignon đồng minh với vua Anh) để củng cố quyền lực, cô Jeanne d’Arc ưa chiến trận ; cô trở thành một mối chướng ngại. Năm 1430, cô trở nên đơn độc khi đang tấn công một thành. Cô bị đối phương bắt ; nhà vua bỏ rơi. Năm 1431, cô bị cánh đối phương đem xử, với sự đồng lõa của giáo hội dưới quyền viên giám mục Cauchon, với lý do là cô là kẻ phản đạo, phù thủy, và kết án bị đốt chết, tro vứt xuống sông Seine. Năm năm sau, vua Charles VII hòa hoãn với phe Bourguignon đối phương, đuổi được quân Anh ra khỏi kinh đô Paris … Năm 1456, do ý của vua Charles VII, giáo hội mới xét lại và phục hồi cô. Năm 1920 cô được phong thánh. Trong bài thi ca của Villon, hai câu : « Et Jehanne [Jeanne] la bonne Lorraine, Qu’Englois [Anglais] brûlèrent à Rouen », chính là nói về cô Jeanne bị phe thân người Anh đốt ở Rouen. Jeanne d’Arc đã trở thành một tượng trưng của tinh thần dũng cảm chống ngoại xâm.
Chuyện bên lề bài thi ca :
Nhân dịp nói đến cô Jeanne d’Arc, tôi cũng muốn kể thêm câu chuyện cô « lạc » vào nước Việt Nam ta, do một sự gán ghép kỳ lạ. Dài dòng và bên lề một chút, nhưng cũng đáng kể ; vả lại, nhân dịp vinh danh mấy bà nước ngoài, tôi nghĩ cũng nên vinh danh một cách chính đáng Hai Bà nước ta. Đó là Lễ kỉ niệm Hai bà Trưng và Jeanne d’Arc năm 1942.
Nhắc lại khung cảnh. Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai, bùng nổ, (rồi sẽ kéo dài đến 1945). Đây là chiến tranh giữa 2 phe : phe « Đồng minh » và phe « Trục ». Phe « Đồng minh » gồm Anh và thuộc quốc Commonwealth, và Pháp, Ba-lan, Đan-mạch, Hà-lan, Bỉ, Nam-tư, Hy-lạp, và tiếp theo đó là Liên Xô, rồi Hoa Kỳ, Trung quốc (chế độ « Quốc dân đảng » của Tưởng Giới Thạch, sau ta gọi nôm na là Tàu Tưởng) và phần lớn các nước châu Mỹ la-tinh. Phe « Trục » gồm Đức (chế độ quốc-xã của Hitler), Ý (chế độ phát-xít của Mussolini), Nhật (chế độ quân phiệt chủ trương khối Đại Đông Á), và một số nước Đông Âu (Áo, Hung, Slovaquie, Ru-ma-ni, Bun-ga-ri, vv. do Đức chiếm hoặc ép làm chư hầu). Ở châu Âu, 1940, Pháp thua trận, phải xin ký đình chiến với Đức. Nghị viện Pháp (gộp chung Thượng nghị viện và Quốc hội) họp ngày 10/7/1940 bỏ phiếu (569 phiếu thuận trên 669 phiếu) trao toàn quyền cho thống chế Pétain. Chế độ Cộng hòa bị bỏ, thống chế Pétain trở thành « quốc trưởng » của « quốc gia » Pháp, và tiến tới cộng tác với Đức. Lúc đó Pháp vẫn duy trì chính quyền ở các thuộc địa, đặc biệt là ở Đông Dương.
Nhắc lại là từ 1867 Pháp chiếm Nam kỳ, triều đình nhà Nguyễn phải ký hiệp ước năm 1874 nhường đứt đất này làm thuộc địa của Pháp do Pháp cai trị trực tiếp, rồi hiệp ước năm 1883 rồi năm 1884 nhận nền bảo hộ ở Trung kỳ và Bắc kỳ. Nhưng với thời gian, Pháp dần dần lấn quyền, tiến tới cai trị trực tiếp Bắc kỳ, nhưng vẫn để tồn tại chế độ quan lại người Việt Nam ; ở Trung kỳ, tuy còn vua và triều đình, nhưng chỉ là hình thức, mọi quyết định đều do Pháp (1) . Năm xứ thuộc Pháp (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao Mên và Lào), gọi là Đông Dương thuộc Pháp, còn gọi tắt là Đông Pháp, do một viên toàn quyền người Pháp cai trị chung – từ 1940 đến 1945, viên toàn quyền là thủy quân đô đốc Decoux – vẫn phụ thuộc vào chính quyền của thống chế Pétain.
Ở châu Á, từ 1931, Nhật chiếm Mãn châu của Trung quốc. 1937-1938, Nhật chiếm đông bắc, rồi toàn miền duyên hải của Trung quốc, nhưng bị sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược này. Tháng chạp 1941, không quân Nhật bất thình lình tấn công Pearl Harbour (Trân Châu cảng) của Hoa Kỳ ; sau đó, 1942, Nhật chiếm phần lớn Đông Nam Á. Ở Đông Dương, Nhật tấn công Pháp ở biên thùy phía bắc Đông Dương (Lạng Sơn, tháng chín 1940). Pháp thua. Không những Nhật cắt được đường tiếp tế vũ khí và vật dụng mà Trung quốc tiếp nhận qua con đường hỏa xa Hải Phòng - Côn Minh (Vân Nam), mà Nhật còn dần dần buộc còn Pháp phải để quân Nhật vào Đông Dương, sử dụng những căn cứ quân sự (sân bay, cảng, vv.), cung cấp của cải, nguyên liệu vật chất mà Nhật cần dùng. Khuynh huớng của một số người Việt Nam, từ đầu thế kỉ 20, đặt hy vọng vào Nhật để giải phóng nước ta khỏi ách thực dân Pháp, nay cũng không còn cơ sở, vì Nhật duy trì chính quyền thực dân Pháp, và những yêu sách của Nhật đối với Pháp, rốt cục cũng dội xuống đầu người dân Việt Nam. Cho nên thuở ấy mới có khẩu hiệu « một cổ hai tròng ».
Dưới thời Pháp cai trị Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, người bản xứ không được hưởng những quyền lợi tương đuơng như người Pháp. Thí dụ, theo hồi ký của toàn quyền Decoux (A la barre de l’Indochine, nxb Plon 1949), lương một ông quan tổng đốc hạng nhất (bậc quan cao nhất người Việt Nam) không bằng lương một anh cai đoan (thuế quan) người Pháp ở Đông Dương (sous-brigadier des douanes), trước khi viên toàn quyền này nhậm chức. Viên này cũng « khoe » những cải cách của mình, trước những đòi hỏi của « tầng lớp khá giả bản xứ », như chấp nhận nguyên tắc tiến tới việc : « Ngang bằng cấp, thì ngang chức vụ ; ngang chức vụ, thì ngang lương », vv. Nhưng đấy là do sức ép của thời cuộc. Cũng vì vậy mà chính quyền Pháp ở Đông Dương bày ra một số chuyện nhằm giảm bớt những bất mãn của những người Việt Nam thuộc tầng lớp khá giả : mỗi sáng có lễ chào cờ Pháp và Việt ở trường Pháp ; cho in những họa báo tán dương những công lao của người gốc Việt đóng góp cho nước Pháp như Đại úy không quân Đỗ Hữu Vị trong đại chiến 1914-1918 ; in những con tem mang hình hoàng đế Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương ; lệnh cho các quan cai trị người Pháp, khi giao dịch với các quan đầu tỉnh người Việt, phải dùng chữ « Ngài » (Excellence) vv. và tổ chức buổi lễ chung kỷ niệm Hai bà Trưng và cô Jeanne d’Arc, do viên sĩ quan hải quân Ducouroy phụ trách ; viên này cũng là người phụ trách tổ chức phong trào thể dục thể thao Đông Dương thuở đó (trường thể dục Phan Thiết, đua xe đạp quanh Đông Dương, vv.).
Việc có sự kỷ niệm chung Hai Bà Trưng và cô Jeanne d’Arc, nghĩa là có thể hiểu như sự cố tình so sánh coi như tương đương, tự nó đã là kỳ. Nhưng đã nói tới cô Jeanne d’Arc mà không nói tới Hai Bà Trưng thì lại kỳ hơn. Vì vậy tôi nhắc lại ít điều về Hai Bà.
Cuốn Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, (tựa và dẫn của Hoàng Xuân Hãn, nxb Sông Nhị, Hà Nội 1949) kể :
Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục hai là bá vương.
Uy thanh động đến Bắc phương,
Hán sai Mã viện lên đường tiến công.
Hồ Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nao ?
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo.
Chị em thất thế cùng liều với sông.
Phục Ba mới dựng cột đồng,
Ải quan truyền dấu biên công cõi ngoài.
Trưng vương vắng mặt còn ai ?
Đi về thay đổi mặc người Hán quan.
Nói thêm là hai ông Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái không « viết chung » cuốn này : nói tóm tắt, thoạt đầu là ông Lê Ngô Cát (1827-1876) vâng lệnh soạn ra, và ông Phạm Đình Toái (1817-1901) sửa lại.
Lời thơ tuy hay, nhưng có thể khó hiểu. Vậy tôi nhắc tóm tắt đoạn sử này như sau. Đầu thế kỉ 1 sau Công nguyên, lúc đó là thời « Bắc thuộc lần thứ nhất » (nghĩa là nước ta bị phụ thuộc vào nhà Hán, Trung quốc, và bị chia ra làm các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam : từ 111 trước Công nguyên đến năm 39 sau Công nguyên). Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định tàn ác, lòng dân oán giận. Tô Định giết Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc. Bà cùng với em gái là Trưng Nhị khởi binh đánh Tô Định. Tô Định chạy trốn. Hai bà chiếm Long Biên và 64 thành khác, rồi xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh (thuộc tỉnh Vĩnh Phú, ngày nay). Ba năm sau, vua Hán sai tướng giỏi là Phục Ba tướng quân tên là Mã Viện đem quân sang đánh. Mấy lần giao chiến ở gần Hồ Tây, hai Bà không địch nổi, rút về Cấm Khê. Mã Viện đánh Cấm Khê, quân hai bà tan vỡ, hai Bà chạy đến Hát Môn (thuộc Hà Tây ngày nay), gieo mình xuống sông Hát giang tự tử. Đó là vào năm 43 sau Công nguyên. Nước ta lại bị thuộc vào nhà Hán. Mã Viện dựng cột đồng để ghi võ công của mình, tương truyền với lời nguyền « Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt » (Cột đồng ấy gẫy thì Giao Chỉ bị diệt : cũng có người viết « động trụ chiết, Giao chỉ tuyệt »). Trong ký ức người Việt Nam, Hai Bà là tượng trưng của trí bất khuất, của lòng yêu nước, độc lập tự chủ, đồng thời lại là trường hợp rất hiếm hoi trong lịch sử nước ta mà phụ nữ làm vua – (ngoại trừ Lý Chiêu hoàng, nhỏ tuổi làm vua làm vì (1224-1225), trước khi bị ép nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh ; và tất nhiên là khác với trường hợp các bà thái hậu nhiếp chính. Ngay cả trong sử Trung quốc, theo tôi biết, cũng chỉ có một trường hợp, là Vũ Tắc Thiên là phụ nữ làm vua). (2)
Lại có bài thơ « Vịnh hai Bà Trưng » ở cuộc thi thơ do đền Hai Bà ở Hà Nội tổ chức (có lẽ vào cuối thập niên 30 đầu thập niên 40 của thế kỉ 20 ?), của ông Hoàng Thúc Hội (còn gọi là cụ cử Cót), một thời được khá nhiều người biết:
Ngựa Gióng đã lên không.
Voi Thanh còn chửa lồng.
Một chồi hoa nụ Lạc.
Muôn dặm nước non Hồng.
Giăng sáng gương Hồ Bạc.
Mây tan dấu Cột Đồng.
Nén nhang lòng cố quốc.
Xin khấn một lời chung.
Câu đầu nói việc Thánh Gióng dẹp giặc Ân đã xảy ra trước Hai Bà (truyền thuyết Phù Đổng thiên vương, thời vua Hùng thứ sáu); câu thứ nhì nói sự việc vua Quang Trung phá quân nhà Thanh còn chưa xảy ra (1789); câu thứ ba và thứ tư nói tới Lạc Hồng; vv.).
Lại nhắc chuyện thời nhà Minh, một sứ ta sang Tàu, bị vua Tàu ra câu đối : « Đồng trụ chí kim đài dĩ lục » (Cột đồng tới ngày nay rêu đã xanh), để nhắc lại tích Mã Viện sang chiếm lại nước ta thời hai Bà Trưng (năm 43) rồi dựng cột đồng, chủ ý là để hạ nhục ta. Sứ ta đối lại : « Đằng giang tự cổ huyết do hồng » (Sông Bạch Đằng từ thuở xưa, máu còn đỏ) để nhắc lại hai chiến công: Ngô Quyền phá quân Nam Hán (938) và Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên (1288). Câu đối thật là hay. Theo cuốn Từ điển Văn hóa Việt Nam, nxb Văn hóa-Thông tin 1993, thì tác giả vế đối là Thám hoa Giang Văn Minh, đi sứ, vì câu đối này mà bị vua nhà Minh sai giết năm 1638, sau mới cho mang xác về nước.
Lại liên tưởng đến một giai thoại. Thuở thịnh thời chế độ ông Ngô Đình Diệm, một bức tượng hai bà Trưng được xây dựng ở Sài Gòn, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ kiểu và Nguyễn Văn Thế điêu khắc. Tượng bằng đồng nặng 3 tấn, cao 5,2m, đặt trên bệ 3 chân bằng xi-măng cốt sắt có gạch men xám bên ngoài, cao 10,6m. Tượng đặt ở quảng truờng Mê Linh, khánh thành ngày 11/3/1962 nhân dịp lễ kỷ niệm hai bà Trưng. Đến ngày 1/11/1963, do đảo chính, ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bị giết, tượng đài bị phá hủy ; có thuyết cho rằng tại nhà điêu khắc dùng hai chị em bà Nhu (Trần Lệ Xuân và Trần Lệ Chi) làm kiểu mẫu để tôn vinh bà Nhu. Có thuyết khác cho rằng mẫu mặt tượng hai bà Trưng là bà Nhu và con gái là Lệ Thủy. Nhưng cũng có thuyết cho rằng kỳ thật ra mẫu mặt tượng hai bà Trưng là bà Nhu và … bà Nhu. Cũng lưu ý là đời nay thường vẽ hình hai bà Trưng đội khăn vành dây như mấy bà công chúa triều Nguyễn. Nhưng đã gần hai nghìn năm qua, đâu còn dấu vết để biết y phục thời Hai Bà ra sao !
Chú thích :
(1) Nhân nhắc đến cái thời mất nước này, tôi cũng xin kể đến một pho tượng « xấu hổ» cho Việt Nam ở Paris : Trước điện Hôtel des Invalides, cổng vào phía nhà thờ, có một bức tượng được dựng nên sau thế chiến thứ nhất 1914-1918 để vinh danh thống chế Galliéni.
Việc nước Pháp vinh danh ông tướng này, cũng là điều tự nhiên, vì ông ta là người đã có công lao góp phần chiến thắng của Pháp trong thế chiến thứ nhất này, đặc biệt là trong vai trò « tướng quân quản » thủ đô Paris (tôi dịch chữ « gouverneur militaire » de Paris, 1914), rồi bộ trưởng chiến tranh (ministre de la guerre 1915), chết bệnh năm 1916, trước khi chiến tranh chấm dứt. Chính ông ta là người trưng dụng xe taxi để chớp nhoáng chở quân đánh vào sườn đạo quân Đức, lập nên chiến công vùng La Marne. Trước khi về làm tướng ở Pháp, ông này quá một quá khứ sĩ quan thuộc địa, thí dụ ở châu Phi : ở Niger, rồi làm toàn quyền ở Madagascar (1896-1905) buộc nữ vương Ranavalona III bỏ ngôi, vv. , nhưng đặc biệt là, ông ta lúc đó với quân hàm trung tá có sang Bắc Kỳ (1893-1895) đánh dẹp.
Nhưng câu chuyện tôi muốn đề cập là về bức tượng kể trên. Bức tượng ông ta được đặt trên một cái nền vuông chữ nhật, có ghi mấy dòng chữ « J’ai pour mission de défendre Paris contre l’envahisseur. Ce mandat, je le remplirai jusqu’au bout. 3/9/1914 » (Tôi có sứ mạng bảo vệ Paris chống kẻ xâm lược. Tôi sẽ thực hiện chức nhiệm đến cùng. 3/9/1914) và « Ce monument a été érigé à la suite d’une souscription publique organisée par la ligue maritime et coloniale française » (đài tưởng niệm này được dựng nên nhờ ở sự quyên góp do Hội hàng hải và thuộc địa Pháp tổ chức) bốn mặt có tượng của 4 người nâng tượng ông ta trên đầu. Phía trước là tượng một cô đầm Pháp, phía trái là một cô da đen, phía phải là một nàng A-rập, cả ba người phụ nữa đều chân đất, và phía sau là một người đàn ông Việt Nam mặc áo dài đội khăn, đi guốc.
(2) Nhân nói về đoạn thơ về Hai Bà Trưng trong Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái nói trên, tôi xin trích vài dòng của một bài của ông Lê Văn Nghi đăng trong mục « Bạn đọc và Tòa soạn » của tạp chí « Xưa và Nay » số 258, tháng 4/2006, trang 42. Ông ta viết : [Trích] : « […] Tôi hoàn toàn không có ý định phê phán quan điểm của hai đồng tác giả mà chỉ rất băn khoăn vì sao sau mấy chục năm giải phóng đất nước mà ta còn cho lưu hành trong sách giáo khoa (cũng như trong Quốc Sử Diễn Ca ) của chúng ta những quan điểm phi xã hội chủ nghĩa một cách tệ hại như :
- Mã Viện, kẻ thù xâm lược nước ta, sao lại được suy tôn là anh hùng (của ai ?).
- Từ « Nữ Nhi » ở đây là một sự mỉa mai miệt thị khá thâm độc (dù là vô tình hay cố ý).
- Hai Bà Trưng tuẫn tiết là một hành động anh hùng (Thà chết không bao giờ hàng giặc) chứ đâu phải thất thế tự tử một cách khiếp nhược như những kẻ phàm phu.
- ¼ phần còn lại của bài thơ chỉ dành cho ca ngợi chiến công của Mã Viện (mà thực chất là những cuộc tẩm máu đồng bào ta !).
- « Hồ Tây vắng mặt còn ai » … gieo vào lòng người đọc nỗi tuyệt vọng nặng nề !
Nếu bài thơ này hiện nay còn được xem bài Quốc Sử Diễn Ca thì đề nghị nên xóa đi, nếu không nó đã, đang và sẽ còn xúc phạm nghiêm trọng vong linh của Hai Bà Trưng đồng thời đả kích nặng nề lòng tự tôn dân tộc của đồng bào Việt Nam. [Hết phần trích].
Tôi (Liễu) xin miễn không bàn về mấy dòng viết này của ông Lê Văn Nghi.
3. Một nhà văn quan tâm đến
vấn đề xã hội
Dưới đây, tôi chép lại bài báo mang đầu đề « Nhân đọc lại vài tác phẩm của Zola » mà tôi viết và đăng trên Diễn Đàn mạng 20/6/2007
http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/nhan-111oc-lai-emile-zola/
Nhân đọc lại vài tác phẩm của Zola
Tôi chú ý đến Emile Zola (1840-1902), không phải là qua việc học sách vở nhà trường, nhưng thiện cảm nẩy nở là do những điều tôi được biết về sự quan tâm của ông đến sự đời, đến xã hội.
Tóm tắt tiểu sử của ông : Tuy sinh ở Paris, ông là người gốc Ý. Đời học sinh của ông thì chẳng có gì là đặc sắc : thi tú tài không đỗ, bỏ học đi làm cho nhà xuất bản Hachette và nhập quốc tịch Pháp vào năm 22 tuổi, bắt đầu viết văn năm 24 tuổi. Năm 26 tuổi bỏ nhà xuất bản để viết báo (thời luận). Năm 1877, nổi tiếng về tác phẩm L’Assommoir ; năm 1885, víết tác phẩm Germinal. Đó là 2 tác phẩm mà, theo tôi, đáng chú ý (tôi sẽ trở lại chi tiết dưới đây). Năm 1894, xảy ra vụ án Dreyfus (bị kết tội oan) ; 1898, ông Zola viết một bức thư ngỏ gửi cho tổng thống Pháp Félix Faure, bức thư mang tên « J’accuse » (nghĩa là « tôi tố cáo »), đăng trên báo L’Aurore để bênh vực người bị oan (tôi sẽ trở lại chi tiết dưới đây). Vì thái độ này, ông bị Bộ Chiến tranh (Ministère de la Guerre) kiện, và bị kết án một năm tù và phạt tiền, ông phải trốn sang London ở ẩn. Khi đuợc phá án, ông trở về Pháp và tiếp tục viết văn. Ngày 29/9/1902, ông chết ngạt một cách bí ẩn trong đêm ngủ (tai nạn, hay bị ám sát ?). Rất đông dân chúng dự đám tang đưa ông đến tận nghiã trang Montmartre. Năm 1908, tro của ông được đưa vào táng ở Panthéon, đền/lăng của những danh nhân nước Pháp. (Panthéon khởi thủy là một nhà thờ lớn ở Paris khởi công xây năm 1758, mãi đến năm 1789 mới tạm xong. Sau Cách Mạng, chính quyền cộng hòa quyết định, năm 1791, biến nhà thờ này thành nơi táng di hài « những vĩ nhân của thời đại tự do ». Danh nhân chôn trong đó gồm một số nhà văn hào, nhà bác học, danh tướng, nhà chính trị, nhà thám hiểm,… Trên mặt tiền của đền này, có ghi câu « Aux Grands Hommes, la Patrie reconnaissante », dịch thoát nghĩa là « Tổ quốc ghi ơn các vĩ nhân »).
Câu chuyện vụ án Dreyfus là như thế này. Năm 1894, phát hiện ra một vụ gián điệp : một số tài liệu quân sự, đặc biệt là về pháo binh, bị bán cho sứ quán Đức ở Paris. Đại úy Alfred Dreyfus, một sĩ quan pháo binh, gốc Do-thái, bị quy tội, mặc dù không có bằng chứng xác đáng cụ thể. Trong một bối cảnh mà sự kỳ thị chống người gốc Do-thái ở Pháp tồn tại lúc đó, và mặc dù Dreyfus kêu oan, tòa án binh họp ngày 4/12/1894 xử bị cáo tù chung thân và đày ra đảo Ile du Diable, ở xứ thuộc địa Guyane. Nhưng người anh/em ruột của Dreyfus không nản lòng ; với sự giúp đỡ của một nhà văn tên là B. Lazare, ông này quậy khắp nơi để minh oan cho Dreyfus. Dư luận thuở ấy chia ra làm hai : những người «dreyfusards » (thuận Dreyfus) – đại để là những người thuộc phải tả và những người gần với hội nhân quyền – và những người « anti-dreyfusards » – trong đó có phái cực hữu và những người kỳ thị bài người gốc Do-thái. Về phía quân đội và chính quyền, họ cố tình bưng bít để không nhận là đã có sự sai lầm. Năm 1896, tình cờ trong đám sĩ quan phụ trách điều tra, thiếu tá Picquart phát hiện ra chứng cớ là người có tội là một sĩ quan khác, thiếu tá Esterhazy. Tuy vậy phía quân đội và chính quyền vẫn « ngoan cố » : tuy buộc lòng phải đem Esterhazy ra xử (11/1/1898), nhưng viên này được trắng án. Tệ hơn nữa, thiếu tá Picquart bị bắt giam, rồi bị đổi đi xa. Ngày 13/1/1898, nhà văn Zola đăng một bức thư ngỏ gửi tổng thống Pháp, đăng trên báo L’Aurore, dưới đầu đề « J’accuse » (« Tôi tố cáo »), phơi bày vấn đề ra trước dư luận. Nhưng chính quyền phản ứng, và kiện ông Zola là vu cáo : tòa xử phạt kết án Zola một năm tù và một số tiền phạt nặng, ông phải trốn sang London ở ẩn, như đã kể trên. Ngày 13/8/1898, một người sĩ quan phát hiện ra việc trung tá Henry (trước là thiếu tá có trách nhiệm điều tra về Dreyfus) đã làm một số tài liệu giả để làm nặng hồ sơ kết án Dreyfus trước đó. Bị bắt, viên này thú nhận sự việc, và tự cắt cổ tại nơi giam. Nhờ sự kiện mới này, mà vụ án Dreyfus được đem ra xử lại. Lúc ấy ông Zola mới trở lại được Pháp. Nhưng một lần nữa, mặc dù chứng cớ hiển nhiên, tòa án binh lần này vẫn khăng khăng là Dreyfus có tội, tuy có tình tiết giảm khinh, và xử ông ta 10 năm khổ sai. Sự quá đáng này gây ra phẫn nộ ở Pháp, và cả ở nước ngoài, có nơi báo chí và dư luận lên tiếng bài Pháp. Chính quyền tìm một giải pháp xoa dịu bằng cách « ân xá » Dreyfus năm 1899. Khi mọi chuyện đã êm trong lãng quên, năm 1906, Dreyfus được phục hồi hoàn toàn, lại còn được gắn huân chương « Bắc đẩu bội tinh » (Légion d’honneur)! Lúc đó, ông Zola đã mất từ 4 năm trước rồi. Đã đành rằng việc Dreyfus được minh oan là nhờ sự cố gắng của nhiều người, trong đó có gia đình ông ta, của nhiều đoàn thể, nhà chính trị, báo chí, vv. nhưng bước ngoặt có ý nghĩa nhất vẫn được coi là bức thư « Tôi tố cáo » của ông Zola đăng trên báo năm 1898, khuấy động dư luận, làm cho sự việc không thể bưng bít được như trước nữa.
[Ở đây, tôi không muốn luận dài dòng về sự kỳ thị – theo tôi bất cứ loại kỳ thị nào, chủng tộc, màu da, tôn giáo, giai cấp, giới tính, cũng đều xấu cả – tôi chỉ muốn nói thêm về sự cần thiết phân biệt giữa mấy từ và khái niệm « bài Do-thái ». Theo tôi biết thì tiếng Pháp có mấy từ antisémitisme, anti-sionisme, anti-israélisme, anti-judaïsme, mấy từ này khác nhau mà hình như một số người Việt Nam không phân biệt và dịch chung là « bài Do-thái ». Nếu tôi hiểu không lầm thì tiếng Pháp, từ « sémite » là để chỉ những tộc ở Cận Đông nay hoặc xưa, sử dụng ngôn ngữ sémites, như tiếng Hébreu (ngôn ngữ chính thức ngày nay của nước Do-thái), tiếng A-rập, tiếng Accadien, Araméen, Phénicien, vv. Vậy nếu dùng từ « antisémitisme », thì có lẽ phải hiểu theo nghĩa là sự kỳ thị chủng tộc, như chế độ Đức quốc-xã ; thêm vào đó, đặc biệt là khi người dùng từ này là người A-rập hay đứng về phía A-rập để chống người Do-thái, thì trở thành kỳ khôi. Về từ thứ hai, «anti-sionisme », có thể hiểu như sự chống việc thành lập và tồn tại của một nước Do-thái tại vùng Palestine (Sion là tên một quả đồi ở Jérusalem, thường được đánh đồng với chính Jérusalem). Năm 1948, nước Do-thái được thành lập ở vùng này và mang tên là Israel ; đó là một quốc gia, một số công dân của nước này không theo đạo Do-thái, một số công dân cũng không có huyết thống Do-thái (thí dụ như những công dân gốc A-rập nhưng có quốc tịch Do-thái). Về từ thứ ba, « anti-israélisme », có thể hiểu là chống đường lối, chính sách của nước Do-thái hiện nay. Về từ thứ tư, « anti-judaïsme », thì phải chăng phải hiểu theo nghĩa chống những người theo đạo Do-thái, như những người theo đạo Ki-tô trước đây lên án người Do-thái trách nhiệm về cái chết của chúa Ki-tô ? Nhà xã hội học Pháp Edgar Morin có bài viết trong báo Le Monde 19/2/2004 về một số từ đề cập trên đây. Tôi không « với tới » được những tài liệu tiếng Việt ở Việt Nam về vấn đề này, nên không biết sử dụng tiếng Việt Nam như thế nào cho phù hợp. Có ý đề nghị dịch (theo thứ tự) là « bài Do », « chống Sion », « chống Israel », « chống đạo Do-thái » ; chính xác hơn, nhưng không biết những người Việt Nam khác, vốn hay « chín bỏ làm mười », có chấp nhận không. Khó quá !].
Bây giờ tôi xin nói tới hai tác phẩm L’Assommoir và Germinal của Zola. Thật ra, hai tác phẩm này nằm trong một chuỗi hai chục tiểu thuyết của tác giả (tên chung là Les Rougon Macquart, tiếng Pháp gọi là roman cycle, ta gọi là tiểu thuyết chu kỳ) gồm : La fortune des Rougon, La curée, Le ventre de Paris, La conquête de Plassans, La faute de l’abbé Mouret, Son Excellence Eugène Rougon, L’assommoir, Une page d’amour, Nana, Pot-Bouille, Au Bonheur des Dames, La joie de vivre, Germinal, L’œuvre, La terre, Le rêve, La bête humaine, L’argent, La débâcle, Le docteur Pascal.
« L’Assommoir » (nghĩa là « quán rượu hạng bét ») là cuốn tiểu thuyết tả thảm cảnh của một cô gái tỉnh nhỏ tên là Gervaise theo tình nhân Lantier, thợ làm mũ, lên sống ở Paris. Cặp này đã có ba con, nhưng Lantier là kẻ lười biếng và không thủy chung, bỏ cô này để cặp kè với tình nhân khác. Gervaise phải làm thợ giặt thuê để kiếm sống, nuôi con ; và gặp Coupeau, một thợ lợp mái nhà, đôi bên làm lễ cưới, rồi đẻ được một con gái. Cặp này tần tảo làm ăn, dành dụm. Mộng ước của Gervaise là có được một hiệu giặt của riêng mình. Nhưng chẳng may, người chồng bị nạn, ngã từ nóc nhà xuống gẫy chân, mất việc. Tưởng đã tuyệt vọng, song Gervaise cũng cố gắng vay mượn để mua được một hiệu giặt, có lúc tưởng như cuộc sống sáng sủa hơn. Nhưng nguời chồng nay tàn tật, trở nên lười biếng, rượu chè be bét ở quán rượu « L’Assommoir », rồi phát điên ; người tình nhân cũ lại tìm trở về ; Gervaise vay nợ thì không trả nổi, phải bán hiệu ; con cái thì bỏ đi ; dần dần Gervaise tuyệt vọng, cũng đâm ra rượu chè, làm điếm để nuôi miệng, bị tất cả mọi người bỏ rơi, sống những ngày tàn trong xó chân một cầu thang… Tóm lại, cuốn tiểu thuyết nói lên cảnh bần cùng sa đọa của những người nghèo khổ cuối thế kỉ 19. Tiểu thuyết này được René Clément dựng thành phim năm 1956 dưới đầu đề « Gervaise », với các diễn viên Maria Schell trong vai Gervaise và François Perrier trong vai Coupeau, gây rung cảm cho khán giả.
« Germinal » là cuốn tiểu thuyết mà khung cảnh là một cuộc đấu tranh của công nhân hầm mỏ ở một địa phương phía Bắc nước Pháp. Nhân vật chính là Etienne Lantier, con trai của Gervaise, lang thang từ miền Nam lên miền Bắc nước Pháp tìm việc làm. « May mắn » gặp dịp một người thợ mỏ bị chết, anh ta đuợc tuyển mộ vào làm việc ở mỏ than. Etienne dừng chân nơi đây, một phần cũng vì cảm thấy quyến luyến với Catherine, con gái của người công nhân già Maheu. Anh ta chăm chỉ học việc nhanh chóng, và chỉ trong vòng vài tháng đã trở thành thợ đánh rạch (haveur). Trong một khung cảnh xã hội với sự đói khổ triền miên, Etienne trở thành người cầm đầu cuộc đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho công nhân lao động. Một cuộc đình công xảy ra, và kéo dài ; thợ thuyền cùng quẫn, không còn gì để ăn, phẫn nộ phá phách. Chủ mỏ nhờ chính quyền mang quân đội đến dẹp. Những người đình công bị xa thải, và Etienne phải trốn sâu trong hầm mỏ để khỏi bị bắt. Nhưng gia đình, vợ con thợ mỏ, ngăn cản không để cho việc khai thác được tiếp tục, cho đến lúc binh lính nổ súng bắn chết một số người. Cuộc đình công thất bại, thợ mỏ buộc lòng phải đi làm trở lại. Nước ngập lụt hầm mỏ, một số thợ mắc kẹt trong hầm, trong số đó có Etienne và Catherine. Mấy ngày sau, khi ê-kíp cấp cứu tới nơi, thì chỉ còn Etienne sống sót... Cuốn tiểu thuyết này nói lên sự đấu tranh giai cấp, giữa tư bản và lao động. Zola viết như lột được tình trạng thực tế, nhờ ở kinh nghiệm làm báo và sự hiểu biết của ông về xã hội thuở đó. Tiểu thuyết này được Claude Berri dựng thành phim năm 1993, với các diễn viên Renaud, G. Depardieu, Miou-Miou, Laurent Terzieff, vv. được coi là thành công.
Zola làm tôi liên tưởng đến sự hiểu biết của một số người ở những « nước đến sau » – tôi muốn nói những nước đang kỹ nghệ hóa hay muốn kỹ nghệ hóa, chậm với tư bản phương Tây – họ tuởng như « thời gian đã ngưng lại » và tư bản phương Tây cuối thế kỉ thứ 20, đầu thế kỉ 21 vẫn còn như ở thế kỉ thứ 19 ! Đâu có phải vậy. Những cuộc đấu tranh đổ máu, cũng đã làm cho xã hội biến chuyển rất nhiều ở phương Tây. Những công đoàn được chính người lao động tổ chức, làm môi giới để bảo vệ quyền lợi của người lao động, chứ công đoàn không được lập ra, dưới một danh nghĩa lạm dụng nào đó, để bảo vệ giới chủ doanh nghiệp hay ai khác. Những đạo luật về lao động, bảo trợ người làm công, đã làm cho xã hội tiến một bước dài trên con đường hướng tới công bằng, dân chủ. Thí dụ như sự biến chuyển về số giờ lao động, kể từ 150 năm tới nay ở Pháp (nguồn : hồ sơ của báo « L’Humanité » của đảng Cộng sản Pháp) : số giờ làm việc của người lao động toàn thời gian (salariés à temps plein) thuở xưa là hơn 3000 giờ/năm, nay là 1700 giờ/năm. Vài mốc thời gian :
1841 : Số giờ lao động của trẻ em dưới 12 tuổi qui định là không quá 8 giờ/ngày.
1848 : Số giờ lao động là 84 giờ/tuần (3025 giờ/ năm) ; tối đa 12 giờ/ngày cho công nhân các xưởng công nghiệp – (« tuần » ở đây dùng theo nghĩa hiện nay nghĩa là 7 ngày, không phải là « tuần » của ta thuở xa xưa, dùng theo nghĩa 10 ngày).
1900 : Số giờ lao động là 70 giờ/tuần ; tối đa 10 giờ/ngày trong công nghiệp.
1906 : Số giờ lao động là 60 giờ/tuần, và mỗi tuần được một ngày nghỉ.
1919 : Số giờ lao động là 8 giờ/ngày, nghĩa là 48 giờ/tuần, và 6 ngày trên 7 mỗi tuần.
1936 : Theo đạo Luật 20/6, mỗi năm người lao động được hưởng 2 tuần nghỉ vẫn hưởng lương (congés payés), và số giờ lao động là 40 giờ/tuần.
1956 : Theo đạo Luật 27/3, mỗi năm người lao động được hưởng 3 tuần nghỉ vẫn hưởng lương.
1962 trong các xưởng xe hơi Renault, 1965 ở một số xí nghiệp, và 2/5/1962 : mỗi năm người lao động được hưởng 4 tuần nghỉ vẫn hưởng lương.
1982 : Theo Luật, mỗi năm người lao động được hưởng 5 tuần nghỉ vẫn hưởng lương ; số giờ lao động là 39 giờ/tuần.
1998 : Theo Luật 14/5, số giờ lao động là 35 giờ/tuần.
Ở đây, tôi không luận việc số giờ lao động quá ít có ảnh hưởng thế nào đến sự phát triển và cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa, và đến sức mua (pouvoir d’achat) của người lao động. Tôi chỉ nói rằng ở mấy nước Tây Âu, tư bản không còn là hoang dã như ở thế kỉ 19, điều mà – trớ trêu – lại thấy xuất hiện ở vài nơi mà thể chế đang mệnh danh là « tiến bộ ».
Tôi muốn nói thêm vài lời về từ « Germinal », đầu đề của tác phẩm của Zola. Khởi thủy, nó là tên tháng thứ 7 trong « lịch cộng hòa » thời cách mạng Pháp, nó xấp xỉ trùng với khoảng thời gian từ 21/3 đến 19/4 của lịch grégorien, và được « định nghĩa » là tháng của « sự nảy mầm và phát triển của nhựa sống » (dịch thoát nghĩa của tháng « de la fermentation et du développement de la sève de mars en avril ») theo bản báo cáo của nhà thơ Philippe Fabre d'Églantine, nhân danh « Ban làm lịch» ( Commission chargée de la confection du calendrier ) ngày 24/10/1793 tại « Hội nghị quốc ước » (Convention nationale). Tôi có đọc đâu đó hình như Zola chọn tên tiểu thuyết này vì cái định nghĩa nói trên, và nhựa sống đây là sự đấu tranh đòi hỏi cho giới lao động quyền sống trong một xã hội sáng sủa, công bằng … (?).
Về « lịch cộng hòa » Pháp này, nó được sử dụng trong 13 năm, từ 1793 đến 1/1/1806 thì bỏ. Ngày đầu năm là ngày « thu phân » (équinoxe d’automne) – kể ngược lên từ 22/9/1792 thì coi là ngày đầu của năm thứ nhất của nền Cộng hòa Pháp ; mỗi năm chia làm 12 tháng, mỗi tháng chia làm 3 « tuần », mỗi tuần gồm 10 ngày, nghĩa mỗi tháng gồm là 30 ngày ; như vậy một năm gồm 360 ngày, bổ sung thêm bởi 5 hay 6 ngày, gọi là ngày lễ cộng hòa. Các tháng mang tên như sau : 3 tháng mùa thu là vendémiaire (xuất phát từ tiếng La-tinh vindemia nghĩa là gặt hái), brumaire (xuất phát từ tiếng Pháp brume, nghĩa là sương mù), frimaire (xuất phát từ tiếng Pháp frimas, nghĩa là sương mù dày đặc và đông lạnh khi rơi xuống) ; 3 tháng mùa đông là nivôse (xuất phát từ tiếng La-tinh nivosus, nghĩa là có tuyết), pluviôse (xuất phát từ tiếng La-tinh pluviosus, nghĩa là nhiều mưa), ventôse (xuất phát từ tiếng La-tinh ventosus, nghĩa là nhiều gió); 3 tháng mùa xuân là germinal (xuất phát từ tiếng La-tinh germen, nghĩa là mầm), floréal (xuất phát từ tiếng Pháp, nở hoa), prairial (xuất phát từ tiếng Pháp, đồng cỏ) ; 3 tháng mùa hè là messidor (xuất phát từ tiếng La-tinh messis, gặt hái, và tiếng Hy-lạp dôron, của được hưởng), thermidor (xuất phát từ tiếng Hy-lạp thermos, nóng), fructidor (xuất phát từ tiếng La-tinh fructus, quả, và tiếng Hy-lạp dôron, của được hưởng). Mười ngày trong « tuần » mang tên là primidi, duodi, tridi, quartidi, quintidi, sextidi, septidi, octidi, nonidi, décadi, đại khái nghĩa là ngày thứ nhất, ngày thứ hai, …, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười.
Có sách viết rằng Cách mạng Pháp lập lịch cộng hòa như trên (và ép phải dùng, đe ai trái lệnh thì đưa lên máy chém) để bỏ lịch grégorien dùng trong thời quân chủ, nhằm xóa bỏ tất cả dấu vết của giáo hội Thiên Chúa giáo, là quốc giáo thời còn vua. Lịch grégorien đầy dãy những ngày lễ thánh ; lịch cộng hòa cho thay bằng mấy ngày lễ cộng hòa (5 hay 6 ngày), bổ sung cho đủ năm. Mấy ngày lễ cộng hòa này còn được gọi là « sans-culottides », bởi vì thời cách mạng phân biệt giới quí phái mặc quần bó sang trọng (culotte) và giới bình dân không có culotte (sans-culotte) phải mặc quần thường – (thời tôi còn nhỏ xíu, nghe mấy người lớn hơn học sử Pháp, tôi nhầm tưởng đó là những nguời nghèo đến nỗi không có quần, phải cởi truồng như Chử Đồng Tử nhà ta trước khi gặp công chúa Tiên Dung !).
Nhắc lại là lịch grégorien vốn là lịch julien (lịch mà Julius Caesar phổ biến năm 46 trước Công nguyên, vì vậy mới mang tên « julien ») được giáo hoàng Gregorius XIII ra lịnh sửa năm 1582 (vì vậy mới mang tên « grégorien »). Sửa như vậy để năm « lịch » phù hợp hơn với với nhịp quay của trái đất so với mặt trời 1 năm là 365,2422 ngày.
Nói chi tiết hơn một chút : Năm 532, theo những tính toán của Denys le Petit, một tu sĩ ở La-mã, giáo hội Công giáo tính năm kể từ năm sinh của Chúa Ki-tô. Tu sĩ này cho rằng năm sinh của Chúa Ki-tô là năm 753 sau khi La-mã được thành lập ; (nhưng ngày nay có thuyết cho rằng ông ta nhầm mất 5 năm). Tuy vậy cách đề năm này cũng phải đợi nhiều thế kỉ mới được các nước theo đạo Công giáo chấp nhận. Thí dụ như vào thế kỉ thứ IX, thời hoàng đế Charlemagne, người ta còn đề năm theo năm lên ngôi của vua, đại khái theo kiểu Tàu, kiểu ta thuở xưa. Đến cuối thời Trung cổ, một số nhà thiên văn nhận xét rằng sự chênh lệch giữa mỗi « năm lịch julien » và « năm mặt trời » là 11 phút 14 giây. (Có thuyết cho rằng kỳ thật ra, nhà thiên văn Hy-lạp Hipparque, thế kỉ thứ II trước Công nguyên, đã biết « năm mặt trời » lâu bao nhiêu, trước khi Caesar định lịch Julien). Đến thế kỉ 16 thì tổng cộng sự chênh lệch giữa « lịch julien » và « lịch mặt trời » lên đến 10 ngày, cho nên năm 1582, giáo hoàng Gregorius XIII cho sửa lại cho hợp (và do đó được gọi là lịch Grégorien) : Trước hết là quyết định rằng sau ngày thứ năm mồng 4 tháng 10 năm 1582 là ngày thứ sáu 15 tháng 10 năm 1582 (nghĩa là nhảy cóc 10 ngày). Thứ nhì là bỏ đi một số năm nhuận (năm đầu của 3 thế kỉ trên 4 thế kỉ, chỉ có 365 ngày ; vì thế nên những năm 1700, 1800, 1900 không có ngày 29 tháng 2, nhưng năm 2000 thì lại có). Với sự hiệu chỉnh như vậy, ngày nay sự chênh lệch giữa « lịch Grégorien » và nhịp quay của trái đất chỉ khoảng là 1 ngày sau 3 nghìn năm. Thoạt đầu chỉ có hai nước Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha là áp dụng ngay lịch Grégorien ; nước Pháp thì 2 tháng sau ; nước Anh theo năm 1752 ; Nhật và Trung Quốc năm 1911, Nga năm 1918, Hy-lạp năm 1923, vv. Ngày nay hầu hết các nước, có lẽ trừ các nước Hồi giáo, đều theo lịch này. Nhưng vì các nước không áp dụng lịch này cùng một lúc, cho nên cần thận trọng việc « đọc » thời điểm các sự kiện lịch sử. Thí dụ cuộc « Cách mạng tháng Mười » của Nga, lúc đó đang dùng lịch julien, xảy ra vào tháng 11. Hoặc có người lưu ý rằng hai nhà văn hào Cervantes (Miguel de Cervantes Saavedra, người Tây-ban-nha, tác giả của Don Quijote de la Mancha, ...) và Shakespeare (William Shakespeare, người Anh, tác giả của « Othello », « Macbeth », « Romeo và Juliet », ...) cùng được ghi chết ngày 23 tháng 4 năm 1616, nhưng hóa ra lại chết cách nhau 11 ngày.
Napoléon Bonaparte, thuở trước là tướng, rồi Consul (có người dịch là « Tổng tài », có người dịch là « Chấp chính » như thời La-mã) thời cộng hòa, sau khi lên ngôi và trở thành hoàng đế Napoléon I, bỏ lịch cộng hòa năm 1806, và lập lại lịch grégorien. Lịch cộng hòa còn được « hồi sinh » trong thời gian ngắn ngủi thời Công xã Paris (La Commune de Paris : từ 6 đến 23/5/1871).
Nói thêm là hai tác giả của lịch cộng hòa, nhà toán học Gilbert Romme (1750-1795) và nhà thơ Philippe Fabre, tức Fabre d’Eglantine (1750-1794) đều bị lên máy chém dưới thời cộng hòa, không phải vì « lịch cộng hòa », mà vì lý do khác. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều dùng lịch grégorien, mặc dù không phải là nước theo Thiên Chúa giáo, cũng thản nhiên như một số người Việt Nam ăn lễ Giáng sinh mà cũng chẳng cần biết ngày đó (trên nguyên tắc) là sinh nhật của ai.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)