2/6/14

Định Mệnh Đã An Bài…

Định Mệnh Đã An Bài…
Alan Phan
china landscape
1 June 2014
Tuần rồi tôi nhận khoảng 90 Emails kích bác và 40 bình loạn về sự im lặng của ông già Alan trong tình thế gọi là “biến động” của đất nước. Năm nay tôi đã 69 tuổi. Khó có ai “khích tướng” tôi được. Tuy nhiên, nói như Adlai Stevenson,” I’m too old to cry, but it hurts too much to laugh”.
Vả lại, tôi vừa đọc qua các tuyên bố của thủ lĩnh quân đội Việt Nam, tướng Phùng Thanh. Theo ông, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn rất tốt đẹp, có vài xích mích nhỏ nhưng là chuyện riêng của gia đình, người ngoài không nên “xía mõm” vào (lời nhắc khéo ông Chuck Hagel, bộ trưởng quốc phòng Mỹ). Nếu ông tướng Thanh là người nắm hết các bí mật quốc gia và trách nhiệm về an ninh toàn vẹn lãnh thổ mà ông cho biết vậy, thì chúng ta nên yên tâm ngủ ngon.
Trước đó, thì ngài Vũ Mảo, một quan chức cao cấp khác, cho biết quan điểm của một bộ phận không nhỏ trong chính quyền, là “16 chữ vàng, 4 cái tốt” vẫn là cái “mong muốn muôn thuở” của toàn dân, như bác Hồ đã dầy công vun đắp và phát triển bao năm trời.
Còn về mặt kinh tế thì một ngài bộ trưởng nào đó vừa nói, chuyện Biển Đông nhỏ như con thỏ, không có nhiều ảnh hưởng đến kiến trúc vĩ mô hay FDI. Không những không cần điều chỉnh chính sách, mà chúng ta cứ thế tiến tới như trong vài năm qua, chỉ đến cuối năm là bình minh nở rạng, mang một chu kỳ thịnh vượng mới cho toàn dân Việt.
Tóm lại, mọi việc đã an bài và mọi thứ “hồng” như ngày đại thắng 1975. Các bạn BCA không nên nhốn nháo mà hỏi, “từ bên Mỹ, bác thấy thế nào, quê hương chúng ta sẽ đi về đâu?” Các bạn cứ nghiêm chỉnh học tập tấm gương đạo đức của bác Mao, bác Stalin, bác Hồ… một ngày gần đây thôi, các bạn sẽ được đến đích cùng với các bác.
Do đó, dù muốn nói chuyện chánh trị, tôi cũng không có gì để bàn thêm. Khi một đất nước tự sướng về chỉ số hạnh phúc như Việt Nam, thì mọi vấn đề chính trị coi như đã biến mất (literally). Kể cà các thế lực thù địch từ Đông Tây Nam Bắc. Trong khi các quan đang ăn nhậu vui mừng, đừng ai lăng nhăng gây áp lực, quấy rối (lời ông tướng Thanh).
Nói cho cùng, mọi chuyện của chúng ta đều là “viễn vông” hết mà. Theo các triết gia, đời người như bóng câu, chẳng mấy chốc, ta lại mừng 100 năm của “hoang tưởng” và “dối trá”.
Alan Phan
PS. Tôi cũng vừa đọc rằng “16 chữ vàng” thực sự là do Trung Quốc trao cho Việt Nam. Nguyên văn là “ sơn thuỷ tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan”. Khi các bác Việt dịch ra thì xoá trệch cho nhẹ đi thành “”Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” “. Muốn cho chính xác thì phải rõ ràng hơn. Chúng ta như  “sông núi gắn liền, cùng chung lý tưởng, hoà nhập văn hoá, có chung định mệnh…”
Lời nói này không khác gì một thề thốt trăm năm từ cửa miệng của những cặp vợ chồng trong ngày cưới, hay con cái với cha mẹ khi lớn lên, hay học trò với sư phụ khi quy phục. Nó không chỉ là một công hàm của vài ông quan, nó còn là một  “uống máu ăn thề” của giới giang hồ, thể hiện một văn hoá rất sống thực.


Do đó, kết luận của tôi là trong mọi lình xình của những tuần vừa qua, những người mang nặng viển vông và hoang tưởng nhất là nhóm lãnh đạo trong chính phủ Obama.

Source : Góc nhìn Alan

Siêu Cường Thoái Nhiệm


Siêu Cường Thoái Nhiệm



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 140601
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Một quân xưởng chất đầy đạn giấy....


* Hoa Kỳ phải lãnh đạo thế giới - từ cửa hậu - Cậu Obama dưới nét vẽ Michael Ramirez trên tờ IBD *


Một Tổng thống Mỹ đã cảnh báo như sau trong bài diễn văn sau cùng - và quan trọng nhất - của sự nghiệp: "Thất vọng với cuộc chiến vừa qua, chúng ta hết hy vọng tiến tới một nền hòa bình tốt đẹp hơn vì thiếu can đảm nhận lãnh trách nhiệm trong một thế giới bất toàn. Đừng để tái diễn điều này, vì nếu không, chúng ta lại theo con đường bi thảm đó – con đường dẫn tới Thế chiến III".

Không, đây không là lời phát biểu của Tổng thống Barack Obama trong bài diễn văn cuối cùng vào năm 2016, khi Mỹ rút khỏi cuộc chiến dài nhất lịch sử Hoa Kỳ, tại Afghanistan. Cũng chẳng là lời báo động của Tổng thống George W. Bush hung hăng sau sự bẽ bàng của cuộc chiến Iraq. Tinh thần "can đảm nhận trách nhiệm trong một thế giới không hoàn hảo" có thể là đặc tính của Tổng thống Ronald Reagan nổi tiếng diều hâu. Nhưng ông không là người đưa ra lời cảnh báo đó qua bài diễn văn giã biệt công chúng sau hai nhiệm kỳ Tổng thống, từ 1981 đến 1989.

Tác giả lời khuyên này nói như vậy chỉ ba tháng trước khi ông tạ thế, trong bài diễn văn sau cùng về Tình hình Liên bang, vào Tháng Giêng năm 1945, tám tháng trước khi Thế chiến II kết thúc. Đấy là Tổng thống Franklin Delano Roosevelt, một lãnh tụ được đảng Dân Chủ coi là thần tượng.

Trước đó nửa thế kỷ, một Tổng thống Roosevelt khác cũng đồng quan điểm là Hoa Kỳ phải lãnh đạo thế giới. Ông còn nêu sáng kiến là lập ra một định chế quốc tế để thực hiện lý tưởng hoà bình cho nhân loại, với vai trò trọng yếu của Mỹ trong định chế đó. Đấy là Tổng thống Theodore Roosevelt bên Cộng Hoà, người lãnh đạo Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20, từ 1901 đến 1909. Về sau, sáng kiến đó được một Tổng thống Dân Chủ đề nghị, là Woodrow Wilson với hội Quốc liên, League of Nations, tiền thân của tổ chức Liên hiệp quốc ngày nay.

Dù đạt nhiều thành tích về nội trị qua hai nhiệm kỳ, từ 1913 đến 1921, đại trí thức Wilson lại thất bại với sáng kiến Quốc liên. Chỉ vì khi đó dân Mỹ muốn quay vào trong sau sự thất vọng với trận Đại chiến Thế giới, một cuộc chiến toàn cầu đầu tiên mà sau này, khi cuộc chiến kia xảy ra, thì mới được gọi là Thế chiến I (1914-1918). Chính là vì thất vọng với "cuộc chiến vừa qua" như F.D. Roosevelt cảnh báo, Hoa Kỳ đã thoái thác và lần lữa trong hai thập niên, mà sau cùng vẫn phải tham dự Thế chiến II. 

Trong hai thập niên đó, dân Mỹ có 10 năm hồ hởi với thành quả phát triển kinh tế, rồi năm năm hốt hoảng với vụ Tổng khủng hoảng 1929-1933. Cho nên 85 năm trước, họ chú trọng đến kinh tế xã hội ở bên trong và hết quan tâm đến thiên hạ sự ở bên ngoài. Mà thiên hạ sự khi đó là một chuỗi biến động trên đại lục Âu Á dẫn tới cơn địa chấn toàn cầu:

Năm 1931, Đế quốc Nhật đưa quân vào Mãn Châu; tại Âu Châu, Hitler lên cầm quyền năm 1933; Mussolini tấn công Ethiopia năm 1935; năm sau, Hitler và Mussolini hỗ trợ lãnh tụ độc tài Franco trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha; và năm 1937 khi quân Nhật từ Mãn Châu tràn xuống Hoa lục thì Hitler đưa quân vào khu phi quân sự Rhineland, rồi thôn tính nước Áo, tấn công Tiệp Khắc năm 1938 và Ba Lan năm 1939....

Thời ấy, trước đà bành trướng của các thế lực hung đồ, dân Mỹ vẫn thấy chẳng liên can gì đến các vùng xa xôi như Mãn Châu, Ethiopia, Tây Ban Nha hay Tiệp Khắc, Ba Lan. Nhiều chiến lược gia cho là không cường quốc nào lại dại dột vượt đại dương mà tấn công Hoa Kỳ. Thậm chí họ còn nghĩ là dù nước Anh có rơi vào tay Đức quốc xã thì Hoa Kỳ vẫn có thể buôn bán với Đức, y như với Anh và Pháp. Khi mua bán, ai để ý tới lập trường chính trị của khách hàng!

Trong bốn năm liền, từ 1935 đến 1939, Quốc hội Mỹ với lá phiếu lưỡng đảng đã thông qua Đạo luật Trung lập (Neutrality Act): không đứng vào phe nào trong trận chiến Âu-Á và chẳng bán võ khí cho các nước bị xâm lược.

Khi đó, chính Tổng thống F. D. Roosevelt cũng chủ hoà, dù từng là Phụ tá Bộ trưởng Hải quân dưới thời Wilson và trong Thế chiến I. Tháng Chín năm 1938, khi Âu Châu ký Hiệp định Munich, hy sinh Tiệp Khắc để cầu hòa với Đức, Roosevelt vẫn chủ trương trung lập. Một năm sau, đầu Tháng Chín 1939 Thế chiến II chính thức bùng nổ, Hoa Kỳ vẫn đứng ngoài, chỉ góp phần yểm trợ Anh và Pháp. Trong cuộc tranh cử nhiệm kỳ thứ ba, vào năm 1940, Roosevelt còn hứa hẹn là sẽ tránh cho Hoa Kỳ khỏi bị lôi vào chiến tranh.

Cho tới khi Hải quân Hoa Kỳ bị Đức tấn công vào Tháng 10, rồi Nhật tấn công vào Tháng 12 năm 1941 thì nước Mỹ mới khai chiến. Đấy là lúc Roosevelt đưa ra khẩu hiệu "Hoa Kỳ là Quân xưởng của Dân chủ".... 

Bốn năm sau, ông khuyến cáo quốc dân về lẽ tai hại khi nước Mỹ thiếu can đảm gánh vác trách nhiệm trong một thế giới bất toàn. Trách nhiệm đó là lãnh đạo.

Nhìn từ bên ngoài, nhiều người cứ sợ tinh thần đế quốc của Hoa Kỳ. Thật ra từ bên trong, vì tiếng dân có sức nặng trong nền dân chủ, nhiều Tổng thống Mỹ phải khẩn nài người dân về lẽ hy sinh cho thế giới. Chúng ta có nên nhìn lại toàn cảnh của nghịch lý này chăng?

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991, dân Mỹ được bảo rằng lịch sử cáo chung, sự thắng thế của tự do kinh tế và dân chủ chính trị chống lại chủ nghĩa phát xít và cộng sản là tất yếu trong một trật tự mới, với Hoa Kỳ là siêu cường độc bá. Chỉ 20 năm sau, trật tự đó bị lật với vụ khủng bố 9-11 và dân Mỹ đồng tâm nhất chí lao vào cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Thế rồi khủng hoảng tài chánh và suy trầm toàn cầu bùng lên từ năm 2007 khiến họ hoài nghi kinh tế thị trường, nói về Tổng khủng hoảng, còn các học giả loại cóc nhái như Fareed Zakakia của tờ MNewsweek thì cảnh báo thời lụn bại của Mỹ. 

Hết là "the End of History" mà là "the End of America"!

Nói như một Tổng thống Dân Chủ sau này là Bill Clinton, thật ra Hoa Kỳ là một quốc gia tối cần thiết, indispensable. Nhưng nhiều khi người dân thấy mệt mỏi với trách nhiệm lãnh đạo, chỉ muốn nước Mỹ là một trong nhiều cường quốc và nên chia sẻ gánh nặng toàn cầu với nước khác.

Đó là trạng thái tâm lý ngày nay: đa số dân Mỹ mong quốc gia bớt gánh vác chuyện thiên hạ. Khốn nỗi, thế giới này có sự bất toàn và nguy hiểm không kém gì tình hình của 85 năm trước.

Lần đầu tiên kể từ Thế chiến II, một quốc gia đã dùng võ lực thôn tính lãnh thổ của một xứ khác. Sau khi đánh võ dầu khí và chính trị không xong, Nga đưa quân vào Crimea rồi nhúng tay vào miền Đông của xứ Ukraine, với tầm nhìn và tầm đạn thấu tới ba nước vùng Baltic, xứ Moldovia và cả Ba Lan sau đó. Trong khi đó, Liên hiệp Âu châu bị tê liệt, Liên hiệp quốc nín thinh.

Tại Trung Đông và Bắc Phi, Syria là nơi mà 15 vạn thường dân bị tàn sát trong ba năm liền, cuộc nội chiến chỉ là trận chiến ủy nhiệm của Iran, Nga, Saudi Arabia và cả Turkey, trong khi các lực lượng khủng bố xưng danh Thánh Chiến, dưới lá cờ Al-Qaeda nội hóa, đã lan từ Bắc Phi, Đông Phi đến Tây Phi. Từ Trung Đông qua Đông Á, Iran và Bắc Hàn đều hỳ hục làm bom hạch tâm khiến nhiều xứ khác cũng muốn chế bom để phòng thân. Và trên biển Thái Bình, Trung Quốc thè cái lưỡi bò uy hiếp Việt Nam, Philippines và Indonesia sau này. Nhật Bản hay Ấn Độ thì còn khả năng đương cự chứ các nước Đông Nam Á thì không. Họ nhìn về nước Mỹ.

Đấy là lúc lãnh đạo Hoa Kỳ ăn nói nước đôi: chỉ sử dụng võ lực khi quyền lợi cốt lõi bị đe dọa và chẳng ra quân một mình mà sẽ hợp tác cùng các tổ chức quốc tế và cường quốc khác. Nếu các tổ chức quốc tề và cường quốc Âu Á có khả năng xử lý thì những mối nguy ở trên đã chẳng xảy ra. Chính là sự lần lữa thoái bộ của Hoa Kỳ từ mấy năm nay mới cám dỗ các chế độ hung đồ và dẫn tới nguy cơ Thế chiến III mà Roosevelt báo động 70 năm về trước.

Chúng ta tiến tới chuyện ngày nay, khi Tổng thống Barack Obama qua Âu Châu dự lễ kỷ niệm 70 năm cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ tại Normandie ngày sáu Tháng Sáu năm 1944. Ông có cơ hội điều chỉnh lại cho tinh tế hơn những chuyện vu vơ đã nói tuần trước tại trường Võ bị West Point về đối sách ngoại giao của nước Mỹ. Lãnh đạo xuất sắc là người thuyết phục chứ không chạy theo quần chúng.

Nếu không, "Quân xưởng của nền Dân chủ" chỉ là kho đạn giấy.


______________________

Chuyện chỉ có tại nước Mỹ

Chỉ ba tháng sau khi ra chiến trường, một hạ sĩ vội chán chường chiến tranh và khinh thường quân đội. Ba ngày sau khi gửi email cho cha mẹ than vãn điều ấy thì chàng mất tích giữa vùng hỏa tuyến, khiến quân đội phải mở chiến dịch truy tìm để giải cứu và chết mất mấy con. Không rõ là 1) chàng uống rượu say nên chạy khỏi đồn, 2) muốn đào ngũ để ngao du sơn thủy, hay 3) bị lạc đơn vị nên rơi vào tay quân thù - và trở thành công cụ tuyên truyền cho địch. Cả ba giả thuyết ấy được báo chí viết ra từ Tháng Sáu năm 2009 và tờ Rolling Stone thiên tả đã có nhiều bài chi tiết về vụ này từ giữa năm 2012 - mà chưa có giải đáp. Chuyện lạ là trong khi đó chàng lại lên lon Trung sĩ, từ Private First Class pfc lên Sergeant.

Lạ hơn vậy, năm năm sau thì cha mẹ nhận được Tổng thống báo tin vui qua điện thoại: con trai của ông bà đã được giải cứu. Cái giá của thắng lợi giải cứu tù binh, hay con tin, là phóng thích năm tay trùm khủng bố của lực lượng Taliban đã bị giam giữ trong trại tù Guantanamo. Đấy là chuyện của Sgt. Bowe Bergdahl. Chuyện chỉ có tại nước Mỹ dưới thời Obama.


Source : dainamax tribune . Người Việt .

1/6/14

Khi quan võ ngồi nhầm ghế quan văn

Khi quan võ ngồi nhầm ghế quan văn

Hiệu Minh 

Làm tướng thì phải dũng mãnh. Ảnh: Internet
Làm tướng thì phải dũng mãnh. Ảnh: Internet
Có một vị vua thời xưa, lúc ngự triều, có tả hữu, một bên là quan văn, bên kia là quan võ. Khi định nghênh chiến nước nào, vua thường hỏi cả quan văn và quan võ. Quan văn nhát hay bàn lui, quan võ thích chiến, không chiến làm sao thăng quan.
Quan võ nào bàn lui, vua quát, hãy lấy cho tên này cái váy, mặc vào rồi về quê đuổi gà cho vợ. Đã làm tướng thì phải đánh nhau, không có chỗ cho sự yếu hèn cho người cầm quân bảo vệ sơn hà.
Có chuyện khôi hài khác, thời của cựu độc tài Philippines, Fernando Marcos, ông ta từng bắt các tướng mặc váy lòe loẹt để dự sinh nhật. Một quốc gia có tướng mặc váy thì kết cục thế nào, ai cũng rõ. Đế chế từ tổng thống đến tướng lĩnh tham nhũng tràn lan và thối nát ấy đã sụp đổ sau vài chục năm.
Thế giới mạng Việt Nam đang bàn tán xôn xao về phát biểu của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh tại Hội nghị An ninh khu vực tổ chức tại khách sạn Shangri-La (Singapore) ngày 31-5-2014.
Tại hội nghị này, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ, Chuck Hagel, điểm mặt chỉ tên, cáo  buộc Trung Quốc “gây bất ổn” trên Biển Đông và gọi đây là hành động “đe dọa quá trình phát triển” của khu vực về dài hạn.
Ông Chuck Hagel cũng nói Hoa Kỳ sẽ “không làm ngơ” khi các nước khác phớt lờ luật pháp quốc tế.
Thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe, cũng lên tiếng, Nhật Bản sẽ “ủng hộ tối đa” cho các nước Đông Nam Á, trong đó có một số nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.
“Tất cả các nước cần tôn trọng luật pháp quốc tế. Nhật sẽ ủng hộ tối đa cho nỗ lực của các nước ASEAN trong việc đảm bảo an ninh vùng biển và bầu trời, và triệt để duy trì tự do hàng hải và tự do hàng không. Nhật có kế hoạch đóng một vai trò lớn hơn và chủ động hơn so với thời điểm hiện nay để đảm bảo cho châu Á và thế giới được hòa bình hơn”.
Quốc tế ủng hộ Việt Nam đến thế là cùng. Hoa Kỳ còn mời cả Bộ trưởng Phạm Bình Minh sang Mỹ.
Hơn tuần trước tại Myanmar và Philippines, Thủ tướng Dũng cũng tỏ ra mạnh mẽ khi lên án Trung Quốc có những hành động nguy hiểm ở biển Đông. Ông cũng nói Trung Quốc đã “vu khống” Việt Nam khi đưa tin Việt Nam đâm tàu Trung Quốc đang hộ tống giàn khoan.
Thủ tướng Dũng tuyên bố sẵn sàng đưa vụ giàn khoan của Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Ngoài ra. Ngoài ra, ông còn kêu gọi Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ tiếp tục lên tiếng để phản đối Trung Quốc ở Biển Đông.
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh dùng từ “ngoan cố” khi nói về Trung Quốc “Chúng ta vẫn tiếp tục các biện pháp đấu tranh ngoại giao. Một trong những biện pháp đấu tranh ngoại giao là giao thiệp trực tiếp với Trung Quốc và cho đến nay đã có 20 cuộc giao thiệp chúng ta kiên quyết đấu tranh và yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan và tàu hộ tống ra khỏi khu vực đó.
Đó là lập trường kiên quyết của phía ta.Dàn khoan của Trung Quốc hiện vẫn ở đó và ngày càng tăng cường tàu. Điều này cho thấy Trung Quốc rất ngoan cố, không chịu rút giàn khoan này về.”
Một thứ trưởng Ngoại giao kiêm đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Nguyễn Quốc Cường, cũng dùng những ngôn từ khá mạnh khi trả lời hãng thông tấn Hoa Kỳ CNN “Chúng tôi không thể chấp nhận những hành động gây hấn. Nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền. Bất cứ nước nào cũng không nên coi thường sự quyết tâm của người Việt”
Báo chí truyền thông gồm 700 tờ, VTV, kể cả Nhân Dân, QĐND đã đăng những bài có ngôn từ mạnh mẽ chưa từng thấy kể từ năm 1979 đến nay để nói về sự xâm lấn, âm mưu thâm độc của Trung Quốc. Dân xứ Việt sôi sục đòi biểu tình vì thảm cảnh ở biển Đông, sẵn sàng chiến đến cùng.
Tướng Thanh tại Shangri-La. Ảnh: internet.
Tướng Thanh tại Shangri-La. Ảnh: internet.
Vào hoàn cảnh ấy, người ta trông đợi một bài phát biểu mạnh mẽ, mang tầm của vị đại tướng Việt Nam tại Shangri-La. Nhưng thật bất ngờ, tướng Phùng Quang Thanh lại sử dụng những ngôn từ mà các quan văn hay dùng.
Ông cho rằng  “Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc, về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề  tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông nên đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng như sự việc ngày 1/5/2014”.
Ông còn coi chuyện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam như mâu thuẫn nội bộ gia đình “Những vấn đề có liên quan đến hai nước thì cần giải quyết song phương. Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi”.
Đọc toàn văn phát biểu tại đây. http://mnews.chinhphu.vn/Story.aspx?did=200640
Nếu phát biểu này do bên Ngoại giao đọc thì có thể hiểu được, dù tone đó không phù hợp chút nào với hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam đang bị “đồng chí” Trung Quốc xâm lấn và bắt nạt.
So với những lời mạnh mẽ của Bộ Ngoại giao (Bộ trưởng Phạm Bình Minh, Đại sứ Nguyễn Quốc Cường), thì phát biểu của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lại tỏ nhũn nhặn một cách bất ngờ, ngay cả dân ngoại giao cũng chẳng nghĩ đến.
Cho dù đây là văn bản được Bộ Chính trị duyệt từng chữ, nhưng qua miệng một vị Đại tướng, quân hàm, quân hiệu, có số má, đọc tại hội nghị quốc tế, trong lúc Việt Nam đang rất cần sự hợp tác trong vấn đề biển Đông để đối phó với Trung Quốc, đất nước này lại một lần nữa bỏ lỡ cơ hội.
Muốn hòa hoãn thì hãy để bài viết ấy cho một vị bên ngoại giao. Một vị đại tướng đàng hoàng chỉ huy hàng triệu quân mà phải xuống giọng trước kẻ xâm lược thì liệu có nên chăng? Có ai tin, tone thế này có tránh được những giàn khoan mới hay không?
Đọc xong bài phát biểu của tướng Thanh, tôi cứ nghĩ mãi, hay là quan võ xứ mình đã ngồi nhầm chỗ của quan văn. Nếu mang chuyện này hỏi vị vua ngày xưa, không biết tiền nhân có nghĩ đến cái váy hay không.
HM. 31-5-2014

Source : Blog Hiệu Minh

S

31/5/14

Obama Vi Vút Chuyện Vô Vi


Friday, May 30, 2014

Obama Vi Vút Chuyện Vô Vi


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 140529
 
Chủ Thuyết Đối Ngoại Của Obama: "Làm Cái Không Làm, Ấy Đế Vương"


 * Tổng thống Mỹ tại lễ mãn khóa West Point 2014 *



Được rầm rộ quảng cáo trước, bài diễn văn hôm Thứ Tư 28 vừa qua về chánh sách đối ngoại của Tổng thống Barack Obama là một sự rỗng rang. Rỗng mà rang rảng.

Vừa nhậm chức Tổng thống Mỹ, Barack Obama đã lãnh giải Nobel Hoà Bình dù chưa làm cái gì cho hòa bình thế giới. Bây giờ, còn 20 tháng nữa ông mới hoàn tất tám năm lãnh đạo, khi nghe bài diễn văn ông đọc tại lễ mãn khóa của Trường Võ Bị Quốc Gia West Point, người ta thấy ra tương lai của Obama... nằm ở sau lưng.

Nhưng người ta có thể lầm, chuyện ấy sẽ nói sau....

Trước hết, bài diễn văn thiếu nội dung thật ra vẫn có mục đích. Đó là phản bác những công kích của đối lập ở nhà về chính sách đối ngoại của Obama sau hơn năm năm cầm quyền. Ta có thể thông cảm với nhu cầu đó khi mức tín nhiệm của dân Mỹ về đối sách ngoại giao của Tổng thống tuột dốc thê thảm, và sắp bắt kịp tỷ lệ thất vọng về nội chính. 

Nhưng dù thông cảm thì cũng thấy ra nét khiếm nhã.

Nội dung của một bài diễn văn về ngoại giao phải nhắm vào đối tượng quốc tế, để thế giới thấy lãnh đạo Hoa Kỳ nghĩ sao và muốn làm gì, chứ không để biện bạch chuyện nội bộ và dành những lời đanh thép nhất cho đối lập! Cho các nước đối thủ của Mỹ thì Obama lại làm thinh.... Tối! 

Hãy nhắc lại bối cảnh đã: thế giới nghĩ sao về những thách đố trước mắt? Những bài toán ấy là gì?


***

Xin mở tấm bản đồ thời sự và xem lại tờ lịch cũ về đối sách của Obama để thấy ra bảy cái không.... Bốn cái có mà cũng là cái khó thì sẽ nói sau.

Liên bang Nga và vụ khủng hoảng tại Ukraine là mối nguy đang đe dọa nhiều nước Đông Âu, từ Moldovia tới Georgia, Ba Lan và vân vân trên vùng Baltic. Trước bài toán ấy, các nước trong Liên hiệp Âu châu lại tê liệt vì phân hóa quan điểm và quyền lợi. Xuất phát từ chủ trương về quyền lợi hay từ giá trị tinh thần của nền dân chủ Mỹ, Hoa Kỳ có giải pháp nào với hoàn cảnh đó? 

Về tờ lịch cũ, Obama nghĩ sao khi đã đòi cải thiện quan hệ với Liên bang Nga từ năm 2009? Thất bại của chuyện "reset the button" là điều không dám nói. Một không.

Vừa liên kết với Liên bang Nga, Trung Quốc đang tạo ra những thách đố mới tại Châu Á. Mối nguy từ Trung Quốc với các nước Đông Á từ Bắc xuống Nam là chuyện có thật. Là cường quốc Á Châu, đệ nhất siêu cường Hoa Kỳ nghĩ sao và muốn gì trước bài toán đó?

Nói về tờ lịch để nhắc tới chủ trương của Obama thì khi Chính quyền ông vừa nhậm chức năm 2009, Ngoại trưởng Hilary Clinton đã có lời phát biểu lạnh mình vì chửi cha cái giá trị tinh thần mà Hoa Kỳ vẫn đề cao. Đó là "không để chuyện nhân quyền gây trở ngại cho việc làm ăn!" Hơn hai năm sau, cũng Clinton này lại có bài viết và chính quyền Obama có chủ trương mới, về nhu cầu chuyển trục tại Đông Á. Bây giờ, thất bại của ngón "pivot" là điều không dám nói. Hai không!

Nội chiến và nạn tàn sát thường dân tại Syria đã qua năm thứ ba, với số thương vong chất đống. Và sau cuộc đổi đời năm 2011, Libya vẫn chưa ổn định mà sẽ là xuất phát điểm của khủng bố Hồi giáo. Đã thế, lực lượng khủng bố núp dưới phiêu hiệu al-Qaeda lại mở tầm hoạt động từ Trung Đông tới Bắc Phi, từ Đông Phi qua Tây Phi và gieo họa cho xứ Mali, hay Nigeria....

Về tờ lịch của đối sách Obama với những chuyện đó: Tổng thống Mỹ nhiều lần kẻ vạch trên cát những lằn đỏ mà chế độ độc tài hiếu sát của Bashar al-Assad tại Syria không được vượt qua. Kẻ rồi lại xoá, và bán cái cho Liên bang Nga giải quyết mối nguy võ khí hóa học. Không kết quả! Ba không.

Tại Libya, Hoa Kỳ hùng hổ đi vào lật đổ lãnh tụ Muammar Gaddhafi – một kẻ đã biết sợ và đang tìm cách cải thiện quan hệ với Tây phương – rồi để lại vụ tàn sát ở Benghazi hai tháng trước khi dân Mỹ đi bầu, mà Chính quyền Obama cố giấu nhẹm và đánh lạc hướng để lừa cử tri. Vì vậy, bài diễn văn tại West Point không dám nhắc lại. Bốn không!

Tại Trung Đông, mâu thuẫn giữa quốc gia Israel với dân Palestine là ung nhọt lịch sử. Chính quyền Obama coi đây là một ưu tiên của nhiệm kỳ hai. Tiến trình xây dựng hòa bình do Ngoại trưởng John Kerry thi hành đã huy hoàng thất bại. Trong cộng đồng Palestine, mâu thuẫn giữa chính quyền "ôn hoà" của Mahmoud Abbas thuộc cánh Fatah với lực lượng khủng bố Hamas là vấn đề không giải pháp. Vì vậy, bài diễn văn West Point tránh không nhắc tới. Năm không!

Thế giới này bất an vì quá nhiều chế độ hung đồ đang nắm võ khí hạch tâm trong tay để bắt bí thiên hạ. Một trong những chủ trương lớn của Barack Obama từ khi còn đi sách động cộng đồng là giải trừ võ khí hạch tâm cho thế giới. Về tờ lịch thì Obama nhắc lại điều ấy trong bài diễn văn năm 2009 tại thủ đô Praha của Cộng hòa Tiệp, đã tiến hành thỏa ước tài giảm binh bị với Liên bang Nga và đang cố hòa giải với Iran để đạt lời hứa là không tiến hành kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm. 

Thực tế thì Nga đã vi phạm thỏa ước, Iran chưa lùi một bước, Bắc Hàn vẫn tung hứng võ khí tàn sát! Vì vậy, bài diễn văn tại West Point không có đến chữ hạch tâm, atomic. Sáu không!

Trong một chuỗi biến động toàn cầu, từ Âu sang Á, thế giới phân vân trước sự bành trướng của chủ nghĩa dân tộc, của tinh thần quốc gia và quyền lợi kinh tế, với những hậu quả bất lợi cho hòa bình quốc tế. Hiện tượng này được Nga khai thác (Ukraine là thí dụ), gây rối cho Trung Quốc (hồ sơ Duy Ngô Nhĩ và Tây Tạng), biện minh cho khủng hố tại Tây Phi (vụ Boko Haram), đe doạ sự hội nhập của Liên Âu (cuộc bầu cử Nghị viện Âu châu vừa qua, với sự thắng thế của phe cực hữu và khuynh hướng quốc gia quá khích).... 

Trước loại vấn đề quá phức tạp như vậy, Hoa Kỳ là một nước đa văn đa chủng có chủ trương hay giải đáp gì không? Xuất thân từ cõi đa văn đa chủng ấy, Obama có gì đề nghị không? Bảy không.

Kết cuộc thì Barack Obama đã học thơ Vũ Hoàng Chương trong bài "Tương tư thảo": Làm cái không làm, ấy đế vương! Ông muốn... "vô vi nhi trị"?


***
Một cách khách quan thì ta cũng nên hỏi lại, rằng ông có thể làm được những gì và đề nghị những gì trong bài diễn văn?

Đảo ngược quan điểm truyền thống đã từng trình bày trong hai bài diễn văn năm 2009 tại Cairo và Ankarra, bây giờ Tổng thống Mỹ xác nhận rằng Hoa Kỳ là quốc gia xuất chúng nên có trách nhiệm với thế giới về thiên hạ sự. Đấy là chủ trương tích cực và đổi mới của một người vẫn cứ đi vái tứ phương và còn viết hồi ký phê phán nước Mỹ với quan điểm của các nước nghèo hèn hậm hực thuộc Thế giới thứ ba.

Phải mất năm năm ngồi trên ngai, Obama mới học thấy cái sai và sửa lại điều ấy!

Sau khi đặt lại vấn đề, về sự chọn lựa cần thiết hiện nay là nên lui về chủ nghĩa tự cô lập hay nên bung ra can thiệp vào thế giới, Tổng thống Mỹ chọn giải pháp trung dung đến ba bốn phải. Và nói vào dăm ba chuyện cụ thể.


Obambi huê dạng dưới nét hý họa cũa Micheal Ramirez trên tờ IBD ngày 140530!



















Đây là phần "bốn có" mà cũng là khốn khó. Hãy điểm lại những cái có trong bài diễn văn.

Thứ nhất, Hoa Kỳ của Obama vẫn can thiệp vào thế giới, nhưng cùng với các định chế quốc tế như Minh ước NATO hay Liên hiệp quốc và các nước đối tác. Thật ra, xưa nay các Tổng thống Mỹ đều làm như vậy. Gần đây, Bill Clinton vào Kosovo dưới lá cờ NATO, hay George W. Bush hắc ám cũng mở chiến dịch Afghanistan với NATO, và vào Iraq sau mấy chục Nghị quyết của Liên hiệp quốc lên án chế độ Saddam Hussein. Nghị sĩ Hilary Clinton là người ủng hộ việc này. Sau khi nhậm chức, Obama cũng chẳng làm khác tại Libya, với Nghị quyết Liên hiệp quốc và bình phong của các đối tác Âu châu. Nhưng, khi cùng các nước hay các tổ chức can thiệp vào chuyện quốc tế, Hoa Kỳ vẫn thực tế lãnh đạo, và chi tiền mệt nghỉ. 

Nay Obama núp sau thiên hạ để khỏi lãnh đạo!

Thứ hai, Hoa Kỳ điều chỉnh đối sách chống khủng bố với một khảo hướng (approach) lạ: vừa thu hẹp sự hiện diện tại Afghanistan vừa tăng cường sự can thiệp vào Syria qua các nhóm nổi dậy chống chế độ al-Assad. Với Obama, chuyện chiến lược như Afghanistan hay chiến thuật như Syria, Mali hay Nigeria sẽ trở thành đồng hạng: nặng nhẹ như nhau trong một quỹ chung trị giá năm tỷ bạc.

Thay vì kẻ vạch trên cát, nếu Tổng thống Mỹ sớm yểm trợ các tổ chức chống al-Assad tại Syria từ vài năm trước thì biết đâu đã tránh được chuyện ngày nay! Thôi đành, thà trễ còn hơn không! Và việc Mỹ báo trước là duy trì chưa tới vạn quân tại Afghanistan, mà chỉ đến năm 2016 thôi lại là tin vui cho quân khủng bố Taliban. Thời điểm 2016 còn có ý nghĩa thiêng liêng: đó là năm Obama mãn nhiệm. Ông chuẩn bị thành tích hòa bình cho ngày đó!

Thứ ba, trong nỗ lực diệt trừ khủng bố, Hoa Kỳ tận dụng phương pháp "của đi thay người". Chính quyền Obama triệt để dùng máy bay tự động (drones) để hạ sát quân khủng bố và có tiến trình quyết định khá mờ ám khi chọn mục tiêu và đối tượng. Bây giờ, Tổng thống Mỹ hứa hai chuyện mới: một là sẽ chuyển công tác đó từ cơ quan tình báo CIA qua Ngũ giác đài; và hai là sẽ yêu cầu quân đội công khai hóa một số hồ sơ cho công chúng biết. Phương pháp sạch sẽ này có nhược điểm là đôi khi mù quáng mà sát hại dân lành và mặc nhiên vi phạm nhân quyền của người khác.

Giới trí thức thường sợ bẩn tay, Obama là Tổng thống rất trí thức trong trò chơi đó và làm các đồng chí thiên tả và phản chiến của ông thất vọng. Đành vậy chứ sao!

Sáng kiến thứ tư, Hoa Kỳ của Obama khỏi cần xin phép ai khi phải tự vệ và sẽ cương quyết dùng võ lực để tự vệ. Ngon! Nhưng sẽ chỉ làm như vậy khi quyền lợi cốt lõi và sự an toàn của người dân bị đe dọa. Tức là Obama định ra tiêu chuẩn cao hơn và khó hơn cho việc sử dụng quân đội.

Thật ra, sáng kiến ấy là sao bản của "chủ thuyết Caspar Weinberger" (Tổng trưởng Quốc phòng) thời Reagan-Bush: chỉ dụng binh khi quyền lợi sinh tử bị đe dọa, nhưng khi vào thì phải định rõ mục tiêu, phương tiện và định cả ngày hát khúc khải hoàn. Khác với thời xưa, ngày nay Hoa Kỳ không thể phao phí phương tiện quân sự cho một cuộc phiêu lưu không hẹn ngày về. Bội chi ngân sách vì cải tạo xã hội, nhu cầu giảm chi quốc phòng để khỏi vay tiền quá sức trả và nhất sự mệt mỏi của dân Mỹ khiến Tổng thống Hoa Kỳ phải liệu cơm gắp mắm.

Nhưng khi Obama minh định tiêu chuẩn ra quân quá rõ như vậy, các chế độ hung đồ đều yên tâm: "làm gì cũng được, miễn là đừng bắn vào Mỹ!" Còn các nước Đông Âu dưới tầm đạn của Nga, hay các nước Đông Nam Á trong vòng "hải giám" của Trung Quốc đều được Obama thông báo: đừng trông vào Mỹ!

Xin hãy thông cảm, đầu Tháng Ba vừa qua, Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng Đặc trách Tiếp liệu là Katrina McFarland đã nói chuyện tay hòm chìa khóa: "Bây giờ phải xét lại việc chuyển trục." Bà nói thật, rằng vì nhu cầu cắt giảm quân phí, Mỹ không có tiền mua trục để chuyển!

Thành thử, người ta cứ muốn tìm một "chủ thuyết Obama", bài diễn văn tại West Point chẳng đưa ra chủ thuyết nào có giá trị lịch sử. Và những đối sách lặt vặt mà ông đề nghị đều khó thực hiện.


***


Chúng ta hiểu ra vì sao Barack Obama phải vi vút nói chuyện vô vi khi tương lai nằm ở sau lưng. Nhưng nghĩ như vậy vẫn là đánh giá sai con người siêu hạng này.

Vừa nhậm chức Tổng thống một siêu cường thì đã lãnh giải Nobel Hoà Bình. Nếu vậy, Obama còn có bệ nào cao hơn để leo hay để tranh cử nữa không sau khi làm Tổng thống mà mắc ghiền tranh cử? 

Có chứ! Tranh cử làm Tổng thư ký Liên hiệp quốc để cầm súng nước đi bình thiên hạ và phát tiền cứu giúp dân nghèo. Đâm ra chẳng khác gì bài diễn văn tại Đại hội đảng Dân Chủ năm 2004, bài diễn văn West Point 2014 cũng là một chương trình tranh cử mới của Obama sau 2016. Để bước lên một đài vinh quang khác tại New York.

Nơi đó, ông sẽ tiếp tục sự nghiệp chống Mỹ sau tám năm tiêu xài tan hoang! ainamax

Source : Việt Báo . dainamax tribune 

28/5/14

Ngày tàn của trí thức


Ngày tàn của trí thức

 

trach nhiem tri thuc
Tác giả: Nguyễn Hoài Vân – 25/5/2014

(GNA: Cám ơn tác giả về một bài suy luận rất hay. Alan Phan. Những hàng chữ viết nghiêng do GNA soạn)

Thịnh và suy
Tại các quốc gia Tây Phương, khi thế quyền bị tách rời khỏi thần quyền, khi không còn các Đấng Quân Vương trị dân với sự ủy nhiệm của Thiên Chúa, và đương nhiên là theo Thánh Ý Ngài, thì quyền hành bỗng dưng gặp phải một sự thiếu vắng ý nghĩa, một định hướng luân lý, một nền tảng để có thể xây dựng trên đó những giá trị đạo đức. Khi đó, cái « thời » của người trí thức đã đến.
Người trí thức trở thành những kẻ định ra hướng đi của xã hội, vẽ đường cho những cải cách, những cuộc cách mạng, phê phán về tính « xấu » , « tốt » , của những quyết định và chương trình chính trị. Các chủ thuyết lớn ra đời, mang theo những ước vọng, lập ra những khuôn mẫu giáo điều, dựng nên những thần tượng, lấp vào chỗ trống của Thần Quyền. Thời của những chủ thuyết cứu rỗi (messianisme) đã đến, với hàng giáo phẩm không ai khác hơn là tầng lớp trí thức.
Dưới bầu trời phương Đông, không có Thần Quyền, chỉ có « Thiên Mệnh », một phần lệ thuộc « vận khí » của triều đại, nói nôm na là sự may mắn của triều đại ấy (có lẽ thể hiện Ý Trời ?), một phần được quy định bởi « nhân tâm ». Mà « nhân tâm » thì phần lớn được diễn đạt qua tầng lớp trí thức, tức là những kẻ biết nói văn vẻ, biết biện luận theo sách vở kinh điển, và nhất là biết viết.
Đến khi Đông Tây gặp nhau, thì trí thức phương Đông trở thành những người được đào luyện bởi phương Tây, với ít ra là những cung cách bên ngoài rập khuôn theo Tây Phương. Trí thức Đông Phương cũng phần nào được cộng hưởng sự vinh quang của các « đồng nghiệp » của họ bên trời Tây.
Rồi, thời gian trôi … Ngày nay, công kích xỉ vả trí thức trở thành một trò chơi được ham chuộng. Nước ta có Phạm Thị Hoài, qua bài trả lời phỏng vấn về trí thức trên báo Cánh Én, trước đó đã có Hà Sĩ Phu, và một số người nói theo ông ta, dư luận đều đã đề cập đến nhiều nên xin miễn bàn thêm (riêng bài của chị Hoài đã đưa đến một diễn đàn trên web với những đóng góp phong phú suốt nhiều tháng).
Bên nước Đại Pháp, tờ Le Débat, một diễn đàn quan trọng của giới trí thức, ra số kỷ niệm 20 năm với bài tựa của Pierre Nora, nhan đề : « Giã từ trí thức ». Tác giả này cho rằng có lẽ phải từ bỏ danh xưng trí thức, vì nó gắn liền với quá nhiều sai lầm và tội ác. Ông đề nghị nên đem chôn « trí thức » cùng với thế kỷ vừa chấm dứt !
Trong cùng số báo, sử gia Winock đặt câu hỏi : « Đâu là công dụng của trí thức ? » Sirinelli, một sử gia khác, diễn tả về trí thức qua «cảm tưởng mặt trời lặn», một cảm tưởng buồn … Cùng lúc, Régis Debray cho xuất bản một quyển sách tên là « Trí Thức Pháp, tiếp theo và hết ». Debray, văn sĩ tài danh, thủ khoa trường Normale Sup, chiến hữu của Che Guevarra tại bưng biền Nam Mỹ, cố vấn của Tổng Thống Mitterrand, người đã từng tham gia hầu hết các cuộc đấu tranh của trí thức suốt những thập niên vừa qua, thẳng thắn công nhận mình đã lầm đường (« j’ai déconné à plein tubes »), cũng như tầng lớp trí thức nước ông, để rồi cho rằng tầng lớp này đã chết.
« Xác chết của nó còn động đậy, nó còn làm vẻ, làm dáng, nhưng trong thực tế, nó chỉ là một con ma nham nhở » (Eric Conan –Express). Ngược lại, Alain Finkielkraut, triết gia hiện rất được chú ý, cho rằng « thái độ của người trí thức giống như một tuổi trẻ vị thành niên được kéo dài một cách quá đáng ». Tổng hợp hai ý kiến cho ra một thây ma lìa đời vào tuổi vị thành niên, nên còn tiếc nuối bám víu cõi hồng trần …
Những nguyên do của suy tàn
Vì sao hình ảnh của người trí thức lại trở nên tàn tạ như vậy ? Nội dung lập trường gọi là thiên tả của hầu như toàn thể tầng lớp trí thức suốt nhiều thập niên, đã được cảm nhận như một chuỗi sai lầm với nhiều tai hại.
Sở dĩ tôi nói «gọi là » thiên tả vì trong một thời gian dài người trí thức đã cố công bảo vệ những lập trường phản động nhất, theo chính quan điểm Marxiste, kết tụ trong chủ thuyết Staline-Mao. Họ đã bao che chế độ Goulag, miệt thị những nhân chứng phơi trần tính cách phi nhân của CS Liên Sô. Họ đã làm ngơ trước « Trăm Hoa Đua Nở » với « Bước Nhảy Vọt » và tiếp tục thần tượng hóa Mao Trạch Đông. Họ ủng hộ Bắc Việt Nam, ủng hộ Khmer Đỏ, ngay cả khi đã được biết về những cuộc thảm sát gây nên bởi tổ chức này.
Họ cho rằng « muốn ăn trứng thì phải đập vỏ trứng », muốn chiến thắng tư bản thì bằng bất cứ giá nào, phải sát cánh đàng sau các lực lượng « tiến bộ », không được gây tổn hại cho các lực lượng này, không được phân tán lực lượng, lẫn lộn mục tiêu v.v… « Những kẻ chống Cộng là đồ chó !», như lời Sartre. « Thà sai lầm với Sartre còn hơn là có lý với Aaron » là một khẩu hiệu thời thượng khác, cho thấy người trí thức đã chấp nhận thà lầm lẫn (theo Sartre) còn hơn là phản lại « cách mạng » (như Aaron).
Người trí thức Tây Phương đặc biệt là Pháp, vào lúc đó bị ám ảnh bởi quyền hành, bởi viễn tượng cách mạng « một buổi chiều » (le grand soir). Họ sẵn sàng tự tha hóa, sẵn sàng từ bỏ vai trò trí thức thực sự cho cái viễn tượng sẽ cướp được chính quyền ấy. Sự thất bại của cuộc chính biến tháng 5 1968 khiến một số trong họ quay về với những sinh hoạt trí thức thuần túy hơn.
Biến cố Hung Gia Lợi, rồi Tiệp Khắc cũng là những chấn động lớn trong hàng ngũ họ. Sự thật càng ngày càng được phơi bày. Đến khi thảm kịch của thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn CS được đem ra trước dư luận, thì người ta thấy Sartre và Aaron bắt tay hòa giải với nhau trên thềm điện Elysée, khi hai người cùng đến vận động cho việc cứu vớt đồng bào ta trên biển Đông. Sartre trở thành biểu tượng của sự dấn thân của thiên tài trí tuệ cho những mục tiêu chính trị sai lầm đến độ ngu xuẩn.
Phải chăng Debray đã có lý khi trích dẫn Proust : « càng ngày tôi đánh giá thấp cái giá trị của trí thông minh » ?
Tại Miền Nam Việt Nam trước 1975 người ta giảng dạy và đề cao không những Marxiste mà cả chủ thuyết Staline Mao trong đại học. Nhà báo thiên cộng đánh phá chính phủ một cách hiệu quả. Văn sĩ, nhạc sĩ thiên cộng gây nhiều ảnh hưởng trong quần chúng. Những nhân vật được coi như trí thức trong hàng ngũ tu sĩ các tôn giáo lớn cũng nêu cao những lập trường hiển nhiên hay mặc nhiên thiên cộng. « Thành phần thứ ba », một tập hợp thể hiện giấc mơ bắt tay với người Staliniste Việt Nam để « hòa hợp hòa giải dân tộc », « xây dựng đất nước » … quy tụ một số đông trí thức hàng đầu của Việt Nam Cộng Hòa.
Tại Miền Bắc Việt Nam, những tinh hoa của trí tuệ dân tộc quy hàng Bác và Đảng, như Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện, v.v… đều nhanh chóng bị cầm giữ trong một hệ thống sắt máu, nhân danh công nghiệp « chống Mỹ cứu nước ». Lý tưởng ban đầu của họ không khác với trí thức Tây phương, nơi họ được đào tạo, và khi họ đã chui đầu vào rọ rồi, thì mọi sự vùng vẫy đều vô ích. Họ trở thành những công cụ của quyền hành, khi may mắn được quyền hành đoái hoài tới …
Trí thức cộng với quyền hành: không còn là trí thức
Thật vậy, khi trí thức bị ràng buộc vào quyền hành, thứ quyền hành mà chúng ta thường biết cho tới nay, bất kể trong tiến trình đang chinh phục quyền hành ấy hay đang cố nắm giữ nó, thì cái tính trí thức kia bắt buộc phải bị lu mờ đi. Khi đó, quyền hành luôn chiếm ưu tiên trên sinh hoạt trí thức. Sáng tạo của trí thức sẽ phải phục vụ quyền hành. Thông thường hơn hết là sáng tạo trí thức phải lu mờ đi, phải bị che phủ bởi tầng mây quyền hành. Mà sinh hoạt trí thức không có sáng tạo, thì là gì ? ích lợi gì ? (câu hỏi của Winock)
Con người trí thức khi nằm trong quyền hành, không còn suy nghĩ như trí thức, cũng không còn nhìn các người trí thức khác với cái nhìn trí thức. Nhà văn Phạm Thị Hoài đã nhận thấy điều đó. Hai ngàn ba trăm năm trước, Lý Tư, tác giả của những bài Khắc Thạch được kể là những áng văn hay, học trò của Tuân Tử, bạn học của Hàn Phi, khi làm tể tướng cho Tần Thủy Hoàng, có phát biểu như sau về trí thức :
« (…) Bây giờ thiên hạ đã định, pháp luật phát xuất tự một nơi, trăm họ thì gắng việc công nông, kẻ sĩ thì học tập (!) những điều nghiêm cấm. (…) Tuy vậy, người ta vẫn cho cái học riêng của mình là hay, để chê những kiến lập của bề trên. Nay bệ hạ gồm thâu thiên hạ, phân biệt trắng đen, ấn định tôn chỉ, thế mà bọn tư học cùng nhau bài bác pháp giáo, nghe lệnh trên ban xuống đều đem sở học ra mà nghị luận. Vào thì chê bai trong lòng, ra thì bàn bạc ngoài ngõ (…).
Vậy mà không cấm, thì ở trên thế vua sẽ phải bị giảm sút, ở dưới loạn đảng sẽ nhóm thành. Cấm đi thì tiện. Xin rằng các sách sử không phải chép về nhà Tần thì đốt đi. (…) Ai dám nói chuyện về Thi Thư thì bắt bỏ chợ. Ai dám khen việc đời xưa mà chê việc đời nay thì giết cả họ. (…) Những sách không bị loại bỏ là sách thuốc, sách bói và sách trồng trọt. Ai muốn học về pháp lệnh thì phải lấy quan lại làm thày.» (theo Trần Trọng San : Văn Học Trung Quốc đời Chu Tần)
Người trí thức Hàn Phi vắn tắt : « Nước của minh chủ không văn chương sử sách, chỉ có pháp luật để dạy, không cần trích dẫn vua trước, cứ lấy quan lại làm thày (dĩ lại vi sư). » (Hàn Phi Tử 19 – thiên 49)
Đơn giản : quyền hành muốn « nuốt » trí thức, kể cả cái « tính trí thức » trong nội tâm của chính người cầm quyền. Nhiều khi vì muốn duy trì cái « tính trí thức » ấy mà có người phải từ bỏ quyền hành, như Đức Khổng Tử.
Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ. Tôi rất thích thú khi thấy bộ trưởng Allegre của Pháp nói chuyện trên đài truyền hình về một quyển sách của ông bàn quanh vấn đề khoa học và niềm tin tôn giáo. Thích thú vì khám phá ra một ngoại lệ. Ít lâu sau ông bộ trưởng trí thức trực ngôn này bị mời về vườn hay đúng hơn là về Đại Học tiếp tục « gõ đầu trẻ ».
Tôi cũng đã mua quyển « anthologie de la poésie francaise » của Tổng Thống Pompidou, chỉ vì tò mò muốn xem một ông tổng thống « làm » trí thức, viết chuyện thơ văn, không chủ đích chính trị. Malraux cũng là một ngoại lệ, Havel cũng vậy. Có lẽ những người trí thức ấy đã không bị tha hóa bởi quyền hành. Malraux, vì sinh hoạt trí thức của ông không có vẻ bị ảnh hưởng bởi thời gian tham chánh, Havel, vì phản ứng rất « trí thức » trước đòi hỏi ly khai của Slovaquie…
Giải pháp để có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa
Nếu sự tha hóa của trí thức phần lớn là do liên hệ của tầng lớp này vói quyền hành, thì có lẽ chỉ có hai giải pháp :
1)      Tách trí thức khỏi quyền hành :
Cái khó của một nước như Việt Nam trong quá trình lịch sử là quyền hành thu hút hầu hết trí thức. Bên ngoài quyền hành là các thày đồ (… thày đạc, dạy học dạy hành …), mà « lẽ sống » vẫn là đào tạo học trò đi học làm quan. Hoặc giả có thể trông vào « tính trí thức » tự nhiên của dân gian, dù không có cái sở học khoa bảng ? Tại sao không ? Biết đâu chừng đó chính là yếu tố nền tảng duy trì sinh hoạt trí thức đúng nghĩa, biệt lập với tham vọng quyền hành, suốt dòng lịch sử nước ta ?
Sự sáng suốt của người dân, mầm mống của một nền « dân chủ » bất thành danh của Việt Nam ? « Phép vua thua lệ làng » , một loại « dân chủ trực tiếp » ? Thật ra, ngày nay không còn là lúc để tự thỏa mãn một cách viển vông với những nhận định kiểu này. Nhu cầu có được một tầng lớp trí thức đúng nghĩa là một thúc bách lớn. Nó đòi hỏi một Xã Hội Công Dân, biệt lập với chính quyền, trong đó người trí thức có cơ hội làm nhiệm vụ của mình. Nó đòi hỏi một nền giáo dục độc lập, những cơ cấu văn học nghệ thuật và thông tin độc lập. Nó đòi hỏi thay đổi cấu trúc quyền hành hiện tại của Việt Nam.
Thật ra, kinh nghiệm tại các nước Tây Phương cho thấy điều này chưa đủ. Các xã hội Tây Phương vẫn có một xã hội công dân tương đối phong phú nhưng tầng lớp trí thức của họ, như ta đã thấy ở trên, vẫn bệ rạc. Ở Tây Phương, trí thức còn là nạn nhân của sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng.
Điều này đã đưa người trí thức đến phản xạ chạy theo dư luận, tìm sự ngoạn mục, tuyên bố dao to búa lớn, tranh thủ thời gian và do đó suy tư phiến diện. Thay vì đi vào những vấn đề nền tảng, suy nghĩ trong dài hạn, trong chiều sâu, tìm những khuynh hướng lâu dài trong sự chuyển hóa của các xã hội, phân tích những khái niệm và sự biến dịch của chúng cũng như sự hình thành của những khái niệm mới, thì người trí thức, do ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, trở thành những kịch sĩ của một sân khấu thời sự rẻ tiền, hò hét quanh những vấn đề đang được ánh đèn dư luận chiếu đến, trong phút chốc, rồi hối hả quay sang vấn đề khác.
Họ suy tư vội vã, để kịp bao dàn sân khấu, để luôn hiện diện trước một công chúng hay thay đổi thị hiếu, luôn sẵn sàng đào thải họ vào quên lãng. Tại Việt Nam, vấn đề này chưa thực sự đặt ra, và những nhận định quanh nó chỉ đáng được đặt trong ngoạc đơn. Sự phát triển của một tầng lớp trí thức đúng nghĩa biệt lập với quyền hành mới thực sự là vấn đề trước mắt, và không phải dễ thực hiện …
2)      Thay đổi bản chất của quyền hành :
Ít ra là trên phương diện lý thuyết, một câu hỏi cần được nêu lên : có thể nào người trí thức vẫn nằm trong quyền hành mà không bị tha hóa, không mất « tính trí thức » ? Có thể. Nếu bản chất của quyền hành thay đổi, hay nếu năng lực nội tại của người trí thức ấy cho phép. Năng lực nội tại của người trí thức thì không có tính quy luật, không thể trông cậy vào nó. Chỉ còn thay đổi bản chất của quyền hành. Khi đó, phải tự hỏi :
- thay đổi để trở thành như thế nào ?
- làm sao thay đổi ?
- và nhất là ai chủ động thay đổi ?
Từ các xã hội độc tài rõ rệt, đến các quốc gia dân chủ hình thức, quyền hành gần như lúc nào cũng được coi như cứu cánh, như điểm đến của cuộc hành trình chính trị. Suốt cuộc đời chính trị, người ta làm như thế, nói như thế, viết như thế, có những thái độ cử chỉ như thế, thậm chí biểu diễn thổi kèn saxo, đội nón cao bồi, lên truyền hình hát nhạc « sến », v.v… đều với chủ đích nhắm vào quyền hành. Cái nội dung lời nói hay câu viết không quan trọng bằng tác dụng của những thứ ấy trong việc đưa tác giả của chúng đến gần quyền hành, hay bắm chặt quyền hành hơn. Tất cả những gì đưa đến quyền hành thì coi như tốt, còn lại là điều phải cố công loại bỏ.
Đạt đến quyền hành để làm gì ? Chúng ta có cảm tưởng đối với các đấu sĩ chính trị chuyên nghiệp này, đó là điều phụ thuộc ! Đành rằng khi tranh thủ quyền hành, người ta cũng có những chương trình kế hoạch kinh bang tế thế, hưng vượng quốc gia v.v… nhưng khi đã đạt đến quyền hành, họ nhẹ nhàng quay lưng phản lại những lời hứa cũ, nếu nó không thuận lợi cho sự bám lấy quyền hành của họ.
Lãnh tụ Xã Hội Léon Blum trong Hội Nghị thành Tours của Quốc Tế Thợ Thuyền năm 1920 có chất vấn phe CS Đệ Tam : « các ông muốn đạt đến chính quyền để cải tạo xã hội, hay chỉ dùng chiêu bài cải tạo xã hội để nắm chính quyền ? » Thật ra, câu chất vấn này phần nào có thể đặt ra cho hầu hết những kẻ cầm quyền.
Thay đổi bản chất của quyền hành là làm cho quyền hành không còn là điểm đến của cuộc hành trình, mà ngược lại, là điểm khởi đầu. Tức là phải đưa quyền hành xuống đến gần người dân, để những sáng kiến phát xuất từ người dân có được cái « quyền hành » đưa đến thực hiện. Như thế quyền hành sẽ là khởi điểm của cuộc hành trình, thực hiện sáng kiến cải thiện là tự thân cuộc hành trình ấy, và thành quả cải thiện thành công là điểm đến.
Nếu quan niệm được quyền hành như vậy, thì trí thức không những sẽ không bị tha hóa bởi quyền hành, mà ngược lại sẽ tìm thấy nơi quyền hành động cơ để thực hiện những sáng kiến của mình.
Trên phương diện thực tế, quan điểm dân chủ trực tiếp này vấp phải nhiều trở ngại kỹ thuật, nên thường bị coi là không tưởng. Theo tôi, trở ngại kỹ thuật có thể vượt qua (xin bàn đến trong dịp khác). Cái khó vượt qua là phản ứng bám trụ quyền hành của giai cấp chính trị chuyên nghiệp sợ phải đập bể nồi cơm của họ.
Làm sao thay đổi ? Điều vừa nói, cộng với định nghĩa của một thay đổi từ bản chất, từ cấu trúc, cho thấy ngay câu trả lời : đó là một cuộc cách mạng. Mà cách mạng thì tự nó hình thành qua những điều kiện khách quan. Có còn cần phải tự hỏi : « làm sao » ?
Ai chủ động thay đổi ? Nhất định không phải là những kẻ hiện nắm quyền. Một trở ngại không nhỏ là những kẻ đối lập cũng quan niệm quyền hành trong bản chất y hệt như nhóm cầm quyền mà họ muốn thay thế. Tức là đối với những người đối lập này, quyền hành vẫn là điểm đến của cuộc hành trình chính trị của họ. Giả sử họ thay thế được một chính thể độc tài trắng trợn bằng một thể chế dân chủ hình thức, thì tình hình quả có khá hơn, nhưng vấn đề căn bản vẫn chưa được giải quyết.
Tóm lại,
Ít ra là trong trường hợp Việt Nam tôi không thấy cần phải xỉ vả trí thức. Họ làm những gì có thể làm được trong những điều kiện cụ thể ràng buộc họ. Lọt vào quyền hành và bị tha hóa không nhất thiết biến họ thành những người xấu xa, hay dốt nát. Như một tập thể, họ đa dạng như những loài hoa, người thế này, kẻ thế khác…
Vấn đề là môi trường. Nếu môi trường sinh hoạt của họ khác đi, thì ta sẽ thấy một bộ mặt mới của trí thức Việt Nam, và những cánh hoa sẽ nở đẹp trong khu vườn trí thức.


Nguyễn Hoài Vân
Source : Goc nhin Alan 


Phí Tổn Bảo Tiêu


Phí Tổn Bảo Tiêu

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 140526

"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Kinh tế học của an ninh toàn cầu



* Nhiều nước có thể khó chịu về sự hùng mạnh của Hoa Kỳ - cho tới khi cần Mỹ * 


Đầu năm 1991, khi "Bão Sa Mạc" nổi lên tại Vịnh Ba Tư, lãnh đạo Bắc Kinh bị chấn động.

Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương khi ấy là Đô đốc Lưu Hoa Thanh đã trình Đặng Tiểu Bình tập băng hình của CNN để xem Hoa Kỳ mở cuộc không tập đánh tan quân đội Iraq như thế nào. Khi ấy, người cầm đầu quân đội Trung Quốc đã báo cáo, rất nghiêm và buồn: "Thưa lão đồng chí, kể từ hôm nay, coi như Trung Quốc hết còn hệ thống phòng thủ!"

Lưu Hoa Thanh là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính Trị, nổi tiếng ở bên trong là người chỉ huy cuộc tàn sát Thiên An Môn năm 1989. Với bên ngoài, ông là vị Đô đốc đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc được đưa lên cầm đầu quân đội và là công trình sư của kế hoạch hiện đại hóa Hải quân của Bắc Kinh. Với kết quả đang thấy ngày nay.

Hai chục năm sau, đầu năm 2011, khi "Mùa Xuân Á Rập" nổi lên tại Bắc Phi và đẩy Libya vào nội chiến, lãnh đạo Bắc Kinh lại bị chấn động nữa.

Giá dầu đã tăng vọt từ tháng trước, rồi bất ổn tại Egypt khiến thế giới e là Kênh đào Suez có thể bị khóa và các nước có thể bị khủng hoảng kinh tế vì thiếu dầu khí Trung Đông. Khi động loạn lan vào Libya thì các giếng dầu của tập đoàn CNPC (China National Petroleum Corporation) tại đây bị đe dọa. Lúc đó, Bắc Kinh làm hai điều có vẻ như mâu thuẫn: 1) vừa vận động bên trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để ngăn Tây phương đừng can thiệp và lật đổ chế độ Muammar Gaddhafi mà mình đã đấm mõm rất kỹ, 2) vừa cấp tốc thuê tầu bè và phi cơ để di tản ba vạn kiều dân ra khỏi Libya.

Có hai bài toán đặt ra ở đây cho các đấng con trời: kinh tế và an ninh. Bài này xin đi vào đề.


***

Về kinh tế, là một xứ đói ăn khát dầu, Trung Quốc cần nguyên nhiên vật liệu cho bộ máy sản xuất vừa mới công nghiệp hóa.

Do bản chất độc tài và lạc hậu – hai chữ đó đồng nghĩa – họ đầu tư vào nhiều quốc gia có vấn đề chính trị, để bảo đảm nguồn cung cấp với giá hời nhưng vì vậy mới hay gặp bất ổn. Mà có được tài nguyên rồi, còn phải đem về Hoa lục. Việc chuyển vận đó đặt ra vấn đề an ninh. Làm sao bảo vệ được tài sản đó trên những lộ trình tỏa rộng ra toàn cầu, từ các nước Á Phi tới Trung Nam Mỹ?

Khi đó, ta cần nhìn vào tấm bản đồ để hiểu ra bài toán địa dư của Thiên triều đỏ.

Dù mua vào hay bán ra với Hoa Kỳ, Âu Châu, Trung Đông, Đông Phi hay Trung Nam Mỹ, thì Trung Quốc vẫn phải ra biển - và vượt qua nhiều yếu hầu. Từ Kênh đào Suez hay eo biển Hormuz tới mỏm Bab al-Mandeb giữa Yemen với Djibouti, hoặc từ kênh đào Panama qua Mũi Hảo vọng hay các eo biển Malacca và Sunda, Lombok, v.v... ngần ấy nơi đều có ý nghĩa sinh tử cho kinh tế Trung Quốc. Quan trọng nhất là Eo biển Malacca trên vùng biển Đông Nam Á nối liền Ấn Độ dương với Thái Bình dương.

Sau Đặng Tiểu Bình, các thế hệ lãnh đạo kế tiếp, từ Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào đến Tập Cận Bình, đều thấy ra một nhu cầu tiệm tiến là kiểm soát được vùng biển cận duyên, rồi viễn duyên. Từ xanh lục tới xanh dương, biển xanh phải tô màu đỏ thì mới an toàn.

Giữa năm ngoái, lãnh tụ vừa mới lên là Tập Cận Bình nói ra điều ấy: "quốc gia thịnh vượng phải có quân đội hùng mạnh." Họ nói và làm: từ năm 1990 đến nay, mỗi năm Trung Quốc tăng chi cho quốc phòng 10%, nhân gấp 10 trong 24 năm, để lên tới gần 190 tỷ đô la năm ngoái, bằng 9% quân phí toàn cầu. Nhiều lắm!

Nhưng vẫn chưa đủ.

Nhìn vào trong, ngân sách quốc phòng còn thua ngân sách quốc an, bảo vệ an ninh và trật tự nội địa, với lực lượng Cảnh sát Võ trang là chính. Những vụ tàn sát vừa bùng nổ với dân Hồi giáo thuộc sắc tộc Duy Ngô Nhĩ phần nào che giấu nhiều nguy cơ động loạn xã hội khác.

Nhìn ra ngoài, ngân sách 190 tỷ có thể là vĩ đại nếu so với 90 tỷ của Liên bang Nga, 50 tỷ của Nhật Bản hay Ấn Độ, mà chưa thể bằng 640 tỷ của Hoa Kỳ. Đó là về lượng, chứ về phẩm thì còn tệ hơn vì chiến cụ lỗi thời và nạn tham ô trong bộ máy tiếp liệu khiến quân đội Trung Quốc vẫn thuộc loại lạc hậu. Mới chỉ xưng hùng xưng bá với các nước Đông Nam Á mà thôi.

Khi đó, ta nhìn về Hoa Kỳ, một quốc gia đang có tranh luận gay gắt về ngân sách và các ưu tiên xã hội khác như Tổng thống Barack Obama sắp nói tại trường Võ bị West Point – bài này viết về "Kinh tế cũng là Chính trị" mà!

***

Từ cả trăm năm nay, từ Thế chiến I, Hoa Kỳ tự cho mình một nhiệm vụ chẳng ai khiến. Đó là bảo đảm quyền tự do vận chuyển trên toàn cầu, với một lực lượng quân sự có thể can thiệp ở khắp mọi nơi.

Các quốc gia thù ghét Mỹ đều nói đến tinh thần Đế quốc của Hoa Kỳ vì khả năng can thiệp ấy. Nhưng xứ nào cũng vậy, kể cả Trung Quốc thời mon men, đều mừng là có Hải quân Mỹ bảo vệ sự an toàn ngoài biển.

Luận về kinh tế thì nước Mỹ mở ra một phiêu cục toàn cầu, lãnh việc bảo tiêu - hộ tống hàng hóa - cho thiên hạ, mà nhiều khi chẳng đòi tiền bảo phí. Nhiều quốc gia được bảo vệ miễn phí mà không hay. Khi hữu sự, bị hải tặc hay thiên tai, thì ai ai cũng trước tiên nhìn vào Hạm đội Mỹ.

Về ngoại giao, xứ nào cũng có thể than phiền về vai trò quá bao biện của nước Mỹ. Về an ninh và kinh tế, mọi người đều yên tâm là có chiến hạm Hoa Kỳ tại Kênh đào Suez, trong Vùng Vịnh, giữa lạch nước Hormuz, bên cạnh Somalia ở Đông Phi hay Nigeria tại Tây Phi, ngoài Ấn Độ dương và trên mặt biển Thái Bình. Nhất là ở Eo biển Malacca.... Khi Hoa Kỳ nói tới phạm vi hoạt động của Hạm đội Thái Bình dương cũng bao trùm lên Ấn Độ dương thì có người lo người mừng. Mừng nhiều hơn lo.

Ngày nay, người dân Mỹ có quyền tự hỏi, họ đã hỏi như ta thấy của các cuộc khảo sát mới nhất: "Mắc mớ chi mà nước Mỹ cứ xía vào chuyện quốc tế?"

Hoa Kỳ có thị trường vĩ đại, là lực đẩy cho nền kinh tế toàn cầu, mà số nhập cảng chỉ bằng 12% số tiêu thụ. Và xuất cảng chưa tới 10% của Tổng sản lượng GDP. Nói cho nôm na thì kinh tế Mỹ có thể cóc cần thiên hạ. Nếu dân Mỹ ý thức được nhu cầu kinh tế và an ninh kiểu đó thì họ có thể rên là vì sao tại tốn 640 tỷ hàng năm để bảo vệ an ninh toàn cầu, rồi nhức đầu vì chuyện thiên hạ!

Người ta cứ nói Hoa Kỳ can thiệp khắp nơi là để tìm dầu khí hay để bán hàng. Khi Mỹ mở ra cuộc cách mạng năng lượng và bớt cần đến dầu khí Trung Đông, thì thiên hạ lại sợ Hoa Kỳ sẽ thả nổi chuyện Hồi giáo hay Syria cho xứ khác! Khi Mỹ đòi chuyển trục về Đông Á, các nước lại sợ rằng lực bất tòng tâm, nước Mỹ không thể dồn 60% lực lượng Hải quân về biển Thái Bình.

Không chỉ có Hoa Kỳ mới hay mâu thuẫn về ngoại giao. Cả thế giới đều mâu thuẫn vì vừa mong vừa sợ Hoa Kỳ về kinh tế.

Riêng có Bắc Kinh thì không!

***


Bắc Kinh cần buôn bán với Hoa Kỳ, nhân dịp còn ăn cắp công nghệ của Mỹ đế. Bắc Kinh cũng rất cần Mỹ khi buôn bán với thiên hạ, vì mọi tầu hàng ngoài biển đều đặt dưới sự bảo tiêu của con ó. Bị hải tặc tại Sừng Phi Châu hay trên Eo biển Malacca thì họ mong con ó xuất hiện.

Nhưng Trung Quốc vẫn sợ Hoa Kỳ, khi Bắc Kinh hiện nguyên hình là Hải tặc! Ngày nay, HD81 hay Hải cảnh, Hải ngư, Hải giám, đều là hải tặc. Thiên hạ đâm lo khi nước Mỹ ngó lơ lên trời....

Source : dainamax tribune