24/11/08

Cố tri

Ngày 21/11/2007
http://diendan.edu.net.vn/forums/365417/ShowThread.aspx#365417

Cố tri và vài chuyện hợp tác khoa học

Bùi Trọng Liễu
Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)



Anh là người kín đáo nên ít ai người biết đến vai trò rất hữu hiệu của anh trong hợp tác khoa học giữa Việt Nam và Pháp nói riêng và với những nước sử dụng tiếng Pháp nói chung. Tôi muốn nói tới giáo sư Nguyễn Đình Trí. Nhân dịp anh sắp nhận quyết định nghỉ hưu – sau nhiều lần thỉnh cầu của anh – thôi các chức vụ giáo sư Đại học Bách khoa Hà Nội và Chủ tịch hội đồng quản trị của Institut de la Francophonie pour l’Informatique (Viện Pháp ngữ về Tin học, tại Hà Nội), tôi muốn viết vài lời về anh, cũng là những lời tóm tắt nhắc lại một khía cạnh của lịch sử thăng trầm của hợp tác khoa học của Việt Nam với nước ngoài.

Tôi quen anh đã hơn 32 năm, vào mùa hè 1975, tại nhà anh Lựu tôi ở Hà Nội, hai anh vốn là đồng nghiệp giảng dạy Đại học Bách khoa Hà Nội, tuy không cùng khoa. Tôi nhớ hôm đó anh có hẹn sẽ gặp lại nhau ở Pháp vì anh dự tính sẽ sang Pháp một thời gian. Nhưng mãi hai năm sau, 1977 anh mới sang Pháp và ở lại gần một năm, làm việc tại các đại học Paris 6, Paris-Sud-Orsay, và Ecole Polytechnique. Từ đó cho đến những năm gần đây, hầu như năm nào anh cũng có chuyến công du sang Pháp ít ngày, nên gặp nhau luôn.

Nhắc lại vài dòng tiểu sử của anh. Anh Nguyễn Đình Trí sinh tại Hải Phòng; năm 1931, anh hơn tôi 3 tuổi. Anh học Trung học, Sư phạm Cao cấp rồi Đại học Sư Phạm Khoa học, rồi làm cán bộ giảng dạy Đại học Bách Khoa Hà Nội từ lúc mới mở trường năm 1956 đến nay (hiệu trưởng đầu tiên là ông Trần Đại Nghĩa, sau đó là ông Tạ Quang Bửu, vv.). Năm 1961, anh được cử đi làm nghiên cứu sinh ở Đại học Mạc Tư Khoa, và năm 1965 sau khi bảo vệ luận án với đề tài “Các bài toán biên tự do đối với phương trình parabolic”, anh trở về Bách Khoa Hà Nội giảng dạy, có lúc làm tổ trưởng Bộ môn, rồi chủ nhiệm khoa Toán-Lý, rồi từ 1977 đến 1994 làm hiệu phó Bách Khoa, và tham gia đảng ủy nhà trường trong nhiều khóa. Anh được phong giáo sư vào năm 1984.

Anh thân với nhà toán học L.Schwartz và có quan hệ tốt với nhóm đồng nghiệp Pháp về Đạo hàm riêng và Giải tích Số nên quen biết nhiều trong giới Toán học Pháp. Thời gian ở Pháp năm 1977-78, gặp gỡ và thăm dò đưa anh đến nơi thích hợp để hợp tác với Bách khoa Hà Nội : INPG (Institut National Polytechnique de Grenoble: một tập hợp của nhiều trường kỹ sư). Do đó, (sau chuyến thăm Grenoble năm 1977 của ông Trần Trí, phụ trách đối ngoại của Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước), đầu 1978, với sự trung gian, góp ý và giúp đỡ của anh Nguyễn Khắc Nhẫn đang giảng dạy ở Grenoble và vốn là đầu mối giao dịch giữa INPG và Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, anh thăm, gặp gỡ và bày tỏ ý kiến với INPG. Sau nhiều chuyến trao đổi đôi bên, phía Việt Nam và phía Pháp, với sự trung gian rất cụ thể và hiệu quả của anh Nhẫn, văn bản được ký vào năm 1982 giữa thứ trưởng Bộ Đại học Hoàng Xuân Tùy và giáo sư D.Bloch, chủ tịch của INPG, chính thức hóa sự hợp tác giữa INPG và 3 Bách khoa Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Trong khoảng mười mấy năm, từ đó đến 1994 (nếu tôi không nhớ nhầm), với kinh phí của Pháp, mỗi năm INPG nhận 10 cán bộ giảng dạy trẻ của 3 Bách Khoa Việt Nam sang soạn luận án tiến sĩ, và 15 cán bộ giảng dạy già dặn kinh nghiệm sang tu nghiệp ở Grenoble, và INPG gửi nhiều giáo sư sang Việt Nam giảng dạy ngắn ngày. Con số tiến sĩ đã đào tạo ở Grenoble trong thời gian ấy là khoảng hơn 80. Rất đáng tiếc rằng sự hợp tác đó đã không tiếp tục vì nhiều lý do, (không phải từ phía trong nước), trong đó có lời “bàn” cho rằng ở Việt Nam “nhiều thày (tiến sĩ) thiếu thợ (kỹ thuật viên)” vậy nên đổi hướng. Tôi thì nghĩ rằng không nên vì thiếu kỹ thuật viên mà rút nguồn đào tạo tiến sĩ . Đào tạo kỹ thuật viên đã có con đường khác. Một kinh nghiệm lấy ngân quĩ hợp tác để dùng cho việc bưng mô hình đào tạo kỹ thuật viên của Pháp vào nước ta đã thất bại. Trong việc này tôi đã đồng tình với suy nghĩ của anh Trí và anh Nhẫn cũng như một số người khác; nhưng bài này không phải là nơi để nhắc lại những chuyện đó. Những cán bộ giảng dạy của 3 trường Bách Khoa Việt Nam được đào tạo cơ bản ở Grenoble về đã và đang là lực lượng chủ chốt trong đào tạo và nghiên cứu ở 3 trường đó. Nói thêm là từ 1994 đến nay, sau khi chương trình hợp tác chính thức chấm dứt, với những phương tiện khác trong đó có “tự túc”, có khoảng hơn 60 luận án tiến sĩ của du nghiên cứu sinh Việt Nam đã bảo vệ ở Grenoble. Sau này, hợp tác chính thức đã chuyển hướng sang PFIEV (Programme de Formation des Ingénieurs d’Excellence du Việt-Nam, Chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao, trong đó có sự tham gia của Bách khoa Hà Nội và INPG và nhiều đối tác khác như ENPC, ECP, SupElec, vv.).

Anh Trí là nhà toán học, nhưng lại rất chăm chú ngay từ đầu tới tầm quan trọng của Tin học. Khi chương trình hợp tác chính thức với INPG sắp kết thúc, ý định xây dựng IFI (lúc đó mang tên Institut Francophone d’Informatique, Viện Tin học Pháp ngữ) được khởi đầu do lòng mong muốn phát triển tiềm năng của đội ngũ trẻ mới được đào tạo có qui củ ở Pháp về. Ở hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư của khối các nước sử dụng Pháp ngữ (Francophonie), tại điện Chaillot (Paris) 19-21 tháng 11 năm1991, đề án thành lập IFI được Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nguyễn Hữu Thọ trình bày, và được hội nghị chấp thuận và trao cho AUPELF-UREF thực hiện ở Hà Nội. Nhắc lại là AUPELF (Association des Universités partiellement ou entièrement de langue française, Hội các Đại học sử dụng tiếng Pháp hoàn toàn hay một phần), thành lập năm 1961 tại Đại học Montréal, Canada ; đến năm 1987 thì thành lập l'UREF (Université des Réseaux d'Expression Française), một chương trình quan trọng của Hội nghị thượng đỉnh các nước sử dụng Pháp ngữ. Viện IFI được thành lập ở Hà Nội vào cuối 1994. Anh Trí được cử làm Chủ tịch Hội đồng quản trị từ đầu năm 1995, và anh liên tục đảm nhiệm chức vụ này trong nhiều khóa cho đến tận năm nay. (Theo qui chế, hiệu trưởng IFI là người nước ngoài, lúc đầu là một người Pháp, sau có lúc là người Canada). Đến khi AUPELF-UREF đổi thành AUF (Agence Universitaire de la Francophonie), thì IFI (vẫn mang tên tắt này), mới chuyển gọi tên ngày nay là Institut de la Francophonie pour l’Informatique. Trụ sở của trường đóng trong một tòa nhà của “Đông Dương học xá” cũ, xây từ thời còn Pháp thuộc, được tu sửa lại, trong khu Bách Khoa ngày nay. IFI tuyển sinh viên đã tốt nghiệp đại học ở mức tú tài+4 hay tú tài +5 về Tin học hay một ngành liên quan như Toán ứng dụng, Điện tử, vv. và đào tạo Cao học với đầu ra là bằng Thạc sĩ về Tin học, (Master, tương đương 300 ECTS chuẩn Âu châu), sinh viên hầu hết là người Việt Nam nhưng cũng có sinh viên ngoại quốc. Từ lúc mở cho đến năm 2006, trong 12 khóa, 275 sinh viên đã ra trường ; khoảng một phần ba trong đám này làm nghiên cứu sinh, 30 luận án tiến sĩ đã được bảo vệ ở Pháp, Bỉ, Canada và Thụy Sỹ ; 50 đang tiếp tục soạn luận án. Số còn lại hoặc đã trở thành chủ doanh nghiệp, hoặc làm việc ở các doanh nghiệp lớn với tư cách kỹ sư nghiên cứu hay chủ nhiệm đề án. Đối tác của IFI cũng nhiều, như Groupe des Ecoles des Télécommunications (Paris, Rennes, INT), European Schoolnet, Institut Eurecom, INRIA, INPG, Gaz de France, IBM, Dassault, Eurocontrol, Université catholique de Louvain, Université du Québec à Montréal, Université Laval à Québec, Universités Paris 6, Paris 8 et Paris 13, Université de La Rochelle, Université de Lyon 1.

Tôi nghĩ, trong công việc, cứ chăm chú mà tiến hành, chẳng cần phô trương, chẳng cần mượn danh của thiên hạ mà làm vinh cho mình, cho cơ sở của mình, chính là cách làm có hiệu quả nhất.

Câu chuyện hợp tác giữa Bách khoa và INPG, và việc thành lập IFI ở Hà Nội, trong đó anh Trí đóng góp một phần công lao lớn, cũng cho thấy rằng đào tạo tiến sĩ có trình độ, không phải là dễ. Nó là một công trình rất dài hơi, cần rất nhiều công sức, chứ không phải như một số người, do thiếu kinh nghiệm thực tế, cứ ngồi trong văn phòng cầm bút tính chỉ tiêu để nêu ra con số này con số nọ. Nếu như người làm chiến lược và quản lý biết nhìn xa, như đã rất nhiều năm được cảnh báo, thì tình trạng nhà giáo đại học đã không kẹt như ngày nay. Ngoài chuyện hợp tác khoa học với bên ngoài, tôi cũng muốn tóm tắt đôi điều về chuyện trong nước. Như tôi đã kể nhiều lần, năm 1988, anh Nguyễn Đình Trí là một trong 5 nhà khoa học trong nước mà tôi gợi ý đứng tên xin mở Trung tâm đại học “ dân lập ” Thăng Long, trường đầu tiên ngoài hệ thống công lập. Anh cũng là một trong 24 người, trong và ngoài nước (trong đó có tôi) tham gia xê-mi-na “ Chấn hưng Giáo dục ” do anh Hoàng Tụy phụ trách, và ký bản Kiến nghị chung gửi lên Trung ương năm 2004. Tôi cũng biết anh đã nhiều lần góp ý với Bộ GDĐT về những chuyện nên làm hay không nên làm, thí dụ anh đã hết sức can việc đưa “ bộ đề thi ” vào việc thi tuyển đại học. Tôi cũng biết anh không đồng ý với đề án gộp thi tốt nghiệp Trung học phổ thông và việc thi tuyển vào Đại học (đề án “ 2 trong 1”) hay đề án “thi trắc nghiệm”. Có điều là tôi thì viết trên báo, còn anh thì không, vì những lý do dễ hiểu. Tuy trong và ngoài, anh và tôi đã cùng đi chung một chặng đường dài.

Tôi biết tôi đã là người thuộc về quá khứ. Cũng may là tôi còn có được khả năng viết bài đăng báo. Tôi muốn gợi lại những sự việc trên để mừng anh vui nghỉ hưu, đồng thời bày tỏ tình cảm của tôi đối với anh, một bạn cố tri, và hơn thế nữa, một người tri âm.

Bùi Trọng Liễu - Nhân đọc bài “Xin can” của nhà văn Nguyên Ngọc

Nhân đọc bài “Xin can” của nhà văn Nguyên Ngọc
(về Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại)

Bùi Trọng Liễu



Nhà văn Nguyên Ngọc đã có bài « xin can » đăng trên báo Tia Sáng 3/10/2008 http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&News=2388&CategoryID=3 . về việc thành lập Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại, mà nghe đâu trong đó sẽ có những bia ghi tên tiến sĩ thời nay.
Tôi muốn nhân dịp này, được nhắc lại một số ý của tôi, rồi sẽ kết luận ở cuối bài.

1.- Như tôi đã có dịp nhắc lại nhiều lần, tôi có điều trần với nhà cầm quyền (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) từ tháng 4/1975 về việc lập học vị tiến sĩ ở nước ta và lập lại chức danh giáo sư đại học. Lúc ấy, là điều trần nội bộ, mãi sau này tôi có viết bài trên sách báo. Trong ý tưởng, tôi muốn đặt vấn đề lập học vị tiến sĩ trong nước, và bảo vệ ý chỉ nên có một bằng tiến sĩ, vì lý do muốn nền học vấn và nghiên cứu nước nhà chóng đi vào qui củ và phát triển nhanh. Nếu cần, xin đọc những lý do tôi nêu trên sách báo, và hiện nay cũng có trên trang mạng của tôi (1).
Thuở đó, tôi còn tin ở khả năng hiểu biết của một số người đang quản lý nền giáo dục đại học nước nhà, trong đó tất nhiên tôi muốn nói tới ông Tạ Quang Bửu (2), để lập một học vị tiến sĩ nghiêm chỉnh cho nước ta. Còn đối với những người có học vị tiến sĩ ở nước ngoài, thì nhà quản lý thông minh cũng hiểu rằng phải tùy trường hợp và mức độ mà cho tương đương, chứ không phải là hễ thấy ai đó nêu ra một cái bằng mang chữ doctor/docteur là nhắm mắt nhận càn tương đương (3). Tóm lại là chẳng có lý do gì mà đánh đồng, vơ đũa cả nắm. Nhưng sự việc đã xảy ra theo chiều hướng khác.

2.- Tôi muốn trở lại đôi chút chuyện các ông nghè thuở xưa :
Trước hết là cái tên gọi: « tiến sĩ ». Theo tôi hiểu, thì khác với các nước công nghiệp đã phát triển đã có truyền thống và kinh nghiệm từ lâu, vấn đề « đào tạo qua nghiên cứu » là vấn đề mới mẻ đối với người Việt Nam. Cái tên « tiến sĩ » dùng ngày nay – vì nó là học vị cao nhất thuở xưa của người Việt Nam – được đem ra dịch chữ doctor/docteur, xét gốc gác tiếng la-tinh, doctus là nhà bác học, trong khi đó « tiến sĩ » thuở xưa của ta có nghĩa là người được « tiến lên vua », mà trong cách được đào tạo và thi cử, chẳng có liên quan gì với « đào tạo qua nghiên cứu » cả. Viết câu này, không phải là tôi thiếu trân trọng đối với các ông nghè thuở xưa của ta (4). Nhưng tôi muốn nói là quan niệm về học hành thi cử ở ta thuở xưa thì thật là khác với « đào tạo qua nghiên cứu », khác ở chỗ là không đặt trọng tâm vào sáng kiến phát minh ra cái mới, mà đặt trọng tâm vào sự học nhiều, hiểu nhanh, biết rộng, thuộc sách, trả bài đúng ý người ra đầu bài, ... và cái quan niệm đó đã ăn sâu vào suy nghĩ của một số người Việt Nam hay gốc Việt Nam đến tận nay. Điều này làm tôi liên tưởng đến cụm từ la-tinh doctus cum libro, mà nghĩa đen là « thông thái qua sách » và nghĩa bóng là để chỉ « những người không tự mình suy nghĩ được, phải qua sách vở mượn những ý của người khác, để phô trương sự hiểu biết của mình ». Ngày xưa đâu có chỗ cho kết quả phát minh khoa học trong quan niệm thi tiến sĩ !
Từ thời vua Lê Thánh tông (thời đó mới bắt đầu có lệ bia đá bảng vàng, khắc tên tiến sĩ trên bia đá), Văn miếu Hà Nội chủ yếu là nơi thờ Khổng tử, Chu công, Tứ phối (Nhan tử, Tăng tử, Tử tư, Mạnh tử) và thất thập nhị hiền (72 người học trò giỏi của Khổng tử) đều là người Trung Hoa. Còn Chu Văn An người nước ta chỉ được thờ phụ và các ông tiến sĩ Việt Nam được khắc tên trên bia đá kia, cũng chẳng phải là được tôn vinh đúng mức. Tôi không phải là Hồng vệ binh Trung quốc « đả Khổng » ; tôi cũng rất tôn trọng một phần giá trị tư tưởng của ông Khổng, nhưng tôi cũng đã có ý khác (5).
Có ý cho rằng : Nếu muốn lập một Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại để vinh danh các tiến sĩ ngày nay, thì nên lập một miếu chính có bài vị để trước hết thờ ông « Thần Tài » – « Tài » đây là « tiền tài », không phải là « tài giỏi » – thứ đến là thờ mấy ông thánh phương Tây và thánh phương Bắc tổ sư của những thuyết kinh tế thị trường « không định hướng » hay kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, rồi mới đến việc khắc bia đá hoa cương ghi tên mấy ông tiến sĩ hiện đại. Lại cũng có ý cho rằng : trong « tứ linh » (long, li, qui, phượng), chỉ có con Rùa là con vật có thật ; người xưa chuộng nó vì tuổi thọ của nó, nhưng vào thời hối hả kinh doanh làm giàu, thì e rằng Rùa lại tượng trưng cho sự chậm chạp lề mề, không biết có xứng đáng để đội bia thời nay không.

3.- Riêng tôi, chỉ xin luận như sau : Di sản có sẵn như Văn Miếu, thì bảo tồn là phải. Còn ngày nay, như ở mọi nước, tài liệu về các công trình khoa học, kỹ thuật hay văn hóa, thì đã có thư viện (nhà nước) là nơi có nhiệm vụ bảo quản ; các di vật quí thì đã có bảo tàng (nhà nước) có nhiệm vụ làm nơi gìn giữ và trưng bày (6). Vả lại, trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay trên toàn thế giới, cuộc sống ở Việt Nam không phải là dễ dàng gì. Ngay cả đến các trường học công lập ở mọi cấp cũng đang thu học phí cao ; nhiều gia đình lao đao về tài chính cho con đi học. Vậy thì cần gì phải có riêng một Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại ? Trừ phi tư nhân muốn xây dựng một thứ khu vực vui chơi giải trí kiểu Disneyland, đem trưng tên mấy ông nghè hiện đại vào đó cho có vẻ văn hóa để kinh doanh lợi nhuận, thì đó lại là một chuyện khác. Mà đã là tư nhân thì tôi không tin là họ có mục tiêu « phi lợi nhuận ». Nếu họ muốn đóng vai trò Mạnh Thường Quân, thì thiếu gì đề án để giúp cho nền nghiên cứu khoa học Việt Nam trở nên nghiêm chỉnh. Tôi còn nỗi lo là tư nhân loại này được Nhà nước cho hưởng những điều kiện ưu đãi, như hưởng đất đai của công, để thực hiện Trung tâm này, trong khi lẽ ra nên ưu tiên cho nhiều việc ích lợi hơn.

Một điểm cuối cùng mà tôi muốn nêu là : hiện nay ở nước ta có một khuynh hướng không văn hóa lắm, là vơ được tên ai, địa chỉ của ai, thì cứ tự tiện sử dụng công khai mà không hỏi sự đồng tình đương sự, như thường thấy nở rộ trên các « diễn đàn » trên mạng. Nghe đâu như dự án « Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại » này sẽ không tự tiện dùng tên những người không đồng ý, mà chỉ trưng tên những vị (hay qua thân nhân của các vị) tự nguyện trao tặng công trình của mình ; nếu quả vậy, thì cũng là một điểm đáng ghi nhận. Vả lại, đề án 2 vạn tiến sĩ vẫn còn đó, trong tương lai thiếu gì tiến sĩ mong được ghi tên trên những bia đá hiện đại đó (7).

Tôi là kẻ có học vị và chức vụ ở nước ngoài ; định cư ở nước ngoài đã lâu, lập nghiệp, và đã nghỉ hưu. Tôi ghi bằng cấp và chức vụ trước đây của tôi, khi ký tên là tác giả bài này, vì tôi tôn trọng độc giả, bằng cách chứng tỏ rằng tôi cũng có chút kinh nghiệm nghề nghiệp thực sự để phát biểu, chứ không phải là khoe mẽ. Tôi lấy lòng thành mà nêu ý kiến trước công luận, vì thanh danh của quê hương cũ, không hề có ý vô cớ mỉa mai. Còn coi đây là lời can (việc thành lập) hay không – nhưng tất nhiên không phải là lời đồng tình – thì xin để tùy ý người đọc xét.

Bùi Trọng Liễu
Tiến sĩ Nhà nước
Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)


Chú thích :

(1) Xin xem bài báo « Vài suy nghĩ chung quanh vấn đề đào tạo qua nghiên cứu » của tôi đăng trên tạp chí Tia Sáng, số tháng 11/1998, trên Thời Đại số 3, 1999, và trong cuốn sách « Chung quanh việc Học », nxb Thanh Niên 2004, và cũng có trên trang mạng của tôi http://www.buitronglieu.net. Để tránh cho người đọc khỏi mắt công tìm kiếm, tôi xin tóm tắt mấy ý chính tại đây :
Trong một xã hội đang trên đà phát triển, nhu cầu cần giải đáp các vấn đề mới nảy sinh, làm cho vấn đề « đào tạo qua nghiên cứu » trở nên quan trọng. Vấn đề chính – về mặt chiến lược – là quan niệm mục tiêu của luận án tiến sĩ là gì và thế nào là một khối lượng vừa phải cho một luận án. Về mặt này, có thể sơ bộ tóm tắt hai khuynh hướng chính:
(a) Một khuynh hướng coi bằng tiến sĩ là một học vị đánh giá một công trình tương đối « nặng», của người đã dày công nghiên cứu thực hiện công trình đó, bảo đảm một học lực thâm thúy và một trình độ « cao ». Mặt nào, có thể coi đó là có tính cách « thưởng công » cho những cá nhân xuất sắc, có khi đã ở tuổi trung niên già dặn, đã « kết thúc » một giai đoạn nghề nghiệp nghiên cứu, mang lại một sự rạng rỡ cho bản thân và phần nào cho nền học thuật bản xứ. Đó là khuynh hướng thấy trong hệ thống đào tạo của một cựu siêu cường (Liên Xô), mà trớ trêu, thể chế trên nguyên tắc là hướng về lợi ích tập thể... Có lẽ cũng cần tóm tắt nói thêm là trong khuynh hướng này, vì chặng đường tiến tới học vị tiến sĩ « nặng » này là con đường dài, cho nên có một chặng trung gian (học vị « phó tiến sĩ », Kandidat), cho nên trước đây ở Việt Nam ta còn gọi là « hệ hai bằng » (một bằng tiến sĩ lớn Doctor và một bằng « phó tiến sĩ » Kandidat).
(b) Một khuynh hướng coi bằng tiến sĩ là một học vị chứng nhận khả năng của đương sự, qua công trình của mình, đã biết thực hiện nghiêm túc một đề tài nghiên cứu, « mở đầu » cho chặng đường nghề nghiệp nghiên cứu còn dài. Mặt nào, có thể coi đó là khuynh hướng trọng lợi ích chung của xã hội: học vị tiến sĩ được coi như một hộ chiếu để đi vào đời lao động trí óc, góp phần giải đáp những vấn đề của xã hội đang phải giải quyết. Theo khuynh hướng này, chỉ có một học vị tiến sĩ (nói gọn, còn được coi là khuynh hướng kiểu Mỹ với học vị Ph.D.).

(2) Trong bài « Xin can », nhà văn Nguyên Ngọc có nêu trường hợp ông Tạ Quang Bửu. Về phần tôi, tôi xin trích ở đây ý riêng của tôi – (một đoạn của bài báo của tôi « Nghĩ tới giáo dục, lại nghĩ tới ông Tạ Quang Bửu », sắp đăng toàn bộ trên một tạp chí trong nước). Tôi viết :
« Không nên lẫn lộn sự học giỏi, bằng cấp cao và sự nghiệp. Trường hợp lịch sử của vua Quang Trung ở nước ta có lẽ là điển hình nhất. Và trường hợp lịch sử ở thế giới thì đầy dãy. Không thiếu gì thí dụ trong lịch sử Đông hay Tây, người tư lệnh không cứ phải là người xung kích, người chỉ huy không cứ phải là người xạ thủ. Ông Bửu không phải là nhà nghiên cứu khoa học, theo nghĩa phát minh ra cái mới trong khoa học, nhưng ông là một nhà tư lệnh kiệt xuất trong việc thâm hiểu quản lý tổ chức, có tài dự báo, cho nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Thuở 1975-1976, chiến tranh đã chấm dứt, có nhiều triển vọng để nền giáo dục đại học và nền khoa học nước nhà tiến được một bước dài. Tôi không biết rõ những lý do khiến ông phải nghỉ hưu, trong khi nền giáo dục đại học lúc đó đang cần một người lãnh đạo đặt nền móng và đưa nó vào một quĩ đạo phù hợp. Đã đành rằng kinh tế lúc đó rất khó khăn, nhưng có những điều không phải là không thể thực hiện được. […]. Đã 33 năm trôi qua; một khoảng thời gian quá dài đã bị bỏ uổng. Nghĩ tới ông, tôi có cảm tưởng như nghĩ tới một trang sử đầy triển vọng, nhưng đang viết được nửa chừng thì bị bỏ dở [...]. Năm 1981, lần cuối tôi về nước, với tư cách trưởng một Đoàn đại biểu trí thức Việt kiều ở Pháp – do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tên gọi Phó Thủ tướng thời đó) Võ Nguyên Giáp và Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước mời về để: nghe và trình bày ý kiến của mình về chính sách khoa học và kỹ thuật, đặt cơ sở cho việc đóng góp chuyên môn sao cho có hiệu quả và năng suất của đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài với đất nước. Tuy rất bận, tôi có tới thăm ông Bửu ở nơi ông đang dưỡng bệnh; ông thủng thẳng rủ tôi lên bờ đê sông Hồng nói chuyện. Lúc đó ông đã nghỉ hưu từ 5 năm. Cảm tưởng riêng của tôi là tuy không nói ra, nhưng hình như ông và tôi đều có chung một chút luyến tiếc cho nền giáo dục đại học nước nhà, dường như hai chữ “Nếu như” đang nghẹn đâu trong cổ [...] ».

(3) Thí dụ theo hệ thống Liên Xô, có Doctor (tiến sĩ) và Kandidat (phó tiến sĩ), rất quen thuộc với người trong nước. Nhiều người biết rằng có những luận án tiến sĩ chẳng có giá trị khoa học gì, trong khi có những luận án phó tiến sĩ lại có nội dung xuất sắc.
Một thí dụ khác là thí dụ của Pháp, thuở trước (trong các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn) : có Docteur d’Etat (Tiến sĩ Nhà nước), điều kiện tối thiểu để làm ứng viên giáo sư đại học ; có Docteur de 3ème cycle ở mức độ « nhập môn » nghiên cứu, điều kiện tối thiểu để làm ứng viên chức giảng viên (maître-assistant) ; có Doctorat d’Université không cần có bằng cấp cơ bản (nghĩa là bằng này không có tác dụng trong việc làm ứng viên cho một vị trí nào trong đại học Pháp ; khác nghiên cứu viên trong Trung tâm nghiên cứu CNRS của Pháp, không có qui lệ chặt chẽ về bằng cấp, mà chủ yếu nhắm công trình nghiên cứu). Từ cải cách (luật Savary) 1984, sang năm 1985 chỉ còn một Doctorat ở mức tú tài+8, chuẩn châu Âu; bằng Docteur d’Etat (Tiến sĩ Nhà nước) được thay bằng HDR (Habilitation à Diriger des Recherches) là điều kiện tối thiểu để làm ứng viên giáo sư đại học. (Giữa Docteur d’Etat ngày trước và HDR ngày nay, cũng có chút khác biệt: luận án Docteur d’Etat là một khối nặng công trình với đề tài thuần nhất, trong khi HDR có thể là một khối công trình với nhiều đề tài khác nhau đồng thời phải có bằng docteur « tú tài+8 » ngày nay). Ở đây, tôi chỉ nêu tóm tắt, không đề cập đến các ngành như Y với thời gian đào tạo dài hơn (nhưng có HDR), hoặc Luật, vẫn giữ Agrégation de l’Enseignement supérieur chưa chuyển sang thành lập HDR, vv. Rốt cục, là để nói lên sự phức tạp của sự tương đương bằng cấp, mà lẽ ra những nhà quản lý Giáo dục đại học phải hiểu và biết « điều tiết ».

(4) Tôi cũng có một cụ tổ trực tiếp bên ngoại, là cụ Nguyễn Như Đổ, bảng nhãn (nghĩa là đệ nhất giáp tiến sĩ, đệ nhị danh) tên khắc thứ nhì trên tấm bia thứ nhất trong Văn miếu Hà Nội. Tôi không dám xấc với tổ tiên.

(5) Xin xem « Gửi ông Khổng tử », trong chú thích (16) bài của tôi « Chuyện kể từ nước ngoài về nhà toán học Hoàng Tụy »
http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/nha-toan-hoc-hoang-tuy/
cũng có trong chương 7 của cuốn sách của tôi « Học một sàng khôn », nxb Tri thức 2007 và trên trang mạng http://www.buitronglieu.net của tôi.

(6) Có người hỏi vấn đề bảo tồn di sản các công trình của những nhà nghiên cứu không học vị tiến sĩ thì sao ? Câu hỏi nêu ra cũng để nói lên sự nghịch lý của sự thành lập « Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại » nói trên. Vì thế nên tôi mới nhắc là tài liệu về các công trình khoa học, kỹ thuật hay văn hóa, thì đã có thư viện; các di vật quí thì đã có bảo tàng. Tôi cũng xin kể thêm một chi tiết. Thuở tôi kiến nghị lập lại chức danh giáo sư, tôi nghĩ rằng đối với những vị có công trình xứng đáng, thì không nên câu nệ, nhưng nên có một hình thức đặc biệt công nhận cho các vị đó học vị tiến sĩ trước đã (giống kiểu HDR kể trên), rồi sau mới công nhận chức danh giáo sư để sau đó tránh khỏi những sự phức tạp, như việc có giáo sư và giáo sư tiến sĩ ngày nay. Tiếc rằng lỡ dịp ; trót một bước lầm thì không sửa được nữa.
Cũng nhân dịp này, nói thêm là ở Pháp : giáo viên tiểu học thì gọi là « professeur des écoles », giáo viên trung học thì gọi là « professeur des collèges et des lycées », giáo sư đại học thì gọi là « professeur des universités ». Trong giao tế, thì chữ gọi tắt « professeur » là để chỉ loại « giáo sư đại học » (có chức vụ hẳn hoi trong một đại học, có sắc lệnh bổ nhiệm của tổng thống Pháp đăng trên Công báo). Còn những ai được thuê giảng dạy vài giờ trong đại học thì không gọi là « professeur ».

(7) Tuy nhiên, bao giờ có đủ số 2 vạn tiến sĩ, thì lại là một vấn đề khác. Tôi nhớ mang mang là trước đây, mốc thời gian đặt cận kề ; nay mốc thời gian được ghi là 2020. Nếu 2020 không đạt thì sẽ lại đẩy mốc thời gian xa hơn. Khó gì đâu.Ta đã quá quen với kiểu khẳng định này rồi.
Để nói rõ ý hơn, tôi xin ví von một chút trong thời kinh tế thị trường ngày nay :
Từ mươi năm nay, vợ chồng tôi thỉnh thoảng đi ăn mì « mằn thắn » ở một tiệm Tàu ở Paris. Tôi rất trung thành với tiệm này và món này, vì ăn hợp khẩu vị. Giá cả món này ở tiệm này từ thuở đó đến nay hầu như không tăng, nhưng thuở đầu tôi đếm trong bát mì có đúng 10 miếng ; cách đây vài năm, bát mì chỉ còn 9 miếng ; ngày nay bát mì chỉ còn 8 miếng. Tôi đoán là sắp tới, bát mì sẽ chỉ còn 7 miếng. Lại một chuyện ví von khác : gần đây ở Pháp, khi kiểm tra thực phẩm, thì phát hiện rằng giá một số gói bánh ngọt không tăng, nhưng trọng lượng thì « lén » giảm (thí dụ như trước là 300g nay chỉ còn 280g). Bị chất vấn, chủ hãng giải thích rằng : lý do giảm trọng lượng vì giá nguyên liệu tăng chỉ là thứ yếu ; lý do chính là vì lợi ích của nhân dân : lúc này quá nhiều trẻ em « béo phì » (obèse) ; giảm trọng lượng gói bánh tức là góp phần bảo vệ sức khỏe của chúng. Trả lời khéo quá ! Chỉ tiêu và con số, cũng thiên biến vạn hóa lắm.


Bùi Trọng Liễu
Tiến sĩ Nhà nước
Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)

Tiếc cho Hàn Sinh bị nấu Bùi Trọng Liễu

Tiếc cho Hàn Sinh bị nấu


Bùi Trọng Liễu


Trong một thời gian rất dài, ta và Trung quốc là nước đồng văn. Lại nghe nói rằng 70% từ tiếng Việt mượn âm của vùng Trường An thời Đường thời Tống . Văn học ta thuở xưa dùng rất nhiều điển tích Tàu, cho nên “nhắc” (1) chuyện Tàu cũng không phải là quá lố.

Câu chuyện Hàn Sinh (2) là như thế này (theo Sử ký của Tư Mã Thiên, bản dịch của Nhữ Thành, nxb Văn Học Hà nội 1988):

Sau khi Tần Thủy hoàng chết, người con thứ là Hồ Hợi theo mưu kế của hoạn quan Triệu Cao, bức tử người anh là thái tử Phù Tô, rồi lên ngôi tức là Tần Nhị Thế. Vì chính sách nhà Tần quá khắc nghiệt, dân chúng oán hận. Khoảng năm 209 trước Công nguyên, Hạng Vũ (người đất Sở, sau là Tây Sở Bá vương) và Lưu Bang (người đất Bái, sau là Hán Cao tổ) khởi binh, diệt được nhà Tần (khoảng năm 206 trước Công nguyên). Lẽ ra, đã có lời giao ước: ai mang quân vào trước lấy được đất Quan Trung (nơi có kinh đô Hàm Dương của nhà Tần, sau gần đó cũng có kinh đô Trường An, nay là Tây An) thì được làm vua nơi ấy. Lưu Bang vào trước, nhưng ít quân hơn Hạng Vũ, nên phải chịu lép vế nhường cho Hạng Vũ. Nhưng đấy không phải là chuyện chính mà tôi muốn nói, chuyện tôi muốn nói là đoạn sau đây.

Sau khi đã đem binh vào thành Hàm Dương, giết vua Tần Tam Thế (đã đầu hàng), đốt cung A Phòng, thu của cải châu báu, gái đẹp, Hạng Vũ muốn đem quân về phía đông. Có Hàn Sinh khuyên Hạng Vũ rằng : “Đất Quan Trung bốn phía có núi sông che chở, đất đai phì nhiêu, có thể đóng đô ở đấy để xây dựng nghiệp bá”. Hạng Vũ không nghe. Hàn Sinh thất vọng, trở ra, nói lén : “Người ta nói rằng người nước Sở giống như con khỉ đội mũ người ; quả thực là đúng”. Hạng Vũ biết được, sai bắt Hàn Sinh bỏ vào vạc dầu mà nấu cho chết.

Câu chuyện này tuy ngắn, nhưng có thể rút ra mấy điều :

Trước hết, có nguồn cho rằng Hàn Sinh ngụ ý nói con khỉ bắt chước hình thức, đội mũ (và mặc “lễ phục” (?) ) như người, nhưng chỉ chốc lát thì bản chất của nó cũng sẽ lộ ra, về tri thức khỉ vẫn chỉ là khỉ. Câu nói đó rất là nặng. Người Pháp có câu “L’habit ne fait pas le moine” (dịch thoát nghĩa là: “Bộ áo thày tu chẳng có thể biến người mặc thành tu sĩ được” cũng na ná ý nghĩa như câu nói của Hàn Sinh, nhưng nhẹ nhàng hơn về cách phát biểu . Xưa, ta cũng có hai câu : “ Nhác trông ngỡ tượng tô vàng ; Nhìn ra mới biết chẫu chàng ngày mưa” (3) – mà ngày nay có thể không mấy ai nhớ – còn nhẹ nhàng hơn nữa. Nhưng tiếng ta thời nay thì cũng có nhiều từ liên quan đến cái ý của Hàn Sinh : đồ nhái, đồ lừa để phô trương kỷ lục, bằng cấp dỏm, danh hiệu tiếm xưng, ngồi nhầm lớp, đứng nhầm lớp, ngồi nhầm ghế, vv.

Thứ nhì là, theo người xưa, lời khuyên của Hàn Sinh là hợp lý. Taị Hạng Vũ không nghe, cho nên đó là một trong những nguyên nhân Hạng Vũ bị thua trong vụ Hán Sở tranh hùng, rốt cục phải tự tử chết. Cũng có ý cho rằng Hạng Vũ vốn là người dũng mãnh, phá thì giỏi, nhưng xây dựng thì kém, cho nên lúc đầu thì thắng, sau thì thua (4).

Thứ ba là, Hàn Sinh, sống ở thời đó, chỉ vì cái lời khuyên nơi đóng đô thôi, mà bị nấu. Giá như sống ở thế kỉ 21 này, thì thiếu gì chuyện để khuyên can, mà chẳng lo bị nấu. Chẳng phải là vì thời nay không có những thể chế độc đoán hơn thời xưa. Nhưng thời nay có những phương tiện kỹ thuật truyền thông mà thuở xưa không có, thí dụ như muốn phát biểu ý kiến, hay hay dở, thì đã có những trang mạng ; bình thường thì cứ ký tên thật, gặp cảnh éo le, thì ký bút hiệu hay nặc danh, chẳng sợ ai nấu.

Vì thế mà tôi tiếc cho Hàn Sinh, chẳng những vì bị nấu, mà còn vì lời khuyên can không được nghe.

Chú thích :

(1) Tôi dùng chữ “nhắc” là vì tôi cũng đã kể vài đoạn trong các cuốn sách của tôi. Ai muốn biết thêm chi tiết, xin mời mở đọc trong trang mạng : http://www.buitronglieu.net

(2) Có nguồn cho rằng, theo sách Tiền Hán thư, thì người thuyết khách này là Hàn Sinh, còn theo sách Hán Sở Xuân Thu thì người này là Thái Sinh. Nhưng tên gọi không phải là vấn đề chính.

(3) Tôi không biết tình hình con chẫu chàng ngày mưa nó như thế nào. Nhưng cũng có thể là nó cùng ý với hai câu ví thưở xưa: [Thuở mới cưới (?)] “Gái có chồng như rồng gặp mây. Trai có vợ như cò bợ gặp mưa”.

(4) Thời tranh hùng, có lúc Hạng Vũ bảo Lưu Bang : "Mấy năm nay thiên hạ xao xuyến khốn khổ vì hai chúng ta ; nay quyết một phen sống mái, không nên làm khổ nhân dân thiên hạ nữa". Lưu Bang trả lời: "Ta chỉ đấu trí, không thèm đấu lực". Rốt cục là cái trí thắng cái lực, chứ cũng chẳng phải vì nhân nghĩa gì hơn nhau.

Lưỡi không xương Bùi Trọng Liễu

Lưỡi không xương

Bùi Trọng Liễu


Có một thời, người ta ngán ngẩm với “lưỡi gỗ” – dịch từ tiếng Pháp “langue de bois”, tuy có ý cho rằng đây là dịch không chỉnh (1), “langue” đây lẽ ra là “ngôn ngữ”; tuy vậy tôi ưa cụm từ “lưỡi gỗ” vì nó mang theo một hình ảnh độc đáo. Nhưng “lưỡi gỗ” sánh thế nào nổi với “lưỡi không xương” mà người xưa đã đánh giá là “trăm đường lắt léo”.

Trong sách “Lã thị Xuân Thu”, có câu chuyện sau đây:
Nước sông Vĩ dâng to. Có một gia đình giàu, có người chết đuối. Có kẻ vớt được xác, đòi chuộc xác. Gia đình nhà giàu xin chuộc, nhưng kẻ kia đòi số tiền to. Đôi bên mặc cả đắt rẻ. Người nhà giàu vấn kế Đặng Tích, Đặng Tích bảo: “Cứ kệ nó; nó không bán được cái xác ấy cho ai đâu”. Kẻ vớt được xác, thấy gia đình kia làm ngơ, đâm lo, hỏi kế Đặng Tích. Đặng Tích bảo: “ Cứ kệ nó; nó không mua được cái xác ấy của ai đâu”. Tài thật! Cũng cùng một sự việc, cùng một lời gà, chỉ cần thay đổi chữ “bán” và chữ “mua”.

(Nhắc lại “Lã” đây là Lã Bất Vi, là một lái buôn rất có tài cuối thời Chiến quốc. Nói theo ngôn ngữ thị trường ngày nay, Lã Bất Vi lập một “công ty cổ đông”, tuy chỉ có hai người có “cổ phần” thôi là Lã Bất Vi và vợ lẽ là Triệu Cơ – chồng góp tiền bạc, vợ góp thân thể – với mục tiêu là buôn một món hàng đặc biệt – “buôn người”, mà lại là người quí (Tử Sở cháu vua Tần), để rồi gặt được món lãi lớn vô cùng : đó là đưa được con của Triệu Cơ lên làm vua Tần, tức là Tần Thủy hoàng sau đó, lấy được cả nước Tàu. Lã Bất Vi làm thừa tướng; Triệu Cơ thành thái hậu, hàm ông lớn, của bà to, vv. Chuyện này (2) có kể trong Sử ký của Tư Mã Thiên và sách Đông Chu Liệt Quốc, thực hư bao nhiêu không rõ, dù khó tin nhưng là một chuyện hay. Theo truyền thuyết, khi Lã Bất Vi quyền cao chức trọng, giàu sang không ai bằng, rồi phú quí sinh lễ nghĩa, nuôi tân khách trong nhà đến cả mấy nghìn, sai họ soạn những điều mình biết, cho rằng đủ hết cả việc trời, đất, muôn vật, xưa nay, hơn hai mươi vạn chữ, gộp thành sách, đặt tên là “Lã Thị Xuân Thu”. Cuốn sách là có thật, nhưng những ai là tác giả và viết thời nào, thì …?).

Nhưng về tài biện luận, Đặng Tích còn kém xa một số người Việt Nam ngày nay, quan chức hay không. Mấy vị này không cần thay một chữ nào trong cùng một câu phát biểu mà vẫn diễn giải được uốn éo theo ý mình, tùy cơ. Tôi xin nhắc lại vài thí dụ:
Khăng khăng đưa kiểu thi trắc nghiệm (chọn một lời giải đúng lẫn trong đám nhiều giải đáp sai) mà vẫn cả quyết là kiểm tra nâng cao tính suy luận. Dự tính gộp thi “2 trong 1” mà lại giải thích là phân biệt được đặc thù của 2 kỳ thi (một đằng là công nhận trình độ kiến thức kết thúc Trung học phổ thông, một đằng là lựa chọn theo khả năng vào đại học, học tiếp theo một số chuyên ngành) . Tăng học phí, học sinh bỏ học tràn lan, mà lại là bảo đảm công bằng giàu nghèo. Cổ phần hóa trường công mà lại là bảo vệ tài sản quốc gia; biến một phần trường học thành công ty cổ đông mà lại là vô vị lợi. Quyết tâm nâng tỉ số nhà giáo đại học có luận án tiến sĩ có trình độ, nhưng lại mở vung vãi rất nhiều đại học chưa có đủ tiêu chuẩn, trong khi đề án 2 vạn tiến sĩ chưa thấy dấu hiệu khả thi. Bao nhiêu cái “nói không” mà rốt cục vẫn là “có”. “Xã hội hóa” : vậy mà không phải vậy, vv. và vv.

Xếp tài ngụy biện học đường,
Thì giành giải nhất chứ nhường cho ai!

Chú thích :

(1) Theo ý này, lẽ ra trong ngôn ngữ chính trị Việt Nam, cụm từ “văn bia” mới gần với nghĩa langue de bois nhất. Tiếng Anh-Mỹ là có lẽ là Orwellian Language.

(2) Cuối thời Chiến quốc (từ 479 trước Công nguyên đến 220 trước Công nguyên), cha con Lã Bất Vi là nhà buôn lớn. Thuở ấy, vua Tần lập con là An Quốc quân làm thái tử. An Quốc quân có hơn hai mươi người con, nhưng người vợ yêu là Hoa Dương phu nhân lại không có con. Trong đám những người con kia, có Tử Sở mà mẹ không được vua Tần yêu, nên bị gửi làm “con tin ” ở Hàm Đan nước Triệu, sống trong tình cảnh lo âu, thiếu thốn. Lã Bất Vi mới bàn với bố rằng : “ Nhà ta buôn bán đã quen, nhưng chưa bao giờ có món hàng quí [chỉ Tử Sở] như thế này, có thể buôn được đây ” .

Thế rồi mới nói với Tử Sở, đại ý rằng : “ Vua Tần đã già ; mất đi thì An Quốc quân sẽ nối ngôi. An Quốc quân rất yêu Hoa Dương phu nhân ; phu nhân không có con ; nhưng chỉ phu nhân mới lập nổi con thừa tự. Anh em ngài, cùng cha khác mẹ, hơn hai mươi người, ngài lại là con giữa, lại làm con tin ở nước ngoài, khó hy vọng sau này được nối ngôi. Nay tôi xin bỏ ngàn vàng, vì ngài mà sang Tần nói An Quốc quân và Hoa Dương phu nhân, lập ngài làm con thừa tự ” . Tử Sở mừng lắm, cám ơn, và hứa : “ Nếu được như mưu của ông thì sau này cùng nhau hưởng nước Tần ”.
Lã Bất Vi liền đem vàng cho Tử Sở tiêu dùng, rồi mình lại mua sắm của báu vật lạ, sang Tần đút lót cho người thân cận của Hoa Dương phu nhân để dâng lễ vật, và thưa với phu nhân rằng : “ Nhan sắc cũng có lúc tàn, tình yêu thương cũng có thể phai nhạt. Phu nhân đang được An Quốc quân yêu, sao không nhân lúc này chọn một người hiền hiếu, nhận làm con nuôi, xin lập làm con thừa tự. Như thế, khi chồng còn, phu nhân được tôn quí ; khi chồng mất đi, con phu nhân được làm vua, phu nhân sẽ không thất thế. Nay Tử Sở là người hiền, lại vẫn quí trọng phu nhân, nên nhận cậu ta làm con thừa tự thì suốt đời phu nhân sẽ có quyền thế ”. Hoa Dương phu nhân cho là phải ; nhân dịp thư thả, mới nỉ non với An Quốc quân, xin nhận Tử Sở làm con của mình và cho làm người thừa tự. An Quốc quân nhận lời, cùng phu nhân nhờ Lã Bất Vi trở về Triệu giúp đỡ Tử Sở.

Nhờ có tiền bạc của Lã Bất Vi, Tử Sở tiếp đãi tân khách, từ đó nổi tiếng với chư hầu. Lã Bất Vi là con buôn có mánh lới, muốn dùng món lạ để câu, mới kén trong số vợ của mình một người tuyệt đẹp, múa khéo là Triệu Cơ, biết người này đã có mang với mình, nhưng giữ kín ; lại bày mưu mời Tử Sở sang chơi nhà mình, đãi tiệc, gọi Triệu Cơ ra múa và chuốc rượu. Tử Sở trông thấy, đem lòng mê, nài xin Lã Bất Vi cho mình. Lã Bất Vi bàn với Triệu Cơ nhận lời, hẹn nhau nếu người con đang trong bụng là con trai thì sau này sẽ có ngày làm vua ; rồi dâng Triệu Cơ cho Tử Sở. Tương truyền rằng vì người con trong bụng Triệu Cơ đó là quí nhân, nên quá tháng mới sinh ra ; Tử Sở ngỡ là con mình, đặt lên là Chính, lập Triệu Cơ làm phu nhân. Mấy năm sau, nước Tần đem quân xâm chiếm đất của nước Triệu, tính mạng Tử Sở bị đe dọa ; Lã Bất Vi đem vàng đút lót cho kẻ canh giữ, để Tử Sở trốn thoát khỏi Triệu về Tần. Được vài năm, vua Tần chết, An Quốc quân nối ngôi làm vua, phong Tử Sở làm thái tử, được một năm thì vua chết. Tử Sở nối ngôi, tức là vua Trang Tương vương, cho Lã Bất Vi làm thừa tướng, phong tước Văn Tín hầu, ăn thuế mười vạn hộ. Tương truyền, Trang Tương vương làm vua được ít lâu, bị bệnh ; Lã Bất Vi dâng thuốc, vua chết. Thái tử Chính lên làm vua, tức Tần Thủy hoàng sau này ; Triệu Cơ là mẹ vua, làm thái hậu ; Lã Bất Vi làm thừa tướng. Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu cùng Lã Bất Vi lén lút nối tình cũ, thông dâm.

Khi vua Tần đã lớn, mà Thái hậu cứ dâm loạn mãi, Lã Bất Vi e bị lộ, mình sẽ mang vạ, nên mới lập kế, sai người ngầm tìm được kẻ tên là Giao Ái (có người phiên âm là Lao Ái), có dương vật lớn, được nhiều “dâm phụ” – xin lỗi các bà các chị , từ ngữ này không phải của Liễu tôi – trong vùng ái mộ . Lã Bất Vi dùng hắn làm người nhà ; làm trò vui, sai Giao Ái lấy vật của mình xỏ vào bánh xe, bánh xe quay tít mà vật không xìu ; lại khiến người lén kể chuyện cho thái hậu biết để nhử ; quả nhiên thái hậu mừng rỡ, muốn được riêng Giao Ái. Lã Bất Vi vờ sai người tố cáo Giao Ái phạm tội đáng thiến, ngầm đút tiền cho viên quan coi việc thiến, giả thiến, rồi lại nhổ râu mày cho Giao Ái, cho làm hoạn quan. Thái hậu cùng y gian dâm, rất yêu, rồi có chửa, sợ việc tiết lộ, vờ viện cớ thày bói khuyên tránh điềm dữ, dời cung sang đất Ung. Lại viện cớ Giao Ái theo hầu có công, phong cho làm Trường Tín hầu. Sau có kẻ phát giác, Giao Ái sợ, bàn với Thái hậu tính nổi loạn giết vua. Vua Tần sai tra xét, biết rõ thực tình, bắt giết ba họ nhà Giao Ái ; sai bắt hai con hoang của thái hậu, bỏ vào túi đập chết ; lại cách chức tướng quốc Lã Bất Vi, sau thấy tân khách đi lại thăm hỏi nhiều, sợ làm phản nên tính bắt đày sang đất Thục. Lã Bất Vi tự liệu rồi cũng sẽ bị giết, nên uống thuốc độc tự tử. Thái hậu bị Thủy hoàng đầy sang đất Ung, sau nhờ có Mao Tiều thuyết Thủy hoàng đón mẹ trở về Hàm Dương (không phải vì tình nghĩa mẹ con là chính, mà là vì ở ngôi cao phải làm gương về hiếu thảo để đế nghiệp được vững bền ! Thế mới là nhà chính trị có tài !).

Như vậy, “ việc buôn người ” này, tuy lãi lớn nhưng cũng không bền. Vả lại cũng còn nhiều điều nghi vấn, thực hay hư ? Tần Thủy hoàng thống nhất nước Tàu, bỏ chế độ phong kiến, vốn bị nhiều người ghét, đặc biệt là các Nho sĩ ; họ ghét vì cái vụ họ loạn bàn nên bị đốt sách chôn học trò. Mà Nho sĩ lại là bọn người sau này cầm bút viết sử, chắc gì đã không thêu dệt ra lắm điều. Sự việc lại xảy ra cách đây đã hơn hai nghìn năm, tài liệu chứng cớ không bảo đảm chắc chắn. Thí dụ như : Chắc gì Lã Bất Vi đã là bố đẻ của Tần Thủy hoàng ? Câu chuyện Triệu Cơ có mang nhưng dấu kín ; người ta thường nói chín tháng mười ngày thì đẻ, đằng này thì quá kỳ hẹn, cho rằng tại là chân mệnh đế vương, đến mười hai tháng mới đẻ, khi sinh có ánh đỏ rực nhà, trăm thứ chim bay đến lượn múa, lúc sinh ra mỗi con mắt có hai tròng con ngươi, trong miệng đã có mấy cái răng, vv. (theo sách “ Đông Chu liệt quốc ”), tôi thấy khó tin, nhưng cũng chẳng sao : thời nay thiếu gì chuyện hoang đường hơn mà có người vẫn tin, hay (bị bắt) phải tin đấy! Lã Bất Vi rốt cục không được hưởng lợi trọn một đời, cũng là chuyện có luân lý ; tôi coi là “ có hậu ”.

Sonnet d' Arvers

Sonnet d' Arvers


...làm lại từ đầu là điều bất khả, vậy chỉ có thể dựa trên bản của Khái Hưng mà võ vẽ thêm...


Sonnet, imité de l'italien


Félix Arvers



Đầu năm khai bút : Tại hạ, tuy ít có duyên với thơ, mỗi đầu năm cũng cố khai bút dịch một bài, gọi là học lấy cái đẹp trên đời này để được may mắn. Gần đây nhân đọc thấy trong một buổi tọa đàm về dịch thuật, có người nhắc đến bài thơ "Sonnet d'Arvers", nên tại hạ đã tò mò tìm xem và so với các bản dịch đọc được trên mạng. Bài này là một thí dụ điển hình cho việc dịch thơ, đã có đến ba bốn bản dịch tiếng Việt, và quả thực theo thiển ý bản dịch của Khái Hưng là tài hoa nhất. Bài mà ông đặt tên "Tình tuyệt vọng" này rất nổi tiếng ở VN thời Tự Lực Văn Đoàn, và bọn thanh niên mới lớn chúng tôi ở miền Nam đứa nào chẳng có lần bi bô "lòng ta chôn một mối tình...". Ấy là trước khi thời cuộc đổ xuống đầu bao nỗi đau khác từ đầu những năm 60... Người ta đã cho là Felix Arvers thành danh trong lịch sử văn học chỉ với một bài thơ, và phải nói bản dịch Khái Hưng ở Việt Nam cũng đã nổi tiếng như nguyên tác trên đất Pháp trong thế kỷ 19.

Tuy nhiên khi so với bản chính thấy Khái Hưng đã lược bớt một số ý và thêm vào môt số ý khác. Điều đó là tự nhiên. Nhưng cũng chính vì thế bậc tiền bối đã để lại cho kẻ hậu sinh một cơ hội học tập, có thể có một bản dịch sát nghĩa hơn mà vẫn giữ cái nhuần nhuyễn của bản dịch Khái Hưng chăng? Với tại hạ thì làm lại từ đầu là điều bất khả, vậy chỉ có thể dựa trên bản của Khái Hưng mà võ vẽ thêm. Mong được lượng thứ.

Dưới đây là nguyên tác, bản dịch nghĩa, bản dịch của Khái Hưng, và vài đề nghị sửa đổi nhỏ cho sát với nguyên tác hơn.
Hàn Thuỷ


Nguyên bản tiếng Pháp
(không có tựa)


Mon âme a son secret, ma vie a son mystère,
Un amour éternel en un moment conçu :
Le mal est sans espoir, aussi j'ai dû le taire,
Et celle qui l'a fait n'en a jamais rien su.


Dịch nghĩa


Tâm hồn tôi có điều sâu kín, đời tôi có sự bí mật
Một mối tình vĩnh cửu đã nảy sinh trong chốc lát :
Nỗi đau này không hy vọng, nên phải câm nín
Và người đã gây ra nó không hề biết

Hélas ! j'aurai passé près d'elle inaperçu,
Toujours à ses côtés, et pourtant solitaire.
Et j'aurai jusqu'au bout fait mon temps sur la terre,
N'osant rien demander et n'ayant rien reçu.


Than ôi ! tôi đi qua gần nàng mà nàng không để ý,
Luôn ở bên cạnh nàng mà vẫn lẻ loi.
Và tôi vẫn sẽ đi hết đời mình trên quả đất,
mà không dám cầu xin gì cũng như không nhận được gì

Pour elle, quoique Dieu l'ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d'amour élevé sur ses pas.


Về phần nàng, dù Thượng đế đã ban cho tính hiền thục và dịu dàng,
Nàng sẽ đi con đường của mình, lơ đãng và không nghe thấy
Lời thì thầm của tình yêu vọng lên từ dưới chân

A l'austère devoir, pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d'elle :
« Quelle est donc cette femme ? » et ne comprendra pas.




Với một bổn phận khắc khổ, sự chung thuỷ đạo hạnh,
Khi đọc những dòng này, mà toàn thể nói về nàng, nàng sẽ hỏi:
"Người phụ nữ nào đó vậy ?" và sẽ không thể hiểu ra.

Tình tuyệt vọng (*)


Lòng ta chôn một mối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay

Hỡi ơi! người đó ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi?

Người dù ngọc nói hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình

Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?

Bản dịch Khái Hưng




Tình tuyệt vọng


Lòng ta chôn một khối tình,
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu :
Tình tuyệt vọng, giấu nỗi sầu,
Mà người gieo thảm vẫn hầu không hay.

Hỡi ơi, người đó ta đây,
Bên ai hờ hững, ai hoài chiếc thân.
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Không gì trao nhận, không lần hé môi .

Nhu hoà dẫu sẵn nết trời,
Tấm lòng đã định, đường đời an nhiên.
Gót hài lơ đãng bước quên,
Dưới chân xào xạc vọng lên mối tình.

Một niềm tiết liệt đoan trinh,
Xem thơ nào biết là mình đấy thôi.
Bâng khuâng mới hỏi một lời,
Mấy dòng thơ ấy, nói người nào đây?

Bản đề nghị của Hàn Thuỷ,
dựa trên bản Khái Hưng

(*) Thật đáng tiếc trên mạng lưu hành quá nhiều dị bản. Bài này chúng tôi sao lại từ bản của Duy Lam :
http://saigontimesusa.com/bai/vanchuong/tainangdadang.shtml, trừ hai chỗ: "truyện riêng" xin viết lại thành "chuyện riêng", và "giòng thơ" thành "dòng thơ", cho hợp chính tả hiện nay. Chúng tôi vô cùng đa tạ bạn đọc nào, nếu có được bài thơ này (trong truyện ngắn "tình tuyệt vọng") trên bản in đầu, gửi cho một bản chụp để kiểm lại. Mặc dù chúng tôi tin tưởng nhà văn Duy Lam vì ông có quan hệ mật thiết với Khái Hưng, nhưng nếu có chứng từ thì vẫn hơn.

Copyright © 2006 by Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
diendan@diendan.org

Lời tạm kết -Bui Trong Lieu

Lời tạm kết





Với cuốn tạp ký như cuốn sách này, và nhất là với chương 8 về vấn đề khoa học và giáo dục, tất nhiên, tôi không thể có lời kết vĩnh viễn. Chỉ có lời « tạm kết ».

Tuy định cư ở nước ngoài, đã mấy chục năm nay, tôi đã hướng về quê hương cũ và cố gắng góp phần mình với mong mỏi cho nền khoa học, giáo dục, văn hóa được phát triển nhanh chóng lành mạnh. Tôi đã đóng góp ý kiến nhiều lần, nhiều năm, lúc đầu là điều trần với nhà cầm quyền khi chưa thể phát biểu công khai, sau là điều trần với cả nước khi đã có được khả năng đăng bài trên báo hay phát biểu qua những phương tiện truyền thông khác.

Tôi muốn dãi bày chút tâm sự : « nghĩ đi », cũng đã nhiều lần do dự, vì khung cảnh :

Nghĩ đà bưng bít miệng bình,

Nào ai có khảo mà mình lại xưng ?

(Kiều : câu 1577,1578), nhưng « nghĩ lại », vì lợi ích của đất nước dân tộc, nên đành :

Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,

Lại mang những việc tày trời đến sau.

(Kiều : câu 1513,1514).

Vì thế mà tôi đã viết mấy cuốn sách và đăng những bài báo kể sau đây :



Danh sách (không đầy đủ)

1. Sự cộng tác thân ái.

Nhân Dân 24/8/1977.

2. Góp ý về việc học,

Tổ Quốc tháng 11/1987, Nhân Dân 27/12/1987, Tuổi Trẻ 29/12/1987.

3. Giới thiệu việc thành lập một đại học không của nhà nước tại Hà Nội : Trung tâm Đại học « dân lập » Thăng Long,

Đoàn Kết số 408, tháng 12/1988.

4. Vài suy nghĩ về « công học » và « tư học »,

Tuần Tin Tức 10/4/1993, Quê Hương tháng 7/1993.

5. Kiểm lại một số ý kiến góp về việc học,

Nhân Dân chủ nhật 24/10/1993, Tuổi Trẻ Chủ Nhật 11/1993 trích đăng phần IV trên 5 phần.

6. Vài ý kiến về đại học,

Quê Hương số Xuân 1994, và Kỷ yếu Hội nghị chuyên đề Giáo dục đại học VN, Xuân Giáp Tuất.

7. Về vai trò của Nhà nước trong giáo dục đại học,

Diễn Đàn số 26, tháng 1/1994, Tia Sáng 12/1998 trích đăng một đoạn.

8. Vài suy nghĩ chung quanh vấn đề « đào tạo qua nghiên cứu »,

Tia Sáng, số tháng 11/1998, Thời Đại số 3/1999, trong mục Nhịp cầu báo Nông Nghiệp Việt Nam 17/12/2001.

9. Nhân đọc 2 lời bình về việc học của người xưa,

Thời Đại số 4/1999.

10. Vài câu hỏi về chức danh giáo sư đại học,

Tia Sáng tháng 2/1999.

11. Vài điểm trong tổ chức giáo dục đại học,

Kỷ yếu Đại học Quốc gia Hà Nội 23/9/1999.

12. Vài điểm về tổ chức giáo dục đại học nhìn từ ngoài,

Nhân Dân 1/12/1999 trích đăng một phần, và Tia Sáng số tháng 12/1999,

13. Tưởng nhớ một người thân (ông Tạ Quang Bửu),

trong Tập hồi ký nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh ông Tạ Quang Bửu « Gs Tạ Quang Bửu, con người và sự nghiệp » do Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản, năm 2000, Sài Gòn giải phóng ngày 18/11/1999 trích đăng một phần

14. Cách nào để các du học sinh trở về ?

Lao Động 26/9/2001.

15. Một viện Hàn lâm khoa học lúc này ở Việt Nam ?

trong mục Nhịp cầu của báo Nông Nghiệp Việt Nam 29/11/2001,

16. Cốt lõi của việc học là gì?

Xưa và Nay, só 91, tháng 5/2001.

17. Thoáng nghĩ về chữ Nho,

trong mục Nhịp cầu báo Nông Nghiệp Việt Nam, số Tết Nhâm Ngọ 2002, và một phần trong báo Tia Sáng số xuân, tháng 2/2002.

18. Bán hàm,

trong mục Nhịp cầu, báo Nông Nghiệp Việt Nam, 15/4/2002

19. Vài phô trương không cần thiết,

trong mục Nhịp cầu báo Nông Nghiệp Việt Nam 16/5/2002

20. « Sau đại học », một cụm từ khó hiểu,

Tia Sáng số tháng 6/2002.

21. Trình tự đảo lộn,

Tia Sáng số tháng 7/2002.

22. Hơn oan Thị Kính,

Tia Sáng tháng 9/2002.

23. Đại học sư phạm, một vấn đề khó bàn,

Tia Sáng số tháng 10/2002.

24. Du học và chất xám,

Tia Sáng số tháng 12/2002.

25. Kỹ thuật giết rồng,

Tia Sáng số tháng 2/2003.

26. Đọc cuốn sách « Giáo sư Lê Văn Thiêm »

Diễn Đàn số 131, tháng 7/2003.

27. Về giáo dục và thị trường,

Thời báo Kinh tế Sai gòn, 14/10/2004.

28. Về đào tạo và sử dụng nhân tài,

Văn Nghệ 23/10/2004, Tia Sáng đăng một phần trong số tháng 9/2004 dưới đầu đề : « Đào tạo nhân tài hay đào tạo người biết việc ? ».

29. Có thể coi Giáo dục đào tạo là hàng hóa được không ?

Văn Nghệ 19/2/2005

30. Giáo dục đại học: Những vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng,

Hội thảo Đà Nẵng : 28-30/7/2005,

đăng trên báo mạng « Thời Đại Mới » số tháng 11-2005 :

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai6/200506_BTLieu.htm

31. Thành lập một đại học mới,

Tiền Phong 14-10-2005 đăng dưới đề: « Xây dựng ĐH đẳng cấp quốc tế: Không nên vá víu!».

VietNamNet đăng lại cùng ngày.

32. Cố nhân (Nguyễn Đình Ngọc),

Viet-studies trích đăng :http://www.viet-studies.info /BTLieu_NDNgoc.htm

VietNamNet trích đăng ngày 8 và 10/8/2006 : http://vietnamnet.vn/psks/2006/08/599695/

33. Giáo dục Đào tạo: Những câu hỏi còn tồn tại,

Tiền Phong 09/11/2006, Hà Nội Mới đăng lại cùng ngày.

34. Giáo dục Đào tạo: Hai điều đáng được giải thích,

VietNamNet đăng ngày 23/11/2006 nhưng đổi đầu đề thành « Hai thắc mắc cần giải thích », và cắt đi câu cuối.

35. Nói về Giáo dục Đào tạo,

trong tập « Trong ngần bóng gương », Kỷ yếu mừng thọ GS Đặng Đình Áng 80 tuổi, nxb Tri thức, 2006.

36. Giáo dục Đào tạo : Khiêm tốn thì dễ thành công,

VietNamNet đăng ngày 9/12/2006: http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/12/642381/

37. Mong ông Bộ trưởng “nói không” với tiến sĩ rỏm,

VietNamNet 8/1/2007: http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/01/651465/

38. Giáo dục ĐH: Không "cung" với "cầu rởm"

VietNamNet 30/1/2007.

http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/01/659380/

39. « Đứng nhầm lớp » còn hại hơn « ngồi nhầm lớp », http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/05/694528/

http://www.hanoimoi.com.vn/vn/47/129980/

đăng một phần, ngày 14/5/2007.

40. Chuyện kể từ ngoài nước về nhà toán học Hoàng Tụy,

ZIDOL 26/5/2007: http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/nha-toan-hoc-hoang-tuy/

41. Lớp « Tuyển trạch hướng dẫn » trường Chu Văn An (1946),

24/7/2007, được hẹn đăng trong Kỷ yếu 100 năm trường Chu Văn An.

42. Vấn đề “người” trong Giáo dục Đào tạo hiện nay,

Hồn Việt, số tháng 7/2007.

43. Những kỳ dị đằng sau cụm từ « Xã hội hóa » giáo dục,

VietNamNet 22/7/2007: http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/721181/

44. Xã hội hóa: vài lời thanh minh,

VietNamNet 31/7/2007: http://vietnamnet.vn/bandocviet/2007/07/724433/
http://www.vietnamnet.vn/service/show_forum.vnn?forumid=151103

45. Gộp thi: hai vấn đề,

Hồn Việt, số tháng 9/2007.

46. Nhập 2 kỳ thi làm 1 và thi trắc nghiệm: Mắc vào khó gỡ,

Tiền Phong 4/10/2007.

47. Khoa học và giáo dục :Về một bài phỏng vấn không đăng toàn bộ,

Diễn Đàn 28/9/2007, http://www.diendan.org/viet-nam/toan-bo-mot-bai-phong-van/

48. Long mạch và văn hóa Việt Nam ở thời toàn cầu hóa

http://www.diendan.org/viet-nam/long-mach-o-thoi-toan-cau-hoa/

http://www.viet-studies.info/BTLieu_LongMach.htm

49. Long mạch : trả lời những câu hỏi

http://www.viet-studies.info/BTLieu_LongMach_TraLoiCauHoi.htm



Trong Lời giới thiệu cuốn sách « Tự sự của người xa quê hương » của tôi, [cố] giáo sư Nguyễn Văn Đạo có nhã ý viết : « Đóng góp ý kiến nhằm xây dựng đất tốt hơn thì nhiều kiều bào ta đã thực hiện được. Song kiên trì góp ý nhiều lần, nhiều năm như giáo sư Liễu cũng là hiện tượng hiếm thấy. Bù đắp lại, một số đề xuất của ông đã được chấp thuận và đưa vào thực hiện, nhiều thông tin chính xác về khoa học và giáo dục cũng đã được ông cung cấp kịp thời ». Mấy dòng này của anh Đạo viết, thật là lời an ủi, khích lệ tôi, nhưng sự thật không hẳn như thế. Nêu vài thí dụ, như tôi đã có dịp nhắc đi nhắc lại nhiều lần :

- Mấy tuần trước ngày chiến tranh chấm dứt, tôi có thư điều trần gửi Thủ tướng chính phủ và các bộ trưởng liên quan, kiến nghị lập lại chức vụ giáo sư đại học, phân biệt vai trò quản lý hành chính và vai trò công tác khoa học và giảng dạy, rồi tôi còn cố kiến nghị cho đến khi được thực hiện. Nhưng đến năm 1980, sau khi đã đưa ra luận bàn, rồi đưa vào thực hiện, thì thay vì « bổ nhiệm chức vụ », nó lại biến thành ra « phong hàm », với những hậu quả ngày nay quá rõ, mà chưa chỉnh lại được.

- Năm 1988, tôi viết thư gợi ý với 5 nhà khoa học trong nước đứng ra xin phép mở Trung tâm đại học « dân lập » Thăng Long, với lòng mong muốn làm gương giải quyết nhanh chóng tình trạng không ổn của nền giáo dục đại học, và hy vọng là sau đó đưa nó trở lại trong hệ công lập. Có ngờ đâu, « dân lập » đã tràn lan sang bán công, tư lập, rồi người ta lại sáng chế ra cụm từ « ngoài công lập ». Tôi đã cố hết sức can đừng để giáo dục bị kinh doanh, nhưng với xu thế « thị trường hóa » tất cả, với sự phát minh ra cụm từ « xã hội hóa » với khái niệm tù mù ẩn náu đằng sau, đã nảy ra vấn đề học phí cao so với mức sống ở ta, điều mà ít thấy ở nước khác Bỏ được sự kỳ thị qua lý lịch thành phần, thì lại xuất hiện sự kỳ thị qua tiền bạc, kèm theo với những lời giải thích khó hiểu về hiệu suất và tính công bằng trước việc học giữa người giàu và người nghèo.

- Tôi đã kiến nghị việc lập bằng tiến sĩ, và chỉ một bằng theo kiểu Mỹ, chứ không nên có 2 bằng tiến sỹ nhẹ và nặng như ở một số nước châu Âu. Mục đích là để kích thích khoa học, qua con đường mở rộng việc « đào tạo qua nghiên cứu ». Tôi cũng không ngờ là rốt cục bằng cấp này đã bị phá giá và dẫn tới sự hỗn loạn.

- Tôi đã cố can, tránh việc tôn vinh bằng cấp, danh hiệu một cách quá đáng. Thế nhưng hiện nay danh hiệu tràn lan : viện sĩ, giáo sư, tiến sĩ, danh nhân thế giới, đủ thứ tôn vinh nhầm, tiếm xưng, giả thật lẫn lộn, ở bên trong cũng như từ bên ngoài.

- Tôi đã nhiều lần kiến nghị chấn hưng giáo dục đại học qua việc thanh lọc lại đội ngũ nhà giáo, qua việc thành một vài đại học « hoa tiêu », đưa vào công việc giảng dạy đại học, những nhà khoa học thực sự có khả năng trong việc nghiên cứu, sử dụng tối đa và có hiệu quả những phương tiện sẵn có, sử dụng ngân quĩ một cách thận trọng và không lãng phí, ưu tiên chất lượng hơn là số lượng, vv. Nhưng giải pháp đã được chọn lại là gộp trường nguyên si, không có thanh lọc và không tuyển lựa nhân sự tương xứng, ưu tiên đầu tư vào việc xây cất nhà cửa hơn là trang bị học cụ, … Rồi những năm gần đây, lại cho phép mở tràn lan những đại học « cảnh » ở địa phương hầu như là để trang trí (nhưng hậu quả chơi « đại học cảnh » đâu có như chơi « chó cảnh », « cây cảnh »). Người ghi tên học để lấy bằng thì nhiều, mà số lượng nhà giáo thì chưa đủ, và chất lượng nói chung chưa tương xứng. Đề án đào tạo 2 vạn tiến sĩ cho mươi năm tới lại không đủ sức thuyết phục ; nó là một đề án khoa học, không phải là vấn đề tâm linh.

Đó là vài thí dụ trong nhiều thí dụ khác. Tôi không nói vu vơ, mà có bằng chứng là đã phát biểu, được dẫn qua những gì tôi đã đăng trên sách, báo.

Tất nhiên, như mọi người, tôi mừng trước những thành tựu của nền kinh tế nước nhà so với những ngày khó khăn cùng cực thuở xưa. Nhưng mức sống ngày nay, và sự phát triển sắp tới, có vững bền được không, nếu như nền khoa học, nền giáo dục và đào tạo không được chấn hưng ?

Nhớ lại cách đây đã hơn 30 năm, một bạn đồng nghiệp Việt kiều, lúc đó hãy còn là nghiên cứu sinh, sửa soạn về thăm trong nước. Anh ta hỏi kinh nghiệm và nhận xét của tôi, vì tôi đã là người đi trước. Tôi chỉ khuyên anh ta có một điều : đừng bao giờ nản lòng. Với thời gian trôi qua, anh ta đã là giáo sư đại học gần nghỉ hưu. Tôi ít gặp lại, nên không rõ anh ta nghĩ gì. Còn tôi, lời khuyên đó tôi cảm thấy nay nên áp dụng cho chính tôi, đã là người ngoài cuộc, vì qua thông tin, báo chí, truyền thông, thấy tình hình nước nhà đã thay đổi, tâm tư, lý luận, tư duy, giá trị đạo đức trong xã hội không còn như xưa.

Lại nhớ trong truyện Kiều, có hai câu 213, 214, Nguyễn Du tả đoạn Kiều tỉnh giấc mơ Đạm Tiên tới thăm mình:

Gió đâu sịch bức mành mành,

Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.

Người Pháp có câu dân dã : « Mais je rêve! » (nghĩa là : « Tôi mơ à ? »), để phát biểu sự ngạc nhiên cùng cực.

Tôi muốn mượn hai câu Kiều kể trên, chữa lại vài từ – (cũng là một cách « lẩy ») – để tả tâm trạng tôi :

Thông tin như vén bức mành,

Tỉnh ra lại ngỡ rằng mình chiêm bao!







Lời giới thiệu



Đây là cuốn sách thứ tư mà tác giả Bùi Trọng Liễu xuất bản trong nước. Đầu đề của cuốn sách « Tạp ký : Học một sàng khôn » phần nào báo trước nội dung. « Tạp ký » là từ mà tác giả dùng để chỉ một thể loại mà có lẽ trong nước chưa quen (tiếng Pháp mà « Miscellanées », tiếng Anh là « Miscellany ») nghĩa là loại sách tập hợp nhiều bài viết không hẳn cùng một "hướng" đề tài . Nó không hẳn là "tạp văn". Loại sách này người chưa biết thì ngần ngại vì không biết nó là gì, còn người đã đọc biết nó là gì, thì lại có vẻ ưa thích.

Còn riêng cuốn sách này, thì nó lại có đặc điểm là vừa là sách biên khảo, có tài liệu về sử, về nền văn hóa một số nước, vv. vừa xen lẫn với những bài luận bàn về giáo dục, những hồi ức, những chuyện về học về dạy, vv. So với 3 cuốn sách trước của tác giả, cuốn này chứa đựng một số tư liệu về lịch sử cận đại của nước nhà có thể ít ai biết đến, phần nào cùng loại với cuốn « Tự sự của người xa quê hương » (Chuyện gia đình và ngoài đời), nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004 ; nó cũng chứa đựng những bài viết về kinh nghiệm giáo dục cùng loại như cuốn « Chung quanh việc Học », nxb Thanh Niên, Hà Nội 2004 ; hoặc gần hơn cả, nó cùng thể loại như cuốn « Học gần Học xa », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005.

Trong thời đại toàn cầu hóa này, trong khi nước ta mở cửa làm ăn giao dịch với thiên hạ, cũng nên biết đến những nền văn minh, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, cách tổ chức xã hội, tổ chức việc học của họ ; chứ nếu chỉ có sự hiểu biết về ngôn ngữ không thôi, thì chưa đủ. Biết nhìn thiên hạ, để nhìn lại chính mình, có cái đánh giá về cái ưu cái khuyết của mình chính xác hơn, về quá khứ, hiện tại hay tương lai, là tự trang bị cho mình những hiểu biết cần thiết trong thời đại giao lưu này, để dễ tiến triển hơn.

Người Việt định cư lâu năm ở nước ngoài có cái thuận lợi là có cái nhìn quen thuộc với môi trường nơi mình sống. Nó có thể khác với cái nhìn của người trong nước ; có lẽ vì thế mà nó góp phần mang lại thêm sự phong phú cho sự hiểu biết.

Tác giả, với 4 năm làm nghiên cứu viên trong Trung tâm nghiên cứu của một doanh nghiệp lớn (sở Điện lực của Pháp), 6 năm làm giáo sư ở Đại học Lille, và 34 năm làm giáo sư Đại học Paris, có dịp thăm nước này nước nọ, có thì giờ học hỏi kinh nghiệm và suy ngẫm, nên muốn, qua cuốn sách này, kể lại những điều mắt thấy tai nghe, cho những ai muốn biết.

Dù là « tạp ký », « Học một sàng khôn » cũng chủ yếu hướng về mục tiêu chính : « tri thức ».

Xin trân trọng giới thiệu cuốn này cùng bạn đọc.